IV
PHẬT GIÁO Ở GIAI ÐOẠN
CHIA ÐÔI ÐẤT NƯỚC
HÒA THƯỢNG
BÍCH
KHÔNG-THÍCH GIÁC PHONG
(1894 - 1954)
Hòa thượng Thích Giác Phong
sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng,(1) quán làng Bích Khê, tổng Bích
La, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thuở nhỏ Ngài theo học chữ Nho và
chữ Pháp, đậu Tú tài Hán học năm 22 tuổi ở trường thi Hương Thừa Thiên,
khoa Mậu Ngọ (1918) niên hiệu Khải Ðịnh thứ 3, khoa thi cuối cùng của Nam
triều. Ðồng khoa ấy, anh của Ngài đậu Hoàng giáp.(2) Ngài có biệt tài viết
liễn đối và hoành phi nét chữ rất đẹp, khiến những người Hoa kiều có học
thức lúc bấy giờ rất khâm phục.
Vì là con nhà khoa bảng và
trọng thần của triều đình, sau khi thi đậu Ngài được chiếu chỉ của vua
Khải Ðịnh triệu vào triều làm thư ký riêng trong văn phòng của nhà vua.
Thuở thiếu thời, lúc đi học ở
Huế, Ngài được ở trong chùa Báo Quốc, hấp thụ được không khí mùi thiền và
đã qui y với Hòa thượng Tâm Khoan tại đây. Cho nên khi làm quan, Ngài càng
nhận thấy cuộc đời là trường danh lợi, mạnh hiếp yếu, thiếu tình thương,
đầy khổ não. Ngài tự nghĩ: phải chăng chỉ có ánh đạo Từ Bi mới cứu vớt
được nhân loại thoát ra ngoài bể khổ, đem lại hạnh phúc cho chúng sinh.
Thêm vào đó, thân phụ Ngài là
một nhà Nho thâm đạt Phật lý, chánh tín tu hành, sống đời từ bi bác ái.
Khi sắp sửa từ trần, cụ ngồi xếp bằng niệm Phật, rồi thoát thần một cách
tự nhiên. Bấy giờ được chứng kiến cảnh vãng sanh Tây phương đầy nhiệm mầu
của thân phụ, tâm ý Ngài càng hướng mạnh về con đường giác ngộ của đức
Phật. Ngài bèn trao ấn từ quan, xuất gia hành đạo.
Trước hết muốn có nhiều kinh
nghiệm, Ngài vân du sang Nhật, sang Trung Hoa v.v... để tham khảo giáo lý,
văn hóa ngoại bang, quan sát tình hình Phật giáo tại những nước có phong
trào phục hưng cao. Sau đó Ngài trở về Huế, đem nhận xét, hiểu biết của
mình aùp dụng trong bước đường tu hành và đóng góp cho công cuộc hoằng
dương chánh pháp trong nước.
Ðầu tiên, Ngài khai sơn chùa
Giác Phong ở Quảng Trị. Do đó Ngài mới có biệt hiệu là Giác Phong. Mãi tới
năm Bảo Ðại thứ 10 (1935), Ngài mới thọ đại giới ở trường Kỳ chùa Sắc Tứ
Tịnh Quang ở Quảng Trị và đắc pháp với Hòa thượng Hải Ðức - Thích Phước
Huệ, nên có pháp hiệu Bích Không.
Nhờ uyên thâm Nho học, Ngài
nghiên cứu sâu vào huyền nghĩa của tam tạng kinh điển. Học hỏi các vị cao
Tăng thạc đức ở Huế xong, Ngài lại vào Bình Ðịnh tham học với Hòa thượng
Thập Tháp - Quốc sư Phước Huệ. Nhân trong buổi học kinh Lăng Già, Hòa
thượng chỉ nói một câu “Bán cú phi bất đa” mà Ngài được tỏ ngộ. Từ đó Ngài
bắt đầu thực hành sự nghiệp lợi tha, hoằng dương chánh pháp.
Vào những năm 1935 - 1937, là
lúc phong trào chấn hưng Phật giáo đang lên cao tại miền Trung, Ngài đã có
công đóng góp cho các tỉnh từ Ðà Nẵng trở ra Nghệ Tĩnh. Ngài đã cộng tác
với chư Tôn đức ở Ðà Nẵng, thành lập hội “Ðà Thành Phật Học”, xuất bản một
tạp chí lấy tên là Tam Bảo và khai mở Phật học đường tại chùa Phổ Ðà cho
hai cấp Tieåu học và Trung học do Ngài làm Giám đốc và Ngài Giác Viên (trú
trì chùa Hồng Khê) làm chủ giảng.
Chủ trương của hội Ðà Thành
Phật Học qua tờ Tam Bảo thường đề cập tới sự cần thiết thống nhất các đoàn
thể Phật giáo trong xứ thành một hội “Phật Giáo Liên Hiệp” với tôn chỉ là:
1) Phò khởi Tăng giới, nguyện
cùng chư sơn Nam - Bắc liên đoàn để bảo tồn Tăng Bảo.
2) Nguyện cùng chư sơn chấn
chỉnh tôn phong, chung một điều lệ thi hành, cần nhất là phải giữ cho được
hoàn toàn giới hạnh.
Thời gian Ngài ở Ðà Nẵng, bộ Lễ
Nam triều cấp bằng sắc phong Ngài làm trụ trì chùa Sắc Tứ Phổ Thiên. Tiếp
đó Ngài lại vào Nha Trang mở trường hoằng pháp cho Tăng chúng và tín đồ tu
học kiết hạ an cư rất đông tại chùa Sắc Tứ Hải Ðức. Tăng Ni ở các chùa Hải
Ấn (Saigon), Bình Quang (Phan Thiết) và chùa Thập Tháp (Bình Ðịnh), các
chùa ở Huế, Ðà Nẵng v.v... đều qui tập về đây tu học.
Thời gian ở Khánh Hòa, Ngài làm
cố vấn tối cao cho Tỉnh hội Phật học, tham gia rất nhiều trong việc xây
dựng chi hội, khuôn hội. Ngoài ra Ngài còn tham gia Phật sự ở Ðà Lạt và
các Tỉnh hội ở miền cực Nam Trung kỳ. Tăng tục đều được thấm nhuần pháp vũ
của Ngài. Pháp tử của Ngài ở khắp mọi nơi. Ngài còn ra các tỉnh miền Bắc
Trung Kỳ tham gia chấn hưng Phật giáo, gây được phong trào rất sôi nổi ở
Nghệ An. Khi Ngài ở chùa Linh Vân thường gọi chùa Diệc ở thành phố Vinh,
Ngài đã hóa duyên cho một cư sĩ tên là Bạch Hưng Nghiêm. Ông này đã phát
tâm ấn tống rất nhiều kinh điển Ðại thừa. Ngài cũng vân du hóa đạo ra
Thanh Hóa và một số nơi ở miền Bắc.
Năm 1942, Ngài lại trở vào Nha
Trang làm Tuyên Luật sư tại trường Kỳ chùa Kim Long ở huyện Ninh Hòa. Năm
1944, Ngài làm Tuyên Luật sư tại giới đàn chùa Bình Quang ở Phan Thiết để
tiếp dẫn Ni chúng. Năm ấy Ngài còn chứng minh cuộc đại trùng tu Tổ đình
Phật Quang ở đây.
Bấy giờ chùa Hải Ðức ở Nha
Trang nằm trong thành phố thuộc quyền quản lý của Hòa thượng Phước Huệ
thừa kế Tổ khai sơn, đã bị hư hỏng nhiều, vì Hòa thượng già yếu, lại bận
nhiều Phật sự ở Huế, không thể trực tiếp trông coi được, nên năm Bảo Ðại
thứ 14 (1939) Hòa thượng cho mời sơn môn tỉnh Khánh Hòa lại, lập di chúc
giao hẳn chùa Hải Ðức cho Ngài trọn quyền điều hành tái thiết, sử dụng mọi
động sản và bất động sản.
Ðược giao trọn quyền, Ngài thấy
chùa nằm trong thành phố với một khuôn viên chật hẹp, không thể phát triển
được, bèn cùng sơn môn và bổn đạo quyết định dời chùa lên núi Trại Thủy,
chặt cây phá núi đeå có mặt bằng xây dựng. Bấy giờ đang lúc thế chiến thứ
hai vào hồi quyết liệt, kinh tế suy sụp, dân chúng dưới hai tầng áp bức
Pháp - Nhật. Việc trùng tu di dời chùa gặp không ít khó khăn. Nhưng Ngài
đã vượt qua tất caû với một quyết tâm cao, nên mới có được một đại tòng
lâm uy nghi ngày nay (Trường Cao Ðẳng Phật Học Nha Trang) để cho chư Tăng
tu học và Phật tử chiêm bái.
Chẳng những xây dựng ngôi phạm
vũ trang nghiêm, Ngài lại ra làng Hà Già thuộc huyện Ninh Hòa, cách Nha
Trang 50 cây số về hướng Bắc, xin đất lập nông thiền trên 50 mẫu để cung
cấp lương thực lâu dài cho chúng Tăng tu học ở đại tòng lâm. Chùa làm
xong, vật dụng thường dùng trong chùa thiếu thốn. Ngài phải quay về Quảng
Trị bán hết phần gia tài điền sản của Ngài ở quê, lấy tiền mua sắm các thứ
đem vào. Bấy giờ xe lửa bị Nhật trưng dụng, đi lại rất khó khăn, nguy
hiểm, thường bị máy bay Ðồng Minh ném bom. Chuyến đi ấy Ngài mang theo các
vật dụng trong chùa rất nhiều, bằng sành, bằng sứ, bằng đồng thuộc loại cổ
xưa, tàu đến ga Tam Quan ở Bình Ðịnh, bị bom mất hết. Ngài còn đưa theo số
đông bà con, dân làng vào lập nghiệp tại nông thiền.
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945,
quân Pháp đổ bộ Nha Trang, Ngài cùng đệ tử phải xa chùa theo dân chúng tản
cư, lần hồi ra đến Huế. Năm 1946 Ngài làm Giám đốc Phật học viện Báo Quốc
và cùng chư Tôn đức chủ trương xuất bản tạp chí Giải Thoát để làm cơ quan
ngôn luận cho Phật giáo đương thời.
Năm 1947 mặt trận Huế vỡ, quân
Pháp đánh tràn ra. Ngài lại phải tản cư ra Quảng Trị rồi lần đến Nghệ An,
tá túc tại chùa Diệc, tiếp tục hoằng pháp. Nhưng bấy giờ tình thế đã thay
đổi. Với khẩu hiệu tất cả cho kháng chiến, mọi hoạt động đều phải ngưng
trệ, trong đó kể cả việc hành đạo. Về cuối đời, Ngài an trú ở thành phố
Vinh, rồi mắc trọng bệnh. Ngày 15 tháng 9 năm Giáp Ngọ (1954) Ngài đã trở
về đất Phật, hưởng thọ 60 tuổi đời và 21 tuổi đạo.
Công cuộc chấn hưng Phật giáo ở
suốt dải đất từ Thanh Nghệ cho đến Phan Thiết đều có dấu tích hoằng dương
Ðạo pháp của Ngài. Ban rải mầm Từ Bi và giống Bồ Ðề không hề ngơi nghỉ
trong suốt chặng đường trần có mặt, Ngài Bích Không vẫn sáng mãi như thế
hệ của Ngài, thế hệ nở rộ những bông hoa Ưu Ðàm cho ngày sau hưởng quả.
Chú thích :
1) Viết theo tài liệu của
Thượng Tọa Thích Viên Giác, tọa chủ chùa Giác Hải ở ấp Xuân Tự, huyện Vạn
Ninh tỉnh Khánh Hòa, in trong quyển “Phẩm Phổ Môn” xuất bản ở Sài gòn năm
1961.
2) Tài liệu của Thượng tọa Viên
Giác không cho biết thế danh của Hòa thượng Giác Phong, nhưng căn cứ vào
quê quán của Ngài và người anh đậu Hoàng giáp, chúng ta có thể suy đoán
Ngài là con của Cử nhân Hoàng Hữu Xứng, và anh Ngài là Hoàng giáp Hoàng
Bính (còn tên là Hoàng Hữu Tiệp). Xét các nhà khoa bảng tỉnh Quảng Trị chỉ
có 3 người đậu Hoàng giáp là các ông Nguyễn Văn Chương quán xã Vĩnh Hòa,
huyện Ðăng Xương, đậu khoa Giáp Thìn (1844). Thiệu Trị thứ 4; Nguyễn Văn
Hiểu queâ xã Mỹ Chánh, huyện Hải Lăng, đậu khoa Ðinh Mùi (1847) Thiệu Trị
thứ 7; Hoàng Bính quê xã Bích Khuê, huyện Ðăng Xương, đậu khoa Kỷ Sửu
(1889) Thành Thái nguyên niên.
TỔ
MINH ÐĂNG QUANG
(1923-1954)
Tổ Minh Ðăng Quang thế danh là
Nguyễn Thành Ðạt, tự Lý Hườn, sinh ngày 26 tháng 9 năm Quý Hợi (1923) tại
làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Gia đình thuộc
thành phần trung nông, hiền lương và trung hậu, kính tin Phật pháp nhiều
đời.
Thân phụ là ông Nguyễn Tồn
Hiếu, và thân mẫu là bà Phạm Thị Nhàn. Ngài là con trai út trong gia đình
có năm anh em. Theo truyền khẩu, thân mẫu Ngài mang thai Ngài đến tháng
thứ mười hai mới sanh. Vaø mười tháng sau, bà đã an nhiên qua đời mà không
hề nhuốm một căn bệnh nào.
Lúc thiếu niên, Ngài có phong
cách sống khác biệt so với các anh em trong gia đình cũng như ngoài xã
hội. Ngoài những buổi học hành, lao động phụ giúp thân phụ, Ngài thường
tìm đọc sách, nghiên cứu và ngồi suy tưởng tại một nơi yên tịnh. Do thiên
tư tĩnh lặng ấy, Ngài được phụ thân cho phép dựng một cái cốc nhỏ trong
vườn nhà, để có nơi học hành và suy nghiệm. Ngài vốn có tính tình điềm đạm
hay giúp đỡ mọi người nên rất được lòng người chung quanh.
Năm Ðinh Sửu (1937) khi vừa 15
tuổi, Ngài xin phép phụ thân cho xuất gia học đạo. Sau nhiều lần tra gạn
lý do và Ngài đã bộc bạch taän tường những ý định cũng như mục đích chính
đáng của mình, nhưng phụ thân đã dùng quyền làm cha để ngăn cản với lý do
Ngài hãy còn quá nhỏ, không thể đi xa gia đình. Nhưng thầm kín sâu xa nhất
nơi trái tim người cha lúc naøy vẫn Ngài là con trai út, bao kỳ vọng đặt
trọn nơi người con mà từ tính tình cho đến tác phong được mọi người quý
mến.
Ngài vẫn nung nấu chí xuất gia.
Sau khi nhận thấy sự nguôi ngoai nơi phụ thân, Ngài bằng mọi cách để cha
mình thấy được rằng tự thân sẽ chịu đựng được trước mọi gian nan thử thách
trên đường đời. Rồi một đêm, khi những lời hứa cho xuất gia của một người
cha nặng lòng yêu thương đứa con út chưa dứt âm vang Ngài đã âm thầm ra
đi. Nơi đến đầu tiên là tận đất nước Campuchia, nơi có nhiều chùa tháp
hùng vĩ, thể hiện tinh thần Phật giáo vĩ đại, với bóng dáng của rất nhiều
Tăng sĩ trang nghiêm hành trì Phật Pháp.
Ngay từ ngày đầu đặt chân đến
đaát nước Campuchia, thiện duyên đưa Ngài gặp được một nhà sư người Việt
gốc Khmer, nổi tiếng từ lâu về kiến thức Phật đà. Ngài không ngần ngại quy
ngưỡng và thọ giáo trong suốt thời gian tu học tại đây.
Năm Tân Tỵ (1941) sau bốn năm
sống và học đạo nơi xứ người, dốc lòng nghiên cứu tìm hiểu kinh tạng và
đường lối y bát chơn truyền của đức Phật, Ngài nhận thấy tương đối đầy đủ,
cùng với năng lực bản thân, có thể trở về quê hương hành đạo. Do đó Ngài
đã xin phép Thầy mình trở về Việt Nam.
Khi vừa về đến quê hương, chướng lực đầu tiên đã ập đến, chút nợ trần còn
vướng nên Ngài phải trả để tương lai nhân quả được nhẹ nhàng. Ðó là việc
Ngài lập gia đình với cô Kim Huê, người đã mang ơn cứu tử nơi Ngài. Tuy
nhiên chưa đầy một năm sau cô Kim Huê từ trần.
Ðầu năm Quí Mùi (1943) Ngài trở lại con đường tu học, mạnh dạn đi sâu vào
lãnh vực nghiên cứu để hiểu thêm về đường lối của hai hệ phái Bắc Tông và
Nam Tông. Ngài trở lại vùng Thất Sơn tìm vào chốn u tịch, hợp với tâm
cảnh, để thực hành sở nguyện suy tầm đó. Sau khi rời Thất Sơn, Ngài qua Hà
Tiên dự định một chuyến ra tận Phú Quốc, nhưng do trễ chuyến tàu nên Ngài
ở lại ghềnh mũi Nai, ngồi tham thiền an trú trong chánh pháp Bát Nhã. Năm
ấy Ngài tròn 22 tuổi.
Năm Giáp Thân (1944), Ngài đã ngộ chứng được lối đạo dung hòa kết hợp
truyền thống cao đẹp của hai hệ phái Bắc Tông và Nam Tông để lập nên một
phái Khất Sĩ mang riêng bản sắc Việt Nam. Rằm tháng tư năm ấy, Ngài bắt
đầu truyền khai tư tưởng và lối đạo của mình tại chùa Linh Bửu, làng Phú
Mỹ, tỉnh Mỹ Tho, vaø đã trở thành vị Tổ đầu tiên của Giáo phái Khất sĩ
Việt Nam.
Từ đó, ảnh hưởng Giáo phái Khất sĩ Việt Nam mỗi ngày thêm lan rộng theo
chân vân du hành đạo của Ngài.
Tất cả những thời pháp do Ngài diễn giảng trong suốt phần đầu quá trình
khai hóa ấy, đều được ghi lại đầy đủ trong bộ Chơn Lý, gồm 69 tiểu luận.
Trong đó Ngài đã dung hợp được những tinh hoa Phật pháp của cả hai hệ phái
Nam và Bắc Tông theo yếu chỉ trung đạo của giáo lý Phaät đà. Theo đó, bản
thân người Khất sĩ phải thực hiện đúng mục đích của hệ phái là: trang bị
tinh thần không mưu cầu tích trữ vật dụng, tiền bạc... không gia đình; mỗi
sáng ôm bình bát đi khất thực, không ở nơi nào nhất định...
Buổi ban đầu khai hóa đã thành công mỹ mãn, được sự đồng tình ủng hộ và tu
học theo con đường Ngài đã vạch. Chỉ trong thời gian ngắn, đã có hơn 100
vị xuất gia hành trì, trên chục ngàn Phật tử theo thọ giới quy y với Ngài
và từ miền Ðông đến miền Tây Nam bộ đã có trên 20 ngôi tịnh xá của hệ
phái, đủ nói lên sức ngưỡng mộ mạnh mẽ nơi chơn lý.
Trong hàng đệ tử ban đầu của Ngài, có nhiều vị đã lập được những đoàn du
Tăng hành đạo khắp miền Trung và miền Nam từ năm 1955 đến 1975. Trong đó
có các Ngài Giác Tánh, Giác Chánh, Giác Nhu, Giác Tịnh, Giác An, Giác
Nhiên, Giác Lý, Giác Ðức...
Bên Ni giới có Ni trưởng Huỳnh Liên, Bạch Liên, Thanh Liên, Kim Lieân,
Ngân Liên, Chơn Liên...
Trong hàng giáo phẩm hiện nay, trực tiếp tham gia làm thành viên GHPGVN có
các Hòa Thượng Giác Nhu, Từ Huệ. Và trong Hội đồng Trị sự có Thượng tọa
Giác Toàn và Ni sư Ngoạt Liên.
Trong suốt thời gian 10 năm, kể từ ngày hoằng khai mối đạo tại chùa Linh
Bửu, phương pháp hành trì và sự hướng dẫn trực tiếp của Ngài đã đem lại
nhiều lợi lạc cho cộng đồng Phật giáo Nam bộ. Tuy vậy, do tác động và ảnh
hưởng của hệ phaùi Ngài khai mở quá lớn nên cũng không tránh khỏi những
hiềm khích từ phía những người ngoại đạo.
Ngày mùng 1 tháng 2 năm 1954, sau khi căn dặn một số điều thiết yếu cho
các đệ tử của Ngài tiếp tục hoằng khai các du xứ. Ngài định mở chuyến đi
sâu xuống các tỉnh vùng Hậu Giang để tiếp tục khai truyền. Nhưng khi đi từ
Tịnh xá Ngọc Quang (Sa Ðéc) qua Tịnh xá Ngọc Viên (Vĩnh Long) sang Cần Thơ
Ngài đã bị những người ngoại đạo bắt đi biệt tích.
Hơn 40 năm vắng bóng Tổ Minh Ðăng Quang, những người thừa kế vẫn kiên trì
chờ đợi, tiếp tục gìn giữ những thành quả đã đạt được và không ngừng chăm
lo phát triển, làm cho hệ phái Khất sĩ ngày càng vững chắc trong lòng
Phaät giáo Việt Nam.
Hiện nay (1994) hệ phái Khất sĩ Việt Nam có hơn 250 ngôi Tịnh xá đều khắp
ở hai miền Nam, Trung Việt Nam, với hơn 1500 Tăng Ni xuất gia và nhiều
chục vạn tín đồ.
Hằng năm, hàng môn đồ tứ chúng lấy ngày mùng 1 tháng 2 để kỷ niệm ngày Tổ
vắng bóng, cùng nhau vân tập tại Tịnh Xá Trung Tâm (Sàigòn) ôn lại những
lời dạy và ghi nhớ công ơn khai sáng của Ngài. Ðể tỏ lòng thiết tha quí
kính Ngài, các thế hệ tiếp nối tưởng niệm Ngài bằng tấm lòng trân trọng:
Ðức Tôn Sư Minh Ðăng Quang.
Các tác phẩm Ngài đã viết trong quá trình hành đạo nay còn lưu lại :
- Bộ Chơn Lý
- Bồ Tát giáo.
HÒA THƯỢNG
THÍCH HUỆ
QUANG
(1888 - 1956)
Hòa thượng Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sinh năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh
Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh. Năm 1902, Ngài xin xuất gia vào chùa
Long Thành ở Trà Cú được Hòa thượng Thiện Trí mến thương đặt pháp danh là
Thiện Hải. Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài lại được Hòa thượng cho học thêm
y học.
Thấy chùa Long Hòa ở quận Tiểu Cần - Trà Vinh, hư hại và hoang phế, Ngài
liền phát tâm trùng tu. Dân chúng và tín đồ Phật tử ở Tiểu Cần vì thế mến
đức Ngài, cử đại diện đến bạch Hòa thượng ở Trà Cú xin cho Ngài được về
trụ trì chùa Long Hòa. Hòa thượng nhận lời, thế là Ngài về Tiểu Cần. Với
đức độ sẵn có, và với vốn y học, Ngài đã nhiếp hóa được một số đông đồ
chúng. Giới trí thức ở địa phương rất mến phục Ngài, thường đến chùa để
được cùng Ngài đàm luận.
Năm 1919, Ngài đắc pháp với Hòa thượng Từ Vân, được pháp hiệu là Huệ
Quang.
Ngài đọc tân thư, báo chí vaø được biết phong trào Phật giáo các nước đang
lên mạnh. Ở Trung Hoa, Thái Hư Ðại Sư xây dựng Phật học viện, xuất bản Hải
Triều Âm. Bên Nhật, Tommatsu tiên sinh cùng các nhà nghiên cứu Phật học
phát huy nền văn học Phật giáo, chủ trương biên tập lại Ðại Tạng Kinh. Ở
Thái Lan, Phật giáo được xem là quốc giáo làm nền tảng đức dục cho quốc
dân. Ở Miên, một viện khảo cứu Phật giáo được thành lập. Trước sắc thái
mới của nền Phật giáo thế giới phục hưng, Hòa thượng Huệ Quang đã cùng các
Hòa thượng khác ở Nam kỳ thành lập Hội Lục Hòa, ý muốn mở Phật học viện và
thư xã. Năm 1928, cùng với các Hòa thượng Khánh Hòa, Pháp Hải, Khánh Anh,
Liên Trì, các Thượng tọa Từ Nhân, Chơn Huệ, Thiện Niệm, Ngài cổ động tạo
lập thư xã. Tháng 8 năm 1929, các đàn việt thiện tín Trà Vinh chung sức
hiến cúng bộ Ðại Tạng toàn bản, gồm có 750 quyển lớn, chưng bày trong thư
xã để làm tài liệu cơ bản cho việc nghiên cứu.
Năm 1931, Ngài cùng Hòa thượng Khánh Hòa và các vị cao Tăng khác hợp sức
với một số cư sĩ hữu tâm, thành lập Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, đặt
trụ sở tại chùa Linh Sơn, đường Douaumont Sài gòn (nay là đường Cô Giang).
Hội xuất bản tạp chí Từ Bi Âm.
Năm 1934, Ngài bàn với các Hòa thượng Khánh Hòa, Chánh Tâm, Viên Giác về
Trà Vinh lập Liên Ðoàn Phật Học Xã, để đào tạo Tăng tài, làm nền tảng cho
việc trùng hưng Phật pháp sau này. Học Tăng gia nhập Liên Ðoàn tuần tự tu
học từng tam cá nguyệt tại các chùa Long Hòa (Trà Vinh), Thiên Phước (Trà
Ôn) và Viên Giác (Bến Tre). Sau thấy sự di chuyển bất tiện, các vị Hòa
thượng quyết định lập trường Phật học tại Trà Vinh.
Tháng 8 năm 1934, hội Lưỡng Xuyên Phật Học được phép thành lập. Chánh hội
trưởng là Ông Huỳnh Thái Cửu, Hòa thượng Khánh Hòa làm Pháp sư. Ngài lúc
này đã 46 tuổi, làm giảng sư kiêm Tổng lý của hội.
Trong những lần thuyết pháp giảng dạy, Ngài đã vạch rõ sự cần thiết phải
thành lập Giáo hội, xuất bản tạp chí và kiến tạo Phật học đường, Ngài đã
tiên liệu, đã lo lắng rất nhiều cho tương lai của nền Phật giáo Thống
nhất.
Tháng 7 năm 1935, nguyệt san của hội, tạp chí Duy Tâm được phép xuất bản,
do Ngài làm chủ nhiệm.
Lưỡng Xuyên Phật Học Ðường đã làm được sứ mạng tuyên dương chánh pháp và
đào tạo Tăng tài một cách vẻ vang. Vừa làm chủ nhiệm tờ báo, Ngài vừa hợp
lực với các Ngài Khánh Hòa, Pháp Hải, Khánh Anh trong việc quản trị và
giáo dục của Phật Học Ðường.
Năm 1945, chiến tranh xảy ra, Lưỡng Xuyên Phật Học Hội vaø Phật Học Ðường
phải ngưng hoạt động. Ðại chúng ly tán, quân đội Pháp chiếm đóng cơ sở
Phật Học Hội. Ngài lui về chùa Long Sơn ở Tiểu Cần tĩnh tu.
Năm 1951 Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập. Ðại hội đại biểu nhóm
họp tại Huế. Bản tuyên ngôn thành lập Tổng Hội được chuyển đi khắp nơi.
Theo sự thỉnh cầu của Giáo hội Tăng già Nam Việt, ngày 8 tháng 3 năm 1953,
Ngài được Giáo hội Tăng già Nam Việt suy tôn lên ngôi Pháp chủ.
Năm 1954, mười ngày sau khi hiệp định Genève được ký kết, một phong trào
Hòa Bình ở Sài gòn-Chợ Lớn ra đời, đấu tranh đòi hòa bình và thống nhất
đất nước, do những nhân sĩ yêu nước Bắc, Nam khởi xướng. Ngài với cương vị
Pháp chủ Giáo hội Tăng già Nam Việt, cùng đông đảo các nhà trí thức Phật
tử, tích cực vận động Tăng Ni và tín đồ Phật giáo hưởng ứng phong trào
này, vì thế Ngài bị câu lưu tại bót Catinat, sau được đưa về quản thúc tại
chùa Phật Quang ở Chợ Lớn.
Năm 1956 kỳ Ðại hội Phật giáo lần thứ 2 tại Sài gòn, Ngài được suy cử Phó
Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Tập san Phật giáo Việt Nam được phép
xuất bản vào tháng 8 dương lịch và Ngài được mơøi làm Chủ nhiệm.
Ngày 10 tháng 11 năm 1956, Ngài cùng phái đoàn Phật giáo Việt Nam dự Hội
Nghị Phật Giáo Thế Giới lần thứ 4 tại Népal. Phái đoàn dự Ðại hội Phật
giáo Thế giới xong liền trở về New Delhi. Sau khi quan sát Ðại hội Văn hóa
Quốc tế, và cuộc triển lãm Nghệ thuật Phật giáo, Ngài cùng với Hòa thượng
Hội chủ Thích Tịnh Khiết đến dự cuộc mít tinh tổ chức tại công trường
Ramila, và viếng các Phật tích.
Sau khi chiêm bái Phật tích về, Ngài đã lâm chứng bệnh cũ và đột ngột từ
trần vì tai biến mạch máu não, hưởng thọ 68 tuổi với 37 năm hoằng hóa.
Nhục thân Ngài được hỏa táng tại Ấ n Ðộ.
Ngày 10-12-1956, Linh vị và xá lợi của Hòa thượng được đoùn rước long
trọng về Việt Nam, và được đặt tại trụ sở của Tổng Hội Phật Giáo chùa Ấn
Quang, để thập phương Tăng Ni Tín đồ đảnh lễ tưởng niệm.
Ðã qua rồi cuộc đời và sự nghiệp của một vị cao Tăng thạc đức đã cống hiến
đến phút cuối cùng cho công cuộc chấn hưng Phật giáo nước nhà đến hồi vinh
quang. Mãi mãi bao thế hệ Tăng Ni, Phật tử Việt Nam ghi tạc công hạnh Ngài
vào lòng trên bước đường tu học và phụng sự Ðạo pháp - Dân tộc.
HÒA THƯỢNG
THÍCH MẬT ỨNG
(1889-1957)
Hòa thượng thế danh là Trần Văn Ứng, pháp danh Thích Mật Ứng, sinh năm Kỷ
Sửu (1889) tại xã Vị Xuyên, tổng Ðông Mạc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Ðịnh,
một nơi phát xuất nhiều vị Nho học nổi tiếng, trong số đó có nhà thơ Tú
Xương.
Năm lên 7 tuổi, Ngài theo học chữ Hán với cụ Tú Nam Thành, tỏ ra là người
có tư chất thông minh xuất chúng, thường được ban khen. Nhà ở gần chùa Cả,
thường ngày, ngoài giờ học ở trường, Ngài hay sang chùa công quả học hỏi,
được sư cụ đem giáo lý uyên thâm của đạo Phật giảng giải cho nghe, Ngài
phát tâm thành, sanh ý xuất gia từ đấy.
Năm Ngài lên 11 tuổi (Canh Tý, 1900) cuï Tú Nam Thành được bổ đi nhậm chức
Huấn Ðạo ở tỉnh xa, Ngài phải tự đi tìm minh sư để thụ huấn. Nhân một ngày
giỗ Tổ long trọng tại chùa Cả, có chư vị Hòa Thượng, Thượng Tọa, Tăng Ni
qui tụ về đông đảo để hành lễ. Khi ấy Ngài cũng có mặt tại trai đàn. Hòa
thượng Tâm Nhân ở chùa Quảng Bá thấy Ngài hình tướng thanh tú, nhã độ,
liền đem lòng yêu mến và cho theo hầu.
Gặp được minh sư, lại ở chốn già lam danh tiếng, Ngài nhất tâm tu học. Năm
Ngài 16 tuổi (Ất Tỵ 1905) được Hòa thượng Tâm Nhân truyền Sa Di giới, và
năm 20 tuổi (Kỷ Dậu 1909) thọ Cụ Túc giới tại Ðại giới đàn chùa Quảng Bá
do Hòa thượng Thông Toàn, chủ sự chùa Bà Ðá (Linh Quang) giữ ngôi Ðàn Ðầu
Hòa thượng và Hòa thượng Bổn sư Tâm Nhân làm Yết Ma A Xà Lê.
Sau khi thọ giới, Ngài càng tinh tấn tu hành, nghiên cứu nhiều về Tam Tạng
kinh điển và suy ngộ đạo lý rất sâu xa. Ngài vẫn nuôi chí tham học với các
bậc cao minh thạc đức để tìm hiểu đạo mầu. Nghe Tổ Giám Ðào Xuyên, tự
Thông Mệnh, là bậc đạo học uyên thâm, giới hạnh gương mẫu, Ngài tìm đến
xin thụ huấn. Trải mười năm tinh tấn tu học, Ngài được Sư Tổ rất yêu quí,
đaët nhiều hy vọng ở tương lai.
Ngoài việc tìm hiểu giáo lý Phật Ðà, Ngài còn tham cứu Nho học nơi các bậc
danh nho trong vùng, như cụ Tú Thọ Vực ở Nam Ðịnh, nên Tứ Thư, Ngũ Kinh,
Bách Gia Chư Tử thảy đều thông suốt, các điển cố văn chương đều được suy
cứu tận gốc rễ. Ngài là bậc được tôn kính ngưỡng mộ trong giới thiền gia.
Ngài từng trú trì động Kính Chủ, một nơi danh thắng tại hạt Kinh Môn, tỉnh
Hải Dương, sau về kế thừa trú trì chùa Quảng Bá vào tuổi năm mươi (Kỷ Mão,
1939). Ngài đã đóng góp công sức lớn lao vào phong trào chấn hưng Phật
Giáo từ năm 1935 đến trước Cách Mạng Tháng Tám.
Năm 1949, Hội Việt Nam Phật Giáo được thành lập lại, đặt trụ sở tại chùa
Quán Sứ. Cùng năm đó, Hội Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt cũng được Hòa thượng
Tố Liên thành lập. Ðến ngày 09 tháng 9 năm 1950 thì đổi tên thành Hội Phật
Giáo Tăng Già Bắc Việt. Năm 1951 Hòa thượng Mật Ứng được cung thỉnh lên
ngôi Thiền gia Pháp chủ của hội.
Sau khi Hội Thế Giới Phật Giáo Liên Hữu (World Fellowship of Buddhists)
được thành lập năm 1950, trụ sở đóng tại Colombo thủ đô Tích Lan, mà Việt
Nam là một hội viên sáng lập, thì Ðại Hội Phật Giáo Việt Nam gồm ba miền
Bắc, Trung, Nam được triệu tập tại chùa Từ Ðàm, từ ngày 06 tháng 5 đến
ngày 09 tháng 5 năm 1951 để thực hiện việc thống nhất Phật Giáo Tăng Già
toàn quốc. Ngài nhân danh Thiền Gia Phaùp Chủ Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc
Việt, lãnh đạo phái đoàn Tăng Ni tới dự Ðại Hội. Ðại Hội này đã khai sinh
ra Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết chùa Tường
Vân làm Hội chủ.
Ðến năm 1955 Hòa thươïng Thiền Gia Pháp Chủ và Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc
Việt phải ngưng hoạt động để biến chuyển sang một giai đoạn mới của Phật
Giáo. Ngài lui về chùa Quảng Bá an tĩnh tu niệm làm cội gốc phúc lành cho
Tăng Ni tín đồ quy ngưỡng và viên tịch tại đây vào ngày 19 tháng 5 năm
Ðinh Dậu (1957), thọ 68 tuổi đời, 52 tuổi hạ. Bảo tháp Ngài được xây dựng
tại đây như dấu tích ngàn đời lưu bóng một bậc cao Tăng.
HÒA THƯỢNG
TẾ
XUYÊN-THÍCH DOÃN HÀI
(1874 - 1958)
Hòa thượng thế danh là Dương Văn Hiển, pháp danh Thông Hiển, hiệu Doãn
Hài, sinh năm Giáp Tuất (1874) tại làng Mai Xá, xã Ðức Lý, huyện Lý Nhân,
tỉnh Nam Hà. Thân phụ là cụ Dương Văn Học, thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Nữ.
Ngài sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho thanh bạch nơi thôn quê. Từ
nhỏ Ngài đã được theo đòi bút nghiên nơi cửa Khổng sân Trình.
Năm lên 15 tuổi (1889), sau một buổi học, thaày trò quây quần đàm đạo nhân
tình thế sự, nhân đề cập, tán thán công đức và đạo hạnh Sư Tổ chùa Bảo
Khám ở làng Tế Xuyên trong hạt, Bồ Ðề tâm của Ngài bỗng nhiên nẩy nở, tựa
như túc duyên tự xa xưa nay hội đủ nhÂn duyên khởi phát. Ngài bèn xin song
thân cho xuất gia đầu Phật, tìm đến Sư Tổ đệ nhị xin quy y thọ giới. Ðược
Sư Tổ hứa khả, Ngài chí tâm tu học, sớm tối ra vào hầu hạ Bổn sư, siêng
năng cần mẫn. Do đó, Ngài được nghiệp sự và huynh đệ quý mến.
Năm 16 tuổi Ngài thọ giới Sa Di. Những tưởng con đường tu học của mình có
cơ thăng tiến dưới sự hướng dẫn của Tổ Sư. Không ngờ ngày rằm tháng 2 năm
Canh Dần (1891) nghiệp sư viên tịch, Ngài bơ vơ ơû tuổi 17 đạo lực còn non
yếu. May sao huynh trưởng của Ngài là Hòa thượng Phổ Tụ đã là vị Thượng
tọa trong sơn môn, được kế vị là Tế Xuyên đệ tam Tổ, hết lòng dìu dắt Ngài
trên con đường tu học.
Năm Quý Tỵ (1893) Ngài 20 tuổi được thọ Cụ Túc giới tại Ðại giới đàn tổ
chức ở bản tự, với pháp danh Thông Hiển. Một thời gian sau, Ngài được sư
huynh gửi lên chùa Bồ Ðề ở Gia Lâm làm thị giả Sư Tổ trú trì là Hòa thượng
Nguyên Biểu để sớm tối tiện bề tu học.
Năm Bính Ngọ (1906) Sư Tổ Bồ Ðề viên tịch, Ngài lại lên Tổ đình Vĩnh
Nghiêm ở Bắc Giang tiếp tục tham học với Hòa thượng Thanh Hanh. Sau đó
Ngài trở về quê nhà trú trì chùa Tế Cát tiếp độ chúng sinh, giáo hóa thiện
tín thập phương, đồng thời trợ giáo Tổ Phổ Tụ truyền pháp, giữ kỷ cương Tổ
đình Tế Xuyên.
Năm Bính Dần (1926) Hòa thượng Phổ Tụ viên tịch, Ngài được sơn môn suy tôn
làm đệ tứ Tổ Tế Xuyên Bảo Khám Tự, tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh,
san khắc kinh điển, luật tạng như bản Thiền Lâm Bảo Huấn, Tăng Hộ, Tâm
Tạng, Ðịa Tạng mà Tổ đệ tam đang làm dở. Từ đó Ngài là thạch trụ đống
lương của sơn môn. Ngài thường được chư Tăng tôn vinh ngôi chủ Hạ trong
các khóa an cư tại Tổ đình, hoặc có năm tại chùa Quán Sứ - Hà Nội. Ngài
kiêm luôn chức Chánh chủ giảng. Trong các trai hội lớn, Ngài được cung
thỉnh thượng tòa Chứng minh.
Năm 1934 tại Bắc kỳ, phong trào chấn hưng Phật giáo được phát động. Ngài
không quản tuổi cao sức yếu, chẳng những bản thân nhiệt thành hưởng ứng
tham gia, mà còn vận động Tăng Ni, Phật tử trong sơn môn. Ngài còn đi tới
các chùa, các Tổ đình khác vận động các bậc trưởng lão kỳ túc trong các
sơn môn tham gia. Sau khi Hội Bắc Kỳ Phật Giáo ra đời và xuất bản báo Ðuốc
Tuệ để làm cơ quan phổ biến Phật pháp, Ngài được Hội mời làm Phó Chủ bút,
phụ tá cho Hoøa thượng Trung Thứ đương nhiệm Chủ bút. Năm 1936, Hòa thượng
Chủ bút viên tịch, Ngài tiếp nối duy trì tờ báo, lãnh trách nhiệm Chủ bút,
quy tụ được rất đông chư Tôn đức Tăng Ni và cư sĩ, nhà văn viết bài cho tờ
báo, góp nhiều công sức cho việc hoằng dương chánh pháp, xây dựng nền văn
hóa dân tộc. Tờ Ðuốc Tuệ dưới quyền Chủ bút của Ngài xuất bản liên tục cho
đến ngày Cách Mạng Tháng Tám thành công.
Trong thời gian làm chủ bút báo Ðuốc Tuệ, Ngài được Hội Bắc Kỳ Phật Giáo
cung thỉnh giữ luôn chức Chánh trú trì chùa Quán Sứ, nơi đặt trụ sở của
Hội.
Năm 1951, các phái đoàn Phật Giáo ba miền Bắc Trung Nam họp đại hội tại
chùa Từ Ðàm - Huế thực hiện nguyện vọng chung của Tăng Ni và Phật tử toàn
quốc là thống nhất Phật giáo dưới danh xưng Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam,
Ngài được đại hội cung thỉnh làm Chứng minh Ðạo sư.
Năm 1952, Ngài lãnh đạo sơn môn trùng tu Tổ đình Teá Xuyên thành một tòng
lâm khang trang, qui mô như ngày nay vẫn còn. Tiếp đó Ngài cho trùng tu
các chùa ở Tế Cát, Văn Xá, Nam Xá... là những ngôi Tam Bảo mà Ngài đã có
thời làm trú trì.
Ngày 17 tháng 11 năm Mậu Tuất (1958) pháp thể khương an, tinh thần minh
mẫn, Ngài vẫn cùng đệ tử và tín đồ mừng lễ vía Ðức Phật A Di Ðà. Qua sáng
hôm sau, Ngài ra trai đường niệm thực, chứng cháo sáng, thụ trai xong,
Ngài an nhiên tĩnh tọa vãng sanh Tây phương, hưởng thọ 85 tuổi đời, 64 hạ
lạp.
Trong suốt cuộc đời, Hòa thượng luôn hoan hỷ dìu dắt Tăng Ni và Phật tử
trên con đường tu học. Ngài luôn thực hiện hạnh từ bi hỉ xả, tận tụy vì
đạo pháp và làm rạng rỡ tông phong lịch đại Tổ sư Tế Xuyên nói riêng, Phật
giáo nước nhà nói chung.
HÒA THƯỢNG
TUỆ TẠNG -
THÍCH TÂM THI
(1889 - 1959)
Hòa Thượng pháp danh Thích Tâm Thi, đạo hiệu Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh
Thuyên, sinh năm Canh Dần (1889) tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải
Hậu, tỉnh Nam Ðịnh. Thân phụ Ngài là ông Trần Tín tự Phúc Châu, thân mẫu
là bà Vũ Thị Tú hiệu Diệu Hòa.
Khi còn nhỏ tuổi, Ngài thường theo mẹ vào chuøa lễ Phật. Sư Cụ trụ trì
thấy Ngài hình nghi cốt cách, đĩnh đạc thông minh, nên rất yêu mến muốn
truyền đạo cho. Năm 14 tuổi (1903), được song đường cho phép, Ngài xuất
gia làm đệ tử Hòa thượng chùa Phúc Lâm thuộc xã Quaàn Phương Thượng, sớm
tối chăm chỉ học tập, lễ bái hầu Thầy một lòng tinh tấn.
Năm 1905, Ngài 16 tuổi được Bổn sư trao truyền Sa Di giới. Tuy ít tuổi
nhưng tinh cần và khí phách trượng phu, Ngài được Sư Tổ cử đi trụ trì chùa
Cồn, ấp Văn Lý, Nam Ðịnh.
Năm 1909, được 20 tuổi, Ngài thọ Thinh Văn giới tại Ðại giới đàn chùa Phúc
Lâm. Hầu Thầy được hai năm thì Bổn sư viên tịch. Từ đó Ngài tham phương
tầm Sư học đạo: khi thì Tổ đình Vĩnh Nghiêm, lúc ở Tế Xuyên thiền viện...
Ở đạo tràng nào Ngài cũng được thầy mến bạn yêu, tinh tấn tu học.
Trong Tam Tạng giáo điển, Ngài rất chú trọng về Luật Tạng, nổi tiếng nhớ
Luật và trì Luật bậc nhất. Ngoài ra, cả ngoại khoa như Nho, Lão, Lý số
Ngài cũng quán triệt, và văn chương thơ phú cũng rèn luyện tinh thông.
Năm 1920, Ngài cùng Sư Tổ chùa Dương Lai, chùa Duyên Bình, chùa Quế Phương
tỉnh Nam Ðịnh lập Hội Tiến Ðức Cảnh Sách để thâu nhận những Tăng Ni hữu
học có đức hạnh, thành một đoàn thể không phân biệt sơn môn này hệ phái
nọ; ngõ hầu sách tấn lẫn nhau trên đường tu học, làm đống lương cho Phật
pháp sau này. Trụ sở đặt tại chùa Quế Phương, Sư Tổ chùa Dương Lai làm Hội
trưởng, Ngài giữ chức giáo sư Luật học.
Năm 1934, miền Bắc dấy lên phong trào chấn hưng Phật giáo, Ngài rời chùa
Quy Hồn cùng với Tổ chùa Trung Hậu, chùa Bằng Sở, hai Ngài Tố Liên, Trí
Hải và cư sĩ Nguyễn Hữu Kha sáng lập Hội Bắc Kỳ Phật Giáo, trụ sở Trung
ương của hội đặt tại chùa Quán Sứ Hà Nội.
Năm 1935, Ngài giữ chức Giám viện chùa Quán Sứ để quản trị mọi công việc
trong chùa.
Năm 1936, trường Tăng Học Bắc Việt thaønh lập đặt tại chùa Sở. Tổ Bằng Sở
giữ chức Ðốc giáo, Ngài là Phó đốc giáo kiêm giáo sư Luật học. Hai Tổ
Trung Hậu và Bằng Sở nối tiếp nhau viên tịch năm 1940 - 1942, Ngài một
mình gánh lấy trách nhiệm nặng nề: Giám quản kiêm Ðốc giáo toàn trường.
Trong những năm từ 1941-1945, do ảnh hưởng chiến tranh Pháp - Nhật trên
đất nước, Ngài đã lãnh đạo dời đổi địa điểm trường Tăng Học Quán Sứ sang
Bồ Ðề, đến Trung Hậu, lên Cao Phong rồi Hương Hải, và cuối cùng lại về
Quán Sứ, trải nhiều gian lao thiếu thốn trong thời chiến tranh, Ngài vẫn
dìu dắt Tăng sinh vừa sản xuất (lương thực tiêu dùng) vừa tu học.
Năm 1945, nhận lãnh chức Hội trưởng Hội Việt Nam Phật Giáo, kiêm chánh trụ
trì chùa Quán Sứ. Nhưng Ngài vẫn giữ trụ trì chùa Quy Hồn, nơi trụ xứ lúc
thiếu thời Ngài đã gắn bó xây dựng. Cuối năm này, nhận thấy tuổi già sức
yếu, cùng là để thích hợp với tư trào mới, Ngài ủy thác lại mọi việc cho
các danh Tăng trẻ tuổi: Tố Liên, Trí Hải rồi trở về chùa Cồn ở Nam Ðịnh để
tu dưỡng. Trọng tài mến đức của Ngài, Tăng chúng bốn phương từ Nam Trung
Bắc qui về nơi Ngài an dưỡng để học đạo từ 1946 đến 1949, đạo tràng lúc
nào cùng trên dưới sáu bảy mươi vị.
Năm 1950, Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc Việt cung thỉnh Ngài trở về chùa Quán
Sứ lần nữa giữ chức Ðốc giáo trường Tăng Học Bắc Việt ở đây, kiêm chức
Trưởng tòa kiểm duyệt Giáo lý Bắc Việt, đồng thời Ngài cũng nhận làm Chứng
minh Ðạo sư cho Hội Việt Nam Phật Giáo.
Năm 1951, thể theo nguyện vọng của Phật tử thành phố Nam Ðịnh, Ngài nhận
chức trụ trì chùa Vọng Cung. Cũng trong năm này, Tổng Hội Phật Giáo Việt
Nam được thành lập, trụ sở đặt tại chùa Từ Ðàm Huế, Hòa thượng nhận ngôi
Chứng minh Ðạo sư cho Tổng Hội.
Năm 1952, đại biểu Tăng Ni toàn quốc tề tập về chùa Quán Sứ trong thời
gian từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 để thảo luận; duyệt định “Quy chế
Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc do ba Giáo Hội Bắc Trung Nam dự thảo, và bầu
Ban Tổng Trị Sự Trung Ương. Ngài được toàn thể Ðại biểu suy tôn lên ngôi
Thượng Thuû Tăng Già Toàn Quốc (ngày 7-9-1952), làm thạch trụ cho hết thảy
Tăng tín đồ toàn quốc quy ngưỡng. Năm đó Ngài được 63 tuổi.
Năm 1953, Ngài đã soạn thảo và ấn hành “Lá Tâm Thư” đại ý kêu gọi Tăng tín
đồ toàn quốc chung sức chung lòng trùng hưng Phật giáo như thời đại Lý,
Trần xưa kia.
Từ năm 1954 trở đi, Ngài lui về Nam Ðịnh tịnh tâm tu dưỡng. Thế nhưng định
luật vô thường rồi cũng đến, nguyện lực hoằng thâm đã viên mãn, thân tứ
đại đến lúc trả về cho tứ đại, ngày 3 tháng 4 năm Kỷ Hợi, tức 10-5-1959,
Ngài xả báo thân từ 70 năm qua tại Vọng Cung để nhập về Vô Ưu quốc, và
công đức tu trì 50 hạ lạp.
Trên nửa thế kỷ từ lúc niên thiếu đến giờ phút cuối cùng cuộc đời, Ngài
luôn nghiêm trì giới luật, hoằng pháp độ sinh, đào tạo Tăng tài bất kể
hoàn cảnh khó khăn hay thuận lợi nào. Là một Luật sư uyên thâm, tiêu biểu
nhất của Luật Tông Việt Nam, pháp âm của Ngài là nền tảng vũng bền cho
mạng mạch chính pháp lưu truyền như di huấn của Phật Tổ.
Bút tích và tác phẩm Ngài đã soạn và dịch giải để lại :
- Tại gia tu hành.
- Kinh Phạm Võng giải.
- Sa Di luật.
- Lá tâm thư.
Và hàng loạt các sách Luật tạng mà Ngài đã giảng dạy ghi chú, tâm truyền
cho những học trò kế tiếp đã là danh Tăng luật sư nổi tiếng sau này như:
Hòa thượng Thiện Hòa, Kim Cương Tử, Bình Minh.
HÒA THƯỢNG
THÍCH KHÁNH
ANH
(1895 - 1961)
Hòa thượng thế danh là Võ Hóa, pháp danh Chơn Húy, pháp hiệu Khánh Anh,
Ngài sinh năm Ất Mùi (1895) tại xã Phổ Nhì, tổng Lại Ðức, huyện Mộ Ðức,
tỉnh Quảng Ngãi. Khi nhỏ, Ngài theo học Nho, luôn tỏ ra là một Nho sinh
xuất sắc.
Năm 21 tuổi (1916) nhận thấy cảnh thế phù du, cuộc đời là vô thường, giả
tạm, Ngài quy y thọ giới tại chùa Cảnh Tiên. Năm 22 tuổi (1917) Ngài được
nhập chúng tu học ở chùa Quang Lộc trong tỉnh, được ban pháp danh Chơn
Húy. Sẵn có căn bản Hán học vững chắc, Ngài thâm nhập kinh tạng rất mau
chóng. Ngài lần lượt thọ giới Sa Di và nghiên cứu Kinh, Luật, Luận rồi thọ
giới Tỳ Kheo Bồ Tát với pháp hiệu Khánh Anh. Khi tròn 30 tuổi, Ngài trở
thành một vị giảng sư Phật học nổi tiếng.
Năm 1927, Ngài được mời vào Nam làm Pháp sư dạy tại trường gia giáo chùa
Giác Hoa tỉnh Bạc Liêu. Năm 1928, Ngài lại về dạy Phật pháp tại chùa Hiền
Long tỉnh Vĩnh Long. Qua năm 1931, Ngài nhận lời mời làm trú trì chùa Long
An, xứ Ðồng Ðế, tỉnh Cần Thơ. Ở đây Ngài có rất nhiều Tăng tín đồ đến cầu
học.
Năm 1935, Ngài hợp tác với các Hòa thượng Khánh Hòa, Huệ Quang, Pháp Hải
v.v... lãnh đạo Hội Lưỡng Xuyên Phật Học đặt trụ sở tại chùa Long Phước
tỉnh Trà Vinh, và mở Phật Học Ðường tại đây để đào tạo Tăng tài, truyền
trì đạo pháp tại miền Nam. Ngài tham gia giảng dạy tại Phật Học Ðường và
cộng tác với tạp chí Duy Tâm, cơ quan truyền bá đạo Phật của Hội. Ngài
viết nhiều bài báo cổ xúy phong trào chấn hưng Phật giáo nước nhà, mong
sao theo kịp đà tiến triển các nước Phật giáo bạn như Trung Hoa, Nhật Bản
v.v...
Năm 1940, Ngài được mời làm Pháp sư dạy ba tháng tại chùa Thiên Phước ở
Tân Hương, tỉnh Tân An. Qua năm sau, Ngài lại đến dạy Phật học trong ba
tháng cho Ðại giới đàn chùa Linh Phong ở Tân Hiệp. Năm 1942 Phật Học Ðường
Lưỡng Xuyên tạm nghỉ mấy tháng vì thiếu tài chánh. Ngài về trú trì chùa
Phước Hậu ở Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ, mở các lớp giáo lý cho Tăng Ni và tín đồ
ở đây. Năm 1945, Ngài được Hòa thượng Huệ Quang mời về dạy trường gia
giaùo tại chùa Long Hòa, quận Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
Sau Cách Mạng Tháng Tám năm 1945, Ngài về nhập thất tại chùa Phước Hậu để
tâm nghiên cứu Tam Tạng kinh điển. Từ đó đến năm 1955, Ngài đã soạn thảo
và phiên dịch rất nhiều tác phẩm. Ngài có cho xuất bản ba tập Khánh Anh
Văn Sao. Một trong ba tập này in những bài Ngài viết về giáo lý, những bài
sớ giảng và thi bút do Ngài sáng tác.
Năm 1955 Hội Phật Học Nam Việt thành lập, cung thỉnh Ngài vào ban Chứng
minh Ðạo sư của hội. Năm 1957, ngày mồng một tháng ba năm Ðinh Dậu
(31-3-1957) Ðại Hội Giáo Hội Tăng Già Nam Việt Kỳ III họp tại chùa Ấn
Quang, đã suy tôn Ngài lên ngôi Pháp Chủ để lãnh đạo Phật giáo miền Nam,
kế nối Hòa thượng Huệ Quang viên tịch tại Tân Ðề Li Ấn Ðộ, khi Hòa thượng
lãnh đạo phái đoàn Phật giáo Việt Nam đi dự Hội nghị lần thứ 4 của Hội Thế
Giới Phật Giáo Liên Hữu.
Cũng tại chùa Ấn Quang, ngày 10-9-1959, Ðại Hội Giáo Hội Tăng Già Toàn
Quốc Kỳ II đã long trọng suy tôn Ngài lên ngôi vị Thượng Thủ để cầm cương
lĩnh vận mệnh Phật Giáo Việt Nam. Từ đó Ngài thường xuyên lưu trú tại chùa
Ấn Quang để đôn đốc Phật sự và tiếp tục phiên dịch, trước tác. Ngài vẫn
luôn tinh tấn tu hành, không giờ phút nào quên câu niệm Phật để cầu sanh
Tây phương Lạc quốc.
Xuân Tân Sửu (1961), nhân dịp hành hương đầu năm, Ngài rời chùa Ấn Quang
về thăm chùa Phước Hậu ở Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ. Sau đó Ngài trở về chùa
Long An xứ Ðồng Ðế, nơi Ngài đã từng trú trì từ năm 1931. Thấy trong người
thay đổi, biết cơ duyên đến gần, Ngài cho gọi các đệ tử đến dặn dò khuyên
bảo tu học và hành đạo, rồi niệm Phật, an nhiên thị tịch. Hôm đó là ngày
30 tháng giêng năm Tân Sửu (16-4-1961), lúc 16 giờ. Ngài hưởng thọ 66 tuổi
đời với 45 năm sống với đạo.
Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc rước kim quan Ngài về chuøa Ấn Quang cử hành
trọng thể lễ mai táng tại An Dưỡng Ðịa Bình Chánh. Ðến ngày 15 tháng 2
Ðinh Mùi (25-3-1967) Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất long trọng cử
hành lễ trà tỳ, rồi rước linh cốt Ngài về chùa Ấn Quang và chia thờ các
nơi sau đây:
- Chùa Ấn Quang, trụ sở Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc.
- Chùa Long Phước (Trà Vinh), trụ sở Hội Lưỡng Xuyên Phật Học.
- Tháp Ða Bảo ở chùa Phước Hậu, Trà Ôn, Cần Thơ.
- Chùa Từ Nghiêm, trụ sở Ni bộ Bắc tông.
- Chùa Long Phước, trụ sở Giáo Hội tỉnh Vĩnh Long.
Sự nghiệp trước tác và dịch phẩm của Ngài để lại gồm có:
- Hoa Nghiêm nguyên nhân luận.
- Nhị khóa hiệp giải.
- 25 Bài thuyết Pháp của Thái Hư Ðại Sư.
- Tại gia cư sĩ luật.
- Duy thức triết học.
- Qui nguyên trực chỉ.
- Và Khánh Anh Văn Sao (3 tập).
Hòa thượng Thích Khánh Anh là một vị cao Tăng bác học. Sự nghiệp hoằng
dương chánh pháp, giáo hóa lợi sanh của Ngài rất lớn lao. Ngài xứng đáng
là viên đá lớn trong lâu đài Phật Giáo Việt Nam. Ngài đã dày công đào tạo
nhiều thế hệ Tăng Ni mà ngày nay, nhiều người trong số đó đủ khả năng và
đức hạnh tiếp nối, vun đắp cho cây đại thụ Phật Giaùo Việt Nam ngày một
vững bền, xanh tươi.
HÒA THƯỢNG
THÍCH PHÁP
HẢI
(1895 - 1961
)
Hòa thượng thế danh là Nguyễn Văn An, pháp danh Pháp Hải, sinh năm Ất Mùi
(1895) tại làng Thông Dong, quận Lấp Voø, tỉnh Sa Ðéc, nay là tỉnh Ðồng
Tháp. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Dá, thân mẫu là cụ bà Lê Thị Tốt.
Khi lên 8 tuổi, Ngài được gia đình cho theo Nho học. Học hành tiến bộ, lại
thêm tính tình hòa nhã, khiêm cung nên Ngài được thầy khen bạn mến. Ðến
năm 17 tuổi (Nhâm Tý 1912) Ngài xuất gia đầu Phật, quy y với Hòa thượng
trú trì chùa Tây Hưng ở Sa Ðéc.
Năm 22 tuổi, sau khi Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài đến cầu pháp với Sư
tổ chùa Long Phước ở tỉnh Vĩnh Long và tu học ở đây được sáu năm. Ðến năm
28 tuổi, Ngài được Sư tổ Long Phước bổ xứ làm trú trì chùa Phước Sơn ở
quận Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Từ năm 1932, phong trào chấn hưng Phật giáo khởi phát rầm rộ tại Nam kỳ do
Hòa thượng Khánh Hòa làm trụ cột. Ngài là một trong những thiền sư cộng
tác tích cực. Năm 1933 và 1934 Ngài cùng với các Hòa thượng Khánh Hòa,
Khánh Anh, Huệ Quang tổ chức Phật Học Ðường lưu động lấy tên là Liên Ðoàn
Phật Học Xã tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, chùa Thiên Phước tại quận Trà Ôn
và chùa Viên Giác tại Bến Tre. Tại các nơi này, cùng với Hòa thượng Khánh
Anh và Huệ Quang. Ngài đóng góp tích cực vào việc giaûng dạy Phật pháp cho
Tăng sinh.
Sau hơn một năm Phật Học đường Liên Ðoàn Phật Học Xã tan rã vì thiếu tài
chánh. Năm 1934 Ngài cùng các Hòa thượng Tăng hữu và một số cư sĩ hữu tâm
lại tổ chức Hội Lưỡng Xuyên Phật Học và thành lập Phật Học Ðường Lưỡng
Xuyên. Trụ sở của hội cũng như Phật Học Ðường đặt tại chùa Long Phước (Trà
Vinh) do bà Dương Thị Liễu cúng cho hội. Ngài được mời làm trú trì, kiêm
giáo sư giảng dạy cho Tăng Ni. Lúc bấy giờ Ngài đã 40 tuổi (Ất Hợi 1935)
tuy gầy yếu, nhiều bệnh nhưng không lúc nào Ngài bê trễ việc giảng dạy và
chăm lo các Phật sự khác. Ngoài việc giảng dạy giáo lý, Ngài còn lo việc
ăn ở chu đáo cho học đường. Sự taän tụy chăm sóc của Ngài làm cho toàn thể
học chúng vô cùng kính mến.
Ngài trú trì chùa Long Phước được sáu năm (1934-1940). Tiếp đến Hội Lưỡng
Xuyên Phật Học mở chi hội tại quận Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, đặt trụ sở tại
chùa Hiệp Châu. Ban Quản trị Chi hội cung thỉnh Ngài về làm trú trì chùa
Hiệp Châu để cầm cương lĩnh cho các Phật sự của Chi hội. Ngài trụ xứ tại
đây được bốn năm (1944) thì Sư tổ chùa Long Phước ở Vĩnh Long viên tịch,
Ngaøi phải trở về thừa kế đảm nhiệm chức trú trì tại Tổ đình. Dưới sự giáo
hóa dìu dắt của Ngài, Tăng Ni và Phật tử Vĩnh Long quy hướng về Ngài rất
đông.
Năm 1951 (Tân Mão), Giáo Hội Tăng Già Nam Việt được thành lập tại chùa Ấn
Quang do Hòa thượng Khánh Anh làm Pháp chủ. Các chi hội lần lượt được
thành lập khắp các tỉnh miền Nam, trong đó có tỉnh Vĩnh Long. Ngài được
mời làm Trị sự trưởng của Tỉnh giáo hội. Tiếp sau đó, Hội Phật Học Nam
Việt thành lập chi hội tại Vĩnh Long, Ngài lại được mời nhận chức Chứng
minh Ðạo sư kiêm Hội trưởng Tỉnh hội.
Mặc dầu đã cao tuổi, lại thường bịnh hoạn, mỗi lần có hội họp, Ngài vẫn
tham dự đầy đủ từ đầu cho đến mãn cuoäc. Có những buổi họp kéo dài đến
khuya. Ngài ngồi mỏi mệt ngất trên bàn chứng minh. Cả hội nghị đều thỉnh
Ngài đi nghỉ. Nhưng Ngài dạy: “Không sao đâu, tôi cố gắng ngồi đây để
khuyến khích tinh thần cho quý vị hăng hái laøm việc”. Ðây là một công
hạnh đặc biệt của Ngài, Tăng Ni và Phật tử Vĩnh Long nhớ mãi.
Năm 1961, Ngài vì bệnh già, đã viên tịch tại chùa Long Phước tỉnh Vĩnh
Long, vào ngày mùng 6 tháng 8 năm Tân Sửu, hưởng thọ 66 tuổi đời, 49 tuổi
đạo. Kim quan của Ngài được Giáo Hội Tăng Già Nam Việt rước về cử hành lễ
mai táng long trọng tại An Dưỡng Ðịa Bình Chánh, gần bên mộ Hòa thượng
Khánh Anh, Tăng hữu chí cốt của Ngài, đã từng cùng nhau hoạt đoäng tích
cực cho phong trào chấn hưng Phật Giáo tại Nam Kỳ.
Ðến ngày rằm tháng 2 năm Ðinh Mùi (25-3-1967) nhân ngày vía Phật nhập Niết
Bàn, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất làm lễ trà tỳ linh cốt của Tổ
Khánh Anh và của Ngài, rồi rước về thờ tại chùa Ấn Quang, trụ sở của Giáo
Hội. Ðến ngày 14-10 năm Mậu Thân (1968). Giáo Hội lại đưa một phần linh
cốt của Ngài và Tổ Khánh Anh về tôn thờ tại chùa Long Phước tỉnh Vĩnh
Long, nơi Ngài đã trụ xứ cho đến mãn đời.
HÒA THƯỢNG
THÍCH MẬT THỂ
(1912 - 1961)
Ngài Mật Thể, pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể, tên thật là Nguyễn Hữu
Kê, sinh năm 1912 ở làng Nguyệt Biều, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
Chánh quán huyện Tống Sơn, Gia Miêu ngoại trang, tỉnh Thanh Hóa, thuộc
dòng Thích Lý của Cụ Nguyễn Hữu Ðộ. Gia đình Ngài qui hướng đạo Phật, cụ
thân sinh và người anh ruột đều xuất gia.
Thuở nhỏ, Ngài được gia đình cho học chữ Nho, Quốc ngữ, và chữ Pháp đỗ
bằng Tiểu học (Primaire). Năm 12 Tuổi (1924), cụ thân sinh đem Ngài về
chùa Diệu Hỷ (Huế) cho xuất gia làm Tiểu (Ðiệu). Với bẩm chất thông minh
và cần mẫn tu học, Ngài tiếp thu nhanh chóng kinh luật căn bản dành cho
chú Tiểu.
Năm lên 16 tuổi (1928), Ngài được nhập chúng tu học ở chùa Từ Quang với
Hòa thượng Giác Bổn. Nhận thấy khả năng học tập xuất sắc của Ngài, nên Hòa
Thượng Giác Bổn cho Ngài vào tu học ở chùa Trúc Lâm với Hòa thượng Giác
Tiên. Khi vào học ở tòng lâm này, như cá gặp nước, như rồng gặp mây, lại
được gần thầy bên bạn học hỏi chuyên cần, nên Ngài vượt xa bạn cùng lớp.
Năm Canh Ngọ 1930, khi Ngài 18 tuổi, được Hòa thượng Giác Tiên, trú trì
chùa Trúc Lâm - Huế chính thức thế độ nhận làm đệ tử và cho thọ Sa Di
giới, ban pháp danh Tâm Nhất, pháp tự Mật Thể.
Năm 1932, Hòa thượng Giác Tiên thỉnh Ðại lão Hòa thượng Phước Huệ - chùa
Thập Tháp Di Ðà, tỉnh Bình Ðịnh ra chủ giảng Phật Học Ðường ở chùa Trúc
Lâm và Tây Thiên. Ngài được đặc cách theo học lớp Cao Ðẳng Phật Học này.
Năm 1933, Ngài được mời làm giảng sư Hội An Nam Phật Học và giảng dạy tại
trường Tiểu học Phật giáo của sơn môn Thừa Thiên.
Năm 1935, Hòa thượng Bổn Sư viên tịch, đến năm 1937 Hòa thượng Phước Huệ
vì tuổi cao sức yếu trở về Bình Ðịnh an tĩnh. Ðây là bước ngoặc mới trong
đời Ngài. Với hoài bão lớn lao, Ngài quyết chọn con đường du học để bồi
dưỡng thêm kiến thức. Ngài xin phép các sư huynh Mật Khế, Mật Nguyện, Mật
Hiển sang Phật Học Viện Tiêu Sơn ở Trung Quốc để nghiên cứu hoïc hỏi thêm
dưới sự chủ trì của Hòa Thượng Tinh Nghiêm.
Năm 1938, chiến tranh Hoa - Nhật xảy ra không cho phép Ngài cư trú lâu ở
đất Trung Hoa. Ngài trở về Việt Nam tiếp tục làm giảng sư cho hội An Nam
Phật Học và bắt đầu sự nghiệp trước tác, phiên dịch các tác phẩm Ngài mang
từ Trung Hoa về. Ngài còn viết các bài nghiên cứu về đạo Phật đăng trong
các tạp chí Phật giáo xuất bản trong nước thời bấy giờ.
Năm 1941, Ngài được mời vào giảng dạy tại Phật Học Ðường Lưỡng Xuyên- Trà
Vinh. Sau đó Ngài trở ra Huế và đi thu thập tài liệu nơi các Tổ đình ở
Bình Ðịnh, Phú Yên, Thừa Thiên, Hà Nội..v.v. để viết về Sử Phật giáo.
Năm 1943, tác phẩm Phật Giáo Việt Nam Sử Lược của Ngài được Nhà xuất bản
Tân Việt ấn hành. Sách được Quốc sư Phước Huệ tán ngữ và Trần văn Giáp đề
tựa.
Mãi đến năm 1944, lúc 32 tuổi Ngài mới thọ Cụ Túc giới tại giới đàn chùa
Thuyền Tôn do Hòa thượng Thích Giác Nhiên làm Ðàn đầu. Ngài đứng đầu các
giới tử và được chọn làm thủ Sa Di. Cũng vào năm này, Ngài được mời làm
trú trì chùa Phổ Quang-Huế.
Năm 1945, Cách Mạng Tháng Tám nổ ra, Ngài tham gia phong trào Phật giáo
Cứu quốc ở Thừa Thiên- Huế.
Tháng giêng năm 1946, khi Chính Phủ Lâm Thời tổ chức Tổng tuyển cử, Ngài
ra ứng cử ở Thừa Thiên và đắc cử làm đại biểu Quốc Hội nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa khóa đầu tiên. Ðây cũng là lần đầu tiên một Tăng sĩ Phật giáo
trực tiếp tham gia chính trường. Cũng năm 1946, Ngài được mời làm Chủ tịch
Ủy ban Phật giáo Cứu quốc tỉnh Thừa Thiên.
Là người có chí nguyện lớn, Ngài chủ trương phải cải tổ sơn môn và nóng
lòng trước quá trình đổi mới chế độ Tăng già còn diễn tiến chậm. Tuy có
nhiều va chạm nhưng Ngài không nản lòng, luôn ôm hoài bão cao xa đưa Phật
giáo phát triển hòa nhập thời đại và mở ra hướng đi mới cho hàng Tăng sĩ
trẻ. Chính vì thế Ngài đã viết và cho xuất bản nhiều tác phẩm nhằm mục
đích cách tân và mở rộng tầm nhìn cho Tăng sĩ thời bấy giờ.
Với một bút pháp tài hoa và tâm hồn khoáng đạt, Ngài đã thu hút nhiều trí
thức văn nhân ưu tú đến làm bạn tâm giao như Trần Văn Giáp, Phạm Quỳnh,
Khái Hưng. Chính trong những lần tương ngộ này mà tư tưởng Phật giáo đã
gắn liền với họ, thể hiện qua các tác phẩm như cụ Trần Văn Giáp với cuốn
Phật Giáo Việt Nam ; cụ Phạm Quỳnh với các bài nghiên cứu về đạo Phật đăng
trong tạp chí Nam Phong ; Khái Hưng với Hồn Bướm Mơ Tiên...
Năm 1947, khi mặt trận chống Pháp ở Huế bị tan vỡ, Ngài chia tay từ biệt
với anh em Phật tử và Tăng sĩ đồng chí hướng, ra vùng kháng chiến, theo
cách mạng xây dựng phong trào Phật giáo tại miền Bắc.
Sau hiệp định Genève, năm 1957, Ngài được về an trú ở Nghệ An. Trong thời
gian ở Nghệ An, Ngài đã phiên dịch và trước tác khá nhiều kinh sách, nhưng
vì hoàn cảnh chiến tranh, những tác phẩm này đã bị thất lạc, chỉ còn lại
quyển “Thế giới quan Phật giáo”. Tác phẩm này được in tại miền Nam năm
1967 do tạp chí Vạn Hạnh xuất bản.
Năm 1961, Ngài mất tại Nghệ An vì bệnh, thọ 48 tuổi đời với 36 năm xuất
gia làm Tăng sĩ. Các tác phẩm Ngài còn để lại đến nay tiêu biểu cho sự
nghiệp đời Ngài như:
- Việt Nam Phật Giáo Sử Lược.
- Phật Học Dị Giản.
- Kinh Ðại Thưøa Vô Lượng Nghĩa.
- Phật Giáo Khái Luận.
- Phật Giáo Yếu Lược.
- Cải Tổ Sơn Môn Huế.
- Xuân Ðạo Lý.
- Mật Thể Văn Sao (do Lệ Như sưu tập).
HÒA THƯỢNG
THÍCH PHƯỚC
NHÀN
(1886 - 1962)
Hòa thượng Thích Phước Nhàn, thế danh Trương Văn Ninh, sinh năm Bính Tuất
(1886) tại làng Phú Bình, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Ngài sinh
trong một gia đình Nho giáo nhưng thấm nhuần Phật giáo. Khi còn nhỏ Ngài
được song thân cho theo học chữ Nho nên sớm am tường thi lễ.
Năm 14 tuổi (1899) túc duyên đã đến, Ngài được song thân cho tầm sư học
đạo. Ngài xuất gia đầu sư với Hòa thượng Thanh Minh - Viên Tâm (Tổ khai
sơn chùa Linh Sơn Diên Thọ - Hố Dầu - núi Cú), được Hòa thượng ban pháp
danh Trừng Phong, tự Phước Nhàn, thuộc đời 41 dòng Lâm Tế Chánh Tôn, chi
phái Liễu Quán. Sau khi xuất gia, Ngài chuyên cần tu học, chấp lao phục
dịch tròn bổn phận của một Sa Di sơ cơ nhập đạo. Ngài được Tổ Thanh Minh
dạy kinh luật, chữ Hán, và các khoa nghi ứng phú đạo tràng. Hầu thầy học
đạo được bốn năm thì Tổ viên tịch. Ngài thay thầy trông nom Tổ đình và
nhiếp hóa đồ chúng.
Năm Ất Tỵ (1905), Ngài được 19 tuổi, Hòa thượng Phước Dư chùa Thập Tháp,
Bình Ðịnh vào Diên Thọ, Ngài ân cần thỉnh Hòa thượng dạy thêm kinh luật,
nhất là bốn bộ luật giải. Dạy được sáu tháng, Hòa thượng Phước Dư trở về
Bình Ðịnh. Từ đó, Ngài một mình sống nơi non cao rừng thẳm, làm bạn với cỏ
cây, chim muông và duy nhất với một hổ tướng (cọp), pháp danh Trừng Hộ (vị
cọp này, trước đây quy y với Tổ Thanh Minh - Viên Tâm).
Năm Giáp Dần (1915) khi Ngài 29 tuổi, bấy giơø tại chùa Thiền Long, xã Ðại
Nan, Phan Thiết, khai đại giới đàn, Ngài được thọ Tam đàn Cụ Túc do Hòa
thượng Tường Vân làm Hòa thượng Ðàn đầu thí giới, và được ban pháp hiệu
Chánh Pháp.
Sau khi thọ giới xong, Ngài trở về chốn Tổ, tiếp tục trau giồi đạo hạnh,
nhiếp hóa đồ chúng và ẩn thân nơi núi Tà Cú để tiếp tục hành trì pháp môn
Du già Mật tông (Sau này, Ngài rất nổi tiếng về khoa nghi Du già chẩn tế).
Với sức học uyên thâm, sự hành trì tinh tấn, nên đức độ của Ngài vang
tiếng một thời nơi đất Bình Thuận. Phật tử ở Bình Thuận quy y với Ngài rất
đông.
Ðể hướng dẫn Phật tử tu hành theo pháp môn Tịnh độ công cứ, Ngài đứng ra
lập Hội Diên Khánh ở thôn Phú Long, thuyết giáo giảng kinh cho Phật tử ở
địa phương này hướng về Phật đạo.
Năm Khải Ðịnh thứ 7 (1922), Ngài tổ chức đại trùng tu chùa Diên Thọ (Tổ
đình Hố Dầu).
Năm Giáp Tý (1924), Ngài 38 tuổi được thỉnh làm Ðeä tam Tôn chứng giới đàn
chùa Phước Lâm, và khai sơn chùa Hiệp Phước (Hiệp Nghĩa, huyện Hàm Tân).
Cũng trong năm này, Ngài làm Giáo Thọ A Xà Lê đại giới đàn chùa Thiền Lâm,
Phan Thiết.
Năm 1936, Ngài khai sơn chùa Pháp Diên (phường Ðức Long, Phan Thiết).
Năm 1938, Ngài làm Yết ma A Xà Lê Ðại giới đàn chùa Linh Sơn Trường Thọ
(núi Cú ).
Năm 1940, Ngài được Hội Phật Học cung thỉnh đảm nhiệm Ðệ tam Chứng minh
Ðạo sư Hội Phật Học Bình Thuận, vaø trụ trì chùa Tỉnh hội. Cũng trong năm
này, Ngài làm Chánh chủ hương trường hạ chùa Phật Học, và Yết Ma A Xà Lê
giới đàn chùa Long Thành, Bồ Tát sư chùa Xuân Quang, Phan Thiết.
Năm 1942, chùa Hưng Long tỉnh Gia Ðịnh (Nam kỳ) khai đại giới đàn cung
thỉnh Ngài đương vi Ðàn đầu Hòa thượng truyền giới.
Năm 1943, Ngài làm Thiền chủ trường hạ chùa Long Hải và đương vi Ðàn đầu
Hòa thượng truyền giới của giới đàn này.
Năm 1944, chùa Thạnh Long (đảo Phú Quí) khai giới đàn, Ngài làm Nội đàn
chủ sám.
Năm 1945, chùa Thái An (Hòa Ða - Phan Rí) khai giới đàn, Ngài làm Nội
ngoại đàn chủ sám.
Năm 1946, chùa Phước Thọ (Lương Sơn) khai giới đàn, Ngài được cung thỉnh
đương vi Tam Ðaøn thí giới Ðại lão Hòa thượng.
Năm 1947, chư Tăng trong sơn môn Bình Thuận cung thỉnh Ngài đảm nhiệm Tòng
lâm Pháp chủ, kiêm Ðệ nhị Chứng minh Ðạo sư. Và năm 1948, Ngài được suy
tôn ngôi vị Thượng Thủ Giáo Hội Tăng Già Bình Thuận.
Năm 1958, Ngài làm Chứng minh tối cao trường hạ chùa Phật Quang - Phan
Thiết và Chứng minh khai sơn Tòng Lâm Vạn Thiện - Bình Thuận. Sang năm
1959, Ngài lại khai sơn chùa Phước Trí.
Năm 1960, Ngài làm Chứng minh Ðạo sư trường hạ chùa Linh Bảo (Tuy Phong -
Bình Thuận), và được chư Tăng tỉnh Bình Tuy cung thỉnh đảm nhiệm Chứng
minh Ðạo sư Giáo Hội Tăng Già Bình Tuy.
Dù tuổi già sức yếu nhưng Ngài không quản khó khăn. Tổ đình Linh Sơn Diên
Thọ (Hố Dầu) trải bao mưa nắng và sự tàn phá của thời gian cũng bị hư sụp.
Ðể duy trì và trùng hưng chốn Tổ, Ngài phát tâm trùng tu lại Tổ đình. Năm
1962, Ngài khởi công đại trùng tu. Công việc đang còn dang dở, ngày 15
tháng 3, Ngài thọ bệnh. Ðến 10 giờ 30 ngày 19 tháng 3 năm 1962, sau khi
dặn dò việc Tổ đình với các đệ tử, Ngài đã an nhiên thị tịch tại chùa Pháp
Diên. Giáo Hội Tăng Già Bình Thuận và đồ chúng xây Bảo tháp tại chùa Linh
Sơn Diên Thọ (Hố Dầu - Tà Cú) để lưu giữ nhục thể của Ngài.
Hòa thượng Thích Phước Nhàn, suốt cuộc đời đã tận tụy phụng sự chánh pháp
và hướng dẫn tứ chúng tu học, Ngài luôn đem hết sức mình để phò trì Phật
pháp, đảm nhieäm nhiều chức vụ quan trọng do Giáo Hội Tăng Già Bình Thuận
suy cử. Ngài là một bậc Tôn túc hữu công đối với Phật Giáo Bình Thuận, mà
việc hoằng dương chánh pháp nơi địa bàn khiêm tốn này trong giai đoạn lịch
sử Phật Giaùo nửa đầu thế kỷ XX là tham gia chấn hưng Phật Giáo nước nhà.
HÒA THƯỢNG
THÍCH QUẢNG
ÐỨC
(1897 - 1963)
Hòa thượng Thích Quảng Ðức, thế danh là Lâm Văn Tuất sinh năm 1897 (Ðinh
Dậu) tại thôn Hoäi Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
Thân sinh là cụ Lâm Hữu Ứng và bà Nguyễn Thị Nương.
Lên 7 tuổi, Ngài được song thân cho xuất gia học Phật. Ngài thụ giáo với
Hòa thượng Thích Hoằng Thâm là cậu ruột và được Hòa thượng nhận làm con
đổi tên họ là Nguyễn Văn Khiết.
Năm 15 tuổi, Ngài thọ giới Sa Di, năm 20 tuổi thọ giới Tỳ Kheo và Bồ Tát,
được pháp danh Thị Thủy, pháp tự Hành Pháp, pháp hiệu Quảng Ðức. Sau đó
Ngài phát nguyện nhập thất tu ba năm trên một ngọn núi ở Ninh Hòa. Về sau
Ngài có lập trên núi này một ngôi chùa lấy hiệu là Thiên Lộc Tự.
Rời núi, Ngài vân du hóa đạo một mình với chiếc bình bát theo hạnh đầu đà
(khất thực). Hai năm mãn nguyện, Ngài lại quay về nhập thất tại chùa Sắc
Tứ Thiên Ân ở Ninh Hòa.
Năm 1932 hội An Nam Phật Học ra đời, Ðại lão Hòa thượng chùa Hải Ðức đến
nơi Ngài đang nhập thất, mời ngài nhận chức Chứng minh Ðạo sư cho Chi Hội
Ninh Hòa. Ba năm sau, Ngài được thỉnh cử giữ chức Kiểm Tăng cho Tỉnh hội
Khánh Hòa. Trong thời gian hành đạo tại miền Trung, Ngài đã kiến tạo và
trùng tu tất cả 14 ngôi chùa.
Năm 1943, rời Khánh Hòa vào Nam, Ngài hành đạo khắp các tỉnh Sàigòn, Gia
Ðịnh, Ðịnh Tường xuống đến Hà Tiên. Ngài cũng đã từng sang Nam Vang lưu
trú ba năm, vừa giáo hóa các Phật tử kiều bào, vừa nghiên cứu kinh điển
PàLi và Phật giáo Nam Tông.
Lúc mới vào Nam, Ngài đã lưu trú tại chùa Long Vĩnh (quận 3 - Sài gòn) một
thời gian dài, nên dân chúng quen gọi Ngài là Hòa thượng Long Vĩnh, Ngài
còn có hiệu là Thích Giác Tánh. Suốt thời gian hóa độ chúng sinh, bất cứ
nơi nào, Ngài cũng dốc lòng làm tròn nhiệm vụ của một sứ giả Như Lai, kế
tục các thế hệ Tổ sư truyền giáo, chăm lo tô bồi công đức, hoằng dương
chánh pháp.
Năm 1953, Ngài được thỉnh cử vào chức vụ Phó Trị Sự và Trưởng ban Nghi lễ
Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, đồng thời lãnh nhiệm vụ trú trì chùa Phước Hòa
ở Bàn Cờ, là nơi đặt trụ sở đầu tiên của Hội Phật Học Nam Việt.
Năm 1958, khi trụ sở của Hội dời về chùa Xá Lợi, Ngài nhận thấy tuổi già
sức yếu, và với bản nguyện “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”, Ngài xin thôi
mọi chức vụ để có đủ thì giờ an tâm tu niệm. Tuy nhiên, vốn có tâm từ bi,
Ngài vẫn để cho gót chân vân du hành đạo ghi dấu nhiều nơi, khi thì chùa
Quan Thế Âm ở Gia Ðịnh, lúc lại tới chùa Long Phước, xã Ninh Quang, tỉnh
Khánh Hòa, dùng mọi phương tiện thích ứng hướng dẫn hậu sinh mê mờ quay về
chánh đạo.
Trong phong trào đấu tranh của Phật giáo miền Nam vào năm 1963 đòi tự do
tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo, tuy tuổi đã già, Ngài vẫn tích cực tham
gia. Chính sách kỳ thị tôn giáo và đàn áp Phật tử của Ngô Ðình Diệm ngày
một nặng nề và khốc liệt. Máu Phật tử đã đổ ở Ðài Phaùt Thanh Huế. Chùa
chiền bị phong tỏa, Phật tử bị bắt bớ khắp nơi. Ðể thức tỉnh ông Ngô Ðình
Diệm và tập đoàn của ông đang đắm chìm trong vô minh sớm thỏa mãn 5 nguyện
vọng của Phật giáo đồ, đồng thời để cho thế giới nhaän thấy cuộc đấu tranh
đòi tự do tín ngưỡng của Phật tử Việt Nam là chính đáng, ngày 20 tháng 4
năm Quý Mão, tức ngày 11-6-1963 Ngài đã thực hiện tâm nguyện là thiêu đốt
nhục thân để cúng dường và bảo vệ Ðạo pháp.
Từ một cuộc diễn hành của trên 800 vị Thượng tọa, Ðại đức, Tăng Ni và Phật
tử từ chùa Phật Bửu đến chùa Xá Lợi, khi đoàn diễn hành tiến đến ngã tư
đường Phan Ðình Phùng và Lê Văn Duyệt (nay là đường Nguyễn Ðình Chiểu và
CMT8), Ngài từ trên xe hơi bước xuống, tự tẩm xăng thấm ướt mấy lớp cà sa,
ngồi kiết già xuống mặt đường, tự châm lửa giữa hằng mấy trăm Tăng Ni đang
vây quanh chấp tay cầu nguyện. Ngọn lửa bốc cao, phủ kín thân mình, Ngaøi
vẫn an nhiên chấp tay tĩnh tọa.
Gần 15 phút sau, lửa tàn và Ngài ngã xuống, tay vẫn còn quyết ấn tam muội.
Nhục thân của Ngài được đưa vào lò điện thiêu đến 4.000 độ - xương thịt
cháy tiêu hết. Duy chỉ có trái tim của Ngài vẫn còn nguyên, được thiêu lần
thứ hai vẫn không cháy.
Cái chết phi phàm của Bồ Tát Thích Quảng Ðức đã làm chấn động dư luận khắp
hoàn cầu. Báo chí thế giới đăng tin lên trang đầu cùng hình ảnh tự thiêu
của Ngài. Việc Ngài tự thiêu, được đồng bào cả nước biết ngay chiều hôm
đó, và đã gây xúc động sâu xa trong mọi tầng lớp, không phân biệt tôn
giáo. Sự hy sinh vì đạo của Ngài đã làm cho Ngô Ðình Diệm vô cùng hoảng
hốt và lo sơï, tìm mọi cách đối phó với Phật giáo bằng những thủ đoạn thâm
độc hơn, đồng thời nó cũng đẩy mạnh phong trào đấu tranh của Phật giáo
cuồn cuộn như sóng thần để đi đến kết thúc là ngày 01-11-1963 chế độ độc
tài, gia đình trị của họ Ngô sụp đổ, Phật giáo Việt Nam thoát qua một pháp
nạn.
Trước khi tự thiêu, Ngài có để lại một bức thư gọi là “Lời nguyện tâm
huyết”, nói rõ chủ định và nguyện vọng của Ngài. Ðiều đáng ghi nhớ là toàn
vaên bức thư này đã không chứa đựng một mảy may hận thù và tuyệt vọng nào,
mà trái lại còn toát lên tình thương và hy vọng:
“Tôi pháp danh Thích Quảng Ðức, trụ trì chùa Quan Thế Âm, Phú Nhuận, Gia
Ðịnh.
Nhận thấy Phật giáo nước nhà đang lúc nghiêng ngửa, tôi là một tu sĩ mệnh
danh là Trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho
Phật giáo tiêu vong, nên tôi vui lòng phát nguyện thiêu thân giả tạm này
cúng dường chư Phaät để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo.
Mong ơn mười phương chư Phật, chư Ðại đức, Tăng Ni chứng minh cho tôi đạt
thành ý nguyện sau đây:
1/ Mong ơn Phật Tổ gia hộ cho Tổng thống Ngô Ðình Diệm sáng suốt chấp nhận
năm nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt nam ghi trong bản tuyên ngôn.
2/ Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường tồn bất
diệt.
3/ Mong nhờ hồng ân đức Phật gia hộ cho chư Ðại đức, Tăng Ni, Phật tử Việt
Nam tránh khỏi nạn khủng bố, bắt bớ, giam cầm của kẻ ác gian.
4/ Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc...
Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gửi lời cho Tổng
thống Ngô Ðình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với Quốc dân và thi hành
chánh sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thuở.
Tôi thiết tha kêu gọi chư Ðại đức, Tăng Ni, Phật tử nên đoàn kết nhất trí
để bảo toàn Phật pháp”.
NAM MÔ ÐẤU CHIẾN THẮNG PHẬT.
Tỳ Kheo Thích Quảng Ðức Kính bạch.
Ngoài ra, Ngài còn để lại năm bài kệ, dặn dò bổn đạo và đệ tử sống theo
Bát chánh đạo và Lục hòa, đoàn kết và giữ vững niềm tin trong đạo pháp.
Cũng như ở miền Trung, hai mươi năm hành đạo ở miền Nam, Ngài đã khai sơn
và đại trùng tu được 17 ngôi chùa. Cảnh chùa cuối cùng Ngài trú trì là
chùa Quan Thế Âm, tại Gia Ðịnh, Sài Gòn.
Ðể ghi nhớ công hạnh của Ngài, sau khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất ra đời, Hội đồng Lưỡng viện Tăng Thống và Hóa Ðạo trong một phiên họp
trước ngày Phật Ðản năm 1964, đã đồng thanh quyết nghị suy tôn Ngài pháp
vị BỒ TÁT. Sau ngày đất nước thống nhất. Nhà nước dùng pháp hiệu của Ngài
đặt tên cho đường Nguyễn Huệ cũ chạy qua trước chùa Quan Thế Âm là đường
Thích Quảng Ðức, quận Phú Nhuận.
Quả tim Bồ Tát Quảng Ðức là một chứng minh cụ thể cho tấm lòng của muôn
người con Phật luôn yêu chuộng hòa bình tự do và bình đẳng nhưng cũng bất
khuất trước nạn cường quyền và áp bức. Trái tim ấy trở thành biểu tượng
tinh thần của Phật giáo Việt Nam và là trái tim của nhân loại đã và đang
đấu tranh mãi cho tự do hòa bình, hạnh phúc nhân sinh.
HÒA THƯỢNG
HẢI ÐỨC-THÍCH
PHƯỚC HUỆ
(1875 - 1963)
Hòa thượng thế danh Nguyễn Văn Cự, pháp danh Ngộ Tánh, tự Hưng Long, hiệu
Phước Huệ. Sanh ngày mồng 8 tháng 4 năm Ất Hợi (1875) triều Tự Ðức thứ 28.
Tại làng Trung Kiên, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Gia đình họ Nguyễn của Ngài từng có truyền thống khoa bảng và chịu ảnh
hưởng nếp sống Phật giáo qua nhiều đời, trong năm đời có đến sáu vị xuất
gia và đã trở thành những danh Tăng có nhiều công hạnh. Nội tổ của Ngài là
cụ Nguyễn Văn Bình, đỗ tam khoa Tú tài, từng có công mở mang hương lý,
được dân làng tôn vinh và liệt vào hạng “Hậu hiền khai khẩn”.
Thân phụ Ngài là ông Nguyễn Văn Khanh, từng được triều đình bổ làm quan
tỉnh Bình Thuận. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Từ, người làng Diên Khánh,
huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
Năm Canh Dần (1890), Ngài 16 tuổi thì mẹ mất, sau đó Ngài theo thân phụ
vào Bình Thuận nhậm chức. Khi đi ngang địa phận Nha Trang, thân phụ bỗng
dưng phát bạo bệnh, phải xin tá túc nơi ngôi chùa nhỏ mang tên Hải Ðức.
Sau đó người cha qua đời, Ngài phaûi nhờ đến nhà chùa lo liệu việc mai
táng.
Sau khi lo chôn cất phụ thân xong, là thiếu niên tứ cố vô thân nơi đất
khách, Ngài phải tự kiếm sống bằng cách vào rừng đốn củi nuôi thân và
hương khói cho cha. Phụ giúp việc chùa, mỗi tối Ngài cùng chư Tăng đọc
kinh, từ đó cơ duyên Phật pháp đã bắt đầu đi sâu vào tâm thức Ngài giữa
lứa tuổi thiếu niên nhiều mơ ước.
Không lâu sau, nhận thấy con đường giải thoát với nếp sống và phẩm hạnh
của người xuất gia mới là cứu cánh và có thể báo hiếu tròn vẹn mang nhiều
ý nghĩa nhất. Ngài quyết định đảnh lễ cầu xin xuất gia với Tổ Viên Giác
(trụ trì chùa Hải Ðức), được Tổ ban pháp danh là Ngộ Tánh. Vốn có căn bản
Nho học từ thuở nhỏ và được gia đình hướng dẫn cách tiếp cận những tinh
hoa Phật Ðà, trong thời gian hành Ðiệu, chấp tác Ngài đã vượt trội các bạn
đồng sư nên sớm được Bổn sư ban cho pháp tự là Hưng Long.
Năm Giáp Ngoï (1894), 20 tuổi, Ngài xin Tổ Viên Giác cho dời hài cốt phụ
thân về kinh và cải táng tại núi Thiên Thai, bên cạnh Tổ đình Thuyền Tôn.
Sau đó Ngài tiếp tục đến cầu học với Tổ Từ Hiếu. Cùng năm này, Ngài được
thọ giới tại Ðại giới đàn chùa Báo Quốc, do Tổ Hải Thuận, Tăng Cang chùa
Diệu Ðế làm Ðường đầu Hòa thượng.
Năm Kỷ Hợi (1899), lúc 25 tuổi, Ngài xin phép được lập thảo am nhỏ để tu
trì đồng thời có nơi phụng thờ song thân, tại làng Bình An cách chùa Từ
Ðàm về phía Ðông gần một cây số. Lấy hiệu là Hải Ðức Am ( sau này là chùa
Hải Ðức, đường Nam Giao - Huế).
Năm Giáp Thìn (1904), Ngài đắc pháp với Hòa thượng Tâm Truyền (trụ trì Tổ
đình Báo Quốc - Huế), pháp hiệu là Phước Huệ với bài phú kệ như sau:
Thượng thừa Phật Tổ chấn tôn phong
Phó kệ truyền đăng pháp pháp đồng
Thiện quả viên thành tăng Phước Huệ
Tương kỳ đạo đức vĩnh Hưng Long.
Cũng năm này, Ngài nhận chức trụ trì chùa Kim Quang (làng An Cựu - Huế) do
bà Từ Minh, Hoàng Thái Hậu đời vua Thành Thái kiến lập. Do đó vua Thành
Thái có cơ duyên được gần gũi và nghe pháp nơi này, từ đó cảm mến và rất
quý trọng Ngài.
Năm Giaùp Dần (1914), Ngài trở lại Nha Trang để thăm Bổn sư, nhưng khi đến
nơi thì Tổ Viên Giác đã viên tịch lâu rồi ! Trong khi đó chùa Tổ lại xiêu
vẹo, hoang tàn, không một bóng Tăng chúng. Ngài liền ra sức vận động trùng
tu laïi ngôi chùa và không lâu sau chùa Hải Ðức đã thực sự trở thành một
đạo tràng thanh lịch giữa Thành phố Nha Trang.
Năm Giáp Tý (1924), đã 50 tuổi, Ngài được Chư sơn tỉnh Khánh Hòa suy tôn
làm Ðường đầu Hòa thượng tại Ðại giới đàn Nha Trang.
Sau đó Ngài trở lại Huế, biến am Hải Ðức thành ngôi chùa nguy nga tráng lệ
ở đất Thần kinh như ngày nay.
Năm Giáp Tuất (1934) Ngài về nơi sinh quán tỉnh Quảng Trị vận động trùng
tu ngôi Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang ở làng Ái Tử, công việc trùng tu mất hơn
bốn năm mới hoàn thành. Ðó là năm Canh Thìn (1940), sau khi khánh thành Tổ
đình Tịnh Quang, Ngài được Giáo Hội tỉnh Quảng Trị thỉnh làm Ðường đầu Hòa
thượng trong Ðại giới đaøn của tỉnh. Cũng trong năm đó, vua Bảo Ðại ban
chiếu chỉ cử Ngài làm Tăng Cang Tổ đình Báo Quốc.
Thời gian từ năm 1941 đến 1945, Ngài liên tục đảm nhận chức Trị sự trưởng
Giáo hội Tăng già tỉnh Thừa Thiên.
Trong xu thế chung của Phật giáo nước nhà, công việc chấn hưng cũng là mối
bận tâm không nhỏ nơi Ngài. Vì thế, Ngài chọn Thượng tọa Bích Không, là
một người am tường nhiều sở học, hỗ trợ Ngài thực hiện các Phật sự quan
trọng. Ðầu tieân là dời chùa Hải Ðức từ thành phố Nha Trang lên núi Trị
Thủy nằm ở ngoại ô thành phố, thuộc làng Phước Hải, cách cửa biển Nha
Trang một cây số để tiện việc quy tụ Tăng Ni tu học và mở rộng khi cần.
Công việc dời chuøa ấy được tiến hành trong năm Quý Mùi (1943) và ngôi
chùa đã trở thành một cơ sở đào tạo quan trọng rất lừng danh là Phật Học
Viện Hải Ðức - Nha Trang sau này.
Năm Tân Mẹo (1951), Ngài đến thăm bạn đồng môn là Ngài Phổ Nhãn, đang trụ
trì Tổ đình Thiên Bửu. Ngài đã vận động Ngài Phổ Nhãn tiến cúng ngôi Tổ
đình cho Giáo Hội Ninh Hòa, làm trung tâm hoằng dương chánh pháp nơi địa
phương. Sau đó hai Ngài cùng vận động trùng tu lại Tổ đình. Năm Giáp Ngọ
(1954) khi khánh thành Tổ đình Thiên Bửu, Giáo Hội Ninh Hòa khai mở Ðại
giới đàn tại đây và cung thỉnh Ngài làm Ðường đầu Hòa thượng,.
Năm Bính Thân (1956) Ngài đã ký văn bản tiến cúng chùa Hải Ðức Nha Trang
cho Giáo Hội Trung Phần làm nơi đào tạo Tăng Ni. Văn bản đề ngày 27.7 và
ngày 29.9 là lễ bàn giao. Do yêu cầu thiết yếu của công việc đào tạo,
hướng về tương lai phồn thịnh mọi mặt, nên Ngài đã không ngần ngại quyết
định một cách nhanh chóng như thế.
Năm Nhâm Dần (1962), Ngài trở ra Quảng Trị kiến thiết tượng đài Quan Thế
Âm tại Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang.
Trong cuộc đời hoằng hóa của Ngài, 70 năm trải đều trên con đường xuyên
Việt, từ Trị Thiên đến Khánh Thuận. Ngoài những việc làm tích cực mang ý
nghĩa đạo pháp to lớn, Ngài còn để tâm đến những việc nhỏ khác. Tiêu biểu
cho những vịệc làm ấy như sau:
- Ðể bầu ra được Ban Quản Trị Tổ đình Báo Quốc, Ngài phải đứng đầu phiên
họp của Hội đồng Sơn môn Tăng già Thừa Thiên ngày 4 tháng 4 năm Mậu Tý
(1948).
- Ngài đã vận động các vị Tỳ Kheo còn nặng nợ trần, nhanh chóng giao trả
Tổ đình Từ Ðàm lại cho Giáo hội.
- Ðại trùng tu chùa Kim Quang ở An Cựu - Huế.
- Chứng minh và cổ động cho việc trùng hưng chùa Phổ Ðà, Ðà Nẵng.
- Chùa Phật Quang - Thị xã Phan Thiết cũng được Ngài tận tình chiếu cố.
Ngoài ra, có một thời gian Ngài tranh thủ ra Bắc học thêm Pháp môn Mật
Tông, do đó, Ngài đã từng chữa lành bệnh cho không ít người tìm đến, nhất
là bệnh tâm thần.
Trong sự nghiệp nhiếp hóa đồ chúng, tiếp dẫn hậu lai, Ngài đã đào tạo được
một tầng lớp đệ tử tiêu biểu sau:
Hòa thượng Bích Phong (1900-1968), trụ trì chùa Quy Thiện và kế thừa Tổ
đình Báo Quốc.
Hòa thượng Bích Không (1894-1954), nguyên trụ trì chùa Hải Ðức (1943).
Ngoài ra, còn có không ít các vị đệ tử của Ngài là người nước ngoài, đủ
thành phần quốc tịch, đặc biệt trong đó, có một người Mỹ (làm Kỹ sư) tên
Frank M. Bazl, ngày 27-4-1958 đã đến xin nhận Ngài làm cha đỡ đầu trên
bước đường tu học.
Ngài thường hay nói trong những ngày trước khi vieân tịch:
“Ta ra đời nhằm ngày Ðản Sinh của đức Từ Phụ thì sau ta cũng chọn ngày ấy
mà viên tịch”. Ngày mồng 8 năm Quý Mão (1963), Ngài không thấy trang hoàng
cờ phướn để đón mừng Phật Ðản như mọi khi và khi biết Giáo Hội chủ trương
dời ngày lễ Phật Ðản vào đúng ngày rằm, Ngài nói: “Rứa thì ta cũng đợi đến
ngày rằm...”.
Và quả đúng như lời của bậc thánh giả, lúc 11 giờ 30 ngày rằm tháng 4 năm
Quý Mão ( 1963 ). Ngài thị tịch, thọ 89 tuổi, với 68 hạ lạp. Bảo tháp của
Ngài được tôn trí trong khuôn viên chùa Hải Ðức - Huế.
HÒA THƯỢNG
SƠN VỌNG
(1886 - 1963)
Hòa thượng Sơn Vọng(1) Pháp danh Visuddhi Paĩĩo (Thanh Tịnh Tuệ). Sinh
ngày thứ hai, moàng 3 tháng 11 năm Bính Tuất (PL 2428), nhằm cuối năm
Dương lịch 1886, tại Phnô Phrem xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Lợi (huyện Cầu
Ngang hiện nay), tỉnh Trà Vinh.
Ngài sanh trưởng trong một gia đình người Việt gốc Khmer. Thân phụ là ông
Sơn Tân và thân mẫu là bà Sơn Thị Tích. Ông bà cũng như các gia đình gốc
Khmer khác rất sùng tín Phật giáo, một lòng hộ trì và tuyệt đối vững tin
Phật pháp. Vì vậy ngay từ thuở ấu thơ Ngài đã sớm được làm quen với sinh
hoạt tín ngưỡng trong gia đình và các hình thức lễ hội, kể cả học hành tại
ngôi chùa Khmer truyền thống trong vùng.
Năm Kỷ Hợi (1899) 14 tuổi Ngài được đến học chữ Khmer tại chùa
Bodhinàgàràma Raja Malla (chùa cũ) do đích thân Sư Keo trụ trì kèm dạy.
Ðây chính là thuận duyên tấn nhập đầu tiên để Ngài gần gũi với nếp sống tu
hành của những vị xuất gia. Từ đó ngoài những buổi học chữ là các cuộc hội
nhập trong tình thầy trò mật thiết. Nhơø đó ý niệm xuất gia cao đẹp đã
hình thành nơi Ngài một cách vững chắc. Cũng từ ấy khái niệm tình yêu quê
hương đất nước đã bắt đầu trổi dậy khi Ngài nhìn bầu trời mỗi chiều có
cánh diều tuổi thơ của Ngài đang rộng mÂy tắm gió.
Năm Nhâm Dần (1902), lúc này Ngài lên 17 tuổi, đủ sức nhận định mọi diễn
biến chung quanh và bắt đầu ghi đậm vào tâm trí những cảnh cơ cực của
không riêng gì đồng bào Khmer. Cuộc sống vẫn còn nhiều đói khổ, có khi
phải giành nhau từng miếng ăn để sinh tồn. Do đó khi Sư Keo là thầy dạy
chữ của mình vì Phật sự phải về chùa Jaya Satthàratana (Chếc Chrum) trụ
trì, Ngài liền xin phép song thân theo đến đó để xin thọ giới xuất gia.
Liền sau khi xuất gia thọ giới Sa di(2), Ngài được gởi đi tham học giáo lý
với Sư Prak tại chùa Phướng. Ðược một năm Ngài trở lại chùa cũ.
Năm Ðinh Mùi (1907) lúc 22 tuổi Ngài được thọ Tỳ Kheo giới tại chùa
Bodhinàgàràma Ràja Malla (tức chùa cũ). Ðược Hòa thượng Tăng Phô làm thầy
tế độ, Hòa thượng Keo chùa Jaya Satthàratana làm thầy tuyên ngôn, Hòa
thượng Uôk chùa Bodhinàgà làm Thầy Amsàvanàcarva (tức Yết Ma) và được ban
Pháp danh là Brahmasaro, có nghĩa là “Bờ Phạm Hạnh”.
Khi đã trở thành vị Tỳ Kheo, nhiệm vụ càng thêm nặng nề nhất là phải sách
tấn, trau dồi thêm luận lý Phật pháp, Do đó Ngài xin ở lại chùa Chếc-Chrum
(chùa Dòng Chuối) để tiếp tục tham học bốn năm.
Năm Canh Tuất (1910), Ngài lại đến học tại chùa Prèi-Chas thuộc tỉnh
Battambang, Campuchia. Trong vòng một năm nơi đây Ngài chuyên học về Thiền
Chỉ (Samatha Kammatthàna) với Sư Chum.
Năm Tân Hợi (1911), Ngài trở về Trà Vinh, lúc này Ngài đã 28 tuổi, được 7
hạ lạp, Ngài được Tăng đoàn Sư Sãi đề cử trụ trì chùa Dòng Chuối (Jaya-
Satthàratana). Trong trách nhiệm trụ trì, Ngài đã cho trùng tu rất nhiều
công trình hầu giúp ngôi chùa này thêm vững bền với thời gian từ chánh
điện đến giảng đường, trai đường và liêu cốc, kể cả giếng và hồ chứa
nước... Ðó là bước đầu trong dự định biến nơi đây thành trường lớp đào tạo
Sư Sãi theo giáo trình biệt lập và có quy cũ. Ngài đã được sự đồng tình
của Sư Sãi và quần chúng Phật tử, khiến mọi việc đều thành công sớm hơn dự
tính. Cũng nhờ sự ủng hộ đó, Ngài đã thực hiện được ước mơ thỉnh từ
Campuchia bộ Tam Tạng Kinh Luật baèng tiếng Pàli-Khmer về để phiên dịch
phục vụ công việc tu học của Tăng sĩ Phật giáo Khmer Nam bộ. Tuy chỉ mới
thỉnh được 35 quyển do điều kiện đi lại nhằm giữa lúc chiến tranh ác liệt,
nhưng cũng tạo nên tiếng vang rất lớn thời bấy giờ, làm ích lợi lâu dài
cho cộng đồng tu Phật.
Năm Ất Mẹo (1915), Ngài còn giúp xây giảng đường lớn trang trí sửa sang
lại Bồ Ðoàn và tượng Phật lớn. tại chùa Tổ Ràjamala (Trà Vinh). Ngoài ra
Ngài còn giúp trùng tu, sửa sang chùa Cakka ở xã Hiệp Hòa (huyện Cầu
Ngang, Trà Vinh) và chùa Bình Phú (huyện Càn Long, tỉnh Cửu Long).
Năm Kỷ Mùi (1919), thời gian này Ngài tập trung nhiều cho công tác từ
thiện xã hội, góp phần nâng cao mức sống và tạo niềm tin nơi cộng đồng
Khmer Nam bộ. Ngoài việc xây dựng đường sá, nhà cửa cho dân nghèo, Ngài
còn cho xây nhiều hội trường, trường học phục vụ công tác giáo dục trẻ em.
Ðặc biệt tại chùa Dòng Chuối, (Jaya Satthàratana Chếc Chrum), Ngài còn cho
xây một lò hỏa táng phục vụ tang chế theo truyền thống Phật giáo Nam Tông
v.v... Ðó là khoảng thời gian dài Ngài đã tích cực góp phần vào cộng đồng
xã hội, vì nền giáo dục và sinh hoạt của đồng bào Khmer đều chỉ dựa vào
các ngôi chùa mà giáo viên không ai khác hơn là những vị Sư Sãi.
Từ những năm Canh Ngọ (1930) đến năm Canh Dần (1950), Ngài lại tập trung
vào công việc đào tạo Sư Sãi. Vì vậy các giảng đường rộng lớn nơi các ngôi
chùa quanh vùng đã được Ngài đôn đốc xây dựng để dạy tiếng Pàli. Trong đó
có trường sơ cấp Pàli đặt tại chùa Dòng Chuối. Và một giảng đường Pàli
dành riêng cho chư Sư bổn tự cũng được xây lên tại chùa này. Ngài cũng là
một trong nhiều vị Lục Cả trực tiếp đứng ra giảng dạy.
Do những cống hiến mang nhiều ý nghĩa tốt Ðạo đẹp Ðời đó, Ngài được Hội
Phật Giáo tỉnh Sóc Trăng tặng huy hiệu vinh quang. Ðồng thời, Ngài được
Hoàng Thân Sihanouk và đức Tăng Hoàng Vương quốc Campuchia phong tặng huy
hiệu và bằng khen vào năm Mậu Tý (1938). Ngài còn được xem như vị Tăng
Hoàng của tỉnh Trà Vinh, danh xưng này tương đương vị đứng đầu điều hành
mọi hoạt động Phật giáo trong toàn tỉnh.
Vào thời chính thể Ngô Ðình Diệm, chủ trương xây dựng ấp chiến lược được
ban ra khiến công cuộc làm ăn sinh sống của bà con nông thôn bị hạn chế
trầm trọng. Chùa chiền bị phong tỏa hoặc bị đập phá. Các Sư Sãi nếu không
rời khỏi nơi tu hành thì bị vu khống đủ điều v.v... Do đó, bằng tất cả uy
tín và đạo hạnh của mình Ngài đứng ra kêu gọi mọi người chống lại. Ảnh
hưởng lời kêu gọi của Ngaøi đã lan rộng khắp miền Tây Nam bộ. Ðặc biệt,
tại tỉnh Trà Vinh ngày 14-9-1960 Ngài đích thân chỉ đạo cuộc biểu tình quy
mô nhất, quy tụ hầu hết Sư Sãi và Phật tử trong tỉnh, yêu sách tôn trọng
chùa chiền, không được bắt Sư Sãi đi quân dịch, không được gò ép nông dân
rời bỏ ruộng vườn, phương tiện sinh sống duy nhất v.v... và yêu sách đó
Ngài đã thành công. Tuy nhiên, sau đó một tuần, ngày 20-9-1960 với hơn hai
mươi ngàn người Kinh lẫn Khmer khắp nơi kéo về hợp cùng năm ngàn người thị
xã Trà Vinh biểu tình đã bị đàn áp thẳng tay làm hơn mười người chết và
hàng trăm người khác bị thương.
Trong quá trình đấu tranh chống độc tài áp bức, Ngài từng giữ chức vụ Phó
Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương MTGPMN Việt Nam ngay từ khi vừa thành lập, Phó
Chủ Tịch Ủy Ban Bảo Vệ Hòa Bình Thế Giới của miền Nam Việt Nam và Cố vấn
Ủy Ban MTDTGP miền Tây Nam bộ.
Năm Quý Mão (1963) mặc dù đang mang trọng beänh, nhưng vì Phật sự cấp bách
Ngài phải đi vận động, kêu gọi Tăng tín đồ bảo vệ chùa chiền và làng ấp.
Nhưng giữa đường kiệt sức và Ngài đã viên tịch khi chung quanh mọi biến cố
đang dồn dập. Hôm đó là ngày 5 tháng 3 năm 1963, Ngài hưởng thọ 78 tuổi.
Do hoàn cảnh chiến tranh Ngài được tạm chôn cất ngay nơi viên tịch. Mãi
đến năm Tân Dậu (1981) nhân lễ Chôl Ch-năm Th-mây mới được môn đồ pháp
quyến đưa về hỏa táng theo đúng truyền thống Phật giáo Khmer Nam bộ và
được tôn thờ tại chùa Dòng Chuối.
Với nhiều công trạng làm lợi đạo ích đời, khi nhục thể đã trở về với tứ
đại, Ngài Sơn Vọng vẫn còn sống mãi trong tinh thần của đồng bào Khmer Nam
bộ, mà hình bóng in đậm ở trăng sao trên trời đêm đêm soi tỏa an lành cả
một vùng đất quê hương truyền thống đạo Phật.
Chú thích :
1) Còn gọi Ðại Ðức Sơn Vọng, theo truyền thống Phật Giáo Theravada Nam
Tông, danh từ Ðại Ðức thường gắn liền mãi về sau cả cuộc đời vị sư.
2) Cũng từ truyền thống đó, ngay sau khi xuất gia đã thọ Sa Di giới.
HÒA THƯỢNG
THÍCH THANH
TÍCH
(1881 - 1964)
Hòa thượng họ Nguyễn, hiệu Phả Minh, pháp danh Thích Thanh Tích, sinh năm
Tân Tỵ (1881) tại thôn Quỳnh Trân, xã Lam Hạ, huyện Duy Tiên, tỉnh Nam Hà
(Hà Nam cũ). Ngài sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho nghèo, có tất cả
4 anh em và có 2 người xuất gia đầu Phật.
Năm 1893, khi lên 13 tuổi, mến cảnh giải thoát nơi chốn Hương Sơn, được
song đường cho phép, Ngài phát tâm xuất gia, y vào Tổ Thanh Quyết trụ trì
chùa Hương Tích Hà Ðông, là một bậc long tượng trong thiền môn, sớm hôm tu
hạnh giải thoát, học đạo xuất trần.
Năm 1898, Ngài được thọ giới Sa Di lúc 18 tuổi và tinh tấn hành đạo, đến
năm 21 tuổi, Ngài thụ giới Cụ Túc. Nhờ tham học nhiều kinh sách Nho học,
Lão học và Phật học, hơn nữa Ngài là người nổi tiếng nghiêm trì giới luật,
ưa hạnh lan nhã nơi chốn núi rừng yên tĩnh của khu danh sơn Hương Tích,
nên trong hàng Tăng chúng ai cũng quí kính mến phục là bậc pháp khí của
Sơn môn.
Năm 1925, Ngài 45 tuổi, được Tổ Thanh Quyết, Tổ thứ 8 Hương Tích cử làm
Giám Viện chùa Hương, hướng dẫn Tăng chúng trong chốn tùng lâm.
Năm 1931, Ngài 51 tuổi, được Tổ truyền trao ngôi trụ trì chùa Hương, tiếp
nối đời thứ 9 sơn môn Hương Tích, khi Tổ cảm thấy tuổi già sức yếu, duyên
hóa đạo đã mãn.
Năm 1934, trong phong trào chấn hưng Phật giáo, Hội Bắc Kỳ Phật Giáo được
thành lập, Ngài được cung thỉnh vào Ban Chứng minh Ðạo sư của hội.
Năm 1938, khi chùa Quán Sứ được trùng hưng, Ngài được Tăng già thỉnh đảm
nhận Thủ quỹ phụ trách hưng công chùa Quán Sứ cùng với các bậc Tôn túc
trong Hội Bắc Kỳ Phật Giáo.
Ngoài việc phát huy danh thắng Hương Sơn, và tham gia công cuộc chấn hưng
Phật giáo của Tăng Già, Ngài còn có công trùng tu trên mười ngôi chùa lớn
nhỏ ở khắp các nơi như: chùa Hưng Long (Quỳnh Trân, Nam Hà); chùa Hương
Trảm (Hội Xá, Mỹ Ðức); chùa Liên Hương (Ðông Bình, Mỹ Ðức); chùa Ðồng
Chiêm (Mỹ Ðức); chùa Huyeàn Công (Khả Phong, Hà Tây); chùa Nguyên Ðoài (Hà
Nam); chùa Châu Lâm (Duy Tiên, Hà Nam) v.v...
Song song với việc trùng tu tạo dựng các Tổ đình Tự viện Ngài còn cho
trùng san, in khắc những bộ kinh luật luận nổi tiếng như: Duy Ma Cật kinh;
Giải Thâm Mật kinh; Yết Ma Chỉ Nam; Di Ðà Viên Trung; Pháp Hoa đề cương
v.v...
Với chí nguyện độ sinh, giáo hóa Tăng chúng làm rạng danh nơi Phật Tích.
Ngài đã giáo dưỡng được hơn một trăm đệ tử xuất gia đều tinh thông cả thế
học cũng như Phật Học nổi tiếng như các vị: Tố Liên, Thanh Chân v.v...
Năm 1947, cuộc chiến chống Pháp bùng nổ, Hòa thượng ưu mẫn trước cảnh nước
mất nhà tan, cảm nhận sâu sắc lẽ vô thường nên Ngài truyền trao trách
nhiệm trụ trì lại cho đệ tử là Hòa thượng Thanh Chân, kế thừa đời thứ 10
chốn Tổ Hương Tích trông nom sự nghiệp tùng lâm.
Trong những năm tháng còn lại, Ngài lui về chùa Hưng Long, thôn Quỳnh
Trân, mai danh ẩn tích chuyên lòng tu niệm cầu nguyện vãng sinh cho đến
khi Ngài thị tịch vào ngày 21 tháng 12 năm Giáp Thìn (1964), hưởng thọ 84
tuổi đời, hành đạo 62 năm.
Bảo tháp của Hòa Thượng hiện còn lưu tại chùa Hưng Long, thôn Quỳnh Trân,
Lam Hạ, Duy Tiên, Nam Hà. Suốt quá trình hành đạo, Ngài nổi tiếng là một
bậc mô phạm chân tu, đức độ của Ngài cảm hóa Tăng tín đồ nơi nơi quy
ngưỡng. Âm vang sự nghiệp đó, còn được lưu truyền nơi danh sơn Hương Tích:
“Ðiển hình do tại ư Tổ tràng.
Công nghiệp lưu truyền ư Phật Tích".
HÒA THƯỢNG
THÍCH THIỆN
TÒNG
(1891 - 1964)
Hòa thượng Thích Thiện Tòng, thế danh Nguyễn Văn Thung, sinh năm Tân Mão
(1891) tại thoân Tân Long (nay là xã Tân Bình, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền
Giang). Song thân là cụ Nguyễn Văn Nhựt và bà Võ Thị Ngọt. Gia đình có tám
anh em, Ngài là người con thứ ba. Ngoài ra người em thứ năm của Ngài cũng
xuất gia hiệu laø Sư Phổ Phú.
Gia đình thuộc tầng lớp trung lưu, thân phụ làm nghề Ðông y, tinh thông
Nho học, nên từ nhỏ Ngài đã sớm làm quen với chữ Hán. Năm 12 tuổi Ngài đã
làu thông Tứ Thư, Ngũ Kinh.
Cùng thời gian đó, được song thân dẫn đến chùa Khánh Quới xin cho Ngài quy
y xuất gia với Hòa thượng Phước Chí (húy là Tâm Ba), Bổn sư đặt cho pháp
danh là Thiện Tòng. Vốn sẵn giỏi chữ Nho và bản tính thông minh, chẳng bao
lâu Ngài đã nắm vững những quy taéc thiền môn và kiến thức Phật học cơ
bản.
Vào năm Ất Tỵ (1905) Hòa thượng Phước Chí viên tịch, lúc bấy giờ Ngài còn
là một Sa di. Sau thời gian chấp tác và thọ tang Bổn sư, Ngài xin phép sư
huynh ra đi tham phương học đạo. Ngài tìm đến cầu học với Hòa thượng Thiền
chủ Phước Minh ở Vũng Liêm. Ðược ít lâu, Ngài lại qua Bằng Lắng (cũng ở
địa phận Vĩnh Long) cầu học với Ðại đức Bửu Quang ở chùa Phước Sơn.
Năm Kỷ Dậu (1909), được 20 tuổi, Ngài cùng sư đệ là Quảng Ân đến an cư tại
chùa Sùng Ðức (Chợ Lớn), và thọ đại giới tại trường Hương này.
Năm Tân Hợi (1911), lúc 22 tuổi, Ngài đến an cư tại Tổ đình Ðại Giác (Biên
Hòa). Năm 23 tuổi, an cư tại chùa Long Phước (Vĩnh Long), nơi này Ngài
được cử làm Phó chúng thiền đường.
Lúc bấy giờ ở Chợ Lớn có các vị cao Tăng như Hòa thượng Chơn Hương (chùa
Linh Nguyên), Hòa thượng Thanh Ẩn (chùa Sắc Tứ Từ Ân), Hòa thượng Hoan Hỷ
(chùa Long Thạnh), Hòa thượng Từ Phong (chùa Giác Hải)... khai đàn thuyết
giáo. Ðặc biệt, với ý chí và tinh thần cầu học, Ngài đã cùng một lúc xin
tham dự nhiều nơi cho nên mỗi ngày Ngài phải lặn lội mười lăm, hai mươi
cây số nắng mưa mà vẫn không sờn lòng, thoái chí.
Mùa hè năm Quý Sửu (1913), Ngài an cư tại chùa Sắc Tứ Tam Bảo (Rạch Giá).
Trường Hạ này có Hòa thượng Từ Văn (chùa Hội Khánh, Thủ Dầu Một thường gọi
Hòa thượng Cả) làm Pháp sư. Ngài được cử làm Phó Na thiền đường. Ngài đã
thể hiện tính trách nhiệm và lòng cầu pháp cao độ, nên Hòa thượng Từ Văn
sau khi mãn hạ đã bảo Ngài về chùa mình để Hòa thượng dạy thêm kinh luật.
Nhân đó, Ngài học thêm nghề thuốc với lương y Mai Hữu Thân với dụng ý mai
sau cứu người. Hòa thượng Từ Văn tin tưởng và chọn Ngài làm thị giả. Trong
những lúc lui tới các già lam khắp nơi, và trong mọi vấn đề kiến giải hai
thầy trò rất tâm đắc, nên Hòa Thượng Từ Văn càng tin yêu hơn.
Trên bước đường tu học, Ngài còn gặp được Hòa thượng Chí Thiền (chùa Phi
Lai - Châu Ðốc). Ngài đã đảnh lễ và cầu pháp, được Hòa thượng phú chúc
pháp hiệu Phổ Quảng, pháp danh Hồng Tòng, nối đời thứ 40 dòng Lâm Tế.
Mùa hè năm Bính Dần (1926) trường Hương được mở tại chùa Hội Phước (ấp
Rạch Miễu, xã Tân Thạnh, tỉnh Mỹ Tho) nay thuộc tỉnh Bến Tre. Hòa thượng
Từ Văn được cung thỉnh làm Pháp sư, sau đó Hòa thượng tin tưởng cử Ngài
thay mặt cho Hòa thượng, lúc này Ngài mới 36 tuổi. Mãn hạ, Ngài trở về
thăm Tổ đình Khánh Quới. Sư huynh đang trụ trì Tổ đình đề nghị Ngài làm
trụ trì chùa Long Phước ở xã Phú Luông (nay là xã Long Khánh - huyện Cai
Lậy), nhưng vì khát vọng tham cầu học pháp các nơi, nên Ngài mạnh dạn đề
nghị cho em ruột của mình là Sư Phổ Phú cùng theo về chùa Long Phước để hỗ
trợ nhau.
Tháng 7 năm ấy, Ngài giao chùa Long Phước lại cho Sư Phổ Phú để lên Sài
Gòn, theo lệnh của Hòa thượng Từ Văn, đến trụ trì chùa Trường Thạnh(1) gần
Chợ Mới.
Ngài nhận thấy ngôi chùa này tuy không là danh lam, cổ tự và không đồ sộ
nguy nga, nhưng địa thế nằm ngay giữa trung tâm Sài gòn, thuận lợi cho
việc hoằng hóa theo hướng mới của Ngài. Từ quan niệm đó Ngài dốc lòng biến
chùa Trường Thạnh trở thành một nơi mà nhiều người học Phật hằng biết đến.
Hè năm Ðinh Mẹo (1927), chùa Sắc Tứ Long Hoa ở Gò Vấp tổ chức kiết hạ an
cư. Hòa thượng Chủ hương ở đây chuyên trì kinh Pháp Hoa. Nghe Ngài thường
giảng kinh Pháp Hoa ở trường Hương chùa Hội Phước, nên Hòa Thượng đã tìm
đến tận chùa Trường Thạnh, nơi Ngài đang trụ trì mời Ngài làm Pháp sư.
Năm Kỷ Tỵ (1929), Ngài về chùa Long Phước (Cai Lậy) lập chúc thọ Giới Ðàn
để báo đáp công ơn chư Phật. Ngài thay mặt giới tử địa phương, cung thỉnh
Hòa thượng Từ Văn đến Chứng minh, Hòa thượng chùa Sắc Tứ Long Hoa làm Hòa
thượng Ðường đầu, sư đệ là Quảng Ân (chùa Linh Phước) làm Giáo thọ.
Lúc này phong trào chấn hưng Phật giáo bộc phát mạnh mẽ khắp ba kỳ. Lúc
Ngài giảng kinh ở trường Hương Gò Vấp, Sư Thiện Chiếu có đến gặp Ngài, và
Ngài hứa sẽ tiếp tay trợ lực với chư vị để cổ xúy cho phong trào. Sau đó,
Ngài khuyến khích nhiều Phật tử tham gia hội Nam Kỳ Phật Học, vận động
nhiều người mua tìm đọc tạp chí Từ Bi Âm. Chùa Trường Thạnh lúc ấy còn
nghèo, nhỏ hẹp nhưng lúc nào cũng đón tiếp những tâm hồn đầy nhiệt huyết
đến bàn việc trùng hưng Phật Pháp. Sư Phổ Phú cũng đồng tình với anh mình
nên thường mở những lớp học Phật tại chùa Long Phước, và mời được sư Thiện
Chiếu đôi lần đến tận Long Phước để thuyết giảng giáo lý và các bài học
yêu nước.
Phong trào chấn hưng Phật giáo phát triển được vài năm thì bị tác động từ
nhiều phía, đành tạm thời lắng dịu, Ngài Khánh Hòa chuyển sang thành lập
Hội Lưỡng Xuyên Phật Học, Sư Thiện Chiếu về chùa Hưng Long (Ngã bảy Sài
gòn) viết sách. Còn Ngài thì trụ lại tại chùa Trường Thạnh mở các lớp giáo
lý. Ðể tránh sự theo dõi của mật thám Pháp, nếu có ai hỏi về phong trào
chấn hưng Phật Giáo thì Ngài khéo léo trả lời: “Hiện giờ trong giới Tăng
Già có người nhiều tài đức hơn tôi. Tôi phần vì sức yếu tuổi già lại tài
hèn đức mọn neân phải lựa đường mà đi. Nếu mình không đủ sức quét nhà thì
đừng xả rác”.
Tháng 10 năm Canh Thìn (1940), Ngài đứng ra trùng tu chùa Trường Thạnh,
sau một biến cố nhiều rắc rối đến tận tai Thống Ðốc Nam Kỳ(2). Nhưng cũng
nhờ sự kiện đó, sau lần trùng tu này, chùa Trường Thạnh càng ngày càng
đông đảo Tăng Ni, Phật tử đến lễ bái và học Phật, và là một trong những cơ
sở quan trọng của phong trào Việt Minh ở nội thành Sài gòn.
Sau Cách Mạng Tháng Tám, Ngài chính thức làm cơ sở nội thành cho kháng
chiến. Khoảng năm 1949-1950, phong trào Phật Giáo ở nội thành hoạt động
mạnh. Do đó theo yêu cầu kháng chiến, Hòa thượng Giác Ngộ (ở ngã sáu) cùng
nhiều vị khác tiến hành đại hội thành lập Giáo Hội Lục Hòa Tăng và Lục Hòa
Phật Tử vào ngày rằm tháng hai năm Nhâm Thìn (1952). Ngài được cử làm Ðại
Tăng Trưởng (tương tự chức Tăng Thống) và chủ trương của Giáo Hội này là
tu theo cung cách cổ truyền.
Tháng 10 năm Kỷ Hợi (1959) Ngài lại khởi công nâng cấp chùa Trường Thạnh.
Lúc này Ngài đã 70 tuổi. Trong giai đoạn này, nhiều Tăng sĩ trong chùa đã
thoát ly theo kháng chiến và nhiều vị đã hy sinh.
Biết cơ duyên hoằng hóa đã đến hồi viên mãn, Ngài để lại lời phú chúc hậu
sự. Khuya ngày 3 tháng 3 năm Giáp Thìn (24-4-1964) Ngài nhẹ nhàng viên
tịch. Thọ 74 tuổi đời, 50 tuổi đạo (hưởng được 10 hạ lạp). Tháp Ngài được
tôn trí trong khuôn viên chùa Giác Lâm.
Chú thích :
1) Nguyên ngôi chùa này của vợ chồng ông Hội Ðồng Lương Khắc Minh, chuyển
từ miễu thờ Quan Công thành nơi thờ Phật. Bà Nguyễn Thị Lê là đệ tử của
Hòa thượng Từ Văn, được cử nhiệm vụ trông nom. Sau vì tuổi già sức yếu đã
hướng dẫn Bà Hội Ðồng Minh lên chùa Hội Khánh quy y và đề nghị bà Hội Ðồng
hỷ cúng chùa cho Hòa thượng Từ Văn.
2) Nguyên ông Hội Ðồng Minh làm ăn thua lỗ, bị Chà Chetty kiện phát mãi
tài sản. Năm 1937, trong số tài sản bị phát mãi của ông có chùa Trường
Thạnh. May nhờ ông Phạm Văn Còn là người ở gần chùa, làm ở dinh Thống Ðốc
Nam Kỳ, vốn là bạn văn chương, nhiệt tình giúp đỡ. Ông Hội Ðồng còn nhờ
nhà báo Bùi Thế Mỹ viết bài nêu lên sự kiện và đăng trên một tờ báo Pháp,
trình lên cho Quan Thống Ðốc Pa-Rết xem. Ðể tăng thêm sức mạnh, ông nhờ
đến các người Việt được chính quyền thực dân tin tươûng như ông Hội Ðồng
Khá, ông Huyện Của... nói thêm vào. Kết quả là Thống Ðốc Nam Kỳ cho thành
lập ban Quản Tự chùa Trường Thạnh và cho phép Ban Quản Tự lạc quyên, được
trên 7000 đồng Ðông Dương, để chuộc lại ngôi chùa này.
HÒA THƯỢNG
TĂNG NÊ (NỆ)
(1899 - 1965)
Hòa thượng Tăng Nê sinh năm Kỷ Hợi (1889) tại Kinh Hai, thuộc ấp Vĩnh
Thạnh, xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Rạch Giá (nay là tỉnh Kiên
Giang) là người bản địa gốc Khmer.
Ngài xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, đã đến định cư rất sớm
trước khi người Việt, người Hoa đến. Gia đình qui kính đạo Phật, sống hiền
hòa và cần mẫn với các cộng đồng đến khai hoang mở đất tại Vĩnh Phong này.
Phụ thân Ngài là ông Danh Thô, là tá điền của điền chủ Trần Văn Học. Lao
động cật lực với 1 mẫu 6 ruộng lúa mà mỗi kỳ vụ phải nộp 40 giạ. Vì thế,
khi Ngài sinh ra, cảnh nghèo khổ bần hàn của gia đình như chờ sẵn. Phụ
thân Ngài với cảnh gà trống nuôi con phải làm lụng vất vả thêm bội phần,
để Ngài được lớn lên không đến nổi thiếu thốn như các trẻ em cùng lứa
tuổi.
Một năm trước khi Ngài sinh ra, 1898, Toàn quyeàn Ðông Dương Paul Doumer
đã ra lệnh nạo vét kênh Núi Sập (Thoại Hà) nối Long Xuyên qua Rạch Giá,
với tư cách một ông vua nhỏ, xem thường các Tỉnh trưởng thuộc địa khiến
thực dân khắp Nam kỳ phản đối quyết liệt. Hậu quả cuûa việc giành thuế á
phiện, giành quyền sử dụng nông nô, sở hữu các kênh đào vv... làm bà con
nông dân đã nghèo lại thêm nghèo khổ đến xơ xác. Tình huống đen tối đó cứ
tiếp diễn trong suốt quá trình đô hộ. Ngài được sinh ra và lớn lên trong
một bối cảnh như thế.
Cũng như các gia đình Khmer khác, hoàn cảnh khắc nghiệt không thể làm phôi
phai giá trị tinh thần to lớn của người con Phật là các ngày sóc vọng đến
chùa lễ Phật, nghe giảng giáo lý và học chữ. Khi duyên lành đã đến kỳ đạt
quả, Ngài xuất gia năm Giáp Dần (1914), lúc ấy vừa 15 tuổi.
Năm Bính Thìn (1916), Ngài thọ Sa Di giới tại chùa Chắc Băng, thuộc xã
Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Rạch Giaù.
Ngài tu học tại chùa Chắc Băng cho đến năm Tân Dậu 1921 (22 tuổi) thì thọ
Cụ Túc giới. Hòa thượng Tăng Hô là người thầy đầu tiên của Ngài đã theo
dõi chặt chẽ việc tu học và tiếp tục nâng cao trình độ tri thức cho Ngài,
kể cả dạy thật kỹ chữ Khmer. Vừa tu học, vừa làm thị giả cho Hòa thượng,
Ngài được Hòa thượng đánh giá là xuất sắc và tin tưởng, giao phó Ngài
nhiều công việc quan trọng.
Thấy Ngài có nhận thức tương đối tốt về mọi lẽ, khá sâu sắc khi phân tích
ký ức về thời niên thiếu nhiều biến động theo thời cuộc, cũng như những sự
kiện trong hiện tại... Nên Hòa thượng Tăng Hô truyền dạy tinh hoa Phật học
và không ngần ngại truyền cho Ngài tinh thần yêu nước bên cạnh những việc
mà Hòa thượng đang cống hiến cho cách mạng.
Trước khi Hòa thượng Tăng Hô tịch khá lâu, Ngài đã thực sự sát cánh cộng
sự đắc lực bên Hòa thượng. Thời gian hoạt động đó, Hòa thượng Tăng Hô
đương chức Phó Chủ Tịch Mặt Trận Việt Nam Nam bộ, đồng thời kiêm Chủ tịch
Hội đồng Kỷ luật Sư Sãi Nam bộ. Hai chức vụ quan trọng này khi Hòa thượng
Tăng Hô tịch, Ngài thay thế nhận lấy và hoạt động tiếp tục, gÂy được tiếng
vang và chiếm được sự kính nể trong cộng đồng Phật giáo Khmer Nam bộ thời
bấy giờ.
Vừa tu vừa hoạt động cách mạng một cách tích cực, Ngài luôn giữ vững
truyền thống yêu nước và những tôn chỉ cao cả của giaùo pháp. Trong công
cuộc hoằng hóa, Ngài đã khai mở kiến thức Phật học cho các cư sĩ Phật tử.
Với việc truyền thừa tông chỉ, Ngài đã tiếp Tăng chúng cũng như cho xuất
gia rất nhiều môn đồ. Do đó, Ngài được Tăng chúng vaø đông đảo tín đồ kính
mộ, xem lời nói và sự nghiệp tu hành của Ngài là biểu mẫu chung để hành
thiện tu trì và phụng sự dân tộc. Ðó là trợ duyên cần thiết cho một người
đang rất cần nhiều hậu thuẫn để hoàn thành công việc theo dự tính chung.
Và Ngài đã thành công. Ngài là một nhà sư trí thức, vì đạo vì đời, giàu
lòng nhân từ, bi mẫn và luôn phấn đấu không mệt mỏi cho lý tưởng giải
thoát.
Trong những năm thập kỷ 60, cuộc dấn thân vì dân tộc của Ngài chuyển sang
bước ngoặc mới để có thể đáp ứng được tình thế trước âm mưu thực dân mới,
áp đặt khủng bố khắp mọi nơi, mà nạn nhân trực tiếp không ai khác hơn là
chính những người nông dân nghèo khổ quanh Ngài. Vì thế Ngài là một trong
những vị sư yêu nước tiêu biểu của giới Phật giáo Khmer Nam bộ. Ðể tồn tại
mà thực hiện hạnh nguyện độ sinh, Ngài phải di chuyển chỗ ở liên tục hầu
tránh sự theo dõi của chính quyền mieàn Nam. Từ Cos Ðôn rồi đến Khna
roông... ý chí và tinh thần yêu nước thương người nơi Ngài vẫn thủy chung
trong tấm áo Cà Sa đi theo con đường từ bi của đức Phật và sự nghiệp cách
mạng giải phóng dân tộc.
Năm Ất Tỵ 1965, Hoøa thượng Tăng Nê đã tịch tại chùa Kinh Hai, thuộc huyện
Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. Trụ thế 66 tuổi, trên 50 năm cống hiến cho
đạo bằng hình bóng xuất gia.
HÒA THƯỢNG
HỮU NHIÊM
(1917 - 1966)
Hòa thượng thế danh Hữu Nhiêm, pháp danh Suddhamma Paĩĩă (Tuệ Thiện Pháp),
sinh năm 1917 tại thôn Trâu Trắng, xã Tân Lộc, huyện Thới Bình, tỉnh Minh
Hải, trong một gia đình có truyền thống tu học thuộc cộng đồng Phật giáo
Khmer Nam bộ. Thân phụ Ngài là ông Hữu Nghét, thân mẫu là bà Danh Thị Sóc.
Vì vậy, thuở thiếu thời, Ngài đã sớm quen với các tập tục lễ nghi và cách
sống của nếp đạo, thường xuyên đến các chùa chung quanh vùng để lễ bái,
đọc kinh và học tiếng Khmer với các vị sư tại những nơi đó.
Do gia đình thuộc thành phần nông dân tay lấm chân bùn, Ngài không tránh
khỏi quãng thời gian nhọc nhằn, sớm khuya cùng cha mẹ quần quật với ruộng
đồng, hết sức cơ cực. Nhưng nhờ thiện căn đã sẵn ươm mầm nơi đất đạo, nên
Ngài nhanh chóng phát hiện ra chân lý và đối chiếu với thực tại cuộc sống
Sinh - Già - Bệnh - Chết, nên ý chí tìm cầu giác ngộ giải thoát càng thêm
được củng cố vưõng chắc.
Thuận duyên đến lúc tuổi thiếu niên đầy sinh lực, Ngài đã vượt qua được
những cám dỗ đời thường mà rất ít người có được ở ngay giữa tuổi 19. Ðó là
năm Ất Hợi 1935 tại chùa Trâu Trắng quê nhà, Ngài đã thực thụ trở thành
một người xuất gia. Một bước ngoặt mới đầy ý nghĩa trong cuộc đời Ngài.
Ít lâu sau khi xuất gia, Ngài đã lãnh hội đầy đủ những kiến thức Phật học
cơ bản cần có ở một vị Sa môn. Vì vậy năm 1938 sau khi thọ Cụ Túc giới,
Ngài nhận chức trụ trì chùa Trâu Trắng do Phật tử nơi này thiết tha thỉnh
cầu.
Thời gian làm trụ trì chùa Trâu Trắng, Ngài đã hướng dẫn Phật tử người
Việt gốc Khmer tu tập theo thời khóa nhất định. Ngài mở ngay tại chùa các
lớp dạy chữ Quốc ngữ lẫn Khmer để thế hệ mai sau có cơ duyên tiếp cận và
tham cứu các tạng kinh điển từ nhiều hướng. Riêng bản thân Ngài, ngoài
việc tiếp tục trau giồi phẩm hạnh, bồi nạp năng lực phươùc duyên, Ngài bắt
đầu làm quen với tạng kinh Pàli và tìm mời các vị thầy giỏi về tạng ngữ ấy
về dạy.
Năm 1945, là thời điểm đất nước đang sôi sục đấu tranh chống thực dân xâm
lược. Từ nơi mái chùa Trâu Trắng, Ngài baét đầu tiếp xúc, làm quen với
nhiều cán bộ trong Mặt Trận Việt Minh. Từ đó, Ngài tiếp tế, che giấu không
ít cán bộ chiến sĩ vào địa bàn tỉnh Minh Hải hoạt động.
Năm 1947, Ngài được bầu làm Ủy viên Mặt trận tỉnh Rạch Giá, phụ trách Tăng
sĩ Phật giáo Khmer, Theravàda Nam bộ.
Từ đây, thời giờ của Ngài dành cho Phật sự và hoạt động kháng Pháp sao cho
chu đáo cả đôi bên. Ngài dành ra nhiều thời gian để đi đến tận nơi có Tăng
sĩ Khmer để vận động và khuyên nhủ sách tấn tu học. Ðồng thời tranh thủ sự
ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng người Việt gốc Khmer có tín ngưỡng Phật giáo
thuần túy cho công cuộc kháng chiến chống xâm lược.
Năm 1964, khi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được thành lập, Ngài được cử
giữ chức Phó Chủ Tịch.
Do địa bàn thiên nhiên sông rạch chằng chịt, tràm đước đan xen, nên mọi
dấu chân hoạt động của Ngài cũng được khuất lấp. Mật thám Pháp lẫn Mỹ sau
này không còn cách nào hơn là liên tục dội bom thẳng xuống mái chùa Trâu
Trắng, nơi Ngài trụ trì và tu học. Và lần dội bom cuối cùng chùa Trâu
Trắng đã hoàn toàn tan hoang, kể cả nền đất cũng không còn.
Ngài phải hoạt động vaø tá túc từ chùa này đến chùa khác còn lại trong địa
bàn. Ðôi khi Ngài phải lánh mặt sang tận Campuchia. Có thể nói Ngài là một
trong rất ít vị Hòa thượng gốc Khmer vừa hoạt động Cách Mạng nhiệt tình
vừa dành trọn thời khóa để tu học một cách vẹn toàn.
Ngày 7 tháng 10 năm 1966 trên đường lưu trú, Ngài ghé lại chùa Nhà Máy
(thuộc xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Minh Hải ngày nay). Máy bay
Mỹ sau đợt càn quét chung quanh các cánh rừng tràm, đã không bỏ sót ngôi
chùa này, dội bom nhiều đợt, thiêu hủy hoàn toàn chùa Nhà Máy. Không một
người sống sót, trong đó có Hòa thượng Hữu Nhiêm.
Trước Ngài là Hòa thượng Tăng Nê (1965) cũng có cái chết tương tự đã ghi
đậm trong lòng biết bao đồng bào Phật tử người Việt gốc Khmer nơi vùng Tây
Nam bộ, niềm nuối tiếc, xót xa về một công dân sớm nhận lấy trách nhiệm
cứu nước đồng thời là một tu sĩ thực hành hạnh nguyện giaûi thoát lợi tha.
HÒA THƯỢNG
GIÁC QUANG
(1895 - 1967)
Hòa thượng thế danh là Dương Văn Thêm, sinh năm 1895, trong một gia đình
trung lưu tại Tân Sơn Nhất, Sài Gòn.
Từ thuở nhỏ cho đến lúc trưởng thành, Ngài đã hấp thụ nền giáo dục đậm nét
Nho phong cổ kính có đức tính vị tha, từ ái bao dung.
Mặc dù có một tương lai đầy hứa hẹn trong đời, nhưng Ngài đã sớm giác ngộ
lẽ vô thường, khổ đau nhân thế. Nên năm 1940 Ngài từ bỏ gia đình sang
Campuchia để xuất gia, tầm sư học đạo.
Ðến năm 1945 Ngài trở về Sàigòn và lập chùa Giác Quang ở Bình Ðông - Chợ
Lớn, đây là một trong những ngôi chùa có uy tín trong hệ phái Phật Giáo
Nam Tông Việt Nam. Tại đây Ngài đào tạo nhiều thế hệ Tăng Ni Phật tử cho
hệ phái Nam Tông. Ngài đã cùng với các Ngài Bửu Chơn, Hộ Tông, Thiện Luật,
Tối Thắng, Giới Nghiêm thành lập Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam.
Năm 1957, Ngài được suy cử chức vụ Cố Vấn Ban Chưởng Quản Giáo Hội Tăng
Già Nguyên Thủy Việt Nam và liên tục các nhiệm kỳ tiếp theo cho đến khi
Ngài viên tịch 1967. Ðối với đạo pháp Ngài đã thực hiện hai nhiệm vụ trong
buổi sơ khai của lịch sử Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam vô cùng khó khăn
gian khổ. Ðó là xây dựng cơ sở tự viện đầu tiên của Phật Giáo Nguyên Thủy
Việt Nam và hoằng pháp độ sanh.
Nhiều nhà sư Nam Tông đã trưởng thành từ chùa Giác Quang này, hiện họ đã
đóng góp nhiều công sức trong việc truyền bá Phật Giáo Nguyên Thủy ở Việt
Nam.
Việc du nhập Phật Giáo Nguyên Thủy vào Việt Nam của Ngài là một công đức
vô cùng to lớn. Ngài đã viên tịch vào năm 1967, hưởng thọ 72 tuổi, với 27
năm hành đạo. Tuy Ngài mất đi, nhưng vầng hào quang sự nghiệp đạo pháp của
Ngài vẫn rực rỡ huy hoàng đến muôn sau.
HÒA THƯỢNG
HƯƠNG TÍCH -
THÍCH VẠN ÂN
HÒA THƯỢNG
HƯƠNG TÍCH -
THÍCH VẠN ÂN
(1886 - 1967)
Hòa thượng Thích Vạn Ân thuộc dòng Lâm Tế, tông Liễu Quán, đời thứ 42, húy
Trừng Thành, sinh năm 1886 tại thôn Vạn Lộc, xã Hòa Mỹ, huyện Tuy Hòa,
tỉnh Phú Yên. Xuất thân trong một gia đình Nho phong danh tiếng ở địa
phương. Thân phụ là cụ Nguyễn Chơn Tịnh, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Như
Liên. Cả gia đình đều thâm tín Tam Bảo, có nhiều vị xuất gia danh tiếng.
Chính song thân Ngài đã phát tâm kiến tạo Tổ đình Khánh Long danh tiếng
một thời.
Thuở nhỏ Ngài theo học Nho, nổi tiếng là một nho sinh thông minh, hoạt
bát. Thường ngày Ngài được song thân hướng dẫn lễ Phật, bái sám. Sẵn có
túc duyên, năm 12 tuổi, Ngài quyết chí xuất gia. Ðược song thân cho phép,
Ngài đến cầu pháp với Tổ Nguyên Ðạt chùa Long Tường ở xã nhà và được nhận
làm đệ tử, pháp danh là Trừng Thành.
Năm 21 tuổi (Ðinh Mùi - 1907), Ngài được Bổn sư cho đi thọ Cụ Túc giới tại
Ðại giới đàn chùa Sắc Tứ Long Sơn Bát Nhã ở Tuy An. Kế đó Ngài lại tham
học với Tổ Bát Nhã 5 năm. Năm 26 tuổi, Ngài được mời vào hàng Tam sư làm
Yết ma tại Ðại giới đàn chùa Mông Sơn ở Phan Rang. Với chí nguyện hoằng
pháp độ sanh, Ngài đã vân du hoùa đạo khắp Trung, Nam lên đến Cao nguyên:
Ninh Thuận, Bình Thuận, Biên Hòa, Bà Rịa, Châu Ðốc, Buôn Ma Thuột.
Năm Ðinh Mão (1927), Ngài được mời làm giảng sư tại Phật học đường gia
giáo chùa Giác Hoa tỉnh Bạc Liêu trong 3 năm. Trong thời gian này Ngài đã
có dịp cộng tác với Hòa thượng Khánh Anh, một vị cao Tăng có công lớn
trong việc chấn hưng Phật giáo tại miền Nam. Kế đó Ngài được mời giảng dạy
tại Phật học đường chùa Tây Thiên và chùa Kim Sơn tại tỉnh Ninh Thuận,
đồng thời làm Pháp sư giảng luật tại trường Hương chùa Trùng Khánh ở Phan
Rang.
Năm Ất Hợi (1935), chùa Sắc Tứ Bát Nhã mở trường Hương, an cư kiết hạ.
Ngài được mời làm Thiền chủ. Năm Kỷ Sửu (1949), Ngài được cung thỉnh làm
Ðàn đầu Hòa thượng, tái thí truyền giới tại giới đàn chùa Bảo Sơn - Tuy
An. Năm Ðinh Dậu (1957), Ngài được cung thỉnh làm Yết Ma A Xà Lê tại đại
giới đàn Phật học viện Hải Ðức ở Nha Trang do đaïi lão Hòa thượng Thích
Giác Nhiên chùa Thiền Tôn - Huế làm Ðàn đầu và Hòa thượng Thích Trí Thủ
làm Ðàn chủ.
Tuy Ngài vân du hóa đạo khắp nơi, nhưng nơi thường trú của Ngài trong thời
gian đầu là Tổ đình Khánh Long. Dưới tài khai hóa của Ngài, Tổ đình luôn
luôn tấp nập người Tăng kẻ tục đến cầu đạo, các danh nho trí sĩ đương thời
lui tới vấn đạo tham kinh. Thời gian sau Ngài chọn được một nơi để kiến
lập ngôi già lam mới. Ðó chính là Tổ đình Hương Tích, một nơi xứng đáng là
danh lam thắng tích, có sơn thủy hữu tình, lại thuận đường lui tới học đạo
cho Tăng tục gần xa. Ðây là trụ xứ thứ hai và cũng là trụ xứ chính thức
cho cuộc đời hoằng đạo của Ngài. Do đoù Tăng tín đồ thường gọi Ngài là Hòa
thượng Hương Tích. Chính nơi đây, năm Ất Mùi (1955), môn đồ từ các nơi tập
trung về đây an cư tu học trong ba tháng để có dịp hầu cận Tôn sư cầu ân
pháp nhũ.
Công hạnh hoằng pháp của Ngài đang hưng thịnh thì chiến tranh diễn ra khắp
nơi. Năm 1964, Ngài phải cùng Tăng chúng tạm lánh về Tổ đình Bửu Tịnh tại
thị xã Tuy Hòa nơi đặt trụ sở của Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất Phú Yên. Tỉnh Giáo Hội cung thỉnh Ngài làm Trưởng ban trùng tu Tổ
đình Bửu Tịnh và thừa kế tổ nghiệp ở đây. Cũng trong thời gian này Ngài
được cung thỉnh vào ngôi vị Chứng minh đạo hạnh cho Tỉnh Giáo Hội.
Ngoài việc khai sơn Tổ đình Hương Tích, Ngài còn có công xây dựng mới và
trùng tu trên hai mươi lăm ngôi chùa, có nơi còn di tích, có nơi đã hoang
phế vì thời cuộc. Trong số chùa mới lập, đáng kể là chùa Phi Lai xã Hòa
Tịnh, chùa Cảnh Long xã Hòa Tân, chùa Cảnh Thaùi và Niệm Phật Ðường ấp Nhì
xã Hòa Vinh, chùa Ân Quang xã Hòa Thành, Niệm Phật Ðường thôn Bàn Thạch,
xã Hòa Xuân, chùa Hưng Long thôn Uất Lâm, xã Hòa Hiệp, chùa Liên Sơn và
chùa Thanh Hương xã Hòa Phong, chùa Pháp Võ thôn Mỹ Thành, chùa Châu Lâm
thôn Ngọc Lâm, chùa Quảng Long thôn Quảng Tường, xã Hòa Mỹ, Niệm Phật
Ðường Hồng Ân tại Trung tâm cải huấn thị xã Tuy Hòa.
Về công trình trùng tu tái thiết có chùa Long Sơn thôn Phụng Tường, chùa
Long Thọ thôn Qui Hậu xã Hòa Trị, chùa Mỹ Quang xã Hòa Phong, chùa Hòa
Sơn, Tổ đình Thượng Tiên Thọ Vân xã Hòa Kiến. Ngoài ra Ngài còn chứng minh
khai sơn nhiều chùa ở các tỉnh như chùa Diên Thọ, chùa Bửu Liên, chùa Bửu
Tích, chùa Bửu Tạng tại Phan Rí - Bình Thuận, chùa Từ Ân ở Buôn Ma Thuột.
Trong cuộc đời hoằng pháp lợi sinh của Ngài, đặc biệt là việc Ngài tự tay
góp đá lát bằng mặt đường đèo Xương Cá ở thôn Phú Ðiền, xã Hòa Kiến, giúp
đồng bào địa phương đi lại được dễ dàng, và việc Ngài lập đàn cầu siêu
suốt 7 ngày đêm cho các nạn nhân bị bão lụt năm Giáp Tý (1924) tại thôn Hà
Lò, xã Hòa Hiệp mà mọi người còn ghi nhớ.
Là một thiền sư đức độ, tánh tình bình dị, nhu hòa, bao dung độ lượng,
Ngài lúc nào cũng sẵn sàng tha thứ và tiếp dẫn đồ chúng, không phân biệt
cao hạ thân sơ. Ngài luôn luôn chăm lo trang nghiêm Tổ nghiệp, lân mẫn dạy
dỗ đệ tử, hướng dẫn chúng sinh, đã độ trên năm mươi đệ tử xuất gia và hàng
ngàn đệ tử tại gia trong và ngoài tỉnh. Một số đệ tử xuất gia có uy tín
hiện nay như Hòa thượng Diêu Quang kế thừa Tổ đình Hương Tích, Hòa thượng
Diêu Tâm tọa chuû chùa Phi Lai... Pháp điệt của Ngài khá đông, có nhiều vị
đang đảm nhận Phật sự tại nhiều nơi trong Giáo hội. Ðại Ðức Thích Nguyên
Hương, người đã dùng nhục thân đốt lên ngọn đuốc thứ hai sau Bồ Tát Thích
Quảng Ðức tại Saøi Gòn trong mùa pháp nạn 1963, là pháp điệt gọi Ngài bằng
Sư Ông.
Ngài chuyên hành trì Mật tông và pháp môn Tịnh độ. Hai thời khóa tụng tối
khuya được Ngài thực hiện đều đặn, không hề thay đổi. Hàng ngày nhất cử,
nhất động Ngài đều bắt ấn trì chú và niệm Phật. Công năng hành trì này đã
được kết quả diệu dụng. Nhiều chứng bệnh thầy thuốc bó tay, Ngài đều chữa
khỏi bằng sức gia trì của Mật chú. Tổ đình Hương Tích nhiều khi như là một
bệnh viện đủ các loại bệnh nhân: tâm thần, bệnh con nít, tà nghiệp...
Ðầu tháng 2 năm Ðinh Mùi (1967), biết cơ duyên giáo hóa đã mãn, sự thị
hiện ở đời không còn bao lâu nữa, luật vô thường đã chi phối tấm thân tứ
đại, Ngài cho báo tin các môn đồ ở các nơi về để thầy trò gặp nhau lần
cuối. Rồi đến nửa đêm ngày mồng 8 tháng 2, nhằm ngày vía đức Bổn Sư Thích
Ca xuất gia, Ngài định thần an nhiên thị tịch tại Tổ đình Bảo Tịnh, hưởng
thọ 82 tuổi đời, 61 tuổi hạ. Kim quan của Ngài được đem về quyền táng tại
chùa Ân Quang xã Hòa Thành. Ðến năm Bính Thìn (1976), linh cốt của Ngài
được đem về nhập tháp tại Tổ đình Hương Tích.
HÒA THƯỢNG
THÍCH HUỆ
CHIẾU
(1895 - 1970)
Hòa thượng họ Nguyễn, pháp hiệu là Huệ Chiếu, sanh ngày rằm tháng ba năm
Ất Mùi (1895) tại ấp Vĩnh Lộc, xã Bình Hòa, quận Bình Khê, nay là huyện
Tây Sơn, tỉnh Bình Ðịnh. Thân phụ là ông Nguyễn Chơn Phước, thân mẫu là bà
Ðặng Thị Nhu.
Xuất thân trong một gia đình kính tín Tam Bảo, nên từ nhỏ Ngài thường lui
tới chốn Thiền môn để học tập và nghe pháp, được Hòa thượng Trừng Tâm trụ
trì chùa Vĩnh Lộc (gần nhà của Ngài) dạy bảo những phẩm hạnh cơ bản của
người xuất gia.
Ðến năm 25 tuổi (Kỷ Mùi - 1919), Ngài mới cầu pháp chính thức với Chánh
Nhơn Hòa thượng tại chùa Long Khánh - Qui Nhơn và được trao truyền pháp
danh là Tâm Tịnh, tự Giải Thoát, hiệu Huệ Chiếu. Cũng trong năm ấy, Ngài
thọ Tỳ Kheo Bồ Tát giới với Hòa thượng Chí Hưng chùa Khánh Lâm, tỉnh Bình
Ðịnh. Sau khi đắc giới, Ngài y chỉ với Phổ Huệ Pháp sư để học luật.
Ðến năm Nhâm Tuất (1922) chùa Hưng Long, Bình Ðịnh khuyết vị trú trì nên
Hòa thượng Bổn sư bổ dụng Ngài về đó làm trú trì. Kinh tế của chùa rất eo
hẹp nhưng Ngài vẫn chu toàn trách nhiệm tiếp Tăng độ chúng suốt thời gian
Ngài trụ trì.
Năm Ất Sửu (1925), Ngài làm thư ký tại trường Hương chùa Phước Quang tỉnh
Quảng Ngãi và được Tăng chúng thỉnh làm Giáo thọ.
Sau đó Ngài vào Nam hóa độ, thiện nam tín nữ qui ngưỡng rất đông, nhưng
năm Ðinh Mão (1927) Hòa thượng Bổn sư gọi Ngài về làm Hóa chủ tổ chức
trường Hương (Tăng chúng có đến trên tám mươi vị) tại chùa Long Khánh, Qui
Nhơn.
Năm Kỷ Tỵ (1929), Ngài được Hòa thượng Chơn Niệm chùa Trùng Khánh tỉnh
Ninh Thuận thỉnh làm Thiền chủ cho trường Hương để lãnh chúng tu học trong
ba tháng. Mãn hạ, trường Hương mở giới đàn và thỉnh Ngài làm Yết ma A Xà
Lê.
Năm sau, 1930 Ngài cùng với Hòa thượng Trùng Khánh vào chùa Hiển Long,
tỉnh Vĩnh Long (Nam phần) mở lớp gia giáo trong hai năm do Ngài làm chủ
giảng, chúng Tăng học tập trên bốn mươi vị. Sau đó Ngài trở về Bình Ðịnh.
Năm Tân Mùi (1931), Ngài lo việc đại trùng tu chùa Hưng Long, Bình Ðịnh.
Năm Nhâm Thân (1932), Ngài cung thỉnh chư sơn và triệu tập tín đồ thành
lập Hội An Nam Phật Học. Ngài là một sáng lập viên của Hội Phật Học tại
tỉnh Bình Ðịnh. Sau đó vì chưa có Hội quán nên Ngài đã cổ động kiến thiết
ngôi tiền đường tại chùa Long Khánh để làm trụ sở sinh hoạt của hội.
Năm Giáp Tuất (1934), Ngài cùng Bổn sư vận động mở Phật học đường tại chùa
Long Khánh, Qui Nhơn và thỉnh Quốc sư Phước Huệ làm chủ giảng, chúng Tăng
Trung Nam tham học trên năm mươi vị.
Năm Ðinh Sửu (1937), chùa Thiên Ðức ở Bình Ðịnh khuyết vị trú trì, chư sơn
cung thỉnh Ngài về trú trì chùa ấy. Chùa cũ kỹ đổ nát quá nhiều nên năm
sau (1938 - Mậu Dần), Ngài mở cuộc lạc quyên đại trùng tu ngôi Tổ đình
Thiên Ðức. Sau đó Ngài lại trở về trùng tu chùa Vĩnh Lộc (Bình Khê, Bình
Ðịnh) là nơi sanh trưởng của Ngài.
Năm Kỷ Mão (1939), Ngài thừa lệnh Hòa thượng Bổn sư ra kiến tạo lại chùa
Long Quang thuộc thôn Phú Ốc, tỉnh Thừa Thiên do chính Bổn sư Ngài tức Hòa
thượng Chánh Nhơn khai sơn.
Năm Nhâm Ngọ, (1942), Ngài tổ chức Ðại giới đàn tại chùa Thiên Ðức và được
chúng Tăng cung thỉnh Ngài làm Ðàn đầu thí giới, giới tử thọ Tỳ Kheo có
đến trên một trăm vị.
Năm Quí Muøi (1943), Thượng tọa Giác Tánh mở lớp gia giáo tại chùa Hưng
Long và cung thỉnh Ngài làm Chứng minh Ðạo sư.
Năm Ất Dậu (1945), trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, Ngài được cử
làm Chủ tịch đoàn Phật giáo Cứu quốc do thanh niên Tăng Bình Ðịnh tổ chức.
Dù tình thế an hay nguy, Ngài không lúc nào quên việc đào tạo Tăng tài cho
tương lai Phật pháp. Cho nên cũng trong năm ấy, Ngài triệu tập thanh niên
Tăng mở Phật Học Ðường tại chùa Thiên Ðức và mời các Thượng Tọa Huệ Phước,
Giác Tánh, Tâm Hoàn, Huyền Quang v.v... giảng dạy. Sau vì nhơn duyên khác,
Phật Học Ðường này đã được dời về chùa Thập Tháp.
Năm Ðinh Hợi (1947), Ngài đại diện cho Hội Phật Giáo Việt Nam tại liên khu
5 làm Phó chủ tịch Mặt trận Liên Việt tại liên khu 5. Trong năm đó Ngài
đứng ra triệu tập chư Tăng bốn tỉnh Nam, Ngãi, Bình, Phú, để tổ chức Hội
Phật Giáo Việt Nam liên khu 5 và Ngài được cử làm Chánh Hội trưởng.
Năm Tân Mão (1951), Ngài khai sơn chùa Thiên Chơn tại ấp Kiên Mỹ, quận
Bình Khê, tỉnh Bình Ðịnh, nhưng chùa đã bị chiến tranh hủy hoại. Sang năm
Nhâm Thìn (1952), mặc dù chiến tranh khốc liệt đã tiêu hủy tài sản của
Phật giáo rất nhiều, nhưng Ngài cũng vì đạo pháp cố gắng khai sơn chùa
Thiên Phước thuộc ấp Kiên Mỹ, quận Bình Khê, tỉnh Bình Ðịnh để nối lại
chùa Thiên Chơn đã bị hủy hoại.
Ðến năm Ất Mùi (1955), Ngài lên Kontum khai sơn chùa Trung Khánh thuộc ấp
Trung Lương. Cùng năm ấy, Hội Phật Học Việt Nam tái lập, thỉnh Ngài làm
chứng minh đạo hạnh, và Giáo Hội Tăng Già ra đời, thỉnh Ngài vào hàng
Trưởng lão cố vấn cho Giáo Hội Tăng Già.
Năm Mậu Tuất (1958), Ngài họp môn phái để cải tạo Tổ đình Long Khánh. Năm
sau Kỷ Hợi (1959), Ngài chứng minh cho cuộc đúc kim thân Phật Tổ bằng đồng
cao 2 thước để thờ tại Bửu điện chùa Long Khánh- Qui Nhơn.
Ðến năm Quí Mão (1963), Ngaøi tham gia vào phong trào phản đối chế độ độc
tài Ngô Ðình Diệm. Sau khi chế độ này sụp đổ, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất ra đời, thỉnh Ngài vào hàng Trưởng lão cố vấn của Giáo Hội
Trung Ương.
Cuối năm Giáp Thìn 1964, Ngài lại lo trùng tu chùa Thiên Ðức. Cũng trong
năm đó chiến tranh lan rộng, địa xứ chùa Thiên Ðức bị mất an ninh, vì thế
đến năm Ðinh Mùi (1967), Ngài phải di trú về chùa Long Khánh.
Năm Mậu Thân (1968), Ngài làm Hóa chủ cho Ðại giới đàn chùa Long Khánh và
Hòa thượng Phúc Hộ làm Ðàn đầu thí giới.
Năm Kỷ Dậu (1969), mặc dầu niên lãm đã cao, nhưng vì sự ân cần cung thỉnh
của chúng Tăng nên Ngài đã nhận làm Thiền chủ lớp an cư kiết hạ tại Tổ
đình Long Khánh - Qui Nhơn.
Ngài thị tịch lúc 18 giờ ngày 10 tháng 02 năm Canh Tuất, tức là ngày
17-3-1970. Thọ thế 75 tuổi, hạ lạp 50 năm.
HÒA THƯỢNG
THÍCH MINH
ÐỨC
HÒA THƯỢNG
THÍCH MINH
ÐỨC
(1902 - 1971)
Hòa thươïng Thích Minh Ðức, thế danh Lê Minh Chánh, sinh ngày mùng 1 tháng
6 năm Nhâm Dần (1902) tại xã Phú Ðức, huyện Châu Thành, tỉnh Ðịnh Tường
(nay là Tiền Giang). Ngài sinh trong gia đình thấm nhuần Nho giáo, hiểu
thông y lý, và coù lòng kính tin Phật giáo. Năm 12 tuổi, Ngài theo cụ thân
sinh là Lê Minh, pháp hiệu Như Lan, tự Hoằng Quang, học đạo nơi chùa Long
Ðịnh, Trà Ðãnh, huyện Tri Tôn, tỉnh Long Xuyên.
Năm Mậu Thìn (1928) khi thân phụ qua đời, Ngài tiếp tục nghề y dược của
cha để tế độ quần sanh. Năm này, Ngài vừa 29 tuổi, đã ý thức được những gì
là chân thực, huyễn tạm mà kinh Phật đã phân định. Do đó, Ngài chuyển
thỉnh mẫu thân vào chùa Long Ðịnh (nơi người anh Ngài là Yết Ma Pháp Khánh
đang trụ trì tại đó) để an dưỡng và tu học. Năm Quý Dậu (1933) khi mẹ qua
đời, Ngài đã thực sự bước vào đường tu học bằng hình thức một người xuất
gia.
Năm Giáp Tuất (1934), 32 tuổi, Ngài xin phép sư huynh lên đường tầm sư học
đạo. Trước những biến động thời cuộc, Ngài tìm đến chùa Thiên Thai (núi
Dinh - Bà Rịa) thọ giáo với Tổ Huệ Ðăng. Nơi Tổ đứng ra thành lập Thiên
Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu Hội năm 1935 coù tạp chí Bát Nhã Âm làm cơ
quan ngôn luận ... đang náo nức hoạt động và danh tiếng lan xa.
Sau khi được Tổ Huệ Ðăng nhận làm đệ tử mới, và đặt cho đạo hiệu Thiện
Mẫn, Ngài ở lại đây tu học. Cuối năm ấy Ngài được Tổ cho thọ tam đàn Cụ
Túc giới tại giới đàn chùa Phước Hậu (thị xã Long Xuyên). Giới đàn này do
chính Tổ Huệ Ðăng chứng minh, Ngài Yết Ma Pháp Cự làm Ðường đầu Hòa
thượng.
Năm Bính Tý (1936), Ngài tham dự khóa hạ tại Tổ đình Long Hòa (Bà Rịa).
Lúc mãn hạ có đàn thí giới, Tổ Huệ Ðăng chứng minh, Yết Ma Minh Tâm làm
Ðường đầu Hòa thượng, Ngài được cử làm Ðệ nhất tôn chứng.
Năm Ðinh Sửu (1937), Ngài tham dự khóa hạ tại chùa Giác Hoàng (Cần Thơ),
nhận chức Phó na. Cùng năm này, tại chùa Thiên Long (Biên Hòa) khai đàn
thí giới, chư sơn tôn Ngài làm Giáo Thọ.
Năm Mậu Dần (1938), chùa Thanh Lương (Biên Hòa) khai đàn thí giới, Ngài
được suy cử Yết Ma A Xà Lê. Từ giới đàn này, Tổ Huệ Ðăng nhận thấy sự tu
hành của Ngài càng tăng trưởng, có thể ích lợi cho đạo mạch mai sau. Do đó
Tổ đặt cho Ngài pháp hiệu Minh Ðức.
Năm Kỷ Mẹo (1939), Ngài được bổ xứ trụ trì chùa Hoa Nghiêm (Cần Giuộc),
nơi đây Ngài đã cất một thảo am để hằng năm nhập thất an cư.
Năm Quý Mùi (1943), Hương chức xã Tân Thới Nhứt ngưỡng mộ danh đức nên
thỉnh Ngài về trụ trì chùa Giác Hoàng (Bà Ðiểm). Tại đây ngoài việc hằng
năm tiếp tục kiết thất an cư, Ngài còn tiếp Tăng độ chúng, xây dựng một
giảng đường và nhà Ðông nhà Tây để có nơi cho Tăng chúng tu học. Do hoạt
động tích cực của Ngài, chùa Giác Hoàng trở thành cơ sở quan trọng của
phong traøo chấn hưng Phật giáo; các Ngài Pháp Linh, Thiện Chiếu, Hoằng
Không, Long Quang thường xuyên hội họp tại đây. Bên cạnh việc hoằng đạo
Ngài còn biến nơi đây thành nơi gặp gỡ của không ít cán bộ Cách Mạng,
trong đó có cụ Phạm Văn Ðồng. Do đó khi Cách mạng tháng 8-1945 bùng nổ
chùa Giác Hoàng là nơi hậu cứ quan trọng.
Năm Ðinh Hợi (1947), vâng lệnh Hòa thượng Tam Không (Thích Minh Nguyệt) -
Hội trưởng Hội Phật giáo Cứu quốc Nam bộ, Ngài xuống vùng Chợ Lớn dựng
thảo am để vận động quần chúng ủng hộ kháng chiến. Chọn Bến Hàm Tử là nơi
gần chợ và nhiều dân cư lao động, đồng thời có nhiều tệ nạn xã hội nhất,
Ngài dựng một ngôi chùa nhỏ đặt tên Tăng Phươøng, hiệu Giác Hoàng để thực
hiện nhiệm vụ được giao đồng thời khuyến hóa quần chúng tu tập. Riêng Ngài
hàng năm tại đây, vào mùa kiết hạ, tháng giêng và tháng chín Ngài chuyên
tu “Chuẩn Ðề ngũ hối sám nghi”. Ðây là phương pháp tu mà Ngài cho là chóng
đạt được Phật lực cần thiết để cảm hóa người khác.
Năm Canh Dần (1950), Ngài lên núi Chứa Chan kiết hạ 3 tháng trong Thạch
Ðộng.
Năm Tân Mẹo (1951), Ngài được suy cử Ðường đầu Hòa thượng nhân mùa kiết hạ
tổ chức tại chùa Long An đường Nguyễn Văn Cừ quận 10, thành phố Hồ Chí
Minh ngày nay.
Năm Nhâm Thìn (1952), chùa Giác Hoàng (Tăng Phường) ở Bến Hàm Tử chịu
chung số phận bị hỏa tai với bà con chung quanh. Ngài quyết tâm xây lại
ngôi chùa khác lớn hơn, không xa nền chùa cũ bao nhiêu. Ðó là chùa Thiên
Tôn (ở số 117/9 đường An Bình phường 13, quận 5 ngày nay). Công trình mãi
đến năm Giáp Ngọ (1954) mới hoàn thành. Phòng thuốc từ thiện được Ngài mở
ra ngay tại chùa sau khi xây cất xong.
Năm Ất Mùi (1955), Ngài về thăm lại quê xưa tại núi Nan Di, xã An Hão,
huyện Tri Tôn, tỉnh Long Xuyên, nơi mà thuở ấu thơ Ngài đã xuất gia. Do
chiến tranh tàn phá, chùa Long Ðịnh không còn, Ngài được cư dân chung
quanh hỗ trợ chặt phá cỏ cây để sau đó xây lại ngôi Tổ đình Long Ðịnh đầy
kỷ niệm này. Khi hoàn thành, Ngài cho tiếp độ Tăng chúng về tu học, xây
Tháp cho Tôn sư và lập Bảo đồng cho cố mẫu.
Cũng trong thời gian này, do ảnh hưởng tình hình chung, Ngài được mời tham
gia thành lập Giáo Hội Lục Hòa Tăng cùng với các Hòa thượng Thiện Tòng,
Thành Ðạo, Pháp Nhạc...
Mùa an cư năm Bính Thân (1956), Ngài làm Thiền chủ Giáo Hội Lục Hòa Tăng,
trực tiếp đưa Giáo Hội vào các cao trào đấu tranh của nhân dân. Từ đây cho
đến năm Kỷ Hợi (1959), nhiều cơ sở cách mạng nội thành bị lộ, các hoạt
động đấu tranh của các Hòa thượng cũng bị ảnh hưởng. Sau các Hòa thượng
đứng đầu Giáo Hội bị bắt, các hoạt động của Giáo Hội này cũng ngưng hoạt
động cùng lúc với Trường Phật Học Ðức Hòa, tạp chí Phật Học, nhà in đều bị
đóng cửa... Những bieán động này xảy ra và liên quan đến chùa Thiên Tôn,
nơi tiếp xúc, hội họp của các cán bộ Trung ương và Thành ủy Sài Gòn.
Năm Canh Tý (1960) sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam
ra đời, Ngài trở về chùa Thiên Tôn tập hợp các vị còn lại, khôi phục lại
các hoạt động Giáo Hội từ nhiều cấp .
Năm Kỷ Dậu (1969), hai Giáo Hội Lục Hòa Tăng và Lục Hòa Phật Tử hợp thành
Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền, để huy động lực lượng đảm nhiệm vai trò mới.
Ngài được cử làm Phó Chủ tịch Hội đồng Chỉ đạo Trung ương kiêm Viện trưởng
Viện Hoằng Ðạo.
Cùng năm này, tại chùa Thiên Tôn, Ngài mở ra Phật học viện Minh Ðức và tổ
chức Ðại hội thành lập Tổng Ðoàn Thanh Niên Tăng Ni. Trụ sở được đặt tại
chùa này cho đến năm 1975. Tổng đoàn này trực thuộc Giáo Hội Phật Giáo Cổ
Truyền, có nhiệm vụ “chống Mỹ cứu nước”. Sau đó, Ngài còn mua đất xây dựng
nên ngôi chùa Ðịa Tạng tại xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn.
Năm Tân Hợi (1971) tuổi cao sức yếu, nhiệm vụ với nước và bổn nguyện độ
sanh của Ngài đã viên mãn, Ngài thâu thần thị tịch ngày 8 tháng 7 năm 1971
(nhằm 16 tháng 5 năm Tân Hợi), hưởng thọ 70 tuổi, được 28 hạ lạp.
HÒA THƯỢNG
THÍCH BÍCH
LÂM
(1924 - 1971)
Hòa thượng họ Trần, húy Văn Vinh, pháp danh Chơn Phú, tự Chánh Hữu, hiệu
Thích Bích Lâm. Ngài sinh ngày 24 tháng 11 năm Giáp Tý (1924) tại phường
Ðệ Nhị- Nha Trang- Khánh Hòa, thân phụ là cụ Trần Ðức Tựu, thân mẫu là cụ
bà Trần Thị Ðủ.
Sớm có nhân duyên với Phật pháp, Ngài được Hòa thượng Thích Phước Huệ,
chùa Sắc Tứ Hải Ðức cho quy y ngày 19 tháng 2 năm Nhâm Thân (1932), pháp
danh Chơn Phú. Ðến ngày 15 tháng 10 năm Kỷ Mão (1939), Ngài được Hòa
thượng cho thế độ, phú pháp tự là Chánh Hữu, hiệu Bích Lâm. Năm 1945, Ngài
thọ Tam đàn Cụ Túc tại chùa Sắc Tứ Hải Ðưùc do Hòa thượng Phước Huệ tái
thí, truyền trao giới pháp. Năm 1946 Ngài được đề cử trụ trì Tổ đình Nghĩa
Phương.
Năm Nhâm Thìn (1952) tại Ðại giới đàn Tổ đình Thiên Bửu ở Ninh Hòa, Ngài
nhận làm Tôn chứng sư. Ðến năm Ðinh Dậu (1957) tại Ðại giới đàn Tổ đình
Nghĩa Phương, Ngài làm Giáo thọ A Xà Lê. Sang năm Kỷ Hợi (1959), Ban đại
diện Giáo Hội Phật Giáo Cổ truyền miền Trung tổ chức Ðại giới đàn tại Tăng
học viện (chùa Phước Huệ- Nha Trang), đại chúng suy tôn Ngài làm Ðường đầu
Hòa thượng truyền giới.
Năm Canh Tuất (1970), Ngài được cung thỉnh ngôi Ðường đầu Hòa thượng tái
thí truyền giới tại Ðại Giới đàn chùa Phước Duyên, Diên Khánh, Khánh Hòa.
Với đức tính hiền hòa được các môn đồ đệ tử kính phục, chư sơn hiền đức
mến thương nên giao cho Ngài đảm nhiệm nhiều Phật sự như sau:
- Từ năm 1950 đến 1954: Ngài làm Tổng Thư ký Giáo Hội Tăng Già Cổ Truyền
tỉnh Khánh Hòa.
- Từ năm 1955 đến 1959: Là Tăng giám Trung Việt Giáo Hội Phật Giáo Tịnh Ðộ
Tông Việt nam.
- Từ năm 1960 đến 1968: Ngài đảm nhiệm chức vụ Chánh Ðại diện Trung phần
kiêm Giám đốc Tăng học viện Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền (Lục Hòa Tăng)
miền Trung.
- Từ năm 1969 đến 1971: Kiêm nhiệm chức vụ Phó Viện Trưởng Nội Vụ Viện
Hoằng Ðạo Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền Việt Nam.
Ngài đã thay mặt Ban đại diện Giáo Hội Phật Giáo Cổ Truyền miền Trung đi
tham quan, thăm viếng thân hữu Phật giáo các nước: Thái Lan, Nhật Bản,
Hồng Kông, Ðại Hàn v.v... Ðồng thời muốn có người thừa kế sự nghiệp đạo
pháp nên Ngài đã cho hai đệ tử là Thượng tọa Thích Trí Tâm, Thích Trí Ðưùc
đi đu học tại Nhật Bản.
Ngài đã trùng tu ngôi Tam bảo Nghĩa Phương, từ ngôi chùa nhỏ bé thành ngôi
Già Lam Bửu Ðiện ngày nay và đã khai sơn, trùng tu trên hai mươi ngôi tự
viện tại Khánh Hòa cùng các tỉnh miền Trung.
Theá gian vô thường, có sinh ắt có diệt. Trải qua bao năm tài bồi công đức
nền móng Thích gia, dắt dẫn chúng nhơn gần xa tu học, Ngài viên tịch ngày
24 tháng 11 năm Tân Hợi (1971), trụ thế 48 tuổi, 26 hạ lạp, để lại tang
chung cho môn đồ đệ tử cùng sự luyến tiếc của Tăng Ni, Phật tử đối với một
bậc Tôn đức Tăng tài sớm chuyển nghiệp trần giữa lúc tinh hoa đang phát
chất.
HÒA THƯỢNG
THÍCH MẬT
NGUYỆN
(1911 - 1972)
Hòa thượng thế danh là Trần Quốc Lộc, pháp danh Tâm Như, pháp hiệu Thích
Mật Nguyện, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 43. Ngài sinh ngày 25 tháng 6 nhuận
năm Tân Hợi (19-8-1911) tại làng Phú Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa
Thiên và là con trưởng trong một gia đình năm anh em. Thân phụ là cụ ông
Trần Quốc Lễ. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Hoàng.
Thiếu thời Ngài theo tân học, bản tính hiền hòa vui vẻ. Vốn sinh trưởng
trong một gia đình nề nếp, thành tín Phật giáo, Ngài đã sớm cảm nhận cảnh
thế phù hoa giả tạm. Năm 1926 (15 tuổi) Ngài phát tâm xuất gia, thọ giới
với Hòa thượng Giác Tiên ở chùa Trúc Lâm - Thừa Thiên. Nhờ chuyên tâm và
kiên trì tu niệm, Ngài đã được Bổn sư chính thức làm lễ thế độ thọ Sa Di
giới lúc 18 tuổi (1929), pháp danh là Tâm Như.
Sau một thời gian tinh tấn tu học tại trường Sơn môn Phật học Tây Thiên,
Ngài đã tốt nghiệp cấp Trung học Phật giáo. Năm 1937 (26 tuổi) Ngài được
Bổn sư cho vào Bình Ðịnh thọ giới Tỳ Kheo tại Ðại giới đàn Tịnh Lâm và ở
lại theo học cấp Ðại học Phật giáo với Hòa thượng Phước Huệ tại chùa Thập
Tháp.
Khi còn tu học ở Huế, vào năm 1932, Hội An Nam Phật Học thành lập tại chùa
Trúc Lâm, Ngài được cử làm giảng sư của hội. Năm 1935, do đạo nghiệp tăng
trưởng, Ngài đã được Bổn sư phú pháp một bài kệ như sau:
Tâm như Pháp giới như
Vô sanh hạnh đẳng từ
Nhược năng như thị giải
Niệm niệm chứng vô dư.
Năm 1946, Ngài khai sơn chùa Bảo Tràng Huệ Giác tại Hòa Tân, Bình Ðịnh.
Chùa này đã bị chiến tranh phá hủy hoàn toàn. Trở về Thừa Thiên, Ngài được
Sơn môn cung thỉnh trú trì chùa Linh Quang ngày 10-4-1946 (được 35 tuổi).
Ðầu năm 1951 Ngài đảm trách chức vụ Chánh Trị sự Sơn môn Tăng già Thừa
Thiên, và cuối năm ấy lại được mời làm giảng sư tại Phật học đường Báo
Quốc. Năm 1954 Ngài được cử giữ chức Trị sự trưởng Sơn môn Tăng Già Trung
Việt liên tiếp trong nhiều nhiệm kỳ.
Năm 1957 với ý nguyện phát triển cơ sở để dìu dắt hàng Phật tử về với đạo
pháp, Ngài khai sáng chùa Từ Hàng Quan Âm tại quận Nam Hòa, một vùng cận
sơn thuộc tỉnh Thừa Thiên. Chùa này hiện vẫn còn. Ngày 10-9-1959 Ðại hội
Giáo hội Tăng già toàn quốc kỳ II tại chùa Ấn Quang ở Sài Gòn đã công cử
Ngài giữ chức vụ Trị sự phó Giáo Hội kiêm Trưởng Ban Nghi Lễ.
Năm 1960, nhaän thấy Phật sự ngày càng nhiều, Phật tử lui tới ngày càng
đông, mà chùa Linh Quang quá chật hẹp, Ngài đã khởi xướng việc trùng tu
chùa và đạt kết quả tốt đẹp.
Năm 1963 Ngài đã lãnh đạo Phật giáo đồ Thừa Thiên - Huế đấu tranh đòi thực
thi năm nguyện vọng chính đáng của Phật giáo Việt Nam. Trong đêm 20-8-1963
chính quyền Ngô Ðình Diệm xua quân tấn công các chùa, đàn áp Tăng Ni, Phật
tử, Ngài bị bắt và áp chuyển vào Sài Gòn cùng với một số Tôn đức khác
trong hàng lãnh đạo.
Năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, Ngài được mời giữ
chức Phó Ðại diện miền Vạn Hạnh kiêm Tỉnh Giáo Hội Thừa Thiên. Năm 1965
Ngài làm đàn chủ trong Ðại giơùi đàn Vạn Hạnh tổ chức tại chùa Từ Hiếu -
Huế với trên 100 vị giới tử xuất gia và 1.200 vị tại gia. Cũng năm này,
Ngài được mời vào Ban giảng huấn viện Cao Ðẳng Phật Học Sài Gòn. Ngài rất
chú tâm vào việc đào tạo Taêng tài, nên năm 1967 Ngài đứng ra tổ chức lớp
chuyên khoa nội điển Liễu Quán tại chùa Linh Quang. Ngài làm Giám đốc và
chủ giảng lớp học này liên tiếp trong 4 năm.
Mùa xuân 1968 Ngài được Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất công cử vào
chức vụ Chánh Ðại Diện miền Vạn Hạnh kiêm Chánh Ðại Diện tỉnh Thừa Thiên
và thị xã Huế. Năm 1970, Ngài khuyến khích mở lớp chuyên khoa nội điển tại
Phật Học Ni Viện Diệu Ðức - Huế. Cũng năm ấy, Ngài nhận làm cố vấn Ðại
giới đàn Vĩnh Gia tại Ðà Nẵng.
Trách nhiệm nặng nề của cấp lãnh đạo Giáo hội tại miền Vạn Hạnh và tỉnh
Thừa Thiên - Huế đã chiếm nhiều thì giờ và sức lực của Ngài trong việc đối
nội và đối ngoại. Nhưng Ngài vẫn không quên công tác xã hội, từ thiện.
Ngài đã kiến thiết cô nhi viện, dưỡng lão đường, bệnh xá để có nơi an trú
và thuốc men cho những đồng bào không may gặp cảnh khó khăn, đau khổ. Ngài
còn khuyeán khích xây dựng những Niệm Phật Ðường tại các bệnh viện, lao
xá, các trại tàn tật, các đơn vị quân đội để những nơi này Phật tử có thể
thường xuyên tụng niệm và lễ bái. Ngài đặc biệt lo việc cứu trợ chiến nạn
và thiên tai. Ngài còn khuyến khích các nhà thiện nguyện tạc tượng, đúc
chuông, ấn tống kinh sách và lưu động đến các vùng xa xôi mở các buổi
thuyết giảng giáo lý.
Ngoài ra, Ngài còn để tâm viết bài đăng trên các nguyệt san tạp chí Phật
giáo xuất bản tại Huế như Viên Âm, Giác Ngộ, Liên Hoa v.v... để phổ biến
giáo lý, hướng dẫn bao người quay về với chánh pháp để chung lo việc phục
hưng và bồi đắp cho nền đạo giáo của dân tộc ngày một phát triển. Ngài còn
dịch các kinh tạng như kinh Giải Thâm Mật, kinh Vô Lượng Thọ, Tân Duy Thức
Luận (của Thái Hư).
Vì lao tâm lao lực lo toan Phật sự, nên vào cuối đời Ngài lâm bệnh, có
thời gian phải vào Sài Gòn điều trị. Tuy vậy Ngài vẫn luôn luôn nghĩ đến
Giáo Hội và Phật tử, xem nhẹ thân mình, đã tạm gác việc chữa bệnh và trở
về cố đô tiếp tục Phật sự. Ðến ngày mồng 10 tháng 7 năm Nhâm Tý, Phật lịch
2516 (18-8-1972) vào lúc 9 giờ 30' Ngài đã viên tịch, hưởng thọ 62 tuổi
đời, với 40 tuổi hạ.
Hòa thượng Thích Mật Nguyện là một cột trụ quan trọng trong ngôi nhà Phật
pháp, một vị hộ pháp đắc lực của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam trong những
ngày đầu của phong trào phục hưng, một thành viên cơ yếu của Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất. Với đức hy sinh cao cả, Ngài đã vượt qua mọi khó
khăn để gánh vác những Phật sự lớn lao. Nhờ ý chí bền vững, cùng tâm hồn
hỉ xaû, vị tha, Ngài đã khéo nhẫn nhục, dung hòa mọi dị kiến để hòa đồng
với mọi tầng lớp trong Tăng giới cũng như hàng cư sĩ để hoàn thành sứ mạng
“Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh” của một Như Lai sứ giả.
HÒA THƯỢNG
THÍCH HẢI
TRÀNG
(1884 - 1972)
Hòa thượng thế danh Võ Văn Nghiêm, pháp danh Giác Trang, hiệu Hải Tràng
thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông, đời thứ 41, sinh năm Giáp Thân (1884) tại
làng Tân Quí, tổng Phước Ðiền Thượng, tỉnh Chợ Lớn. Thân phụ là cụ ông Võ
Văn Nghĩa, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tín. Ngài sinh trưởng trong một gia
đình tín ngưỡng Tam Bảo thuần thành. Thân phụ Ngài là một vị hương chức
trong làng, lúc tuoåi ngũ tuần xin từ chức để xuất gia hiệu là Thanh Châu,
đến 75 tuổi được phong Giáo thọ, sáng lập chùa Vạn Phước tại làng Tân
Chánh, huyện Hốc Môn, Sài gòn. Ngài có hai anh em trai, người anh cả xuất
gia được tấn phong Hoøa thượng, hiệu Chơn Không.
Năm lên 16 tuổi (1899) được song thân chấp thuận, xuất gia tại chùa Long
Huê - Gò Vấp làm đệ tử Hòa thượng Thích Từ Huệ, được Ngài ban pháp danh
Giác Trang, pháp hiệu Hải Tràng. Năm Ngài 25 tuổi (1908) Hòa thượng Bổn sư
cho tấn đàn thọ Cụ Túc giới. Sau đó Ngài được gửi đến chùa Long Phước ở
Vĩnh Long, rồi đến chùa Tân Long ở Sa Ðéc để tham học giáo điển. Nhờ
chuyên cần tinh tấn theo học suốt tám năm, kiến thức càng mở rộng, đạo
hạnh càng tăng tiến, nên Ngài càng được chư Tôn đức mến thương.
Năm Ngài 30 tuổi (1913) Hòa thượng Chơn Hội, Sư tổ chùa Thanh Trước ở Gò
Công viên tịch, Ngài được Hòa thượng Bổn sư giới thiệu kế vị làm trú trì
Tổ đình Thanh Trước. Thời gian này Ngài thường đi các tỉnh Hậu Giang để
giảng dạy kinh Pháp Hoa, ngoài những buổi giảng dạy tại chùa trụ xứ.
Năm 1922, Ngài mở khóa Kiết hạ an cư tại chùa Thanh Trước và cho khắc bản
in kinh Pháp Hoa được 200 bộ. Cũng mùa an cư này, có tổ chức Ðại giới đàn,
chư tôn Trưởng lão cung thỉnh Ngài lên ngôi vị Ðàn đầu Hòa thượng. Sau khi
mãn hạ, Ngài cho trùng tu chùa Thanh Trước, tạo nơi đây thành một danh lam
thắng cảnh của tỉnh Gò Công.
Năm 50 tuổi (1934), vì bản hoài Tịnh Ðộ, Ngài giao chùa Thanh Trước lại
cho đệ tử, rồi về huyện Ðức Hòa lập am tu tịnh nghiệp mong ngày vãng sanh
tự tại, tuệ giác khai thông. Nhưng sở nguyện chưa toại, năm 1938, được Hòa
Thượng Chơn Không (anh Ngài) yêu cầu, Ngài trở lên Phú Nhuận để kiến tạo
chùa Phổ Quang trú trì ở đây và cùng với các vị cư sĩ chung lo Phật sự.
Thời gian này phong trào chấn hưng Phật giáo đang phát triển mạnh ở khắp
nơi, ảnh hưởng lan rộng đến từng ngôi chùa.
Năm 1946, chùa Phổ Quang được tái tạo từ mái tranh vách lá thành chùa xây
tường lợp ngói dưới sự chứng minh của Hòa thượng Chơn Không. Rồi bắt đầu
tưø năm đó, tùy phương tiện và cơ duyên mà chùa được kiến thiết ngày một
khang trang thêm lên, trong đó nhờ uy tín và lời khuyến giáo của Ngài mà
thập phương tín hữu hoan hỷ đóng góp công và của thêm nhiều.
Năm 1951, do sự tích cực vận động của Hòa thượng Nhật Liên, Giáo Hội Tăng
Già Nam Việt được thành lập tại chùa Ấn Quang do Hòa thượng Ðạt Từ ở chức
vụ Trị sự trưởng, Hòa thượng Nhật Liên ở chức vụ Tổng thư ký và Hòa thượng
Ðạt Thanh chùa Giác Ngộ được cung thỉnh làm Pháp Chủ. Ngài được cung thỉnh
vào Hội đồng Trưởng Lão. Cũng năm đó Ngài lại được cung thỉnh giữ chức vụ
Chứng minh Ðạo sư.
Các năm 1954 - 1955, Ngài cùng với Hòa thượng Thiện Tường chuøa Vạn Thọ mở
liên tiếp hai mùa an cư kiết hạ. Năm 1956 Ngài lại cùng Hòa Thượng Thiện
Tường chùa Vạn Thọ, Hòa thượng Hành Trụ chùa Giác Nguyên khai hạ tại chùa
Giác Nguyên để đào tạo Tăng tài, hoằng dương chánh pháp. Năm 1959 Ngài kết
hợp với Ban trị sự Giáo Hội Tăng Già Nam Việt mở khóa kiết hạ tại chùa
Thanh Trước ở Gò Công.
Năm 1961, tuy tuổi đã cao, Ngài vẫn mở hạ tại chùa Phổ Quang để trang bị
cho Tăng Ni đầy đủ giới đức và học hạnh. Cũng năm này, Ngài giao cho đệ tử
là Hòa thượng Thích Thiện Thông trú trì chùa Phổ Quang để Ngài có thời giờ
theo bản nguyện tu tịnh nghiệp an dưỡng tinh thần.
Năm 1964 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được thành lập, Ngài được
Ðại hội tôn cử vào Hội đồng Trưởng lão viện Tăng Thống. Cũng năm này, được
sự chấp thuận của Viện Hóa Ðạo, Ngài chỉ đạo cho Hòa Thượng Thiện Thông
trú trì chùa Phổ Quang thành lập Phật học viện Phổ Quang. Ðến năm 1966
được đổi tên là Phật Học Viện Hải Tràng.
Năm 1968, Hội Ðồng Viện Tăng Thống lại cung cử Ngài vào ngôi vị Phó Tăng
Thống GHPG Việt Nam Thống Nhất. Ðến năm 1972, đạo hạnh và đạo nghiệp của
Ngài đã đến hồi viên mãn. Một hôm Ngài báo cho các đệ tử biết là Ngài sắp
trở về cõi Phật. Ðến ngày 23 tháng 8 năm Nhâm Tý (30-9-1972) trước giờ
Ngài thâu thần tịch diệt, hai Hòa thượng Thiện Hòa và Thiện Hoa đến thăm.
Ngaøi mở mắt nhìn và chắp tay chào, rồi từ từ vãng sanh Lạc quốc. Ngài trụ
thế 89 tuổi và 63 hạ lạp.
HÒA THƯỢNG
THÍCH THIỆN
HOA
(1918 - 1973)
Hòa thượng pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sanh ngày 07 tháng 8 năm
Mậu Ngọ (1918), tại làng Tân Qui, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Vì quy y từ
thuở ấu thơ, Ngài lấy pháp danh là thế danh, nên húy là Trần Thiện Hoa.
Thân phụ Ngài là ông Trần Văn Thế pháp danh Thiện Hueä, thân mẫu là bà
Nguyễn Thị Sáu pháp danh Diệu Tịnh. Ngài là con út trong gia đình tám anh
chị em, ba người anh chị của Ngài cũng xuất gia đầu Phật.
Cả gia đình Ngài đều quy y với Tổ Chí Thiền chùa Phi Lai núi Voi, Châu
Ðốc, pháp danh Thiện Hoa là do Tổ đặt cho Ngài.
Nhân đi chùa Phước Hậu, làng Ðông Hậu, huyện Trà Ôn làm lễ kỳ siêu cho
cha. Ngài quyết xin mẹ cho ở chùa xuất gia, lúc ấy Ngài được 7 tuổi. Sau
đó, Ngài được gởi tới chùa Ðông Phước, huyện Cái Vồn theo học với Tổ Khánh
Anh, được Tổ đặt pháp hiệu là Hoàn Tuyên.
Năm 1931, Tổ Khánh Anh lãnh chùa Long An ở Ðồng Ðế, Trà Ôn và khai lớp học
gia giáo tại đây. Ngài được nhập chúng theo học, lúc ấy Ngài 14 tuổi.
Năm 1935, Phật học đường Lưỡng Xuyên khai giảng, Ngài được theo học tại
đây, và ngay năm ấy, Ngài thọ giới Sa Di, lúc 17 tuổi.
Năm 1938, Ngài được Ban Giám Ðốc Phật học đường cử ra Huế học cùng với các
Tăng sinh khác trong lớp đầu tiên, lúc ấy Ngài 20 tuổi. Ngài học ở Phật
học đường Tây Thiên hai năm. Sau đó Ngài vào chùa Long Khánh, Qui Nhơn học
Phật pháp với Tổ Phước Huệ chùa Thập Tháp hết một năm tròn. Ngài lại trở
ra Huế dự học tại Phật học đường Báo Quốc ngót bốn năm, rồi đến tòng lâm
Kim Sơn một năm. Sau tám năm theo học Ngài trở về miền Nam.
Năm 1945, Ngài hợp tác cùng Hòa Thượng Trí Tịnh khai giảng Phật học đường
Phật Quang tại rạch Bang Chang, xã Thiện Mỹ, Trà Ôn. Số Tăng sinh đến học
trên ba mươi vị. Năm 29 tuổi, Ngài thọ giới Tỳ Kheo Bồ Tát tại Giới đàn
chùa Kim Huê, Sa Ðéc.
Năm 1946-1947, phong trào chống Pháp cứu nước đã làm ảnh hưởng đến trường
học. Hòa Thượng Trí Tịnh trở lên Sài Gòn, chỉ còn Ngài ở lại. Vừa dạy học
vừa mở phòng thuốc giúp đỡ nhân dân, Ngài hướng dẫn Tăng Ni vừa công tác
chẩn trị y học vừa học kinh điển. Ngài lại mở những lớp học “Bình Dân” dạy
ban đêm để chống nạn mù chữ. Học viên đạt kết quả nhanh chóng nhờ Ngài có
sáng kiến soạn tập sách “Vần chữ O”
Năm 1953, Giáo Hội Tăng Già Nam Việt cử Ngài giữ chức Trưởng Ban Giáo Dục
và Trưởng Ban Hoaèng Pháp Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, kiêm Ðốc Giáo Phật
học đường Nam Việt chùa Ấn Quang, Sài Gòn. Ngoài việc đích thân giảng dạy
cho học Tăng ở trường này, Ngài còn dạy các Phật học Ni trường Từ Nghiêm
và Dược Sư. Soá lượng Tăng Ni được đào tạo ra từ các trường đều là những
vị xuất sắc sau này phụ lực với Ngài đảm đang các Phật sự của Giáo hội
cũng như công tác hoằng pháp và giáo dục.
Năm 1957, Ngài lại chủ xướng mở những khóa huấn luyện trụ trì lấy tên là
Như Lai Sứ Giả. Tăng giới đặt tại chùa Pháp Hội, Ni giới đặt tại chùa Dược
Sư. Những vị tốt nghiệp các khóa này được bổ về chùa khắp lục tỉnh tập sự
hoằng pháp. Phong trào này làm dấy leân sự tu học của tín đồ Phật tử và là
mơ ước của mọi Tăng Ni muốn trở thành sứ giả Như Lai.
Với trách nhiệm Trưởng ban Giáo dục trong Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, Ngài
đã khuyến khích, hỗ trợ mở trường Phật học tại khắp các tỉnh miền Tây và
chính Ngài giảng dạy khắp nơi để động viên các trường. Hầu hết Tăng Ni
miền Nam đương thời đều chịu ân giáo dục của Ngài ít nhiều, dù gián tiếp
hay trực tiếp.
Với trách nhiệm Trưởng Ban Hoằng Pháp Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, đích
thân Ngài huấn luyện Tăng Ni thành Giảng viên thật sự có thể đi diễn giảng
các nơi. Ngài còn huấn luyện hàng cư sĩ theo học có khả năng truyền đạt
lại cho các lớp học sau. Ngài đã mở caùc lớp giáo lý Phật học phổ thông do
Ngài chủ trương tại các chùa Ấn Quang, Phước Hòa, Xá Lợi, Giác Tâm, Dược
Sư... để giảng dạy cho Phật tử, làm cho phong trào học Phật miền Nam trỗi
dậy mạnh mẽ, người người hăng say tu học.
Năm 1956, Ngài giữ chức vụ Ủy viên Hoằng Pháp của Tổng Hội Phật Giáo Việt
Nam, cùng với Thượng tọa Nhất Hạnh xuất bản nguyệt san “Phật giáo Việt
Nam”. Ngài tổ chức phát thanh Phật giáo hằng tuần trên đài phát thanh Sài
gòn. Ngoài ra, Ngài còn lập nên nhà xuất bản Phật giáo lấy tên “Hương Ðạo”
do Ngài chịu trách nhiệm, và chủ trương một “Phật học Tùng thư” với tám
chuyên đề sách.
Năm 1963, chống sự áp bức của chế độ nhà Ngô, Ngài đã tích cực đấu tranh
cho Phật giáo, Ngài nhận chức Phó Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật
Giáo. Với uy tín sẵn có, Ngài kêu gọi Tăng Ni và Phật tử miền Nam đứng lên
bảo vệ Ðạo pháp, đã được sự đáp ứng nồng nhiệt của Tăng Tín đồ đấu tranh
kiên trì cho đến ngày thành công.
Năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, Ngài nhận chức Ðệ
Nhất Phó Viện Trưởng Viện Hóa Ðạo, kế đến nhận chức trụ trì Việt Nam Quốc
Tự.
Năm 1966, Ngài đảm nhận chức Viện trưởng Viện Hóa Ðạo GHPGVNTN. Trong giai
đoạn này mặc dù có nhiều sóng gió, nhưng Ngài vẫn vững vàng chèo chống,
lấy sự tồn tại của đạo pháp trong sự tồn tại của dân tộc và nhân loaïi làm
đường lối lãnh đạo.
Năm 1968, Ngài được toàn thể đại biểu bỏ thăm lưu nhiệm chức Viện Trưởng
Viện Hóa Ðạo. Lúc ấy dù căn bệnh đã bộc phát, nhưng Ngài vẫn không nề hà
gánh lấy trách nhiệm Giáo Hội ngày càng nặng nề. Trong giai đoạn này, mọi
Phật sự đáng kể ở miền Nam đều được Ngài khuyến khích trợ giúp đến thành
công.
Năm 1973, bệnh tình càng nặng Ngài phải giải phẩu và không trở dậy được
nữa. Cho đến ngày 20 tháng Chạp naêm Nhâm Tý, nhằm ngày 23 tháng Giêng năm
1973, Ngài đã an lành viên tịch, thọ 55 tuổi đời và 26 tuổi hạ.
Cả cuộc đời, Ngài hy sinh trọn vẹn cho đạo pháp từ lúc lớn khôn cho đến
ngày theo Phật, lúc nào Ngài cũng chỉ biết lo cho đạo và làm việc cho đạo.
Với tấm lòng bao dung hòa ái, nhưng rất cương nghị trong đường lối mà Ngài
vạch ra, dù khó khăn đến mấy cũng quyết thực hiện thành công. Và Ngài đã
thành công rực rỡ trong việc thực hiện sứ mạng của một sứ giả Như Lai, để
lại cho mai sau lòng kính trọng và mãi mãi ghi khắc công ơn Ngài.
Các tác phẩm của Ngài để lại rất nhiều, là những nấc thang Giáo lý có giá
trị đặt nền tảng học Phật cho Tăng tín đồ. Xin lược ghi những danh mục lớn
như sau:
- Phật Học Phổ Thông (12 quyển).
- Bản đồ Tu Phật (10 quyển).
- Duy thức học (6 quyển).
- Phật học giáo khoa các trường Bồ Ðề.
- Giáo lý dạy Gia đình Phật tử.
- Nghi thức tụng niệm.
- Bài Học Ngàn Vàng (8 tập).
- Ðại cương kinh Lăng Nghiêm.
- Kinh Viên Giác lược giải.
- Kinh Kim Cang.
- Tâm kinh.
- Luận Ðại Thừa Khởi Tín.
- Luận Nhơn Minh.
và các loại tạp luận, sự tích...
Tổng cộng là 80 quyển trong 8 loại chuyên đề.
HÒA THƯỢNG
THÍCH TỊNH
KHIẾT
(1890 - 1973)
Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, thế danh là Nguyễn Văn Kỉnh, sinh ngày 17
tháng 11 năm Tân Mão (1890), tại làng Dưỡng Mông Thượng, huyện Phú Vang,
tỉnh Thừa Thiên. Thân sinh là cụ ông Nguyễn Văn Toán và cụ bà Tôn Nữ Thị
Lý. Ngài là con trai thứ ba trong gia đình, bẩm tính thông minh, năm 15
tuổi Ngài đã tinh thông Nho học rõ lẽ xuất xứ ở đời, nhưng với chí khí
xuất trần, muốn vươn tới một phương trời cao rộng Ngài đã xin phép song
thân được xuất gia tầm sư học đạo.
Năm 1905, Ngài xuất gia tại chùa Tường Vân, làng Dương Xuân Hạ, huyện
Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, và đã thọ giáo với Ðại lão Hòa thượng Thanh
Thái, hiệu Phước Chỉ, là đệ tam Tổ chùa Tường Vân, đời thứ 41 Thiền phái
Lâm Tế. Ngài được ban pháp danh là Trừng Thông, tự Chân Thường.
Với bẩm tánh thuần thành, cốt cách đạo vị Ngài đã vượt mọi thử thách cam
go trong bước đầu hành đạo, tinh cần học hỏi chánh pháp với các bậc thạc
đức cao Tăng trong chốn thiền môn, chuyên tâm thực hành giới định tuệ. Ðến
năm 19 tuổi (1910), đạo phong ngày càng tỏa rạng, Ngài được đặc cách miễn
tuổi để thọ Cụ Túc giới tại Ðại giới đàn Vĩnh Gia do tổ Vĩnh Gia làm Ðàn
Ðầu, Hòa thượng Tâm Truyền làm Yết Ma và Hòa Thượng Hoàng Phú làm Giáo
Thọ. Sau khi đắc giới Cụ Túc, Ngài trở về trú xứ phát nguyện lạy bộ Vạn
Phật, mỗi chữ mỗi lễ, trong suốt ba năm liền.
Năm 26 tuổi (1916), Ngài nhận chức trú trì chùa Phước Huệ, thuộc phủ Tuy
Lý Vương, thôn Vỹ Dạ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.
Ðến năm 30 tuổi (1920) ngài đắc pháp với Hòa thượng Bổn sư, được ban Ðạo
hiệu là Tịnh Khiết, kế vị Tổ đời thứ 42 thuộc Thiền phái Lâm Tế với bài kệ
phú pháp như sau:
“Trừng Thông tâm pháp bản đồng nhiên.
Phó nhữ Chân Thường đạo chí kiên.
Phi hữu phi vô phi sở kiến.
Tịch nhiên khai ngộ chủ nhơn tiền".
Năm 32 tuổi (1922), sau khi cư tang nghiệp sư, Ngài cùng Hòa thượng Huệ
Pháp theo học lớp Cao đẳng Phật học tại chùa Thiện Hưng, tham cứu kinh
điển cùng Ngài Phước Huệ, chùa Thập Tháp trong suốt thời gian năm năm.
Năm 42 tuổi Ngài làm dẫn thỉnh sư tại Ðại giới đàn chùa Từ Hiếu.
Năm 44 tuổi Ngài trở về trú trì chùa Tường Vân, kế vị Hòa Thượng Tịnh
Hạnh, anh ruột của Ngài vừa viên tịch.
Năm 1935, một lớp Trung Ðẳng Phật Học được mở tại chùa Tường Vân dưới sự
trông nom của Ngài.
Năm 48 tuổi (1938), Ngài được cung thỉnh Chứng minh Ðạo sư sáng lập AN NAM
PHẬT HỌC HỘI.
Năm 50 tuổi (1940), Ngài làm Giám đốc đaïo hạnh Viện Cao đẳng Phật học, mở
tại chùa Tường Vân và Báo Quốc, nơi đào tạo nhiều Tăng tài, lỗi lạc xuất
chúng lãnh đạo Giáo hội qua nhiều thế hệ như Hòa thượng Thiện Hoa, Thiện
Hòa, Hành Trụ, Trí Tịnh, Thiện Siêu...
Năm 54 tuổi (1944), Ngài được cung thỉnh, làm Yết Ma Ðại giới đàn tại chùa
Thuyền Tôn, Huế.
Năm 57 tuổi (1947), Ngài được suy tôn chức vụ Tòng Lâm Pháp Chủ Trung
Việt.
Năm 58 tuổi (1948), Ngài làm Ðàn đầu Hòa thượng Ðại giới đàn mở tại chùa
Báo Quốc, Huế. Hòa thượng Thiện Siêu là thủ Sa di trong Ðại giới đàn này.
Ngày 06.5.1951, năm mươi mốt đại biểu của sáu hội Phật giáo Nam, Trung,
Bắc họp tại chùa Từ Ðàm, Huế quyết nghị thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt
Nam, Ngài được suy tôn Hội chủ. Ðến ngày 7-9-1952, Ngài được bầu làm chủ
tọa Ðại Hội Phật Giáo Tăng Già toàn quốc họp tại chùa Quán Sứ, Hà Nội.
Vào ngày 8.3.1953, Ngài vào miền Nam chủ tọa lễ suy tôn Hòa thượng Huệ
Quang làm Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn.
Năm 66 tuổi (1956), Ngài cùng với Hòa thượng Huệ Quang lãnh đạo phái đoàn
Phật giáo Việt Nam tham dự Ðại Hội Phật Giáo Thế Giới tổ chức tại Tích
Lan, và chiêm bái Phật Tích tại Ấn Ðộ.
Ngày 20-2-1962, Ngài đã ký cùng lúc hai văn thư gởi Tổng Thống Ngô Ðình
Diệm và Quốc Hội để phản đối chính sách kỳ thị tôn giáo, kêu gọi Tăng tín
đồ đoàn kết nhất trí và cùng với chư Tôn đức khác lãnh đạo cuộc đấu tranh
lịch sử này.
Năm 73 tuổi (1963), Ngài tiếp tục lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo vệ tín
ngưỡng, phản đối chính sách kỳ thị Phật giáo của chính quyền Ngô Ðình
Diệm. Trong cuộc đấu tranh ngày 20-8-1963, Ngài cũng chịu chung số phận
với Phật giáo đồ bị đàn áp đến phải mang thương tích ngay dưới chân tòa
sen khi nén hương tâm nguyện còn đang cháy dở. Sau đó, Ngài bị quản thúc
và chịu nhiều áp lực chính trị tâm lý, Ngài vẫn kiên tâm vững chí, và cuộc
đấu tranh bất bạo động và đầy gian khổ này đã kết thúc thành công vào cuối
năm 1963, khi chính quyền Ngô Ðình Diệm bị sụp đổ.
Năm 74 tuổi (1964), Ðại hội Phật giáo Việt Nam suy tôn Ngài lên ngôi vị
Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Cùng năm 1964, Ngài làm Ðàn đầu Hòa thượng Ðại giới đàn tổ chức tại Việt
Nam Quốc Tự, Sài Gòn.
Năm 78 tuổi (1968) làm Ðàn đầu Hòa thượng Ðại giới đàn tổ chức tại Phật
Học Viện Hải Ðức, Nha Trang.
Với ngôi vị Tăng Thống, Ngài đã vận dụng phương châm lấy “Từ bi xóa bỏ hận
thù” để nói lên tiếng nói đích thực của người Phật tử đối với đất nước và
nhân loại. Ngài truyền thừa một sứ mệnh cao cả mà chư Tổ tiền bối đã khéo
léo vận dụng để hòa nhập và tồn tại với dân tộc qua những chặng đường lịch
sử.
Pháp âm của Ngài hãy còn vang vọng qua nhiều bức thông điệp thể hiện đường
lối hòa bình của Tăng tín đồ Phật tử Việt Nam, đặc biệt là bức thông điệp
gởi Ðại hội Quốc tế về Tôn giáo và Hòa Bình vào tháng 10-1970, trong đó
nguyện vọng tha thiết mong mỏi hòa bình của dân tộc Việt Nam được thể hiện
qua việc kiến nghị nhiều phương thức giải quyết chiến tranh và củng cố hòa
bình.
Về quan điểm xây dựng đất nước, Ngài kêu gọi giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc, đoàn kết không chia rẽ tôn giáo đảng phái, tập trung vào công cuộc
xây dựng bảo vệ dân tộc và đất nước, đó cũng chính là bảo vệ lý tưởng của
mình.
Ðối với Tăng Ni và tầng lớp Phật tử trẻ, nhất là những vị sơ cơ trực diện
với công tác xã hội, Ngài không ngừng khuyên nhủ hãy giữ gìn sơ tâm,
nghiêm trì giới hạnh, giữ lấy phương châm “Tùy duyên bất biến” và khuyên
đừng bao giờ lợi dụng tuổi trẻ, chức phận, dễ dãi với bản thân mà làm
những chuyện phương hại đến đaïo pháp.
Cuối năm 1972, Ngài rời Sài gòn về Huế để tiến hành việc tu sửa Tổ đình
Tường Vân và chú đại hồng chung, rồi đi thăm viếng các Tổ đình và các vị
Trưởng lão tại cố đô như là chuẩn bị cho một hành trình khác.
Sau vài ngày pháp thể khiếm an như có linh cảm về sự ra đi của mình, Ngài
ân cần phó chúc cho Tăng Ni, Phật tử những lời di huấn tối hậu và Ngài đã
an tường xả bỏ báo thân vào hồi 20 giờ 45 phút ngày 23 tháng giêng năm Quý
Sửu (25-2-1973), trụ thế 83 năm, 64 hạ lạp. Tháp của Ngài an trú tại Tổ
đình Tường Vân, hiệu là Thanh Trai.
Ngài đã thể nhập vào Niết bàn Tịnh lạc, nhưng đạo phong của Ngài vẫn tồn
tại với non sông đất nước và trong lòng người con Phật.
HÒA THƯỢNG
THÍCH TÂM
GIÁC
(1917 - 1973)
Hòa thượng Thích Tâm Giác, thế danh là Trần Văn Mỹ, sinh năm 1917 tại tỉnh
Nam Ðịnh, thân phụ là cụ ông Trần Văn Quý, thân mẫu là cuï bà Nguyễn Thị
Suôi. Ngài là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái.
Ngài sinh trưởng trong một gia đình Nho phong. Thân phụ Ngài tinh thông
Hán học. Cả hai ông bà lại rất thâm tín Phật pháp. Do đó, Ngài được hấp
thụ ngay từ thuở ấu thơ hai nền văn hóa cổ truyền của dân tộc là Khổng
giáo và Phật giáo.
Ðược biết thuở nhỏ, Ngài cứ yếu đau, quặt quẹo luôn, rất khó nuôi. Theo
tập quán địa phương, Ngài được hai cụ thân sinh đem “baùn khoán” cho vị
Tăng trú trì tại ngôi chùa trong thôn và ở luôn trong chùa. Ðến khi lên 7
tuổi, vì đã quen sống cuộc đời chay tịnh, nên Ngài xin với song thân cho
xuất gia đầu Phật.
Ðược sự chấp thuận của hai cụ, bước đầu Ngài thụ nghiệp với Hòa thượng
Thích Trí Hải tại chùa Mai Xá thuộc Phủ Lý, tỉnh Hà Nam (nay là Nam Hà).
Vào đầu thập kỷ 1930, phong trào chấn hưng Phật giáo nổi lên khắp nước.
Tại Nam kỳ Hội Nghiên cứu Phật học ra đời naêm 1931 ở Sài gòn. Tại Trung
kỳ Hội An Nam Phật Học thành lập ở Huế năm 1932. Các Phật học đường được
tổ chức khắp nơi. Các tạp chí Phật học xuất bản đều đặn để hoằng dương đạo
pháp, gieo vào tâm hồn chư Tôn đức, Tăng Ni và Phật tử cả nước niềm phấn
khởi chưa từng có.
Trước phong trào rầm rộ ở Nam và ở Trung, năm 1934 Hòa thượng Trí Hải
(chùa Mai Xá) bèn từ giã bản tự lên thủ đô Hà Nội, cùng với chư Tôn đức và
các cư sĩ thuần thaønh đầy tâm huyết như các ông Nguyễn Năng Quốc, Trần
Văn Ðại, Bùi Thiện Căn, Bùi Thiện Cơ vận động tổ chức hội Bắc kỳ Phật
giáo. Hội đã cung thỉnh Hòa thượng Thích Thanh Hanh là Tổ Vĩnh Nghiêm lên
ngôi Thuyền gia Pháp chủ, mở đầu kỷ nguyên chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc.
Bấy giờ Ngài 17 tuổi, được Bổn sư cho theo lên Hà Nội hầu hạ và đóng góp
sức mình vào công việc hoằng dương đạo pháp. Thuở ấy Ngài chỉ mới thọ giới
Sa Di, nhưng được các Tổ Tế Xuyên, Tế Cát, Trung Hậu, Hương Tích và Tuệ
Tạng rất thương yêu.
Nhờ Ngài có sẵn căn bản Nho học hấp thụ được trong gia đình, lại được Hòa
thượng Trí Hải dày công huấn giáo và các Tổ ân cần bảo ban, dẫn dụ, nên về
mặt giáo lý và thuyền hạnh, Ngài được coi là hàng tân tiến khả dụng, có
nhiều triển vọng trong tương lai, làm trụ cột cho tòa nhà Phật giáo.
Năm 1937, sau khi tốt nghiệp lớp Trung đẳng Phật học tại trường Bồ Ðề
thuộc huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, Ngài được các Tổ cho đăng đàn thọ Tỳ
Kheo giới, lúc đó Ngài tròn 20 tuổi. Ðại giới đàn này do các vị Tôn túc
thủ tọa chứng minh như Tổ Tế, Tổ Trung, Tổ Hương, Tổ Cồn, Tổ Quảng, Tổ
Ngũ_(1)_ và các Hòa thượng Trí Hải, Thái Hòa, Tố Liên tác chứng.
Từ đó Ngài được vào hàng sứ giả của Như Lai, được cử giữ những chức vụ
trọng yếu trong trụ xứ cũng như làm Duy Na trong các kỳ kiết hạ an cư tại
chùa Quán Sứ (số 74 đường Quán Sứ - Hà Nội).
Sau năm 1945, vừa tốt nghiệp xong lớp Ðại học Phật học tổ chức tại chùa
Quán Sứ, Ngài cũng như các sinh viên Tăng và dân chúng phải tản cư khỏi
thành phố vì thời cuộc. Ngài phải di cư lên vùng Thái Nguyên, sau lại trở
về Ninh Bình. Ðược ít lâu, Ngài trở về Mai Xá nơi chùa cũ tiếp tục tu học
và chăm lo nuôi dưỡng sáu trăm em cô nhi đang bơ vơ vì đạn lửa chiến
tranh.
Năm 1949, nhân một cơ duyên tốt, Ngài hồi cư về Hà Nội và được cử giữ chức
Phó Giám đốc nhà in Ðuốc Tuệ, phụ bút nguyệt san Phương Tiện, cơ quan của
Hội Tăng Ni Chỉnh Lý Bắc Việt do Hòa thượng Tố Liên làm chủ nhiệm kiêm chủ
bút. Trong thời gian này Ngaøi còn tham gia các công tác từ thiện xã hội,
hợp sức cùng Hội Việt Nam Phật Giáo do Cư sĩ Bùi Thiện Cơ làm Hội trưởng,
trông nom Cô nhi viện ở trại Tế Sinh lên đến một trăm sáu mươi em. Ngài
còn nhận làm Ủy viên trong trại nuôi dưỡng đồng bào hồi cư ở Ngọc Hà. Hàng
năm cứ vào mùa kiết hạ an cư tại chùa Quán Sứ, Ngài đều được cử giữ chức
Duy Na, một chức vụ quan trọng trong thất chức tùng lâm.
Vốn đã thông thạo Hán tự, biết qua Phaùp văn, lại ôm ấp hoài vọng xuất
dương tu học và tham khảo Phật sự các nước, nên lúc còn học tại chùa Quán
Sứ, Ngài đã cùng bạn đồng môn là Hòa thượng Thích Thanh Kiểm rủ nhau tranh
thủ đi học thêm Anh văn và Nhật ngưõ.
Cơ duyên tốt lành đã đến. Năm 1953, trong một cuộc họp liên hội gồm Hội
Việt Nam Phật Giáo và Giáo Hội Tăng Già Bắc Việt, hội nghị đã công cử Ngài
cùng Hòa thượng Thanh Kiểm sang Nhật Bản để nghiên cứu về công cuộc chấn
hưng Phật giáo tại quốc gia đó.
Tại Nhật Bản, hai vị đều kiên tâm, trì chí, chuyên tu chuyên học cả về
Phật pháp và thế học. Riêng Ngài thường ôm ấp chí nguyện cải tạo nếp sống
cho thế hệ tương lai, cần theo chiều hướng của thời đại là có khỏe mạnh về
thể xác mới mong tiến hóa về mặt tinh thần. Do đó, ngoài việc học Phật
pháp và thế pháp, Ngài còn hàng ngày đến luyện tập nhu đạo (Judo) tại
Trung tâm Nhu đạo KODOKAN.
Sau chín năm tu học tại Nhật, Ngài đã tốt nghiệp Ðại học Phật pháp tại
Tokyo, lãnh cấp bằng Tiến sĩ Xã hội học, Tiến sĩ Triết học Ðông Phương và
Tam đẳng huyền đai tại viện Nhu đạo KODOKAN.
Năm 1962, hai vị trở về nước hoằng pháp. Bước qua năm 1963, Phật giáo Việt
Nam gặp pháp nạn, Ngài đã cùng chư Tôn đức, Tăng Ni tham gia tích cực
trong mọi công cuộc hô hào Phật tử chống lại bạo quyền áp bức, kỳ thị tôn
giáo của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Nhờ sưï đồng tâm nhất trí của hàng
triệu con Phật đứng lên bảo vệ tín ngưỡng của dân tộc, được sự đồng tình
của mọi tầng lớp đồng bào, của các tôn giáo bạn, của dư luận thế giới, nhờ
sự hy sinh cao cả của chư Tăng Ni đã dùng sanh thân đốt lên ngọn lửa bi
trí dũng, trong đó có ngọn lửa của Bồ Tát Thích Quảng Ðức, cuộc đấu tranh
của Phật giáo Việt Nam thắng lợi.
Năm 1964, nhờ thắng lợi đó, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được
thành lập. Ngài được cử giữ chức vụ Tổng vụ trưởng Tổng vụ Tài chính.
Trong hiến chương của Giáo hội có ghi: “Những đồng bào Phật tử Bắc Việt di
cư được thành lập một miền trong Giáo hội mệnh danh miền Vĩnh Nghiêm”. Do
đó, Ngaøi được bầu làm Chánh đại diện miền Vĩnh Nghiêm. Ngày 1-7-1964,
Ngài được Giáo hội ủy cử đảm trách chức vụ Giám đốc Nha Tuyên úy Phật
giáo.Cuối năm 1964, thực hiện giấc mộng hằng ôm ấp từ lâu là tạo lập cho
thanh niên Việt Nam có một thể lực tự vệ, thể hiện ý chí kiên cường của
thế hệ trẻ có đủ ba đức Bi Trí Dũng, Ngài thành lập viện Nhu đạo Quang
Trung, đào tạo được hàng trăm nghìn thanh niên đủ các đẳng cấp đai, mà dư
âm của trươøng Nhu đạo này còn vang đến ngày nay trên các võ đài quốc gia
cũng như quốc tế.
Với hoài bão Phật giáo cần có cơ sở hạ tầng đúng với tầm vóc, Ngài muốn
xây dựng Việt Nam Quốc Tự thành một đại tòng lâm Phật giáo giưõa một thành
phố lớn vào bậc nhất cả nước, thành một Trung tâm văn hóa Phật giáo và một
Trung tâm du lịch. Trước hết Ngài cho tiến hành xây ngôi bảo tháp 9 tầng,
vươn cao giữa bầu trời Sài gòn. Công việc đang tiến hành dở dang thì Ngài
đã viên tịch, rồi tiếp theo các biến cố của thời cuộc, nên công việc phải
đình lại.
Ở cương vị đại diện miền Vĩnh Nghiêm, Ngài đã chủ xướng và vận động thập
phương tín hữu phát tâm cúng dường, xây dựng ngôi chùa Vĩnh Nghiêm, là
ngôi chùa lớn và đẹp nhất Sài gòn, mà ngày nay du khách trong và ngoài
nước thường đến tham quan lễ bái công trình văn hóa tín ngưỡng này. Và
cũng để cho những Phật tử quê hương ở miền Bắc coù điều kiện sinh hoạt tín
ngưỡng theo truyền thống văn hóa nghi lễ đặc thù, ngôi chùa này đã trở
thành Tổ đình của Tăng Ni Phật tử đất Bắc ở tại miền Nam.
Ngoài các Phật sự kể trên, Ngài còn dành thì giờ trước thuật caùc tác phẩm
Phật giáo và võ đạo:
- Duy thức học tập I.
- Duy thức học tập II.
- Hộ thân thuật.
- Nage - Nokata.
- Nhu đạo.
- Biến thể Nhu đạo.
- Nhật ngữ tự học.
- Phương pháp ngồi thiền.
- Zen và Judo.
Trong lúc các Phật sưï được tiến triển một cách tốt đẹp, thì một cơn bệnh
“vô thường” chợt đến, mặc dầu các Bác sĩ trong và ngoài nước đem hết tài
năng và phương tiện hiện đại ra tận tình chữa trị, nhưng chiếc xe hữu tình
vẫn cứ lăn nhanh về nơi tịnh cảnh. Ngài viên tịch vào ngày 20 tháng 10 năm
Quý Sửu, tức ngày 15-11-1973. Nhục thân của Ngài đã được an táng tại nghĩa
trang Vĩnh Nghiêm, huyện Hóc Môn.
Chú thích :
(1)Tổ Tế: Tế Xuyên; Tổ Trung: Trung Hậu; Tổ Hương: Hương Tích; Tổ Cồn:
Quần Phương; Tổ Quảng: Quảng Bá ; Tổ Ngũ: Ngũ Xá.
HÒA THƯỢNG
THÍCH THIỆN
CHIẾU
(1898 - 1974)
Hòa thượng Thích Thiện Chiếu thế danh là Nguyễn Văn Tài, còn có tên khác
là Nguyễn Văn Sáng, bút hiệu là Xích Liên, sinh năm 1898 tại xã Long Hựu,
huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Ngài sinh trưởng trong một gia đình có
truyền thống đạo Phật. Ông nội là Hòa thượng Huệ Tịnh một vị rất tinh
thông Nho học, khai sơn chùa Long Phước(1) tại xã nhà và trú trì ở đó. Từ
nhỏ, Ngài được xuất gia theo hầu ông nội. Vốn tư chất thông minh, Ngài học
chữ Nho rất mau chóng và lúc 12 tuổi đã có thể “trùng tuyên” Sa Di Luật
Giải một cách thông thạo. Năm 16 tuổi, Ngài đọc làu thông văn quan thoại.
Ngài lại còn tự học và xem được cả sách báo viết bằng tiếng Pháp.
Ngoài việc nghiên cứu học tập nội điển, Ngài còn tiếp xúc với các trào lưu
văn hóa Ðông Tây. Ðặc biệt các loại tân thư của Trung Hoa và Nhật Bản đã
ảnh hưởng lớn đến tư tưởng Ngài, một điển hình cho lớp Tăng sĩ trẻ cấp
tiến, muốn chấn hưng Phật Giáo theo chiều hướng tích cực, hoàn toàn đổi
mới.
Naêm 1926, Ngài lên Sài Gòn để tìm học thêm. Phật tử cung thỉnh Ngài về
trú trì chùa Linh Sơn ở gần chợ Cầu Muối. Bấy giờ Hòa thượng Khánh Hòa,
người khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam bộ, muốn sớm thành
lập một Hội Phật Giáo Việt Nam chung cho toàn quốc. Nhận thấy Ngài là một
Tăng sĩ trẻ đầy nhiệt huyết và có trình độ tân học, năm 1927, Hòa thượng
Khánh Hòa cử ngài ra Bắc liên lạc, tiếp xúc với chư Tăng tại các Tổ đình
Linh Quang, Hồng Phúc, Tiên Lữ v.v... Nhưng do nhiều trở ngại, cuộc vận
động không thành.
Trở về Sài Gòn năm 1928, Ngài đã cộng tác với các Hòa Thượng Khánh Hòa, Từ
Nhẫn, Chơn Huệ và Thiện Niệm thành lập Thích học đường và Phật học Thư xã
tại chùa Linh Sơn. Năm 1929 Ngài hợp lực với Hòa thượng Khánh Hòa vận động
Phật tử hữu tâm ở Trà Vinh gởi mua cho thư xã một bộ Tục Tạng kinh gồm 750
tập để tôn trí tại chùa Linh Sơn. Tại đây với tư cách là trú trì, Ngài mở
khóa thuyết giảng giáo lý, kinh điển, truyền đạt tư tưởng đổi mới Phật
giáo, phát huy tinh thần yêu nước, độc lập dân tộc. Ngài mở trường dạy chữ
Quốc ngữ, lập nhà in, viết sách báo. Ngày chuû nhật hàng tuần, Ngài hướng
dẫn Phật tử nghi thức thực hành thờ cúng Phật đơn giản, nhưng vẫn tròn đầy
niềm tin nơi chánh pháp.
Tư tưởng mới của Ngài, gắn liền đạo pháp với dân tộc đã không tránh khỏi
sự theo dõi của mật thám Pháp. Chính quyền thực dân đã trục xuất Ngài,
không cho trú trì chùa Linh Sơn nữa. Nhân duyên mới lại đến, Ngài có người
bạn là cư sĩ Thuần Viên ở Hạnh Thông Tây - Gò Vấp lập một tịnh thất rộng
rãi, mời Ngài về đây dạy Phật pháp và hướng dẫn phương pháp tu hành.
Thời gian này Hòa thượng Khánh Hòa có cho xuất bản tập san Phật học bằng
Quốc ngữ lấy tên là Pháp Âm, số đầu ra ngày 13-08-1929. Nhận thấy nội dung
tờ Pháp Âm chưa có gì tiến bộ, Ngài vận động để xuất bản tập san khác lấy
tên là Phật Hóa Tân Thanh Niên, tòa soạn đặt tại chùa Chúc Thọ ở xóm
Thuốc, quận Gò Vấp(2), nội dung tập san này hướng về tầng lớp cư sĩ trí
thức và Tăng sĩ trẻ. Theo Ngài, Tăng Ni cần phải có trình độ Phật học (nội
điển), xã hội học (ngoại điển) và thông suốt được Ngũ Minh. Có đủ kiến
thức cơ bản như vậy mới đảm bảo được sứ mệnh hoằng pháp, mới hướng dẫn và
lãnh đạo được quần chúng Phật tử.
Giới Phật tử cư sĩ và quần chúng khắp vùng Gia Ðịnh, Sài Gòn, Chợ Lớn đồng
quy tụ về nghe pháp. Ngài mở khóa tranh biện về Phật học, viết sách, báo.
Ngài thường tranh luận với các nhà Tây học trên báo chí, chẳng hạn như tờ
Tân Phong.
Tại Hạnh Thông Tây, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Ðịnh, Ngài thường sinh hoạt
chính trị với các nhà cách mạng, như ông Lê Văn Trâm tự Bảy Chấm, các nhà
tu yêu nước như Hòa thượng Ðạo Thanh(3).
Uy tín của Ngài ngày càng lan rộng đến mọi tầng lớp nhân dân, từ bình dân
đến trí thức. Các nhà lãnh đạo cách mạng ở địa phương đều quý kính. Chính
trong thời gian này Ngài được kết nạp vào tổ chức cách mạng (1930). Ðịa
bàn hoạt động của Ngài là Gò Vấp, Phú Nhuận, Hóc Môn, Bà Ðiểm, An Phú Ðông
v.v... Do đó Ngài lại bị chính quyền tỉnh Gia Ðịnh ra lệnh trục xuất khỏi
địa phương này.
Ngài phải di tản về chùa Hưng Long ở ngã sáu Chợ Lớn. Tiếp tục sự nghiệp
hoằng pháp lợi sanh, Ngài vẫn thuyết pháp, giảng kinh, viết sách báo. Tại
đây Ngài đã cho xuất bản hai quyển “Phật học tổng yếu” và “Phật học vấn
đáp”.
Sau bao ngày tháng vất vả, Ngài bị thọ bệnh, nằm liệt giường ba năm. Tuy
nhiên tinh thần vẫn sáng suốt, Ngài vẫn tiếp tục viết sách, Ngài hoàn
thành thêm một tác phẩm nữa là quyển “Tại sao tôi cám ơn đạo Phật” và được
nhà xuất bản Nam Cường ấn hành năm 1933. Caùc sách của Ngài rất được giới
thanh niên, trí thức ưa thích, vì có những tư tưởng mới, hợp thời.
Nhận thấy các hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, hội Lưỡng Xuyên Phật Học các
báo Pháp Âm, Từ Bi Âm, đều không đáp ứng chủ trương và tư tưởng của mình,
Ngài ra đi tìm hướng khác. Nhưng đi tới đâu, Ngài cũng gặp những va chạm.
Trở về uất chí lại bị mật thám Pháp theo dõi nên Ngài rời chùa Hưng Long
trở về đời sống thường và hoạt động cho Cách mạng ở vùng Gò Vấp, Phú
Nhuận. Ðó là thời gian 1934-1935.
Năm 1936, trở lại nếp sống tu hành Ngài xuống Rạch Giá gặp Hòa thượng Trí
Thiền, trú trì chùa Tam Bảo(4). Ngài và Hòa thượng Trí Thiền đồng chí
hướng khi cùng sinh hoạt trong hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học ở chùa Linh
Sơn, nên chuyến đi này là để bàn việc thành lập một tổ chức Phật Giáo thật
sự tiến bộ. Kết quả hội Phật Học Kiêm Tế ra đời ở Rạch Giá ngày 23-3-1937.
Chùa Tam Baûo ở làng Vĩnh Thanh Vân được chọn làm trụ sở, Hòa thượng Trí
Thiền làm Chánh tổng lý, riêng Ngài không giữ một chức vụ gì, chỉ làm việc
phía sau, nhằm tránh sự để ý của nhà cầm quyền thực dân. Ðầu năm 1938 Hội
xuất bản tạp chí Tiến Hóa. Ngài là cây bút đắc lực cho tờ báo. Những bài
của Ngài viết đều được ký bút hiệu Xích Liên.
Hội Phật Học Kiêm Tế chủ trương hành động phù hợp với trào lưu chính trị
và Cách mạng đang sôi động khaép nơi vào thời điểm đó. Cho nên sau khi Hòa
thượng Trí Thiền tiếp xúc với các đồng chí của ông Võ Hoành, một chiến sĩ
Ðông Kinh Nghĩa Thục đang bị an trí tại Sa Ðéc, thì chùa Tam Bảo thực sự
trở thành một căn cứ Cách mạng. Năm 1939, tại đây đã bí mật tổ chức sản
xuất vũ khí để đánh Pháp. Việc bị bại lộ, thiền sư Trí Thiền và nhiều vị
bị bắt và bị đày ra Côn Ðảo. Còn Ngài chạy thoát về Sài Gòn, ẩn trốn tại
vùng Bà Ðiểm - Hóc Môn.
Năm 1940, Ngài tham gia vào phong trào Nam Kỳ Khởi Nghĩa tại Hóc Môn. Cuộc
khởi nghĩa thất bại, Ngài lại phải trốn tránh. Nhưng đến năm 1942, Ngài bị
thực dân Pháp bắt đày Côn Ðảo. Ngài bị tra tấn đến bại xuội. Cách mạng
thaùng 8-1945 thành công, Ngài được đón về đất liền. Trở về Gò Công, Ngài
giữ chức Phó chủ tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến tỉnh Gò Công. Năm
1947, Ngài vào chiến khu tham gia kháng chiến ở Quân khu 7. Năm 1948, Ngài
về QuÂn khu 8 ở Ðồng Tháp Mười và năm 1949, về Quân khu 9 làm việc ở Ban
Tuyên Huấn Trung Ương Cục Miền Nam.
Sau hiệp định Genève năm 1954, Ngài tập kết ra Bắc. Năm 1956, Ngài được
Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cử làm chuyên gia qua Trung Quốc, phụ
trách Trưởng Tiểu ban Phiên dịch của Nhà xuất bản Ngoại văn ở Bắc Kinh.
Năm 1961, Ngài trở về nước, làm chuyên viên khoa triết học của Ủy Ban Khoa
Học Xã Hội Việt Nam ở Hà Nội. Năm 1965, Ngài về hưu. Năm 1970, Ngài thọ
bệnh. Ðến ngày 06/7/1974, Ngài viên tịch tại Hà Nội, thọ 76 tuổi đời, và
được an táng tại nghĩa trang Văn Ðiển. Năm 1993, chư Tăng và Phật tử chùa
Pháp Hoa ở Phú Nhuận đã cử đoàn đại biểu ra Haø Nội bốc mộ Ngài, hỏa thiêu
di cốt và đưa tro về tôn trí tại chùa nhân ngày giỗ thứ 19 của Ngài.
Sự nghiệp trước tác của Ngài còn để lại như sau:
- Phật Hóa Tân Thanh Niên.
- Phật Giáo Tổng Yếu.
- Phật học Vấn đáp.
- Tranh Biện.
- Phật giáo và Vô thần luận.
- Tôn Giáo.
- Chân lý của Ðại thừa và Tiểu thừa.
- Tại sao tôi cám ơn đạo Phật.
- Triết lý Ðạo Phật (dịch kinh Lăng Nghiêm).
- Cái thang Phật học.
- Phật pháp là Phật Pháp.
- Kinh Pháp Cú.
Nhìn lại quá trình hoạt động của Ngài, chúng ta thấy rằng dù gặp muôn ngàn
khó khăn, nhưng Ngài vẫn mạnh dạn tiến bước đấu tranh, vì độc lập tổ quốc
và hạnh phúc nhân sinh. Ngài sáng tác nhiều tác phẩm Phật giáo, vì muốn tư
tưởng trong sáng của chánh pháp hằng còn ở thế gian để lợi lạc cho các thế
hệ mai sau trên tiến trình giác ngộ giải thoát.
Chú thích :
(1) Có tài liệu nói là chùa Linh Tuyền (Nguyễn Lang VNPGSL III).
(2) Chùa này đã bị Pháp đuổi lấy đất xây phi trường Tân Sơn Nhất.
(3) Ông Bảy Chấm nay là liệt sĩ. Hòa Thượng Ðạo Thanh là vị Khai Sơn trú
trì chùa Pháp Hoa ở Phú Nhuận.
(4) Có tài liệu ghi là chùa Kim Sơn, tên cũ của chùa Sắc Tứ Tam Bảo.
--- o0o ---
|
Mục Lục Tập I |
|
I |
II |
III |
IV |
V |
VI |
VII |
--- o0o ---
[
Tập II ]
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 05-2003