Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam


...... ... .


 

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
 PL.2536 – DL.1993


HÒA THƯỢNG
THÍCH TRÍ THỦ

KỶ YẾU
VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG GIÁO HỘI PHÂT GIÁO VIỆT NAM
Ấn hành

 ---o0o---

 

Hòa Thượng THÍCH TRÍ THỦ

VỚI NGHI THỨC LỄ SÁM

THÍCH MINH TUỆ

Với những giấc mộng quan điểm thông thường cho là có thật. Nhưng thật ra, không hẳn như thế. Theo Duy thức học, đó là biến tướng của thức. Quả thật, chiêm bao là những hình ảnh đã được huân chứa sẵn trong tiềm thức, khi có cơ duyên là ứng hiện. Với khoảng thời gian học đạo và hành Phật sự đã qua, tôi thường gần gũi Hòa thượng khai lập Tu viện Quảng Hương Già Lam. Bởi thế, hình ảnh của Hòa thượng rất đậm nét trong tiềm thức của tôi, kể cả một vài tập quán tôi cũng đã chịu ảnh hưởng của Hòa thượng, chẳng hạn như uống trà, dậy sớm...

Do đó, sau ngày Hòa thượng vắng bóng, từ tiềm thức, tôi thường mơ thấy Hòa thượng trong các buổi lễ trọng thể. Trong khi góp phần lo lắng hoàn chỉnh tập kỷ yếu lễ tang và chuẩn bị lễ tiểu tường của Hòa thượng, vào một canh khuya, tôi đã mơ thấy Hòa thượng chuẩn bị lên chánh điện lễ Sám Hồng Danh. Hình ảnh của Hòa thượng đã gắn liền với Nghi Thức Lễ Sám. Hòa thượng thật đa năng, đa hiệu, đa hạnh... Đặc biệt, suốt cả cuộc đời, từ khi mới xuất gia cho đến ngày viên tịch, dù bận rộn việc đời, việc đạo đến đâu, Hòa thượng vẫn không bao giờ bỏ một buổi lễ Sám vào lúc 4 giờ khuya, trừ khi cảm cúm nặng. Nhưng suốt cuộc đời, Hòa thượng hầu như không có bịnh gì hết. Tiên thiên hay bẩm sinh của Hòa thượng rất tốt. Dù đã 76 tuổi đời, Hòa thượng chỉ mới hỏng có một cái răng, do Hòa thượng cố ý muốn nhổ, chứ với phương pháp chữa răng của nha khoa chưa đáng phải nhổ. Hòa thượng chỉ có cơn bạo bịnh, phải vào bịnh viện 3 ngày, theo y khoa, đó là "bịnh nhồi máu cơ tim" ở cuối cuộc đời mà thôi. Vì thế, Hòa thượng rất tinh cần

với nghi lễ sám buổi khuya. Hòa thượng thức dậy thật sớm, lúc 2 giờ. Dù trời lạnh mùa Đông ở Huế, ở Đà Lạt hay ở Hà Nội..., sau khi.thức dậy, Hòa thượng vẫn vận động cơ thể rồi đi tắm nước lạnh. Xong xuôi, Hòa thượng mới uống nước trà rồi lên chánh điện lễ Sám Hồng Danh, với 108 lạy, khoảng trên một giờ. Sau đó, Hòa thượng raThiền thất tọa thiền niệm Phật cũng trên một giờ. Đúng lúc 6 giờ 30 hoặc 7 giờ, Hòa thượng mới ra khỏi thiền thất, đi lao tác, ăn sáng và đi làm Phật sự. Đi bất cứ đâu, Phan Thiết, Nha Trang, Đà Lạt, Huế, Hà Nội, Mông Cổ, Ấn Độ..., Hòa thượng vẫn kiên trì với công hạnh lễ Sám, không vì lý do nào mà chểnh mảng. Khi sửa soạn hành lý đi xa, Hòa thượng luôn luôn nhắc thị giả đừng quên mang theo một bó hương trầm 60 cây và một gói trầm thật tốt để chuẩn bị cho các buổi Lễ Sám vào buổi khuya hằng ngày.

Khoa Lễ Sám được biên soạn từ hồi Hòa thượng còn làm Giám Đốc Phật Học Đường, chùa Báo Quốc Huế, vào đầu thập kỷ 1950. Cứ như thế tăng tiến, sửa đổi, thêm bớt để nghi thức hợp lý, phù hợp với cá nhân, với tập thể. Mãi đến năm 1980 nghi thức Lễ Sám đã thật hoàn chỉnh. Mỗi lạy đều có một bài kệ xướng, rồi lễ hiệu mà tập thể đồng hòa và khi cơ thể mọp sát đất lại có một bài kệ mật niệm trong khoảng 20 giây. Tuần tự như thế, từ lễ hiệu thứ nhất đến lễ hiệu thứ 108. Người chưa bao giờ tham dự khóa lễ tự thấy lo sợ bất kham, nhưng khi đã nhập cuộc, tham dự lại tự thấy rất thoải mái, chằng có gì mệt nhọc, vì cách lễ lạy rất thong thả. Nói nôm na, theo cơ thể học, đây là một cách tập thể dục nhẹ nhàng. Suốt cuộc đời, Hòa thượng không bịnh, chúng ta có thể bạo dạn kết luận là do cung cách dậy sớm, tắm nước lạnh giữ điều độ và đặc biệt là Hòa thượng đã gắn liền cuộc sống với nghi thức Lễ Sám này. Phân tích tinh tường về khoa Lễ Sám của Hòa thượng, thứ tự được xếp như sau:

1. Hòa thượng niệm Hương.

2. Hòa thượng nhiễu Phật, cắm hương vào bát nhang. Ba hồi bảng, câu chuông với ba hồi mõ.

3. Nghi thức xướng lễ:

a. Mười hiệu đầu. Kệ xướng lễ tổng quát về Tam Bảo, ba đời, mười phương; bốn bất hoạt tín và sám hối. Hòa thượng xướng kệ hiệu, đại chúng đồng hòa đọc danh hiệu và tất cả cùng lạy.

b. Kệ hiệu thứ 11: phát tâm đại thừa, lập nguyện Bồ đề, cầu thành Phật vị cao tột. Từ hiệu này đến hiệu thứ 108, cả Hòa thượng và đại chúng luân phiên xướng kệ, đồng hòa danh hiệu Phật hoặc Bồ Tát và cùng lạy.

c. Từ kệ hiệu thứ 12 đến kệ hiệu thứ 36: Danh hiệu chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai.

d. 48 đại nguyện của Phật A Di Đà.

e. Từ kệ hiệu thứ 85 đến kệ hiệu thứ 89: Xướng Lễ Pháp Bảo.

g. Từ kệ hiệu thứ 90 đến kệ hiệu thứ 103: Danh hiệu các Bồ Tát và Hộ Pháp Thiện thần.

h. Từ kệ hiệu thứ 104 đến 106: Các vị Hiền Thánh Tăng truyền giáo, khai sơn tự viện và phiên dịch giảng giải Kinh, Luật, Luận.

i. Kệ hiệu thứ 107: thay thế lễ lạy bốn trọng ân (lãnh đạo Quốc gia, Đất nước, Thầy Tổ và Cha Mẹ).

k. Kệ hiệu thứ 108 hồi hướng, thay thế lễ lạy ân Pháp giới chúng sanh.

4. Các Tỳ kheo nhiễu Phật và trở về từng phòng tiếp tục tịnh niệm, nghiên cứu hay học tập. Các Sa di và tiểu đồng ở lại tụng Lăng Nghiêm và 10 bài Thần chú. Riêng Hòa thượng nhiễu Phật trở về thiền thất tiếp tục tọa thiền niệm Phật.

Qua nghi thức Lễ Sám của Hòa thượng biên soạn và hành trì có những vấn đề và hiệu dụng cụ thể được biểu hiện đậm nét.

1. Với kệ 10 hiệu đầu do Hòa thượng tự xướng, dù Hòa thượng không nói ra, nhưng chúng ta phải ngầm hiểu, vì đầu khóa lễ hay bất cứ một cuộc tập họp nào, ít hay nhiều vẫn có người đi trễ. Nhiếp chúng và làm Phật sự lâu ngày, Hòa thượng rút được kinh nghiệm đó, nên Hòa thượng rất thông cảm với chúng ta, không quá khe khắt để có thể mất hòa điệu hay nhịp nhàng, lúc khởi đầu xướng lễ .

2. Nghi thức Lễ Sám mang ý nghĩa tán dương Tam Bảo, nguyện giữ ba tụ tịnh giới (luật nghi, làm lành và lợi ích chúng sanh), thù đáp các trọng ân và cao hơn là cầu sanh Tịnh độ, quyết thành Phật Đạo.

3. Rèn luyện tâm ý, viễn ly tà niệm và thâu nhiếp chánh niệm. Khi xướng lễ, trong giây phút, nếu người nào không nhiếp niệm là liền quên thứ tự kệ xướng hoặc chẳng rõ đã xướng lễ đến kệ hiệu nào.

4. Rèn luyện đức tính cần cù, thức khuya dậy sớm, thể hiện lời di giáo của Phật, đấu tranh với ma ngủ, một trong năm dục lạc (tài, sắc, danh, ăn và ngủ).

5. Rèn luyện cách sống tập thể, hòa nhịp với mọi người, gọi là đồng sự. Thức dậy đồng đều, lên chánh điện đồng loạt, xướng kệ và lễ bái hòa hơi hòa nhịp.

6. Rèn luyện cơ thể dẻo dai, nhẹ nhàng, thư giản gân cốt, thân thon nhẹ, có phước tướng thanh nhã.

Chỉ suy nghĩ vài vấn đề và hiệu dụng như thế, chúng ta vẫn thấy được giá trị của nghi thức Lễ Sám do Hòa thượng biên soạn và hành trì . Vì thế suốt cả cuộc đời, ngoài phận sự đào tạo tăng tài, phục vụ Đạo pháp và Dân tộc, Hòa thượng đã dày công gắn liền với Lễ Sám. Ở đâu, đến nơi nào, Hòa thượng vẫn đều đặn kiên giữ và gia công đánh thức chúng ta lên chánh điện đồng xướng lễ. Đây là một công hạnh của Hòa thượng, đang được phổ biến và chúng ta cần phải noi theo, trong cuộc sống độc cư, tập thể hay còn tại gia.

 

 

SÁNG MỘT TRỜI THƠ

Kính dâng giác linh  Hòa Thượng Thích Trí Thủ.

Đệ tử THANH TRÚC

 

Huyền diệu quá chốn Già Lam quyện tỏa

Một trời thơ nở trắng vạn bông hoa

Người hóa thân trong cảnh sống Ta

Đem ánh đạo rải từ Trung Nam Bắc.

 

Cả cuộc đời hy sinh vì Đạo Pháp

Hạnh nguyên tròn Người nhẹ gót lên đường

Để lại chúng con nỗi nhớ niềm thương .

Và trăng nước cũng ngậm ngùi luyến tiếc.

 

Viên mãn rồi Người an nhiên tịch diệt

Dù trãi qua trong mấy kiếp đường trần

Mà thường tại của diệu dụng Pháp thân

Vẫn sinh diệt đi ngang dòng bất diệt.

 

Không mẫu tự không văn chương trác tuyệt

Phút cảm giao thần diệu đấng siêu nhiên

Thoáng tâm linh phần nội tại nhập thiền

Thân khẩu ý như đêm rằm bạch nguyệt.

 

Hồn ngự trị đóa vô ngôn bất thuyết

Triệu con tim quỳ lạy nét thiên thu

Vầng sáng trưng gội tận chốn A-tỳ

Đáo-bỉ-ngạn say làn hương Thể-tánh...

 

 

 

 

PHÁP HỮU

THÍCH THIỆN SIÊU

 

Kính bạch Giác Linh Hòa thưọng,

Hôm nay vừa đúng hai năm sau ngày Hòa thượng an nhiên qui tịch. Hai năm hàng Tăng Ni Phật tử chúng tôi phải trải qua những ngày tháng trống vắng một bậc cao Tăng, một vị Thầy đạo hạnh tôn kính, có dáng mạo đoan nghiêm, đạo phong thanh thoát, thái độ ân cần thân mật, hoan hỷ bao dung, có nụ cười ấm mát tươi vui, biết quí người có học có đức nhưng không khinh chê người kém cỏi, sẵn lòng giúp đỡ mọi người không phân biệt việc lớn nhỏ, miễn thấy có lợi cho đạo cho đời xứng hợp với lòng từ bi thì không hề từ chối. Không ưa sống cuộc sống riêng lẻ cô tịch, mà ưa sống hòa mình vào đời sống của đại chúng để dìu dắt họ, sống giữa chúng Tăng đông đảo, cùng ăn với họ, chơi với họ, thậm chí có khi đi tắm biển, đánh pingpông, nhưng không vì vậy mà làm mất uy nghi, phai mờ đạo hạnh, lơi bỏ thời khóa tu trì, vun bồi đạo nghiệp. Đã sẵn mang hoài bão thừa Như Lai sứ, hành Như Lai sự, nên hễ gặp Phật sự gì đòi hỏi Hòa thượng đều sẵn sàng vui vẻ gánh vác, không luận chức vụ gì, khi làm trú trì, khi giáo sư, giảng sư, thư ký, hội trưởng, khi Viện trưởng Viện Cao Đẳng Phật học, Viện trưởng Viện Hóa đạo, khi Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ủy viên đoàn Chủ tịch Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tuy danh từ chức vụ có khác, nhưng không hề có sự mâu thuẫn giữa chức nọ với chức kia, vì trước sau trong tâm tư Hòa thượng cũng đeo đuổi một mục đích chí nguyện hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sanh, thương yêu tổ quốc đồng bào với tinh thần vô ngã vị tha, với hạnh Phổ Hiền thượng cầu hạ hóa, với đức tánh tịnh mà không trầm, động mà không loạn, Ở trên người mà người không thấy nặng, Ở dưới người mà người không thể khinh. Hòa thượng đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp, cho dân tộc, cho nhân loại, cả trong nước lẫn ngoài nước theo lời thệ nguyện mà Hòa thượng đã nêu cao từ trước:

Đốt nén tâm hương trước Phật đài

Phổ hiền hạnh cả nguyện đừng sai

Biến thân cát bụi thần thông hiện

Chữa bệnh trầm kha khắp mọi loài.

 

Kính bạch Giác linh Hòa Thượng.

Hôm nay trước bảo tháp uy nghi, Giác linh tịnh mặc, chúng tôi đồng tâm kính

thành tưởng niệm, duy nguyện thùy từ chứng giám.

 

_____________

 

Trên đây là lời cảm niệm của Hòa thượng Thiện Siêu phát biểu tiếp sau bài tiểu sử cố Hòa thượng Già Lam đọc tại tháp đài trong ngày lễ đại tường và khánh thành Bảo tháp 2.2. Bính Dần - 1.3.1986

 

 

 

Hoài niệm  HT. THÍCH TRÍ THỦ

QUÁCH TẤN 

Vào một buổi khuya thanh vắng, âm vang chuông chùa Hải Đức đồi Trại Thủy đã gợi lại tình cảm sâu đậm của nhà thơ Quách Tấn đối với cố Hòa thượng Giám Viện Phật học viện Nha Trang. Do đó, nhà thơ đã viết một thiên hoài niệm về Hòa thượng. Vì tập kỷ yếu chưa hội đủ các điều kiện, chúng tôi xin trích một vài đoạn để quí vị Tăng Ni và Phật tử xa gần thâm cảnh đạo tình của cố Hòa thượng và nhà thơ Nha thành. Mong tác giả cảm thông.

Ban thực hiện Kỷ Yếu.

Một buổi chiều xuân năm 1958, tôi lên núi Trại Thủy Nha Trang, thăm chùa Hải Đức. Tôi không vào chùa, tôi đi dạo chung quanh chùa nhìn tứ-vọng-cảnh, rồi ra sân xem những chậu hường, lấy giống từ Đà Lạt. Xa xa nơi bìa sân, một nhà sư áo nâu đứng lần chuỗi dưới gốc cây Bồ đề xanh tươi. Những hạt chuỗi đón ánh mặt trời như những vì sao óng ánh, nối nhau mọc rồi lặn, lặn rồi mọc, đều đặn ung dung. Hồi lâu nhà sư lặng lẽ đi ra sau chùa, lên Viện phật học cất trên hông đồi cao. Lòng tôi lâng lâng, và tôi có cảm giác rằng tôi là nhà sư. Đứng im một chỗ, nhưng tôi tưởng chúng tôi đương bước lên đầu non vừa đi vừa lần chuỗi. Cao hứng tôi sáng tác được một luật ngũ ngôn:

 LẦN CHUỖI

Chuông ngân chùa xẩm nắng

Hương quyện áo tràng bay

Trăm tám vì sao rạng

Xoay tròn đôi 1óng tay

Mười phương cây lặng gió

Năm sắc hồ trôi mây

Làn nước lên đầu núi

Ánh vàng tràn đó đây.

Sau, biết được nhà sư lần chuỗi đó là Thượng tọa THÍCH TRÍ THỦ Giám đốc Viện Phật Học Hải Đức, tôi bèn chép bài Lần Chuỗi tặng Thượng tọa.Từ ấy chúng tôi trở nên quen nhau.Thượng tọa tuổi Kỷ-Dậu, tôi cũng tuổi Kỷ-Dậu. Thượng tọa lại thích thơ Đường-luật, tôi lại mộ Đạo Phật. Cho nên những lúc gặp gỡ thường hay quên thì giờ trôi nhanh, lâm lúc cũng quên rằng Đạo cũng như thơ không đứng hẳn ra ngoài vòng thế sự.

Lúc bấy giờ Phật Học Viện Hải Đức được phép mở một lớp học cho giới Sa- di, Sa-di-ni Khánh-Hòa học để thi tú tài. Thượng tọa mời tôi giúp môn Việt văn. Tôi nhận giúp vào ngày chủ nhật vì tôi đương làm công chức ở Nha Trang. Tôi dạy từ niên khóa 1958 - 1959 đến nửa niên khóa 1962 – 1963 .

Năm 1963, Thượng tọa về Huế, gặp Pháp nạn, bị chánh phủ Ngô Đình Diệm bắt, lành dữ thế nào; người Nha Trang không mấy người biết rõ! Tháng 9 năm ấy, nhớ cảnh nhớ người, tôi theo trăng lên chùa Hải Đức.

Tứ bề vắng lặng. Không thấy một bóng người, không thấy một bóng đèn. Chỉ nghe văng vẳng như có như không tiếng chuông ngân trong hơi sương anh ánh màu trăng lờ lợt! Tôi ngẫu chiếm một tuyệt ngũ ngôn:

Trăng lên đồi Trại Thuỷ

Chuông khuya ngời ánh ba

Bồi hồi mây khóa viện

Sân Bồ-đề sương sa.

Sau ngày chánh phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ, Thượng tọa mới trở về Nha Trang đọc mấy vần ngũ tuyệt tôi chép tặng, Thượng tọa rơm rớm nước mắt. Thượng tọa Thích Trí Thủ vào Sài Gòn được ít lâu thăng chức Hòa thượng và trụ trì chùa Già Lam. Chùa Hải Đức và Viện Cao Đẳng Phật Học giao cho Thượng tọa Thiện Siêu và Đại đứcTrừng San, quản lý, thỉnh thoảng Hòa thượng mới về Nha Trang, tôi chỉ đến thăm có một lần. Vì mỗi lần Hòa thượng về,  phần thì lo Phật sự, phần phải tiếp khách hết lớp này đến lớp khác, không mấy lúc được rảnh rang.

Mãi đến năm 1968 Hòa thượng về Nha Trang, nghe tôi thoát chết vì bệnh mạch lươn phải mổ đi mổ lại đến sáu lần bèn cùng Đại đức Trừng San xuống nhà thăm. Mừng quá đỗi mừng. Thân tâm tôi vui khỏe như được uống một chén sâm Cao Ly. Trong dịp này Hòa thượng đã giúp tôi xuất bản tập XỨ TRẦM HƯƠNG.

Năm 1973, tôi lại bị bệnh Thanh quang nhãn (Glaucome) đui hết một mắt. Được tin không vui ấy, một lần nữa Hòa thượng cùng Đại đức Trừng San tìm đến thăm.Trong hai lần đến thăm, tôi không nhớ lần thứ nhất hay lần thứ hai Hòa thượng khen là "thơm dịu' bài Chuông Khuya trong tập Đọng Bóng Chiều:

Từng giọt châu rơi mắt mẹ hiền,

Mừng con lưu lạc trở đoàn viên

Neo thu bến tình thuyền sương sóng

In bóng chùa xa trăng nửa hiên.

Tôi thưa:

- Chuông đó là chuông chùa Hải Đức, chùa đó là chùa trên Trại Thủy in bóng xuống Cù Giang.

Đoạn kể tiếp:

- Sau hiệp định Genève, tôi hồi cư về Nha Trang. Từ ấy đến nay trên 15 năm (1957 - 1973) cứ mỗi buổi sáng lúc 4giờ 30, tôi thức dậy nằm nghe chuông, chuông chùa Hải Đức gióng trước rồi đến chuông chùa Sư Nữ. Có một điều là chùa Sư Nữ ở cách nhà tôi một khoảnh đầm rộng không đến 500 thước, còn chùa Hải Đức ở tận Trại Thủy cách xa hơn một cây số, thế mà tôi lại nghe tiếng chuông Hải Đức rõ hơn chuông Sư Nữ.

- Hòa thượng cười:

- Có gì lạ đâu, chuông Hải Đức đã lớn lại ở trên cao, còn chuông Sư Nữ vừa nhỏ thưa vừa ở dưới thấp, bị nhà cửa vây bọc tứ phía...

- Tiếng chuông Hải Đức có tiếng ngân vừa dài vừa ấm, dài ấm mà rất trong. Nhưng... Nhưng trong khoảng gần đây thỉnh thoảng tôi nghe tiếng chuông có hơi rè.

Hòa thượng giải thích: Đó là do mấy chú điệu còn ngái ngủ, không động chùy vào cục u mà lại động trật ra thành chuông.

Đại đức Trừng San cải chính:

- Con e không phải thế. Sợi dây da cột chuông đã quá cũ, con sợ lâu ngày rũi đứt nên đã lấy dây xích sắt thay vào. Khi đánh chuông cạ vào dây xích nên có tiếng rè.

- Mấy tuần sau, gặp tôi, Đại đứcTrừng San nói: Tai bác thính quá! Tôi về coi kỹ lại thì tiếng chuông rè không phải vì dây xích, mà vì trên đỉnh chuông có một đường nứt. Chùa chuẩn bi đúc một quả chuông mới...

Tôi chưa có dịp đến xem quả chuông mới, nhưng vẫn được nghe tiếng ngân vào mỗi buổi sáng. Tiếng ngân vẫn ấm, vẫn trong vẫn dài nhưng lại có phần lớn hơn tiếng chuông cũ. Quả chuông mới không treo nơi Viện như quả chuông cũ mà đem lên trên đỉnh đồi, gần Kim Thân Phật Tổ. Nghe nói lúc làm lễ treo chuông mới, Hòa thượng Thích Trí Thủ có về dự. Nhưng biết rằng khách đến thăm Hòa thượng đã quá đông rồi, mình đến nữa chỉ làm rầy Hòa thượng thôi, nên không tìm gặp. Năm 1974, nhân có việc vào SàiGòn tôi tìm đến chùa Già Lam...

...Tôi vào Hòa thượng mừng rỡ.

Tôi được tiếp nơi phòng khách rộng mát, bài trí rất trang nhã. Hòa thượng đối với tôi vẫn ân cần niềm nở như xưa... .. Tôi vừa nhớ, một buổi sáng chủ nhật, mặt trời vừa mọc tôi vừa đến sân chùa. Thưọng tọa Giám Viện đương đứng bên khóm tường vi, thấy tôi, lấy tay ngoắt. Tôi đến cùng Hòa thượng lặng lẽ đứng thưởng hoa. Hoa đầy cành, lớp búp, lớp nở. Cánh thắm ươn ướt sáng mai, mùi hương ngọt dìu dịu...Lòng tôi lâng lâng... Đoạn Thượng tọa hái hai đóa hoa bán khai và mời tôi lên cốc. Cảnh yên tịnh. Thượng tọa tự tay chế trà với hoa tường vi, cùng tôi ngồi đối diện, vừa uống trà vừa nói chuyện.Tôi khen: “Hương ngát vị ngọt”. Thượng tọa nói: "Nhất sen, nhì sói, thứ ba mới đến tường vi". Rồi phân tích hương vị từng mỗi thứ trà ướp hoa. Tôi tuy không nghiện trà, nhưng nhờ lúc nhỏ được nghe ông nội và bà thân tôi thường bàn về trà, lớn lên lại được đọc đôi quyển sách Nhật nói về Trà Đạo, đôi quyển sách của Tàu nói về nghệ thuật chế trà và pha trà, nên ngồi với nhà sư rành trà, tôi không đến nỗi phải làm"con cò ngóng cổ nghe kinh". Nhân nói về hoa trong trà, chúng tôi nói sang đến hoa trong thơ rồi đến thơ trong đạo, rồi đến đạo trong hoa... Chuyện thao thao bất tuyệt : Một chú điệu ngồi trên chiếc đôn nơi góc phòng, thiu thỉu ngủ

Lại một hôm nữa tôi đến Hải Đức vào buổi chiều. Thượng tọa Giám Viện nằm trên võng cột dưới giàn hoa bạch chỉ cạnh hiên phía đông chùa. Ông TRẦN ĐÌNH LẠC một người bạn đồng sự với tôi và là đệ tử thân tín của Thượng tọa, ngồi bên võng, trên mé thềm hiên chùa. Thấy tôi Thượng tọạ ngồi dậy bảo ông Lạc đi bưng ghế. Tôi không ngồi ghế mà ngồi ngay nơi chỗ ông Lạc đã ngồi. Thượng tọa vui vẻ nằm lại xuống võng, cùng tôi nói chuyện. Nhân thấy ông Lạc cầm quyển kinh DUY MA CẬT, tôi nhớ đến bài từ TÔ ĐÔNG PHA tặng TRIỆU VÂN:

Bạch phát thương nhan

Chánh thị Duy Ma cảnh giới,

Không phương trượng tán hoa hà ngại

Chu Thần trợ điểm

Cánh kế hoàn sinh thái.

- Tôi cao hứng ngâm khẽ .Ông Lạc yêu cầu tôi giải nghĩa. Tôi giảng:

Tóc bạc da mồi, chánh là cảnh giới của Duy Ma Cật. Nơi phương trượng trống không, nàng thiên nữ tán hoa, ngại gì mà không điểm giúp một nụ cười thơm thắm, để cho mái tóc già này xanh xanh trở lại. Một khay trà bưng ra. Mùi hoa sói thơm ngát làm cho hương vị thêm nồng.

- Biết rằng Thượng tọa Giám Viện là một nhà sư giữ giới rất nghiêm, nhưng tâm hồn luôn phóng khoáng, nên tôi không ngần ngại, đem câu chuyện tình giữa TÔ ĐÔNG PHA và TRIỆU VÂN kể cho ông Lạc nghe, rồi nói:

- Ông Tô sánh Triệu Vân với Thiên Nữ Tán Hoa của Duy Ma Cật. Thượng tọa Giám Viện liền kể sự tích Duy Ma Cật cho ông Lạc và tôi nghe... Câu chuyện nối tiếp từ Duy Ma Cật-Đông Pha đến Đông Pha-Phật Ấn...Khách đến Đại đức Trừng San ân cần mời vào nhà tiếp tân. Nhờ vậy mà câu chuyện phong lưu dưới giàn hoa không bị gián đoạn... Trí óc tôi đương cặm cụi quay lại cuốn phim "Chùa Hải Đức" thì tai vụt nghe “Bạch Hòa thượng". Phim đứt. Tôi giựt mình nhìn quanh: Bên cạnh Hòa thượng Trí Thủ, một Sa di đương đứng khép nép và ngoài sân có bốn, năm vị khách đàn ông có đàn bà có, đương đứng chờ. Tôi vội vàng đứng dậy. Hòn thượng cũng đứng dậy đưa tôi ra cửa...

Từ ấy cho đến ngày Hòa thượng viên tịch, trên 10 năm trời (1974 - 1985), tôi không gặp lại Hòa thượng lần nào nữa.

 Không gặp nhưng tôi vẫn luôn luôn nhớ Hòa thượng và tin tức về Hòa thượng tôi vẫn biết được đại cương...

Hòa thượng THÍCH TRÍ THỦ đã qua đời, nhưng tình Hòa thượng còn mãi trong lòng tôi. Hình ảnh Hòa thượng thường hiện rõ trong tâm trí tôi, với mùi hoa tường vi, mùi hoa sói với phong cảnh chùa Hải Đức tuy quen thuộc song luôn luôn mới mẻ trong bầu không khí u tịch thanh cao.

Và ngày hôm nay, 1 tháng 9 năm Bính Dần, tức 21 tháng 10 năm 1986, lúc 4 giờ 30 sáng, nằm nghe chuông chùa Hải Đức như thường lệ, tự nhiên tôi nhớ Hòa thượng da diết. Hai hàng lệ chảy ròng ròng!

Người già hạt lệ như sương

Mình già  hạt lệ lại thường như mưa!

Để dâng lên Giác linh Hòa thượng, tôi viết chương ký ức này. Nhớ gì viết nấy, nhớ đến đâu viết đến đó, không lập ý, không bố cục. Chăm chỉ viết từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn. Viết với tấm lòng kính cẩn chân thành.

 

TRANG NHẬT KÝ CỦA THỊ GIẢ

TỐI 29 THÁNG 2 GIÁP TÝ: Đại chúng Già Lam họp  thường lệ trước ngày Bố tát để kiểm điểm việc tu học và hành đạo. Nơi trai đường, cuộc họp đang diễn tiến với sự có mặt đầy đủ thầy Trụ trì, thầy Giám học, Tăng chúng và học chúng thường trú...

Lúc 21 giờ, bỗng chú điệu hầu chạy xuống phòng họp nói: Thưa quý thầy, Ôn mệt." Chúng tôi linh cảm có cái gì không yên trong lòng, vội rời phòng họp, chạy lên lầu thăm Ôn, để biết tình hình cụ thể về sức khỏe. Ôn đang nằm trên giường, nghe tiếng chúng tôi, Ôn gọi lại dạy: "Đau ngực! Làm sao cho mau hết đau?”

Sau khi xuống trình lại với quý thầy đang họp, thầy Trụ trì, thầy Minh Tuệ và một số quý thầy liền ngưng họp vội lên thăm Ôn. Nhận thấy cần phải đi bệnh viện sớm để theo dõi sức khỏe, quý thầy thưa Ôn, Ôn bằng lòng đi bệnh viện...

NGÀY 30 THÁNG 2 NĂM GIÁP TÝ: Các bác sĩ chẩn đoán tối qua sau lần hội chẩn, đã quyết định để Ôn nằm điều trị ở phòng cấp cứu tim mạch, dưới sự săn sóc của bác sĩ thường trực...Ôn vẫn tỉnh táo và thường xuyên gọi chúng tôi bảo chuẩn bi mọi việc chu đáo để tuần sau đi Hà Nội khai mạc hội nghị thường niên của Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội. Mặc dù nằm trên giường bệnh, Ôn luôn luôn nhắc quý thầy, hỏi han các Phật tử. Ôn dạy: Quý thầy bên ngoài có được thường không? Hôm nay ngày sám hối, thọ Bát quan trai, các Phật tử dưới chùa đi thọ bát nhiều không? Chúng tôi thưa: "Bạch Ôn, Quý thầy vẫn thường. Chúng thọ bát vẫn đông như thường lệ. Ôn dạy: "Tre tàn măng mọc đó nghe!" Chúng tôi lặng người đứng yên bất động lòng nao nao lo sợ.

NGÀY 1 THÁNG 3 GIÁP TÝ: Việc sắp đặt hầu Ôn được bổ sung thêm hai chú Sa di nữa nên đỡ bận rộn. Trưa nay,giao hai chú trực chúng tôi mới có dịp đi dạo vòng ra phía ngoài hành lang. Chợt thấy một tấm bảng ghi phấn trắng, tò mò lần đến xem, thì ra đấy là bảng ghi tên các bệnh nhân cần được bác sĩ thường trực săn sóc đặc biệt. Từ chuyên

môn của bệnh viện gọi là "Bệnh điểm".Tuần tự dò từ ngôi thứ nhất xuống, chúng tôi giật mình: số 13! Thích Trí Thủ. Ôn là người thứ 13! Không mê tin dị đoan, nhưng tự nhiên chúng tôi thấy lòng mình rối lại, buồn thật là buồn, cổ họng nghẹn lời và nước mắt trào ra!...

NGÀY 2 THÁNG 3 GIÁP TÝ : Ôn vẫn tỉnh táo, vẫn thường gọi chúng tôi hỏi chuyện. Chợt Ôn dạy: Đạt Đạo ơi! Chắc không sống quá! Chúng tôi không cầm được nước

mắt thưa:

- Bạch Ôn! Không có sao đâu, Ôn đừng nói vậy con sợ lắm!

20 giờ tối, Ôn dùng sữa xong, giao hai chứ trực hầu, chúng tôi dùng cơm ,tối, lúc đó nghe tiếng chú Sa di hầu Ôn đang tụng bài "Nhất tâm quy mạng “. Ôn vẫn thường hay bảo tụng cho Ôn nghe bài này mỗi khi Ôn thấy trong người tứ đại bất an.

20 giờ 45 phút, Ôn còn thức, chúng tôi thưa:

- Bạch Ôn nằm nghỉ, 9giờ con sẽ mời bác sĩ vào thăm Ôn lại.

Ôn gật đầu.

Chúng tôi lên giường nằm nghỉ, dặn hai chú trực 21 giờ gọi tôi dậy. Vì thiếu ngủ và mệt mỏi, mới đặt lưng chúng tôi đã ngủ liền.

- Thầy ơi! Ôn mệt.

Chú Sa di hầu Ôn vừa gọi vừa giật chân. Chúng tôi nhảy vội xuống giường, chạy đến Ôn, thấy Ôn nhắm mắt lặng người. Chúng tôi chạy ra gọi bác sĩ cấp cứu. Thấy Ôn hơi khỏe, chúng tôi đến bên:

- Ôn ơi! Ôn ơi! Con là Đạt Đạo đây Ôn ơi!

Ôn vẫn nhắm mắt, một hơi thở nhẹ hắt ra. Kim đồng hồ chỉ 21giờ 15 phút. Làm thị giả hầu Ôn bao nhiêu năm như hình với bóng, giờ đây Ôn thực sự không con nữa. Cả bầu trời sụp đổ trong lòng tôi!...

THÍCH ĐẠO ĐẠO

 

 

Khóc Hòa thượng  THÍCH TRÍ THỦ

 VIỆT TỦY

 

Giữa đời ngũ trược sông siêu phàm

Bát nhã thuyền đưa khắp Bắc Nam

 Phổ Tế, Tra Am về Diệu Hỷ

Ba La, Báo Quốc, trụ Già Lam

Hội trường quốc tế danh Hòa thượng

Học viện Nha Thành vọng Pháp âm

Chuyến đi lần cuốí mùa sen nở

Hoa cỏ còn vang dội tiếng thơm.

  

 

Xuống núi GÁNH NƯỚC, Lên rừng KIẾM CỦI

THÍCH TỪ MẪN

Vào dịp Tết Nguyên đán, tôi đã nhận được thư của Tu viện Quảng Hưong Già Lam gửi chúc mừng năm mới Đinh Mão,đồng thời nội dung của thư cũng cho biết quyết định của Tăng ni Phật tử thuộc môn đồ pháp quyến của Ôn Già Lam và Báo Quốc đã họp và nhất trí vào dịp giỗ đầu hai Ôn sẽ thực hiện tập kỷ yếu .

Tôi rất sung sướng nhưng cũng rất buồn.

Sung sướng vì quý vị đã nghĩ đến công hạnh của hai Ôn bằng kỷ niệm, ghi lại hình ảnh sống động về cuộc đơi hành đạo của hai Ôn bằng tất cả cảm nghĩ của đàn hậu sanh được sự giáo dục của hai Ôn.

Rất buồn ngày Ôn chúng ta (Già Lam) viên tịch, tôi là người bất hạnh, trong lúc đó đang bệnh, không vào Già Lam được để đảnh lễ và tiễn đưa nhục thân của ân sư đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Cũng là điều bất ngờ thay, tôi được gặp Ôn Thanh Trí (Báo Quốc) vào Đà Nẵng để đi Sài  gòn cư tang Ôn Già Lam. Có ai ngờ rằng đây là lần cuối cùng được hầu chuyện với Ôn và tiễn đưa Ôn lên xe lần này cũng là lần cuối cùng tiễn biệt.

khi tôi tiễn đưa Ôn cùng phái đoàn Huế và Đà Nẵng trên chuyến xe du lịch vào Già Lam để dự tang lễ cố Hòa thượng Chủ tịch. Ôn dạy: "Thôi Từ Mẫn bịnh, có thể ở nhà, ôn Già Lam thương Từ Mẫn lắm, không có trách đâu.”

Tang lễ cố Hòa thượng Chủ tịch xong, sau đó 3 ngày, có ai ngờ rằng Ôn Báo Quốc cũng về cõi An dưỡng với Ôn Già Lam.

Hai Ôn có hẹn chăng?

Hồi tưởng lại khi còn là Tăng sinh Ở Phật học đường Báo Quốc vào những năm 1952-1953 là những năm nhà trường còn thiếu thốn mọi mặt: điện và nhất là nước, lúc bấy giờ nhà trường chưa có nước máy như bây giờ. Dưới dốc chùa vỏn vẹn chỉ có một cái giếng mà cả xóm đều đến gánh. Vào mùa an cư kiết hạ nước trở thành một thứ hiếm.

Ôn Thanh Trí (Báo Quốc) đợi cả xóm nghỉ gánh nước, Ôn mới xuống múc nước từ lúc 9 giờ mãi đến khuya, đầy các thùng phuy rồi gánh lên chùa. Nước đầy bể, Ôn mới đi nghỉ. Chúng tôi xuống múc thay Ôn, Ôn bảo, "Các chú lên đi, các chú lo học bài cho mùa thi sấp đến, việc này tôi làm được. Tôi chỉ mong sao các chú chăm lo học hành, để ngày sau trở thành người hữu dụng cho đạo pháp, thì tôi cũng được dự phần công đức.” Ôi! Hình ảnh hy sinh, tận tụy cho chúng tăng làm sao phai mờ trong tâm trí con và anh em học tăng, được sống dưới mái trường thân yêu, được sự lo lắng che chở cho, quí Ôn như người Mẹ hiền.

Tuy vườn chùa rộng lớn, song toàn cây ăn trái và cây cảnh hoa, lá nên củi cũng hiếm, thổi cơm toàn bằng lá khô, dân học tăng quét gom lại, cho các bà hậu cần. Một hôm, Thầy Đốc (ôn Già Lam) họp chúng bảo: bây giờ trường thiếu củi, vả lại để cho anh em đi du ngoạn một chuyến cho thoải mái, chúng ta tổ chức đi củi. Thế toàn  thể học tăng, mỗi người phải mượn một cây rựa để cuộc lên rừng đạt chỉ tiêu, người đi thuê ghe, kẻ lo cơm nước, sáng mồng 6 thoáng 12 là lên đường. Tính sao về kịp lễ Thành Đạo của Đức Bổn Sư, 8.12 âm lịch.

Thế là hai chiếc ghe bắt đầu rời sông Bến Ngự, từ từ tiến lên lăng Minh Mạng.

Tối đến như thường lệ, Ôn dạy: "Đi đâu ở chỗ nào cũng phải giữ qui củ Thuyền môn hành trì. Vì thế, đúng 7 giờ 30 tất cả đều nghiêm chỉnh tụng kinh như thường lệ. Sau thời kinh, ghe cặp bến lăng Minh Mạng. Chúng tôi vẫn nghỉ trong ghe. 4 giờ sáng như thường lệ, Ôn dậy thức chúng công phu và thổi cơm, ăn sáng. Trời vừa sáng chúng tôi bắt đầu rời ghe vào rừng. Một lúc sau, bầu trời mây bao phủ và đổ mưa tầm tả. Chúng tôi vẫn chịu ướt, chịu lạnh, cứ hai người một cây, tiếng búa rìu bổ vào cây vang dội cả khu rừng. 10 giờ trưa cây ngã ngỗn ngang, ngập cả lối đi .

Anh em vừa nghỉ thì chợt  một toán ba bốn người đến nói to: "Ai cho mâý ông vào đốn thông ở đây, khu này là quốc cấm các ông có biết không? Mời các ông đem búa rìu về trạm kiểm lâm làm việc!”.

Tất cả anh em nhìn nhau, nói với nhau, rứa là tụi lính bị bắt nhốt rồi. Có cậu hoảng la chí chóe: "Ôn mô rồi?” Có người biết bảo Ôn vào lăng thăm rồi. Một lát sau Ôn về không thấy anh em đâu, Ôn hỏi chú học tăng còn lại giữ đồ, chú trưởng học tăng trình Ôn biết., Trưởng toán kiểm lâm vào đây bắt anh em vào trạm cả rồi.

Trong lúc đang lo sợ thì Ôn vừa đi vào, với phong độ uy nghi, bình tĩnh Ôn vái chào theo thuyền môn: A Di Đà Phật. Các vị lính kiểm lâm mời Ôn ngồi trình bày sự việc. Chúng tôi ngồi cả dưới đất hồi hộp. Vừa đói bụng vừa lo lắng, sợ họ mời Ôn đi thì cả bọn bơ vơ, không biết tính toán làm sao bây giờ. Thì may quá, ông trưởng đồn kiểm lâm vừa vào-Ôn đứng dậy chào hỏi.

Ông trưởng kiểm lâm ôn tồn hỏi: Trời ơi! Ôn đi đâu cực khổ lạnh lẽo rứa

Ôn bảo: Lâu quá không đi tham quan lăng, luôn tiện cho anh em học tăng họ đi cho biết lăng, nhân đó kiếm ít củi về dùng, chùa nghèo quá, không có tiền mua củi, không may là nơi quốc cấm.

Sau khi mời Ôn dùng trà - Ông trưởng kiểm lâm thưa Ôn: Đây là khu quốc cấm, vì là thuộc phạm vi của lăng. Nếu là thường dân thì sẽ bồi thường lớn lắm, và ở tù cũng nên.

Ôn nói: Chúng tôi nghèo, việc ấy làm sao giải quyết. Ông trưởng kiểm lâm thưa: Việc ấy thôi Ôn để tôi giải quyết.Vì vừa là một con cháu của dòng họ Nguyễn Khoa, chùa Ba La nơi Ôn đan kiêm nhiệm trú trì, vừa thấy chúng tôi chẳng phải là người chuyên nghiệp đi kiếm củi, vừa thấy chúng tôi chịu mưa lạnh mà với khu rừng rộng lớn bao la, ngã một vài cây thông chẳng có là bao.Ông trưởng kiểm lâm tiễn thầy trò chúng tôi ra về. Bấy giờ anh em lo thu xếp thật nhanh để có thể hai giờ là rời bến, theo lệnh Ôn. Hơn nữa, trời vẫn mưa, nước sông vẫn dâng cao, chúng tôi phải về trước khi đêm xuống.

Sau 4 tiếng đồng hồ, ghe đã về bến Ngự. Nước lụt đã lên mé đường. Ôn dạy: Bỏ củi lên bờ. Đêm tháng chạp ở Huế, mưa lai rai, lành lạnh, bỏ xuống xong chúng tôi phải vác về Báo Quốc.

Hai giờ khuya, hai thuyền củi đã về nằm ngỗn ngang ở trường Báo Quốc.

Ôn dạy: "Thôi tắm rửa ăn cơm đi nghỉ để khuya còn lễ vía Thành Đạo.”

Về đến chùa, anh em ai nấy mệt lã, nhưng cũng thấy lòng vui nhộn, vì có nhiều kỷ niệm trong chuyến đi ghé thăm lăng và kiếm củi này. Mãi đến nay, đã gần 30 năm qua rồi, những học Tăng từng ở Báo Quốc, nhắc lại chuyện này chắc không mấy ai không ngậm ngùi thương mến thầy Đốc.

Hôm nay nhân ngày giỗ đầu hai Ôn con ghi lại đây những mẩu chuyện nho nhỏ này để bày tỏ mối tâm tình tưởng nhớ đến hai Ôn

Bấy giờ, hình bóng của Ôn không còn ngã dài trên bước đường: "Đại Phật tuyên dương,  truyền bá chánh pháp", ở thế gian này nữa. Song hai Ôn sẽ thỏa nguyện. Vì có đàn hậu học tiếp nối sự nghiệp của hai Ôn. Con cũng như anh em nguyện suốt đời đi trên con đường hai Ôn đã đi. Nguyện làm những gì mà hai Ôn đã làm. Có những lúc về Huế, ghé lại Phổ Đà, Ôn luôn luôn dạy chúng con: “Nguyện bách kiếp thiên sanh, xứ xứ đồng vi pháp lử”.

Với lời nguyền trên, con tin tưởng rằng dù nhục thân của hai Ôn đã xả, nhưng pháp thân của hai Ôn vẫn du hóa ở thế giới này, hay ở một quốc độ khác.

Con cũng từng mong sao được như lời nguyện của hai Ôn, để rồi chúng con, đời này hay ở một kiếp khác, dù thay hình đổi dạng và ở đâu vẫn được thực hiện ý nguyện:

"Trưởng ngộ minh sư

Chánh tín xuất gia

Thừa sự chư Phật

Lợi lạc hữu tình".

Ngưỡng mong Giác linh nhị vị Hòa thượng chứng giám.

 

 

 

 

 

 

CHUYỆN PHIẾN ĐÁ ĐỀ THI

TÂM TẤN - Nha Trang

Mùa đông gió bão năm 1973, Ôn về Phật học viện Hải Đức, trong hai  tuần lễ làm Phật sự.Mấy lần lên hầu thăm Ôn, đều thấy Ôn bận chỉ vẽ cho mấy Thầy xây Non Bể Bản Đồ Việt Nam, tôi cũng giúp mấy Thầy tìm mua cho ra những ngôi chùa, cái tháp, cái cầụ, Tượng Phật, ông câu, voi, rùa, thỏ v.v.. bằng chất gốm, men, để gắn vào các khe, cây, mới tạo giả cảnh. Mới trông vào, tôi cũng nghĩ Ôn tạo cảnh vui mắt để tăng vẻ nên thơ cho thiền thất. Khi đã tạm hoàn thành non bộ chử S, hội đủ hình ảnh chùa, miếu tượng trưng cho 3 miền. Một chiều, Ôn ngồi dùng trà ngoài hiên. Cầm tách trà nhấp một hớp, mắt nhìn non bộ âu yếm, rồi trầm tư: "Mong cho Bắc Nam hòa hợp, cho đất nước khỏi nạn tai, đồng bào an lạc.Thương quá! Đất mẹ quá khổ, cằn khô vì chiến cuộc kéo dài. Xây bản đồ ni là để nguyện cầu hòa bình cho đất Mẹ..”

Tôi lặng nghe giọng Ôn nói mà tưởng nhự tiếng thở dài của núi sông..Và tức khắc cảm ứng được tâm niệm chí thành của Ôn với việc xây non bộ.

Trước ngày Ôn vào lại Già Lam, Ôn chỉ vào một góc nơi non bộ, bảo tôi:"Chỗ ni mà dựng một phiến đá, kẻ lên một bài thơ vịnh bản đồ Việt Nam thì hay lắm đây! Tâm Tấn làm đi."Bạch Ôn, bài thơ vịnh đó phải là bài thơ của Ôn sáng tác". Ôn cười: “Ờ, để tôi nghĩ coi, có nhiều ý mà chưa thành vần.Tôi sẽ gởi ra". Mấy tuần sau Thượng tọa Đổng Minh vào Già Lam đem về bài thơ của Ôn, trao cho tôi. Ngoài bì thư, Ôn viết: Tâm Tấn xem xong rồi giao cho Phước Đường và Minh Thông. Giao, tức là giao cho hai thầy cái việc tìm đá gắn vào non bộ, và viết bài thơ lên đá đó. Tôi tìm hai thầy trao bài thơ và nói qua tâm niệm cùng nhắc lại ý muốn của Ôn. Mười ngày sau lên thiền thất, đưa mắt qua non bộ, vẫn.chưa thấy mô đá hiện bài thơ, hay là thơ đề trên đá! Tìm hỏi, hai thầy cười hỏi lại: “ Đá đâu mà thơ! Bà giỏi tìm đá đem lên”.Tôi cũng cười, nhưng không hứa lời chi. Lặng lẽ bước chậm qua đường đồi, nghĩ việc thực hiện phiến đá đề thi, coi dễ mà khó, nhưng khó mà dễ nếu mình bỏ công...Ừ, gắn dâng Ôn chút niềm vui nhỏ: Khi về thăm viện, nhìn  bản đồ, Ôn sẽ hoan hỷ vì những trang lòng của Ôn đã trải kề bên.Tôi đón xe lam ra Đồng Đế, bảo ngừng xe lại chỗ núi, nơi có thợ chẻ đá. Từ đường quốc lộ vào chỗ thợ chẻ đá rất xa mà khó đi. Ngồi gần một giờ, chờ thợ chuốt viên đá lớn cho nhẵn, lại ra đường đón xe ba gát, vì xích lô nơi khoảng đường ấy không có. Trả tiền thuê xe, còn trả tiền công họ khiêng đá từ trong núi ra đường, bỏ vào xe, tôi leo lên ngồi chung xe với cục đá, đó là lần đầu tiên tôi ngồi xe ba gát! Tưởng tượng cục đá vô tri này, nay mai được nổi lên bài thơ của Ôn Hòa thượng được ẩn bên vườn cảnh khung thiền, tôi quên nghĩ đó là cục đá, mà lại nhìn nó với vẻ quí trọng. Đây là Phiến đá đề thi. Xe chở thẳng về viện, tôi giao thầy Minh Thông và yêu câu thầy Hạnh Thông, người viết chữ đẹp,dùng sơn viết bài thơ. Tôi kể chuyện ngồi xe ba gát với cục đá, và nói đùa: Thấy tài đảo hải di sơn chưa! Đem núi Đông Đế về Hải Đức đó. Mấy thầy cười quá.

Chuyến sau, Ôn về Hải Đức. Lên hầu thăm Ôn, Ôn cũng đem khay trà ra ngồi bên hiên, ban cho một tách trà thơm, Ôn hỏi: "Nghe mấy thầy nói Tâm Tấn ra tận Đồng Đế khiêng đá về? -Dạ, con mô có khiêng nổi! Một cục đá nớ mà vận dụng cả xe ba gác, thưa Ôn. Ôn cười: "Rứa đá trong tâm chở bằng xe chi?". Tôi giật mình nhìn lên, thấy Ôn cười và đang chờ câu trả lời. Tôi cũng cười thưa: "Bạch Ôn đá trong tâm thì xe mô chở nổi! Uống vài liều thuốc đắng sẽ tự tiêu." Ôn lại hỏi: "Rứa có gặp phải thuốc đắng, cố mà nuốt đừng than chớ?" - Dạ, con không than!

Kính lạy Giác linh Ôn, bao nhiêu chất đắng con đã uống qua, nhưng có lẽ chưa cạn tận cùng chiếc cốc nghiệp quả, cho nên đá trong tâm vẫn chưa được tiêu tai. Tuy nhiên, mỗi khi gắng nuốt những đắng cay giữa cuộc thế, con nhớ lời Ôn dặn, dạ, con không than... ...

Đôi lần, muốn tìm phút giờ yên tĩnh, khi về Viện Hải Đức thường lên Tịnh thất, bước quanh non bộ rồi dừng lặng nơi hiên, chỗ Ôn ngồi uống trà, Nhớ lời Ôn, 15 năm qua rồi, mà như mới đâu đây! Phiến đá đề thi rêu xanh nhuộm sắc thời gian, cánh chiếc én bơi bổng giữa lòng sông, trong không hoạt họa, ý thơ xưa còn đẹp một khung trời.

 

 

 

 

Tết Đinh Mão

Cảm niệm ÔN GIÀ LAM

 

THÍCH HUỆ HƯNG

 

Hơn sáu mươi năm ở cửa “Không"

Rải mầm Bát nhã khắp non sông.

Ba miền Phật Giáo còn ghi dấu

Một cảnh Già Lam trọn khắc công

Giáo hội Tăng đoàn tôn Chủ tịch

Thiền gia pháp lữ trọng tông phong

Xứng hàng trưởng lão đời hy hữu

Hậu bối chân thành tưởng niệm Ôn.

 

 

 

 

 

 

Tiếng Lòng

Lạy Hòa thượng con không quên được,

Ngài dạy con trên bước tu hành.

Gần đây trong cuộc hành trình,

Tham quan miền Bắc Ngài dành cho con.

Từ ngày đó tính hơn sáu tháng,

Vì thiếu duyên con chẳng gặp Ngài.

Để con báo cáo nhũng ngày,

Con chờ phương tiện trở về Nha Trang.

Như trời sập Thanh Hương cho biết:

Ôn Già Lam nhập Niết Bàn rồi!...

Tim con đập mạnh liên hồi

Mắt con rướm  lệ, ôi thôi còn gì!

Con lảo đảo chân đi không được,

Con cắn răng nước mắt vẫn tràn.

Tai bùng ruột thắt hoang mang,

Tại sao đột ngột Niết bàn vậy ôi!

Ngài viên  tịch đạo đời đều mất,

Mất vị Thầy, mất bậc chân tu.

Giáo đồ bảy chúng hiền ngu,

Triệu người như một quá ư đau lòng.

Ngài là đấng thiệu long Thánh chủng,

Ngài là người lương đống Thiền gia.

Bao nhiêu tâm niệm thiết tha,

Ngài đều gởi trọn vào nhà truyền đăng.

Trường hợp gặp khó khăn trở ngại,

Ngài vững tâm không ngại gian nguy.

Tòa nhà Phật giáo hiện nay,

Là điều cụ thể việc này chứng minh.

 

Con mạn phép kính trình vài nét,

Tiếng của lòng không biết gì hơn

Dù cho biển cạn non mòn,

Con thề noi gót sắt son trọn đời.

Nha Trang ngày 18.3. Giáp Tý

Pháp tử THÍCH ĐỔNG MINH khấp bái. 

 

MỘT TÂM HỒN ĐẦY THƠ

HẢI NHƯ

Trích báo Giác Ngộ , số 190, 15.4.1984

Tháng 9 năm 1982, trên đường đi dự Đại hội thành lập Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Lâm Đồng về, Đoàn đại biểu Giáo hội Trung ương từ Đà Lạt không về lối cũ mà băng lối khác: lối qua Nha Trang rồi mới trở về thành phố Hồ Chí Minh. Thầy Trí Thủ - tôi xin phép được gọi là Thầy như thuở Hòa thượng còn sinh thời cho thân thuộc đã luôn luôn kéo tôi ngồi gần để trò chuyện về cảnh quan đất nước. "Đất nước ta đâu cũng là bức tranh, bức tranh đẹp mà nhiều đất nước khác không thể có. Tôi đi nhiều nước, tôi thấy họ phải tạo ra

núi giả, suối giả để lấy tiền du lịch. Anh là nhà thơ, nhà thơ có thấy núi và suối có sẵn, ta phải biết thưởng thức thiên  nhiên gấm vóc như ông cha ta phát hiện ra cho ta chứ?”Vị cao Tăng cứ đến mỗi chỗ ngoặt của xe đỗ dốc lại reo lên như trẻ thơ và quay sang tôi ngôi cạnh chia xẻ niềm vui. Ngắm nhìn vẻ mặt đôn hậu và hồn nhiên của nhà sư thuộc hàng trưởng lão tự hào về cảnh quan đất nước, tôi bỗng hiểu ra tinh thần dân tộc được bồi đắp trong mỗi con người nhà tu hành này có gốc rễ sâu xa. Phật giáoViệt Nam từ thời Lý Trần đã thể hiện sự gắn bó với dân tộc trong mỗi bước ngoặt của lịch sử và nổi bật lên ở mỗi bước ngoặt lịch sử đã qua, trở thành nhất quán và truyền thống rất đáng tự hào không chỉ riêng cho các Tăng Ni, và những ai là Phật tử.

Người nhắc con người hãy biết nhìn và biết yêu những cảnh quan đất nước mình, ở dân tộc nào cũng vậy, đều là các nhà thơ. Tổ quốc là gì? Đã có một bài viết trong những năm còn chống Mỹ ở Hà Nội - Bài tùy bút Ngắm sâu Hà Nội, nhớ mẹ Sài Gòn - tôi có đặt ra câu hỏi ấy và trả lời: " Tổ quốc không phải là núi sông hùng vĩ chung chung. Một tiếng ếch kêu trong thơ Tú Xương làm cho lòng ta có những phút giây xúc động bàng hoàng, ấy là Tổ quốc.” Tôi đến chùa Già Lam sau mỗi chuyến đi thực tế sáng tác các địa phương xa về là tìm đến bên cạnh một vi Hòa thượng tôi kính trọng còn là một tâm hồn thơ tôi yêu. Và lần nào cũng vậy, vị cao Tăng này hoan hỷ tiếp tôi, tiếp một nhà thơ không phải đọc thơ cho nhau nghe đâu mà với những câu chuyện dân gian rất “đời”.Một kiến thức dân gian của một người Việt Nam chỉ thật sự sống trong lòng dân tộc mới có được. Tôi học được ở thấy Trí Thủ cách kể chuyện dân gian và nét hóm hỉnh khi kể. Nhưng có lẽ trước hết và cuối cùng là nổi bật tính triết học khái quát đằng sau mỗi câu chuyện nhà sư ấy muốn gởi gấm răn dạy con người.Vẫn câu chuyện ấy thôi chúng ta nghe có thú vị riêng: thú vị của một người kể mang lại.

Tôi cứ nghĩ về cái "đắc đạo", cái “hạnh tu” mà Thầy đạt được phải chăng là Thầy không để mất tính cách tâm hồn dân tộc khi chọn đạo Phật cho lẽ sống suốt dời mình.

Lần nghe tôi giới thiệu nhà sử họcĐào Duy Anh và nhà kiến trúc Nguyễn Cao Luyện mới ở Hà Nội vào, Thầy đã nhắnrinh Võ Đình Cường, Tống Hồ Cầm và Nguyễn Văn Hàm trong tờ Giác Ngộ mời bằng được "khách quí" - chữ củaThầy - lên chùa Già Lam và ra tận sân trước rước đón. Trong bữa "thụ trai" ở chùn Già Lam hôm ấy ngồi với ba nhà thức giả của đất nước mới ngoài 70 tuổi mới làm quen nhau, tuy đã nghe tên và ngưỡng mộ nhau từ lâu, tôi bấm tay anh Võ Đình Cường, nói nhỏ: "Nhà sư trẻ và vui không kém". Chữ trẻ ở đây tôi muốn nói tâm hồn đầy thơ, tâm hồn rất giản dị trong tiếp xúc qua câu chuyện hàn huyên, không khách khí. Một vị caoTăng đang trẻ lại với tâm hồn phơi phới lòng tin vào tiền đồ của Phật giáo Việt Nam đã mở ra một trang mới cùng Tổ quốc trong vận hội mới đang hứa hẹn sẽ đi xa.

TP Hồ Chí Minh,  ngày  10 tháng 4 năm1984

 

Kính dâng Hòa Thượng

 

Hòa thượng quy Tây quá vội vàng,

Lòng con hồi hộp nỗi lo toan.

Chiếc thuyền Giáo hội sang tay lái.

Ngọn đuốc canh tân sắp mở màn.

Tiếng trống ngàn xưa im vắng lặng,

Câu kinh hiện tại điệu hòa vang.

Từ đây Pháp hội đâu còn thấy,

Hình bóng không trung khắp nẻo đàng.

 

Hòa thượng quy Tây quá vội vàng,

Trời Nam tràn ngập nỗi buồn than.

Già Lam ánh sáng lu mờ bóng,

Hải Đức chuông linh vắng lặng trang.

Biển giác xôn xao thuyền dậy sóng,

Non linh mây phủ cảnh mơ màng.

Phái chăng quá biết đời là mộng,

Phô diễn vô thường cuộc thế gian.

 

Thích nữ ĐÀM HƯƠNG

(Phan Rang)

 

Hoài Niệm

 

TINH MINH

Cẩn niệm

VIẾT về Ôn Già Lam thật khó, khó vì tự nhận thấy mình là đàn con em hậu học, gần gũi với Ôn chưa được bao nhiêu, vả lại nhân cách và đạo phong của Ôn rực rỡ quá; các bậc huynh trưởng tôn túc được Ôn dưỡng dục hai ba mươi năm còn không dám đặt bút thành văn, huống nữa là mình. Nhưng không viết vào dịp đặc san kỷ yếu này thì biết bao giờ mới bày tỏ được chút tình nồng ấm thiêng liêng mà Ôn đã dành cho mình qua bao năm tháng. Nghĩ đi nghĩ lại tôi mạnh dạn ghi lại đây đôi điều mắt thấy tai nghe, gọi là niệm chút ân tình dâng Ôn nhân ngày húy ky.

Hồi còn ở Già Lam có lẽ tôi là người duy nhất cạo tóc cho Ôn, đôi lúc bận Phật sự, Ôn phải cạo tóc lúc bảy giờ tối để kịp sám hối, hoặc bốn giờ khuya để kịp Bố Tát. Mỗi lần cạo tóc cho Ôn là tôi rất mực cẩn trọng, chỉ được phép cạo nhẹ một đường dài từ trên xuống dưới, nhúng dao lam vào thau nước cho hết tóc rồi cạo qua đường khác, không dám nhấp nhấp, nhấp là có thể chảy máu ngay. Những mụt ruồi son đỏ mọng to bằng hạt tấm hạt gạo rải rác nhô lên khắp đầu. Thường thì tôi đứng trịnh trọng, nhẹ nhàng im lặng cạo tóc cạo mặt Ôn rồi xuống để Ôn tự cạo râu. Một hôm, trong lúc cạo tóc Ôn hỏi:

- Đầu tui thế nào, có méo không?

- Dạ đầu Ôn tròn và đẹp lắm, tôi đáp. Con thấy da đầu của người ta đa số là sạm nắng, còn Ôn thì đỏ au hà. Nhất là mụt ruồi son nhiều lắm. Con không dám nói chuyện trong lúc cạo là vậy đó.

Bỗng dưng Ôn trầm giọng, niệm:

Nam mô A Di Đà Phật

Con vào dạ mạ đi tu.

Có lẽ Ôn đang nghĩ đến ân đức sinh thành của người mẹ hiền đã baonăm xa cách. Thảo nào có lần Ôn đã từ chối tham dự Hội nghi Phật giáo thế giới được tổ chức tại Nhật. Trong cuộc họp chúng, Ôn nói:” Phụ mẫu tại đường bất khả viễn du”. Hình như năm ấy Ôn đã quá lục tuần, thân mẫu của Ôn cũng đã ngoài tám mươi . Ôn không dám đi xa, sợ mẹ già có bề gì, không có Ôn bên cạnh. Ôn thương mẹ như thế đó. Ai bảo "Cắt ái từ thân" là hết?.Lòng hiếu thảo và nhân cách tuyệt vời của Ôn đã để lại trong ta những bài học vô cùng thâm diệu. Ôn thường dạy: “ Các ông học Phật mà không đọc sách Nho, nhất là bộ Luận ngữ, Đạo đức kinh, Nam Hoa kinh là thiếu sót”.

Phải chăng nhờ tinh thông Nho Lão Thích mà tâm hồn Ôn lúc nào cũng phóng khoáng, nhẹ nhàng, tươi mát.

Tôi nhớ có lần được Ôn cho đi Tây Ninh đặt bàn ghế cho ký nhi viện và tham quan tòa Thánh. Gần đến chợ Long Hoa, xe chạy từ từ, bỗng dưng Ôn bảo chú Thu dừng lại. Không biết Ôn định làm gì, đoạn thấy Ôn xuống xe và đi thẳng lại chỗ bà cụ ngồi co ro trong chiếc áo chằm nhăn nheo nhiều màu sắc với chiếc nón cời tơi tả trên đầu.

Trước mặt cụ là một cái lồng ọp ẹp nhốt ba con gà ri to bằng nắm tay, lông lá xơ xác. Thấy Ôn tiến đến, bà cụ lom khom đứng dậy, chấp tay xá xá và niệm Mô Phật, Mô Phật. Có lẽ bà cụ theo đạo Phật chứ không phải theo đạo Cao Đài. Ôn chỉ tay vào lồng gà hỏi : Bà bán bao nhiêu? Bà cụ chấp tay xá xá, miệng ấp úng không nói nên lời. Những người xung quanh im lặng nhìn Ôn với ánh mắt chứa đầy thiện cảm. Có lẽ họ ngạc nhiên lắm. Ai đời một Sư ông như vậy mà đi mua gà, lại mua ba con gà cù rụ sắp toi nữa chứ? Thấy bà cụ không nói, tôi sợ bà không hiểu phải xưng hô như thế nào nên không dám thưa, tôi đỡ lời:"Cụ bán bao nhiêu? Sư ông mua thật đấy". Cái miệng móm chút xíu không còn một cái răng với hai vệt trầu đỏ tươi dính hai bên mép cười chúm chím trong rất hiền lành và rất tội nghiệp. Bà cụ xoa xoa hai tay nói: "Xin Sư ông cho sáu chục”. Ôn mở bóp đưa bà một trăm. Bà lại chắp tay xá xá. Tôi xách lồng gà chào bà, theo Ôn lên xe và nghe sau lưng có tiếng vọng lại: “Bà có phước đấy! Sư ông mua giúp cho bà đấy.” Có lẻ bấy giờ bà cụ là người hạnh phúc nhất đời.

Đấy tâm hồn của Ôn là vậy đấy! Thấy việc gì phải là làm. Động lòng thương cảm là làm. Làm với thái độ ung dung tự tại, vô danh vô tướng, vô trụ vô cầu, mặc cho ai nghĩ sao cũng được.

Ngồi trên xe tôi tự hỏi: "Tại sao chú Thu và mình không thấy bà cụ. Đúng là thứ mã tử lục tặc, ngồi ngó trời ngó đất chứ có ngó gì đến người nghèo khổ!”

Cách đây ba bốn năm, Ôn có nuôi một cặp hoàng yến, chúng sanh được ba con chim con rất đẹp, Ôn thích lắm. Một hôm, khoảng ba giờ chiều, tôi về Già Lam hầu Ôn, vừa đến cửa đã thấy Ôn ngồi trầm ngâm ngắm chim mẹ mớm mồi cho chim con. Tôi xá Ôn với câu:"Bạch Ôn con mới đến". Không quay lại, Ôn nói:

- Nhìn kìa! chim mẹ khẩn trương nuôi con từ năm giờ sáng.

- Nhìn Ôn ngắm gia đình nhà chim nuôi con, con lại nhớ đến lời ca "Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình"...

- Chứ răng! Thập nguyệt hoài thai, tam niên nhũ bộ, thử ân thử đức, phấn cốt nan thù. Ôn nói với giọng điệu như thán. Đoạn Ôn dạy: “Chim còn thương con như vậy huống nữa là người. Cha mẹ nào mà chẳng thương con. Các ông ở đời đừng bao giờ nói đến cái tệ, cái xấu của con cái người khác, phải lựa lời mà nói. Mình biết con mình ăn trộm, hổn láo, nhưng không muốn cho ai nói con mình là kẻ ăn trộm, hổn láo”. Tâm lượng của Ôn vô cùng nhân hậu. Đúng là:

Hiếm thất ai ở đời,

Biết tự chế khiêm tốn,

Tránh nói lời thương tổn

Như ngựa hiền tránh roi.

Ôn còn  khiêm tốn với cả chúng Tăng. Anh em nào có lỗi, ôn kêu dạy bằng những lời rất chân tình thắm thiết. Ôn thương chúng Tăng như mẹ thương con. Có lần Ôn qui y cho một số Phật tử gần chùa, xong lễ Ôn dạy: “Các Phật tử đã qui y Phật, qui y Pháp, quy y Tăng, nhưng Tăng ở đây đa số còn trẻ, còn đang đi học; nếu thấy các chú đôi lúc thổi sáo, đánh đàn hay ca hát chi đó các Phật tử bỏ qua cho. Còn trẻ là vậy đó, mai kia lớn lên các chú sẽ nhuần nhuyễn ra". Các Phật tử đều chấp tay cúi đầu im lặng, một sự im lặng hoan hỷ và thương kính Ôn vô vàn.

Kính lạy Ôn, Ôn thường dạy chúng con:

Khó thay sống khiêm tốn,

Thanh tịnh tâm vô tư

Giản dị đời trong sạch,

Sáng suốt trọn kiếp người.

Nay Ôn không còn nữa. Ôn đã đi hết đoạn đường nhân thế với nhân cách và đạo phong rực rỡ như ánh trăng rằm. Có điều đàn chim hoàng yến của Ôn đa số nay đã tung cánh líu lo mỗi con một hướng, khắp bốn phương trời. Dù cho thế nào chăng nữa thì chúng cũng không bao giờ quên được những hạt đậu hạt mè, cọng rau lá cải, bàn tay e ấp, giọng nói thân thương của người đã bao năm chăm sóc cho đến ngày đủ lông đủ cánh.

 

Dáng Từ

Kính dâng Giác linh Hòa thượng THÍCH TRÍ THỦ

Cẩm tú xứ Trung Kiên

Kết tinh bóng dáng hiền

Bao la Người hoàng vĩ

Chí nguyện vượt thần tiên.

 

Bước vào miền cô lữ,

Trầm tư nghĩa lý thiền,

Bỗng nhiên bừng mắt tuệ

Sáng rỡ đất Thừa Thiên.

 

Từ ấy đấng thiền sư

Nêu cao nguyện đại từ.

Vân du tam giới mộng

Hóa độ đời huyễn hư

 

Tay hùng nâng tích trượng,

Dẹp tà  giảng Thánh thư.

Bảy mươi dư sương tuyết

Vận chuyển  pháp tâm như.

 

Thiền sư đấng Đại hùng,

Tuệ nhật rạng phương Đông.

Vượt lên