Một cuộc đời, một ngôi sao
(Truyện Ngài Xá-Lợi-Phất)
Minh Ðức Triều Tâm Ảnh
Huế 1996
---o0o---
[09]
Những
câu
hỏi
đạo
cao
siêu
Ðã
từ
lâu,
thuở
còn
ở
Trúc
Lâm
tịnh
xá,
Ðức
Phật
thường
tán
thán,
ca
ngợi
Trưởng
lão
Phú-Lâu-Na
(Punna
Mantaniputta)
trước
đại
chúng.
Trưởng
lão
Phú-Lâu-Na
nổi
tiếng
về
hạnh
thiểu
dục,
tri
túc,
yêu
thích
độc
cư,
tinh
tấn,
thành
tựu
Giới
Ðịnh
Tuệ,
giải
thoát
và
giải
thoát
tri
kiến.
Và
chính
Trưởng
lão
cũng
hằng
khuyến
khích,
nhắc
nhở
các
hàng
tỳ-khưu
tấn
tu
những
hạnh
kể
trên.
Nghe
vậy,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
vô
cùng
hoan
hỷ,
những
mong
có
ngày
diện
kiến
Trưởng
lão
Phú-Lâu-Na.
Ngày
ấy
đã
đến.
Hôm
kia,
Trưởng
lão
Phú-Lâu-Na
bộ
hành
từ
một
khu
rừng
thuộc
quốc
độ
Ma-Kiệt-Ðà
về
nước
Kosala,
đến
Kỳ
Viên
hầu
thăm
Ðức
Thế
Tôn.
Sau
khi
được
Ðức
Ðạo
Sư
giáo
giới,
Trưởng
lão
Phú-Lâu-Na
tìm
về
một
khu
rừng
yên
vắng
ở
Andhavana
để
nghỉ
trưa.
Ðược
một
vị
tỳ-khưu
cho
biết,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
liền
mang
y
bát
lên
đường
thăm
viếng.
Cả
hai
đều
không
biết
mặt
nhau.
Họ
tương
kính
chào
đón,
hỏi
thăm.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
mở
lời:
-
Thưa
hiền
giả,
phải
chăng
chúng
ta
đang
sống
đời
sống
Sa
môn
hạnh
trong
Giáo
Pháp
c?a
Ðức
Tôn
Sư?
Trưởng
lão
Phú-Lâu-Na
nhìn
vị
tỳ-khưu
đứng
tuổi,
dung
sắc
chói
sáng,
tươi
mát
hiếm
thấy,
ôn
tồn
đáp:
-
Ðúng
như
vậy,
thưa
hiền
giả!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
nhũn
nhặn:
-
Hiền
giả
sống
đời
giới
hạnh
trong
sạch
,
vậy
chẳng
hay
có
phải
giới
thanh
tịnh
là
mục
đích
của
hạnh
Sa
môn?
-
Không
phải
vậy,
hiền
giả!
Rồi
những
câu
hỏi
của
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
như
nước
chảy
mây
trôi:
-
Chúng
sanh,
phàm
phu
thường
bị
đau
khổ
bởi
tham
sân
phiền
não,
còn
hiền
giả
sống
đời
an
tịnh,
vắng
lặng
như
thế
này,
vậy
phải
chăng
tâm
thanh
tịnh
là
cứu
cánh
rốt
ráo?
-
Chẳng
phải
thế
đâu,
hiền
giả!
-
Giữa
mọi
loại
triết
học,
tư
tưởng
rối
ren
trên
trần
thế,
chúng
sanh
bị
quay
cuồng,
rối
loạn
bởi
những
kiến
điên
đảo,
kiến
hoang
vu,
kiến
kiết
phược,
kiến
rừng
rậm
bít
bùng...,
vậy
phải
chăng
kiến
thanh
tịnh
là
mục
tiêu
cần
phải
đạt?
-
Cũng
không
phải
thế
đâu,
hiền
giả!
-
Hay
là
chấm
dứt
trọn
vẹn
tất
cả
mọi
nghi
hoặc,
nghi
ngờ,
phân
vân,
lưỡng
lự,
do
dự,
bất
quyết...,
và
đoạn
nghi
thanh
tịnh
là
minh
triết
ở
cuối
con
đường?
-
Cũng
không
phải
vậy,
hiền
giả!
-
Ðen
trắng
lẫn
lộn,
tà
chánh
khó
phân;
hay
mục
đích
của
phạm
hạnh
là
trang
bị
cho
mình
sự
thấy
biết
chánh
ta,
chân
ngụy
một
cách
rạch
ròi,
và
đạo
phi
đạo
tri
kiến
thanh
tịnh
là
ước
nguyện
của
đời
Ngài?
Trưởng
lão
Phú-Lâu-Na
chợt
mỉm
cười:
-
Những
câu
hỏi
của
hiền
giả
hay
lắm,
lưu
loát
lắm,
nhưng
rất
tiếc,
cũng
không
phải
là
thế!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
cảm
thấy
rất
thú
vị
được
tao
ngộ
với
một
đồng
đạo
kiến
thức
uyên
thâm,
thực
tu,
thực
chứng,
nên
Ngài
hỏi
tiếp:
-
Hay
là
thấy
rõ
con
đường
chơn
chánh?
Và
đạo
tri
kiến
thanh
tịnh
là
mục
đích
của
Sa
môn
hạnh?
-
Cũng
không
phải
vậy.
-
Hay
là
đã
vượt
qua,
ở
trên,
không
còn
dính
mắc
ở
cả
con
đường
chơn
chánh
mà
chỉ
còn
là
tri
kiến
thanh
tịnh
thôi?
-
Thưa
hiền
giả,
các
câu
hỏi
đều
rất
kỳ
diệu,
tiếc
thay,
thế
vẫn
chưa
đúng
đâu!
-
Hiền
giả
hãy
xem,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
nói
-
tôi
đã
hỏi
hiền
giả
về
mục
đích
của
Sa
môn
hạnh,
và
tôi
đã
lần
lượt
đi
từ
giới
thanh
tịnh,
tâm
thanh
tịnh,
kiến
thanh
tịnh,
đoạn
nghi
thanh
tịnh,
đạo
phi
đạo
tri
kiến
thanh
tịnh,
đạo
tri
kiến
thanh
tịnh,
tri
kiến
thanh
tịnh.
Cả
bảy
thanh
tịnh
ấy,
cái
gì
hiền
giả
cũng
bảo
rằng
không.
Vậy
cái
gì
là
mục
đích
của
hạnh
Sa
môn,
thưa
hiền
giả?
-
Vô
thủ
trước
Bát
Niết
Bàn
mới
là
cứu
cánh
tối
thượng,
thưa
hiền
giả!
Ðến
đây,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
thắt
vấn
đề
lại:
-
Vậy
giới
thanh
tịnh
có
phải
là
Vô
thủ
trước
Bát
Niết
Bàn
chăng?
-
Không
phải!
Thế
rồi,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
hỏi
đến
cả
bảy
thanh
tịnh,
Trưởng
lão
Phú-Lâu-Na
đều
trả
lời
không
phải
chúng
là
Vô
thủ
trước
Bát
Niết
Bàn.
-
Vậy
Vô
thủ
trước
Bát
Niết
Bàn
nó
liên
hệ
hoặc
không
liên
hệ
với
bảy
thanh
tịnh
như
thế
nào
hở
hiền
giả?
-
Hiền
giả!
Trưởng
lão
Phú-Lâu-Na
đáp
một
cách
trang
nghiêm
-
nếu
giới
thanh
tịnh
là
Vô
thủ
trước
Bát
Niết
Bàn
thì
Vô
thủ
trước
ấy
cũng
đồng
đẳng
với
Hữu
thủ
trước.
Và
chúng
phàm
phu
sẽ
chấp
vào
giới
thanh
tịnh
ấy.
Về
sáu
thanh
tịnh
kia
cũng
y
như
thế.
Nhưng
nếu
bảo
Vô
thủ
trước
Bát
Niết
Bàn
ở
ngoài
bảy
thanh
tịnh
kia
thì
tất
cả
chúng
phàm
phu,
ngoại
đạo
đều
Vô
thủ
trước
Bát
Niết
Bàn
cả
hay
sao?
-
Tôi
hiểu,
thưa
hiền
giả!
-
Hiền
giả,
tôi
sẽ
cho
thêm
ví
dụ.
Vua
Pasenadi
(Ba-Tư-Nặc)
đi
xe
từ
Xá-Vệ
đến
Saketa
qua
bảy
trạm
xe.
Ðến
nơi,
triều
thần
ra
đón
và
hỏi
có
phải
nhờ
chiếc
xe
này
mà
đức
vua
đến
được
Saketa
hay
không?
Trong
trường
hợp
ấy,
thưa
hiền
giả,
đức
vua
phải
trả
lời
thế
nào
cho
đúng?
-
Dĩ
nhiên,
đức
vua
sẽ
nói
rằng,
trẫm
đi
từ
trạm
một
qua
trạm
hai
bằng
một
cỗ
xe,
trạm
hai
qua
trạm
ba
trẫm
đổi
một
cỗ
xe
khác.
Và
lần
lượt
như
thế,
qua
bảy
trạm
trẫm
đổi
bảy
cỗ
xe
khác
nhau.
-
Ðúng
vậy,
hiền
giả
quả
là
thông
minh,
đã
nói
rất
đúng!
Như
vậy,
giới
thanh
tịnh
là
mục
đích
cho
tâm
thanh
tịnh.
Tâm
thanh
tịnh
là
mục
đích
cho
kiến
thanh
tịnh.
Kiến
thanh
tịnh
là
mục
đích
cho
đoạn
nghi
thanh
tịnh...
Và
cuối
cùng
là
tri
kiến
thanh
tịnh.
Tri
kiến
thanh
tịnh
là
mục
đích
để
đạt
đến
Vô
thủ
trước
Bát
Niết
Bàn!
Vô
thủ
trước
Bát
Niết
Bàn
mới
là
cứu
cánh
của
Sa
môn
hạnh,
thưa
hiền
giả!
Ðến
đây,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
rất
hân
hoan,
Ngài
chấp
tay
xá
chào
Trưởng
lão
Phú-Lâu-Na.
-
Quả
thật
tôi
đã
được
thông
suốt,
đã
được
sáng
tỏ,
đã
được
tắm
mát
?
tận
suối
nguồn
của
Pháp.
Chẳng
hay
hiền
giả
tên
gì?
Và
các
vị
đồng
phạm
hạnh
thường
gọi
hiền
giả
như
thế
nào?
-
Thưa,
tôi
tên
là
Phú-Lâu-Na
(Punna),
các
bạn
đồng
đạo
thường
gọi
tôi
là
Di-Ðà-La-Ni-Tử
(Mantaniputta).
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đứng
dậy,
chấp
tay:
-
Thật
là
hy
hữu
thay,
hiền
giả!
Thật
là
kỳ
diệu
thay,
hiền
giả!
Những
câu
hỏi
sâu
kín,
tế
vi,
thâm
mật
đã
được
trả
lời
rõ
ràng,
minh
xác
từng
điểm
một
bởi
một
đệ
tử
đa
văn,
quảng
kiến,
bác
học...
của
Ðức
Ðạo
Sư.
Và
vị
ấy
là
Tôn
giả
Phú-Lâu-Na!
Thật
là
hạnh
phúc
thay
cho
các
vị
đồng
phạm
hạnh.
Thật
là
chơn
hạnh
phúc
thay
cho
tứ
chúng,
cho
chúng
tôi
được
thăm
viếng,
thân
cận
Tôn
giả
Phú-Lâu-Na!
Trưởng
lão
Phú-Lâu-Na
cũng
đứng
dậy,
chấp
tay:
-
Hiền
giả
đã
tán
thán,
ca
ngợi
quá
nhiều
làm
tôi
phải
hổ
thẹn.
Vậy
chẳng
hay
hiền
giả
cao
danh
quý
tánh?
và
các
vị
đồng
phạm
hạnh
thường
gọi
tên
hiền
giả
ra
sao?
-
Thưa,
tên
tôi
là
Upatissa,
các
vị
bạn
đạo
thường
gọi
tôi
là
Xá-Lợi-Phất!
Trưởng
lão
Phú-Lâu-Na
mở
mắt
lớn,
ngạc
nhiên:
-
Ồ!
Thế
ra
tôi
vừa
nói
chuyện
với
ai
đây?
Tôi
đã
dám
phân
tích,
lý
luận,
khen
ngợi,
đàm
đạo
với
một
bậc
trí
tuệ
vĩ
đại
được
xem
là
ngang
hàng
với
Ðức
Ðạo
Sư?
Ồ!
Ðúng
là
tôi
đã
cả
gan
múa
búa
trước
mắt
thợ
mộc,
đã
đem
khoe
giọt
nước
trên
tay
mình
với
biển
Ðông!
Nếu
biết
Ngài
là
Bậc
Tướng
Quân
Chánh
Pháp
thì
tôi
đã
không
dám
lòi
ra
cái
dốt
của
mình!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
ân
cần
nắm
tay
Trưởng
lão
Phú-Lâu-Na,
nói
rất
thật
lòng
mình:
-
Không
phải
vậy,
quả
thật
tôi
đã
được
nghe
một
thời
pháp
thật
tu,
thật
thấy
của
hiền
giả!
Một
đời
Sa
môn
hạnh
sẽ
vô
ích,
uổng
công
nếu
không
bơi
được
đến
tận
bến,
tận
bờ...
Thế
rồi
cả
hai
vị
Sa
môn
từ
giã
nhau,
rỗng
không,
thanh
thoát
và
đậm
đà
tình
nghĩa
như
đã
tương
ngộ
với
nhau
từ
thuở
kiếp
nào!
*
*
*
Hôm
sau,
trước
nhóm
tỳ-khưu
đệ
tử,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
kể
lại
câu
chuyện
đàm
đạo
thú
vị
ấy
rồi
Ngài
tán
thán
ca
ngợi
không
hết
lời
về
đạo
hạnh
và
trí
tuệ
của
Trưởng
lão
Phú-Lâu-Na.
Có
người
không
hiểu
rõ
những
ngữ
nghĩa
qua
từng
trạm
xe,
Tôn
giả
lại
phải
ân
cần,
cặn
kẽ
giải
thích
từng
từ
một,
từng
nghĩa
một.
Ai
nấy
đều
hoan
hỷ
vì
được
lãnh
hội
thấu
đáo
những
kiến
thức
sâu
kín,
vi
diệu
của
Pháp.
Cuối
lời
giải
thích,
một
tỳ-khưu
trẻ
chợt
hỏi:
-
Vậy
Vô
thủ
trước
Bát
Niết
Bàn
là
gì,
thưa
thầy?
-
Là
cái
cần
phải
liễu
tri,
chứng
nghiệm
nơi
tự
thân,
nóng
lạnh
khắc
biết!
-
Chẳng
nói
ra
thành
lời
được
sao,
bạch
thầy?
Tôn
giả
đáp:
-
Nói
ra
như
thế
nào
thì
chúng
sanh
sẽ
chấp
như
thế
ấy.
Và
như
vậy
thì
đâu
còn
gọi
là
Vô
thủ
trước?
Một
vị
cứ
khăng
khăng:
-
Thưa
thầy,
xin
thầy
cứ
giải
nghĩa
cả
nhóm
từ
cũng
được.
-
Vậy
thì
nó
có
nghĩa
là:
"rỗng
lặng,
không
còn
chấp
thủ,
dính
mắc"
gì
ở
trên
đời
này
nữa!
-
Nó
có
giống
"không
tâm"
không?
-
Rất
khác.
Một
vị
tỳ-khưu
đi
đến
chỗ
trống,
ngôi
nhà
trống
rồi
khởi
lên
ý
nghĩ
"không
có
ngã
mà
cũng
không
có
ngã
sở",
rồi
vị
ấy
trú
vào
tưởng
ấy.
Tưởng
ấy
chính
là
"không
tâm".
Không
tâm
ấy
không
thể
là
Vô
thủ
trước
Bát
Niết
Bàn
được!
-
Vậy
nó
có
giống
với
"vô
tướng
tâm"
không,
bạch
thầy?
-
Một
vị
tỳ-khưu
không
khởi
lên
bất
kỳ
một
tướng
nào,
rồi
tác
ý
"vô
tướng
với
tất
cả
các
tướng",
vậy
là
"vô
tướng
tâm".
Ðấy
cũng
không
phải
là
Vô
thủ
trước
Bát
Niết
Bàn!
-
Còn
"vô
sở
hữu
tâm"?
-
Một
vị
tỳ-khưu
rời
không
vô
biên,
rời
thức
vô
biên,
khởi
lên
tưởng
"không
có
gì
cả",
rồi
trú
vào
tưởng
ấy,
gọi
là
"vô
sở
hữu
tâm".
Vô
sở
hữu
tâm,
chúng
ngoại
đạo
cũng
đắc
được,
thì
làm
sao
dám
gọi
là
Vô
thủ
trước
Bát
Niết
Bàn?
Cả
hội
chúng
bàng
hoàng
lẫn
ngơ
ngác!
Từ
lâu
sống
đời
ta
bà
vô
trú,
rầy
đây
mai
đó,
họ
gặp
gỡ,
trao
đổi,
mạn
đàm
với
bạn
bè
đồng
đạo,
thân
bằng
quyến
thuộc,
với
cả
chúng
ngoại
đạo.
Họ
thường
lẫn
lộn,
không
phân
tích
được,
tìm
ra
sự
khác
nhau
giữa
"không
tâm",
"vô
tướng
tâm",
"vô
sở
hữu
tâm"
này!
Thậm
chí
có
một
số
ngoại
đạo
khư
khư
bảo
rằng
"không
định"
là
Niết
Bàn,
"vô
tướng
định"
là
Niết
Bàn,
"vô
sở
hữu
định"
là
Niết
Bàn
mà
các
vị
tỳ-khưu
cũng
không
phản
bác
được!
Yên
lặng
để
nghiền
ngẫm
ý
nghĩa
một
hồi
lâu,
một
vị
khác
lại
hỏi:
-
Bạch
thầy,
còn
"vô
lượng
tâm"
thì
sao?
Có
thể
nào
có
vô
lượng
tâm
giải
thoát
và
vô
lượng
tâm
không
giải
thoát?
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
thấy
câu
hỏi
hay,
bèn
nói:
-
Chính
xác
lắm!
Vậy
hãy
nghe
đây!
Một
vị
tỳ-khưu
biến
mãn
một
phương,
mười
phương
với
tâm
câu
hữu
với
từ,
với
bi,
với
hỷ,
với
xả...
ấy
gọi
là
vô
lượng
tâm!
Nếu
vị
tỳ-khưu
ấy
đã
giải
thoát
thì
vô
lượng
tâm
kia
giải
thoát;
vị
tỳ-khưu
kia
chưa
giải
thoát
thì
vô
lượng
tâm
ấy
là
không
giải
thoát.
Một
bên
còn
dính
mắc,
một
bên
không
dính
mắc
-
các
thầy
có
hiểu
không?
Lại
im
lặng.
-
Chúng
con
đã
hiểu.
Có
thể
nào
với
không
tâm,
với
vô
tướng
tâm,
với
vô
sở
hữu
tâm
-
cũng
được
hiểu
như
vậy,
hở
thầy?
-
Khá
lắm!
Ta
có
thể
tóm
tắt
điều
ấy
như
sau:
với
tâm
giải
thoát,
vị
ấy
trú
tâm
nào
cũng
giải
thoát;
với
tâm
chưa
giải
thoát,
vị
ấy
trú
tâm
nào
cũng
đồng
với
sanh
tử!
Các
con
đã
thông
suốt
chưa
nào?
-
Dạ,
chúng
con
hiểu.
Phải
chăng,
cả
tứ
thiền,
bát
định
cũng
được
liễu
tri
như
thế?
-
Ðúng
vậy.
Hội
chúng
lao
xao
bàn
bạc
một
lúc
rồi
có
một
tỳ-khưu
đứng
dậy:
-
Bạch
thầy!
Mấy
khi
mà
chúng
con
có
dịp
được
nghe
đến
những
pháp
vi
tế,
cao
siêu,
sâu
kín
như
thế
này.
Chúng
con
biết
rõ
chúng
con
bụi
trần
nhiễm
ô
còn
nhiều,
nhưng
trang
bị
cho
mình
những
tri
kiến
chơn
chánh
không
phải
là
uổng
phí
vậy.
Xin
thầy
hoan
hỷ
giải
đáp
cho
chúng
con
một
số
nghi
nan
nữa!
Tôn
giả
cười
dịu
dàng:
-
Không
sao,
cứ
hỏi
đi,
các
con
đừng
có
ngại!
Thảo
luận
về
Phật
Pháp
là
một
hạnh
phúc
cao
thượng,
Ðức
Thế
Tôn
đã
không
từng
dạy
như
thế
đó
sao?
Thấy
Tôn
giả
cười,
cả
hội
chúng
cùng
hoan
hỷ.
-
Thưa
thầy
-
một
vị
hỏi
-
còn
diệt
thọ
tưởng
định?
Nó
là
như
thế
nào?
-
Này
nhé!
Một
vị
tỳ-khưu
đã
tu
tập
thuần
thục,
đã
thuần
thục
vượt
lên
các
định
sắc
và
vô
sắc,
vị
ấy
không
khởi
lên
ý
nghĩ:
"ta
sẽ,
ta
đang,
ta
đã...";
vì
đã
thuần
thục
nên
vị
ấy
đi
vào
trạng
thái
định
diệt
thọ
tưởng
một
cách
tự
nhiên
và
dễ
dàng!
Ðây
là
một
loại
định
bất
động,
chấm
dứt
tất
cả
mọi
cảm
thọ
và
chấm
dứt
tất
cả
mọi
tưởng
tri!
-
Một
xác
chết
cũng
không
có
thọ,
tưởng!
Vậy
định
ấy
khác
xác
chết
ở
chỗ
nào?
-
Này
các
con!
Một
xác
chết
chấm
dứt
thọ,
tưởng;
chấm
dứt
tuổi
thọ,
sức
nóng,
các
căn
lần
lần
bị
hư
hoại,
nhưng
định
diệt
thọ
tưởng
còn
tuổi
thọ,
còn
sức
nóng
và
các
căn
đều
sáng
suốt!
-
Chúng
con
đã
hiểu
-
một
vị
nói
-
Vậy
khi
nhập
định
diệt
thọ
tưởng,
cái
gì
diệt
trước?
-
Khẩu
hành
diệt
trước
rồi
mới
đến
thân
hành
và
tâm
hành!
-
Xin
thầy
giảng
giải
cho
về
những
cái
hành
ấy?
-
Này
nhé!
Khẩu
hành
là
tầm,
tứ;
bởi
có
tìm
kiếm,
quan
sát
mới
có
lời
nói.
Thân
hành
là
hơi
thỏ
vô,
hơi
thở
ra.
Và
tâm
hành
chính
là
thọ,
tưởng!
-
Chúng
con
đã
hiểu.
Ðấy
là
khi
đi
vào
định,
còn
đi
ra
khỏi
định
thì
phải
làm
thế
nào?
-
Cũng
y
như
đi
vào
vậy,
khi
đi
ra
cũng
đừng
khởi
lên
ý
nghĩ
"tôi
sẽ,
tôi
đang,
tôi
đã..."
-
Chúng
con
hiểu.
Nhưng
khi
khởi,
cái
gì
khởi
trước?
-
Tâm
hành
khởi
trước
rồi
mới
đến
thân
hành,
khẩu
hành.
-
Bạch
thầy,
khi
xuất
khởi
diệt
thọ
tưởng
định,
vị
ấy
có
cảm
giác
gì
không?
-
Có
cảm
giác,
và
đó
là
cảm
giác
với
ba
loại
xúc:
không
xúc,
vô
tướng
xúc,
vô
nguyện
xúc.
-
Không,
vô
tướng,
vô
nguyện
là
Niết
Bàn
sao?
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
điềm
đạm
giải
thích:
-
Các
con
lúc
nào
cũng
muốn
ta
nói
rõ
Niết
Bàn,
muốn
ta
xác
định
Niết
Bàn
là
thế
này,
thế
nọ.
Nhưng
mà
xác
định
Niết
Bàn
thì
đâu
còn
là
Niết
Bàn
nữa!
Niết
Bàn
không
phải
là
cái
quy
định.
Ðiều
ấy
không
phải
là
lý
luận
mà
là
sự
thật.
Các
con
hãy
nghe
đây.
Sở
dĩ
gọi
là
không
xúc
vì
vị
ấy
trực
kiến
được
cái
vô
ngã
của
Pháp
nên
gọi
rằng
không.
Vị
ấy
trực
kiến
được
vô
thường
của
Pháp
hữu
vi
nên
gọi
là
vô
tướng.
Vị
ấy
trực
kiến
được
dukkha
của
Pháp
hữu
vi
nên
bảo
là
vô
nguyện!
Các
con
có
hiểu
thế
không?
Hội
chúng
im
lặng.
Chỉ
riêng
có
một
số
các
vị
A-La-Hán
là
mỉm
cười,
bởi
vì
các
Ngài
từng
vào
ra
định
diệt
thọ
tưởng
và
đã
chứng
nghiệm
hạnh
phúc
Niết
Bàn.
Và
rõ
ràng
là
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đã
và
đang
khổ
công
giảng
giải
những
điều
khó
giảng
giải
nhất.
Một
vị
chợt
nói:
-
Ðiều
ấy
cần
phải
tu
tập,
phải
chứng
nghiệm!
-
Phải
vậy!
-
Nói
ra,
dẫu
đúng,
nó
vẫn
thuần
túy
là
tri
thức,
kiến
thức,
ý
niệm.
-
Phải
vậy!
Rồi
vị
khác
đứng
đậy:
-
Con
còn
một
câu
hỏi
nữa.
Khi
vị
tỳ-khưu
xuất
khởi
diệt
thọ
tưởng
định,
tâm
vị
ấy
thiên
về
gì,
khuynh
hướng
về
gì?
-
Tâm
vị
ấy
thiên
về
Niết
Bàn,
khuynh
hướng
về
Niết
Bàn.
-
Ðức
Thế
Tôn,
một
số
các
vị
A-La-Hán
thường
nhập
đại
định
bảy
ngày,
có
phải
là
định
này
không,
thưa
thầy?
-
Ðúng
thế,
đúng
là
định
này!
-
Vậy
định
này
cũng
coi
như
là
Niết
Bàn!
Tôn
giả
lại
cười:
-
Thế
nữa,
các
con
đã
đi
quá
xa.
Ðối
với
một
vị
đã
giải
thoát,
rỗng
lặng,
không
còn
dính
mắc
thì
vị
ấy
trú
tâm
nào
cũng
giải
thoát,
rỗng
lặng,
không
còn
dính
mắc!
Ta
cần
phải
lập
lại
như
vậy.
-
Cái
ấy
thì
một
vị
Phật
và
một
vị
A-La-Hán
đều
giống
nhau
cả
chứ
thầy?
-
Về
phương
diện
giải
thoát,
vô
sanh
thì
hoàn
toàn
giống
nhau,
nhưng
về
công
hạnh,
trí
tuệ
thì
một
vị
Chánh
Ðẳng
Chánh
Giác
bất
khả
tư
nghì
hơn
nhiều.
Hội
chúng
giải
tán.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
tự
nghĩ:
"-
Những
câu
hỏi
và
đáp
ấy
thật
là
quá
cao
siêu,
tế
vi
và
thậm
mật;
không
dễ
gì
những
học
giả,
luận
sư,
giáo
sư,
giáo
chủ
của
ngoại
giáo
thấy
được,
biết
được.
Vì
không
thấy,
không
biết
nên
chúng
ỡm
ờ
đánh
lận
con
đen,
cố
dùng
những
từ
ngữ
cho
cao
siêu
mà
rỗng
không
để
diễn
đạt.
Ôi!
Phải
chăng
là
do
chúng
ngu
dốt,
kiêu
căng,
thiếu
đạo
đức
tâm
hồn
và
đạo
đức
tri
thức?
Ôi!
Không
biết
Giáo
Pháp
trí
tuệ
và
giải
thoát
của
Ðức
Tôn
Sư
có
tồn
tại
nhiều
ngàn
năm
giữa
cõi
đời
lắm
bụi
bặm
phiền
não
và
lắm
bụi
bặm
kiến
thức
này?
Rừng
Gosinga
hương
thơm,
trăng
sáng
Chiều
tối,
sau
giờ
thiền
định,
Tôn
giả
Ðại
Mục-Kiền-Liên
đi
kinh
hành
dọc
theo
hàng
cây
sàlà
hoa
nở
ngát
ngào
hương.
Chợt
Ngài
dừng
lại
nhìn
vừng
trăng
sáng
lấp
lánh
sương,
tự
nghĩ:
"-
Thời
gian
trôi
qua
quá
nhanh,
mới
đó
mà
ta
đã
mấy
mươi
năm
sống
an
lạc
trong
Giáo
Pháp
này,
tóc
trên
đầu
cũng
đã
lấm
tấm
bạc.
Ðã
khá
lâu
bận
đi
du
hóa
nhiều
phương,
ta
ít
có
cơ
hội
đàm
đạo
với
tôn
huynh
Xá-Lợi-Phất.
Nay
thì
các
vị
đại
Trưởng
lão
tôn
túc
đều
có
mặt
đầy
đủ
ở
rừng
Gosinga
này.
Thật
là
một
cơ
hội
hiếm
có."
Thế
rồi,
Tôn
giả
Ðại
Mục-Kiền-Liên
ghé
sang
chỗ
độc
cư
của
Tôn
giả
Ðại
Ca-Diếp.
-
Này
tôn
huynh
kính
mến!
Rừng
Gosinga
đêm
thanh
trăng
tỏ,
hương
hoa
sàlà
thơm
ngát
cả
không
gian.
Ðây
phải
chăng
là
thời
mà
chúng
ta
nên
viếng
thăm
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
để
đàm
đạo?
-
Phải
đấy,
Tôn
giả!
Tiện
đường
ta
qua
chỗ
Tôn
giả
A-Nậu-Ðà-La
và
rủ
vị
ấy
cùng
đi
luôn
thể.
Tôn
giả
Ànanda
đi
kinh
hành
gần
đấy
nghe
được,
Ngài
đến
chỗ
Tôn
giả
Li-Bà-Ða
(Revata-
Vị
này
không
phải
là
em
của
Ngài
Xá-Lợi-Phất).
-
Này
tôn
huynh
Li-Bà-Ða!
Ðêm
thanh
trăng
tỏ,
hương
hoa
sàlà
thơm
ngào
ngạt
như
hương
trời.
Các
vị
tôn
túc
đại
Trưởng
lão
đều
đang
đi
đến
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
để
đàm
đạo!
-
Vậy
thì
đêm
nay
quả
thật
là
hy
hữu
-
Tôn
giả
Li-Bà-Ða
nói
-
thế
thì
chúng
ta
cùng
đến
đấy
để
nghe
Pháp.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
thấy
cả
năm
vị
đồng
đến
thăm
bèn
cất
lời
chào
tươi
vui:
-
Hoan
hỷ
thay
chư
hiền!
Vinh
hạnh
thay
là
góc
rừng
này!
Ðêm
rằm
sáng
trăng,
chư
hiền
đã
quá
bộ
đến
đây!
Cây
sàlà
trổ
bông
cùng
khắp,
hương
thơm
ngạt
ngào
không
gian...
Rồi
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
nhìn
Tôn
giả
Ànanda:
-
Hiền
giả
Ànanda
cũng
đến
đây!
Thiện
lai
hiền
giả
Ànanda!
Vị
thị
giả
Ðức
Ðạo
Sư!
Vị
hầu
cận
Ðức
Ðạo
Sư!
Này
hiền
giả
Ànanda!
Khả
ái
thay
khu
rừng
Gosinga,
đêm
rằm
sáng
trăng,
hương
hoa
sàlà
vi
diệu
như
hương
trời!
Hiền
giả
nghĩ
sao,
một
vị
tỳ-khưu
tu
tập
như
thế
nào
có
thể
làm
sáng
chói
khu
rừng
Gosinga?
-
Thưa
tôn
huynh!
Tôn
giả
Ànanda
đáp
-
theo
thiển
ý
của
đệ
thì
vị
tỳ-khưu
nghe
nhiều
Giáo
Pháp,
gìn
giữ
điều
đã
nghe,
tích
lũy
điều
đã
nghe.
Những
pháp
sơ
thiện,
trung
thiện,
hậu
thiện,
văn
nghĩa
đầy
đủ,
nói
lên
phạm
hạnh
hoàn
toàn
thanh
tịnh;
những
Pháp
ấy
được
vị
đa
văn
gìn
giữ
kỹ,
được
ý
tư
duy,
được
tri
kiến
khéo
quan
sát,
khi
có
cơ
duyên,
thuyết
pháp
lại
cho
tứ
chúng
nghe
với
văn
cú
viên
dung
lưu
loát,
với
mục
đích
đoạn
trừ
tất
cả
phiền
não
ngủ
ngầm
ở
trong
tâm!
Thưa
tôn
huynh!
Theo
đệ,
hạng
tỳ-khưu
như
vậy
có
thể
làm
sáng
chói
khu
rừng
Gosinga!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
quay
sang
Tôn
giả
Li-Bà-Ða:
-
Hiền
giả
Ànanda
đã
nói
lên
lý
tưởng,
nguyện
vọng
của
mình,
và
vị
ấy
đã
thành
tựu
toàn
mãn,
tuyệt
hảo
lý
tưởng
và
nguyện
vọng
ấy.
Còn
quan
niệm
của
hiền
giả
là
thế
nào?
-
Thưa
Tôn
giả!
Theo
ý
đệ,
một
vị
tỳ-khưu
ưa
thích
đời
sống
độc
cư,
vui
thú
đời
tịnh
cư,
nội
tâm
tu
pháp
tịnh
chỉ,
không
gián
đoạn
thiền
định,
thành
tựu
quán
hạnh,
luôn
luôn
lui
tới
các
chỗ
"không
tịch".
Vị
tỳ-khưu
như
vậy
có
thể
làm
sáng
chói
khu
rừng
Gosinga!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
nói:
-
Ðúng
là
vậy,
Ðức
Tôn
Sư
thường
tán
thán,
ca
ngợi
hiền
giả
là
bậc
thiền
định
đệ
nhất
quả
không
sai
chút
nào!
Còn
hiền
giả
A-Nậu-Ðà-La,
ý
kiến
của
hiền
giả
thế
nào?
-
Vị
tỳ-khưu
với
thiên
nhãn
thuần
tịnh
siêu
nhân,
quan
sát
ngàn
thế
giới
như
quan
sát
những
đường
chỉ
tay
trong
lòng
bàn
tay
của
mình.
Như
vậy
là
vị
ấy
có
thể
làm
sáng
chói
khu
rừng
Gosinga!
-
Ðúng
là
vậy
thật.
Ðúng
hiền
giả
là
vậy
thật.
Còn
Ngài
Ðại
Ca-Diếp,
quan
kiến
của
Tôn
giả
ra
sao?
Tôn
giả
Ðại
Ca-
Diếp
trang
nghiêm
nói:
-
Theo
tôi,
vị
tỳ-khưu
tự
mình
sống
ở
rừng
núi,
theo
hạnh
khất
thực,
mặc
y
lượm
chỗ
này
chỗ
kia,
không
quá
ba
y,
thiểu
dục,
tri
túc,
độc
cư,
không
nhiễm
thế
tục,
tinh
cần,
tinh
tấn,
thành
tựu
giới
hạnh,
thiền
định,
trí
tuệ,
giải
thoát,
và
giải
thoát
tri
kiến.
không
những
vị
ấy
sống
như
vậy
mà
còn
tán
thán
tất
cả
những
hạnh
ấy,
giáo
giới
cho
những
tỳ-khưu
sống
theo
những
hạnh
ấy.
Vị
tỳ-khưu
như
vậy
có
thể
nào
làm
sáng
chói
khu
rừng
Gosinga
được
chăng?
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
tán
thán:
-
Nhất
định
là
sáng
chói,
tỏa
hương
thơm
cho
khu
rừng
Giáo
Pháp.
Tuyệt
vời
thay
là
đời
sống
ấy
mà
Tôn
giả
là
vị
Sa
môn
thành
tựu
cao
cả
lý
tưởng
và
nguyện
vọng
chơn
chính
của
mình.
Còn
hiền
đệ
Ðại
Mục-Kiền-Liên,
theo
đệ
là
Ðệ
Nhất
Thần
Thông
chăng?
-
Không
phải
vậy!
Tôn
giả
Ðại
Mục-Kiền-Liên
mỉm
cười
-
thần
thông
biến
hóa
là
chỉ
để
du
hí
cho
vui
thôi!
Ðệ
muốn
nói
đến
một
loại
thần
thông
khác!
-
Giáo
hóa
thần
thông
chăng?
-
Ðúng
vậy.
Nhưng
muốn
toàn
mãn
giáo
hóa
thần
thông
thì
cần
phải
tinh
thông
tạng
A-tỳ-đàm
(Abhidhamma
-
Thắng
Pháp).
Một
vị
tỳ-khưu
có
thể
làm
sáng
chói
khu
rừng
Gosinga
thì
vị
ấy
phải
làu
thông
A-tỳ-đàm
để
khi
đàm
luận
được
trôi
chảy,
lần
ra
được
những
cái
ẩn
mật,
thâm
sâu,
tế
vi
của
Pháp;
đến
khi
cần,
lại
còn
dễ
dàng
giáo
giới
cho
tứ
chúng
nữa!
-
Hay
thay!
Ðúng
thay!
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
ca
ngợi
-
và
hiền
đệ
đúng
là
như
vậy!
-
Không
phải
ngu
đệ
-
Tôn
giả
Ðại
Mục-Kiền-Liên
mỉm
cười
lần
nữa
-
trong
Giáo
Hội
của
Ðức
Tôn
Sư,
ngoài
Ðức
Tôn
Sư,
có
ai
tinh
thông
A-tỳ-đàm,
giảng
dạy
A-tỳ-đàm,
làm
cho
khúc
chiết,
mạch
lạc,
rõ
ràng,
có
hệ
thống
A-tỳ-đàm...
bằng
được
một
phần
mười
sáu
của
đại
huynh,
hở
Bậc
Tướng
Quân
Chánh
Pháp?
Mọi
người
nhìn
nhau
hoan
hỷ.
Ðại
Mục-Kiền-Liên
lại
nói
tiếp:
-
Bậc
Tướng
Quân
Chánh
Pháp
khôn
khéo
là
đệ
nhất!
Ai
Ngài
cũng
tán
thán,
ca
ngợi.
Ai
Ngài
cũng
bảo
là
sáng
chói
khu
rừng
Gosinga!
Thế
nhưng,
Ngài
lại
không
chịu
nói
quan
kiến
của
mình?
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
bèn
đáp:
-
Nói
chứ!
Theo
tôi,
vị
tỳ-khưu
nào
điều
phục
được
tâm.
Buổi
sáng,
buổi
trưa,
buổi
chiều
-
vị
ấy
muốn
an
trú
tâm
nào
thì
dễ
dàng
an
trú
tâm
ấy.
Như
một
vị
vua
hay
một
quan
đại
thần
có
một
tủ
áo
đựng
đầy
áo
đẹp
với
những
màu
sắc
khác
nhau.
Thế
rồi,
vào
buổi
sáng,
buổi
trưa
hay
buổi
chiều,
vị
ấy
muốn
mặc
áo
nào
thì
cứ
tùy
nghi
lựa
chọn!
Này
hiền
đệ
Ðại
Mục-Kiền-Liên!
Một
vị
tỳ-khưu
điều
phục
được
tâm,
hoàn
toàn
sử
dụng
được
tâm
mình
như
ý
muốn
là
vị
tỳ-khưu
khả
dĩ
làm
sáng
chói
khu
rừng
Gosinga!
Rồi
hướng
đến
các
vị
Trưởng
lão,
Tôn
giả
cẩn
trọng
tiếp
lời:
-
Nhưng
mà
này
chư
hiền!
Chúng
ta
hãy
đi
đến
Ðức
Ðạo
Sư!
Ðức
Ðạo
Sư
chỉ
dạy
vấn
đề
này
như
thế
nào
thì
chúng
ta
cứ
như
vậy
mà
thọ
trì!
Khi
Ðức
Thế
Tôn
nghe
thuật
lại
ý
kiến
của
từng
vị,
Ngài
nói
rằng:
-
Ai
cũng
khéo
trả
lời,
ai
cũng
nói
đúng
quan
điểm
của
mình,
ai
cũng
thành
tựu
xuất
sắc
lý
tưởng,
ước
nguyện
mà
mình
muốn
đạt.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
cung
kính
hỏi:
-
Vậy
thì
theo
ý
Ðức
Thế
Tôn,
vị
tỳ-khưu
phải
như
thế
nào
mới
sáng
chói
khu
rừng
Gosinga?
-
Theo
ý
Như
Lai
thì
đơn
giản
thôi!
Vị
tỳ-khưu
nào
sau
khi
đi
trì
bình
về,
im
lặng
độ
thực,
ngồi
kiết
già
,
lưng
dựng
thẳng,
an
trú
chánh
niệm
trước
mặt,
với
ý
nghĩ:
"Ta
sẽ
ngồi
thiền
cho
đến
khi
tâm
ta
khéo
giải
thoát
các
lậu
hoặc,
không
có
chấp
thủ."
Này
Xá-Lợi-Phất!
ấy
là
vị
tỳ-khưu
làm
sáng
chói
khu
rừng
Gosinga,
làm
sáng
chói
khu
rừng
Giáo
Pháp
của
Như
Lai!
Ôi!
quả
thật
là
đêm
thanh
trăng
tỏ,
rừng
sàlà
thơm
nức
mùi
hương!
Khen
ngợi
và
khiển
trách
Ðức
Thế
Tôn
trong
suốt
cuộc
đời
hoằng
hóa
thường
di
chuyển
từ
chỗ
này
sang
chỗ
khác,
đôi
khi
cùng
với
đại
chúng
mấy
ngàn
vị.
Ta
có
thể
hình
dung
cuộc
lên
đường
vĩ
đại,
từng
chiếc
bóng
một
nối
tiếp
như
cơn
sóng
vàng
cuồn
cuộn
suốt
mấy
dặm
đường...
Giáo
Hội
của
Ðức
Tôn
Sư
được
nổi
tiếng
thời
bấy
giờ
là
quy
củ,
trật
tự
và
trang
nghiêm
nhất.
Ðó
là
nhờ
Chư
Tăng
có
một
kỷ
luật
tinh
thần
tự
giác
rất
cao,
đồng
thời
cũng
do
nhờ
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
biết
tổ
chức,
sắp
xếp,
hướng
dẫn.
Rõ
ràng
không
phải
làng
mạc,
thị
trấn,
thành
phố
nào
cũng
có
thể
có
chỗ
dừng
chân
tạm
trú
cho
mấy
ngàn
vị
tỳ-khưu!
Và
không
phải
xóm
cư
dân
nào
cũng
có
khả
năng
cúng
dường
vật
thực
cho
chừng
ấy
Tăng
chúng
đi
trì
bình!
Mỗi
lần
ra
đi
như
vậy,
đại
tín
nữ
Visàkhà
là
người
phát
tâm
cúng
dường.
Rồi
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
ước
lượng
khả
năng
bộ
hành
của
Ðức
Phật
và
Tăng
chúng
để
khoảng
chiều
tối
là
có
nơi
để
tạm
trú
qua
đêm.
Sáng
hôm
sau
sẽ
đi
theo
lộ
trình
nào
có
thể
đủ
vật
thực,
cũng
phải
được
tính
toán
kỹ
càng.
Và
bao
giờ
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
cũng
là
vị
tỳ-khưu
đi
trong
toán
cuối
cùng
với
các
vị
sư
già
yếu
hoặc
những
người
ốm
bệnh.
Ngài
như
là
một
người
mẹ
hiền
với
đàn
con
dại
cần
được
chăm
sóc.
Sẽ
có
rất
nhiều
vị
tỳ-khưu
bị
bạo
bệnh
hoặc
quá
yếu
đuối
phải
rớt
lại
dọc
đường.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất,
một
số
tỳ-khưu
và
sa-di
trẻ
trung,
năng
động,
tháo
vát
sẽ
cáng
đáng
tất
cả
mọi
trường
hợp
phát
sanh.
Một
lần
nọ,
cũng
vì
những
lý
do
kể
trên
mà
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đã
đến
nơi
rất
khuya,
lúc
mọi
người
đã
tịnh
chỉ
cả.
Tịnh
thất
của
Ngài
có
người
đã
choáng
chỗ,
và
họ
còn
chiếm
luôn
tất
cả
mọi
hành
lang,
mọi
cội
cây!
Tôn
giả
lúc
này
đã
già,
lại
đường
xa
mệt
nhọc,
cái
thân
ấy
cần
được
nghỉ
ngơi,
nhưng
tìm
khắp
chẳng
còn
một
chỗ
nào.
Thế
là
Tôn
giả
phải
ra
ngoài
trời,
cột
một
tấm
y
tạm
che
sương,
trải
tọa
cụ
lên
đất
rồi
ngồi
kiết
già
suốt
đêm.
Sáng
hôm
sau,
chuyện
đến
tai
Ðức
Phật
do
tỳ-khưu
La-Hầu-La
kể
lại,
xúc
động
Chánh
Pháp,
Ngài
triệu
tập
Tăng
chúng
kể
một
câu
chuyện
xưa
và
giáo
giới
như
sau:
-
Này
các
thầy
tỳ-khưu!
Thuở
xưa,
trong
khu
rừng
già
nọ
có
một
con
voi,
một
con
lừa
và
một
con
chim
đa
đa
kết
bạn,
chúng
sống
thuận
hòa
với
nhau.
Chúng
thường
vui
chơi,
tụ
họp,
chuyện
vãn
dưới
tàn
đại
cổ
thụ
cành
lá
sum
suê
đã
hàng
trăm
tuổi.
Hôm
nọ,
voi
nói:
"Chúng
ta
sống
với
nhau
mà
không
hề
biết
đến
người
lớn,
kẻ
nhỏ.
Phàm
lớn
là
anh,
nhỏ
là
em,
phải
biết
xưng
hô,
tôn
kính
bậc
trưởng
thượng
chứ?"
Chúng
nghe
vậy
lấy
làm
phải,
bèn
đồng
ý.
Lừa
nói:
"Vậy
bạn
voi
không
phải
lớn
xác,
to
con
mà
làm
anh
trưởng
đâu
nhé?
Kẻ
lớn
người
nhỏ
là
phải
đem
so
tuổi
tác,
đồng
ý
thế
chăng?"
Cả
bọn
gật
đầu.
Lừa
lại
hỏi:
"Bạn
voi,
bạn
bao
nhiêu
tuổi
rồi?"
Voi
ngẩng
đầu,
nhìn
cây
đại
cổ
thụ
cao
gấp
cả
hàng
chục
lần
nó,
nói
rằng:
"Tôi
không
biết,
nhưng
mà
khi
tôi
lớn
lên,
cái
vòi
của
tôi
có
thể
sờ
đọt
cây
này
một
cách
dễ
dàng."
Lừa
cười:
"Vậy
là
bạn
còn
nhỏ
tuổi,
thuở
tôi
lớn
lên,
tôi
cao
ngang
bằng
cây
đại
cổ
thụ
này
và
tôi
ăn
những
đọt
lá
của
nó
dễ
như
chơi!"
Cả
hai
bèn
hỏi
chim
đa
đa:
"Còn
bạn
thì
sao
nào?"
Ða
đa
đáp:
"Tôi
không
nhớ
tuổi,
nhưng
tôi
biết
rõ,
thuở
ấy
khi
qua
chơi
trên
Hy
mã
lạp
sơn,
tôi
ăn
được
một
chùm
trái
cây
ngon
ngọt
như
mật
ong,
khi
bay
ngang
đây,
tôi
ỉa
xuống
một
bãi
phân,
trong
ấy
có
một
cái
hạt
nứt
ra,
mọc
lên
thành
cây
đại
cổ
thụ
này!"
Voi
cười:
"Vậy
ra
tôi
to
con
lớn
xác
mà
tuổi
lại
nhỏ
nhất,
tôi
sẽ
làm
em,
lừa
là
anh
thứ
của
tôi,
và
chú
đa
đa
nhỏ
bé
kia
lại
là
anh
trưởng!
Từ
rày
chúng
ta
cứ
theo
thứ
tự
đó
mà
xưng
hô
để
biết
tôn
kính
kẻ
già
lão,
trưởng
thượng."
Ðức
Thế
Tôn
tiếp
tục
cất
tiếng
như
chuông
ngân:
-
Này
các
thầy
tỳ-khưu!
Voi,
lừa,
đa
đa
là
giống
bàng
sinh,
noãn
sinh,
thế
mà
chúng
còn
biết
phân
biệt
tuổi
tác,
lớn
nhỏ,
tôn
ti
trật
tự,
biết
xưng
hô,
tôn
kính
những
kẻ
lớn
tuổi
hơn
mình;
còn
trong
Giáo
Hội
này,
chuyện
gì
đã
xảy
ra?
Như
Lai
thường
coi
Xá-Lợi-Phất
như
ngang
hàng
với
Như
Lai,
là
bậc
trưởng
thượng,
thượng
tôn
Tăng
đoàn,
là
Ðại
Ðệ
Tử,
là
Thượng
Thủ
của
Giáo
Hội,
thế
mà
có
một
số
các
thầy
tỳ-khưu
trẻ
lại
không
biết
tôn
kính
Xá-Lợi-Phất!
Xá-Lợi-Phất
niên
cao,
lạp
lớn,
suốt
đời
hằng
quan
tâm
đến
tứ
chúng,
đến
sự
phát
triển
của
Giáo
Hội,
đến
sự
hoằng
dương
Giáo
Pháp
nên
ít
có
cơ
hội
để
ý
đến
cái
thân
của
mình.
Vậy
mà
có
một
số
các
thầy
không
thấy
rõ
ân
đức
ấy!
Xá-Lợi-Phất
bao
giờ
cũng
lo
lắng
công
việc
chung,
từ
trong
ra
ngoài,
từ
việc
nhỏ
đến
việc
lớn
một
cách
chu
tất,
toàn
mãn.
Xá-Lợi-Phất
lo
cho
người
bệnh,
người
già
yếu;
hướng
dẫn
Giáo
Pháp
không
mệt
mỏi,
không
bỏ
quên
dù
cả
những
sa-di
nhỏ
tuổi,
quan
tâm
cả
từng
bữa
ăn,
một
cái
chăn
để
đắp,
một
cái
mụt
nhọt
chưa
lành
cho
chúng.
Thế
gian
này
không
có
một
ông
Xá-Lợi-Phất
thứ
hai
với
những
phẩm
chất
tuyệt
hảo
như
thế.
Muôn
triệu
năm
mới
có
được
một
người.
Thế
mà,
đêm
qua,
Xá-Lợi-Phất
đã
không
có
được
một
chỗ
nghỉ,
dầu
là
một
mái
che,
một
góc
hành
lang!
Tịnh
thất
của
ông
ấy,
có
người
đã
ngang
nhiên
chiếm
chỗ.
Thế
là
với
một
lá
y
che
sương
mặc
dầu
thân
không
được
khỏe
Xá-Lợi-Phất
đã
phải
ngồi
suốt
đêm
ở
ngoài
trời!
Các
thầy
nghĩ
thế
nào?
Các
thầy
là
tỳ-khưu,
sống
trong
một
Giáo
Pháp
phát
triển
tinh
thần
bậc
cao
mà
tại
sao
còn
có
người
tệ
hơn
con
voi,
con
lừa,
con
chim
đa
đa
trong
câu
chuyện
kể
trên?
Ðức
Phật
im
lặng.
Cả
đại
giảng
đường
im
lặng.
Có
một
số
tỳ-khưu
xấu
hổ
cúi
gầm
mặt
xuống.
Có
một
số
vị
thì
học
được
bài
học
nghìn
vàng.
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đến
đảnh
lễ
Ðức
Thế
Tôn:
-
Sự
giáo
giới
của
Ðức
Tôn
Sư
là
lợi
lạc
cho
hội
chúng,
là
hữu
ích
cho
kỹ
cương,
phép
tắc
của
Giáo
Hội.
Nhưng
ở
đây
chỉ
có
một
số
tỳ-khưu
còn
trẻ
tuổi,
non
dại,
chưa
được
thuần
thục
trong
Giáo
Pháp
mà
thôi.
Sau
khi
Ðức
Thế
Tôn
đã
dạy
rồi
có
lẽ
họ
không
còn
dám
làm
như
vậy
nữa.
Riêng
đệ
tử,
ở
một
đêm
ngoài
trời
thì
cũng
chưa
đến
nổi
nào.
Trong
nhóm
của
Tôn
giả
Ðại
Ca-Diếp,
đệ
tử
biết
rõ
có
cả
hằng
trăm
vị
sống
đời
đầu
đà
khổ
hạnh,
họ
luôn
ở
dưới
những
chỗ
không
có
mái
che
mà
tinh
thần
vẫn
khang
kiện,
sức
khỏe
vẫn
tốt.
Ðệ
tử
xin
được
thay
mặt
số
Chư
Tăng
dại
dột
ấy
sám
hối
dưới
chân
Ðức
Thế
Tôn,
vì
một
phần
lỗi
là
do
đệ
tử
chưa
giáo
giới
đến
họ
một
cách
chu
đáo!
Thế
rồi,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đảnh
lễ,
sám
hối.
Ðức
Thế
Tôn
bảo:
-
Thôi
được
rồi,
ông
hãy
đứng
dậy!
Rồi
hướng
đến
đại
chúng,
Ngài
dạy:
-
Từ
rày
về
sau,
tất
cả
sa-di
đều
phải
xem
tỳ-khưu
là
thầy,
là
cha
của
mình.
Tỳ-khưu
cách
nhau
ba
hạ
lạp
cũng
phải
được
quy
định
sự
tôn
kính
y
như
thế.
Riêng
các
vị
Ðại
Trưởng
lão
thì
Tăng
chúng
phải
xem
gần
như
ngang
hàng
Xá-Lợi-Phất,
và
Xá-Lợi-Phất
lại
gần
như
ngang
hàng
với
Như
Lai.
Tất
cả
mọi
chỗ
nghĩ
ngơi,
trong
nhà
ăn,
tại
giảng
đường,
trên
đường
đi...
đều
phải
có
tôn
ti
theo
hạ
lạp.
Như
Lai
không
muốn
có
trường
hợp
xảy
ra
như
hôm
nay
nữa.
Xá-Lợi-Phất
đã
sám
tội
cho
các
ông,
vậy
nếu
không
khôn
ngoan
hơn,
lửa
địa
ngục
sẽ
thiêu
cháy
các
ông,
chẳng
ai
cứu
nổi
các
ông
đâu!
*
*
*
Lần
nọ,
tại
thành
Devadaha
Ðức
Ðạo
Sư
và
Tăng
chúng
đi
vào
làng,
vào
các
rừng
cây
để
nghỉ
trưa.
Khi
đi
ngang
một
mái
vòm
bằng
lá
cây
đan
nhau
thật
im
mát,
gần
bên
một
cánh
đồng,
Ðức
Thế
Tôn
thấy
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đang
ngồi
an
tĩnh,
trú
sâu
vào
thiền
định.
Ðức
Phật
đã
nói
chuyện
với
một
số
vị
tỳ-khưu
đi
bên
cạnh:
-
Các
thầy
có
thấy
không?
Khi
không
còn
bận
rộn
với
công
việc,
Xá-Lợi-Phất
thường
tìm
chỗ
yên
vắng
để
tĩnh
cư.
Dưới
vòm
mái
che
kia,
Xá-Lợi-Phất
như
đang
trú
ở
cõi
trời
Aviha
thanh
tịnh.
Hãy
lấy
Xá-Lợi-Phất
mà
làm
gương!
Vào
buổi
chiều,
Ðức
Thế
Tôn
lại
đem
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
ra
mà
nói
chuyện
nữa:
-
Xá-Lợi-Phất
là
người
am
hiểu
tinh
tường
các
giai
đoạn
từ
đạo
đến
quả,
từ
tầng
Thánh
thấp
nhất
cho
đến
tầng
Thánh
cao
nhất.
Xá-Lợi-Phất
có
trí
tuệ
tiềm
tàng
thâm
sâu
không
chỉ
ở
nơi
bốn
tuệ
phân
tích
mà
thôi
đâu.
Nếu
có
kẻ
hằng
nói
về
một
người,
rằng
là
người
ấy
đã
đi
đến
chỗ
thông
suốt,
hoàn
toàn
về
mọi
đức
hạnh,
an
trú
vào
các
cõi
tâm
cao
thượng,
giải
thoát
và
giải
thoát
tri
kiến
cao
thượng
thì
người
ấy
là
Xá-Lợi-Phất
chứ
không
thể
là
ai
khác!
Nếu
có
kẻ
hằng
nói
rằng
họ
là
đứa
con
thật
sự
của
Như
Lai,
hiểu
thông
giáo
lý
của
Như
Lai,
thực
hành
tuyệt
hảo
giáo
lý
của
Như
Lai,
xứng
đáng
làm
người
"thừa
tự"
Pháp
Bảo
thì
kẻ
ấy
đúng
là
Xá-Lợi-Phất,
chớ
không
còn
ai
khác
nữa!
Này
các
thầy
tỳ-khưu!
Như
Lai
tuyên
bố
với
tất
cả
sự
trân
trọng
rằng,
người
mà
có
thể
lăn
bánh
xe
Pháp
gần
giống
với
Như
Lai
thì
chẳng
có
ai
ngoài
Xá-Lợi-Phất!
Các
thầy
hãy
suy
gẫm
những
điều
mà
Như
Lai
đã
nói
hôm
nay!
*
*
*
Ðức
Thế
Tôn
lúc
này
đã
già
yếu
nên
đôi
khi
thuyết
pháp
Ngài
chỉ
nói
tóm
tắt,
cô
đọng;
thế
là
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
được
chỉ
định
thuyết
lại
một
cách
rộng
rãi,
giải
thích
và
triển
khai
đề
tài
cho
đại
chúng
dễ
lãnh
hội.
Sau
đó,
lúc
nào
Tôn
giả
cũng
được
Ðức
Thế
Tôn
tán
thán
bằng
cách
này
hay
bằng
cách
khác.
-
Này
các
thầy
tỳ-khưu!
Quả
thật
là
Xá-Lợi-Phất
rất
am
tường
Pháp
Bảo,
thấu
hiểu
Pháp
Bảo
một
cách
chính
xác
và
rốt
ráo.
Nếu
Như
Lai
cật
vấn
ông
ta
về
Pháp
trong
một
ngày
bằng
bao
nhiêu
câu
hỏi
và
bằng
bao
nhiêu
đoản
ngôn
khác
nhau
thì
Xá-Lợi-Phất
cũng
có
thể
đáp
lại
trong
thời
gian
một
ngày
bằng
những
câu
trả
lời,
bằng
những
đoản
ngôn
khác
nhau,
chẳng
thua
gì
Như
Lai.
Nếu
Như
Lai
cật
vấn
ông
ta
trong
một
đêm,
một
ngày,
hai
đêm,
hai
ngày,
cho
chí
bảy
đêm,
bảy
ngày
thì
Xá-Lợi-Phất
cũng
có
thể
giải
vấn
bằng
một
thời
gian
tương
tự
như
thế
mà
ngữ
ngôn,
đoản
ngôn
vẫn
trôi
chảy
lưu
loát,
không
hề
vấp
váp,
không
hề
ngập
ngừng!
Vậy
thì
những
điều
mà
Xá-Lợi-Phất
đã
giảng
nói,
hoặc
chi
tiết,
hoặc
triển
khai
chi
tiết
các
thầy
cứ
như
thế
thọ
trì,
vì
nó
cũng
đồng
với
Như
Lai
thuyết
vậy.
Có
lẽ
vì
quá
ưu
ái,
bằng
lòng
về
người
đệ
tử
hoàn
hảo
này
nên
Ðức
Thế
Tôn
lại
còn
đem
ra
những
ưu
điểm
khác
nữa:
-
Các
thấy
có
biết
không?
Xá-Lợi-Phất
lại
còn
có
đầy
đủ
năm
thiện
xảo
khác
nữa.
Chính
nhờ
năm
thiện
xảo
ấy
mà
ông
ta
có
thể
chuyển
Pháp
luân
một
cách
vô
ngại.
Khi
Xá-Lợi-Phất
lăn
bánh
xe
Pháp
thì
trên
thế
gian
này,
dầu
là
Ma
quân,
Chư
Thiên,
Phạm
Thiên
hay
Bà
la
môn
ngoại
giáo
cũng
khó
có
thể
phá
rối,
làm
đảo
điên
hay
tạo
nên
chướng
ngại
được.
Năm
thiện
xảo
ấy
là
gì?
Một
là
biết
rõ
đâu
là
lợi
ích
cao
thượng,
hai
là
rành
rẽ
về
phương
pháp
giáo
huấn,
ba
là
luôn
luôn
có
biện
pháp
đúng
đắn,
bốn
là
biết
tùy
thời,
năm
là
biết
tùy
cơ!
Ngay
chính
Như
Lai
cũng
chỉ
có
năm
thiện
xảo
ấy
mà
thôi,
không
hơn,
không
khác!
Khi
lời
tán
thán
ấy
đến
tai
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất,
Ngài
mỉm
cười
nói
với
chúng
tỳ-khưu
rằng:
-
Ðức
Thế
Tôn
nói
rất
đúng!
Tuy
nhiên,
các
vị
có
biết
không?
Ngọn
đèn
và
mặt
trời
đều
có
đủ
năm
tính
chất
giống
nhau:
cháy
bởi
nhiên
liệu,
sức
nóng,
làm
khô
hơi
nước,
sát
trùng,
tỏa
ánh
sáng!
Nhưng
ngọn
đèn
thì
làm
sao
so
sánh
được
với
mặt
trời?
Công
hạnh
và
trí
tuệ
của
Ðức
Thế
Tôn
đã
trải
qua
hai
mươi
bốn
vị
Phật
Tổ,
các
vị
phải
biết
như
vậy!
Tôn
giả
Ðại
Ca-Diếp
lại
thường
dạy
các
đệ
tử:
-
Các
người
thường
nên
tìm
đến
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
mà
nghe
Pháp.
Sau
khi
nghe
Tôn
giả
ấy
thuyết
rồi,
các
ngươi
sẽ
cảm
thấy
như
vừa
được
ăn
uống
những
thức
ăn
thượng
vị,
vi
diệu
cho
cái
lỗ
tai
và
cho
cả
đầu
óc
của
các
ngươi
đấy!
Ðôi
khi
Ðức
Thế
Tôn
ca
ngợi
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
chung
với
Tôn
giả
Ðại
Mục-Kiền-Liên:
-
Hãy
thân
cận,
hợp
tác
và
học
hỏi
nơi
hai
ông
Xá-Lợi-Phất
và
Mục-Kiền-Liên.
Họ
là
những
Sa
môn
thông
thái
và
là
những
người
có
lòng
từ
quảng
đại,
không
mệt
mỏi
dìu
dắt
tất
cả
chúng
sanh.
Xá-Lợi-Phất
như
một
người
mẹ
hiền,
cho
con
sanh
mạng,
vóc
dáng,
mặt
mũi;
còn
Mục-Kiền-Liên
giống
như
bà
vú,
có
bổn
phận
chăm
sóc,
nâng
niu,
bồng
bế,
dưỡng
dục
cho
trẻ
mau
khôn
lớn!
Hai
người
nhưng
chỉ
là
một.
Ngoại
trừ
vài
trường
hợp
đặc
biệt,
Xá-Lợi-Phất
hướng
dẫn
đệ
tử
đến
quả
vị
A-La-Hán
còn
đa
phần
ông
ta
chỉ
hướng
dẫn
đến
Nhập
Lưu,
và
ba
quả
Thánh
sau
cùng
là
bổn
phận
của
bà
vú
nuôi
Mục-Kiền-Liên
vậy.
Này
các
thầy
tỳ-khưu!
Ðấy
là
tất
cả
những
lý
do
tại
sao
trong
Tăng
chúng
có
rất
nhiều
thầy
thường
ôm
ấp
nguy?n
vọng,
lý
tưởng
trở
thành
một
Xá-Lợi-Phất
hay
một
Mục-Kiền-Liên.
Và
quả
đúng
là
vậy,
Xá-Lợi-Phất
và
Mục-Kiền-Liên
là
khuôn
thước
bằng
vàng,
là
biểu
tượng
bằng
ngọc,
tốt
đẹp
nhất,
thù
thắng
nhất
cho
tất
cả
các
thầy
học
hỏi,
noi
theo.
*
*
*
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
được
Ðức
Thế
Tôn
tán
dương
ca
ngợi
khá
nhiều
mà
bị
khiển
trách
cũng
lắm,
đôi
khi
là
những
lời
khiển
trách
nhẹ
nhàng
thôi.
Như
chuyện
Bà
la
môn
Dhànanjàti
ở
cửa
ngõ
vào
Vương-Xá
thành,
từ
lâu
vì
hâm
mộ
đức
hạnh
và
trí
tuệ
của
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
mà
ông
ta
thường
cung
kính
cúng
dường
vật
thực
cho
Ngài.
Trước
đây,
ông
Bà
la
môn
có
một
đời
sống
phóng
dật,
ác
tâm
thu
góp
của
cải,
nhiều
vợ
và
con;
sau
nhờ
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
giáo
giới
mà
ông
ta
trở
nên
tốt
đẹp
hơn.
Tuy
ông
Bà
la
môn
chưa
quy
y
Tam
bảo
nhưng
rõ
ràng
ông
ta
có
tâm
hướng
thiện,
là
kẻ
có
trí.
Khi
đang
thoi
thóp
trên
giường
bệnh,
ông
Bà
la
môn
cho
người
đến
vấn
an
sức
khỏe
Ðức
Phật.
Sau
đó
tha
thiết
mong
muốn
được
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đến
thăm.
Biết
Bà
la
môn
Dhànanjàti
sắp
chết,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
đã
cố
gắng
giảng
giải
cho
ông
ta
thấy
rõ
nhân
quả
của
từng
cảnh
giới
từ
thấp
lên
cao.
Vượt
qua
sáu
cõi
trời
Dục
Giới,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
lại
giảng
về
Tứ
Vô
lượng
tâm,
và
bảo
rằng
muốn
cọng
trú
với
Phạm
Thiên
thì
phải
thành
tựu
trọn
vẹn
các
tâm
từ,
bi,
hỷ,
xả
vô
lượng,
quảng
đại,
không
hận,
không
sân.
An
tâm
khi
dẫn
tâm
ông
Bà
la
môn
đến
cảnh
giới
Phạm
Thiên,
Tôn
giả
Xá-Lợi-Phất
ra
về.
Ðức
Phật
kêu
lại
hỏi
rằng:
-
Ông
Bà
la
môn
Dhànanjàti
có
tỉnh
táo
không?
-
Bạch,
rất
tỉnh
táo.
-
Ông
Bà
la
môn
có
chú
tâm
vào
các
thời
pháp
của
ông
không?
-
Bạch,
ông
rất
chú
tâm,
ông
ta
là
người
có
trí,
biết
nghe
lời
phải.
-
Biết
ông
ta
có
chú
tâm,
là
người
có
trí,
sao
có
nhiều
c