Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam


...... ... .

 

 

Kỷ Yếu
Tưởng Niệm Đức Đệ Nhị Tăng Thống
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất
Hòa Thượng Thích Giác Nhiên

Sydney, Úc Châu
Phật Lịch 2537 - 1993
---o0o---

Phần 2

 

 

VĂN TẾ

của Ban đại diện các QUẬN GIÁO HỘI Nội, Ngoại TP. HCM.

                        Hỡi ôi!

                        Một cánh hạc bay,

                        Muôn dòng lệ nhỏ,

                        Hương thủy khói mây,

                        Triết giang sóng gió

                        Nhớ Đại lão xưa:

                        Thai tọa Thiên thai

                        Độ giang Khí độ

            Phủ Triệu phong bừng trỗi ánh Từ phong

            Làng Ái Tử sẵn ươm mầm chủng tử.

            Địa linh đây, tỏ tỏ khuôn rằm,

            Linh kiệt đó, rành rành nét chữ.

VÕ “THƯỢNG NHƠN” thăm thẳm dạ anh hào

THÍCH “TRỪNG THỦY” trong veo dòng diệu sử

“Trò” GIÁC NHIÊN hiển giác kỳ duyên

“Thầy” TÂM TỊNH truyền tâm ấn pháp

Triều Duy Tân, thọ cụ túc ... Tường Vân

Năm Canh Tuất, hội tam đàn Pháp vũ

Cõi Già lam, nương Bát Chánh Đạo, nguyện tu trì,

Đường Bát Nhã, lấy bất thoái tâm, làm bạn lữ.

An Nam Phật học, Viên Âm vang dội Hải Triều Âm,

Quốc Tự Thánh Duyên, nhẫn độ chuyển thành chơn Tịnh Độ

Phái Lâm Tế truyền thừa LIỄU QUÁN, đức Khai sơn xin nhớ mãi ơn thầy,

Non Thiên Thai ấn thọ Thiền Tôn, công lập tự quyết gìn hoài nghiệp Tổ,

Tài dũng lược chấn hưng Đạo pháp, thiên nhân cùng chiếu sáng Phổ Đà Quang.

Đức bao dung cảm hóa quần sanh, ngư điểu thảy hòa ca Nam Hải ngữ.

Đạo phong ngời TRUNG BỘ, NẾP Tăng Cang chặt chẽ tam thừa,

Tuệ nghiệp chiếu NAM THIÊN, ngôi TĂNG THỐNG vững vàng nhất trụ.

Viên Âm ấy, suốt sinh thời thuyết pháp, giờ quy nguyên đại ngã chuyển âm giai,

Mãn tự thay, tròn thế kỷ khai kinh, phút viên tịch pháp thân vào tọa độ.

Khóc Từ Phụ buổi Ưu Đàm lạc điệp, nối khuôn vàng thước ngọc vắng nhân gian,

Mừng Ân sư thời kiến Phật khai hoa, cảnh tới bến qua bờ vui tịnh thổ.

                        Kính lạy Giác linh

                        Chúng con xin nguyện

                        Đốt nén Tâm hương

                        Ghi dòng liệt sử

                        Trọn đời nối gót

                        Báo đáp ân sư.

Phục Duy Giác linh

CHỨNG GIÁM.

 

---o0o---

 

Cảm Niệm

Đức Đại lão Hòa Thượng THÍCH GIÁC NHIÊN.

(Tăng Thống GHPGVNTN, viên tịch ngày mùng 06 tháng Giêng Kỷ Mùi).

  

            Một trăm lẻ hai tuổi

            Hơn thế kỷ làm người

            Thanh tịnh, thanh tịnh giới

            Trang nghiêm, trang nhiêm đời

Thiền định, đại thiền định

Du hý nước mây chơi

Giới, quét sạnh tâm kinh

Huệ, mở toang mặt trời

            Mặt trời huệ minh chiếu

            Quạt vàng phất phất vui

            Trong cánh quạt chiếu diệu

            Mười Phương hoa tuyệt vời

Một trăm lẻ hai tuổi

Mỗi tuổi, như một lời

Một trăm lẻ hai tuổi

Kết chuỗi Bồ đề tươi

            Trên Thừa Thiên, xứ Phật

            (Xứ nào cũng Phật thôi

            Đông Tây gì Lẽ Thực

            Cũng về trên cõi người)

Trên Thừa Thiên, xứ Phật

Có một vị thiền sư

Nhàn nhã như vân hạc

Trời lan nhã, vân du

            Đầu gậy thiền, cánh bướm

            Ngủ ngủ giấc xuân thu

            Mùi gậy gỗ đá cứng

            Vang âm thanh đại từ

Trên đầu hạnh, trăng sáng

Áo nâu sòng phất phơ

Làn sóng trăng lãng đãng

Thanh không, cổ nguyệt Thừa

            Cổ nguyệt thừa Thiền tịnh

            Lăn bánh giữa đêm mờ

            Thủ lăng nghiêm Phật đỉnh

            Niệm niệm ... niệm vào thơ

Mỗi niệm tôn hiệu Phật

Mỗi bước bước lên bờ

Thiền, tịnh ba la mật

Thượng thủ tịnh - thiền sư.

            2.

Nơi đầu cầu Ái Tử

Bà mẹ đứng trông con

(Chuyện chín mười năm cũ)

Chiều ... ngọn gió nam non

            Chuyện chín mười năm cũ

            Có một chú bé lành

            Nghe tiếng gọi vũ trụ

            Nguyện xuất gia tu hành

Đồng tử VÕ CHÍ THÂM

Chánh quánh làng Ái Tử

Đi tìm đạo Quán Âm

Tín thụ trì Linh ngữ

            Vững vàng thân đại thụ

            La hán quán âm tung

            Tỏa bóng mát che phủ

            Khắp quê hương đại hùng

Hành giả Võ Chí Thâm

Chánh quán làng Ái Tử

Nguyện báo Phật thâm ân

Bát thối Bồ Tát lữ

            Niệm Bất Thối Bồ Tát

            Niệm ... niệm ... hải triều âm

            Tỏa trùng trùng động tác

            Chuyển trùng trùng pháp luân

Chín mươi năm chuyển pháp

Soi, một bóng trăng vàng

Cổ nguyệt thừa vô tác

Vô vị, sắc, thanh, hương

            Tâm bản nhiên, bản giác

            GIÁC NHIÊN, bản đạo tràng

            Thiền, tịnh chẳng sai khác

            Như thị, pháp Thiền Tôn

            3.

Một ánh đạo đông phương

Thêm một lần vụt tắt

Đại Hòa Thượng Thuyền Tôn

Thiền tịnh ba la mật

            Tuy tướng thoảng mất

            Thể đạo vẫn trường tồn

            Thường trụ giữa quê hương

            Đạo trường Tam thế Phật.

10 tháng Giêng Kỷ Mùi

Phật tử TRỤ VŨ

 

 

 

 

---o0o---

 

NHẬN ĐỊNH:

TINH THẦN TĂNG NI PHẬT TỬ HUẾ

QUA TANG LỄ ĐỨC TĂNG THỐNG

Trải bao năm xa cách Huế, nhất là sau những bước ngoặc lịch sử của đất nước và Giáo hội, nay tôi mới có dịp nhìn lại tinh thần TĂNG NI, Phật tử Huế qua Tang lễ Đức Đại lão Hòa Thượng đệ II TĂNG THỐNG của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Thực ra, trong những năm vừa qua, tôi cũng có dịp về Huế, nhưng không có dịp để thấy rõ sinh hoạt của Tăng, Ni và đồng bào Phật tử ở đây một cách tận tường như lần này.

Trong thời buổi hiện nay, tôi tnghĩ tưởng rằng, đạo tâm của Phật tử Huế cũng đã có ít nhiều bị chi phối bởi những điều kiện sinh sống bên ngoài, do hậu quả của chiến tranh gây nên như một vài nơi mà tôi đã đến. Nhưng điều này tôi đã chủ quan. Ở đây, càng khó khăn, càng bận rộn sinh nhai, tinh thần Phật tử Huế càng hăng say, khăng khít với Đạo, với Giáo hội. Đó là điều làm cho kẻ xa đến Huế xúc động, cảm mến ...

Suốt hai ngày rưởi, trên chuyến tàu Thống Nhất từ TP. HCM ra Huế, tôi hồi tưởng về tang lễ Đức TĂNG THỐNG thứ NHẤT và lo âu đến tang lễ Đức TĂNG THỐNG thứ HAI. Tôi thầm nghĩ, tang lễ lần này (1979), làm thế nào để có thể so sánh kịp tang lễ lần trước (1973), khi đến Huế, tôi càng thêm bi cảm, vì nhìn rõ nét mặt của từ Chư tôn Hòa Thượng đến toàn thể Tăng Ni, và một số Phật tử túc trực tại tổ đình Thuyền Tôn, nơi quàng Kim Quan Đức TĂNG THỐNG, nhưng với số lượng đồng bào Phật tử đến chiêm lễ, thọ tang và hổ trợ tang lễ, mức độ ngày càng gia tăng, lòng tôi chuyển dần từ lo âu đến khích lệ vô vàn ... Có lúc, tôi đã cảm thấy nước mắt lưng tròng. Không biết tôi xúc động vì mến thương sự ra về của Đức TĂNG THỐNG hay xúc động trước tinh thần phụng Đạo vững bền của Phật tử Huế.

Trong thời gian Tang lễ, về Tăng Ni, chu vị đã tỏ ra thật khăng khít, một lòng chung lo tang lễ. Chư vị tự động mang đến Tổ đình Thiền Tôn những thức cần thiết với tinh thần tự nguyện, các Chùa cũng tự động cắt xén lương thực, gạo thóc, khoai, sắn để đóng góp vào Tang lễ. Trên con đường đất sỏi vừa gồ ghề, vừa xa xôi, với những cổ xe thô sơ, dù là đang thời tiết của đầu xuân xứ Huế, một mùa thật mát mẻ dễ chịu, có mưa phùn, có sương rơi, có chim hót, hoa cười ...

Về Phật tử, dù có khó khăn, xa xôi, từ các huyện, các khuôn Giáo hội của Thừa Thiên, Quảng Trị, Đà Nẵng, Phật tử vẫn không quản ngại, về chiêm lễ, thọ Tang, đóng góp công đức hổ trợ Ban Tổ chức. Hầu hết các Phật tử ở xa về chiêm lễ, thọ Tang cũng như các Phật tử đến phụ giúp Tang lễ, đều mang theo lương thực tự túc để giúp Ban Tổ chức nhẹ bớt gánh nặng, Tôi thấy bùi ngùi xúc động trước cảnh những cụ già, những Oanh Vũ Gia đình Phật tử, từ phương xa, vất vả khó nhọc, kẻ vác, người khuân các thứ thổ sản đến cúng dường Tang lễ!

Đêm 14 (10-02-1979), ở đây, trời về đêm, khí hậu lạnh lẽo, phương tiện di chuyển khó khăn, đường sá xa xôi, ấy thế mà hơn cả vạn đồng bào Phật tử vẫn đến, chen chúc dưới rừng thông, quanh Tổ đình Thiền Tôn để chờ tiễn đưa Đức TĂNG THỐNG lần cuối. Đó đây ánh đèn lửa bập bùng, ánh trăng xuyên khe lá, chúng ta có thể nào không cảm động trước những mo cơm, những ổ bánh mì, những giỏ khoai sắn ... lương thực tự túc của Phật tử, treo lủng lẳng ở các cành thông.

Trong buổi lễ cung thỉnh Kim quan nhập tháp, có hằng trăm ngàn đồng bào Phật tử tham dự, những khung cảnh thật trật tự, trang nghiêm, im lặng tuyệt đối mà sinh động vô cùng. Đẹp mắt và kính phục biết bao, tinh thần tự nguyện, tự giác cao độ của Phật tử xứ Huế! Nhờ đó, Tang lễ diễn ra thật viên mãn, không ngờ ...

Ở đây, tưởng cũng nên mở ngoặc, để nhận chân tinh thần của người Phật tử xứ Huế, vì qua Tang lễ, đương nhiên, dù chật vật đến đâu, Tăng Ni, Phật tử, cũng phải tích cực gánh vác và tìm cách tham dự. Điều chúng tôi muốn nêu lên là, ở Huế, không phải chỉ trong thời gian Tang lễ Đức TĂNG THỐNG mà thường ngày, hình bóng Tăng Ni vẫn thản nhiên hiển hiện đó đây, ở công tác Phật sự hoặc lao tác tự túc ... ở các chùa, nhất là chùa khuôn Giáo hội, Phật tử vẫn lui tới lễ bái, tham học đạo lý, tu Bát Quan trai, không kém những thời có cuộc đấu tranh cho tự do tín ngưỡng, cho công bằng xã hội, cho hòa bình dân tộc. Chùa này hoặc chùa kia có Phật sự, Tăng Ni, Phật tử vẫn đến chung lo, xem như việc của chùa mình, nhà mình, không chút nề hà, do dự, bàng quan hoặc với tinh thần cầu cạnh ...

Với tinh thần vì đạo pháp cố hữu, ngàn đời không phai của Phật tử Huế, từ các phái đoàn Hà Nội, cho đến TP. HCM về dự tang lễ, đều tấm tắc thán phục. Tinh thần này của Tăng Ni Phật tử Huế, quả thật là một điểm son đối với Đạo, với tổ chức Giáo hội, như người Phật tử Huế, đã một lần thể hiện đạo tâm mình qua Tang lễ Đức Đệ Nhất TĂNG THỐNG.

... Tinh thần này của Tăng Ni Phật tử Huế, quả thật là một điểm son tô thắm đạo tâm và thăng hoa Giáo hội, Chúng ta ước mong, đó đây trên mọi nẽo đường quê hương, đâu đâu cũng có thể tìm thấy nơi người Phật tử Việt Nam một tấm lòng sắt son đối với Đạo, với tổ chức Giáo hội như Tăng Ni, Phật tử Huế, đã một lần thể hiện tinh thần mình, tinh thần của người Phật tử Việt Nam, qua Tang lễ Đức Đệ nhị TĂNG THỐNG.

Thích Minh Tuệ

 

---o0o---

 

Những giai thoại có thật trong thời sinh tiền

Đức TĂNG THỐNG

Những mẫu chuyện nhỏ dưới dây, có trong khoảng thời gian từ 20 năm lại đây được các thầy ở tổ đình Thiền Tôn ghi lại, Đôi chuyện, nghe qua có vẻ hoang đường thần thoại nhưng là những chuyện có thật xảy ra trong thời sinh tiền của Đức TĂNG THỐNG. Chuyện nhờ công hạnh tu hành đức độ mà cảm hóa được chim muông thú vật, không phải là chuyện hiếm hoi trong lịch sử và trên thực tế. Chúng tôi cho đăng tải để cống hiến Phật tử xa gần.

            BIẾT TRƯỚC NẠN XỨ:

Thầy Mậu Lâm có chí cần cù nhẫn nại. Thầy đã tự khai một khu rẫy ở cạnh giếng chùa. Sáng nào thầy cũng dậy sớm. Sau khi công phu xong, thầy vác cuốc đi phơ rẫy đến khi trời sáng hẵn mới trở về chùa lau quét.

Một sáng nọ, vừa vác cuốc đi ra, thầy đã thấy Cố (danh từ mà các thầy trong chùa dùng để xưng với Đức TĂNG THỐNG) đứng ở cửa liêu. Ngài nhìn thầy Mậu Lâm và dạy:

- Hãy lui đã. Sáng nay đi gặp nạn.

Nghe vậy thầy Mậu Lâm cúi chào Cố rồi trở lui. Năm phút sau, một tiếng nổ vang dội  ở phía giếng. Số là hồi đó, có một bác cư sĩ lối xóm, thường hay lên chùa ngủ và coi chừng giùm, sáng ngày lại về. Sáng hôm đó, khi bác về, con chó của bác tung tăng chạy trước, đến gần giếng thì tiếng nổ đã làm con chó chết tại chỗ. Phát hiện ra thì đó là tiếng nổ của một quả đạn B40, không biết có từ hôm nào.

Nếu Cố không ngăn, thầy Mậu Lâm đã lâm nạn trên đường mà sáng đó thầy đi qua. Không hiểu sao Ngài đã linh cảm được chuyện sẽ xảy ra!

            ĐÓM LỬA TÌNH THƯƠNG:

Sau khi đã phát xong đám rẫy, tăng chúng trong chùa quyết định đốt rẫy để trồng sắn. Việc này được bạch Cố, Cố dạy:

- Bao giờ đốt?

- Bạch Cố, chiều nay.

- Khoan đã ba ngày sau hãy đốt.

Chúng tôi hoãn ngày đốt lại, và từ đó sáng nào Cố cũng chống gậy ra khu rẫy. Ngài đứng ở khu rẫy, chúng lấy làm ngạc nhiên trước việc làm của Cố. Ngài dạy:

- Cực chẳng đã mình mới chặt cây đốt rừng. Điều này luật đã cấm, nhưng trường hợp đặc biệt này, mình phải báo tin để cho mọi loài hiện sống trong khu rẫy này di chuyển đi nơi khác, vì lòng từ bi, chúng ta không nên quên công việc thiện dù là nhỏ nhặt này.

 

Đến lúc nổi lửa đốt rẫy, chúng tôi nghĩ rằng cũng không sao khỏi có ít nhiều chúng sinh không thoát chết trong lần đốt rẫy này, nhưng đại đa số đều đã di cư nơi khác.

Tình thương của Đức TĂNG THỐNG thật đã tỏa rộng và bao trùm muôn loài.

            CHUYỆN MỘT CÂY BÙI:

Phía sau nhà hậu Tổ đình Thiền Tôn, có một cây Bùi, lớn bằng hai người xoác. Cây Bùi quá già cỗi, nên đã khô chết. Chúng tăng quyết định nhờ hai bác thợ rừng đốn làm củi. Điều đáng làm mọi người ngạc nhiên là trước những nhát rìu mạnh và sắc của hai bác thợ, vẫn không làm xây xuể thân cây.

Thấy vậy, chúng tôi vào trình lại Cố. Ngài chống gậy bước ra và dạy:

- Cây Bùi tuy đã già chết, nhưng nó lại là nơi an của người ta, những người khuất mặt khuất núi. Muốn hạ, trước hết phải cáo cho họ biết.

Dạy xong, Ngài đến đứng gần cây Bùi, miệng lâm râm điều gì không ai nghe rõ, năm phút sau, Ngài hướng về hai bác thợ và bảo:

- Bây giờ các đạo hữu hãy chặt đi, tôi đã xin phép cho rồi đó.

Từ đó hai bác thợ mới thực hiện xong việc hạ cây Bùi.

Câu chuyện có mang màu sắc huyền thoại, nhưng có ai được sống bên Cố, được mục kích tận mắt thấy được sức mạnh của nguyện lực. Điều này không lạ đối với chư vị chân tu liễu đạo.

            CHUYỆN MỘT VỤ KIỆN:

Một đạo hữu bổn đạo của chùa, có thân phụ qua đời, đến chùa xin lễ cầu siêu ký tự. Sau ngày lễ, đêm hôm đó Cố nằm mộng thấy hương linh ấy về, và thưa:

- Bạch Ngài, Ngài cho phép con được vào nương nhờ Tổ đình. Ngày nay con vào nhưng các vị thân hình to lớn chận đường, giữ cửa chùa, không cho con vào, họ bảo: Trong sớ chỉ cầu siêu mà không ký tự. Vậy xin Ngài can thiệp cho con được vào chùa.

Sáng hôm sau, Ngài gọi thầy công văn đến hỏi, thì sự thật, khi viết sớ, thầy chỉ ghi cầu siêu mà không có ký tự. Ngay trong ngày hôm ấy theo lời Cố dạy, chúng tôi làm thêm một lễ cầu siêu ký tự cho hương linh đã về báo mộng với Cố.

Theo kinh Phật, người chết trong thời gian 49 ngày, thân trung ấm chưa thể đầu thai, chờ lãng vãng đợi nhân duyên để thác sanh kiếp khác.

Trường hợp báo mộng thường xảy ra trong nhân gian.

            CHUYỆN CON CHIM CU:

Vào năm 1974, tại Tổ đình Thuyền Tôn có một con chim cu, loài chim nhát gan nhất trong mọi loài chim, từ núi Thiên Thai thường bay vào liêu Cố. Lúc đầu, tăng chúng trong chùa ngỡ là chim của ai nuôi bị lạc, nhưng càng lâu ngày mới biết nó sống ở núi Thiên Thai bay về. Phải chăng chim đã cảm mến đức độ của Cố? Mỗi ngày vài ba lần, chim bay vào đậu ở hộp tợ, nơi mà Cố TĂNG THỐNG thường an tọa để ngọ trai, xơi nước hoặc xem kinh sách. Ở đây chim được vuốt ve chìu chuộng, Chim bay về thật đúng lúc, mỗi khi Cố TĂNG THỐNG ngọ trai biết ý của chim, Cố thường để dành thức ăn cho chim mỗi khi nó bay vào. Mỗi khi được cho ăn xong, chim nhảy lên vai, lên cánh tay của Cố để đợi vuốt ve hoặc để ngủ, có ai vào hoặc Cố đi nghỉ chim mới chịu bay trở về núi Thiên Thai. Điều này cũng dễ hiểu. Hồi Đức Phật còn tại thế, một hôm có một con chim sẻ bị trúng đạn, hoảng sợ bay đến nép vào Ngài Xá Lợi Phất nhưng chim vẫn còn run rẫy sợ sệt. Sau đó, chim lại bay đến luồn mình vào tay áo của Đức Phật. Ở đây chim thấy an toàn và không hề run sợ nữa. Được hỏi về nguyên nhân của hiện tượng, Đức Phật dạy: Nơi Xá Lợi Phất chủng tử sát sanh tuy đã tận diệt, nhưng chưa sạch được tập khí vi tế.

 

Năm 1975, lúc chiến cuộc sôi động, Cố TĂNG THỐNG vào Saigon để tích cực vận động Hòa bình cho dân tộc, cho đất nước. Trong thời gian này, chim chỉ đến có vài lần trong trạng thái ngơ ngác, ủ dột. Rồi từ đó, không thấy chim đâu nữa. Đức độ tu trì và lòng thương bao la của Đức TĂNG THỐNG đã cảm hóa chim muông.

            ĐIỀM CHẲNG LÀNH:

Trời mưa như thác đổ, từng lằn chớp ngoằn ngoèo vạch xé bầu trời. Một tiếng sét nổ tung rung động bầu trời, chúng tôi lấy làm kinh hoàng khôn xiết. Mùi khét bốc lên, tưởng chừng như ngôi chùa bị trúng sét. Cố TĂNG THỐNG chống gậy bước ra hỏi:

- Sét đánh mô rứa?

- Bạch Cố, chúng con chưa rõ.

- Bạch Cố, không sao.

- Trời tạnh hẳn, chúng tôi ra sân, thì cây Bồ Đề trước cổng chùa đã bị sét đánh gãy một cành lớn. Thấy vậy, chúng tôi vào trình Cố. Khi nghe tin cây Bồ Đề bị gãy, gương mặt cố có chiều tư lự, Ngài dạy:

- Đây là điềm không tốt, có lẽ sẽ có chuyện gì không hay xảy ra cho Giáo hội chúng ta.

Đúng như lời Ngài dạy, cờ Phật Giáo bị triệt hạ vào năm 1963 rồi Pháp nạn 1966. Phải chăng do kinh nghiệm của Cố? hay do đức độ tu hành mà Ngài đã linh cảm và biết trước được những gì sắp xảy ra. Điều này, có ai từng sống bên cạnh Cố, từng được nghe lời Cố dạy mới cảm thức sâu xa những gì đã có linh nghiệm trong thời sinh tiền của Ngài.

TRƯỜNG KHÁNH - TRƯỜNG SANH ghi.

  ---o0o---

 NHỮNG NGÀY TANG LỄ

Ngơ ngác trước ánh sao băng:

Những ngày đầu xuân ấm áp chóng qua. Sáng nay 06-02 Âm lịch, trời trở lạnh, cái lạnh thật khá thấm, vạn vật như nhuốm màu tang, lác đác đây đó vài ngôi sao lạc bước. Chắc có điều gì chẳng lành?

Vâng, điều đó đã trở thành sự thật cho quần chúng Phật tử: Đức TĂNG THỐNG đã vĩnh viễn ra đi lúc 06.30. Ôi, ai nấy thật não lòng và rồi chỉ biết lặng lẽ ra đi hướng về các Thiền tự. Tổ đình Báo Quốc, Từ Đàm đã rộn rịp các đạo hữu thăm hỏi tin tức. Không bao lâu đàn con ngoan Đạo của xứ Huế đã lặng bước hướng về chùa Thuyền Tôn, tâm tư nặng trĩu âu lo thương tiếc.

Nơi đây, rừng thông như ủ rũ, đàn chim ngày nào nhí nhảnh bay lượn, líu lo bây giờ cũng như hiểu thấu nổi lòng của con người. Phải chăng đã đúng với cảm nhận của một thi nhân “Hỡi vạn vật vô tri vô giác kia ơi! Các ngươi như có một tâm hồn”. Tổ đình Thuyền Tôn đã trầm tỉnh lại trầm tĩnh hơn. Một số quý Hòa Thượng, TT, ĐĐ. Trong Viện Tăng Thống và Giáo hội Thừa Thiên đã có mặt từ sáng sớm. Hòa Thượng THÍCH ĐÔN HẬU, Chánh thư ký Viện Tăng Thống với vẻ mặt như cố gắng nuốt đi những cay đáng để góp sức sắp đặt Tang lễ. Hòa Thượng TRÚC LÂM trong dáng điệu thao thức, Thượng Tọa THÍCH THANH TRÍ, dáng đi bồi hồi như không nén được những cảm xúc. Thầy THÍCH ĐỨC TÂM, thầy THÍCH THIỆN HẠNH, thầy THÍCH THIỆN LỘC cùng một số thầy, cô, một vài đạo hữu thân cận như không dấu được nổi lòng thương tiếc trước sự ra đi vĩnh viễn của người cha.

Thời gian nặng nề trôi:

Không khí như câm lặng, chẳng ai nói với ai một lời nhưng tất cả như đã hiểu nhau tự cõi lòng, gắn bó với nhau thật diệu vợi. Một phút, rồi hai phút ... nặng nề trôi, tôi mới thấy rõ hơn tình cảm của những con người trong cuộc.

Trời sáng dần, Phật tử càng đông hơn, nhìn qua song cửa tả liêu, các Hòa Thượng, Thượng tọa, Đại Đức trong Viện Tăng Thống và Giáo hội Thừa Thiên đang sơ hội Tang lễ.

Ba mươi phút sau gặp thầy THÍCH THIỆN HẠNH, tôi được biết: Giáo hội đang lo điện vào Viện Hóa Đạo và các tỉnh Giáo hội. Một Ban Tổ chức tạm thời cũng đã được cung cử để lo Tang lễ.

Mãi theo gót các thầy, lăng xăng một vài công việc tôi quên cả giờ giấc. Đồng hồ đã chỉ một giờ. Các thầy, các cô bận rộn chuẩn bị cho lễ khâm liệm được định vào lúc 15 giờ chiều 06-02 Âm lịch. Lòng tôi lúc này vừa bùi ngùi vừa bồn chồn khác lạ, mình chắc sẽ tận mắt được thấy nghi lễ tôn nghiêm truyền thống của Phật Giáo mà rồi đây chư Hòa Thượng, Thượng tọa sẽ cung tiến cho vị thầy khả kính. Mất phút sau, chiếc Bảo cữu giản dị, màu nâu nâu, phản phất mùi thơm nhè nhẹ của Thiền lâm. Vài nét chạm trổ đơn sơ, không lộng lẫy xa hoa nhưng vô cùng đĩnh đạc được được vào tổ đường, nơi mà  trước đó mấy ngày Đức TĂNG THỐNG có bảo các chú thị giả: “Tôi thấy trong người yếu nhiều, hãy mời thầy Báo Quốc vào đưa tôi sang nhà tổ, kẻo ở liêu này lỡ vô thường đến, nhục thân tôi có tội với Phật". Cao quý thay! một con người hơn một thế kỷ đã cống hiến hết mình cho công hạnh tu tâm dưỡng đức, cho sự nghiệp phụng đạo giúp đời, vẫn cảm thấy chưa tròn, còn tội lỗi. Thật là một bài học vô cùng quý giá khó tìm thấy.

Đầu óc đang miên man suy nghĩ, bỗng tôi thấy ở phía tả liêu, phái đoàn Mặt Tận Tổ Quốc tỉnh Bình Trị Thiên và Thành phố Huế, đến sơ viếng. Mười phút sau phái đoàn ra về, tôi được gặp Thượng Tọa THÍCH THANH TRÍ, Phó trưởng Ban Tổ chức, cho biết: Mấy bác ở mặt trận lên thăm và cho hay đã điện ra Trung ương về tin Đức TĂNG THỐNG viên tịch.

Lễ Khâm Liệm:

Hòa Thượng THÍCH ĐÔN HẬU mắt như đẫm lệ vào tận Bảo cữu để xem xét lại công việc. Hòa Thượng TRÚC LÂM, TT. THÍCH THANH TRÍ ra vào Tổ đường vội vã sắp đặt đôn đốc mọi thứ. 14 giờ 30, một dãy chiếu bông được trải rộng giữa hai hàng Tăng Ni Phật tử từ Tổ đường đến hữu liêu, nơi đang tôn trí Nhục thân Đức TĂNG THỐNG.

Đúng 15 giờ, trời như xám xuống, không gian thấp dần, lời cầu Kinh hòa lẫn nhạc Trời, chuông trống Bát Nhã đổ liên hồi ... Tôi thấy bồi hồi. Bấy giờ cửa hữu liêu, đĩnh trầm khói bay nghi ngút. Theo sau là các Thượng tọa, Đại Đức đang chính mình cung thỉnh nhục thân Đức TĂNG THỐNG đến Tổ đường để khâm liệm.

Mình Đức TĂNG THỐNG được quàng một bộ pháp phục gấm vàng, trên phủ mền Quang Minh mang dòng chữ đỏ. Đãnh đội Mũ Quan Âm, trông oai nghi cảm mến. Chuông trống Bát Nhã đổ liên hồi tiễn đưa Người vào Bảo cữu, rung động rừng thông Thiên Thai, âm vang đổ dậy khắp các chùa, các Tu viện từ sáng sớm tinh sương, làm lòng người Phật tử bồn chồn xao xuyến trước tin về một vì sao đã khuất. Nhục thể của Đức TĂNG THỐNG được từ từ chính tay Chư Tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa đưa vào Bảo cữu giữa muôn vàn trái tim uất nghẹn tiếc thương.

Lễ Khâm liệm hoàn tất. Trời lúc này đã đổi sang màu sẩm. Bây giờ là 17 giờ, lễ Khai kinh bạch Phật và lễ Thọ tang cho Tăng Ni tín đồ được bắt đầu.

7, 8-02: Vọng về Viện Hóa Đạo và Giáo hội các Tỉnh:

Thế là đã qua rồi một đem trống lạnh, sáng nay trời vẫn đục. Trên đường trở lại Thiền Tôn tôi thấy bóng dáng anh chị em công nhân của Ty Giao Thông Bình Trị Thiên và Thành phố Huế đang sữa chữa tuyến đường từ Nam Giao đến Thiền Tôn để giúp đỡ đồng bào Phật tử được dễ dàng trên đường về thọ tang. Tôi cũng thấy nhẹ hẳn cả người, bước đến chùa rừng thông không trầm lắng như ngày nào mà lại nhộn nhịp hơn, các thầy, các cô, các đạo hữu mỗi người đều bận rộn vói công việc nhưng ai ai cũng nóng lòng trông về VIỆN HÓA ĐẠO và Giáo hội các Tỉnh.

Một đêm nữa lại qua. 12 giờ trưa 08-02 Âm lịch. Chuyến tầu Thống nhất 3 đã mang Hòa Thượng Viện trưởng và Phái đoàn tháp tùng trở về Huế.

HT. Viện trưởng trong chiếc áo nâu bạc màu như độ nào, chiếc mũ len trên đầu, đôi kính tuổi trong trong nhưng không dấu được cảnh “lệ đẫm hoen mi”. Tháp tùng HT. Viện trưởng có ĐĐ. MINH TUỆ, nguyên Phó Tổng thư ký VIỆN HÓA ĐẠO và ĐĐ. MINH KIẾN Phó Tổng thư ký VIỆN HÓA ĐẠO. Chiếc xe của Giáo hội Thừa Thiên đã đưa Hòa Thượng và phái đoàn về Tổ đình Báo quốc, nơi mà trước đây Hòa Thượng đã từng làm Trú trì, Giám đốc đào tạo tăng tài, một trung tâm lớn của Phật giáo Việt Nam trong những ngày chấn hưng Phật Giáo. Sau không mấy chốc dừng nghỉ tại Báo Quốc, Hòa Thượng và phái đoàn đã đến Thiền Tôn thọ tang, và chung lo tang lễ. Đến Thiền Tôn, Hòa Thượng và phái đoàn sang hữu liêu giữa những dòng lệ sụt sùi! Một cái gì trống lạnh, bóng dáng của người Cha không còn nữa, ánh đèn dầu loe loét giữa phòng không. Hòa Thượng và phái đoàn đã không ngăn được xúc động mỗi người như ngất lịm trước một mất mát lớn lao.

09,10,11-02 Âm lịch: Thắm đượm tình người đất trời bi lệ:

Đường vào Thiền tôn đã trùng điệp bóng người đến chiêm bái và thọ tang. Chiều nay Ban Tổ chức đã tiếp Ngài Tổng Giám mục, Ngài phó Tổng Giám mục và các vị Linh mục Giáo phận Huế. Sau khi bày tỏ tiếc thương đối với Đức TĂNG THỐNG, chia buồn cùng Giáo hội, Ngài Tổng Giám mục và phái đoàn đã kính cẩn nghiêng mình trước Kim quan Đức TĂNG THỐNG cầu nguyện.

Lần lượt trong những ngày kế tiếp, các phái đoàn Phật Giáo Miền Trung: Quảng Nam Đà Nẵng, Quảng Nghĩa, Bình Định, Tuy Hòa, Nha Trang  ... đã về thọ tang.

12-02 Âm lịch: Phái đoàn Chính phủ và các tôn giáo bạn:

12 giờ Thượng Tọa THÍCH TTHANH TRÍ  đã được mời tháp tùng phái đoàn Mặt trận Tỉnh Bình Trị Thiên thành phố Huế về sân bay Phú Bài đón phái đoàn Chính phủ đến Huế phúng điếu Đức TĂNG THỐNG.

Đúng 16 giờ, tôi đã thấy phái đoàn có mặt tại Thiền Tôn, gồm có:

- Ô. Bùi San, Ủy viên Trung ương Đảng CSVN, Bí thư thứ nhất, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Bình Trị Thiên, Đại diện Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

- Ô. Trần Đăng Khoa, Ủy viên Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thay mặt Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

- Ô. Nguyễn Chí Tôn, Đại diện Ban Tôn Giáo Phủ Thủ tướng.

- HT. Thích Quảng Dung, Phó Hội trưởng Hội Phật Giáo Thống nhất Việt Nam tại Hà Nội.

- Ô. Vũ Thắng, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tỉnh Bình Trị Thiên, và Ô. Lê Tư Sơn, Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Bình Trị Thiên, thay mặt Ủy ban Nhân dân Tỉnh Bình Trị Thiên.

- Ô. Tống Hoàng Nguyên, Phó Chủ tịch thứ nhất Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bình Trị Thiên, và bà Nguyễn Đình Chi, Phó chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam tỉnh Bình Trị Thiên, thay mặt Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bình Trị Thiên.

- Ô. Lâm Hồng Phấn, Chủ tịch UBND thành phố Huế, thay mặt UBND thành phố Huế.

- Ô. Nguyễn Hữu Đính, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận thành phố Huế, thay mặt Ủy ban Mặt trận thành phố Huế.

- Ô. Mai Xuân Anh, Phó Chủ tịch UBND huyện Hương Phú, thay mặt UBND huyện Hương Phú.

- Ni cô Mạn Đà La, Đại diện Hội Phật tử tại Pháp.

Đến Thiền tôn, phái đoàn đã thẳng đến trước Kim quan Đức TĂNG THỐNG đặt vòng hoa tưởng niệm. Chúng tôi thấy có cả thảy 12 vòng hoa và trên mỗi vòng hoa đều mang dòng chữ: “Kính viếng Hòa Thượng THÍCH GIÁC NHIÊN TĂNG THỐNG Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất”. Sau mấy phút tưởng niệm, phái đoàn đã được đón tiếp long trọng tại phòng khách. Ở đây, HT Viện trưởng Viện Hóa Đạo thay mặt Ban Tổ Chức đã bày tỏ lòng biết ơn sâu xa lên phái đoàn Chính phủ.

Cũng trong ngày, Phái đoàn Hội Thánh Tin Lành, Đan Viện Thiên An, Chủng viện Hoàn Thiện, các Nữ tu trong Giáo hội Thiên Chúa đã đến tưởng niệm Đức TĂNG THỐNG và phân ưu cùng Giáo hội.

Chiều xuống, trở về Báo Quốc tôi lại được gặp phái đoàn Phật Giáo TP. HCM, gồm đông đủ các Hòa Thượng như HT. Thích Thiện Tường, HT. Thích Thiện Hào, HT. Thích Huệ Hưng, và TT. Thích Minh Châu, TT. Thích Thanh Kiểm, TT. Thích Từ Hạnh, TT. Thích Thông Bửu ... và các Đạo hữu Ngô Bá Thành, Võ Đình Cường, Tống Hồ Cẩm ... trong Ban Liên lạc Phật Giáo yêu nước TP. HCM. Ở đây, cũng có: HT. Thích Giác Tánh, trưởng phái đoàn Phật Giáo Phú Yên. HT. Thích Trí Nghiêm, Trưởng phái đoàn Phật Giáo Khánh Hòa.

Đặc biệt trong phái đoàn Phật Giáo Khánh Hòa, chúng tôi nhận thấy có TT. Thiện Siêu, Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học Nha Trang, Trưởng tử của Đức TĂNG THỐNG, một vị mà từ BTC đến Tăng tín đồ Phật Giáo đều nóng lòng mong đợi ngày về, ĐĐ. Thích Thiện Bình, Chánh Đại diện Phật Giáo Nha Trang, đệ tử của Đức TĂNG THỐNG cũng đã về Huế từ hôm 12-02 Âm lịch.

Cùng ngày, sau giờ tiếp đón phái đoàn Chính phủ, tôi thấy hiếu đồ gồm: Thượng Tọa Thích Thiện Siêu, Đại Đức Thích Thiện Bình, Đại Đức Thích Thiện Lộc, Trường Khánh ... dưới sự hướng dẫn của TT. Thích Thiện Siêu đã đãnh lễ Chư Hòa Thượng Thượng Tọa trong Ban Tổ Chức về công đức đứng ra sắp đặt Tang lễ, nguyện “ ... kể từ giờ phút này, chúng tôi xin đặt mình dưới sự điều động của BTC”. Thật là khiêm nhường đượm tình đạo vị.

Sau một đêm nghỉ tại Báo Quốc, phái đoàn Phật Giáo TP. HCM đã đến Thuyền Tôn đãnh lễ và thọ tang. Một bài văn tế cua Đại diện các quận Giáo hội, nội ngoại TC. HCM đã được tuyên tế trong giờ thọ tang này, làm mọi người vấn vương tấc dạ.

14-02 Âm lịch: Lễ Bái Yết Tổ Đường: Cây có cội nước có nguồn:

Sáng nay, giữa lúc vạn vật còn ngái ngủ, toàn thể Tăng Ni đã hàng ngủ chỉnh tề trong pháp phục để cung nghinh long vị Đức TĂNG THỐNG về bái yết Tổ đường Tây Thiên. Tổ đường, đây chính là nơi Đức TĂNG THỐNG đã được thọ Pháp trong cuộc đời làm nhà đạo sĩ “thừa như lai sứ, hành như lai sự”.

Nắng hồng vừa điểm, đoàn cung nghinh vừa được khởi hành, đẫn đầu là các Pháp âm, Pháp khí, tiếp đến Ban nhạc cổ truyền, rồi Hương án tôn trí long vị Đức TĂNG THỐNG. Theo sau là Hội đồng Lưỡng viện, Chư Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức các tổng vụ, toàn thể Tăng Ni trong Giáo hội và hiếu đồ. Đoàn cung nghinh chỉ dành riêng cho Tăng Ni, nhưng dọc suốt lộ trình dài 5 cây số, giữa đồi núi trùng điệp, đồng bào Phật tử đã túc trực hai bên vệ đường cùng các hương án khói trầm nghi ngút. Điều làm cho ai nấy đều cảm động khi long vị Đức TĂNG THỐNG ngang qua các Phật tử qùy gối chắp tay và cúi đầu tưởng niệm.

Chùa Tây Thiên chính giờ này tấp nập rộn rịp, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu đã có mặt tại đây từ sáng sớm, đoàn cung nghinh đến chùa, chuông trống Bát Nhã lại đổ liên hồi, long vị Đức TĂNG THỐNG được thỉnh vào bái yết Phật Tổ. Tại đây, trưởng lão Hòa Thượng Tây Thiên, 104 tuổi thọ, trong bộ Pháp phục đại lễ kiết già trên pháp tọa chứng minh Lễ.

Lễ bái yết Tổ đường xong, Long vị của Đức TĂNG THỐNG được cung nghinh trở lại Tổ đình Thiền Tôn. Điều làm cho đồng bào Phật tử càng xúc động thêm khi thấy các vị Hòa Thượng trưởng lão, tuổi đã cao, sức khỏe lại kém vẫn cũng bộ hành với Tăng Ni trong đoàn cung nghinh giữa ánh nắng chói chan, mồ hôi đẫm ướt. Cao quý thay gương sáng của các Như Lai Sứ Giả đang ghi đậm đạo hạnh của mình trong lòng người Phật tử.

Trở lại Thiền Tôn, tôi ghé đến dãy nhà tranh phía ngoài cổng chùa. Nơi đây, Ty Y tế Bình Trị Thiên đã cho thiết lập một trạm phát thuốc để giúp đỡ Phật tử trong thời gian Tang lễ. Các chị y tá trong chiếc áo trắng của ngành nhanh nhẹn và niềm nở với công việc của mình. Phòng kế cạnh các em Gia đình Phật tử trong chiếc áo Lam hiền đóa sen phù hiệu tươi nở trên ngực đã không ngừng tay làm việc, giữ gìn nón mũ, đồ đạc cho khách thập phương. Công việc thật vất vả, nhưng các em đã không để mất mát một thứ gì và trên môi vẫn cười, nụ cười làm mát đạo tâm.

Sau đó, tôi ghé hàng giải khát, phía bên kia đường do Công ty ăn uống Nam Sông Hương Bình Trị Thiên thiết lập để cung ứng.

Nhìn về khu đất gần cổng chùa, hàng hàng lớp lớp xe gắn máy, xe đạp, đây không biết là rừng thông hay rừng xe, ấy thế mà tất cả đều thứ tự ngăn nắp. Đây lại cũng là công trình của các em Gia đình Phật tử, nhận nhanh trả chóng, làm cho khách thập phương vô cùng cảm phục và không ngớt lòng khen ngợi.

Rời khu đất giữ xe, tôi ghé đến ban trai soạn. Ở đây, phần đông là các Ni cô và một số chị em Phật tử. Được biết ban trai soạn cho Ni sư Thích Nữ Chơn Thông, trú trì chùa Diêu Viên đảm trách với sự phối hợp của 5 chùa Ni trong Giáo hội. Công việc cơm nước cho các phái đoàn thật vô cùng vất vả và phức tạp, người đông, khí trời lại oi bức, vật dụng thiếu thốn. Ấy thế mà do sự khéo kéo, cùng đức tính cần mẫn hoan hỷ của các cô, các chị, công việc trai soạn đã hoàn tất mỹ mãn. Thật là công đức vô lượng.

Bây giờ đã 14 giờ 30, ngày Âm lịch ngày chư tăng Bồ Tát. Mặc dù công việc cấp bách và bề bộn. Chư Tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa Đại Đức Tăng Ni vẫn hàng hàng lớp lớp kiết già trước điện Phật để tụng GIỚI. Tiếng mõ hòa nhịp với những lời kinh vang vọng giữa rừng núi Thuyền Tôn, làm mọi người không khỏi ngậm ngùi nhớ lại lời dạy cuối cùng của Đức Phật trước khi nhập diệt tại rừng Ta La: “Này các Tỳ kheo, sau khi ta diệt độ, hãy lấy GIỚI LUẬT làm thầy, giới luật còn là ta còn”.

Càng về chiều, đồng bào Phật tử đổ về Thuyền Tôn, càng đông, tuyến đường Nam Giao, Thiền Tôn đã được hợp tác xã ô tô tăng cường, không ngớt đưa người lên xuống. Rừng thông bao la, bây giờ chỉ là rừng người rộn rịp. Trăng 14 sâu, vằng vặc, gió đêm nhẹ thổi như chuyền thêm sức khẻo cho khác thập phương ở lại giữa đồi thông không mùng màn, lót dạ chỉ sắn khoai đạm bạc. Lớp người như thác đổ, chen chúc, cố vào nhìn cho được Kim quan Đức TĂNG THỐNG lần cuối. Mọi người không một tiếng ồn, không mất trật tự, không làm mất vẻ tôn kính.

15-02 Âm lịch: Lễ nhập Bảo tháp, triệu trái tim trong cùng một trái tim:

Đem càng về khuya càng im lặng. Trong im lặng đó đã có một cái gì chuyển động, làn sóng người đã tràn về, ban trật tự đã bắt đầu vất vả. Các lối vào nơi tôn trí Kim quan Đức TĂNG THỐNG cũng đã được hạn chế để chuẩn bị giờ cung nghinh Kim quan.

Đúng 6 giờ, chuông Lệnh khai, Chư Tôn HT. TT. ĐĐ. Tăng Ni, pháp phục chỉnh tề trước Kim quan Đức TĂNG THỐNG. Ở đây, cũng đã có đầy đủ Hội đồng Lưỡng Viện, hiếu đồ và Tăng Ni các tỉnh. – 10 phút sau, lễ khiển điện bắt đầu, ba hồi chuông lệnh chấm dứt, nhạc lễ cổ truyền chan hòa với lời kinh cầu nguyện tiễn đưa người vào chốn an nhiên. Điếu văn của Ban liên lạc Phật Giáo Yêu nước, điếu văn của ban Quản trị Tổ đình ẤN QUANG và của Ni bộ Bắc tông đã được tuyên đọc trước giờ cung nghinh Kim quan. Mỗi bài biểu lộ mỗi nét xót xa thương tiếc và tất cả đều nguyện cùng chung xây dựng Đạo pháp và phụng sự dân tộc.

Tiếp đến là lễ triệt linh sàn, thật khó mà nén được nổi lòng kẻ còn người mất! Thượng Tọa Thích Thiện Siêu, đôi mắt quầng thâm vì lo lắng, thỉnh bát hương, lòng như đang thầm gieo từng bước xót xa, Đại Đức THIỆN BÌNH, tuổi còn trẻ nhưng tóc đã điểm sương vì đa đoan Phật sự, tay thỉnh Long vị, lòng như quặn thắt, và ai nấy, đều cảm thấy mất mát một cái gì lớn lao không bao giờ tìm lại được.

Trong giây lát, Hòa Thượng Viện trưởng đã tiến lễ phất trần và cung tuyên pháp ngữ. Bằng một giọng lúc bi ai, khi hùng dũng, HT đã làm cho làn sóng người thể hiện thấu đáo chân lý diệu vợi: “Vô thường thị thường”.

Lễ phất trần chấm dứt, đoàn âm công trong vũ điệu cổ truyền dân tộc, tiến đến trước Kim quan Đức TĂNG THỐNG. Vạn vật giờ đây như trầm lặng, chông trống Bát Nhã lại đổ liên hồi. Kim quan Đức TĂNG THỐNG được nghinh ra khỏi Tổ đường, tôn trí trên long sàn và nghinh về Bảo tháp giữa rừng người đôi mắt ngấn lệ! Ôi triệu trái tim trong cùng một trái tim, tiễn đưa người về cõi tịnh! Cái cảnh tử biệt sinh ly sao mà buồn vậy.

Đứng 09 giờ 30, Kim quan Đức TĂNG THỐNG đã đến Bảo tháp. Nơi đây đông nghẹt cả người, nhưng thật trang nghiêm, thật trật tự, không hề có tiếng ồn, thể hiện tinh thần tự giác cao độ của người Phật tử Việt Nam.

Tại đây, các vòng hoa, Trướng liễn đều đã được trần thiết đúng vị trí, trang nghiêm và 10 giờ kém 10, phái đoàn Đại diện Chính phủ, các phái đoàn Đại diện tỉnh, thành đến phúng điếu hôm 12-02 Âm lịch, nay cũng hiện diện đông đủ đưa tiễn Đức TĂNG THỐNG lần cuối.

Đúng 10 giờ, giờ chính thức nhập Bảo tháp được long trọng cử hành. Sau phần thông báo chương trình và giới thiệu quan khách, HT. THÍCH GIÁC TÁNH, thành viên Hội đồng trưởng lão Viện Tăng Thống, tuyên đọc tiểu sử Đức TĂNG THỐNG. Bằng một giọng nghiêm trang kính cẩn Hòa Thượng cũng không nén được cảm xúc, làm rừng người ngấn lệ.

Tiếp đến, Hòa Thượng Viện trưởng, cung tuyên Điếu từ của Hội đồng Lưỡng Viện, bằng tâm trạng:

“Thầy đã đi rồi, bể Thích rừng Nho trông vắng vẻ,

Trò còn ở lại, kẻ tăng người tục luống bơ vơ”.

Hòa Thượng có lúc cũng nghẹn ngào giữa hàng triệu trái tim đang thổn thức, thương tiếc.

Bài điếu từ chấm dứt, ba tiếng chuông lệnh dóng lên, Kim quan Đức TĂNG THỐNG từ từ được hạ xuống lòng Bảo tháp, giữa trận mưa hoa tiễn biệt. Chuông trống Bát Nhã, tiếng cầu kinh của muôn vạn người con Phật vang vọng rừng Thiền, âm thanh rộn rã nhưng không làm nguôi được nổi cảm hoài chìm lặng trong tâm tư, lớp người đông đảo nhưng không lấp được trống lạnh trong lòng những người con ngoan đạo. Bầu trời sẩm lại, không gian chìm lắng, thời gian ngừng trôi, gió không reo, cây cỏ ngừng rung, chim chóc buồn không muốn hót. Tất cả như ngậm ngùi tiễn đưa Tôn sư về an nhiên, tự tại.

Cuối cùng, Thượng tọa Thích Minh Châu, Viện trưởng Viện Đại Phật học Vạn Hạnh, đọc lời cảm ơn kết thúc lễ Nhập Bảo Tháp.

Bái biệt ra về, giữa cảnh mây trời bao la, nghĩ lại mấy trăm năm về trước, nơi đây, cảnh sơn lâm chướng khí, làm tôi cảm thấy chơi vơi trước công đức lớn lao của tiền nhân, và cụ thể gần đây là công trình và sự nghiệp của Đức TĂNG THỐNG.

Con người, hơn một thế kỷ sống hỷ xã trang trải hết đời mình cho công hạnh tu trì, cho sự nghiệp Giáo hội và Dân tộc, cho sự lợi lạc chúng sinh. Lúc viên Tịch, thân tâm vô bệnh, an nhiên tự tại, tinh thần vẫn minh mẫn lạ thường. Ngài quả là “một đóa hoa nở, vạn đóa hoa thơm chung”, là một ngọn hải đăng thắp sáng giữa lòng nhân thế. Ngài ra đi, giữa muôn vạn tấm lòng tiếc thương ngưỡng mộ.

***

Trong lúc bài tường thuật này lên khuôn, tôi được biết viện Tăng Thống, Ban Tổ Chức tang lễ và Giáo hội Thừa Thiên đang họp bàn về lễ chung thất Đức TĂNG THỐNG một thời PHÁP HOA, một đàn CHẨN TẾ sẽ  được cử hành vào ngày Chung thất, 25-02 Âm lịch Kỷ Mùi (22-3-1979) tại Tổ đình Thuyền Tôn do Hòa Thượng TRÚC LÂM là sám chủ. Trong buổi họp, ban kiến thiết Bảo tháp cũng đã trình bày kết quả. Được biết, Bảo tháp, (bia cũng được hoàn tất mỹ mãn). Đây là do công đức của TT. Thích Thiện Siêu, TT. Thích Thanh Trí, TT. Thích Chánh Pháp và các thầy Thích Thiện Lộc, cùng một số đạo hữu. Thật là công đức không xiết kể.

Hạnh Phương tường thuật

   

BI CHÍ

ĐỨC TĂNG THỐNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT

Chơn như vẳng lặng, vốn không đến cũng không đi.

Huyễn tướng duyên sanh, đã có sanh tất có diệt;

Mê chơn như, chấp huyễn tướng là chúng sinh,

Ngộ huyễn tướng tức chơn như là Bồ Tát.

Đức Đại lão Hòa Thượng húy TRỪNG THỦY hiệu GIÁC NHIÊN, kế thừa đời thứ 42 dòng Thiền LÂM TẾ, đời thứ 8 pháp phái LIỄU QUÁN, tên thật là VÕ CHÍ THÂM, sinh năm 1878 (Mậu Dần) tại làng Ái Tử, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Năm 18 tuổi xuất gia đến cầu pháp với Hòa Thượng TÂM TỊNH chùa Từ Hiếu. Hai năm sau thọ giới Sa Di. Năm 28 tuổi thọ giới Cụ túc với Hòa Thượng VĨNH GIA chùa Phước Lâm, tham học với Hòa Thượng TUỆ PHÁP chùa Thiên Hưng và Hòa Thượng PHÚC HUỆ chùa Thập Tháp.

Với ý chí nguyện truyền trì chánh pháp, hành đạo độ sanh, Ngài đã lần lượt giữ nhiều chức vụ trọng yếu trong Giáo hội.

Năm 1973, Hòa Thượng TĂNG THỐNG TỊNH KHIẾT viên tịch, Giáo hội suy tôn Ngài kế vị TĂNG THỐNG cho đến ngày Ngài viên tịch.

Đời Ngài dài hơn thế kỷ, 102 tuổi đời, 84 tuổi đạo, Rạng ngời giới đức tinh nghiêm đạo hạnh cao khiết, khoan từ giản dị, thiền phong trác việt, chí nguyện kiên trinh, tuệ tâm siêu thoát. Dầu tuổi đã rất cao mà thể chất vẫn an lành, tinh thần vẫn sáng suốt lạ thường.

Ngài vô bệnh an nhiên thị tịch lúc 06 giờ 30 sáng mồng 06 tháng Giêng Kỷ Mùi 1979, giữa muôn vạn tấm lòng ngưỡng mộ tôn sùng như một vị Bồ Tát hóa thân.

Phật lịch 2522, cuối tháng Hai Kỷ Mùi 1979

GIÁO HỘI và MÔN ĐỒ ĐỆ TỬ

Đồng phụng lập.

 

VÀI NÉT VỀ CHÙA THIỀN TÔN

 

Chùa Thiền Tôn là một trong những danh lam thắng cảnh của cố đô Huế.

Chùa được dựng trên một ngọn đồi cao, phía đông nam Thành phố, cạnh núi Thiên Thai, thuộc Thôn Ngủ Tây, Xã Thủy An, Huyện Hương Thủy, (nay là Huyện Hương Phú) Tỉnh Bình Trị Thiên. Chùa cách thành phố Huế chừng 7 cây số.

Từ trung tâm Thành phố, ngược lên Nam Giao, rẽ sang tay trái thẳng đến Ba Đồn, hướng lên Chín Hầm dọc theo chân đồi Thiên Thai, một con đường nhỏ sẽ đưa chúng ta đến chùa.

Trước mặt chùa một đồi thông xanh mát, khung cảnh thật trang nghiêm hùng vỹ. Chùa kiến trúc theo kiểu chữ khẩu, ba căn hai chái, phía trước là tiền đường. Mặt tiền, tôn trí các tượng Phật và Bồ Tát; mặt sau là nơi thờ các vị Tổ khai sơn quá cố. Căn giữa chánh điện, có treo bức hoành bằng dòng chữ Hán “THIÊN THAI THUYỀN TÔN TỰ”, cạnh có 4 chữ nhỏ “Cảnh Hưng bát niên”.

Hòa Thượng LIỄU QUÁN là vị Tổ khai sơn chùa Thiền Tôn, họ Lê, húy THIỆT DIỆU, làng Bạc mã huyện Đồng xuân, tỉnh Phú Yên.

Không biết chùa được dựng lên từ năm nào, theo bức hoành trên, chùa được xây vào năm Cảnh Hưng thứ 8 (1747), nhưng theo tài liệu về cuộc đời của Tổ LIỄU QUÁN, được khắc trên Bia đã dựng tại tháp Ngài, thì Tổ LIỄU QUÁN viên tịch vào năm 1742. Sự kiện này, chứng tỏ chùa Thiền Tôn chắc chắn không phải được xây cất lần đầu vào 1747. Có lẽ năm này là năm chùa được trùng tu.

Căn cứ theo tiểu sử của Ngài LIỄU QUÁN. Chùa Thiền Tôn được xây cất vào khoảng năm Vinh Thạnh thứ 4 (Đời Lê Dụ Tôn, 1708) sau khi Ngài ra Long Sơn (chùa Từ Đàm - Huế) cầu pháp với Hòa Thượng TỬ DUNG xong, mới vào lập thảo am tu hành ở núi Thiên Thai, về sau trở thành chùa Thiền Tôn.

Năm Canh Thìn (1940), tức năm Bảo Đại thứ 15, sau một thời gian dài không được tu bổ, sơn môn Tăng già Thừa Thiên (tức GHPGVNTN Thừa Thiên) cùng môn phái Thiền Tôn đứng ra đại trùng tu, từ đó chùa trở nên nguy nga đồ sộ như ngày nay.

Đại lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên Đệ nhị TĂNG THỐNG GHPGVNTN là vị kế thừa đời thứ 42 dòng Thiền Lâm Tế, đời thứ 8 pháp phái LIỄU QUÁN.

Hiện nay đa số các vị lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam đều xuất thân từ Phái này.

Qua nhiều biến cố lịch sử, chùa Thiền Tôn vẫn tồn tại, hy vọng tồn tại mãi cho các thế hệ tiếp nối.

Hữu Thế sưu tầm

 

VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI NGÀI LIỄU QUÁN

Tổ Liễu Quán ra đời vào ngày 18 tháng 10 năm Đinh Mùi (1667), tại làng Bạch Mã, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, trong một gia đình bình dân, mồ côi mẹ từ thuở lên sáu. Năm 12 tuổi, Ngài được thân phụ dẫn đến bái yết Hòa Thượng Tế Viên, chùa Hội Tôn, xin cho xuất gia học đạo. Trong thời gian tu học ở đây, Ngài đã là một đạo đồng thông minh chăm chỉ. Tuy bên ngoài là hình ảnh một chú điệu ngây thơ, chất phác, nhưng bên trong mang sẵn một bản hoài của vị Bồ Tát giáng trần, một hạnh nguyện của bậc Thánh Tăng xuất thế. Với trí tuệ siêu việt, với đức tin dõng mãnh, Ngài chững chạc bước vào đời.

Sau bảy năm, Ngài đã chăm lo tu học rất tinh tấn và thường hầu hạ giúp đỡ Thầy, không ngại khó nhọc, nhưng đường tu chưa được thành tựu thì Sư phụ của Ngài đã tịch diệt. Ngài lo cư tang cho Thầy để làm trọn niềm hiếu kính ân sư. Sau đó, với chí nhiệt thành hăng say trên bước đường tìm chân lý, Ngài không quản núi sông cách trở, đèo ải nguy nan đã quyết chí vượt suối, băng ngàn tìm thầy học đạo. Năm 1680, Ngài chỉ một mình một bóng vượt mọi khó khăn, nguy hiểm, ra tận Thuận Hóa, đến núi Hàm Long Thiên Thọ yết kiến Giác Long Lão Tổ (Tổ khai sơn chùa Hàm Long Thiên Thọ, tức chùa Báo Quốc ngày nay), cầu xin thọ giáo và theo tu học ở đây được mười một năm. Đến năm Tân Mùi (1969) được tin thân phụ đau yếu Ngài phải trở lại quê nhà, để lo phụng dưỡng. Hằng ngày lên núi đốn củi, đem về đổi gạo nuôi cha, thời gian thấm thoát bốn năm mà Ngài không ngại khổ nhọc. Sau khi thân phụ từ trần, Ngài lo trai tuần siêu độ cho vong linh thân phụ sớm được siêu thoát, hầu vẹn toàn chữ hiếu. Qua năm Ất Hợi (1965), Ngài lại trở ra Thuận Hóa thọ giới Sa Di với Hòa Thượng Thạch Liêm. Hai năm sau tức năm Đinh Sửu (1697), Ngài được thọ Cụ túc giới với Đại lão Hòa Thượng Từ Lâm. Đến năm Kỷ Mão (1699), Ngài bắt đầu đi tham lễ khắp các chốn Thiền lâm, chịu bao khó khăn gian khổ, nếm đủ mùi đắng cay, đạm bạc trải hơn ba năm. Vào năm Nhâm Ngọc (1702), Ngài đến núi Long Sơn bái yết Hòa Thượng Tử Dung (Minh Hoằng), Tổ khai sơn chùa Ấn Tôn, tức chùa Từ Đàm bây giờ) cầu pháp tham thiền, Hòa Thượng dạy Ngài tham câu:

            “Vạn pháp qui nhất, nhất qui hà xứ?”

Dịch là:

            “Muôn pháp về một, một về chỗ nào?”

Ngài đã lãnh thọ yếu chỉ “thoại đầu” rồi chuyên tâm tu luyện, tham cứu ròng rã sáu, bảy năm trời, nhưng chưa tỏ ngộ được. Ngài tự cảm thấy hổ thẹn và càng tinh tấn tham cứu. Một bửa nọ, nhơn đọc truyện “Truyền Đăng Lục” đến câu:

            “Chỉ vật truyền tâm, người không hiểu được"

bỗng nhiên Ngài tỏ ngộ. Mùa xuân năm Mậu Tý, Ngài trở ra Long Sơn cầu Hòa Thượng Tử Dung ấn chứng, Ngài đem chỗ công phu của mình tuần tự thuật lại sự duyên tỏ ngộ và nêu câu:

            “Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ”

Hòa Thượng Tử Dung liền nói:

            “Huyền nhai tán thủ

            Tự khẳng thừa đương

            Tuyệt hậu tái tô

            Khi quân bất đắc”.

Dịch là:

            “Ra nơi hố thẳm buông tay

            Lao mình nhảy xuống hiểm nguy cam đành

            Chết đi sống lại chính mình

            Không còn ai kẻ đối khinh được nào”.

Ngài Liễu Quán vỗ tay cười lớn, Hòa Thượng Tử Dung nói: “Chưa nhằm!”

Ngài Liễu Quán nói:

            “Bình thùy nguyên thị thiết”.

Dịch là:

            “Xưa nay sự thật rõ ràng

            Quả cân này vốn là bằng sắt kia”.

Hòa Thượng Tử Dung nói: “Chưa nhằm!”

Ngài Liễu Quán nói:

            “Tảo tri đăng thị hỏa, phạn thực dĩ đa thĩ”

Dịch là:

            “Nếu như sớm biết đèn là lửa

            Chắc chắn rằng cơm chín đã lâu”

Hòa Thượng rất khen ngợi chỗ khế hội.

Mùa hạ năm Nhâm Thân (1972), Hòa Thượng Tử Dung vào Quảng Nam dự hội Chử Sơn. Ngài Liễu Quán đem trình bày kệ dục Phật. Hòa Thượng liền hỏi:

            “Tổ Tổ tương truyền, Phật Phật thọ thọ

            Vị thẩm truyền thọ cá thậm ma?”

Dịch là:

            “Xưa nay Phật Tổ truyền nhau

            Chẳng hay Phật Tổ truyền trao vật gì?”

Ngài Liễu Quán nói:

            “Thạch duẩn trừu điều trường nhất trượng,

            Qui mao phất tử trọng tam cân”.

Dịch là:

            “Tảng đá mọc măng cao một trượng,

            Lông rùa làm chổi nặng ba cân”.

Hòa Thượng nói tiếp:

            “Cao cao sơn thượng hành thuyền

            Thâm thâm hải để tẩu mã”.

Dịch là:

            “Lung linh nước chảy qua đèo,

            Ngựa đua dưới biển, thuyền trèo trên non”.

Ngài Liễu Quán tiếp theo:

            “Chiết giác nê ngưu triệt dạ hồng

            Nhất huyền cầm tử tận nhật đờn”.

Dịch là:

            “Trâu đất gãy sừng thâu đêm rỗng

            Đòn cầm dây đứt suốt ngày rung”.

Ngài ứng đối rất nhặm lẹ, thật là cơ cảm khế hợp, được Hòa Thượng ấn chứng.

Từ đó, Ngài đi khắp nơi để hoàng dương chánh pháp hết Huế đến Phú Yên, rồi từ Phú Yên trở ra Huế. Truyền rằng, có lần từ Phú Yên ra Huế chỉ trong có mấy tiếng đồng hồ. Hôm ấy, Ngài vừa đến Huế vào khoảng một giờ đêm, đến ngang miếu thờ Thần Hoàng xóm Ngũ Tây, cách chùa Thuyền Tôn bây giờ độ vài cây số, gặp lúc trời mưa, Ngài vào miếu nghỉ lại, khi đó các vị thần trong miếu lánh đi để nhường chỗ cho Ngài trọ. Các vị thần ấy xuống xóm gõ cửa báo mộng cho dân làng biết là có một vị Bồ Tát vào nghỉ trong miếu, vì Ngài là bậc có oai đức nên ta phải nhường chỗ, sáng ngày các người phải lên miếu để đón rước Ngài và thỉnh Ngài về bổn sở, thì ta mới trở về miếu được. Theo điềm báo mộng ấy, sáng sớm dân làng tập trung khăn áo kéo đến, thấy Ngài còn đang ngồi trong miếu. Hỏi mới biết Ngài từ Phú Yên ra từ chiều qua, lúc mặt trời chưa lặn, ai nấy đều kinh ngạc. Sau đó có người nhơn vào Phú Yên có việc, hỏi thăm thì đúng như vậy. Bằng chứng là trước khi đi, Ngài còn dự một buôi lễ Trai đàn, mà ai cũng đều thấy, từ đó người ta mới tin rằng, Ngài có thần túc. Liên tiếp ba năm: Quí Sữu (1733), Giáp Dần (1734), Ất Mão (1735), Ngài đã không quản khó nhọc gian lao, nhận lời mời của chư Tôn môn, các Tể quan cư sĩ ở Huế, dự bốn lễ Đại Giới đàn. Qua năm Canh Thân (1740), Ngài khai Đại Giới đàn Long Hoa truyền giới, để ban bố giới pháp cho hàng hậu tấn. Lúc bấy giờ, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1728-1765) rất sùng kính đạo hạnh của Ngài, nên đã nhiều lần thỉnh vào cung đàm đạo, nhưng Ngài vẫn một mực từ chối. Truyền rằng, lúc sanh tiền, ngoài thời gian tu luyện nơi thảo am, và những lúc đi du phương hóa đạo, Ngài thường trú tại chùa Viên Thông dưới chân núi Ngự Bình bây giờ, vì khi ấy, chùa Thuyền Tôn chưa phải là tự vũ nguy nga, mà chỉ là một thảo am tầm thường, nên Chúa Nguyễn thường ngự đến Viên Thông thăm viếng, đàm đạo. Vì vậy tên núi “Ngự” phát xuất từ đó, và các đời vua triều Nguyễn sau này cũng thường đến viếng chùa, đàm đạo với các vị trụ trì kế tiếp, đồng thời để du sơn ngoạn cảnh.

Mùa xuân năm Nhâm Tuất (1742), Ngài chứng minh lễ Đại giới đàn chùa Viên Thông, với số giới tử xuất gia cũng như tại gia cầu thọ giới rất đông.

Bấy giờ, thân tứ đại đã yếu dần, lớp cà sa đã đượm thắm phong sương, vì Ngài đã lê theo gót thời gian hơn bảy mươi năm xả thân hành đạo, cứu khổ, độ mê. Nên cuối mùa thu năm ấy, Ngài cảm thấy trong người yếu kếm sắp xả báo thân, bèn họp đồ chúng lại và dạy rằng: “Nhơn duyên đã mãn, ta sắp chết vậy”.

Lúc ấy, ai nấy đều đau buồn than khóc, Ngài khuyên rằng: “Các ngươi khóc lóc mà làm chi? Chư Phật ra đời còn nhập Niết Bàn; ta nay đi lại rõ ràng, về tất có chỗ, các ngươi không nên khóc lóc và đừng nên buồn thảm lắm!”.

Cuối tháng mười một năm ấy, nhằm ngày 21, một buổi sớm mai, Ngài ngồi dậy ngay thẳng, tự cầm viết, viết bài kệ rằng:

            “Thất thập dư niên thế giới trung

            Không không sắc sắc diệc dung thông

            Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý

            Hà tất bôn man vấn tổ tông”.

Dịch là:

            “Ngoài bảy mươi tuổi trong thế giới

            Không không sắc sắc thảy dung thông

            Ngày nay nguyện mãn về quê cũ

            Nào phải ân cần hỏi tổ tông”.

Viết kệ xong, Ngài hỏi đồ chúng rằng: “Sau khi ta đi, các người phải nghĩ cơn vô thường nhanh chóng, cần phải siêng năm tu học trí tuệ. Các người phai nên gắng tới, chớ bỏ quên lời Ta".

Rồi Ngài dùng nước trà, các đệ tử làm lễ xong, Ngài hỏi: “Đến giờ Mùi chưa?. Các đệ tử thưa: “Đúng giờ Mùi”, thế rồi Ngài ngồi an nhiên thị tịch, vua nghe tin đến lễ bái và ban cho Ngài bia ký tự hiệu:

“ĐẠO HẠNH THỤY CHÁNH – GIÁC VIÊN - NGỘ HÒA - THƯỢNG”

Ngài tịch lúc hai giờ chiều, ngày 21 tháng 11 năm Nhâm Tuất (1742), tại chùa Viên Thông, dưới chân núi, thọ 72 tuổi. Truyền rằng: Khi Ngài tịch không những để lại cho chư Tăng, vua quan sĩ thứ nỗi buồn thương tiếc, mà còn cảm động cả đất trời, cho đến nước sông như không chảy, mây ngàn như chẳng trôi. Nên có câu rằng:

            “Chung tuần Ngự lãnh vân vị tán

            Mãn nhật Hương giang thủy bất lưu”

Tạm dịch:

            “Núi Ngự tuần đầy mây chẳng rã

            Sông hương ngày trọn nước không trôi”.

Thi thể của Ngài được an trí nơi Bảo tháp cách chùa Thuyền Tôn bây giờ độ hơn một cây số, về phía đông nam, là nơi mà trước kia Ngài đã ẩn thân lo tu thiền quán sáu, bảy, năm cho đến tỏ ngộ. Ngôi tháp ấy do nhà vua xây, rất nguy nga, mỹ lệ. Mặc dù trải qua mấy trăm năm, nhưng nét thời gian vẫn chưa thể làm phai mờ. Hiện nay ngôi Bảo tháp ấy đã biến thành hóa thân của Ngài, đang đứng uy nghi giữa rừng thông cổ thụ, nhìn ra dòng suối biếc, bốn mùa rào rạc chảy, như nhịp mõ trường canh bất tuyệt, để tán tụng pháp thân. Thật đúng theo tinh thần hai câu đối được đặt hai bên cửa tháp Ngài:

            “Bảo đạo trường minh bất đoạn môn tiền lưu lục thủy.

            Pháp thân độc lộ y nhiên tọa lý khán thanh sơn”.

Tạm dịch:

            “Tiếng mõ vang lừng trước ngõ tuôn trào dòng suối biếc

            Pháp thân vòi vọi quanh tòa cao ngất dãy non xanh”.

Trước tháp có hồ bán nguyệt thiên nhiên, nước bốn mùa trong xanh, phản chiếu hình ảnh ngôi tháp và rừng thông. Thỉnh thoảng vài làn gió nhẹ thổi đến làm nước mặt hồ gợn sóng lung linh, khách hành hương đứng trên bờ nhìn xuống, trông hình ảnh của ngôi tháp và toàn cảnh núi đồi phản chiếu trên mặt hồ, như đang nhịp nhàng di chuyển và tiến xa dần đến tận cõi vô biên.

Truyền rằng những năm tu hổ hạnh thiền quan nơi đây, Ngài đã từng sống bằng rong dưới hồ này với muối trắng, cơm khô qua sáu bảy năm tròn. Chỉ chừng công hạnh cũng đủ để làm tấm gương sáng cho sau này, và thanh danh Ngài được truyền tụng lại thiên thu.

Ngài thuộc phái thiền Lâm tế chánh tôn, đời thứ 35. Theo pháp kệ thuộc dòng Lâm tế, do Tổ Nguyên Thiều truyền xuống:

            “Tổ đạo giới định tôn

            Phương quảng chúng Viên thông

            Hạnh siêu minh thiệt tế

            Liễu đạt ngộ chơn không ...”

Ngài lấy chữ “thiệt” là pháp danh của Ngài (Thiệt Diệu) và chữ “tế” mà đặt tiếp theo thành một giòng kệ riêng truyền xuống là:

            “Thiệt Tế Đại Đạo

            Tánh Hải Thanh Trừng

            Tâm Nguyên Quảng Nhuận

            Đức Bổn Từ Phong

            Giới Định Phước Huệ

            Thể Dụng Viên Thông

            Vĩnh Siêu Trí Quả

            Mật Khết Thành Công

            Truyền Trì Diệu Lý

            Diễn Xướng Chánh Tông

            Hạnh Giải Tương Ứng

            Đạt Ngộ Chơn Không”

Ngài là Tổ khai sơn chùa Viên Thông và chùa Thuyền Tôn, cũng là vị sơ tổ của phái Thiền Tôn Trung Việt, được truyền bá đến ngày nay. Gọi là phái Thiền Tôn Liễu Quán. Tuy huyễn thân của Ngài không còn trong hiện tại, nhưng hương đạo của Ngài vẫn phưởng phất trong không gian, thấm đượm qua thời gian. Thật đúng với câu: “Đàm hoa lạc khứ hữu dư hương” được tôn trí trước cửa tháp của Ngài, dư hương ấy, là tinh thần bản thân Phật Giáo Việt Nam ngày càng lớn mạnh. Hồng danh của Ngài được luôn luôn vang vọng bên tai và trong lòng người Phật tử Việt Nam.

(Trích tập san Liễu Quán)

 

 

CHÙA THUYỀN TÔN

Chùa Thuyền Tôn là một Tổ đình lớn gắn liền với sự khai sáng của Tổ Liễu Quán.

Vào khoảng 1708, chùa chỉ là một thảo am nhỏ bé do Ngài tạm dựng để tu chứng thiền quán. Sau khi Tổ viên tịch, nền thảo am trở thành nơi xây tháp mộ và chùa được xây dựng qui mô cách đó lui vào khoảng 500m vào năm 1746 do công quả của Chưởng Thái Giám Mai Văn Hoan đời Chúa Nguyễn Phước Hoạt và thập phương tín chúng hai phủ Triệu Phong xứ Thuận Hóa và phủ Quảng Ngãi xứ Quảng Năm đương thời. Đại hồng chung cũng được chú tạo trong thời kỳ này, đề niên hiệu Cảnh Hưng thứ 8.

Chùa tọa lạc tại ấp Ngũ Tây làng An Cựu, bên trái núi Thiên Thai, nên có tên là Thiên Thai Thuyền Tôn Tự, hay còn gọi là Thiên Thai nội tự, để phân biệt với Thiên Thai ngoại tự ở làng Dương Xuân.

Các vị cao túc đắc pháp của Tổ Liễu Quán đã kế tục trú trì chùa trong buổi đầu như Tế Hiệp Viên Minh, Tế Hiển Viên Giám, Tế Mẫn Tổ Huấn, và Tế Ấn Lưu Quang đều thuộc đời thứ 36 Lâm Tế chánh tông. Tiếp theo là các Hòa Thượng Đại Huệ Chiếu Nhiên, Đại Nghĩa Trí Hạo. Lúc này chùa được trùng tu lần thứ nhất do sư Đại Huệ chủ trì.

Cuối thế kỷ XVIII, vào thời Tây Sơn, tăng chúng xiêu lạc, chùa bị tiêu điều, nhưng các thiền sư Đạo Minh Phổ Tịnh, Đạo Tâm Trung Hậu vẫn còn cố gắng chống chỏi cho cơ ngơi chùa.

Năm 1808, Ngài Phổ Tịnh được Hoàng Hậu Hiếu Khương sắc cử làm trú trì chùa Thiên Thọ, Ngài Đạo Tâm Trung Hậu thay thế làm trú trì, đã được tín nữ Lễ Thị Ta phát tâm cúng dường trùng tu chùa.

Sau đó trú trì là Ngài Đạo Tại Sở Trí, Đại sư Tánh Thiện và Hòa Thượng Hải Nhuận kế tục cho đến cuối thế kỷ XIX. Đầu thế kỷ XX là sư Tâm Thiền, dần dà qua thời gian chùa đã lâm vào cảnh hư hỏng đổ nát.

Mãi đến năm 1937, Hòa Thượng Trừng Thủy Giác Nhiên là pháp tử của Hòa Thượng Tâm Tịnh đang giữ cương vị tăng cang chùa Thánh Duyên đã được sơn môn suy cử kiêm chức trú trì Thuyền Tôn. Hòa Thượng đã ra sức phục hồi, đại trùng tu toàn diện: chính điện, tiền đường, đông phòng, tây xá, tạo nên quy mô như ngày nay.

Hơn 40 năm an trú tại chùa Thuyền Tôn, Hòa Thượng đã tiếp độ tăng chúng, chấn chỉnh thanh quy, trùng tu tự vũ, lại còn góp phần trong công cuộc chấn hưng Phật Giáo và từ năm 1973, đảm nhận chức vụ Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Đến năm 1979, Ngài viên tịch, thọ thế 102 tuổi. Tháp mộ kiến lập trong vườn chùa.

Thuyền Tôn vẫn còn bảo lưu được đường nét kiến trúc cổ, cũng như hệ thống thờ tự truyền thống. Chính điện thiết ba án thờ. Án giữa, trên hết là tượng Phật Tam Thế, phía trước là tượng Phật Thích Ca. Tiền án là tượng Bồ Tát Phổ Hiền, Chuẩn Đề và Văn Thù.

Án tả thờ ba tượng: Trưởng Lão Xá Lợi Phất, Bồ Tát Quán Thế Âm và Tôn Giả Ca Diếp. Án hữu thờ Địa Tạng Vương Bồ Tát. Lại thêm hai án tả hữu tòng tự thiết trí mỗi bên 5 tượng Thập Điện Minh Vương. Mặt tiền của hai gian tả hữu thiết hai bàn thờ: bên tả là Quan Thánh, bên hữu là án thờ Thổ địa, Thổ công, Táo quân, Giám trai sứ giả và thần bổn địa Già Lam Hỏa nương.

Phía sau chánh điện tôn trí long vị của lịch Đại Tổ sư và các hương linh có công đức.

Nhà thơ Nguyễn Du trong thời gian làm quan ở Huế đã từng lên viếng chùa, Hình ảnh ngôi chùa cổ lấp ló dưới lá vàng mùa thu, vị sư già trong mây trắng và quả đại hồng chung thời Cảnh Hưng vẫn nung nấu trong nổi lòng hoài vọng của nhà thơ qua bài:

Vọng Thiên Thai tự

            Thiên Thai sơn tự đế thành đông

            Cách nhất điều giang tự bất thông

            Cổ tự thu mai hoàng diệp lý

            Tiền triều tăng lão bạch vân trung

            Khả liên bạch phát cung khu dịch

            Bất dữ thanh sơn tương thủy chung

            Ký đắc niên tiền tằng nhất đáo

            Cảnh Hưng do quải cựu thời chung.

Dịch thơ:

Trông chùa Thiên Thai

            Thành vua, đông có núi Thiên Thai

            Cách dải sông khó tới nơi

            Chùa cổ lá vàng thu phủ kín

            Triều xưa mây trắng sãi già rồi

            Thương cho đầu bạc còn vương lụy

            Cùng với non xanh trót phụ lời

            Chuông cũ Cảnh Hưng treo vẫn đó

            Nhớ hồi năm trước đã lên chơi.

(Phan Khắc Khoan và Lê Thước dịch)

Hiện nay Hòa Thượng Thích Thiện Siêu đang giữ cương vị trú trì chùa Thuyền Tôn, đã và đang ra sức tôn tạo cảnh chùa, xứng đáng với uy vọng của một ngôi Tổ đình Thiền phái Liễu Quán.

(Trích từ “Danh Lam Xứ Huế”)

 

 

 

PHÁP PHÁI LIỄU QUÁN

 

1.- Ngài THẬT - DIỆU hiệu Liễu Quán là Thiền phái Lâm Tế đời thứ 35.

2.- Ngài TẾ - MẪN, Tổ Huấn thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 36, kế vị trú trì chùa Thuyền Tôn, năm Cảnh Hưng thứ 26 (1765) phú pháp cho đệ tử là Đại Cận tự Phước Dương, với bài kệ:

            “Tổ đức Tôn phong tế thế truyền

            Pháp vô pháp thuyết thoại đầu viên

            Vu kim niệm nhữ thành tiêu bạn

            Hoằng đạo trừng quang biến đại thiên”.

3.- Ngài TẾ - HIỆP tự Hải Điện thụy Viên Minh.

4.- Ngài TẾ - ÂN tự Lưu Quang thụy Viên Giác.

5.- Ngài TẾ - HIỂN tự Trạm Quang thụy Viên Giám.

            Cả ba Ngài này đều thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 36, có kế vị trú trì chùa            Thuyền Tôn, nhưng chưa rõ năm nào (...)?

6.- Ngài ĐẠI - CẬN tự Phước Dương, đắc pháp với Ngài Tế Mẫn 1765.

            (Ngài này không có thấy long vị thờ tại chùa Thuyền Tôn).

7.- Ngài ĐẠI - NGHĨA tự Trí Hạo thụy Tịch Ngộ, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 37 đệ tử của Ngài Tế Ân.

8.- Ngài ĐẠI - HUỆ tự Chiếu Nhiên thụy Viên Kế, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 37 đệ tử Ngài Tế Ân.

9.- Ngài ĐẠI - TẠI tự Sở Trí, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 38.

10.- Ngài ĐẠI - TÂM tự Trung Hậu thụy Viên Giác, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 38, kế tục trú trì chùa Thuyền Tôn, có trùng tu chùa với sự ngoại hộ của tín nữ Lễ Thị Tạ pháp danh Tiên Quý.

11.- Ngài ĐẠO - MINH tự Phổ Tịnh thụy Viên Nhất, họ Nguyễn, nguyên quán Long Phước, Duy Xuyên, Thăng Bình-Quảng Nam; được thỉnh làm trú trì chùa Bảo Quốc ngày 15-9 năm Gia Long thứ 7 (1808), năm Gia Long thứ 14 khai Đại Giới đàn, và phú pháp cho 28 vị đệ tử. Ngài tịch năm Gia Long thứ 15 ngày 13-11, Bảo Tháp được tôn trí tại chùa Huệ Lâm.

12.- Ngài TÁNH - THIỆN tự An Cư, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 39 là đệ tử của Ngài Đạo Tâm Trung Hậu, vì Ngài tịch sớm nên Long vị ghi là: Thiền sư Chơn Linh.

13.- Ngài HẢI - NHUẬN, Phước Thiệm, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 40.

14.- Ngài THANH - LIÊM tự Hy Hữu hiệu Tâm Thiền, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 41 là đệ tử của Ngài Hải Thuận Diệu Giác chùa Bảo Quốc.

15.- Ngài THANH - ĐỨC tự Gia Khánh hiệu Tâm Khoan, Ngài họ Phạm là đệ tử của Ngài Hải Thuận.

16.- Ngài TRỪNG - THỦY tự Chí Thâm hiệu Giác Nhiên. Hòa Thượng là đệ tử của Ngài Tâm Tịnh.

17.- Hòa Thượng TÂM - PHẬT tự Trí Đức hiệu Thiện Siêu là đệ tử của Ngài Trừng Thủy, thuộc dòng Thiền Lâm Tế đời thứ 44.

18.- Hòa Thượng TÂM - THỊ tự Trí Nghiễm hiệu Thiện Minh.

19.- Hòa Thượng TÂM -                                 hiệu Thiện Bình.

20.- Hòa Thượng TÂM - HUỆ                         hiệu Thiện Giải.

 

 

 

 

TRÚ TRÌ CHÙA THUYỀN TÔN

1) Ngài Thật Diệu - Liễu Quán: Khai Sơn

2) Ngài Tế Mẫn - Tô Huấn

3) Ngài Tế Hiệp - Hải Điện                             (Bốn Ngài này kế tục trước sau chưa rõ).

4) Ngài Tế Ân - Lưu Quang

5) Ngài Tế Hiển - Trạm Quang

6) Ngài Đại Nghĩa - Trí Hạo

7) Ngài Đại Huệ - Chiếu Nhiên

8) Ngài Đạo Tại - Sở Trí

9) Ngài Đạo Tâm - Trung Hậu

10) Ngài Tánh Thiện - An Cư

11) Ngài Hải Nhuận - Phước Thiệm

12) Ngài Thanh Liêm - Tâm Thiền

13) Ngài Thanh Đức - Tâm Khoan

14) Ngài Trừng Thủy - Giác Nhiên

15) Ngài Tâm Phật - Thiện Siêu

 

 

 

LỜI CẢM NIỆM của Thượng Tọa Thích Thiện Siêu về

ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC NHIÊN TÔN SƯ

Nam Mô Lâm thế Chánh tông Tứ thập nhị thế, Trùng kiến Thiên Thai Thiền Tôn tự, sung Tăng thống GHPGVNTN, húy thượng Trừng hạ Thủy, tự Chí Thâm, hiệu Giác Nhiên Đại lão Hòa Thượng giác linh.

Hôm nay, một mùa xuân nữa trở lại, vạn vật thay màu đổi sắc tô điểm cho hoàn vũ xinh thêm. Lại cũng thêm một mùa xuân, miềm tưởng nhớ đối với ngày trở về tịnh lạc của Đức cố Đệ nhị Tăng Thống GHPGVNTN.

 

Vẫn biết rằng ứng thân tùy cơ, hóa thân tùy cảm, nhưng trên trăm năm hiện hữu giữa cõi trần, với tám mươi bốn hạ lạp. Đức cố Tăng Thống đã để lại bao nhiêu di bảo tinh thần, nên nổi nhớ khó phôi pha trong thâm tâm người hiếu đạo. Bởi thế nên mỗi lần Xuân tiết hiện về là mỗi lần hàng Tăng Ni, Phật tư, chịu ân pháp nhủ xa gần bừng lên niềm kính tưởng sùng tôn. Giờ đây núi Thiên Thai với rừng thông xanh biếc gió lộng ngàn phương tịnh địa Thiền tôn với mái chùa cổ kính in niềm xa xót. Trước Bảo tháp uy nghi với lời vàng quyện khói trầm nhang thoảng nhẹ hương thiền, tứ chúng qui tụ về đây để nghe lòng ấm lại sau một năm dài chen bước Đạo Đời. Trong khí thiêng thiền vị này, chúng tôi xin ôn lại nét cuộc đời Ngài, để dấu Đạo phong qui cách trác luân tuyệt tú khỏi bị phai mờ, mà hơn một thế kỷ làm người, Ngài đã ban phát cho đàn hậu tấn noi theo.

Đãnh lễ Bảo tháp hóa thân là đãnh lễ công đức cao dày; thắp nén hương trầm là thắp nén tâm hương Giới, Định, Tuệ, để thù đáp thâm ân bất tư nghị thuyết.

Kính ngưỡng Giác linh Đức Đại lão Hòa Thượng bên dòng Thạch Hãn xứ Quảng Trị nghèo nàn, gió nam non thổi bụi mù bay, đất Ái Tử cát vàng ngập nắng dạt dào trong tình hiếu tử thâm yêu. Ngài đã thác sanh trong một gia đình thượng tôn Đạo học. Ngài tên thật là Võ Chí Thâm, sinh ngày 07-01-1878. Lúc lên 7 tuổi Ngài đã theo Nho học, nhưng truyền thống Phật Đạo mới là năng lực chính yếu thúc đẩy biết bao nhiêu người Việt và chính Ngài sớm tìm về cửa Phật. Ngài đã xa quê từ nhỏ để tìm đến chùa Tây Thiên Di Đà ở thành Huế cố đô, xin thọ giáo với Tâm Tịnh Hòa Thượng. Trong tòng lâm Tây Thiên tịnh mặc, đồng tử Võ Chí Thâm được minh sư giáo dưỡng, đủ cơ duyên phát triển thiện căn, thẳng đưòng giác ngộ. Đối với Ngài, một ánh chớp đầu ngày, một chiếc lá vàng bay, một cảnh ngộ trăng trầm lớn nhỏ ... là cả một tư duy dằng dặc, và câu trả lời phải đổi bằng chí nguyện kiên trinh, mồ hôi nước mắt.

Suốt 23 năm tu học, thể nghiệm giáo lý Phật Đà, mỗi ngày mỗi đưa Ngài vào sâu lý đạo.

Năm 1895, Ngài đến chùa Phước Lâm ở tỉnh Quảng Nam, cầu thọ, Cụ túc giới với Hòa Thượng Vĩnh Gia. Sau khi đắc giới, đạo pháp Ngài càng củng cố sâu dày. Ý nguyện độ sanh bàng bạc khắp mỗi lời kinh mà Ngài đã thâu thập được, khiến Ngài không thể ngồi yên nhìn giáo pháp đấng Chí Tôn mai một với những tâm niệm hẹp hòi vị kỷ khi đã nhận rõ: “Hoằng pháp thị gia vũ, lợi sanh vì sự nghiệp” (Hoằng dương chánh pháp là việc nhà, lợi lạc quần sanh là sự nghiệp). Năm 1932, Ngài đã cùng quí Hòa Thượng Phước Huệ, Giác Tiên, Tịnh Hạnh và cư sĩ Lê Đình Thám, Trương Xướng đứng ra thành lập hội An Nam Phật Học, tạo điều kiện hoằng pháp lợi sanh. Với chí nguyện và uy đức sẵn có, Ngài đã liên tục giữ các chức vụ trọng yếu trong đạo: từ Chứng minh đạo sư của hội An Nam Phật học đến Hội trưởng hội Phật Giáo Trung phần; từ Trú trì chùa quốc tự Túy Vân đến Trú trì Tổ đình Thiền Tôn, từ Giám đốc Phật học đường Tây Thiên đến Viện trưởng Phật học viện Trung phần tại Nha Trang đến Đàn đầu Hòa Thượng tại giới đàn Hộ Quốc ở Nha Trang đến Đàn đầu Hòa Thượng đại giới đàn Vạn Hạnh tại Từ Hiếu, giới đàn Vĩnh Gia ở Đà Nẵng; từ Tăng cang Túy Ba đến Tăng Thống GHPGVNTN. Trong chức vụ nào Ngài cũng đều hành xử một cách nghiêm trang đĩnh đạc, góp phần tích cực xây dựng vào công cuộc chấn hưng Phật Giáo nước nhà qua nhiều giai đoạn khó khăn. Có thể nói đời Ngài  là mẫu đời của một hành giả đã thể hiện trong cuộc sống với đạo lý “Vô ngôn nhi ngôn vô hành nhi hành”. Nên bất cứ trách nhiệm đạo pháp nào đưa đến, Ngài cũng đều lãnh nhận một cách tự nhiên vô thủ vô xả, và cũng đều hoàn thành một cách tự nhiên phi đắc phi thất. Một hình ảnh rất cảm động của Ngài là lúc Ngài đã 86 tuổi, với tấm thân ốm yếu già nua, với chiếc gậy mảnh khảnh cầm tay, Ngài đã cùng các vị trưởng lão Hòa Thượng dẫn đầu cuộc biểu tình chiều ngày 14-4-1964 đòi chính quyền Ngô Đình Diệm thực thi chính sách bình đẳng Tôn giáo. Giữa năm 1975, sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, đất nước hòa bình thống nhất, Ngài đã ra lời khuyến nhủ tứ chúng luôn luôn tăng trưởng đạo tâm, huân tu Tam học, áp dụng tinh thần BÁCH TRƯỢNG vào cuộc sống hằng ngày. Với hàng xuất gia Ngài dạy: “Tôi nay đã già rồi, hơn 100 năm qua tôi đã sống và đã chứng kiến bao nổi thay đổi của đất nước thân yêu. Với hàng xuất gia tôi thấy không gì hơn là sống phạm hạnh, cho nên tôi chỉ mong hàng Phật tử xuất gia hằng sống hoan hỷ, hòa hợp trong nếp sống phạm hạnh, giữ gìn Giới, Định, Tuệ để hành Đạo giúp Đời”. Đối với hàng cư sĩ Ngài đã khuyến dụ: “Tôi cũng mong hàng Phật tử tại gia hãy tu tâm, dưỡng đức, biết thương yêu mọi người, làm tròn trách nhiệm của mình đối với đạo đối với đời để cùng nhau phát huy tinh thần từ bi trí tuệ của đạo Phật và xây dựng một nước Việt Nam vinh quang giàu mạnh”. Trong sự nghiệp tu hành, Ngài luôn luôn kêu gọi tăng sĩ nên chú trọng cuộc sống nội tâm hơn là nghiêng hẳn về hình thức. Đạo Phật thực sự tồn tại không những ở hình thức chùa tháp, lễ nghi, kinh điển, mặc dầu kinh điển là chỉ nam dẫn ta đến đạo quả Vô Thượng Bồ Đề, nhưng sự tồn tại đích thực của đạo là là sự thể hiện Đạo pháp! Nhưng những nếp sống gương mẫu của các bậc Tăng già nghiêm trì giới luật và tận lực phục vụ chánh pháp mãi  mãi tồn tại ở thế gian và làm lợi ích cho chúng sinh.

Kính bạch Giác linh Đức cố Tăng Thống, làm sao chúng con quên được đức cao thâm, đạo phong trác việt, bình dị trầm hùng, lời từ hòa ái vững chắc, ý chí sáng suốt kiên trinh của Ngài từng trải ra trước mắt và tâm cảm của mọi người. Tuy đã trên trăm tuổi, nhưng thân thể khinh an, đi đứng đĩnh đạc, nói năng rõ ràng, không có những triệu chứng thường tình của các vị luống tuổi. Trái lại, Ngài có thể thiền tọa hằng giờ không biết mỏi mệt, cuộc sống đơn giản đầy vẻ Thiền gia này là cả một bài pháp hùng hồn cho chúng con noi dấu.

Đầu xuân năm 1979, ngày 04 tháng Giêng, Kỷ Mùi, Ngài tiếp Hòa Thượng Chánh thư ký viện Tăng Thống và Ban Đại diện GHPG Thừa Thiên đến chúc thọ đầu năm. Sau lễ chúc thọ, Ngài đã ân cần đáp lễ với những lời đầu năm vô cùng xúc động: “Tôi nay tuổi đã già rồi, tôi thấy sức khỏe của tôi kém nhiều, chưa biết chừng sự chết sẽ đến nay mai. Nhân dịp đầu năm, Hòa Thượng cùng quý thầy đến thăm tôi, tôi cám ơn và cầu Phật gia hộ Hòa Thượng cùng quí thầy nhiều sức khỏe, cố gắng kiên nhẫn trước mọi hoàn cảnh để phục vụ Giáo hội, dìu dắt Tăng Ni, tín đồ tu niệm. Tôi thật không có gì vui sướng hơn”. Nào ngờ mấy lời này lại trở thành lời chào vĩnh biệt!

Giữa ngày mồng 05 thân thể khiếm an, rồi Ngài an nhiên xả báo thân vào hồi 06 giờ 30 ngày 06 tháng Giêng năm Kỷ Mùi (tức 02-02-1979) hưởng thọ 102 tuổi đời và 84 hạ lạp.

Ngưỡng bạch Giác linh Đức Đại lão Hòa Thượng, giờ đây, đã ba mùa xuân trôi qua, hơn một ngàn ngày thoi đưa thấm thoát, Ngài đã đi xa ngoài vạn dặm, nét hồng danh còn thắm hương Thiền, đức cao dày ngừng trải Nhơn Thiên, Đạo ngát tỏa rừng thiêng bể thẳm. Bây giờ, tuy hoa xuân đã tròn nụ nhưng tâm xuân đã trống vắng rất nhiều, đồi Thiên Thai thông buồn reo gió, m