Thích Tâm Tịnh
I. Vài Nét Tiểu Sử của E.
Obermiller
E. Obermiller, nhà nghiên cứu Phật học Nga nổi tiếng,
thừa kế truyền thống huy hoàng của Ivan Minayev (1840-1890) - người
sáng lập nên Trường Aán độ học và Phật học Nga (Russian School of
Indology and Buddhist Studies), sanh ngày 29-10-1901 tại Petersberg, nay là
Leningard. Obermiller sanh ra trong một gia đình có truyền thống về nhạc
và ngôn ngữ. Khi còn là học sinh Trung học, Obermiller đã giỏi tiếng
Anh, Pháp và Đức, những ngôn ngữ đã giúp ông thành công trong
việc theo học Phật học cũng như hai ngôn ngữ Sanskrit và Tây Tạng
sau này. Obermiller quyết chí theo học Sanskrit và Tây Tạng, thay vì học
nhạc và trở thành nhạc sĩ như cha mẹ ông mong đợi.
Obermiller theo học Sanskrit ở đại học Petrogard vào năm ông 18 tuổi
và trở thành một trong những học trò xuất sắc của
giáo sư Fyodor Ippolitvich Shcherbatskoy (1866-1942). Cha mẹ ông qua đời khi
ông còn là sinh viên của trường này. Oâng được hai người dì,
bà Olga Obermiller và bà Elizarbeth Schwede, nuôi nấng và cho ăn học
thành tài. Những cơn bệnh thời tuổi trẻ không làm nản chí và
sờn lòng người thanh niên chí khí này, trái lại, nó như nguồn
động lực, thay đổi cuộc đời của Obermiller: ông đầu tư trọn vẹn
vào việc học. Obermiller tham dự khóa học văn học và văn phạm
Sanskrit tại đại học Leningard, do giáo sư Shcherabatskoy phụ trách. Cũng
trong giai đoạn này, Obermiller trở nên đam mê nghiên
cứu Aán Độ học hơn bao giờ hết. Oâng tự nghiên cứu văn học
và triết học Aán Độ. Nỗi đam mê Phật học đã dẫn ông đến
việc học tiếng Tây Tạng và tiếng Mông Cổ, các ngôn ngữ đã
giúp ông rất nhiều trong việc nghiên cứu Phật học về sau.
Sau khi hoàn tất tiến sĩ ở đại học Leningard, Obermiller
tham gia vào Viện hàn lâm Khoa học Leningard (Academy of Sciences at Leningrad),
với tư cách là thư ký của tùng thư Bibliotheca Buddhica. Tác phẩm
học giả đầu tay của Obermiller là bản Index bằng hai ngôn ngữ
Sanskrit-Tibetan và Tibetan-Sanskrit cho tác phẩm Logic luận (Nyayabindu-praarana)
của ngài Pháp Xứng (Dharmakiirti, thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên),
triết gia logic nổi tiếng của Phật giáo.
Các chuyến du lịch và tham quan của Obermiller ở vùng
Transbaikal và các tu viện Phật giáo ở Buryat đã mở ra một giai
đoạn vô cùng có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu và học hỏi
Phật giáo của Obermiller. Sách sử ghi rằng vào hậu bán thế kỷ 17,
Phật giáo xuất hiện ở Đông Siberia, trong vùng Baikal. Từ vùng
Baikal, Phật giáo được phái đoàn 150 vị Lạt-ma Tây Tạng truyền
vào các vùng cư dân Burrat, vào khoảng năm 1712 [Yerkmoshkin, Nikolai,
Buddhism and Buddhists in USSR, p. 8]. Tsongool Dazan là ngôi tu viện Phật giáo
đầu tiên được dựng lên ở quận Selengin cuả tỉnh Buryatia vào
năm 1741 [Cùng trang, Sách đã dẫn]. Ngày nay, Buryatia là bang nằm về
phía Đông Siberia và Đông nam của Baikal. Các chuyến tham quan thường
xuyên của Obermiller ở vùng Transbaikal và các tu viện vùng Buryat
không chỉ giúp Obermiller khám phá các bản văn quan trọng của Phật
giáo mà còn giúp ông hiểu sâu hơn triết học của đạo Phật. Và
tại đây, ông đã học thêm được tiếng Tây Tạng với các vị
Lạt-ma Tây Tạng.
Obermiller trở thành thành viên của Viện Văn Hóa
Phật giáo (Institute of Buddhist Culture) vào năm 1928. Giáo sư Shcherbatskoy
là vị viện trưởng đầu tiên của viện này. Do phạm vi nghiên cứu
của viện mở rộng ra các lãnh vực Đông phương học, vào năm 1930,
viện được đổi tên thành viện Đông Phương Học (Institute of Oriental
Studies). Giáo sư Shcherbatskoy được bầu làm tổ trưởng của ban
nghiên cứu Aán Độ-Tây Tạng học, và giáo sư Sergei Oldenburg
(1863-1934) được bầu làm viện trưởng của viện mới này. Obermiller
đã cùng thầy là giáo sư Shcherbatskoy thực hiện các kế hoạch đã
được phác thảo trước đây khi Viện còn mang tên là
Viện Văn hóa Phật giáo.
Vào năm 1927, Hội Aán Độ Vĩ Đại Hơn (The Greater India
Society) được thành lập tại Calcutta với sự điều hành và chủ
tịch của Rabindranath Tagore, Obermiller đã chánh thức được tuyển chọn
vào danh sách thành viên của hội này. Oâng đã làm việc ngày đêm
quên mình cho sự nghiệp truyền bá văn hoá Phật giáo ở Liên Xô
cũng như góp phần xiển dương Phật giáo trên khắp thế giới cho
đến lúc ông bị bại liệt và mất vào năm 1935, ở tuổi 34.
Sự từ giã cõi đời trong tuổi thanh
xuân của ông đã để lại bao niềm thương tiếc trong giới cứu
Phật giáo nói riêng, giới nghiên cứu Đông phương học nói chung,
ở Liên Xô cũng như Aán Độ và trên thế giới.
II. Tác Phẩm và Dịch Phẩm của
E. Obermiller
A) Các Tác Phẩm và Biên Tập
Sanskrit and Tibetan Index Verborum to Nyaayabindu, Nyaayatiikaa (Bản
danh mục đối chiếu Sanskrit-Tây Tạng cho tác phẩm Logic luận) (Leningard:
Bibliotheca Buddhica, 1927).
Tibetan and Sanskrit Index Verborum to Nyaayabindu, Nyaayatiikaa (Bản
danh mục đối chiếu Tây Tạng-Sanskrit cho tác phẩm Logic luận) (Leningard:
Bibliotheca Buddhica, 1928).
Abhisamayaalamkâra, Praj~napaaramitaa Upde'sa-'saastra, Sanskirt text
and Tibetan traslation, biên tập với giáo sư Th. Stcherbatsky (Leningard:
Bibliotheca Buddhica XXIII, 1929).
The Account of Buddha's Nirvaa.na and the First
Council according to the Vinayaksudraka (Luận giải về niết-bàn của đức
Phật và đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất theo tác phẩm
Vinayaksudraka), trong Indian Historical Quarterly, Calcutta, vol VIII , 1932, các trang
781-784.
A Study of Twelve Aspects of "Suunyataa" (Nghiên cứu
mười hai phương diện của tánh Không), trong Indian Historical Quarterly,
Calcutta, vol IX, 1933, các trang 170-187.
Analysis of the Abhisamayaalamkaara, 3 vols, (Phân tích
Abhisamayaalamkaara) (London: Luzac and Co, 1933-54).
A Review of the Madhayaantavibhaagasuutrabhaasya-tiikaa of 'Sthirmati,
Sub-commemtary on Vasubandhu's Bhaasya on the Madhyaantavibhaaga Suutra
of Maitreynath, part I, trong Indian Historical Quarterly, Calcutta, volIX, 1933, các
trang 1019-1030.
Nirvana according to Tibetan Tradition (Niết-bàn theo truyền
thống Tây Tạng), trong Indian Historical Quarterly, Calcutta, vol X, 1934, các
trang 211-257. Tác phẩm được tiến sĩ H. S. Sobti tái bản vào năm 1988,
ở New Delhi, nhà xuất bản Classics India Publoications, mang tựa đề
Nirvaana in Tibetan Buddhism.
On the Meaning of the Term "Suunyataa" (Về ý nghĩa của
thuật ngữ tánh Không), trong Journal of the Greater India Society, Calcutta July,
1934.
Bhaavanaa-Karma as an Historical Document (Bhaavanaa-Karma: tài
liệu lịch sử), Calcutta, 1935.
A Review of Goddard's Principle and Practice of
Mahaayaana Buddhism (Nhận định quyển Nguyên lý và sự hành trì của
Phật giáo Đại thừa của tác giả Goddard), trong Orientalia Literatur
Zeitung, No. 15, 1935.
A Review of Winternitz's A History of Indian
Literature, vol II, (Nhận định quyển Lịch sử văn học Aán Độ, tập 2,
của tác giả Winternitz), trong Orientalia Literatur Zeitung, Leipzig, 1935.
Praj~napaaramitaa Ratna Guna Samaya Gaathaa, Sanskrit and Tibetan text,
(Leiningard: Bibliotheca Buddhica, XXIX, 1937). Tác phẩm này được nhà xuất
bản Meicho Fukyu Kai, Tokyo, tái bản vào năm 1977.
B) Các Dịch Phẩm
Bu-ston's History of Buddhism, part I, (Lịch sử
Phật giáo, phần một, của sử gia Tây TạÏng Bu-ston), trong the
Materialien zur Kunde des Buddhismus, (Heidelberg, 1931).
Bu-ston's History of Buddhism, part II, (Lịch sử
Phật giáo, phần 2, của sử gia Tây TạÏng Bu-ston), trong the Materialien
zur Kunde des Buddhismus, (Heidelberg, 1932).
The Supreme Science of the Great Vehicle to Salvation (Bản dịch
tiếng Anh của quyển Uttaratantra of Bodhisattva Maitreya with the Commentary of
Asanga: Khoa học độ sanh tối thượng của Đại thừa), trong Acta
Orientalia, Copenhagen Vol IX, 1931, các trang 81-306. Tác phẩm này được
nhà xuất bản Canon Publications của Mỹ tái bản vào năm 1984.
The Jewellery of Scriptures (of Bu-ston), Bib. Indo Buddhica No. 42,
1931.
Ngày 15-9-1997.
(Viết theo quyển Praj~naapaaramitaa in Tibetan Buddhism,
edited by H. S. Sobti, Delhi: Classics India Publications, 1988)