Một cuộc đời, một ngôi sao
(Truyện Ngài Xá-Lợi-Phất)
Minh Ðức Triều Tâm Ảnh
Huế 1996
---o0o---
[08]
Thân
quyến
của
Ngài
Xá-Lợi-Phất
Mấy
ngày
hôm
nay
Tăng
chúng
bàn
tán
sôi
nổi
chuyện
tín
nữ
Visàkhà
về
việc
bà
cho
kiến
tạo
một
tịnh
xá
tên
là
Pubbàràma
tại
phía
Ðông
Kỳ
Viên.
Và
chính
đích
thân
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
lại
đứng
ra,
chăm
sóc,
coi
ngó
công
trình
đẹp
đẽ
này.
Ðức
Phật
có
lần
viếng
thăm
quốc
độ
Anga,
thành
phố
Bhaddiya,
ông
ngoại
của
cô
bé
Visàkhà
bảo
cô
bé
tập
trung
năm
trăm
tớ
gái,
năm
trăm
cỗ
xe
và
năm
trăm
thị
nữ
để
đi
đón
tiếp
Ðức
Phật.
Trong
dịp
này,
sau
thời
Pháp
của
Ðức
Phật,
cô
bé
đắc
quả
Tu-Ðà-Huờn.
Lớn
lên,
Visàkhà
có
đủ
năm
vẻ
đẹp
của
người
phụ
nữ
là:
tóc,
da,
xương,
vóc
và
tuổi
trẻ.
Nhà
chồng
của
bà
ở
Xá-Vệ
lại
theo
phái
lõa
thể,
nhưng
bà
đã
tìm
cách
đưa
gia
đình
chồng
về
với
đức
tin
Tam
Bảo.
Bà
Visàkhà
để
bát
cho
Chư
Tăng
hằng
ngày
tại
nhà,
có
lúc
lên
đến
hai
ngàn
vị.
Trưa,
chiều
bà
dến
tịnh
xá
để
cúng
dường
và
thính
Pháp.
Bà
Visàkhà
giàu
lòng
giàu
lòng
bố
thí
và
tận
tình
hộ
trì
Chư
Tăng
không
kém
gì
trưởng
giả
Cấp
Cô
Ðộc.
Bà
xin
Ðức
Thế
Tôn
tám
điều:
-
Dâng
y
cho
Chư
Tăng
cho
đến
mãn
đời,
-
Ðể
bát
cho
Chư
Tăng
đến
thành
Xá-Vệ,
-
Ðể
bát
cho
Chư
Tăng
rời
thành
Xá-Vệ,
-
Dâng
vật
thực
đến
Chư
Tăng
đau
ốm,
-
Dâng
vật
thực
những
vị
chăm
sóc
bệnh
nhân,
-
Dâng
những
thuốc
men
đến
những
vị
sư
đau
ốm,
-
Dâng
lúa
mạch
đến
chư
sư,
-
Dâng
y
tắm
mưa
đến
tỳ-khưu
ni.
Ðức
Phật
nhận
lời.
Một
lần
đến
chùa
bà
bỏ
quên
chiếc
áo
khoác
trị
giá
chín
triệu
đồng
tiền
vàng,
Ðại
Ðức
Ànanda
không
biết
của
ai
nên
cất
giữ.
Người
tì
nữ
trở
về
trình
lại
tự
sự.
Bà
đến
hầu
Phật
và
tỏ
ý
muốn
làm
một
việc
thiện
với
số
tiền
bán
chiếc
áo
ấy.
Ðức
Phật
bảo
nên
cất
một
tịnh
xá
nằm
tại
phía
Ðông
cổng
vào.
Không
ai
có
đủ
tiền
mua
áo
nên
bà
phải
bỏ
tiền
ra
mua
lại
chiếc
áo
ấy.
Thế
là
với
số
tiền
lớn,
bà
xây
dựng
một
tịnh
xá
rộng
rãi,
khang
trang,
đẹp
đẽ.
Khi
công
việc
xong,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
tự
nghĩ:
"-
Lúc
này
Giáo
Hội
đã
phát
triển
vững
mạnh.
Cận
sự
nam
nữ
thì
đã
có
hai
vị
đại
thí
chủ
Cấp
Cô
Ðộc
và
Visàkhà
lo
lắng
mọi
sự.
Chư
Tăng
dẫu
đông
đúc
bao
nhiêu,
vật
thực
vẫn
đầy
đủ
để
nuôi
mạng.
Những
vật
dụng
khác
thuộc
tứ
sự
từ
đây
sẽ
không
còn
thiếu
thốn.
Người
bệnh
hoạn,
đau
ốm,
già
cả
đều
có
người
chăm
nom,
săn
sóc.
Giới
chúng
sa-di
lúc
này
cũng
đã
nhiều
người
lớn
tuổi,
đã
biết
rõ
trách
nhiệm
và
phận
sự
của
mình.
La-Hầu-La
là
một
quản
chúng
tốt
được
bạn
đạo
kính
trọng
và
nể
phục.
Ta
vừa
nghe
tin
cha
ta
mới
qua
đời.
Vậy
đây
là
phải
lúc,
hợp
lẽ
ta
đến
xin
Ðức
Thế
Tôn
về
thăm
gia
đình."
Ðức
Thế
Tôn
nhìn
người
Ðại
Ðệ
Tử
dấu
yêu
tóc
đã
điểm
bạc,
bao
năm
nay
chỉ
nghĩ
đến
người
khác,
lo
cho
người
khác,
chu
toàn
xuất
sắc
những
phần
việc
được
giao
phó
mà
không
hề
nghĩ
đến
bản
thân,
Ngài
ân
cần
nói:
-
Ông
nên
làm
vậy,
này
Xá-Lợi-Phất.
Cuối
cùng
cả
gia
đình
ông
đều
tốt
đẹp,
viên
mãn,
sẽ
như
ý
nguyện
của
ông.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đến
thăm
Ðại
Mục-Kiền-Liên,
Tôn
giả
Ànanda,
Ðại
Ca-Diếp,
A-Nậu-Ðà-La...
và
cố
ý
gởi
gắm
việc
hầu
hạ
Ðức
Tôn
Sư
cùng
việc
thay
Ngài
chăm
sóc
Giáo
Hội.
Năm
trăm
đệ
tử
của
Tôn
giả
đồng
xin
được
tháp
tùng.
La-Hầu-La
bịn
rịn
nắm
tay
thầy:
-
Bạch
thầy,
về
quê
nhà
thầy
hãy
thận
trọng.
Mẫu
thân
của
thầy
chưa
có
đức
tin
với
Chánh
Pháp,
bà
làm
nhục
con
thì
được
nhưng
nếu
làm
nhục
thầy
thì
con
sẽ
đau
xót
lắm!
Chuyện
La-Hầu-La
bị
làm
nhục
một
lần
tại
Nàlaka
thì
từ
Ðức
Phật
đến
Tăng
chúng
không
ai
mà
không
biết.
"Thuở
đó,
ở
Vương-Xá
thành,
La-Hầu-La
cùng
với
một
số
huynh
đệ
sa-di
đi
bộ
hành
về
quê
của
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
để
khất
thực.
Mẹ
của
Tôn
giả
thấy
rõ
là
Sa
môn
nên
đem
tâm
ghét
cay,
ghét
đắng;
bà
cho
người
mời
vào
rồi
hỏi:
-
Các
vị
là
học
trò
của
ai?
-
Chúng
tôi
là
học
trò
của
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất.
-
Thế
à!
bà
vồn
vã
nói
-
Xá-Lợi-Phất
là
con
trai
của
ta,
các
vị
là
học
trò
của
con
trai
ta,
vậy
ta
phải
xem
các
vị
như
cháu
nội
của
ta
vậy.
Nói
xong,
bà
quát
tả
hữu:
-
Bây
đâu!
Hãy
mau
ra
tiếp
bát
các
cháu
nội
của
ta!
Ðám
gia
nhân
vâng
lời,
xin
thỉnh
bát,
rồi
mời
mấy
vị
sa-di
vào
phòng
khách
an
tọa.
Bà
hỏi
lung
tung:
-
Các
cháu
nội
của
ta,
các
cháu
đã
đói
bụng
chưa?
Các
sa-di
im
lặng.
-
Về
đây
là
như
về
nhà
của
các
cháu
vậy!
Các
cháu
ưa
ăn
gì
nào,
cứ
thật
tình
nói
đi?
Các
sa-di
im
lặng.
Bà
Sàrì
biết
các
sư
không
bao
giờ
than
đói
bụng,
không
gợi
ý
thích
ăn
món
gì
nên
bà
mới
hỏi
vậy.
-
Hay
là
ta
nói
nhé!
Các
cháu
có
thích
ăn
món
thịt
gà
không?
Bọn
nô
lệ
đâu,
hãy
làm
thịt
mấy
con
gà
béo
mập
nhé!
Ðến
nước
nầy
La-Hầu-La
phải
nói:
-
Không
được
đâu,
thí
chủ!
-
Hay
là
các
cháu
chê
thịt
gà.
Vậy
thì
thịt
heo
nhé!
Hãy
thịt
một
chú
lợn
choai
choai
nghe
bọn
bây,
các
cháu
của
ta
thích
món
ấy!
-
Không
được
đâu,
thí
chủ!
-
Vậy
thì
cá
nhé!
Hãy
ra
hồ
bắt
mấy
con
lý
ngư
mang
vào
đãi
các
cháu
ta!
-
Không
được
đâu,
thí
chủ!
Bà
Sàrì
chợt
làm
mặt
giận,
nói
lẫy:
-
Cái
gì
cũng
không
được,
không
được!
Món
ăn
ngon
béo
bổ
cũng
không
muốn.
Thôi
được
rồi,
bà
nội
cũng
không
ép.
Bà
bỏ
đi
vào
trong
một
lát,
khi
đi
ra
thì
gia
nhân
ôm
theo
những
bình
bát
đầy
ở
trên
tay.
Bà
bảo
trao
bát
cho
mấy
vị,
rồi
nói:
-
Heo
suốt
đời
thích
ăn
cám,
chó
suốt
đời
thích
ăn
phẩn,
trâu
bò
suốt
đời
thích
ăn
cỏ.
Các
Sa
môn
Thích
tử,
Sa
môn
con
trai
ta,
đệ
tử
con
trai
ta
suốt
đời
thích
ăn
cơm
thừa,
canh
cặn,
nước
cháo
chua,
nước
cháo
thiu
thì
biết
làm
thế
nào?
Thôi,
dù
sao
ta
cũng
là
bà
nội,
chiều
theo
ý
các
cháu
nên
các
món
mà
các
cháu
ưu
thích,
ta
đã
sai
gia
nhân
trộn
lẫn
với
nhau
rồi,
cho
dễ
ăn,
cho
dễ
nuốt!
Trời
cũng
đã
trưa,
thôi
các
cháu
đi
đi.
Ta
già
cả
rồi,
không
đưa
tiễn
được!"
Nghĩ
lại
chuyện
cũ,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
buồn
lòng
cho
sự
"đáo
để"
của
mẹ.
Ngài
nói
lời
an
ủi
với
La-Hầu-La
rồi
cùng
hội
chúng
lên
đường.
Về
đến
quê,
Ngài
để
năm
trăm
tỳ-khưu
ở
rải
rác
trong
các
rừng
cây
rồi
một
mình
trở
lại
thăm
nhà.
Ðây
đó
vắng
tanh.
Sân
gạch
thênh
thang
phủ
một
lớp
rêu
dày.
Cả
một
cơ
ngơi
khang
trang,
vĩ
đại
chỉ
mới
mười
mấy
năm
mà
đã
có
vẻ
điêu
tàn,
hoang
phế.
Ngài
tần
ngần,
đứng
lặng.
Một
chú
bé
chừng
sáu,
bảy
tuổi
chạy
ra,
Tôn
giả
biết
đấy
là
Revata,
em
trai
út
của
Ngài.
-
Này
em!
ta
là
Xá-Lợi-Phất
đây!
Revata
nhìn
sững:
"Ðây
là
anh
trai
cao
cả,
tôn
quý
của
ta?
Ðâu
đâu
người
ta
cũng
thán
phục,
ca
tụng
ông
anh
vĩ
đại
này!
Ồ!
mà
sao
anh
trai
ta
đẹp
quá,
uy
nghiêm
quá,
lại
dễ
mến
nữa!"
Revata
chạy
lại.
Tôn
giả
thân
mến
ôm
trẻ
trong
vòng
tay,
xoa
đầu,
mỉm
cười
hỏi:
-
Em
nhận
ra
ta
chứ?
-
Em
nhận
ra
anh
ngay!
Anh
yêu
quý!
-
Sau
này
em
sẽ
xuất
gia
như
ta
chứ?
-
Vâng,
em
sẽ
xuất
gia
theo
anh.
Không
những
xuất
gia
theo
anh
mà
xuất
gia
theo
cả
anh
Cunda,
anh
Upasena,
xuất
gia
theo
các
chị
Càlà,
Upacàlà,
Sìsupacàlà
nữa!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
tự
nghĩ:
"Hai
em
trai
lớn
của
ta
xuất
gia
thì
đúng
rồi
vì
ta
hướng
dẫn
họ,
khuyến
khích
họ.
Nhưng
còn
ba
người
em
gái,
ta
vừa
nghe
tin
họ
mới
lấy
chồng
kia
mà?
Sao
Revata
lại
nói
vậy?"
Bèn
hướng
tâm
đến,
Tôn
giả
thấy
rõ,
liền
nói
với
Revata.
-
Em
nói
đúng.
Sau
này
cả
bảy
đứa
con
của
gia
đình
Vaganta
sẽ
xuất
gia
hết.
Giờ
thì
em
nghe
lời
anh
dặn
đây:
phía
Tây
ngôi
làng
này
có
mấy
chục
vị
tỳ-khưu
đang
tu
hạnh
đầu
đà
trong
một
khu
rừng.
Khi
nào
em
muốn
xuất
gia
thì
hãy
đến
đấy,
giới
thiệu
em
là
em
trai
của
ta,
họ
sẽ
vui
vẻ
nhận
em
vào
Giáo
Hội.
Em
nhớ
không?
-
Dạ
em
nhớ!
Em
sẽ
xuất
gia
trong
khu
rừng
ấy.
Khi
câu
chuyện
vừa
dứt
thì
bà
Sàrì
đã
đứng
bên
ngưỡng
cửa,
tóc
bà
đã
bạc
trắng,
lưng
đã
còng,
trên
tay
cầm
chiếc
gậy
trúc
đầu
rắn.
-
Ông
về
đây
làm
cái
gì?
-
Thưa
mẹ!
Tôn
giả
cúi
đầu.
Bà
Sàrì
gắt:
-
Thưa
mẹ
cái
gì?
Ai
là
mẹ
của
ông?
-
Thưa
mẹ!
Con
hay
tin
ba
vừa
mất!
Bà
chống
gậy,
quay
lưng
đi:
-
Mất
cái
gì!
Ông
chết
nhăn
răng,
ông
chết
tức
tửi
vì
con
cái
bỏ
đi
theo
ông
Cồ-Ðàm
hết,
bỏ
đi
theo
đám
ăn
xin
đầu
đường
xó
chợ
hết!
Tôn
giả
lại
cúi
đầu,
không
dám
nói
một
lời.
Revata
nói:
-
Sao
mẹ
lại
mạt
sát
anh
trai
của
con?
Anh
trai
của
con
dù
sao
là
một
bậc
vĩ
đại,
danh
vọng
nổi
tiếng
khắp
toàn
cõi
Châu
Diêm
Phù
Ðề
này!
Anh
trai
của
con
vì
thương
cha,
nhớ
mẹ
mà
về
thăm!
Anh
trai
con
im
lặng,
vòng
tay,
cúi
đầu
như
vậy,
có
dám
nói
gì
đâu
mà
mẹ
lại
đối
xử
quá
thậm
tệ...
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
gắt
em:
-
Revata!
Em
không
được
nói
với
mẹ
như
thế!
Revata
giận
dỗi
bỏ
đi.
Bà
Sàrì
cũng
chống
gậy
vào
nhà
sau.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
lặng
lẽ
bước
lên
nhà
trên,
vào
điện
thờ.
Ngài
đứng
vòng
tay,
mặc
niệm
trước
chỗ
thờ
của
cha,
thốt
lời
cầu
nguyện
trong
tâm:
"-
Thưa
vong
linh
cha!
Hãy
nghe
lời
con
đây!
Cuộc
đời
này
con
không
báo
đáp
gì
được
trước
ân
đức
sinh
thành,
dưỡng
dục
của
cha
vì
chánh
kiến
bất
đồng.
Bây
giờ
cha
mất
rồi,
con
nguyện
rằng,
phước
đức
tu
hành
cả
trọn
kiếp
này
của
con,
và
vô
lượng
kiếp
trước
nữa,
con
hồi
hướng
đến
cho
cha.
Mong
nhờ
phước
báu
ấy
hỗ
trợ
cho
cha,
để
cha
được
nhiều
yên
vui
và
lợi
lạc."
Bà
Sàrì
đã
đứng
bên
lưng,
giọng
nói
dịu
lại:
-
Ông
về
được
bao
lâu?
Ngài
quay
lại:
-
Thưa
mẹ!
ất
hôm
thôi,
con
lại
phải
đi!
-
Ông
về
với
bao
nhiêu
tỳ-khưu?
-
Thưa
mẹ!
Năm
trăm
vị.
-
Hiện
giờ
họ
ở
đâu?
-
Thưa
mẹ!
Rải
rác
trong
các
khu
rừng,
quanh
ngôi
làng
này.
-
Ta
sợ
ông
mất
mặt
với
họ,
dù
sao
gia
đình
của
chúng
ta
là
gia
đình
danh
giá,
vọng
tộc,
lại
là
cự
phú
ở
trong
làng.
Vậy
thì
ngày
mai,
ông
mời
hết
tất
cả
họ
đến
đây,
ta
sẽ
dâng
cúng
vật
thực
một
cách
tươm
tất,
đàng
hoàng.
Ta
muốn
rằng,
dầu
là
vua
chúa
cũng
không
thể
cúng
dường
vật
thực
sang
trọng
hơn
dòng
họ
Vaganta!
-
Thưa
mẹ!
Con
xin
vâng!
-
Y
áo
có
thiếu
không?
Nhân
tiện,
ta
cúng
dường
luôn
năm
trăm
bộ
y
-
để
xứng
đáng
là
một
cuộc
làm
phước
trọng
thể.
-
Thưa
mẹ!
Tất
cả
đều
đã
có
đủ
y.
-
Thêm
một
bộ
nữa,
không
được
sao?
-
Thưa
mẹ!
Mỗi
vị
thường
sống
hạnh
tri
túc
với
tam
y
của
mình.
-
Vậy
thì
ta
không
ép.
Bà
lại
chống
gậy
bỏ
đi.
-
Thưa
mẹ...
-
Gì
nữa
đó?
-
Con
muốn
nhân
tiện
mẹ
làm
phước,
mẹ
thỉnh
Chư
Tăng
tụng
kinh
hồi
hướng
phước
báu
đến
cho
cha!
-
Ðấy
là
tín
ngưỡng
của
ông,
chứ
không
phải
tín
ngưỡng
của
tôi.
Tôi
không
phải
thưa
thỉnh
ai
hết!
Thấy
mẹ
vẫn
cố
chấp
như
thuở
nào,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
nín
lặng.
Chợt
bà
hỏi
vọng
ra:
-
Chiều
và
tối
nay
ông
nghỉ
đâu?
-
Thưa
mẹ,
ngoài
rừng
cùng
với
chúng
tỳ-khưu!
-
Thôi
được
rồi,
tùy
ý
ông.
Ngày
hôm
sau,
giữ
đúng
lời
hứa,
bà
bảo
mấy
trăm
gia
nhân
chuẩn
bị
cơm
nước,
bánh
trái,
đầy
đủ
các
món
ăn
thượng
vị
loại
cứng,
loại
mềm,
cao
sang
nhất
cúng
dường
cho
Tăng
chúng
năm
trăm
vị.
Quả
thật,
danh
vọng
của
gia
đình
dòng
họ
Vaganta
quá
lớn
nên
một
tiếng
hô
của
bà
là
"nhất
hô
bá
ứng",
trên
dưới,
trong
ngoài
tuân
lệnh
răm
rắp.
Bà
cũng
hoan
hỷ
cùng
với
gia
nhân
sớt
vật
thực
vào
từng
bát
cho
mỗi
vị.
Tuy
nhiên,
nỗi
buồn
khổ
của
người
mẹ
"mất
con"
vẫn
hậm
hực
trong
lòng
bà,
nên
khi
để
bát
cho
một
vài
nhóm
tỳ-khưu
coi
bộ
lớn
tuổi,
bà
tức
giận
nói
nhỏ
vào
tai
họ:
"-
Cũng
vì
mấy
ông
trọc
đầu
đê
tiện
này!
kể
cả
ông
Sa
môn
Cồ-Ðàm
điên
khùng
kia
nữa
mà
ta
phải
vĩnh
viễn
mất
đi
đứa
con
trai!
Hãy
ăn
cho
no
bụng
rồi
cút
đi!
Cút
cho
khuất
mắt
ta!"
Khi
để
bát
cho
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất,
bà
cũng
nói
nhỏ
bên
tai
như
hơi
gió
thoảng:
"-
Chỉ
có
ông
là
ngu
si
nhất
trên
cuộc
đời
này!
Chỉ
có
ông
là
bị
ông
Cồ-Ðàm
cho
ăn
"cháo
lú"
nên
mới
bỏ
cả
gia
tài
tám
chín
trăm
triệu
đông
tiền
vàng
để
đổi
lấy
cái
đời
sống
thân
tàn
ma
dại
ngốc
nghếch!"
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
cùng
Chư
Tăng
không
ai
hé
miệng
nửa
lời,
vẫn
cẩn
trọng,
từ
tốn,
khiêm
cung,
lặng
lẽ
độ
thực.
Dùng
xong,
Chư
Tăng
năm
trăm
vị
cùng
đọc
kinh
phúc
chúc
và
quán
tưởng.
Lời
kinh
trầm
hùng
và
cao
cả
như
hải
triều
âm
cuồn
cuộn
đổ
tràn
ra
không
gian.
Uy
lực
của
lời
kinh,
của
âm
thanh
làm
cho
ngôi
làng
như
lặng
ngắt,
mấy
trăm
gia
nhân
tự
động
chắp
tay
lên
ngực.
Bà
Sàrì
cao
ngạo
là
vậy
mà
cũng
phải
chống
gậy
thẳng
lưng
lên,
có
một
sự
tôn
kính
nào
đó
thoáng
gợn
lên
làn
da
mặt
của
bà...
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
nghĩ
rằng
vậy
là
mình
đã
báo
đáp
được
phần
nào
ân
đức
của
cha,
nên
chào
mẹ,
em
trai
Revata
rồi
lên
đường.
Bà
Sàrì
trông
theo,
trên
đôi
mắt
ứa
ra
mấy
giọt
lệ.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
tự
nghĩ:
"-
Rồi
một
lúc
nào
đó,
mẹ
cũng
đến
được
bến
bờ
an
vui,
sẽ
không
còn
đau
khổ
nữa!"
Tôn
giả
còn
ở
lại
trong
làng
một
ngày
nữa,
Ngài
đi
đến
khu
rừng
Ðầu
Ðà,
nơi
có
những
tỳ-khưu
đang
sống
hạnh
tĩnh
cư,
cốt
ý
gởi
gắm
Revata
sau
này.
Nghe
Tôn
giả
đến,
mấy
chục
vị
tỳ-khưu
hớn
hở,
vui
mừng
ra
tiếp
rước
y
bát,
nước
rửa
chân
và
giẻ
chùi
chân.
Tôn
giả
vắn
tắt
vài
lời,
thăm
hỏi
sức
khỏe,
sự
an
vui
trong
tu
tập
rồi
nói:
-
Thưa
chư
hiền!
Tôi
có
một
đứa
em
trai,
bảy
tuổi,
tên
là
Revata;
nếu
sau
này,
khi
nào
em
tôi
tìm
đến
đây
thì
chư
hiền
hãy
làm
lễ
xuất
gia
cho
nó,
tôi
sẽ
vô
cùng
biết
ơn.
-
Thưa
vâng,
chúng
con
sẽ
y
lời,
thưa
Bậc
Tướng
Quân
Chánh
Pháp.
Các
vị
khác
lại
thưa:
-
Không
mấy
khi
Tôn
giả
ghé
chân
đến
đây!
Ôi!
Cả
khu
rừng
này
đều
được
hạnh
phúc.
Việc
Revata
là
việc
nhỏ,
chúng
con
sẽ
chu
toàn!
Bây
giờ
xin
Tôn
giả
ban
cho
một
thời
Pháp
để
được
lợi
lạc
lâu
dài
cho
chúng
con.
Tôn
giả
vui
vẻ
hỏi:
-
Về
vật
thực,
y
áo
chư
hiền
có
đầy
đủ
không?
-
Dạ
đầy
đủ.
-
Về
sàng
tọa,
thuốc
men,
chư
hiền
có
đầy
đủ
không?
-
Dạ
đầy
đủ.
-
Về
học
giới,
chư
hiền
có
gì
thắc
mắc
không?
-
Dạ
không,
chúng
con
sống
rất
hòa
thuận
nhờ
tôn
trọng,
nhắc
nhở,
khuyến
khích,
sách
tấn
nhau
từng
học
giới.
-
Vậy
về
pháp
hành
chư
hiền
đã
có
đầy
đủ
bên
mình
cả
chưa?
-
Dạ
chúng
con
đều
đầy
đủ.
Chúng
con,
mỗi
người
đều
xin
được
pháp
hành
từ
Ðức
Ðạo
Sư!
Nhìn
quanh
hội
chúng,
Tôn
giả
lại
hỏi:
-
Chư
hiền
sống
với
nhau
giữa
rừng
núi.
Vậy
sống
giữa
rừng
núi,
chư
hiền
cần
phải
thành
tựu
bao
nhiêu
pháp?
Mà
nhờ
thành
tựu
những
pháp
ấy
chư
hiền
đi
bất
cứ
đâu
cũng
không
hỗ
thẹn
mình
là
một
vị
tỳ-khưu
sống
ẩn
cư
giữa
rừng
già,
hành
theo
Pháp
Ðầu
Ðà
cao
thượng?
Chư
Tăng
ngơ
ngác
nhìn
nhau
một
hồi
rồi
họ
đồng
thanh
nói:
-
Quả
thật
chúng
con
chưa
được
nghe,
chúng
con
chưa
được
học
hỏi.
Mong
Trưởng
lão
bi
mẫn
chỉ
giáo,
soi
rọi
chỗ
tối
tăm
cho
chúng
con.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
bèn
giáo
giới
như
sau:
-
Này
chư
hiền!
Trước
đây
nhiều
năm,
tại
Vương-Xá
thành
có
vị
tỳ-khưu
tên
là
Gulissani
sống
tại
rừng
núi,
nhưng
khi
vào
các
tịnh
xá
trong
thành
phố
thì
thường
có
hành
động
thô
tháo.
Nguyên
nhân
của
các
hành
động
thô
tháo
ấy
là
vì
tỳ-khưu
Gulissani
chưa
thành
tựu
được
những
pháp
ở
núi
rừng.
Bây
giờ
chư
hiền
hãy
lắng
nghe,
ta
sẽ
giảng.
Khi
thấy
Chư
Tăng
đang
cung
kính,
chăm
chú
lắng
nghe,
Tôn
giả
đã
giảng
như
sau:
-
Này
chư
hiền!
Khi
từ
núi
rừng
đến
trú
với
Chư
Tăng
trong
các
tịnh
xá
ở
làng
hoặc
trong
thành
phố,
pháp
thứ
nhất,
chư
hiền
phải
thực
hành
là
biết
cung
kính
các
vị
đồng
phạm
hạnh,
đừng
tự
cao,
ngã
mạn;
phải
biết
vị
nào
cao
hạ
để
đối
xử
cho
phải
lẽ;
phải
biết
vị
nào
là
Trưởng
lão,
là
bậc
thầy
để
tôn
trọng,
đảnh
lễ!
Pháp
thứ
hai,
chư
hiền
nên
thực
hành
là
phải
biết
khéo
léo
về
chỗ
ngồi,
đừng
chiếm
lấy
chỗ
ngồi
của
các
vị
Trưởng
lão
tỳ-khưu,
đừng
đuổi
chỗ
ngồi
của
các
vị
tỳ-khưu
niên
thiếu.
Cả
hai
pháp
ấy,
chư
hiền
có
thực
hành
được
không?
-
Chúng
con
thực
hành
được.
Tôn
giả
lại
nói
tiếp:
-
Pháp
thứ
ba,
là
khi
về
trú
giữa
Tăng
chúng,
chư
hiền
đừng
bao
giờ
đi
khất
thực
quá
sớm
và
trở
về
quá
trưa;
vì
như
vậy
mọi
người
sẽ
bàn
tán:
các
vị
tỳ-khưu
đi
la
cà
đâu
đó,
ghé
nhà
thiện
tín
này,
ghé
nhà
thiện
tín
kia,
để
tà
mạng,
gợi
ý
ăn
món
này,
món
nọ...;
thân
thiện
quá
nhiều
với
giới
tại
gia
cư
sĩ.
Vậy
chư
hiền
nên
đi
khất
thực
đúng
giờ
và
trở
về
khi
vật
thực
vừa
đủ
no
lòng.
Chư
hiền
nhớ
rõ
như
vậy
chứ?
-
Chúng
con
nhớ
rõ.
-
Pháp
thứ
tư,
chư
hiền
khi
về
trú
giữa
Tăng
chúng,
đừng
bao
giờ
ghé
nhà
thiện
tín
trước
bữa
ăn
hoặc
sau
bữa
ăn;
làm
như
vậy,
người
ta
sẽ
bàn
tán:
mấy
ông
Sa
môn
này
đến
kiếm
chác
cái
gì
đây
mà
trước
bữa
ăn
đến
chầu
chực
và
sau
bữa
ăn
chẳng
để
người
ta
nghỉ
ngơi!
Chư
hiền
có
thấy
sự
dị
nghị
khó
nghe
như
vậy
chăng?
-
Ðúng
là
như
vậy.
-
Pháp
thứ
năm,
chư
hiền
khi
về
sống
giữa
Tăng
chúng
phải
luôn
luôn
ổn
định
thân,
ổn
định
khẩu,
ý
-
đừng
vung
tay
vung
chân;
nói
năng
điềm
đạm,
luôn
luôn
biết
tự
chế,
đừng
phóng
dật,
đừng
dao
động,
đừng
nói
quá
nhiều
lời,
đừng
sa
đà
vào
những
câu
chuyện
phù
phiếm,
tạp
nhạp,
rỗng
không,
vô
ích.
-
Thưa
vâng,
bạch
Tôn
giả!
-
Lại
nữa,
Pháp
thứ
sáu
mà
chư
hiền
nên
có
là
luôn
luôn
mềm
mỏng,
chứng
tỏ
người
dịu
dàng,
dễ
dạy;
đừng
cứng
đầu
và
đừng
bao
giờ
biểu
hiện
ra
ngoài
dù
là
một
hành
động
ác
nhỏ;
làm
sao
chứng
tỏ
mình
là
một
người
bạn
lành,
một
thiện
trí.
-
Chúng
con
xin
ghi
nhớ.
-
Pháp
thứ
bảy
là
phải
thường
phòng
hộ
các
căn,
biết
tri
túc,
tiết
độ
trong
ăn
uống,
ngủ
nghỉ.
-
Thưa
vâng!
-
Pháp
thứ
tám
là
phải
kiên
trì,
tinh
cần,
không
được
dễ
duôi,
buông
xuôi,
biếng
nhác...
Pháp
thứ
chín
là
phải
chú
tâm,
cảnh
giác,
không
thất
niệm,
phải
có
thiền
định.
Pháp
thứ
mười
là
luôn
luôn
chánh
niệm,
tỉnh
giác,
có
trí
tuệ,
biết
quán
chiếu
ngũ
uẩn.
-
Vâng,
bạch
Tôn
giả.
-
Pháp
thứ
mười
một
là
chư
hiền
cần
phải
học
tập
cho
thông
suốt,
rốt
ráo...
để
ai
hỏi
về
thắng
Pháp,
thắng
Luật,
chư
hiền
đều
có
thể
trả
lời
được.
-
Thưa
vâng!
-
Pháp
thứ
mười
hai
là
các
Pháp
tịch
tịnh,
giải
thoát,
vượt
khỏi
sắc
pháp,
vượt
khỏi
vô
sắc
pháp,
chư
hiền
đều
có
thể
giảng
giải
rành
rẽ
cho
người
cầu
học.
Và
pháp
thứ
mười
ba
là
các
thắng
trí
của
bậc
thượng
nhân,
chư
hiền
cũng
cần
phải
thành
tựu.
Thấy
hội
chúng
thảy
đều
im
lặng,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
khích
lệ,
sách
tấn:
-
Thưa
chư
hiền!
Không
phải
là
tôi
đã
đòi
hỏi
quá
nhiều,
mà
thật
đúng
là
vậy,
có
mười
ba
pháp,
vị
tỳ-khưu
sống
ở
rừng
núi
cần
phải
được
học
hỏi,
y
chỉ,
thực
hành,
thành
tựu.
Khi
mà
có
được
mười
ba
pháp
ấy
thì
chư
hiền
đi
bất
cứ
đâu,
đồng
đạo
cũng
cung
kính,
ái
mộ,
mà
cận
sự
nam
nữ
cũng
thảy
đều
cung
kính,
ái
mộ.
Chư
hiền
đến
đâu
cũng
là
bóng
mát
nương
tựa
cho
Chư
Thiên
và
loài
người.
Vậy
chư
hiền
hãy
cố
gắng,
kham
nhẫn
tấn
tu,
hãy
thương
yêu
nhau,
đùm
bọc
nhau,
nhắc
nhở
nhau
để
tất
cả
cùng
thành
đạt
cứu
cánh
tối
thượng
của
Sa
môn
hạnh.
Là
mục
đích
xán
lạn
và
cao
cả,
xứng
đáng
cho
những
thiện
gia
nam
tử
xuất
gia
cần
cầu
an
ổn
mọi
ách
phược.
Chư
Tăng
ở
trong
Rừng
Ðầu
Ðà
thảy
đều
hoan
hỷ,
họ
đã
nghe
một
thời
pháp
chưa
từng
được
nghe:
trọn
vẹn
và
toàn
hảo.
Họ
vô
cùng
tri
ân,
cung
kính
tiễn
đưa
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
lên
đường.
*
*
*
Dừng
ở
ngã
ba
vào
Vương-Xá
thành,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
suy
nghĩ:
"Ta
có
nên
vào
kinh
đô
xứ
Ma-Kiệt-Ðà
chăng?
Trong
thân
bằng,
quyến
thuộc
ở
đây,
biết
ai
còn
có
duyên
để
dẫn
họ
vào
Chánh
Pháp
chăng?"
Rồi
Ngài
tự
trả
lời:
"-
Ta
có
một
ông
cậu
có
duyên
với
Chánh
Pháp.
Ông
cậu
này
thường
cúng
dường
đến
các
đạo
sĩ
lõa
thể,
và
ông
ta
nghĩ
rằng,
làm
như
vậy
là
thực
hành
con
đường
cộng
trú
với
phạm
thể.
Ông
cậu
này,
ta
đã
dẫn
đến
Ðức
Ðạo
Sư,
và
Ðức
Thế
Tôn
đã
đặt
ông
ta
vào
đức
tin
Tam
Bảo.
Ta
cũng
có
một
đứa
cháu
trai,
tháng
ngày
chuyên
giết
thú
và
chăm
sóc
ngọn
lửa
tế
thần.
Y
làm
như
vậy
và
tin
tưởng
rằng
đấy
là
con
đường
dẫn
đến
cõi
Phạm
Thiên.
Ta
đã
dẫn
cháu
ta
đến
bên
chân
Ðức
Ðạo
Sư
và
y
đã
có
đức
tin
Tam
Bảo
từ
đấy.
Ta
cũng
có
một
người
bạn
hữu
duyên.
Y
theo
ngoại
đạo,
hằng
ngày
tốn
tiền
bạc
mua
súc
vật,
giết
súc
vật
để
cúng
dường
thần
lửa.
Người
bạn
này
cũng
đã
được
Ðức
Tôn
Sư
đặt
y
vào
đức
tin
chơn
chánh
rồi.
Vậy
chẳng
còn
ai
hữu
duyên
ở
Vương-Xá
thành
này
nữa
mà
thăm
viếng,
ngoại
trừ
gia
đình,
và
người
hiện
thời
mà
ta
phải
quan
tâm
là
Revata!"
Nghĩ
thế
xong,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
cùng
với
đồ
chúng
bộ
hành
trở
lại
Kỳ
Viên
tịnh
xá.
*
*
*
Bà
Sàrì
chống
gậy
nhìn
theo
hình
bóng
người
con
trai
thân
yêu,
mắt
già
hoen
lệ.
Cả
một
cơ
ngơi
trù
phú,
thạnh
mãn,
đông
vui
mà
bây
giờ
trở
nên
trống
không.
Cả
hàng
trăm
gia
nô,
kẻ
hầu
người
hạ
mà
lúc
nào
bà
cũng
cảm
thấy
hoang
vắng.
Tiền
rừng
bạc
bể,
sơn
hào
hải
vị
cũng
trở
nên
vô
ích,
nhạt
nhẽo...
Revata
ra
đứng
bên
cạnh,
nắm
tay
bà,
đôi
mắt
nó
cũng
nhìn
ra
hướng
xa
xăm.
Ðộng
tâm,
bà
Sàrì
nghĩ:
"-
Hay
là
cái
giọt
máu
cuối
cùng
này
cũng
không
muốn
nối
truyền
tông
hệ?
Nó
nhìn
anh
trai
trưởng
của
nó
với
đôi
mắt
đầy
khâm
phục
và
tôn
kính!
Nó
đã
cãi
lại
ta,
bênh
vực
anh
nó,
và
cảm
mến
cả
lũ
Sa
môn
đầu
trọc
nữa!
Thôi
phải
rồi,
nguy
rồi!
Ta
phải
cứu
con
trai
út
của
ta!
Ta
phải
cứu
cho
cả
dòng
họ
Vaganta!
Phải
cưới
vợ
cho
nó
thôi!
Revata
bảy
tuổi,
ta
sẽ
cưới
cho
nó
một
cô
gái
chừng
mười
bốn
mười
lăm
tuổi,
và
cô
gái
ấy
sẽ
thay
ta
kềm
kẹp
nó,
ngăn
giữ
nó,
không
cho
nó
có
ý
nghĩ
ngông
cuồng
chạy
theo
bọn
không
cửa
không
nhà!
Gia
sản
phải
có
người
gìn
giữ,
huyết
thống
phải
có
người
kế
thừa!"
Nghĩ
là
làm
ngay.
Ngày
hôm
sau,
bà
cho
mời
mấy
người
trưởng
thượng
trong
quyến
thuộc,
trình
bày
lý
do,
sao
đó,
nhờ
họ
dò
hỏi
ở
những
gia
đình
cùng
tập
cấp
và
vai
vế,
cùng
danh
vọng
và
gia
sản.
Một
cô
gái
mười
bốn
tuổi
xinh
đẹp
được
tìm
ra.
Lễ
dạm
hỏi
được
tiến
hành
nhanh
chóng.
Gia
đình
bà
Sàrì
giàu
có
nên
không
cần
của
hồi
môn
của
cô
gái.
Revata
còn
bé
quá
nên
không
biết
gì.
Ðến
ngày
cử
hành
hôn
lễ,
cậu
bé
được
mặc
trang
phục
xinh
đẹp,
mang
đồ
trang
sức
quý
giá,
cùng
với
hàng
trăm
tùy
tùng
bước
lên
những
cỗ
xe
sang
trọng
đi
đến
nhà
gái.
Revata
được
người
ta
cho
biết
là
hôm
nay
cậu
cưới
vợ,
và
cô
gái
kia
sẽ
ăn
ở
với
cậu
trọn
đời.
Ðến
đây
thì
cậu
đã
hiểu
tuy
còn
rất
mơ
hồ.
Thân
bằng
quyến
thuộc
của
hai
họ
tề
tựu
đông
đủ.
Cờ,
đèn,
hoa
và
màu
sắc
chỗ
này
chỗ
kia
làm
cậu
ta
hoa
mắt.
Ðến
giờ
lành,
giờ
tốt,
người
ta
cử
hành
lễ
rước
dâu.
Cậu
đứng
bên
một
cô
gái
cao
hơn
cậu
cả
một
cái
đầu
-
mặt
được
trùm
kín
bởi
một
chiếc
khăn
mỏng
-
không
thấy
mặt
mũi
cô
gái
ra
sao,
chỉ
nghe
người
ta
nói
là
đẹp
lắm!
Vị
Trưởng
lão
chủ
hôn,
đặt
tay
trong
bát
nước,
rảy
nước
rồi
công
bố
phúc
lành:
"-
Cầu
cho
các
con
trăm
năm
tơ
hồng
thắm
thiết.
Cầu
cho
các
con
được
phúc
thọ
khang
ninh
như
bà
ngoại
của
cô
dâu
vậy."
Sau
lời
cầu
chúc
tốt
đẹp
của
hai
họ,
Revata
tự
nghĩ:
"Bà
ngoại
của
nàng
là
ai
vậy?"
Khi
được
biết
rằng,
đấy
là
một
cụ
bà
sống
một
trăm
hai
mươi
tuổi,
răng
rụng,
tóc
bạc,
da
nhăn
đầy
những
vết
đồi
mồi,
lưng
còng
như
một
cái
kèo
uốn
cong
hình
chữ
U...!
Revata
bèn
thăm
hỏi
người
hầu
thân
tín:
"Này,
cô
dâu
xinh
đẹp
trẻ
trung
của
tôi,
khi
già
thì
trông
cũng
giống
như
bà
ngoại
của
nàng
chăng?"
Người
ta
đáp:
"Ðấy
là
điều
dĩ
nhiên.
Bệnh,
già,
chết
là
định
luật
cậu
ạ,
chẳng
ai
tránh
thoát
được
đâu!"
Khi
sự
thật
đã
được
xác
nhận,
đã
được
thấy
rõ,
Revata
kinh
hãi,
tự
nghĩ:
"-
Ðấy
có
lẽ
là
sự
thật
mà
các
anh
trai
của
ta
đã
nhận
thức
nên
họ
đã
từ
bỏ
gia
đình
để
làm
những
vị
Sa
môn.
Vậy
ngay
bây
giờ
ta
phải
tìm
cách,
lập
kế
mà
trốn
đi
kẻo
không
còn
kịp
nữa.
Ta
phải
xuất
gia!"
Thế
rồi
trên
đường
trở
về
cùng
với
cô
dâu
trên
chiếc
xe
hoa
sực
nức
mùi
hương,
Revata
chợt
la
lên:
-
Hãy
dừng
xe
lại
một
chút.
Tôi
bị
đau
bụng!
Revata
bước
ra
khỏi
xe,
tất
tả
đi
vào
một
đám
cây
rậm
rạp,
một
lát,
cậu
chậm
rãi
trở
lại.
Lần
thứ
hai,
lần
thứ
ba
Revata
cũng
viện
cớ
như
vậy.
Lần
thứ
tư,
khi
còn
cách
nhà
không
bao
xa,
Revata
nói
một
cách
rất
tự
nhiên:
-
Rõ
là
cái
bụng
nó
đang
hành
hạ
tôi.
Nhà
cũng
sắp
đến
rồi,
vậy
quý
vị
cứ
chầm
chậm
cho
xe
đi
trước,
tôi
sẽ
theo
kịp
ngay
tức
khắc.
Không
ai
nghi
ngờ
gì
cả,
họ
đánh
xe
đi.
Revata
đi
vào
một
đám
cây
khuất
bóng,
rồi
cậu
co
giò
chạy
một
mạch
vào
hướng
Tây
khu
rừng.
Trời
gần
tối,
đói
meo,
mệt
lã,
cậu
tìm
ra
ngôi
Rừng
Ðầu
Ðà,
nơi
có
ba
mươi
vị
tỳ-khưu
mà
trước
đây
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đã
dặn
dò.
Gặp
họ,
Revata
đảnh
lễ:
-
Thưa
Chư
Ðại
Ðức!
Hãy
cho
con
xuất
gia,
hãy
thâu
nhận
con
vào
Tăng
chúng.
-
Này
cậu
bé!
Một
vị
Trưởng
lão
nói
-
với
những
trang
sức
quý
giá
và
với
những
y
phục
cao
sang,
đẹp
đẽ
như
vậy,
không
biết
cậu
bé
là
con
vua
hay
cháu
chúa
làm
sao
chúng
ta
dám
nhận
vào
Tăng
đoàn
này,
nơi
những
Sa
môn
sống
đời
ẩn
cư
khổ
hạnh?
-
Bạch
Ngài,
con
là
em
trai
út
của
Upatissa.
-
Upatissa
là
ai?
-
Bạch
Ngài!
Upatissa
là
tên
của
anh
trai
con
thuở
còn
là
gia
chủ.
Từ
khi
xuất
gia
đến
nay,
anh
trai
con
có
tên
là
Xá-Lợi-Phất!
Các
vị
Trưởng
lão,
Ðại
Ðức,
thất
kinh
cùng
đứng
đậy:
-
Sao?
Ðúng
là
em
trai
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đấy
chứ?
-
Dạ
đúng
vậy!
Anh
trai
con
là
Xá-Lợi-Phất,
xuất
thân
trong
gia
đình
trưởng
giáo
Bà
la
môn,
dòng
họ
Vaganta
con
bà
Sàrì.
Một
ngôi
làng
phía
Ðông,
cách
đây
gần
một
ngày
đường.
-
Ðúng
rồi,
không
hoài
nghi
gì
nữa!
Này
cậu
bé!
Trưởng
lão
Xá-Lợi-Phất
có
dặn
bảo
chúng
tôi,
chờ
đợi
cậu
và
làm
lễ
xuất
gia
cho
cậu.
Ngài
là
anh
cả
của
chúng
tôi,
là
thầy
của
chúng
tôi,
là
cái
mặt
trời,
mặt
trăng
mà
chúng
tôi
hằng
ngưỡng
mộ!
Thế
rồi,
Revata
được
cởi
ra
những
y
phục
và
tư
trang,
mặc
vào
mảnh
y
của
người
khất
sĩ,
làm
lễ
cạo
tóc
và
xuất
gia.
Một
vị
tỳ-khưu
trong
Rừng
Ðầu
Ðà
bộ
hành
về
Kỳ
Viên
tịnh
xá
báo
lại
sự
việc
cho
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
nghe.
Ngài
muốn
đi
thăm
em,
nhưng
lần
thứ
nhất,
lần
thứ
hai
Ðức
Thế
Tôn
đều
nói:
-
Này
Xá-Lợi-Phất!
Bây
giờ
là
chưa
phải
thời!
Hãy
kham
nhẫn!
Trong
lúc
ấy,
sa-di
Revata
tự
nghĩ:
"
Nếu
ta
tiếp
tục
trú
ngụ
ở
đây,
dầu
chỉ
một
ngày
thôi,
thì
trước
sau
gì
gia
đình
cũng
tìm
thấy."
Bèn
xin
đề
mục
thiền
quán
từ
vị
Trưởng
lão
rồi
mang
y
và
bát,
Revata
khởi
sự
một
chuyến
du
hành
rất
xa,
ba
mươi
dặm
đường,
một
mình
vào
trú
trong
khu
rừng
xiêm
gai.
Revata
nhập
hạ
ở
đây
trong
ba
tháng
mùa
mưa,
Revata
thành
tựu
được
mục
đích
của
Sa
môn
hạnh
cùng
với
những
thắng
trí
của
bậc
thượng
nhân!
Hôm
ấy,
Ðức
Thế
Tôn
nói
với
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất:
-
Bây
giờ
là
phải
thời,
Như
Lai
sẽ
cùng
ông
đi
thăm
sa-di
Revata.
Ðại
chúng
hay
tin,
chư
phàm
Tăng
không
ngớt
bàn
tán,
cho
rằng
Ðức
Thế
Tôn
thiên
vị
vì
Revata
là
em
trai
của
Bậc
Tướng
Quân
Chánh
Pháp.
Họ
nói:
-
Chúng
ta
hãy
xem!
Một
chú
sa-di
bảy
tuổi,
lại
ở
cách
xa
biết
bao
dặm
đường,
thế
mà
Ðức
Thế
Tôn
phải
đích
thân
đi
thăm
viếng,
hẳn
là
một
sự
kiện
hy
hữu!
Biết
được
tâm
ý
của
một
số
tỳ-khưu
như
vậy,
nhưng
Ðức
Thế
Tôn
không
nói
gì,
Ngài
bảo
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
tập
hợp
đại
chúng
rồi
lên
đường.
Ðến
một
ngã
tư,
Trưởng
lão
Ànanda
thưa
rằng:
-
Có
hai
con
đường
dẫn
đến
rừng
xiêm
gai
của
sa-di
Revata.
Con
đường
tốt
được
bảo
vệ,
có
dân
cư
và
nhà
cửa
đông
đúc,
dài
sáu
mươi
do-tuần.
Một
con
đường
xấu,
không
được
ai
bảo
vệ,
nhiều
phi
nhân
và
ác
thú,
hoang
vắng
người
và
nhà
cửa,
nhưng
rất
ngắn,
chỉ
có
ba
mươi
do-tuần.
Vậy
chúng
ta
đi
con
đường
nào,
bạch
Ðức
Thế
Tôn?
Ðức
Phật
hỏi
Ngài
thị
giả:
-
Có
Sìvali
đi
cùng
đấy
không,
Ànanda?
-
Thưa
có,
có
Trưởng
lão
Sìvali
trong
số
năm
trăm
tỳ-khưu.
-
Vậy
chúng
ta
đi
con
đường
ngắn.
Tôn
giả
Ànanda
băn
khoăn:
-
Bạch
Ðức
Thế
Tôn!
Con
đường
này
thật
không
dễ
dàng
khất
thực
cho
một
hội
chúng
đông
đúc!
-
Này
Ànanda!
Ðức
Phật
nói
-
ông
đừng
nên
quá
lo
xa
như
vậy,
sẽ
có
nhân,
duyên,
quả
nó
làm
việc.
Con
đường
ngắn
thật
hiểm
trở,
cheo
leo,
vất
vả.
Nhưng
ngạc
nhiên
làm
sao,
con
đường
ấy
hôm
nay
lại
bằng
phẳng,
phong
quang!
Và
cứ
cách
một
do-tuần
là
có
những
căn
nhà
nghỉ
to,
rộng,
thoáng
mát.
Nơi
những
cằn
nhà
nghỉ
đầu
tiên,
có
những
cư
dân
không
biết
ở
đâu
xuất
hiện,
ăn
mặc
sang
trọng,
mang
những
mâm
vật
thực
sang
trọng,
tỏa
ngát
mùi
hương
đi
tìm
Trưởng
lão
Sìvali
và
dâng
cúng
vật
thực
cho
vị
ấy.
Trưởng
lão
Sìvali
lại
bảo
họ
dâng
cúng
đến
Ðức
Thế
Tôn
và
Tăng
chúng.
Suốt
ba
mươi
do-tuần,
Bậc
Ðạo
Sư
và
đại
chúng
được
nghỉ
ngơi
và
thọ
dụng
vật
thực
kỳ
lạ
như
vậy.
Ðến
khu
rừng
xiêm
gai,
sa-di
Revata
trang
nghiêm,
tề
chỉnh
ra
đảnh
lễ
Ðức
Thế
Tôn
và
Tăng
chúng.
Mọi
người
đưa
mắt
nhìn
quanh,
chẳng
còn
thấy
đâu
là
khu
rừng
già
đầy
gai
góc
và
hoang
dã
nữa.
Kia
là
hương
phòng
dành
cho
Ðức
Ðạo
Sư
đẹp
đẽ
như
cung
điện
của
cõi
trời.
Rải
rác
cả
mấy
khu
rừng
là
năm
trăm
chỗ
ngụ
có
tháp
nhọn,
mỗi
chỗ
ở
trang
trọng
như
vậy
được
dành
cho
một
vị
tỳ-khưu!
Ngoài
ra
có
năm
trăm
con
đường
đi
kinh
hành
có
mái
che
xanh
mát
bởi
dây
leo
và
hoa
nở;
lại
có
cả
năm
trăm
khu
vực
dành
cho
ban
ngày
và
ban
đêm...
Chư
Tăng
không
ngớt
bàn
tán,
chỉ
chỏ.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
ân
cần
nắm
tay
sa-di
Revata:
-
Ta
hoàn
toàn
mãn
nguyện,
em
có
biết
không,
Revata?
Revata
kính
cẩn
nắm
tay
anh,
và
biết
rằng,
mọi
nhân,
mọi
duyên
hôm
nay
mà
được
chín
muồi
đều
do
nhờ
ân
đức
của
người
anh
trai
cao
quý
này.
Tại
đây,
Ðức
Thế
Tôn
ở
lại
một
tháng
để
giáo
giới
Chư
Tăng.
Ngài
tán
thán
hạnh
độc
cư,
thiền
định,
tán
thán
những
nỗ
lực
tấn
tu
phạm
hạnh
của
Revata,
khuyên
Chư
Tăng
nên
lấy
đó
làm
gương,
làm
cái
đích
để
tiến
hóa.
Trong
thời
gian
ở
đây,
Ðức
Phật
và
Tăng
chúng
được
số
dân
cư
xa
lạ
dâng
cúng
vật
thực
đầy
đủ.
Trước
khi
rời
khu
rừng
xiêm
gai,
Ðức
Thế
Tôn
đã
xóa
tan
mọi
nghi
hoặc
trong
tâm
của
đại
chúng:
-
Này
các
thầy
tỳ-khưu!
Suốt
ba
mươi
do-tuần
và
cả
thời
gian
một
tháng
ở
đây,
Như
Lai
và
các
thầy
được
dâng
cúng
vật
thực
thượng
vị
đều
do
nhờ
phước
báu
của
một
người:
đấy
là
tỳ-khưu
Sìvali!
Sự
kiện
hy
hữu
ấy
các
thầy
phải
thấy
rõ
để
tăng
trưởng
đức
tin
chơn
chánh
vào
Giáo
Pháp!
Chư
Tăng
im
lặng,
họ
đã
hiểu
lý
do
cuộc
lên
đường
xa
xôi
của
Ðức
Phật.
-
Bạch
Ðức
Thế
Tôn
-
một
vị
hỏi
-
do
nhân
gì,
do
duyên
gì
mà
Trưởng
lão
Sìvali
có
phước
báu
thù
thắng
như
vậy?
Ðức
Phật
lại
phải
vén
bức
màn
quá
khứ
đã
bị
che
lấp:
-
Này
các
tỳ-khưu!
Cách
đây
chín
mươi
mốt
đại
kiếp,
vào
thời
Ðức
Phật
Tì-Bà-Thi
(Vipassi),
tỳ-khưu
Sìvali
là
một
nông
dân
nghèo.
Hôm
kia,
y
lấy
được
một
ổ
mật
ong
tươi.
Ôi
mật
ong
ấy
trị
giá
chỉ
có
mấy
xu
nhưng
người
ta
trả
giá
mua
đến
một
ngàn
đồng
tiền
vàng.
Khi
biết
rằng,
họ
mua
là
để
cúng
dường,
người
nông
dân
ấy
đã
không
bán
để
lấy
tiền
mà
phát
tâm
hoan
hỷ
hùn
phước.
Y
đã
cúng
dường
mật
ong
đến
Ðức
Phật
Tì-Bà-Thi
và
Tăng
chúng
sáu
mươi
tám
ngàn
vị.
Do
nhân
ấy,
do
duyên
ấy
mà
nhiều
đời
kiếp
cho
đến
hôm
nay,
Sìvali
bao
giờ
cũng
sung
mãn
vật
thực,
trong
Giáo
Hội
không
ai
bằng
được,
kể
cả
Nhu
Lai.
Sau
này,
khi
các
thầy
bộ
hành
qua
các
làng
mạc
xa
xôi,
gặp
lúc
đói
kém,
mất
mùa
-
hãy
tháp
tùng
với
Sìvali,
dầu
năm
vị,
mười
vị
hay
hơn
thế
nữa
các
thầy
vẫn
được
no
đủ.
Thí
chủ
của
tỳ-khưu
Sìvali
ở
khắp
nơi,
không
phải
chỉ
có
loài
người
mà
còn
có
cả
chư
thiên
và
thọ
thần
nữa!
Im
lặng
một
lát,
Ðức
Thế
Tôn
đứng
dậy,
nắm
tay
sa-di
Revata
rồi
nói
rằng:
-
Còn
đây
là
con
trai
của
Như
Lai,
con
trai
thù
thắng
của
Như
Lai!
Các
thầy
biết
tại
sao
mà
Như
Lai
yêu
mến
Revata
như
vậy
không?
Nếu
biết
chuyện
của
Revata
thì
trong
các
thầy,
ai
cũng
phải
yêu
mến
và
đều
muốn
đi
viếng
thăm
Revata
cả!
Này
các
thầy
tỳ-khưu!
Mặc
dầu
mới
bảy
tuổi
nhưng
Revata
đã
phải
lên
xe
hoa
với
cô
dâu.
Thế
nhưng,
khi
sắp
về
đến
nhà,
Revata
đã
tìm
cách
trốn
đi,
nhịn
đói,
nhịn
khát
vượt
qua
con
đường
dài,
đến
khu
Rừng
Ðầu
Ðà
với
quyết
chí
xuất
gia.
Ngày
hôm
sau,
Revata
đã
vội
vã
lên
đường
làm
một
cuộc
bộ
hành
xa
xăm
hơn
nữa,
đến
đây,
với
y
và
bát,
an
cư
mùa
mưa
và
khởi
tâm
đạt
cho
được
quả
vị
A-La-Hán.
Thế
rồi,
cuối
mùa
mưa,
Revata
thành
đạt
được
ý
nguyện
cùng
với
những
thắng
trí.
Hương
phòng
của
Như
Lai,
năm
trăm
chỗ
ngụ
có
tháp
nhọn,
năm
trăm
đường
đi
kinh
hành...
cùng
mọi
tiện
nghi
ăn
ở
khác,
tất
cả
đều
do
năng
lực
của
Revata!
Vậy
các
thầy
có
thấy
đấy
là
sự
kiện
hy
hữu
không?
Khi
Chư
Tăng
hoan
hỷ
cất
tiếng
"lành
thay"
thì
Chư
Thiên,
thọ
thần
khắp
núi
rừng
đồng
loạt
tán
thán
theo
làm
chấn
động
đến
cả
cõi
trời.
*
*
*
Revata
sau
này
đến
tuổi,
thọ
đại
giới.
Ba
người
chị
của
Revata,
mỗi
nàng
sinh
được
một
người
con
trai,
được
đặt
những
tên
có
nghĩa
là
"theo
chân
người
mẹ".
Rồi
họ
xuất
gia.
Các
cậu
con
trai
khi
được
bảy
tuổi,
bèn
"theo
chân
người
mẹ",
họ
cũng
xuất
gia
luôn.
Và
chính
Ðại
Ðức
Revata
nhận
họ,
làm
thầy
truyền
sa-di
giới.
Những
vị
tỳ-khưu
ni
Càlà,
Upacàlà
và
Sisupacàlà
đều
đắc
quả
A-La-Hán.
Các
con
trai
của
các
nàng
đều
có
hạnh
kiểm
tốt
đẹp.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
dường
như
đã
chu
toàn
xong
những
bổn
phận
cao
cả
đối
với
gia
đình,
quyến
thuộc,
bằng
hữu;
nhưng
Ngài
còn
một
nỗi
bên
lòng:
ấy
là
mẹ
Ngài,
đang
còn
theo
ngoại
đạo,
vẫn
giữ
vững
đức
tin
với
Ðấng
Phạm
Thiên
của
bà,
không
gì
lay
chuyển
nổi!
Với
Nữ
đạo
sĩ
tóc
quăn
Ðược
biết
rằng
nàng
là
một
cô
gái
xinh
đẹp
tuyệt
trần,
con
của
một
thương
nhân
giàu
có
ở
Vương-Xá
thành,
phải
lòng
một
tên
cướp
đang
bị
dẫn
ra
xử
trảm
ở
pháp
trường.
Vì
thương
con,
cha
mẹ
nàng
phải
hối
lộ
một
ngàn
đồng
tiền
vàng
để
người
ta
đánh
tráo
tên
cướp,
mang
về
nhà
và
sắp
đặt
một
cuộc
hôn
nhân.
Nàng
và
tên
cướp
bắt
đầu
sống
chung
với
nhau
trong
cảnh
vinh
hoa
phú
quý.
Chẳng
được
bao
lâu,
tên
cướp
khởi
lên
ác
tâm,
muốn
giết
nàng
để
lấy
đi
tất
cả
đồ
nữ
trang
quý
giá.
Hắn
lập
mưu
nói
là
muốn
làm
một
cuộc
lễ
tạ
ơn
đến
vị
thần
bổn
mạng
hộ
trì,
đấy
là
"ngọn
núi
thiêng
của
những
tên
cướp".
Hôm
kia,
sau
khi
sắm
sửa
lễ
vật
trọng
thể,
hắn
dẫn
nàng
lên
núi
cao.
Tại
đây,
tên
cướp
lột
tất
cả
đồ
trang
sức
của
nàng
rồi
định
giết
nàng.
Hắn
đã
nói
thật
dã
tâm
của
hắn.
Chán
nản
người
chồng
ác
đức,
tương
kế
tựu
kế,
nàng
đã
xô
anh
ta
xuống
vực
sâu
tan
xác.
Ðã
thấm
thía
tình
duyên
phản
trắc,
cô
gái
quăng
đồ
nữ
trang,
xé
rách
y
phục
sang
trọng,
khoác
một
mảnh
vải
tìm
đến
một
phái
đạo
sĩ
khổ
hạnh.
Các
nữ
đạo
sĩ
hỏi
nàng:
-
Cô
muốn
xuất
gia
khổ
hạnh
bậc
gì?
-
Bậc
thượng!
Thế
là
thay
vì
cạo
tóc
bằng
những
bẹ
nứa,
người
ta
nhổ
từng
sợi
tóc
cho
nàng,
máu
chảy
thành
dòng.
Các
nữ
đạo
sĩ
lấy
bùn
đất
do
uế
trát
lên
y
áo
của
nàng,
trao
cho
một
cái
bát
bằng
đất
rồi
dạy
giáo
pháp,
tu
tập,
thiền
định...
Không
bao
lâu
sau,
cô
gái
bây
giờ
là
nữ
đạo
sĩ
-
đã
chứng
tỏ
sự
thông
minh
kỳ
đặc,
một
ý
chí
sắc
thép,
một
đầu
óc
siêu
việt,
một
lý
trí
sắc
bén
-
nên
sớm
được
đồng
đạo
nể
phục.
Người
ta
muốn
nàng
lên
đường
để
xiển
dương
giáo
pháp,
đem
chuông
trống
đi
đánh
xứ
người...
Từ
đấy,
nữ
đạo
sĩ
sống
đời
ta
bà
vô
trú,
không
bao
lâu
đã
nổi
tiếng
khắp
nơi
về
tài
hùng
biện...
Từ
quốc
độ
này
sang
quốc
độ
khác,
từ
thành
phố
này
sang
thị
trấn
nọ,
nữ
đạo
sĩ
đã
trổ
tài
vô
địch
trong
những
cuộc
tranh
luận
về
các
môn
triết
học,
tư
tưởng
trong
và
ngoài
truyền
thống
Vệ-Ðà;
giương
cao
ngọn
cờ
minh
triết
cho
một
môn
phái
khổ
hạnh,
chủ
trương
diệt
dục
bằng
lối
sống
khắc
kỷ.
Ðến
ở
đâu,
nữ
đạo
sĩ
cắm
lên
đấy
một
nhành
liễu
xanh.
Nhưng
rồi,
đến
một
lúc
nào
đó,
nhành
liễu
này
khô
đi
lại
được
thay
bằng
một
nhành
liễu
mới,
chẳng
có
ai
dám
nhổ
nhành
liễu
để
tranh
luận
với
nàng
nữa!
Hôm
nọ,
bước
chân
ta
bà
ấy
đến
Xá-Vệ,
nữ
đạo
sĩ
cắm
một
nhành
liễu
ngay
trước
cổng
thành.
Một
số
trẻ
em
tò
mò
vây
quanh...
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất,
sau
khi
đi
khất
thực,
trên
đường
trở
về
tịnh
xá,
thấy
đám
trẻ
và
nhành
liễu,
Ngài
dừng
chân:
-
Của
ai
đấy,
các
con?
-
Của
nữ
đạo
sĩ
tóc
quăn,
thưa
Trưởng
lão.
-
Nữ
đạo
sĩ
à?
-
Dạ
phải,
nữ
đạo
sĩ
tuy
ăn
mặc
xấu
xí,
tóc
quăn,
nhưng
đẹp
lắm.
Tôn
giả
nói:
-
Vậy
thì
các
con
hãy
nhổ
nhành
liễu
ấy
và
quăng
đi!
-
Chúng
con
sợ!
-
Không
sao,
có
ta
đây!
Khi
nữ
đạo
sĩ
hỏi,
các
con
bảo
là
đệ
tử
của
Ðức
Thế
Tôn
nhổ
đấy!
Ðám
trẻ
reo
hò,
chúng
đến,
không
phải
là
nhổ
mà
là
dẫm
đạp
lên
nhành
liễu,
đá
tung
bụi,
bẻ
vụn
nhành
liễu,
và
quăng
tơi
tả
đó
đây.