| ...... ... |
. |
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TRƯỜNG PHẬT HỌC ĐẠI TÒNG LÂM
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
LỚP CAO ĐẲNG CHUYÊN KHOA
KHÓA I (1995 - 1998)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
(HỆ NGHIÊN CỨU)
Đề tài:
HÒA THƯỢNG THÍCH TỪ
QUANG
BẬC CHÂN TU -
HỌC GIẢ UYÊN BÁC

THẨM LƯỢNG
ĐOÀN
Thượng Tọa Thích
Trí Quảng
Thượng Tọa Thích
Minh Thành
Thượng Tọa Thích
Giác Toàn
Thượng Tọa
Thích Thiện Nhơn
Thượng Tọa
Thích Thiện Trí
Thượng Tọa
Thích Giác Hạnh
Thượng Tọa
Thích Thiện Thông
Thượng Tọa
Thích Giải Quảng
Thượng Tọa
Thích Nhuận Hải
Thượng Tọa
Thích Viên Giác
Giáo Sư Trí
Không
Giáo Sư Hồng Sơn
TỪ BI VI TÂM HOẰNG PHẬT PHÁP
QUANG MINH TỰ TÁNH CHIẾU NHƠN TÌNH

Cố Hòa Thượng
THÍCH TỪ QUANG (1888 - 1991)
Pháp Chủ Giáo
Hội Thiền Tông Việt Nam
Viện Chủ Chơn
Đức Thiền Viện
Triêm Khâm
Thượng Đức
Kính bạch
Giác Linh Sư Ông,
Con kính biết, trọn một đời học
đạo và hành đạo của Sư Ông suốt một thế kỷ mang dáng dấp của một Hương Hải
Thiền Sư :
Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm
Nhưng,
Lý vô thường sắc không không sắc.
Thân tứ đại sanh tử tử sanh.
Thì hôm nay, hậu côn chúng con :
Dù mơ màng dáng dấp ngàn thu,
mưa mờ dấu bước
Thời phảng phất mộng hồn muôn thuở,
khói tỏa hình dung
Cúi lạy Giác Linh sư ông.
Dẫu biết rằng :
Ta Bà cõi tạm, nơi gửi thân sanh tử trăm năm
Cực lạc quê hương, chốn an mạng niết bàn muôn thuở.
Nhưng,
Con Ta Bà - Sư Ông Cực Lạc
Biết bao sùi sụt nổi ly tư
Sửa pháp mất rồi, lòng con đói mãi
Thiền phòng vắng vẻ, trượng thất bụi mờ.
Giờ đây,
Nhục thân Sư ông trở về cõi vô cùng
Chúng con mất vĩnh viễn Tôn Sư khả kính
Lòng đau ruột thắt
Mây trắng vờn bay.
Bên đây bờ sinh diệt, con thổn thức
hồn côi dâng lời tưởng niệm
Bên kia bờ tịch diệt, Sư ông mẫn thùy
chứng giám phóng tịnh quang minh
Dù biết đạo vốn ly ngôn - tuyệt
tướng, hôm nay viết lên tập này tự xa rời đạo. Nhưng e người sau chẳng tỏ
nguồn cội, nên mạn ý kháng lời di huấn. Những mong Sư ông ai mẫn, hậu bối
kiền thiền hòa nam bái tạ.
Nam mô Chơn Đức đường thượng.
Từ lâm tế Gia Phổ tứ thập thế húy Hồng Liễu thượng Từ hạ Quang Đại lão hòa
thượng chi giác linh.
Đại Tòng Lâm, ngày 12 tháng 9 năm 1997
Pháp tôn Thích Thiện Thuận
Kính bái
LỜI NÓI ĐẦU
Đạo Phật là ánh sáng của Trí
Huệ và là suối nguồn từ bi làm tươi mát hồn người và tạo sự an vui cho
cuộc đời. Nên ngay từ buổi bình minh tự chủ của dân tộc, đạo Phật đã có
những mối duyên liên hệ thắm thiết đến sự tồn vong của dòng sinh mệnh Việt
Nam, Dân tộc Việt Nam.
Và như chúng ta đã biết, khi hệ
giáo lý GIÁC NGỘ GIẢI THOÁT của đạo Phật được truyền vào Việt Nam thì
người Việt đã rất nồng nhiệt hân hoan đón nhận một cách chân tình, coi đó
là mạch sống của dân tộc hợp với lối sống tình cảm, tâm linh, đạo đức, suy
tư và hành xử của người dân bản địa.
Do những nhân duyên hội ngộ ấy,
đạo Phật có mặt tại Việt Nam với chiều sâu và bề dày lịch sử XX thế kỷ, đã
cùng dân tộc phấn đấu giành quyền cho một nước Việt Nam tự chủ, độc lập;
đã gầy dựng một đất nước có nếp sống “dân phong quốc tục” đẹp làm vẻ vang
cho nòi giống Lạc Hồng. Xuyên qua những đóng góp to lớn trong công cuộc
dựng nước và giữ nước của đạo Phật Việt, kể từ các vương triều : Tiền và
Hậu Lý Nam Đế (542 - 603) mở nền tự chủ cho nước nhà; đến nhà Đinh (968 -
980) và Tiền Lê (980 - 1009) đạo Phật đã mặc nhiên được trìều đình công
nhận coi như QUỐC GIÁO của toàn dân; sang nhà Lý (1010 - 1225) và tiếp
theo nhà Trần (1225 - 1400), đạo Phật lại càng được phát triển mạnh trong
đời sống xã hội … đồng thời mở mang trên khắp mặt sinh hoạt quốc gia, đem
an lành hạnh phúc đến với toàn dân ; thương yêu tràn ngập … thì đồng thời
nền văn hóa Đại Việt cũng vươn lên tuyệt đỉnh vinh quang !
Phật giáo đã chứng kiến và gắn
liền với bao cảnh thăng trầm, hưng suy của đất nước và tồn tại với non
nước hồn thiêng như một chứng nhân lịch sử, mà duy trì vẫn là những Cao
tăng thạc đức đã sống và hành đạo trong lòng dân tộc suốt hai thiên niên
kỷ qua.
Hòa thượng Thiền sư THÍCH TỪ
QUANG (1888 - 1991) tuy không có công hạnh kỳ bí của Không Lộ và Giác Hải,
tuy không uyên thâm như Thanh Biện và Viên Thông, tuy không siêu thoát tự
tại như Thiền Lão Thiền sư hay mẫu mực như Định Huệ, Liễu Quán … nhưng Hòa
Thượng vẫn sáng ngời với công hạnh
“Tự giác - giác tha”. Hòa Thượng là bậc chân tu đức cao lạp trưởng hết
lòng mẫn thế hộ đạo, và cũng là một nhà tu hành trí thức góp phần không
nhỏ cho công cuộc chấn hưng Phật Giáo nước nhà trong những thập niên 40 -
50.
Hòa Thượng đã tịch diệt an vui
chốn vĩnh hằng, chứng Niết Bàn bất sinh bất diệt. Thiết nghĩ, đầu cần ca
tụng làm chi, dẫu có lạm bàn cũng không xứng với công đức vĩ đại của Ngài
lúc sinh tiền. Nhưng, phận hậu học tự không thể để cho mai một, nên chẳng
ngại trí kém tài thơ mà ôn lại cuộc đời hoằng hóa của Ngài để làm phương
châm tu học, và mạo muội viết thành tập Tiểu luận
“HÒA THƯỢNG THÍCH TỪ QUANG - BẬC CHÂN TU - HỌC GIẢ UYÊN BÁC” với thiển ý
mong đời này đời sau có dịp nhớ về nguồn cội.
Vì thời gian tra cứu có hạn mà
cuộc đời hành đạo của Hòa Thượng quá siêu việt; vả lại, tài liệu quá ít ỏi
nên chắc chắn tập Tiểu luận này còn nhiều thiết sót, lầm lẫn. Rất mong
được tiếp đón sự thông cảm và chỉ giáo của chư Thiện tri thức.
Đại Tòng Lâm, tiết Trung thu 97
Sinh viên THÍCH THIỆN THUẬN
Cẩn chí
PHẦN 1: DẪN NHẬP
“... Mai này tôi bỏ quê tôi,
Bỏ trăng bỏ gió, chao ôi bỏ chùa …
… Quê tôi có gió bốn mùa,
Có trăng giữa tháng, có chùa quanh năm”.
Thật vậy, trên từng bước đường làng rộn ràng tiếng chim hót reo vui
trong ánh nắng đẹp từ miền ngược đến miền xuôi, từ đô thành rực rỡ đèn hoa
đến xóm làng hoang vu hẻo lánh, từ đồng bằng bốn mùa cây trái cạnh dòng
sông hiền hòa có lũy tre già đong đưa bóng mát đến núi rừng thâm u cô tịch
quanh năm thác đổ thông reo … khắp mọi miền của đất nước, hình ảnh uy nghi
trầm mặc của ngôi chùa đã in đậm vào ký ức của mọi người, và tiếng chuông
chùa huyền diệu đã lắng đọng tận tầng sâu thẩm của tâm thức người dân
tộcViệt . Nơi đó đã che chở giống nòi sau mấy độ can qua như một chứng
nhân lịch sử đã chứng kiến bao cảnh đổi thay của thế sự phù trầm, lắm cuộc
hưng vong của đất nước mấy ngàn năm văn hiến.
Tuy đơn độc giữa cảnh đời dâu bể, nhưng nơi đó vẫn vang đều nhịp mỏ hồi
chuông như giục giã khách trần qua bể khổ, và nơi đó vẫn ngân vang khoan
nhặt những lời kinh tiếng kệ như âm thầm nhắc nhở kẻ tục thoát vòng mê.
Gắn liền với những ngôi chùa làng thân thương là những Tăng Sĩ luôn dạt
dào tình yêu thương vạn loại vô bờ bến giữa quê hương chứa chan tình Đạo
vị. Nổi bật trong các vị Cao Tăng tài đức vẹn toàn của thế kỷ XX là hình
ảnh khả kính và đạo phong nghiêm tịnh của Hòa thượng Thiền sư Thích Từ
Quang - Một danh Tăng uyên bác về thế học lẫn đạo học của Phật giáo Việt
Nam.
Là hậu học đã hơn một lần thắm nhuần ơn “truyền đăng tục diệm” của
Ngài, lẽ đâu lại quên câu “ẩm thủy tư nguyên” mà bỏ ngoài tâm trí về cuộc
đời hoằng hóa của một bậc “Long tượng chốn Thiền môn”.
Ngược dòng thời gian, lật từng trang sử dân tộc, chúng ta thấy Phật
giáo đã có từ trên 2500 năm nhưng được du nhập vào nước ta đã có gần 2000
năm lịch sử, mà Mật Tông được truyền vào sớm nhất. Về sau, tư tưởng Thiền
Tông của Phật Giáo đã từng làm bá chủ dưới các triều đại Đinh - Lê - Lý -
Trần; Và nhất là thời đại nhà Trần, phái Thiền Trúc Lâm đã kết hợp hài hòa
và nhuần nhuyễn giữa Thiền - Tịnh - Mật trong công phu hành trì mà thượng
chủ là Điều Ngự Giác Hoàng - Trần Nhân Tông. Với uy đức của Trúc Lâm đại
Đầu Đà, phương pháp tu
tập này nhanh chóng lan tỏa khắp mọi miền đất nước lúc đương thời. Đó là
nhận xét ở bình diện đại thể. Nhưng thực tế, nó ảnh hưởng sâu sắc vào đời
sống tu tập của Tăng tín đồ trong toàn quốc đến tận ngày nay, dù phải
đương đầu với bao thảm kịch diệt vong vì chính trị của các vương triều Lê
(*) - Nguyễn.
Hôm nay, chúng ta sẽ thấy rõ đường lối tu tập của thiền phái Trúc Lâm
-Yên Tử được hiển hiện bàng bạc suốt cả cuộc đời tu hành và hoằng truyền
Phật pháp của cố Đại lão Hòa Thượng Thích Từ Quang.
(*)Hậu
Lê
PHẦN 2
HÀNH TRẠNG CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH TỪ
QUANG
CHƯƠNG I : THÂN THẾ
Hòa thượng Thích Từ Quang thế danh Thái Bình
Dương, sinh vào giờ Tý ngày mùng 01 tháng giêng năm Mậu Tý (1888) trong
một gia đình quan chức có truyền thống Phật Giáo tại Gia Định. Cha là Đốc
phủ sứ Thái Sanh Tài và mẹ là Bà Nguyễn Thị Nhiều. Ông bà sanh được 10
người con và Hòa Thượng là người con thứ 8 trong gia đình. Dù bộn bề việc
nước việc dân, nhưng ông bà nuôi dạy con cái rất mực chu đáo.
Riêng Hòa Thượng từ khi vừa biết ăn, hễ đút
thức ăn có mùi thịt cá thì nhả ra mà không chịu nuốt. Tròn một tuổi, gia
đình tổ chức lễ “Thôi nôi” rất linh đình. Theo tục lệ cổ truyền, ngày lễ
này ông bà đem ra trước mặt đứa bé một cái nia mà trong đó có sắp nhiều
thứ đồ vật, mỗi vật tượng trưng cho một nghề và cho đứa trẻ chọn lấy theo
sở thích. Ông bà ta quan niệm : đó là số phận đã an định cho đứa trẻ qua
lần “chọn nghề” đầu đời này. Và Hòa Thượng đã chụp lấy quyển kinh một cách
thích thú mà không hề lấy thêm một món nào khác (tấm ảnh này hiện còn lưu
giữ tại Chơn Đức Thiền Viện ở Bà Chiểu - TP.HCM).
Cả gia tộc đều vui mừng với nghiệp “kinh sử”
mà bé Bình Dương đã chọn, nhưng Bình Dương không dừng lại ở một sĩ tử
chuyên lo bút nghiên kinh sử như mọi người mừng tưởng, mà Bình Dương vượt
ra ngoài định kiến thường tình của mọi người và của gia đình, bước sang
một chân trời mới với sự nghiệp “hoằng pháp lợi sanh” của một đời Tăng Sĩ.
May lúc còn rất nhỏ. Bình Dương tỏ ra là một
đứa trẻ thông minh lạ thường nên được mọi người thương mến và chìu chuộng.
Lúc lên 5 tuổi (1892), mẹ dẫn lên chùa Giác Viên quy y thế phát với Hòa
Thượng Hoằng Nghĩa và được đặt pháp danh là TỪ QUANG Húy NGỘ MINH thuộc
dòng Lâm Tế Chánh tông đời thứ 39.
Từ đó, chú tiểu Từ Quang sớm hôm hầu hạ Bổn
sư nơi Giác Viên tự, nhơn bẩm tánh thông minh nên chú kinh kệ rất mau
thuộc. Lớn lên, được sự quan tâm của gia đình và sự ưu ái đặc biệt của Bổn
sư nên chú tiểu Từ Quang được học đời song song với học đạo.
Ở chùa thì chú tiểu Từ Quang là một chú điệu
siêng năng bái sám tụng niệm, ở trường thì chú tiểu là một học sinh chăm
chỉ học tập nên chú giành được cảm tình ở mọi người trong Đạo cũng như
ngoài đời. Và không để phụ lòng mọi người 1908, Hòa Thượng đã xuất sắc đậu
Thủ khoa trong kỳ thi tú tài II tại trường Chasseloupa - là một trường
trung học nổi tiếng của Pháp thời bấy giờ (hiện nay là trường chuyên Lê
Quý Đôn ở TP. Hồ Chí Minh).
Cũng trong năm đó (1908), Pháp tập trung các
học sinh của 18 nước thuộc địa đã đạt loại giỏi trong kỳ thi Tú Tài II vừa
rồi đến Sài Gòn và tổ chức thi tuyển lại để chọn người thực tài sang Pháp
du học. Và một lần nữa, Hòa thượng đã xuất sắc đổ Thủ khoa, mang vinh dự
về cho nước nhà nói chung và Phật giáo nói riêng. Điều đó đã khẳng định
tài và trí của Hòa Thượng liệt vào hàng thượng thặng, độc nhất vô nhị.
Và Hòa Thượng đã sang Pháp học với niềm tin
tưởng vào thệ nguyện vô biên của mình - một Tu sĩ trẻ tràn đầy nhiệt huyết
“xương minh Phật Pháp” ở những đất nước ngập tràn khói lửa, đem đến an lạc
hạnh phúc cho mọi người trong thời binh biến, và mong được xoa dịu nổi đau
của vết thương chiến tranh đã và đang hằn sâu vào tâm tư nhân loại.
Thế là một chân trời mới hiện ra trên con
đường học vấn của Hòa Thượng.
CHƯƠNG II : XUẤT DƯƠNG DU HỌC
Suốt 11 năm miệt mài học tập và nghiên cứu
tại Đại học Sorbone ở Pháp, Hòa Thượng đổ hai bằng Tiến sĩ Văn chương và
Triết Học với luận án xuất sắc. Bao năm tháng chuyên cần học tập nơi xứ lạ
quê người giờ được đền bù xứng đáng. Xa quê hương với bao nổi niềm thương
nhớ - nhớ thương những người thân nơi đất nước nghèo nàn lạc hậu nằm cạnh
Biển Đông êm ả nhưng lại phủ đầy đau thương tang tóc bởi chiến tranh. Nổi
đau của chiến tranh ngày một đi sâu vào lòng đất Mẹ chính là động lực thúc
đẩy Hòa Thượng càng dũng mãnh hơn, cần mẫn hơn trong học tập.

Chơn dung Hòa Thượng
Từ Quang năm 25 tuổi
Với kết quả mỹ mãn ấy nên Hòa Thượng được
chính phủ Pháp mời làm Giáo sư giảng dạy tại Đại học Sorbone 6 năm, nơi
mà Hòa Thượng từng theo học.
Điều đáng nói là suốt 17 năm học và dạy
Đại học Sorbone này, Hòa Thượng đã cương quyết đấu tranh để bảo vệ
“chiếc áo nâu sòng “của đời Tu sĩ xa nhà trước áp lực của chính phủ
Pháp. Nhưng cốt cách phi thường cộng thêm kiến thức uyên bác và tài hùng
biện của Hòa Thượng, chính phủ Pháp đành nhượng bộ trước một Tăng sĩ
sáng ngời TRÍ - ĐỨC của đất nước Việt Nam bé nhỏ, lạc hậu.
Nhưng rồi, lý tưởng giác ngộ đã thôi thúc
người Phật tử chơn chánh ấy, nổi khổ đau do vọng kiến và vô minh che phủ
bao chúng sanh đã thật sự hòa cùng nhịp đập trái tim “tình thương” của
Người, và liên hồi giục giã Hòa Thượng đi tìm chơn lý.
Thế là Hòa Thượng bỏ lại sau lưng một học
vị cao tột của đời người mà mấy ai vươn tới và đạt được hạnh phúc trong
ánh quang vinh ấy. Năm đó, Hòa Thượng tròn 37 tuổi.

CHƯƠNG III : DU PHƯƠNG THAM HỌC
PHẬT PHÁP
Khởi đầu cho chuyến du phương tham học
Phật pháp, 1925, Hòa Thượng sang Aán Độ học tại Đại học nổi tiếng
Nalanda, với kiến thức học Phật sẵn có lúc còn ở Việt Nam, cộng thêm sự
hiểu biết sâu rộng về các nền triết học Đông - Tây, nên sau 4 năm, Hòa
Thượng đổ Tiến sĩ Phật học tại Đại học Nalanda một cách xuất sắc.
Vào thời điểm này, phong trào Chấn hưng
Phật giáo được khởi xướng ở Trung Hoa lục địa và nhanh chóng lan truyền
đến các nước lân cận dưới sự cổ súy của Thái Hư Đại sư. Ngay lúc đó
(1929), Hòa Thượng sang Trung Hoa cùng học với ngài Thái Hư. Sau 4 năm
chuyên cần học tập, Hòa Thượng đã đậu Tiến sĩ Phật Học tại Trung Hoa.
Học Phật uyên thâm như vậy nhưng Hòa
Thượng vẫn chưa cho là đủ để ra hoằng pháp, và Ngài lại để tâm học hỏi
nghiên cứu y học cổ truyền tại Trung Hoa - đất nước ngàn năm văn vận này
để tiện bề hoằng hóa về sau.
Với chí nguyện :
“ Tình sưu nghĩa lý
Truyền xuống phu dương
Tiếp dẫn hậu lai
Phò trì mạt vận”
Hòa Thượng bắt đầu lên đường hoằng dương
Phật pháp. Bao khó khăn, trở ngại về ngôn ngữ cũng như tập quán của 24
quốc gia mà Hòa Thượng đi qua … tất cả đều được khắc phục nhanh chóng
và hòa nhập cộng đồng một cách tài tình bởi “Tài và Trí” của một danh
tăng. Những đất nước Đức, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, La Mã, Hy Lạp, Tây
Tạng. Ấn Độ, Cao Miên v.v… vẫn còn lưu dấu người Tu sĩ lỗi lạc ấy.
Đặc biệt, thời gian hoằng hóa ở La Mã, Hòa
Thượng vinh dự được đức Giáo Hoàng tiếp chuyện một cách thâm tình và còn
tặng cho Hòa Thượng một quyển Thánh kinh bìa bằng vàng 14k có chạm nổi
hình Thập tự giá, trong quyển thánh kinh được ghi bằng 07 (bảy) thứ
tiếng mà kích thước chỉ bằng lóng tay đứa trẻ 02 tuổi, hiện quyển sách
còn được lưu giữ tại Chơn Đức Thiền Viện tại Bà Chiểu, TP. Hồ Chí Minh .

Bút pháp của H.T.
Thái Hư
Tặng HT Từ Quang
“Từ bi vi tâm hoằng
Phật pháp
Quang minh tự tánh
chiếu nhơn tình”
Từ Quang Pháp Sư kỷ
niệm.

Phái qui y của Hòa
Thượng

Chứng điệp thọ Tỳ
Kheo giới của HT

Quyển Thánh Kinh của
Đức Giáo Hoàng tặng Hòa Thượng
Theo lời của Hòa Thượng thì trên thế giới
chỉ có 06 (sáu) quyển sách như vậy, mà Hòa Thượng là một trong số sáu
người vinh dự được đức Giáo Hoàng tặng. Như vậy, không riêng Hòa Thượng
mà cả dân tộc Việt Nam đều hưởng chung niềm vinh dự ấy.
Đến khoảng 1960 - 1962, Tổng giám mục
Nguyễn Văn Bình (lãnh đạo tối cao Công Giáo Miền Nam) có đến yết kiến
Hòa Thượng và ngỏ ý sẽ xây một ngôi chùa theo ý Hòa Thượng (nếu Hòa
Thượng muốn) để mong được thỉnh lại quyển Thánh Kinh vô giá ấy, với lý
do : quyển Thánh Kinh này là bảo vật của Thiên Chúa Giáo, theo quan niệm
của ông (Nguyễn Văn Bình). Nhưng Hòa Thượng đã khéo léo từ chối : “Đây
là kỷ vật của bạn tôi, tôi không thể làm gì hơn được, xin thông cảm !”.
Nhưng rồi, Việt Nam - non nước hồn thiêng,
Gia Định - quê hương nồng nàn chứa chan tình yêu thương vô bờ, Viên Giác
- Chùa xưa thắm thiết tình đạo vị, pháp lữ … hình ảnh thiêng liêng ấy
làm vang dậy tiếng gọi của con tim dạt dào tình thương nơi một Tăng sĩ
chói ngời hạnh vô ngã vị tha - và đã kéo Ngài quay về đất Mẹ sau 25 năm
xa xứ - ¼ thế kỷ “mang trống đi đánh xứ người”, quả là một điều hiếm
thấy trong giới Tu sĩ nước ta thời bấy giờ.

CHƯƠNG IV : CHƠN ĐỨC THIỀN VIỆN VÀ CUỘC
ĐỜI HOẰNG HÓA CỦA HT Ở QUÊ HƯƠNG
Sau hơn 25 năm du phương tham học và hoằng
hóa Phật pháp khắp các đạo tràng nổi tiếng trên Thế giới ; năm 1935, Hòa
Thượng trở về Việt Nam với tâm nguyện của một “Như Lai sứ giả”. Được sự
đồng ý của Bổn sư, Hòa Thượng sửa ngôi nhà của PT cúng dường ở Bà Chiểu
lập thành Thiền Viện đặt tên là Chơn Đức để làm trụ xứ thuận tiện cho
việc vừa hoằng vừa tịnh tu.
Năm 1936, Hòa Thượng được mời tham dự Đại
hội, của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật Học ở chùa Linh Sơn (Cầu Muối) do
ông Comi Chấn tổ chức. Trong Đại hội này, Hòa Thượng Thích Huệ Pháp (Tổ
khai sơn chùa Long Khánh ở Châu Đốc) được bầu làm Hội Trưởng. Từ đây,
Hòa Thượng cộng tác với Hội trong lĩnh vực soạn dịch và giảng dạy kinh
điển.

Chánh điện Chơn Đức Thiền viện ở Bà
Chiểu
Từ khi về nước, Hòa Thượng nhận thấy giới
Tăng già và trí thức trong nước đứng ra hô hào, vận động, cổ vũ Chấn
Hưng Phật Giáo và thành lập các hội Phật học ở khắp ba miền. Các Hội đều
có mở trường Tiểu - Trung - Đại học Phật giáo cho Tăng tín đồ các nơi về
tham học, đồng thời, lập các thư viện, xuất bản kinh sách, báo chí … Tuy
nhiên, trước cảnh rẻ chia, bất hòa của các Tăng lữ ở các Hội ngày một
gay gắt và bị lồng bởi sự thao túng của chính quyền Pháp, nên Hòa Thượng
từ từ rút chân ra khỏi các đoàn thể và ngày một ít tham gia các phong
trào, đành gác lại chí nguyện “hòa quang đồng trần” mà chỉ lo chuyên
tinh Thiền nghiệp.
Khoảng 1945 - 1950, Hòa Thượng cầu Pháp
với tổ Từ Nhẫn - Như Đắc và được ban pháp hiệu là Từ Quang húy Hồng Liễu
thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 40. Từ đó chuyên tu với pháp chỉ
“Trúc-Lâm song hành”, nghĩa là Hòa Thượng thực tập theo pháp môn của
thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do Điều Ngự Giác Hoàng-Trần Nhân Tông sáng
lập. Đây là một phái Thiền thuần túy của Việt Nam đầu tiên trong lịch sử
Phật Giáo với chủ trương kết hợp hài hòa và nhuần nhuyễn giữa ba tông
Thiền - Tịnh - Mật.
Nhờ công phu miên mật nên ngày 18 tháng 8
năm Canh Dần (1950) Hòa Thượng được Tổ Từ Nhẫn - Như Đắc phó pháp với
bài kệ :
“Hồng luân dõng xuất ánh Thiền tông
Liễu đạt chơn như ngộ tánh không
Từ tế tứ sanh đăng bỉ ngạn
Quang minh chiếu diệu chấn gia phong”.
Và cũng trong năm này, Hòa Thượng ra công
sức trùng tu lại chánh điện để nơi lễ bái của Phật tử thập phương được
tôn nghiêm.
Dù là một học giả uyên bác, nhưng Hòa
Thượng luôn giữ hạnh nhu hòa và thể hiện phong cách khiêm tốn trước mọi
người ; vì thế nên càng được mọi người kính phục - Nhất là trong lần
tiếp đón Bác sĩ Malalasckera tại chùa Khánh Hưng vào ngày 23 tháng 05
năm 1951 của Hội Phật Học Nam Việt do ông Mai Thọ Truyền (Tổng thư ký
của Hội) tổ chức. Tại buổi lễ đón tiếp, Hòa Thượng đã làm mọi người đi
từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác mà không ít nhà trí thức đã thán
phục. Sự kiện này được nêu rõ trong bài “Một sự lạ trong giới Tăng già
Việt Nam - Hay là tôi gặp sư Từ Quang, một ông Tiến sĩ cạo đầu đi tu
“của phái viên Trương Tấn Lợi đăng trên báo Thần Chung số 666 ra ngày
25/03/1951. Nội dung như sau :

Theo lời của Giáo sư Nguyễn Hồng Sơn :
Mùa An cư kiết hạ năm Canh Dần (1950),
chúng tăng ở Phật học đường Liên Hải, Giáo Nguyên di chuyển đến Sùng
Đức, về sau hợp nhất với học chúng ở Phật học đường Mai Sơn lập thành
Phật học đường Nam Việt đầu tiên ở chùa Ứng Quang (sau đổi tên là Ấn
Quang), Hòa Thượng Thiện Hòa được cử làm Giám Đốc cũng thường lui tới
Chơn Đức Thiền Viện thỉnh Hòa Thượng Từ Quang cộng tác giảng dạy, nhưng
Hòa Thượng Từ Quang vẫn một mực chối từ.
Nhơn khi ngài Narada Mahathera mang Xá Lợi
Phật từ Tích Lan sang tặng cho Phật giáo Việt Nam, nhưng quí thầy không
biết Anh ngữ để trực tiếp nói chuyện với ngài Narada trong buổi tiếp đón
cực kỳ long trọng nầy. Vì vậy, Hòa Thượng Từ Quang được thỉnh ra tiếp
ngài Narada bằng tiếng Anh rất lưu loát trước sự kính nể của chư Tôn túc
hiện thời. Và càng nổi bật hơn hết là buổi tiếp Bác sĩ Malalasekera ở
chùa Khánh Hưng, Hòa Thượng đã nói tiếng Anh rất thạo như một người Anh
chính thống làm mọi người đều kính phục và tán thán hết lời. Giáo sư
Nguyễn Hồng Sơn kể lại :
“… Hồi đó, tôi cùng học chúng của Phật Học
Đường Nam Việt ở Ấn Quang đều có mặt ở chùa Khánh Hưng trong buổi lễ
tiếp đón vị Bác sĩ tài ba Malalasekera. Lần đầu tiên tôi gặp một tăng
sĩ trí thức nói tiếng Anh như gió. Về hỏi ra mới biết đó là Hòa Thượng
Thích Từ Quang mà hầu hết chư Tôn Đức thời bấy giờ đều kính trọng. Nhưng
tôi lại không ngờ lần gặp đầu tiên đó cũng là lần cuối cùng, vì Hòa
Thượng ít khi ra khỏi Thiền Viện và dường như Hòa Thượng cũng ít tham dự
các lễ lộc lúc ấy. Từ nhỏ đến giờ 1997), tôi chưa gặp một vị Tôn túc nào
như Hòa Thượng Từ Quang về sở học cũng như sở tu. Hòa Thượng là một nhà
trí thức lớn của Phật giáo Việt Nam trong thế kỷ XX này”.
Thật đúng như vậy, với tài cao đức trọng
cộng thêm đức tánh khiêm cung nên Hòa Thượng được mọi người cung kính.
Chính vì thế, năm 1954, Hòa Thượng được thỉnh về chùa Linh Sơn (Cầu
Muối) để điều hành Phật sự với chức vụ Hội Trưởng Hội Linh Sơn Phật Học
Nghiên cứu (hậu thân của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học) sau khi ông
Comi Chấn sang Pháp. Sự việc này được phản ánh qua bài phóng sự của
Thượng Đạt đăng trên báo Lẽ Sống số 2071 ra ngày Chủ nhật và Thứ hai
13/03/1961 với nội dung như sau :

Rõ ràng, có một kiến
thức về thế học quảng bác và sự hiểu biết uyên thâm về nội điển Phật
học, cộng thêm vào đó là một địa vị cao trong xã hội; thế nhưng Hòa
Thượng vẫn chẳng tham cầu danh lợi mà an bần thủ
đạo, và công hạnh khiêm tốn - ôn hòa luôn được thể hiện nơi Ngài. Một
lần nữa, chúng ta thấy Hòa Thượng được giới trí thức kính phục, như bài
phóng sự của Tế Xuyên đăng trên báo Tiếng Dội Miền Nam số 212 ra ngày
thứ hai 19.2.1962.

Dù công việc của Hội rất bận rộn nhưng
Hòa Thượng luôn giữ đúng thời khóa thu tập ở Bổn viện một cách nghiêm
mật. Và để đáp ứng nhu cầu học Phật của thính chúng Phật tử, năm 1954
Hòa Thượng đã xây dựng một giảng đường. Song song với chương trình
thuyết giảng Phật pháp, Hòa Thượng đã mở thêm các lớp ngoại ngữ Anh và
Pháp dạy cho Phật tử, và các lớp học này đã quy tụ giới trí thức đương
thời đến dự học rất đông. Dù dạy Phật pháp hay thế gian pháp, nhưng Hòa
Thượng chỉ nhằm hướng dẫn con người tự cải thiện thân tâm của mình để
cùng góp phần vào sự hạnh phúc của nhân loại, rưới nước tình thương dập
tắt lửa hận thù trong tất cả chủng tộc - Đó chính là “Bức thông điệp Từ
bi của đức Phật” vậy.
Trong mỗi giời giảng, thính chúng rất
đông và hầu hết đều rất kính phục tài đức của Hòa Thượng, như báo “Le
Journal D’extrême - Orient” số 4122 ra ngày thứ ba 7.8.1962 đã đăng.

Tam dịch :
NHẬT BÁO VIỄN ĐÔNG
Số 4122, ngày thứ ba
7.8.1962
[Thuyết Pháp] ở chùa Từ Quang
Sài Gòn - Sáng Chúa nhật (5.8.1962)
tại Chùa Từ Quang ở đại lộ Ngô Đình Khôi (nay là đường Phan Đăng Lưu)
Tôn giả Từ Quang - Tiến sĩ triết học thuyết pháp với đề tài “Phật Giáo
và đời sống xã hội”.
Trước một pháp hội đông đảo và nhiệt
thành, Tôn giả Từ Quang đã nhấn mạnh rằng : Học thuyết của Phật Giáo
không tách rời
ra khỏi thế giới như mọi người đã tưởng. Trái lại, nó hằng thiên về cuộc
sống của con người và vạn vật.
Như vậy, mỗi Thiện Nam tín nữ phải tự
hoàn thiện cuộc sống và làm tròn vai trò của mình trong xã hội tùy theo
đức tính tiêu biểu của Phật Giáo (Từ bi, trí tuệ và dự đoán trước thời
gian phải làm (v.v…)
Mặc dù bề bộn công
việc của chùa của Hội, nhưng Hòa Thượng vẫn thường xuyên xuống các tỉnh
Miền Tây giảng thuyết Phật pháp ở các chùa như : Chùa Diên Quang (Khánh
Hậu - Long An), chùa Long Phước (Tân Lý Đông - Mỹ Tho), chùa Linh Phong
(Tân Hiệp - Mỹ Tho) v.v… và nhiều chùa khác ở Bến Tre, Châu Đốc … Đến
1975, Hòa Thượng mới không còn về miền Tây thuyết Pháp vì sức khỏe không
cho phép và phương tiện giao thông lúc bấy giờ rất khó khăn.
Ngày rằm tháng 7 năm
Mậu Tuất (1958), Hòa Thượng được Bổn sư là Tổ Hoằng Nghĩa phó Pháp với
bài kệ :
“Ngộ đạo chơn như Bát Nhã tông
Minh tâm kiến tánh
đạt Thiền ông
Từ vân phổ phú tam
thiên giới
Quang chiếu huy
hoàng giới định thông”.
Trong lịch sử Phật giáo nước nhà,
chúng ta hiếm thấy có vị nào được 2 bậc Tổ ấn khả truyền kệ phó pháp; mà
Hòa Thượng Thích Từ Quang là người được truyền kệ 2 lần ở 2 bậc cao tăng
là Tổ Từ Nhẫn và Hoằng Nghĩa.
Ở vào tuổi “cổ lai hy” mà Hòa Thượng
vẫn không tạm nghỉ ngơi, suốt tháng trọn năm chuyên tu đạo nghiệp và
soạn dịch kinh điển.
1950, Hòa Thượng khai đại giới đàn đầu
tiên ở Chơn Đức Thiền Viện, và làm Đường Đầu Hòa Thượng truyền giới cho
hàng trăm giới tử khắp cả Lục tỉnh Nam Kỳ.
Biết Hòa Thượng là vị tài đức song vận
và học thức uyên thâm, nên 1963 thời Pháp nạn, Tổng thống Ngô Đình Diệm
phái Ngô Đình Nhu đến Chơn Đức Thiền viện mời Hòa Thượng ra làm Đại Sứ
cho Việt Nam ở Tây Đức. Nhưng Hòa Thượng một lòng ưa cảnh lâm tuyền vắng
lặng, chẳng tham đắm bả lợi danh. Vả lại, gương Minh Châu - Hương Hải và
Nguyên Thiều - Siêu Bạch vẫn còn đó, nên Hòa Thượng nhất dạ chối từ lời
đề nghị của chính phủ Diệm - Nhu mà được chăm lo công phu thiền quán lúc
tuổi về chiều, gần đất xa trời.
Năm 1965, Hòa Thượng từ chức Hội
Trưởng và giao Linh Sơn Phật Học Nghiên Cứu lại cho Hòa Thượng Nhựt
Minh. Sau đó, Hòa Thượng sáng lập Giáo Hội Thiền Tông Việt Nam đặt trụ
sở tại Phật Bửu Tự (Quận 3, TP.HCM) mà người ta thường gọi là Thiền Tịnh
Đạo Tràng, và thỉnh Hòa Thượng Minh Trực làm chủ tịch, Hòa Thượng làm
phó chủ tịch. Nhưng sau khi Hòa Thượng Minh Trực viên tịch, Hòa Thượng
được suy tôn ngôi vị Pháp Chủ của Giáo Hội Thiền Tông Việt Nam.
Để tạo cơ sở vững chắc cho Tăng chúng
tu học lâu dài, năm 1967, Hòa Thượng cho sửa sang miếng đất ở xã Tân
Hiệp huyện Hóc Môn và xây dựng thêm một ngôi Thiền Viện thứ 2 vẫn lấy
tên là Chơn Đức. Đến 1973 thì công trình xây dựng hoàn tất.
Suốt khoảng thời gian 1965 - 1975, dù
tuổi cao sức yếu nhưng Hòa Thượng vẫn thường thuyết giảng Phật pháp tại
Bổn viện Chơn Đức, nhưng mà :
“Dòng sông đời cuộn chảy
Với thời gian vô
ưu”.

Họa phẩm
Tịnh Cảnh của Hòa Thượng năm 1944
Lời bạt
Bao ngôn từ hữu hạn của thế gian há có
thể chuyển tải hết cuộc đời hành đạo của một bậc cao tăng được ư ? !
Ngài thị hiện giữa dòng đời, hòa nhập vào giòng đời và xuất ly khỏi
giòng đời … tùy xứ tùy thời, tùy cơ tùy pháp mỗi mỗi đều không rời bản
tâm, xin mượn lời tâm sự của Ni sư TN Diệu Huệ để bày tỏ lòng kính
ngưỡng vô hạn của hậu bối đối với Tiền nhân :
“… Không biết Thầy xuất xứ từ đâu, về
thế pháp và cả xuất thế gian, với phong cách trang nghiêm, vừa trầm tĩnh
và sâu thẳm của một người Châu Á, nhưng khi được tiếp xúc gần gủi với
Thầy mới cảm nhận được đôi khi, ở nơi Thầy toát ra một nguồn sống động
của tâm linh, một năng lực tinh thần mạnh mẽ và hoành tráng, thường chỉ
thấy ở những vị cao đức.
Với một kho tàng trí tuệ tưởng như
không bao giờ vơi, Thầy ứng cảm tùy cơ linh động giảng dạy theo từng căn
cơ của đệ tử, có người Thầy dạy về Tịnh độ, có người Thầy dạy về Thiền,
có người Thầy truyền về Mật - Thầy dùng mọi pháp môn, phương tiện để
giáo hóa khai mở Bồ đề tâm cho mọi người, lợi lạc chúng hữu tình, tùy
theo mỗi trường hợp mỗi hoàn cảnh, nội tâm mà sự hóa độ mỗi khác, thật
khó mà ước lượng trước được cách dụng tướng bồ đề của Thầy tự tại như
thế nào, điều này chỉ ở những bậc Đạo sư cao minh đã có cái nhìn xuyên
suốt và toàn diện mới thực hiện được. Và cũng lạ một điều là ngay cả
những khi Thầy ngồi yên lặng không nói năng, mà được ở cạnh Thầy chỉ
trong một chốc lát, thì tự nhiên bao nhiêu muộn phiền bối rối trong lòng
đều tan biến đi đâu mất, chỉ còn lại một sự bình an tĩnh lặng gần như
tuyệt đối. Khi tôi hỏi tại sao lại có trạng thái như vậy thì Thầy chỉ
mĩm cười từ bi và nói : “Con tinh tấn tu hành sẽ biết, ở nơi mỗi người
đều sẵn có đầy đủ cả, chỉ vì không biết dùng …”.
Trích “Cảm Niệm Ân Sư”.
TN Diệu Huệ
CHƯƠNG V : NHỮNG NĂM THÁNG
CUỐI ĐỜI
Năm 1976, Ban liên lạc Phật giáo yêu
nước được thành lập do Hòa Thượng Thích Minh Nguyệt làm chủ tịch, có
thỉnh Hòa Thượng tham gia. Nhưng Hòa Thượng chỉ đến chứng minh trong
những buổi lễ lớn như Phật Đản, và đến 1980 Hòa Thượng cáo bệnh từ chức.
Từ đó, Hòa Thượng chuyên lo tu niệm, không bước ra khỏi cổng Thiền Viện.
Đã gần 100 tuổi, nhưng Hòa Thượng vẫn trải tình thương đến mọi người như
Bồ Tát ai mẫn chúng sanh; Hòa Thượng dốc hết tâm lực và thân lực của
quãng đời còn lại của mình mà chăm lo sức khỏe của dân nghèo bằng cách
trị bệnh : bắt mạch, ra toa hốt thuốc Bắc. Và còn mở mấy khóa dạy châm
cứu và y học dân tộc miễn phí cho mọi người tại Thiền Viện Chơn Đức.
Tuy vậy, hàng năm Hòa Thượng vẫn mở
giới đàn truyền trao giới pháp cho Tăng Ni Phật Tử.
Từ năm 1980 đến 1990 vì tuổi cao và
sức khỏe không cho phép nên Hòa Thượng chỉ thuyết pháp mỗi năm một lần
vào ngày mùng một Tết. Như trước đã nói Hòa Thượng nghiêm tu pháp môn
Thiền - Tịnh - Mật của Trúc Lâm Thiền phái và công phu ròng rã suốt một
đời …
Theo lời Hòa Thượng Thích thiện Tánh
(Đại tòng lâm) : “Hòa Thượng ở trong phương trượng phía sau chùa nhưng
biết rõ được khách đến tìm đang đứng trước cổng chùa, dù vị khách ấy
chưa từng lên tiếng gọi hay gõ cửa. Hôm đó đang hầu Thầy (HT.Từ Quang),
chợt Thầy kêu ra mở cửa, có khách. Tôi ngạc nhiên vì không nghe tiếng
gọi hay gõ cửa mà bỗng dưng Thầy biểu ra mở cửa, nhưng khi tôi ra mở thì
quả thật có vị khách vừa dừng xe trước cổng, mãi lo sắp xếp chút phẩm
vật cúng dường nên chưa kịp gõ cửa, vậy và Hòa Thượng đã biết”.
Ni sư TN Diệu Huệ có lần kể : Vào một
buổi trưa nọ có một anh phu xích lô đem hoa trái đến chùa lễ Phật đặng
xin cầu an cho mẹ vượt qua khỏi cơn bịnh đã đến thời kỳ nặng, như mọi
khi, tôi (Diệu Huệ), đem tờ giấy ghi tên tuổi người mẹ vào trình Thầy
chú nguyện, không ngờ chưa nghe hết câu và cũng chưa xem qua giấy Thầy
đã dạy tôi : “Con ra bảo người đó về nhà ngay để còn gặp mẹ kẻo không
kịp” và Thầy nói nhỏ “Mẹ anh ta ngày giờ đã tới, chắc không qua khỏi
trong ngày”.
Tôi liền trở lên chánh điện thấy anh
vừa lễ Phật xong còn đứng đó, tôi nói anh nên về ngay vì chắc mẹ của anh
đang mong anh lắm, Thầy đang chú nguyện cho mẹ anh rồi.
Khoảng chừng một tháng sau tôi thấy
anh đạp xích lô trở lại chùa, cũng với một bó hoa và trái trên tay, anh
nói rằng : “Lần trước con có đến chùa xin cầu an cho mẹ, Sư cô nói lẽ vô
thường và hối con về, thì con vừa về đến nhà là mẹ con vừa trút hơi thở
sau cùng.
Mấy ngày rày con bận lo tang ma chôn
cất, hôm nay sắp tới 49 ngày của mẹ, con đến xin cầu siêu cho mẹ con …”.
Điều này chứng tỏ Hòa Thượng là bậc
chân tu đắc pháp, và hiếm thấy trong thời cận đại chứ chưa nói hiện đại.
Sáng mùng một Tết năm Tân Mùi (1991)
Hòa Thượng đăng tòa thuyết pháp với đề tài Tứ Vô Lượng Tâm - Từ bi hỷ
xả : khuyên mọi người hãy nới rộng tình thương đến nhau mà đừng đòi hỏi
một điều kiện nào của nhau. Và Hòa Thượng bày tỏ ý nguyện sẽ trở lại
cõi đời ô trược này để độ chúng sanh. Lời pháp nhẹ nhàng thanh thoát và
tôn dung khả kính của Hòa Thượng vẫn còn đọng lại trong tâm thức mọi
người - Bởi lẽ, đó là lần thuyết pháp sau cùng của Hòa Thượng.
Quả thật, sự đời vốn vô thường, có hội
ngộ ắt có chia ly, có đến phải có đi, thân tứ đại rồi cũng phải trả về
cho tứ đại. Đó là định luật chi phối vạn loài hữu tình. Rất đúng như
Thiền sư Linh Hựu đã cảnh tỉnh hậu lai về chiếc thân giả hợp này.
“Ví sương lộ vừa sa
đây đó
Mãnh hình hài thoạt
có thoạt không
Kìa như cây đứng bờ
sông
Nọ dây vành giếng nào
trông lâu dài”.
Cảm biết được việc “đến đi” của mình,
ngày 20-2 âm lịch năm Tân Mùi (1991), Hòa Thượng cho gọi các đệ tử thân
tín đến dặn dò rằng : “Nếu thầy có tịch thì tổ chức lễ tang thật đơn
giản rồi đem thiêu”. Nhưng có ai ngờ đó là lời di huấn sau cùng của Hòa
Thượng vì Hòa Thượng còn rất khỏe và minh mẫn như thường. Thế mới hay :
“Kiếp người ngọn cỏ sương sa,
Một trờ hư ảo, trăng
tà bến lau”.
Sau đó một tuần, vào 26/02 âm lịch.
Hòa Thượng cảm thấy bất an trong thân sau khi tiếp phái đoàn các Đệ tử
ở miền Tây lên vấn an sức khỏe. Nhưng sáng hôm sau tức 27/02 âm lịch
(nhằm 12/04/1991) Hòa Thượng khỏe lại bình thường và nói năng như lúc
không bệnh. Sau khi độ ngọ, 12h00 Hòa Thượng vào phương trượng nghỉ
trưa, như thường lệ, đến 14g00 là Hòa Thượng lắc linh gọi thị giả đem
nước vào rửa mặt. Quá 14h00, thị giả đẩy cửa bước vào thì thấy Hòa
Thượng đã thâu thần thị tịch, nét mặt lại tươi hồng hơn lúc còn sống, và
trên môi còn đọng một nụ cười hoan hỷ, tự tại để lại bao niềm kính tiếc
vô biên cho môn đồ từ chúng trong Tông môn nói riêng và Phật giáo đồ
Việt Nam nói chung. Sau khi làm lễ trà tỳ. Đồ chúng lập tháp bia tưởng
niệm trước sân Thiền Viện Chơn Đức (Bà Chiểu).

Tháp bia tưởng niệm Hòa Thượng Từ Quang ở Chơn
Đức TV (Bà Chiểu)
Trong tập “Lưu niệm trên đường Đạo”
Ni sư TN Diệu Huệ viết về Hòa Thượng
:
“… Trước ngày Thầy tịch khoảng một
tháng, tôi được linh tính báo điềm 2, 3 lần trong chiêm bao, tôi cũng
hiểu đó là những ảnh chiếu của tâm thức, thế giới thuộc về tâm vi tế
luôn diễn dịch, cạn sâu, nhiều thứ lớp không thể dùng lời để nói, vì lời
nói phút trước phút sau, lập lại dễ trở thành sự hiểu lầm, điều đó có lẽ
chỉ đúng với thước đo của riêng tôi và trong khoảnh khắc đó.
Dầu Thầy tôi đã từng giảng dạy và tôi
cũng vẫn biết : Vô thường là thường thì làm gì có sự biệt ly, pháp tánh
vốn như thì nào có sanh có tử, nhưng sao lòng tôi vẫn cứ rưng rưng …
Thật vậy, cho dù tôi có hiểu vẫn còn
chỉ là trên lý thuyết, thực tế tôi chưa thể nghiệm được điều này, tôi
vẫn còn trong cảnh giới đối đãi của nhị nguyên, cái thấy chưa trùm khắp
được như Thầy cho nên vạn pháp mãi không ngừng luân chuyển xoay vần
trong mắt tôi, tôi vẫn thấy trăng đã tròn rồi lại khuyết, hoa sẽ nở để
rồi tàn và rồi, Thầy có đến ắt phải có đi …
Thôi thì cứ để cho mọi việc đến và đi
theo lẽ tự nhiên, tôi vẫn âm thầm quan sát chiêm nghiệm tự thân hoặc
thong dong trong thế giới tâm không ngăn ngại, được ảnh chiếu lung linh
dưới mọi góc cạnh trong tâm thức mà chưa dám mơ tưởng được đến chỗ cùng
tột viên mãn là Vạn-Vật-Đồng-Nhất-Thể mà Thầy tôi đã đôi lần nhắc tới.
Từ khi Thầy viên tịch, mỗi khi nhìn
lại thân phận mình, là nhớ những lời di huấn, tôi ẩn dật lo tu, hình ảnh
Thầy luôn rạng rỡ với nụ cưới khoan dung hoan hỷ, kết hợp những năm
tháng được Thầy truyền trao đạo học là một ân đức hiếm khi có được trong
đời đã giúp cho tôi có đủ niềm tin để vượt qua tất cả những chông gai
chướng ngại trên đường đạo …”.
(Những lưu niệm trên đường đạo)
Than ôi !
Mây trắng phủ đầy trời Bát Nhã,
Hoa ưu Đàm rơi rụng cả lối về.
Mới hôm nào,
Thầy trò còn tạng mặt
Lý kinh nghĩa luật, tiếng pháp tỏ rõ
ngọn ngành,
Chỉ lối mở đường, đưa chúng con về Bảo
sở.
Có ngờ đâu :
Giữa chốn rừng chiên, sư thinh dứt bặt
Bên sườn Thiếu Thất, đèn thiền xao gió
Vân Thê ngói đổ, trăng giới lờ mây
Lối cũ Đình Khôi, lá vàng xơ xác
Chơn Đức còn đây với tháng ngày
Mà bóng Ân Sư giờ biền biệt.
Lời từ biệt khó mong ngày tái ngộ
Chuông Lôi Âm giục giã khách vào Thiền
Trụ Ta Bà, xuân thu trăm lẻ bốn
Cộng chúng tu học, 74 mùa an cư.
Nơi đây
Tấm áo Cà Sa sương thấm lạnh,
Ngoài kia,
Đèn thiền leo lét, gió đìu hiu.
Ô hô !
Vân tán, tuyết tan
Hoa tàn, nguyệt khuyết
Ta La rừng xưa còn là nơi diệt độ,
Chơn Đức giờ đây buồn tiễn gót Thầy
đi.
Thôi thì,
Quảy dép về Tây chốn nghỉ ngơi
Hạc vàng cất cánh ngắm phương trời
Huyễn thân gửi lại nơi trần thế
Giả biệt Tôn sư luống ngậm ngùi.
Thế mới hay,
Cực Lạc - Ta Bà muôn trùng non nước
Nghìn thu một bước vĩnh biệt Đại sư.
PHẦN 3: TRUYỀN THỪA

CHƯƠNG I : TỪ HAI
BẢNG CHÁNH PHÁP NHÃN TẠNG
1. Đây là tờ Chánh
Pháp Nhãn Tạng mà Hòa Thượng được Tổ Từ Nhẫn - Như Đắc truyền pháp vào
ngày 18-08 năm Canh Dần (tức 29/09/1950), lược từ đời Đạo Mân - Mộc Trần
trở về sau, như sau :



Đời
31 : Mộc Trần -
Đạo Mân
32 : Khoáng Viên - Bổn Quả
33 : Thọ Tông -
Nguyên Thiều
34 : Minh Ân - Thành
Đẳng
35 : Linh Nhạc - Phật
Ý
36 : Viên Quang - Tổ Tông
37 : Hải Tịnh -
Tiên Giác
38 : Chơn Hương - Minh Phương
39 : Từ Nhẫn - Như
Đắc
40 : Từ Quang - Hồng
Liễu
Như vậy, với dòng
truyền thừa này thì Hòa Thượng được truyền theo bài kệ của Tổ Đạo Mân -
Mộc Trần, tức thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đời 40.
Và qua chánh pháp nhãn
tạng này. Chúng ta được biết thêm ngài Thành Đẳng. Minh Lượng còn có pháp
hiệu là Minh Ân.
2. Còn tờ Chánh pháp
Nhãn Tạng dưới đây là Hòa Thượng được Tổ Đạt Phòng - Hoằng Nghĩa truyền
pháp vào ngày rằm tháng 7 năm Mậu Tuất (Nhằm 29/08/1958). Tóm lược từ đời
ngài Đạo Mân - Mộc Trần trở về sau, như sau :


Đời
31 : Mộc Trần -
Đạo Mân
32 : Khoáng Viên - Bổn Quả
33 : Siêu Bạch - Hoán
Bích
34 : Minh Vật - Nhứt
Tai
35 : Thiệt Thoại - Tánh Tường
36 : Tế Giác -
Quảng Châu
37 : Liễu Phương - Chơn Hương
37 : Liễu Khiêm - Hoằng Ân
38 : Đạt Phòng - Hoằng
Nghĩa
38 : Đạt Thanh - Hoằng
Thông
39 : Ngộ Minh - Từ
Quang

Chánh pháp nhãn tạng do Tổ Hoằng Nghĩa
truyền ngày rằm tháng 7 năm Mậu Tuất (29 - 8 - 58)


Như vậy, với dòng truyền thừa này, Hòa Thượng được truyền theo bài kệ
của Tổ Vạn Phong. Thời Úy, tức thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 39.
Vậy là Hòa Thượng Từ Quang được truyền
thừa bởi 2 dòng kệ với 2 đời khác nhau.
- Dòng kệ Lâm Tế Chánh Tông thì thuộc
đời thứ 39 : Ngộ Minh - Từ Quang.
- Dòng kệ Lâm Tế gia Phổ thì thuộc đời
thứ 40 : Hồng Liễu - Từ Quang.
Tuy nhiên, ở bàn tổ của Chơn Đức có thờ
long vị của ngài Hoằng Nghĩa, trong đó ghi : Từ lâm Tế Chánh Tông tam thập
cửu thế Giác Viên thượng Hoằng hạ Nghĩa húy Như Phòng Từ Đạo Hòa thượng tổ
sư giác linh mạo tọa. Từ long vị này, chúng ta biết Hòa Thượng Hoằng Nghĩa
thuộc dòng Lâm Tế [gia phổ thì đúng hơn] đời thứ 39 húy Như Phòng hiệu Từ
Đạo. Vậy là Hòa Thượng Hoằng Nghĩa cũng được truyền theo 2 dòng kệ của Lâm
Tế Chánh Tông và Lâm Tế Gia Phổ với 2 đời khác nhau :
- Đạt Phòng - Hoằng Nghĩa : đời 38 -
LTCT.
- Như Phòng - Hoằng Nghĩa : đời 39 -
LTGP.
Bên cạnh long vị của Tổ Hoằng Nghĩa là
long vị của Hòa Thượng Từ Quang, trong đó ghi rõ : Từ Lâm Tế Chánh Tông tứ
thập thế Chơn Đức Thiền Viện thượng Từ hạ Quang húy Hồng Liễu hiệu Huệ Đức
Hòa Thượng Thiền sư giác linh mạo tọa.
Từ long vị này, chúng ta biết Hòa Thượng
Từ Quang còn có hiệu là Huệ Đức.
Qua tờ chánh pháp nhãn tạng thứ 2 này,
chúng ta được biết ngài Minh Khiêm - Hoằng Ân cũng được truyền theo dòng
kệ Lâm Tế Chánh Tông với hiệu là Liễu Khiêm Hoằng Ân. Tương tự, ngài Minh
Phương - Chơn Hương cũng được truyền theo dòng kệ Lâm Tế Chánh Tông với
pháp hiệu là Liễu Phương - Chơn Hương.


CHƯƠNG II :
CÁC ĐỆ TỬ
Cuộc đời hoằng hóa của
Hòa Thượng suốt một thế kỷ, độ đến 30.000 Phật tử tại gia trong và ngoài
nước, mở nhiều giới đàn tuyển người làm Phật. Vậy mà, Hòa Thượng độ đệ tử
xuất gia chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Thật lạ !
Thông thường, người ta quan niệm tiếp
tăng độ chúng nhiều chừng nào tốt chừng nấy; nhưng với Hòa Thượng thì
ngược lại. Hòa Thượng cho rằng : xuất gia học đạo thì dễ, nhưng giải thoát
khỏi oan khiên túc trái thì được mấy ai, nên thà độ ít mà thực học thực tu
còn hơn tham độ đệ tử cho đông mà chẳng ích lợi gì cho đạo pháp cho chúng
sanh. Đó chính là cái nhìn sâu sắc và thẩm thấu mọi lẽ của bậc tu hành đắc
pháp vậy. Trong tập “Lưu niệm trên đường đạo” Ni sư TN Diệu Huệ có viết :
“Một buổi sáng Thầy gọi tôi lên dạy” :
“Sáng nay Thầy dặn Thầy Thiện Tánh đến
đây có việc, con đến mở tủ áo Thầy ở ngăn thứ 2, lấy tấm y vàng viền kim
tuyến của Thầy (Thầy tôi nói tấm y này của Thầy Tổ, Thầy đã mang theo mình
trong suốt những năm tháng Thầy đi đó đây hoằng hóa khắp mọi nơi, Thầy đã
đắp chiếc y này để chứng minh các buổi lễ, khai mở đàn giới và thăng tòa
thuyết pháp) nay con lấy ra sẵn để chút nữa Thầy cho Thiện Tánh đắp lên để
chụp một tấm hình “Thầy Thiện Tánh với tư thế tọa thiền trên thạch tòa nơi
chánh điện Chơn Đức Thiền Viện” ngộ nhỡ mai này Thầy tịch Thầy Thiện Tánh
còn tấm hình làm kỷ niệm …”
Từ hồi tôi đến ở chùa 4, 5 năm, vị trí
Thạch tòa này chỉ dành riêng Thầy tôi là Viện chủ ngự để chứng minh các
buổi lễ, ngoài ra từ vị trưởng tử của Thầy (là Hòa Thượng Chánh Tịnh) trở
xuống cũng chưa ai được chủ tọa nơi pháp tòa này, hôm đó tôi nghĩ
ý-chỉ-truyền-thừa của Thầy tôi đã nhắm dành cho Thầy Thiện Tánh, Thầy là
một người có đức độ vượt trội, vừa khiêm cung và chính trực, chẳng màng
đến lợi danh vật chất, chẳng bao giờ tranh chấp với ai, đời sống của Thầy
luôn giản đơn và đầy đạo vị …
… Và sau đó Thầy Thiện Tánh đã lặng lẽ
xa rời nơi tranh chấp đang dầu sôi lửa bỏng này để ra ẩn tu ngoài Đại Tòng
Lâm (ngày nay là Viện chuyên tu Đại Tòng Lâm).


Có lẽ do ân đức sâu dầy của các vị Thầy
tổ tương tục kế truyền qua nhiều đời trước ngầm gia hộ nên từ nơi đây đã
nứt mộng nảy chồi, những đệ tử do Thầy Thiện Tánh trưởng dưỡng đạo tâm đều
xuất sắc làm nên đạo nghiệp với tinh thần Từ bi và trí tuệ, hoằng truyền
chánh pháp trên con đường vị tha không ngừng nghỉ…
(Những Lưu niệm trên đường đạo)
D.Huệ
|