NGƯỜI BẠN KHÓ QUÊN
Thích Thắng Hoan
Đức Phật đã
dạy bảo đừng quay về dĩ vãng, những kỷ niệm vui buồn chôn dưới bụi thời
gian. Nhưng hôm nay con kính lạy đấng Từ Tôn cầu xin sám hối trước khi
đặt bút ghi lại những hình ảnh thân thương của Người Bạn Khó Quên,
đó chính là những kỷ niệm thâm giao với cố Hòa Thượng Thích Đức Niệm.
Trong Kinh
Pháp Hoa, Phẩm Thọ Học Vô Học Nhơn Ký có giải thích “ Duyên Nhân Phật
Tánh”. Theo Kinh này, Duyên Nhân Phật Tánh có thân và sơ, nghĩa là Phật
tánh có chỗ quan hệ gần và có chỗ quan hệ xa. Phật Tánh của cố Hòa
Thượng Thích Đức Niệm và bần đạo có lẽ từ vô lượng kiếp về trước quanhệ
khắng khít vô cùng, cho nên tâm hồn hai người gắn bó với nhau trên cuộc
hành trình đạo hạnh, khởi điểm từ dưới mái học đường bên trời quê hương,
trải qua bao vật đổi sao dời và cuối cùng chia tay nhau vĩnh viễn nơi xứ
lạ quê người để Ngài trở về bên kia thế giới an vui tịnh lạc.
Cũng vì quan
hệ buộc chặt với nhau qua Duyên Nhân Phật tánh, cố Hòa Thượng và bần đạo
ra đời hai vị trí khác xa, một người khởi điểm từ Bình Thuận, nơi núi
đồi heo hút, sỏi đá khô cằn, còn một người xuất thân từ Cần Thơ , nơi
đồng ruộng mênh mông. Cữu Long nước ngọt, cả hai gặp nhau và sống chung
với nhau dưới mái học đường Ấn Quang Sàigòn vào năm 1953. Ở đây hai tâm
hồn dung thông với nhau trong cùng chí hướng đều chọn đạo Phật làm lý
tưởng và nguyện suốt đời hiến thân cho đạo pháp. Đến năm 1962, cả hai
tốt nghiệp Cao Đẳng Phật Học Ấn Quang, cùng tuyên thệ trước Chánh Điện
Phật Học Đường dưới sự chứng minh của cố Giám Đốc Hòa Thượng Thích Thiện
Hòa và cố Đốc Học Hòa Thượng Thích Thiện Hoa với hạnh nguyện của Bồ Tát:
“Đạo cần ta đến, chúng sanh cần ta đi, không nệ gian lao, không từ khó
nhọc”.Từ đó Cố Hòa Thượng Thích Đức Niệm được đề cử làm Hiệu Trưởng
Trường Trung Học Bồ Đề Long Xuyên, bần đạo được bổ nhiệm làm Đốc Học
Trung Đẳng Phật Học Viện Biên Hòa, hai người cùng dấn thân vào đời để
làm bổn phận của sứ giả Như Lai.
Lên đường
nhập thế với hoài niệm:
“Thảnh thơi một gánh quảy an nhiên,
Phủi sạch trần ai bao chướng duyên
Thay áo tình yêu choàng áo đạo,
Tẩy tâm ô trược hiện tâm thiền
Đắp xây chánh niệm qua bờ giác
Hóa độ quần mê thoát nẻo phiền,
Soi sáng phù du sanh tử kiếp,
Triền khai diệu pháp hướng chân nguyên.”
(Thắng Hoan Thi Tập)
Cố Hòa Thượng và bần đạo bắt đầu đi vào lối rẽ, mỗi người
một ngã và mang theo bên mình cẩm nang Tứ Nhiếp Pháp làm kim chỉ nam cho
cuộc hành trình. Cố Hòa Thượng có nhiều phước báo hơn bần đạo, may mắn
gặp những hoàn cảnh thuận duyên chung quanh hổ trợ được du học nước
ngoài để tiến thân. Ngược lại bần đạo suốt cuộc đời toàn đi trên lộ
trình nghịch cảnh trái ngang và tiến thân trên giòng đời nước ngược, có
phải chăng kiếp trước mình đã tuyên thệ trọn đời tu luyện pháp môn Bồ
Tát Nghịch Hạnh để thành chí nguyện, cho nên tiền trình Truyền Đăng tục
Diệm phủ đầy chông gai cay đắng, thế mà mình vẫn thấy an lạc và tự tại
trong những bước chân đi.
Không ngờ quả đất tròn, sau biến cố 75, cố Hòa Thượng và bần
đạo lại có duyên hội ngộ, nhưng không phải gặp nhau trên mảnh đất quê
hương thân yêu nơi chôn nhau cắt rún mà gặp nhau trên vùng đất xa lạ của
Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Cả hai người hợp tác với các bậc Tôn Túc đạo
hạnh khác, cùng nhau lèo lái cổ xe chánh pháp ngoại với danh nghĩa Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Hoa Kỳ Văn Phòng II
Viện Hóa Đạo, đem ánh sáng trí tuệ, đem chất liệu từ bi của Đức Từ Phụ
Thế Tôn để soi sáng, để thoa dịu tận cùng của khổ đau cuộc đời, hóa
giải Pháp Nạn và Quốc Nạn tại quê nhà, đồng thời nối kết mạng mạch
giống nòi Lạc Việt khắp năm châu bốn biển hợp thành một mối thân
thương.
Trên con đường hành đạo ở xứ lạ quê người, cố Hòa
Thượng Thích Đức Niệm đã tròn hạnh nguyện, đã viên thành đạo quả, cho
nên Ngài:
“Trần duyên nay đã dứt,
Từ giả cõi vô minh,
Sáng soi đèn trí tuệ,
Bờ giác ngộ đăng trình.”
(Thắng Hoan
Thi Tập)
Riêng bần
đạo nợ còn mang, nghiệp còn nhiều, đành phải độc hành “ Bôn ba đời ảo
mộng, thân gầy mang thời gian” để làm tròn sứ mạng của Trưởng Tử Như
Lai trên khoảng đời còn lại mà kẻ xuất gia nặng gánh cưu mang.
Hôm nay ngồi
cô đơn dưới bầu trời thu gợi cảm của thành phố đầm lầy nước động thuộc
Tiểu Bang Lousiana:
“Thu về với gió heo may,
Lá vàng tan tác rơi đầy cả sân.”
Bần đạo bất
chợt nhớ đến cố Hòa Thượng Thích Đức Niệm liền đặt bút ghi lại một vài
cảm nghĩ thân thương gọi là chút tình tri kỷ để tưởng niệm Người Bạn
Khó Quên đã từng cùng với mình xông pha khắp nẻo đường trần, bể dâu
mấy chặng , gian truân mấy lần.
Thích Thắng Hoan cẩn bút
New Orleans
ngày 19 tháng 10 năm 2004
Những Năm Chung Sống
Hoạt Động Phật Sự Với Cố Hòa Thượng Thích Đức Niệm
Thích Trí Chơn
Thời gian
trôi qua thật là nhanh, cố Hòa Thượng Thích Đức Niệm viên tịch ngày 21
tháng 03 năm 2003 ( nhằm ngày 19 tháng 02 năm Quý Mùi). Mới đó đến nay
mà đã hơn một năm rưỡi rồi. Thực tôi không ngờ Hòa Thượng lại xả bỏ
huyển thân về cõi Phật trước tôi như vậy, bởi nhìn qua bề ngoài thể xác
thì Hòa Thượng trông có vẻ khỏe mạnh hơn tôi nhiều. Hòa Thượng to lớn
mập mạp, còn tôi thì gầy ốm bằng nửa thân xác của thầy thôi. Khi Hòa
Thượng còn sống, tôi hay nói đùa rằng: “Không biết ai sẽ ra đi trước
đây, thầy hay tôi?” và Hòa Thượng cười nói: “ Thế nào tôi cũng về cõi
Phật trước thầy, dáng người xương xương, da mặt hiện đồi mồi nhiều như
thầy sống dai lắm, ít nhất cũng hơn trăm tuổi đó nghe”. Năm ngoái
(2003), Hòa Thượng Đức Niệm viên tịch lúc 67 tuổi, kém thua tôi ba tuổi.
Hôm nay ngồi
viết bài này để góp mặt trong tập kỷ yếu ngày tang lễ 29/03/2003 của cố
Hòa Thượng Đức Niệm, lòng tôi không khỏi cảm thấy rất buồn, và thương
tiếc thầy, một pháp hữu mà tôi đã chung sống tại Phật Học Viện Quốc Tế
(PHVQT) trong gần 18 năm. Sống gần gũi nhau một thời gian lâu dài như
vậy mà không có chuyện gì trái ý mất lòng xảy ra thì không phải là
chuyện dễ ; nếu tôi và Hòa Thượng không thông cảm, hiểu biết, thành thực
yêu thương và kính trọng lẫn nhau. Bí quyết giúp tôi sống hòa hợp vui
vẻ với Hòa Thượng được nhiều năm là không bao giờ tôi làm bất cứ điều gì
mà Hòa Thượng không thích, và ngược lại Hòa Thượng cũng cư xử đối với
tôi như vậy; đúng theo tinh thần của câu châm ngôn: “Điều gì mình không
muốn thì đừng làm cho người khác”. Tôi thường nói đùa với Hòa Thượng
rằng: “ Chắc tiền kiếp tôi với thầy có duyên nợ với nhau, bởi lẽ trước
đây tôi không có quen biết gì thầy hết, mà sau này lại gặp gỡ, chung
sống với nhau lâu dài trong tinh thần tương kính, tương thuận còn hơn
anh em ruột thịt”.
Từ Ấn Độ, cố
Hòa Thượng Thích Thiên Ân bảo lãnh tôi sang Hoa Kỳ vào tháng 09 năm
1977, còn Hòa Thượng Đức Niệm rời Đài Loan qua Mỹ năm 1979. Lúc bấy giờ,
Hòa Thượng Đức Niệm ở tại Đại Học Đông Phương của Hòa Thượng Thiên Ân,
số 920 S. New Hampshire Ave.(Los Angeles), còn tôi đang trụ trì chùa Vạn
Hạnh, San Diego. Trong thời gian này, tôi và Hòa Thượng vẫn thường liên
lạc giúp đỡ nhau trong mọi Phật sự. Thỉnh thoảng vào dịp lễ Phật Đản,
Vu Lan và Quán Thế Âm, tôi hay mời H.T. xuống Vạn Hạnh chứng minh,
thuyết giảng. Đôi lúc Hòa Thượng ở lại vài ba ngày để dạy giáo lý và
hướng dẫn các Phật tử tu thiền. Tháng 06 năm 1981, sau khi chính thức
thành lập Phật Học Viện Quốc Tế để đào tạo tăng tài, Hòa Thượng mời tôi
tham gia Ban Giám Đốc Phật Học Viện đặc trách về tu thư. Tháng 09 năm
1983, lần đầu tiên Phật Học Viện đặc trách về tu thư. Tháng 09 năm 1983,
lần đầu tiên Phật Học Viện tổ chức đại giới đàn Thiện Hòa, Hòa Thượng
cung thỉnh tôi làm đệ tứ tôn chứng.
Khoảng cuối
tháng 07 năm 1984, tôi lên đường sang Tích Lan ( Sri Lanka) tham dự Đại
Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới ( The World Fellowship of Buddhists), tổ
chức lần thứ 14 , từ ngày 01 đến 07 tháng 08 năm 1984 tại Colombo. Sau
đại hội tôi có chương trình viếng thăm, tìm hiểu sinh hoạt Phật Giáo tại
một số quốc gia Á Châu: Đài Loan, Nhật Bản, Mã Lai, Thái Lan, Hồng Kông
và Tân Gia Ba v.v. Thời gian hơn hai tháng đến thăm Đài Loan, tôi ở lại
Giảng Đường Linh Sơn của Hòa Thượng Thích Tịnh Hạnh ở Đài Bắc (Taipei).
Cuối năm 1984, Hòa Thượng Đức Niệm, trên đường đi Hán Thành (Seoul) ,
Nam Hàn hoằng pháp, Hòa Thượng đã ghé đến Đài Bắc ( Taipei) đến Linh Sơn
Giảng Đường để thăm tôi và Hòa Thượng Tịnh Hạnh. Nhân dịp này, Hòa
Thượng ngỏ ý mời tôi về Phật Học Viện Quốc Tế hợp tác để cùng Hòa Thượng
chung lo Phật sự. Hòa Thượng nói : “ Thầy có khả năng Anh Văn, nên soạn
dịch một số sách Phật Giáo in song ngữ Anh-Việt để giúp các Phật tử trẻ
không rành tiếng Việt, có thể học hỏi giáo lý bằng tiếng Anh. Tôi sẽ
giúp thầy ấn hành các dịch phẩm đó” . Tôi trả lời: “ Cám ơn thầy. Nhưng
phải chờ đến khoảng tháng 05 sang năm (1985), tôi mới trở về Mỹ, vì
chương trình tôi còn qua Nhật ba bốn tháng nữa để tham quan các chùa và
nghiên cứu về sinh hoạt Phật giáo tại đó”.
Sau khi
hoàn tất công việc tìm hiểu Phật Giáo tại Nhật, ngày 29 tháng 05 năm,
1985, từ Đông Kinh (Tokyo) tôi đáp máy bay trở về Mỹ, đến phi trường Los
Angeles vào buổi tối. Các Phật tử ra đón tôi về ở tại Phật Học Viện Quốc
Tế. Lúc bấy giờ, Phật Học Viện là một ngôi nhà đầu tiên Hòa Thượng mua ở
số 9250 đường Columbus, North Hills, với điện Phật rất nhỏ, khi làm lễ
chỉ chứa được vài ba chục người chứ không rộng lớn , khang trang đẹp đẽ
như tân chánh điện xây cất mới hiện nay. Lúc ấy , phòng tôi ở sát cạnh
đối diện với phòng của Hòa Thượng.Kể từ đó, tôi bắt đầu hợp tác, sát
cánh chung lo Phật sự với Hòa Thượng. Những năm 1985-1987, vào các ngày
lễ Phật Đản, Vu Lan và Giao Thừa (Tết) v.v.. Phật Học Viện tổ chức, Hòa
Thượng thường mời tôi cùng tham dự. Thỉnh thoảng Hòa Thượng bận đi xa
hoằng pháp, vắng mặt vài tuần lễ, Hòa Thượng nhờ tôi ở nhà làm lễ cầu
an, cầu siêu và thuyết giảng cho Phật tử mỗi cuối tuần.Nhằm phổ biết
giáo lý, thông tin Phật sự, Phật Học Viện cho ấn hành tập san Phật Học,
và Hòa Thượng yêu cầu tôi viết bài.Phật Học số 2, Phật Đản Ất Sửu
(1985), tôi đóng góp bài: “Đại Lễ Phật Đản 2529 (1985) tại Nhật Bản” và
Phật Học số 3, Vu Lan Ất Sửu, bài “Đại Lễ Vu Lan tại Nhật Bản”. Tiếp
theo Phật Học số 4 tôi khởi đầu đăng bài “ Thành Ca Tỳ La Vệ, quê hương
của đức Phật” trong loạt bài tôi viết về “ Lịch sử các Thánh Tích Phật
Giáo tại Ấn Độ”, và liên tục đóng góp bài cho tập san Phật Học những số
kế tiếp đến số 10, Xuân Mậu Thìn (1988) thì đình bản.
Năm 1988,
nhằm đáp ứng nhu cầu Phật sự lúc bấy giờ, Hòa Thượng và tôi cùng với
quý Thượng Tọa Thích Tín Nghĩa, cố Thượng Tọa Thích Thiện Thanh, Thượng
Tọa Thích Nguyên Trí, Thượng Tọa Thích Nguyên An, và Thượng Tọa Thích
Nguyên Đạt, lần đầu tiên đứng ra tổ chức đại hội thành lập Giáo Hội Phật
Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) tại Hoa Kỳ. Hòa Thượng Đức Niệm đảm
nhiệm chức vụ Chủ Tịch và tôi Phó Chủ Tịch, đặc trách văn hóa. Để phổ
biến tin tức, chủ trương, đường lối sinh hoạt Phật sự của Giáo Hội, tập
san Phật Giáo Thống Nhất (PGTN) số 1, kỷ niệm Phật Đản Mậu Thìn(1988)
được ấn hành với Hòa Thượng làm chủ nhiệm và tôi đảm trách chủ bút. Do
lời yêu cầu của Hòa Thượng trong số này, tôi đóng góp bài viết về: “ Câu
Thi Na, nơi đức Phật nhập Niết Bàn”. Tiếp theo Phật Giáo Thống Nhất từ
số 2, Vu Lan Mậu Thìn (1988) đến số 12, Xuân Nhâm Thân (1992), tôi đều
gởi bài đăng: “Thành Xá Vệ với chùa Kỳ Viên” và “ Thành Vương Xá”, Phật
Giáo Thống Nhất ra đến số 13 thì đình bản.
Cuối tháng 9
năm 1992, hưởng ứng lời kêu gọi của cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu,
Chánh Thư Ký kiêm Xử Lý Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất trong nước, Hòa Thượng và tôi cùng đông đảo chư tôn đức khác
đứng ra vận động tổ chức một đại hội thống nhất Phật Giáo Việt Nam tại
San Jose, bắc California để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, và Hòa Thượng đảm trách chức vụ Chánh Văn
Phòng Hội Đồng Đại Diện, còn tôi phó chủ tịch ngoại vụ của Giáo Hội.
Nhằm thông tin các cuộc vận động tranh đấu cho nhân quyền ,tự do tôn
giáo và phục hoạt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất truyền thống
quốc nội, Hòa Thượng và tôi cùng với một số cư sĩ Phật tử trí thức cho
ấn hành tạp chí Phật Giáo Hải Ngoại (PGHN).Theo lời yêu cầu của Hòa
Thượng, PGHN số ra mắt Xuân Giáp Tuất (1994), tôi khởi sự cho đăng
Chương 1 cuốn sách “ Cuộc Du Hành Sang Lạp Tát (Lhasa) của Tây Tạng”,
phóng tác theo tác phẩm “ To Lhasa and beyond” dịch từ nguyên bản tiếng
Ý Đại Lợi “ A Lhasa E Oltre” của Giuseppe Tucci. Tôi liên tục cho đăng
tác phẩm này vào PGHN những số kế tiếp từ số 2, Mừng Phật Đản 2538
(1994) đến số 19, Xuân Canh Thìn (2000). Sau đó, vì lý do thiếu nhân sự
và sức khỏe của hòa thượng, nên tạp chí PGHN tạm đình bản.
Điều đặc
biệt tôi muốn nói là suốt những năm dài chung sống, hòa thượng là một
pháp hữu quý hiếm, không những đã an ủi, chia xẻ với tôi trong lúc vui
buồn, thăng trầm vinh nhục của đời Tăng sĩ, mà hòa thượng đã khích lệ,
sách tấn cho tôi rất nhiều trong sự tu tập, nhất là trong công việc sáng
tác, dịch thuật. Năm 1987,hòa thượng đã khuyến khích, viết lời giới
thiệu, và giúp tôi ấn hành dịch phẩm đầu tiên là cuốn “ Phật Giáo Vấn
Đáp” (The Buddhist Catechism) in song ngữ Anh-Việt của một học giả Phật
tử Hoa Kỳ, ông Henry S.Olcott. Năm 1990 Phật Học Viện Quốc Tế tái bản
cuốn sách này. Sau đó, cũng nhờ Hòa Thượng khích lệ mà tôi đã soạn, in
thêm nhiều dịch phẩm khác như: 1) Con Đường Dẫn Đến Chân Hạnh Phúc ( The
Blueprint of Happiness), xuất bản năm 1991; 2) Phật Giáo Yếu Lược (
Buddhism In A Nutshell), năm 1992; 3) Cuộc Đời Đức Phật ( The Story Of
Buddha), năm 1994 và 4) Loàng Thương Yêu Sự Sống ( The Love Of Life),
tập 1, năm 2001. v.v..
Hôm nay,
ngồi viết những trang kỷ yếu tang lễ cố Hòa Thượng Đức Niệm để tưởng nhớ
đến một pháp hữu mà tôi vô cùng mến kính, đã từng chung sống gần 18 năm
qua, cộng tác và làm việc Phật sự trải qua ba giáo hội: Tổng Hội Phật
Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ ( thành lập năm 1976), Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ (1988) và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, Văn Phòng II Viện Hóa Đạo (1992). Giờ đây
thầy đã đivề cõi Phật, an vui tự tại , tôi còn nặng nghiệp trần gian,
vẫn tiếp tục cuộc đời Tăng sĩ, vào mỗi cuối tuần, rày đây mai đó, hoằng
hóa du phương. Mặc dù hiện nay hình hài thân xác tôi không còn sống gần
gũi thầy, nhưng tâm tư tôi lúc nào cũng tưởng nhớ đến thầy, và luôn luôn
nguyện cầu chư Phật, Bồ Tát tiếp độ giác linh thầy cao đăng Phật quốc.
A Di Đà Phật
Những Người Muôn Năm Cũ
Thích Minh Tâm
Phật sự dồn
dập: Phật sự điạ phương cũng như Phật sự của Giáo Hội. Cứ như thế mà
không để ý đến thời gian đã nhanh chóng trôi qua. Thắm thoát sắp đến
ngày Đại tường của Cố Hòa Thượng Thích Đức Niệm. Dường như tiếng động
càng lớn thì sau đó, sự im lặng càng sâu.Sâu đến nổi sự im lặng đó trở
thành một loại tiếng động, vang dội trong tâm trí con người, tạo thành
những dấu hỏi lớn.Ngoài đời thì những bậc vĩ nhân, anh hùng, liệt nữ mà
cuộc đời của họ đã khuấy động lịch sử tạo những thay đổi và tiến bộ cho
xã hội và con người. Trong đạo thì những bậc cao tăng, thạc đức mà sự
nghiệp hoằng hóa và đức hạnh của các Ngài đã tác động làm chuyển đổi nếp
sống của không biết bao nhiêu người trải qua nhiều thế hệ mà trực tiếp
là những môn đồ pháp quyến. Rồi sau đó, không trừ một ai, tất cả đều nằm
xuống. Im lặng.
Nhớ mang
máng ở đâu đó có một bài thơ tưởng đến “Ông đồ già”…mỗi năm hoa đào
nở, lại nhớ ông đồ già, nghiên mực, tờ giấy đỏ, bên phố đông người qua…Hình
ảnh quen thuộc này cứ lập lại mỗi năm, mỗi năm. Nhưng ngày nay không còn
nữa. Vẫn hoa đào nở rộ, vẫn đường phố có đông người qua lại.Mà không
thấy hình ảnh ông đồ ngồi “bán chữ” .Người nhớ hình ảnh cũ bâng
khuâng đặt câu hỏi:
Những người muôn năm
cũ
Hồn ở đâu bây giờ ?
Tự nhiên ,
hết sức tự nhiên ! Ai cũng có thể đặt ra câu hỏi đó. Vua, quan, sĩ, thứ
người muôn nước ( Tú Xương, chữ “sĩ” ở đây cũng có thể bao gồm cả tu sĩ
!) ai ai gặp cảnh ngộ tương phản trong cuộc đời cũng đều đặt ra câu hỏi
đó:
-Những người
đã sống, đã đóng góp công sức trước đây, rồi họ mất đi, theo lẽ vô
thường. Bây giờ họ ở đâu, họ sinh hoạt thế nào? Có còn liên hệ gì với
người hiện tại không ?
Theo tín
ngưỡng dân gian, khi mất đi là sum họp với “thế giới ông bà” cho
nên dung chữ “ theo ông theo bà” . Và cứ hàng năm vào ngày kỵ,
giỗ, tết nhứt hay rằm tháng bảy, họ tách khỏi “khối ông bà” trở
về “thăm” để thấy con cháu cúng bái, nghe con cháu kể lể, cầu
xin…ông bà cha mẹ chứng cho tấc dạ lòng thành cây hương, chén nước và
luôn luôn phò hộ cho đám con cháu…làm ăn tấn phát, tai qua nạn
khỏi…v.v.
Trông ra ngọn cỏ lá
cây
Thấy hiu hiu gió, thì
hay chị về.
(Kiều)
Còn với
người Phật tử thì sao ? Nhất là những Phật tử có quy y Tam bảo, đã có
phần nào tu tập và đã làm những việc phước đức khi còn sống ? Bây giờ họ
ở đâu ? Có còn liên hệ gì với người hiện tại ?
Dĩ nhiên có
rất nhiều câu trả lời. Trong đó có câu: đã vảng sanh Cực Lạc rồi. Tức
sinh về làm “công dân” nước Cực Lạc (Cực Lạc Quốc) của Đức Phật A
Di Đà. Tu tập với thánh chúng bồ tát…(Bồ tát bất thối vi bạn lữ)…
Nhưng vì thế giới Cực Lạc quá xa ( cách thế giới chúng ta hàng thập vạn
ức Phật độ) phương tiện truyền thông hiện đại vẫn chưa có thể thiết
lậpliên lạc…nên ít ai biết được tin tức cập nhựt như thế nào, trừ Ba bộ
Kinh ( Tịnh độ tam kinh).
Còn nếu chưa
sinh được về nước Cực lạc thì họ ở đâu ?
Tìm mãi mới
gặp Một kinh trong hệ thống A Hàm nói về chuyện này. Xin kể ra đây để
làm món quà nhỏ( có lẽ còn nhiều kinh khác có đề cập đến vấn đề này
nhưng tôi chưa có nhân duyên đọc tới. Nếu có vị nào tìm được thấy lý thú
hơn, xin chỉ dạy thêm).
Đó là Kinh
Xà ni Sa ( Janavasabha-suttata) Kinh số 18 trong tập 2 của Kinh Trường
Bộ. Bản dịch chữ Hán cũng có tên giống nhau. Kinh Xà ni Sa thuộc bộ
Trường A Hàm tập 1, Kinh số 4.
Đã gọi là
Kinh “Trường” Bộ cho nên kể lể rất dài dòng, xin mạn phép được rút gọn
cho dễ nắm bắt những ý chính.
Khi Đức Phật
còn tại thế ( 25 thế kỷ trước), có ngài A Nan làm thị giả. Một hôm, A
Nan nghĩ rằng : Đức Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sinh của
những tín đồ đã từ trần , đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh như
bộ lạc Kasi, Kosala, Vajji, Malla…Vị này sinh ra tại chỗ này, vị kia
sinh ra tại chỗ kia.Có vị đã đoạn trừ Năm hạ phần kiết sử nên được hóa
sanh về thiên giới( cõi trời) từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời
này nữa…Có vị đoạn trừ Ba phần Kiết sử (tham sân si giảm thiểu) chứng
quả Nhất lai nên chỉ trở lại đời này Một lần nữa thôi…
Rồi, tôn giả
A Nan nghĩ tiếp: Nhưng còn ở xứ Ma Kiệt Đà ( Magadha một tiểu quốc,miền
bắc Ấn độ nơi Đức Phật thành đạo) có rất nhiều tín đồ thuần thành đã từ
trần; Những vị này đều có lòng tin sâu xa chắc chắn đối với Tam Bảo, tu
tập theo Chánh pháp .Nhưng Đức Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và tái
sanh của họ. Trong số này có Vua Tần-Bà-sa-La (Bimbisàra) xứ Ma Kiệt Đà,
một vị vua đã sống như Pháp, dùng Chánh pháp để trị nước có lòng thương
tưởng đến các vị Bà la môn, gia chủ cùng dân chúng khắp nơi…Nhưng sau
khi vua Tân Bà sa la băng hà, cũng chưa thấy Đức Thế Tôn nói gì về sự từ
trần và tái sinh của nhà vua…
Nghĩ như vậy
rồi, Tôn giả A Nan đến hầu Phật đảnh lễ Ngài rồi tác bạch như trên. Đức
Thế Tôn, sau khi nghe tác bạch xong, đi vào thành khất thực. Về, thọ
trai, ngồi thiền định tư duy,chú lực toàn tâm suy tưởng đến các tín đồ
đã qua đời ở Ma-Kiệt-Đa: “Ta sẽ tìm ra chỗ thọ sanh của họ và đời
sống của họ như thế nào?”
Lúc ấy có
một vị Dạ xoa (yakkha) hình tướng oai nghiêm rực rỡ hiện ra:
-Bạch đức
Thế Tôn, con tên là Janavasabha ! Ngài có nghe ai có tên này chưa ?...
-Bạch đức
Thế Tôn,con là Bimbisara (Tần bà sa la) đây. Nay là lần thứ 7,con được
sanh vào dòng họ vua Vesavana ( Tỳ sa môn Thiên vương- trong cõi Tứ
Thiên Vương -Lục Dục thiên) Con chết đi trong điạ vị làm vua ở nhơn gian
nay được sanh trên thiên giới ( cõi trời) … con không còn đọa lạc vào ác
thú, con trở thành bậc Nhất lai ( chỉ sanh lại cõi đời một lần nữa).
Đức Phật
dạy:
-Thật hy hữu
thay, hiền giả Da xoa Xà-xi sa (Janavasabha). Do nguyên nhân gì hiền giả
tự biết mình đạt được địa vị cao thượng thù thắng như vậy ?
-Bạch đức
Thế Tôn, con không làm gì khác ngoài tu tập theo giáo lý của đức Thế
Tôn.Từ khi con nhật hướng quy y Tam Bảo, con đã tu tập, thực hành theo
Chánh pháp,không còn đọa lạc vào ác thú và đã trở thành bậc Nhất lai…
Hôm nay, con
đang di làm nhiệm vụ trên cõi thiên. Giữa đường, con nhận ra đức Thế Tôn
đang chú lực toàn tâm suy tưởng đến các tín đồ từ trần ở Ma Kiệt Đà:
bâygiờ họ ở đâu, vận mạng của họ thế nào ? Liền đó, Bạch Đức Thế Tôn,
con suy nghĩ ta sẽ đến yết kiến, đảnhlễ đức Thế Tôn và sẽ đến yết liến,
đảnh lễ đức Thế Tôn và sẽ đề cập đến hai vấn đề (thọ sanh và vận mệnh)
mà đức Thế tôn đã chú tâm…
Tiếp đó,
Kinh Xà ni Sa kể về đời sống chư thiên ở cõi trời Đao Lợi ( Tam Thập Tam
Thiền) trong những ngày rằm Bồ tát rồi Phạm thiên rực rỡ hiện ra đảnh lễ
tán dương công đức giáo hóa của đức Thế Tôn ở trong cõi Ta Bà này và
những phương pháp tu tập để rồi sau khi mạng chung được sanh về thế giới
chư thiên. Trên, từ Tha hóa tự tại thiên, Đâu Suất đà thiên cho đến Tứ
thiên Vương thiên,Càn Thát bà …
Và những vị
nào đã thực hành theo giáo pháp của đức Thế Tôn ( Tứ Niệm Xứ, Tứ thần
túc, Bảy pháp định…) sau khi mất, sanh thiên giới đều là những vị hình
có tướng đoan nghiêm, quang sắc thù thắng…
Rồi sau
cùng, Kinh Xà ni Sa kết luận: tất cả những vị hóa sanh ( về thiên giới)
được Chánh pháp hướng dẫn, có hơn hai trăm bốn mươi vạn cư sĩ ở Ma Kiệt
Đà đã từ trần đều diệt trừ ba Kiết sử, chứng quả Dự lưu, không còn đọa
vào ác thú,chắc chắn được chánh giác…
Đó là những
ý chính của Kinh Xà ni Sa trong hệ thống Trường bộ của Đại Tạng Pali Nam
Tông và Kinh Xà ni Sa thuộc Trường A Hàm tập 1, Kinh số 4 (Hán Tạng: Đại
Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh ( tập 1, trang 34-A Hàm Bộ) cũng đại để có ý
nghĩa nêu lên như vậy.
Còn đối với
kinh điển thuộc hệ Bắc Tông Đại thừa, ít thấy tường thuật cụ thể chi
tiết, trừ kinh A Di Đà, một trong Ba bộ kinh quan trọng của pháp môn tu
Tịnh độ.
Nhưng kinh A
Di Đà thuộc về loại kinh “vô vấn tự thuyết” không có ai hỏi mà
Đức Phật tự thuyết minh, một khi Đức Phật nhận thấy đã đầy đủ nhân duyên
vì “hạnh phúc cho chúng sanh, an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương
tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người”,
Ngài liền chi dạy đệ tử pháp môn tu, dẫu rằng pháp môn ấy đối với thế
gian rất khó , rất khó tin.
“…Vị nhứt
thiết thế gian thuyết thử nan tín chi pháp thị vi thậm nan…”
Đúng vậy,
kinh điển thuộc hệ bắc tong đòi hỏi một sức mạnh tin tưởng ( tín lực)
một quyết tâm kiên cố bền bỉ ( tấn lực) mà không đòi hỏi những giải
thích chi li lại là vô nghĩa, cục bộ tùy thời làm mất ý nghĩa thâm sâu,
bao quát, vượt thời gian và không gian của kinh điển. Bởi lẽ Kinh Đại
Thừa Bắc Tông hầu hết đều là những ẩn dụ, những bức tranh chấm phá một
vài nét mà mục đích chính không phải nói đến những nét tô đậm trong bức
tranh. Vẽ mây nảy trăng. Ý tại ngôn ngoại. Muốn vẽ trăng, người họa sĩ
tài ba chỉ cần vẽ mây có vầng sáng. Thế là người đủ lý trí nghiệm ra có
mặt trăng tròn đầy ẩn hiện phía sau.
Bởi vậy,
càng giải thích chi li các chi tiết trong kinh điển Đại thừa nhiều khi
càng lìa xa ý chính của kinh. Cho nên đòi hỏi kinh điển Đại thừa diễn tả
rõ ràng mạch lạc. chi tiết là một đòi hỏi có vẻ hạn chế, cục bộ.
Kinh A Di Đà
nói riêng, và tất cả kinh điển Đại thừa Bắc tông nói chung đều được nhìn
theo nhãn quan như thế, mới nhận ra được những thế giới mầu nhiệm bao
la, những trùng trùng sự thật mà một nhãn quan phiền não, cục bộ khó có
thể trực nhận được.
Hiểu như thế
rồi thì không có gì ngạc nhiên khi đi tìm bóng dáng, tông tích các vị từ
giả cõi tạm thế gian này qua kinh điển, hành trạng, gần như vô vọng,
hoài công. Mà nhiều khi còn bị quở trách.
Chẳng hạn
trong kinh Pháp Bảo Đàn, các môn đồ buồn khóc khi biết Lục Tổ sắp từ giả
thế gian.Lục Tổ quở:
-Nay các
người buồn khóc là vì lo cho ai ? Nếu lo cho ta không biết chỗ đi thì ta
đã tự biết chỗ đi rồi. Nếu ta không biết chỗ đi thì ta chẳng báo tin cho
các ngươi hay trước. Các ngươi buồn khóc là vì chẳng biết chỗ ta đi đến.
Cái pháp tánh vốn không sanh diệt khứ lai…
Đại lão Hòa
Thượng Hư Vân khi tuổi thọ 120, bạn hữu, đồ chúng vui mừng định tổ chức
sinh nhựt mừng đại thọ.Ngài can ngăn:
…Nghiệp
xưa đốc thúc, chìm nổi như song ba đào. Một làn gió nhẹ thổi đến, thân
này tan thành tro bụi.Chưa liễu ngộ được gì, niệm niệm thẹn thùng xấu hổ
vì hư danh. Trăm năm khổ nhọc nếm bụi trần trong cơn mộng huyễn, thì cớ
gì phải lưu luyến. Lại nữa, có sanh tức phải có tử. Người trí sớm tỉnh
ngộ, nhất tâm tu hành như cứu lữa cháy trên đầu, có thì giờ đâu mà bày
biện vui mừng như người thế tục!.
Ngài ung
dung tự tại viên tịch, sau khi dặn dò đồ chúng cố gắng tu hành, vì “
mạng mạch Phật pháp mà giữ gìn Tổ đức Thanh quy, vì Tam bảo mà giữ chặt
chiếc đại y!...
Dường như
càng cố tâm đi tìm tông tích, dấu vết của “những người muôn năm cũ”,
nhất là những bậc tu hành sống đạo, liểu đạo thì càng gặp phải những
hình ảnh tự nhiên hững hờ như mây bay, gió thoảng. Bởi lẽ suốt cuộc đời
của các ngài ( hay nhiều đời về trước cũng có thể nhiều đời về sau) gắn
liền với mạng mạch Phật pháp, với tổ đức tông phong. Bao giờ hình ảnh đó
còn sinh hoạt sống động tức pháp thân của các ngài còn hiển hiện trên
thế gian này. Khỏi phải đi tìm đâu cho xa xuôi !
THÍCH MINH TÂM
Tưởng Nhớ Thầy
Nguyễn Hữu Vinh
Đài Bắc trời
mưa như trời Đài Bắc 30 năm trước.
Xuống chuyến
xe bus số 21, tới trạm đường Kimmen, băng qua đường Roosevelt, vào con
hẻm nhỏ, đi ngang hiệu tạo hóa, cười chào với con bé Hoàng Kim Mãn đang
đứng bán hàng, quẹo bên trái là về tới phòng trọ …
-Thầy ơi
Thầy …ơi !
-…À Vinh hả,
xuống liền đây kêu chi ồn ào quá, người ta quở cho coi…
-Vinh nầy,
chiều ghé qua phòng chơi, cho hai con bé Chung Tường nói chuyện cho vui,
chớ không tụi nó buồn lắm, chắc cũng lại khóc nữa rồi! Ờ, để Thầy kêu
con bé ở phòng bên cạnh dạo Piano cho mà nghe, nó đàn giỏi lắm…
-Trời Đài
Bắc bây giờ nóng quá, coi chừng cứ chơi banh xong, rồi cứ uống nước đá
lạnh vào cho nhiều, lại cảm cho mà coi…
-Xài chi mà
dữ quá vậy, đây Thầy còn 500 đồng xài đỡ, đừng vì kẹt mà làm bậy nghe
con!... Biết mà, tụi con nhậu quá, coi chừng Chung ,Tường nó la cho mà
biết…
-Đi với Thầy
ra ngoài bưu điện, ở đó có máy lạnh, mình tới ngồi học chùa, mát lắm.
Mấy đứa nhân viên ở đó đều biết Thầy, không sao đâu. Ra ngoài lo học đi,
chớ cái mớ chữ Tàu của con lẹt đẹt quá, làm sao vào học đại học cho
nổi!...
-Vinh à, con
bé Kim Mãn bán tạp hóa đó Thầy thấy nó dễ thương lắm đó, thích không ?
Thích thì Thầy nói giùm cho…
-Ừ, ngoài
chữ Hán ra con còn phải học thêm chữ Nôm nữa mới được, để sau này tìm
hiểu thêm về văn học Việt Nam, nhưng con phải giỏi chữ Hán trước…Để xem,
đây là luận án tiến của Thầy đây, Thầy tặng cho con, con đọc cho biết…
-Thầy viết
xong thư cho bộ Giáo Dục rồi, theo mẫu đó mà viết để thi vào Cao Học đi,
mau lên…
Mỗi lần trở
lại Đài Bắc, Thầy ơi, hình bóng Thầy cũng như mới hôm qua, cứ như điệp
khúc quay đi quay lại mãi trong tâm trí. Thầy cười từ tốn, nói năng nhẹ
nhàng, con làm sao quên được ! Ba mươi năm trước những hình bóng đó vẫn
còn nguyên, ba mươi năm sau Thầy vẫn còn như sống lại nơi đây…trong con
hẽm đường Kimmen này. Ba mươi năm sau, con bé Hoàng Kim Mãn bây giờ đã
thành một bà mẹ hai con, vẫn còn đó, vẫn còn hỏi thăm đến Thầy luôn.
Những lúc tạt ngang lại con hẽm đó, bưu điện kia vẫn còn như xưa, con
trở về lối cũ, đi lại trên những con đường kỷ niệm đó mà lòng cứ nhớ
miên man đến hình bóng của Thầy, của bạn bè năm cũ…À, Thầy Đức Niệm ở
trên lầu hai kia, trước phòng của Chung, Tường…
Hai mươi lăm
năm trước Thầy rời xa chúng con qua Mỹ hoằng dương Phật pháp. Còn con
thì ở lại tiếp tục việc học hành. Rồi thì không gian cách trở, thời gian
trôi qua, nhưng con có bao gờ quên được những lời nhắc nhở, dạy bảo của
Thầy. Đây này, cuốn luận án Tiến Sĩ Văn Chương Trung Quốc của Thầy vẫn
còn nằm đây, hai cuốn lận mà, con đã đọc đi đọc lại cả chục lần. Mặc dầu
con học khoa học nhưng may mắn được Thầy chỉ bảo, bây giờ con đã biết
đọc chữ Nôm rồi. Thầy ơi! Ờ mà “ Văn chương thời Lý của nước ta đâu có
thua gì văn chương Tàu” Thầy nhỉ! Con vẫn nhớ hoài lời Thầy nói “Đọc đi,
đọc để biết mà hãnh diện mình là người Việt Nam con ạ”. Mấy năm trước
Thầy với Tường qua thăm lại Đài Loan, Thầy biết không,con đã lặn lội lái
xe hơn ba tiếng đồng hồ tìm đến Lư Hiên nơi Thầy nghỉ tạm, thế mà vẫn
không gặp được Thầy. Con nao nức mong gặp lại Thầy để khoe rằng, con
cũng đã hiểu được những gì Thầy viết trong cuốn luận án Tiến Sĩ Văn
Chương “So sánh văn học giữa đời Lý của Việt Nam với văn học Trung
Quốc” của Thầy rồi Thầy ơi, con mong gặp lại Thầy để nghe Thầy nói
“Ừ, con vậy mà khá đó”.Nhưng tiếc thay, duyên số không còn. Khi Thầy
sang thăm Đài Loan lần thứ hai, con lại lặn lội lên Lư Hiên hai lần
nhưng vẫn cứ không gặp được Thầy. Con trở lại lần hẹn thứ ba, thì chỉ
thấy bà chủ Lư Hiên trả lại trái táo con dâng Thầy hôm nọ với lời nhắn
là Thầy cám ơn, Thầy chỉ nhận gói trà, còn trái táo Thầy nói để lại cho
con ăn, vì Thầy đau tiểu đường không ăn được, và cũng vì Thầy phải về
lại Mỹ sớm !
Thầy ơi,
Thầy đã về cảnh Phật thật rồi sao?!!!
Hôm nay, con
xin nghỉ buổi dạy trên trường Đại Học Đài Loan, con tạt lên lại trường
đại học Trung Chính, về thăm lại căn phòng nơi mà thầy đã miệt mài cho
mảnh bằng văn chương Trung Quốc, mà lòng buồn rười rượi. Thôi Thầy ơi,
con phải trở về lại phố xá Đài Bắc…xuống chuyến xe bus số 21, tới trạm
đường Kimmen, băng qua đường Roosevelt, vào con hẽm nhỏ, đi ngang hiệu
tạp hóa cười chào với con bé Hoàng Kim Mãn đang đứng bán hàng, quẹo bên
trái là về tới phòng trọ…Thầy ơi Thầy…Thầy ơi! Thầy ơi…Thầy ơi!!!
HUƠNG ĐẠO
HẠNH
Tâm Huy-Huỳnh Kim Quang
Lúc người
viết còn ở Việt Nam thì đã nghe quý Thầy nói đến Thượng Tọa Đức Niệm và
Phật Học Viện Quốc Tế. Nhưng phải đợi đến khi người viết vượt biên vào
Mã Lai, rồi chuyển sang Phi Luật Tân thì mới có dịp để biết thêm về
Phật Học Viện Quốc Tế và Thượng Tọa Đức Niệm qua những kinh sách và
báo chí từ Hoa Kỳ gởi sang.
Vào đầu thầp
niên 90 , lúc ngưòi viết cùng gia đình về định cư ở miền Nam California
sau mấy năm sống ở New York lạnh lẽo tuyết giá đến sanh bệnh, thì mới có
cơ hội thật sự để đến viếng Phật Học Viện Quốc Tế và đảnh lễ Hòa Thượng
Thích Đức Niệm. Cái hình ảnh mà người viết vẫn còn nhớ mãi khi lần đầu
tiên đến Phật Học Viện Quốc Tế là hình ảnh quý Thầy trẻ ngồi nghe Hòa
Thượng Thích Đức Niệm giảng dạy Phật Pháp dưới gốc cây ở trước sân
chùa.Hình ảnh đó gợi lên trong đầu óc người viết cái khung cảnh sống đơn
sơ mộc mạc nhưng thắm thiết tình thầy trò và hòa nhập vào thế giới thiên
nhiên của những chốn Thiền môn ở Việt Nam ngày nào.
Cuối năm
1992, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ được
thành lập, Hòa Thượng Thích Đức Niệm được Đại Hội suy cử vào chức vị
Chánh Văn Phòng Hội Đồng Đại Diện, cơ quan lãnh đạo tối cao của Giáo Hội
về Giới hạnh và chính sách,. Hòa Thượng Thích Đức Niệm là một trong
những vị thành viên sáng lập của Giáo Hội, cho nên Ngài đã tận tụy hy
sinh cho Giáo Hội đến giờ phút cuối của cuộc đời. Người viết nhớ những
lần Đại Hội Thường Niên và Khoáng Đại của Giáo Hội, đặc biệt là Đại Hội
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất kỳ VIII, Giáo Hội đều ủy thác cho
Hòa Thượng Thích Đức Niệm làm Trưởng Ban Tổ Chức để điều hành Phật sự.
Tất cả Đại Hội ấy đều thành tựu viên mãn. Trong những lần Đại Hội này,
người viết có dịp chứng kiến hình ảnh một Hòa Thượng Thích Đức Niệm với
tánh tình điềm đạm, dáng vóc uy nghiêm, ít nói mà lời lẽ thì trầm dịu
thong thả cà từ ái, đúng là biểu tượng phẩm đức của hàng Tăng Bảo.
Sau khi
GHPGVNTNHNHK/VPIIVHD hình thành và hoạt động, Giáo Hội thấy cần phải có
một cơ quan truyền thông báo chí để truyền bá giáo pháp Phật đà, phổ
biến tin tức hành hoạt, đường lối và lập trường của Giáo Hội, cho nên
tạp chí Phật Giáo Hải Ngoại đã ra đời. Hòa Thượng Thích Đức Niệm đã được
Giáo Hội thỉnh cử làm Chủ Nhiệm, Giáo sư Quảng Thành làm Chủ Bút. Từ đó,
người viết lại có duyên lành để gần gũi với Hòa Thượng hơn trong các
công tác của tờ báo. Được cái phước duyên cộng sự với Hòa Thượng rồi mới
cảm nhận được một cách sâu sắc và thật sự về phẩm đức của một bậc Thầy
đúng nghĩa. Hằng tháng, trước thời hạn ra báo vài tuần, Hòa Thượng đều
giọ điện thoại thăm hỏi, khuyến khích viết bài. Trong những lần điện
thoại như vậy, người viết cảm nhận được cái đức khoan dung , từ ái, vui
vẻ, đôi khi pha một chút dí dỏm rất thân tình của Hòa Thượng. Có buổi
tối nọ, sau khi chuông điện thoại reo, người viết bắt điện thoại lên:
-Hello!
-Có đạo hữu
Tâm Huy ở nhà không, tôi là thầy Đức Niệm đây.
-Dạ bạch Hòa
Thượng, con đây, con là Tâm Huy đây
-Ủa, sao bửa
nay, giọng của đạo hữu Tâm Huy nghe trẻ trung quá làm tôi tưởng là người
khác!
Một chút vui
đùa như vậy có thể giải tỏa bao nhiêu cực nhọc, căng thẳng của một ngày
làm việc dài. Rồi sau đó Hòa Thượng ân cần thăm hỏi đời sống và sinh
hoạt gia đình. Hòa Thượng đã đem kinh nghiệm sống cả đời để khuyên bảo
và dạy dỗ, người viết học hỏi rất nhiều điều hữu ích.
Hòa Thượng
thường dạy rằng: “ Bây giờ còn trẻ thì nên cố gắng làm việc, nhất là đầu
tư vào việc nghiên cứu, viết lách để góp phần vào công cuộc xiển dương
Chánh Pháp, làm lợi lạc cho mọi người. Đừng đế đến tuổi già sức yếu như
tôi sẽ không còn có sức đâu mà làm, dù cho mình có muốn cũng không
được.”
Nghe như vậy
người viết liền thưa: “ Bạch Hòa Thượng , con thấy Hòa Thượng bây giờ
làm việc còn nhiều hơn chúng con nữa đó, chứ đâu có phải già cả gì.”
Hòa Thượng
dạy: “Đạo hữu nói cho tôi vui thôi, chứ tôi còn làm được bao nhiêu
việc. So với ngày xưa, còn trẻ, thì nay đã thấy khác biệt nhau lắm. Mai
mốt đạo hữu già rồi sẽ cảm được điều tôi nói hôm nay. Bây giờ lớp tuổi
của tôi đã già rồi, cho nên mọi việc phải nhờ mấy anh em trẻ.”
Thật ra Hòa
Thượng vì đức độ khiêm cung mà dạy vậy, chứ nếu khách quan mà nhìn thì
Hòa Thượng là vị Tăng đã xây dựng thành công cơ đồ Phật Pháp tại Hoa Kỳ.
Thứ nhất, về đào tạo Tăng Ni trẻ, thì Hòa Thượng là người đã dạy dỗ
thành công nhiều vị đệ tử xuất gia mà hiện nay đang gánh vác Phật sự ở
khắp nơi. Đây là điều rất khó làm tại hải ngoại, vì có rất ít tuổi trẻ
muốn xuất gia, và sau khi xuất gia thì cũng không còn bao nhiêu vị tiếp
tục giữ được sơ tâm xuất gia của mình cho đến khi trưởng thành. Thứ hai
là về cơ sở thì Phật Học Quốc Tế là một trong những cơ sở có tầm vóc của
Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ. Điều quan trọng là cơ sở này thật sự mang
lại những lợi lạc cụ thể cho việc hướng dẫn tu học cho quần chúng Phật
tử. Những khóa tu tập thường kỳ như tụng kinh hằng tuần, Bát Quan
Trai,v.v. được thực hiện đều đặn và số lượng quần chúng Phật tử tham dự
rất đông đảo.
Những ngày
cuối cùng của Hòa Thượng, người viết vì không muốn làm bận lòng Hòa
Thượng, muốn để Hòa Thượng tịnh dưỡng về cõi Phật, nên chỉ thành tâm cầu
nguyện Chư Phật gia bị cho Hòa Thượng khi xả báo thân liền sanh về Cực
Lạc, mà không đến hầu thăm Ngài. Hôm lễ tang của Hòa Thượng, nhìn quang
cảnh chư Tăng Ni và quần chúng Phật tử đến cung tiễn Giác Linh ngài vào
cõi Tịnh lạc thật đông đảo, người viết thầm nghĩ rằng đấy chính là cái
biểu tượng rõ và sáng nhất về thành tựu của đời sống phẩm hạnh, của sự
hy hiến cho Phật Pháp, hóa độ cho quần sinh trong suốt cuộc đời Ngài.
Công đức ấy sẽ góp phần làm cho Phật Giáo Việt Nam ngày một phát triển
tại hải ngoại.
Kính lễ Giác Linh Hòa Thượng California,những ngày tạ ơn, 2004
Ơn Giáo
Dưỡng
Quảng Tâm-Lý Mỹ Hương
Nam Mô A Di
Đà Phật
Ngưỡng Bạch
Giác Linh Thầy,
Ba năm trước
đây, sau khi cả cha mẹ qua đời, con gần như tuyệt vọng cho sự bất hạnh
của mình, con cảm thấy lạc long bơ vơ và bầu trời tình thương hoàn toàn
biến mất. Nhưng rồi do một nhân duyên tiền kiếp nào đó, con tìm đến với
đạo Phật, đến với Phật Học Viện Quốc Tế, và có cơ duyên được diện kiến
Thầy. Thầy đã giúp cho con nhận chân được sự vô thường, huyễn mộng của
cuộc đời, của vũ trụ nhân sinh: vạn vật đều biến đổi để rồi dần dần hoại
diệt. Con đã hưởng được một sự an lạc, thanh tịnh trong chốn già lam-
một cảm giác mà con chưa từng bao giờ cảm nhận được khi còn ở với cha mẹ
mặc dù con được gia đình thương yêu và nuông chìu tưởng như không một
đứa trẻ nào diễm phúc như vậy.
Những ngày
tết đầu tiên không có mẹ con buồn lắm,nên thường đến chùa với sư cô.
Thầy biết con thích được ở chùa, sớm chiều theo các thầy tụng kinh niệm
Phật, làm công quả hồi hướng cho cha mẹ nên thầy bảo với sư cô cho phép
con ở lại chùa vào những ngày tết, ngày lễ hay những khi mãn khóa học.
Sau những bữa ăn ngon thầy thường bảo “ con ở chùa có thích không? Ở với
mẹ đâu được ăn ngon như vậy ,phải không?” Sau những buổi thuyết pháp đầu
tiên mà con được nghe, thầy thường thăm hỏi “ con nghe có hiểu không, có
buồn ngủ không, thầy giảng con có thâu thập được không?”
Bạch thầy:
Những ngày tháng học đạo gần thầy, thật sự con đã được ăn những món ăn
tinh thần vô giá mà như thầy đã nói “ở với mẹ đâu được ăn ngon như vậy”.
Con đã bắt đầu nếm được mùi vị giải thoát từ giáo pháp của đức Phật qua
những bài thuyết giảng của thầy, và từ những ngày ở tại chùa để tập học
hạnh xuất gia. Thầy đã không ngại dìu dắt con từng bước trở về với đạo
Phật, khơi dậy cho con tìm về với bản tâm chân thật, thanh tịnh của
mình. Thầy là người đầu tiên tạo cho con có ý nguyện xuất gia giải
thoát. Thầy đã từ tốn dạy bảo cho con mọi điều, từ cách xưng hô với các
bạn đồng tu cho đến giúp con ý kiến trong những việc ở trường, việc tu
tập. Thầy dạy con dành thời gian quán sát lại tâm mình khi việc học ở
trường làm cho con quá bận rộn đến nỗi có thể xa rời đạo. Qua mỗi cử
chỉ, mỗi hành động và đời sống giản dị của thầy con học được rất nhiều
về giá trị của sự an vui tự tại trong đời sống xuất gia của một bậc chân
tu thật học.
Con còn nhớ
vào mùa An Cư Kiết Hạ năm 2001, con ở lại chùa tùng hạ với quý thầy như
một chuẩn ni và được giao việc trai soạn chuẩn bị quá đường mỗi ngày.
Như thường lệ, mỗi buổi sáng con vào thỉnh ý thầy trước khinấu những món
ăn cúng quá đường. Con không biết luật nghi ở chùa nên tự nhiên đi thẳng
vào phòng làm việc của thầy và tự tiện lớn tiếng thưa hỏi. Thầy đã từ
tốn, nghiêm nghị bảo: “ Khi con ở chùa thầy muốn dạy cho con những oai
nghi phép tắc để khi đi đến đâu hay tới chùa khác con biết mà làm.” Thầy
bảo con chắp tay lại, quỳ xuống và tác bạch từng lời từng câu lập lại
sau thầy. Con không quen chắp tay thưa hỏi và oai nghi cử chỉ vụng về
thì thầy lại dạy “ con cứ tập tưởng tượng một cái cây nào đó là thầy,
tập riết rồi con sẽ quen. Hồi xưa thầy cũng thường tập thuyết pháp cho
mấy cái cây nghe vậy đó. Trong chùa này có thiếu gì cây, con cứ chọn một
chỗ nào đó mà tập.” Những câu nói như nửa đùa, nửa thật với nét hiền hòa
của một bà mẹ, và nghiêm nghị của một người cha, thầy đã dần dần giúp
con vững niềm tin vào giáo Pháp nhiệm mầu của đức Phật. Trong Mùa An cư,
thầy bắt đầu phát bệnh và phải đi bác sĩ thường xuyên, thầy và cùng đại
chúng kinh hành niệm Phật. Những ngày sau này thầy bị bệnh rất mệt mọi,
con đến chùa xin gặp thầy hỏi những việc “không đi tới đâu”, hoặc là
thỉnh thầy sửa bản thảo những bài viết của con trong mùa Kiết Hạ năm
rồi, thầy vẫn hoan hỉ, kiên nhẫn ngồi lắng nghe con trình bày và xin
thưa hỏi.
Bạch thầy,
chương trình đại học của con sắp hoàn tất cà con sẽ xuất gia như lời hứa
với thầy, nhưng thầy lại hồi quy Cực Lạc Tây Phương quá sớm. Nếu không
có thầy dìu dắt và giúp con nuôi dưỡng Tâm Bồ Đề trong những bài pháp
nhũ giản dị của thầy thì con đã phải dỡ dang cả việc đời lẫn việc đạo
rồi. Ngày con xuất thế tục gia sẽ không có thầy chứng minh, con sẽ không
còn nhận được sự chỉ bảo của thầy nữa, nhưng giáo pháp của đức Phật là
món quà quý báu nhất mà con được thừa hưởng từ thầy. Mặc dù cha mẹ qua
đời nhưng nỗi mất mát của con đã được thay thế bằng pháp Phật tuyệt dịu,
với sự dạy bảo trong hai năm gần cuối cuộc đời của một bậc ân sư khả
kính, giàu lòng từ bi, đầy đủ trí tuệ và có một sự khiêm nhường nhẫn
nhục tuyệt vời mà con có nhân duyên gần gũi, và học hỏi.
Thầy đã tuân
theo qui luật vô thường, sanh,già,bệnh,chết của cuộc đời mà từ bỏ xác
thân tứ đại, trở về đất Phật.
Con nguyện
cầu Thầy sớm mau đạt Phật thừa, hoàn lai Ta Bà tiếp tục hạnh nguyện độ
sanh. Nguyện Giác Linh Thầy chứng minh cho những lời bộc bạch chân thành
của con. Nguyện cho con Bồ Đề Tâm kiên cố, bước theo con đường giải
thoát, “thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ” mà thầy đã thay Phật
mà dẫn dắt con trong bước đường đầu chập chững bước chân vào đạo.
Nam Mô Tâp Phương Cực
Lạc Thế Giới
Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn
Đạo Sư A Di Đà Phật.
California, ngày 8 tháng 4 năm 2003
Phật tử Quảng Tâm-Lý Mỹ Hương
Kính Bái
XA THẦY
Tịnh Tâm
Sáng hôm nay thức dậy
Trời ảm đạm vô cùng
Hỏi vì sao như thế ?
Bình minh tợ hoàng hôn.
Năm ngoái cũng ngày này
Trời ảm đạm nhiều mây
Hỏi vì sao như thế ?
Bởi Thầy về cõi Tây.
Rồi đây sẽ thế nào ?
Cuộc đời như chiêm bao
Gần Thầy tâm an lạc
Xa Thầy nỗi niềm đau.
Tụ hội rồi chia ly
Vô thường có hẹn gì
Chiều nay còn thưa thỉnh
Sớm mai Thầy đã đi.
Nguyện Thầy ở nơi cao
Gia hộ lớp người sau
Hoằng dương ngời pháp
Phật
Cho đời bớt khổ đau.
Một buổi
sáng sau thời công phu khuya, 19-2 Giáp Thân
MỘT CON NGƯỜI MỘT QUÊ HƯƠNG
Nguyên Siêu
Mùa Thu đang
về nơi Phật Học Viện Quốc Tế, lác đác một vài chiếc lá đổi màu điểm
trên những tàn cây bóng mát trong khuôn viên Tự Viện, cùng những tiếng
chim ríu rít buổi sáng hôm nay hội tụ về từ khắp các phương trời xa lạ.
Tất cả cảnh vật nơi đây như còn nhắc nhớ, ghi dấu nhiều kỷ niệm của bậc
Thầy khả kính, đã hiến trọn cuộc đời cho công hạnh độ sinh làm lợi Đạo
ích Đời. Một bậc Thầy của nhiều thế hệ, đã hy sinh để bồi đắp xây dựng
lớp người kế thừa giềng mối Đạo.
Nếu ai đã
từng viếng thăm cảnh trí Phật Học Viện hẳn cũng không quên được hình
bóng Thầy nơi Chánh Điện, Tổ Đường cho đến Điện Các Quan Âm… sân trước
lối sau như còn lưu giữ hình bóng Thầy một cách thâm nghiêm, cẩn mật.
Từng mỗi bước chân Thiền hành, từng lời tụng kinh như còn vang vọng nơi
Chánh Điện; từng giờ giảng dạy Kinh, Luật, Luận cho hàng đệ tử xuất gia
còn lưu giữ nơi giảng đường, từng lời giảng Pháp khuyến tu cho hành nam
nữ cư sỹ Phật tử còn luân lưu trong tâm tưởng mọi người con Phật. Tất cả
hãy còn đó, còn như lời Thầy đã dạy: “ Sau khi tôi xả bỏ báo thân về
nơi cõi Phật , quý Thầy hỏa thiêu tôi, lấy tro bón từng gốc cây, cọng cỏ
trong vườn Phật Học Viện để có chút phần tươi tốt cho loài thảo mộc.”
Lời nói đó
đã không phai lạt trong tâm tư của mọi người; của loài cỏ cây sỏi đá mà
còn trĩu nặng hơn nữa để ghi ơn công đức tạo dựng ngàn đời cho lý tưởng
độ sinh, cho tương lai của đàn hậu học.
Chí nguyện
của Thầy ròng rã một đời chuyên tâm tu học để thành danh đạt đức, góp
phần kiến tạo ngôi nhà Phật giáo Việt Nam nơi quê hương. Đem giáo pháp
thậm tâm của Chư Phật mà hoằng truyền, tạo nhiều thắng duyên cho những
ai nghiên tầm kinh điển, chiêm nghiệm Phật ngôn, Tổ Ấn mà tiến tu trên
lộ trình thượng cầu hạ hóa.
Công hạnh
của Thầy là tiếp chúng độ Tăng, trao truyền tất cả tâm huyết của một
bậc Ân Sư cho hành đệ tử, mong sao có được nếp sống Thiền môn, Thanh quy
Bách Trượng, là nếp sống gương mẫu cho hàng đệ tử Xuất gia và cho đến
bây giờ, dù Thầy đã vắng bóng, nhưng người Trưởng tử của Thầy vẫn duy
trì nếp sống Đạo một cách nghiêm túc. Ấy chính là bổn phận, trách nhiệm
của một bậc Thầy nghĩ về tương lai mà hướng tâm xây dựng lớp người kế
thừa để xiển dương Giáo nghĩa, Tổ Ấn trùng quang, thắp sáng ngọn đèn
chánh pháp rạng ngời suốt một dòng lịch sử Phật Việt, hơn hai ngàn năm
trên đất Tổ.
Nơi đây, xứ
lạ quê người, Thầy đã gầy dựng cơ đồ cho các thế hệ: Thế hệ đã qua; thế
hệ đang thừa hành và thế hệ mai sau noi gương Thầy mà hành xử đúng theo
chánh pháp, bằng đôi tay mở rộng, bằng tấm lòng bao dung, bằng con tim
độ lượng, chân chánh, bằng trí tuệ siêu nhiên trên con đường Bồ Tát
Đạo.Và cũng nơi đây, bằng tâm huyết của một con người, Thầy đã suốt đời
tận tụy giáo dục, hoàn thiện, nâng niu chăm sóc từng cánh lá, nhành cây,
từng tâm hồn son trẻ, từng cái sơ tâm học đạo của những con người cầu
làm Phật. Thầy đã ban bố cho tất cả và để rồi một sớm tinh sương khi mọi
người còn yên giấc, Thầy tách bước ra đi về nơi cõi Phật an nhiên tự
tại, dù cho thân xác có đau đớn, mỏi mòn nhưng tâm nguyện Thầy đạ viên
mãn. Vì những gì đáng độ Thầy đã độ, những gì đáng gởi trao, Thầy đã
gởi trao cho người kế thừa, giữa cuộc phế hưng, thăng trầm biến động mà
lòng Thầy bất động.
Sáng nay con
thuyền đưa Thầy ra biển để Thầy hòa nhập vào vũ trụ đại thể, tan biến
vào thiên nhiên, núi đồi, trăng nước, mây ngàn, biển xanh, cát trắng.
Tất cả đều chào đón Thầy trong niềm kính cẩn thiêng liêng.
Từng đợt
sóng nhấp nhô vỗ vào ghềnh đá, từng lượn nước xanh dội vào mạn thuyền,
từng cơn gió nhẹ thì thầm hòa quyện như từng lời kinh siêu độ trên mặt
đại dương muôn trùng gợn sóng. Thầy đã phiêu diêu cất bước về cõi Vô
Sanh.
Nguyên Siêu
Ghi Nhớ Ơn
Thầy
T.N.Như Hoa
Năm con 12
tuổi, Thầy về thăm quê nhà và hỏi con có muốn theo Thầy hay không? Cuộc
sống của con thay đổi từ đó, khi con chịu rời nhà theo Thầy vào chùa.
Thầy dắt con sang chùa Từ Nghiêm, gởi cho Sư Bà Vĩnh Bửu, vị Ân sư thế
độ xuất gia. Thầy sợ con còn nhỏ, không kham nổi nếp sống chùa chiền và
nhớ nhà, nhớ chị em, nên thỉnh thoảng từ Ấn Quang Thầy sang thăm con
vuốt đầu an ủi. Nhờ sự dìu dắt của Thầy, con quen dần với sinh hoạt Ni
viện, lớn lên đủ tuổi xuất gia thọ giới. Thầy đối với con vừa thay thế
cha mẹ, vừa là vị Thầy hướng đạo, khơi mở nẻo giải thoát.
Con được tu
học trong môi trường thuận lợi, trước ở Từ Nghiêm sau ở Dược Sư, nơi nào
cũng là chỗ đào tạo. Con biết mình có đủ phước duyên, khi trong gia đình
có người thân xuất gia, đi trước một bước đường và soi sáng cho con. Mỗi
khi con thăm Thầy, Thầy thường kể chuyện tu học của mình, để làm gương
cho con, và cũng là cách bộc lộ thân tình. Con thấy Thầy không bỏ phí
thì giờ, cần kiệm, kham khổ.Là học tăng Ấn Quang, tự lập thân để vươn
lên, thực hiện chí nguyện thành tựu học vấn và trang nghiêm đạo đức để
làm bậc mô phạm,làm bậc Thầy hướng dẫn. Thầy không nệ hà các việc nhỏ
như gánh nước, bỏ báo để có tiền trả học phí. Thầy đạp chiếc xe cũ kỹ
đến các giảng đường Đại học, hồn nhiên thâu thập kiến thức. Thầy từ tốn
trong chiếc áo đà đơn giản, đi dạy học các trường lớp Phật pháp, vươn
mình lên như cành sen vô nhiễm mà vẫn để ý chu đáo dìu dắt con. Được đi
theo con đường của Thầy, con thấy an ổn và tin tưởng, mỗi việc làm của
Thầy là tấm gương cho con noi theo, khắc kỷ tự thân và vun bồi hướng
thượng.
Khi Thầy
sang Đài Loan du học, dù ở xứ người xa lạ, sanh hoạt còn khó khăn hơn ở
quê nhà . Thầy cũng có ý định đem con sang để học hỏi, mở rộng tầm nhìn.
Con cảm động trước sự lo lắng của Thầy, dù ở gần hay ở xa, Thầy đều quan
tâm đến, muốn cho con được tiến mãi. Thư Thầy viết về kể chuyện học
ngôn ngữ Quan Thoại, Thầy tập đi chợ mua đồ trả giá, nói chuyện thường
xuyên từ giới bình dân đến trí thức, để rèn luyện khả năng đối thoại.
Thầy viết bài đăng tạp chí thâm nhập văn hóa của một nền văn minh lớn
Đông phương. Con hình dung tất cả sự nỗ lực của Thầy tiến tới không
ngừng, vì muốn làm việc hữu ích rộng độ chúng sanh. Con cũng mong ngóng
ngày Thầy hoàn tất việc học , trở về nước để con được thăm viếng, lo
lắng chút gì đó cho Thầy. Nhưng rồi Thầy sang Mỹ làm Phật sự, hy vọng
của con được gần gũi bên Thầy khó thực hiện.Tuy vậy con dấn thân hành
đạo cũng chính là điều Thầy vui mừng khích lệ. Thầy hỗ trợ cho con mọi
công tác từ thiện và giáo dục. Bản thân Thầy vẫn cần kiệm, Thầy dạy con
rằng: những phương tiện có được để giúp người, thực hiện lòng từ, cũng
là do phước đức tu tập, con không nên phung phí. Tấm lòng từ của Thầy
đối với con như trận mưa nhuần thấm, không bỏ qua chi tiết nhỏ. Nhờ vậy
con học hỏi được nhiều, và cũng trọn vẹn rất nhiều công tác, điều mà
không phải dễ thành tựu.
Con những
tưởng mình còn phước duyên lâu dài, được có Thầy bảo ban trong từng giai
đoạn khó khăn. Được có Thầy như một chỗ hướng về thân quý, dù không gặp
nhưng nghe tiếng Thầy qua điện thoại để con thưa chuyện mỗi khi cần
thiết, hoặc chỉ cần nghe Thầy gọi con ơi! Thầy muốn làm việc này, việc
kia, hoặc Thầy hỏi thăm bên quê nhà, Thầy chú ý thực hiện việc gì. Từng
năm qua, con quen nghe tiếng Thầy, đọc thư Thầy để biết ý Thầy, con mong
được thực hiện phần nào cho Thầy vui, thấy con không đến nổi vô ích.
Con không
biết Thầy mang trọng bệnh. Lúc chúng con hay được là Thầy cũng sắp xếp
công việc gần xong. Con lo lắng tìm thuốc gởi qua Thầy uống, mong bịnh
Thầy thuyên giảm. Con làm mọi việc lành như Phật dạy để hồi hướng về
Thầy. Con cầu nguyện sức khỏe Thầy ổn định, căn bịnh ngừng một chỗ, cho
chúng con được niềm vui mừng tuổi thọ của Thầy trụ thế.
Con sang Mỹ
thăm Thầy lần đầu, các vị đi đón ở phi trường nhận ra con ngay vì con
rất giống Thầy. Biết bao xúc động trong con, mừng mà cũng lo, Thầy ốm
quá, sức khỏe như cố gượng. Rồi tết con lại trở về lo việc chùa.
Con sang Mỹ
lần thứ hai, ở lại lâu hơn bên Thầy, săn sóc những món ăn Thầy thích,
những việc làm Thầy vui bây giờ trong từng ngày.Con đi trong khung cảnh
Phật Học Viện Quốc Tế, không giám nghĩ xa hơn. Việc làm một đời của
Thầy có nhiều phương diện lợi ích rộng lớn. Người nối chí Thầy đế tiếp
tục chắc chắn Thầy có dặn dò.
Trời Việt
Nam còn có những ngày mát mẻ, nhưng tin Thầy viên tịch đến như một nỗi
bức xúc. Con thắp nén tâm hương ở đây, mong tấc lòng chí thành vượt
ngoài khoảng cách. Đại sự một đời tạm khép lại, công hạnh vun trồng để
nẩy mầm tiếp tục tương lai. Con khóc trong Lễ Truy Niệm Thầy và chư tôn
giáo phẩm, các vị đồng hàng với Thầy ngày xưa ở Ấn Quang cũng ngậm ngùi.
Một lần ra đi giả biệt chùa cũ không ngờ chẳng gặp lại. Con xin kính ghi
đôi dòng tưởng niệm, chốn pháp thân muôn thuở Thầy hiện bóng mây lành.
ĐỐT NÉN HƯƠNG NÀY
Thành kính dâng lên Giác
Linh Hòa Thượng Thích Đức Niệm
Nguyễn Thị
Kim Chung &Nguyễn Chiêu Tường
Anh S.,
Mới đó mà đã
gần đến ngày giỗ đầu một năm của Thầy Đức Niệm. Tụi em ngồi viết thư
này mà lòng bùi ngùi nhớ đến những kỷ niệm thân xưa cùng Thầy.
Thầy đã vĩnh
viễn ra đi vào ngày lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, ngày 19 tháng 2 năm
Quý Mùi (21 tháng 3 năm 2003) như anh đã biết. Cũng như bao nhiêu người
đệ tử thân thương có mặt ở Chùa hôm thứ sáu ấy, tụi em đến chùa để được
đồng niệm Phật lần cuối cùng với Thầy và để ngậm ngùi thương tiếc nói
lời vĩnh biệt cùng Thầy trong giờ phút Thầy từ giã cõi đời nầy !
Gần 30 năm
sinh hoạt với Thầy để khi tiễn biệt Thầy, tụi em cảm thấy như mất đi một
phần rất lớn cuộc đời của chính mình. Kỷ niệm 30 năm trước ở Đài Loan
vẫn còn đậm nét. Ngơ ngác trong nhóm 25 du học sinh đến Đài Loan vào một
ngày cuối đông năm 1973 là hai cô gái nhỏ gốc Nha Trang và Châu Đốc.Tụi
em lúc ấy trông bé bỏng dễ thương và quê kệch ghê anh nhỉ? Lần đầu tiên
tụi em gặp Thầy Đức Niệm (còn được gọi là Thầy Di Lặc) là ở sứ quán Việt
Nam, qua sự giới thiệu của cô Lãnh Sự Ngô Thị Liên-Hoa, Đệ Nhất Tham Vụ
Tòa Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Đài Bắc. Thấy những sinh viên mới đến,
chân ướt chân ráo nơi xứ người, lại không biết một câu tiếng Tàu nào,
Thầy dắt đi tìm nhà trọ, vừa làm thông dịch viên, vừa hướng dẫn phong
tục của người Đài Loan.May mắn sao có hai phòng trống ngay trong căn nhà
Thầy đang ở-Thầy HN dọn vào túc xá Đại Học Đài Loan nên nhường phòng
cho tụi em, còn anh Chiếu và Vũ thì được ở phòng trên lầu bốn. Cùng lúc
ấy Vinh, Cừ, cũng như hầu hết các sinh viên đại học và mấy anh cao học
trong nhóm tụi em cũng mướn được phòng trong những nhà cùng khu xóm Kim
Môn. Và thế là cả nhóm đều có cơ hội gần gủi Thầy luôn!
Rồi những
buổi tối đứng hóng mát ở lan can, chia nhau nồi chè đậu hay cái bánh
sinh nhật cùng Thầy và những người đồng nhà trọ…tụi em được bao bọc với
tràn đầy tình thương nên cũng nguôi đi phần nào nỗi nhớ nhà nơi xa xứ.
Những ngày cuối tuần theo Thầy đi đến Quốc lập Đài Loan Chính Trị Đại
Học, xuống Trung Hưng, trạm cuối cùng chuyến xe buýt là trường của
Thầy. Tụi em tung tăng đánh vũ cầu, đùa vui với nắng với gió. Rồi loay
hoay nấu ăn với những dụng cụ bếp núc tìm được: con dao nhỏ cùn day lâu
lâu phải liếc dưới đáy chén cơm mới đủ bén để xắt, cái thớt là hóc mặt
bàn lau sạch. Không có bếp nên tụi em hay làm món bò bía chay. Món cuốn
đạm bạc nhưng tốn nhiều thì giờ xắt thái từng củ cà rốt, đậu phụ; rồi
nước chấm thì pha bằng xì dầu chanh ớt. Vụng về mà được Thầy an ủi khen
ngon quá là ngon. Mỗi khi có lễ lớn lại được theo Thầy đến các chùa,
trước là lễ Phật sau đó được thưởn thức nhiều món chay cầu kỳ và lạ mắt.
Tụi em thích nhất là chùa Sư nữ vùng Đạm Thủy; chùa ở bên kia sông, ngay
bờ suối nhỏ, vừa đẹp vừa yên tĩnh; quý sư cô lại có tài nấu nhiều món
chay ngon tuyệt vời; tụi em lần nào đến cũng được đãi ăn rất ngon mà Ni
sư trụ trì còn thương tình biếu cho nhiều thức ăn mang về Đài Bắc nữa.
Vẫn không
quên được lúc dọn xuống Đài Nam, Thầy trên đường đi Cao Hùng hành hương
đã cho ngừng cả xe buýt đông người ở cổng trường đại học Thành Công để
vào túc xá gọi cho tụi em đi theo. Đầy ngạc nhiên và thích thú, tụi em
vơ vội mấy bộ áo quần thu xếp hành trang theo Thầy và Thầy HN đi hành
hương ở chùa Phật Quang Sơn và nhiều chùa khác ở Cao Hùng…
Sau khi
sống gần và biết Thầy nhiều hơn, tụi em mới rõ rằng biệt danh Thầy Di
Lặc mà nhóm người Việt ở Đài Loan gọi Thầy Đức Niệm lúc ấy không hẳn chỉ
vì Thầy hay cười rất vui vẻ như Phật Di Lặc,mà còn do công hạnh từ bi hỉ
xả của Thầy. Chắc anh còn nhớ mấy câu thơ Thầy thường hay ngâm nga thuở
đó ?
“Người có lỗi lầm tat ha thứ
Khoan dung đại độ tánh ôn hòa
Đã không buồn tức mà yên tĩnh
Mở rộng lòng thương sống vị tha”
“Ta oán giận người, người không đau
Mà tâm ta nổi sóng ba
đào
Nhiều đêm buồn tức ,ta không ngủ
Ta tự giam mình giữa vực sâu”
Cuộc sống
vui tươi, vô tư lự bị xáo trộn sau ngày 30 tháng tư năm 1975. Em sang Mỹ
đoàn tụ với anh B. Chung sau vài năm cũng rời Đài Loan di dân sang
Canada. Thầy sau đó cũng sang Mỹ hoằng pháp ở L.A. nên em lại có duyên
học đạo với Thầy.
Mấy năm đầu
ở Mỹ, Thầy quá ư chật vật, phòng làm việc, phòng khách, phòng ăn kiêm
phòng ngủ của Thầy là một phòng bé tí teo trên lầu hai ở một túc xá của
đại học Đông Phương trên đường New Hampshire, gần Korea Town ở thành phố
Los Angeles. Chánh điện thì rất ấm cúng, được thiết kế bên trong phòng
khách của căn nhà kế cận. Không biết vì do chánh điện nhỏ hay do vì lòng
tin dõng mãnh của những người trẻ tuổi mà lúc ấy tụi em thấy tượng Phật
Bổn Sư rất là vĩ đại. À! Anh có biết Thầy cũng có nhà in không? Nhà in
của Thầy đặt trong phòng đậu xe (garage) của một căn nhà khác cũng nằm
trên đường New Hampshire.
Và cứ mỗi
cuối tuần, nhóm sinh viên khoảng sáu, bảy đứa tụi em lại đến giúo Thầy.
Những năm ấy nhóm tụi em cũng túng vì làm dân tị nạn ở Mỹ, vừa đi học,
vừa đi làm. Thầy dù có bằng tiến sĩ, song là thầy tu sống đời thanh
tịnh, hy sinh cuộc đời để nỗ lực cố gắng phục vụ Phật pháp và đồng bào
nên cũng nghèo xác xơ như tụi em vậy. Mấy thầy trò thường ăn mì gói, ít
có dịp ăn cơm, vậy mà vì vui nên mì ăn hoài mà vẫn thấy ngon. Tuần nào
có gia đình cô Diệu Chơn ở Freson đến thì vui hơn nữa vì ngoài sự góp
mặt của năm , bảy người gia đình và bạn hữu, cô còn mang đến rất nhiều
rau cải. Thế là bao nhiêu thầy trò ngồi chen chúc chật cả phòng để cùng
ăn bánh tráng gói rau sống chấm nước tương. Gần chỗ Thầy ở lúc đó có một
quán ăn nấu canh chua chay kiểu Thái Lan rất tuyệt; lâu lâu hễ có gia
đình cô Diệu Hải hay có phật tử phát tâm mua canh chua về cúng dường
Thầy hay mời Thầy đi ăn thỉ tụi em cũng được phần ăn…ké!Những thời gian
hồn nhiên và những buổi ăn vui vẻ ấy tưởng như mới đây mà tính ra đã hơn
một phần tư thế kỷ rồi. Thầy nay đã về cõi Phật, nhóm sinh viên trẻ ngày
trước này là những phật tử sắp sỉ năm mươi. Biết bao nhiêu thì giờ tâm
huyết Thầy đã dành giảng dạy từ bài kinh, bản kệ, cho đến cách lễ Phật,
tụng kinh, đánh chuông và gõ mõ, mà chẳng đứa nào phát tâm xuất gia nổi,
giỏi lắm thì cũng chỉ phát được một lời đại nguyện như Võ Tắc Thiên
Hoàng Thái Hậu ngày nào sau khi chứng ngộ từng nguyện ước mà thôi:
“Vô thượng thâm thâm vi
diệu pháp
Bá thiên vạn kiếp nan
tao ngộ
Ngã kim kiến văn đắc thọ
trì
Nguyện giải Như Lai chơn
thiệt nghĩa”
Khoảng năm
1982, Thầy thành lập Phật Học Viện Quốc Tế ở vùng North Hills xa xôi hẻo
lánh. Buổi ban đầu Chùa chỉ là một căn nhà bé tí tị mà lại có rất đông
Tăng Ni sinh và Phật tử. Chùa vì mới lập nên kém tài chính, đến độ Sư cô
Quảng Tâm sau khi đã xuất gia mà phải tiếp tục đi làm thêm vài năm để
giúp ngân quỹ nhà chùa. Trong những nmă đầu ở thành phố nầy, tuy rằng
Thầy cứ phải chạy nợ hàng thánh để trả tiền nhà mà Thầy vẫn cố gắng tổ
chức được Đại Giới Đàn Thiện Hòa và in lại được rất nhiều kinh sách,
trong đó có cả bộ Kinh Hoa Nghiêm. Bởi thế Thầy hay nói “ Phật độ” là
đúng lắm phải không anh?
Đời sống
Thầy rất bình dị nên phật tử rất yêu kính Thầy. Thầy cùng ăn cơm với các
huynh đệ và phật tử nên hôm nào Thầy an chao thì phật tử cũng ăn chao;
nhưng thường việc ăn uống ở chùa rất thoải mái vì đệ tử Thầy ai cũng học
được phần nào tánh từ bi đại lượng của Thầy.Anh có biết ban nhà trù của
Thầy ở PHVQT đặc biệt có tiếng là rộng rãi không ? Ở đó thức ăn luôn
dồi dào; có thể không được sang cả lắm nhưng lúc nào nhà trù cũng muốn
đãi cho mọi người được gắp “ cong đũa” . Thầy ít nói, trầm lặng, rất
hiền hòa, song cần mẫn và quán xuyến thì số một phải không anh? Tụi em
thấy Thầy luôn bận rộn, khi giảng dạy, khi đọc sách, viết sách, khi
nghiên cứu phiên dịch kinh luật, khi làm cỏ ngoài sân, khi làm công việc
trong Chùa, chẳng thấy Thầy rảng rỗi bao giờ. Vậy mà Thầy lúc nào cũng
sẳn sàng để dành thì giờ cho đệ tử và phật tử. Mỗi khi thầy tụi em
quá mải mê chạy đua với đời sống vật chất mà giải đãi việc tu dưỡng
tánh thiện, từ bi và hỷ xả thì Thầy lại nhắc đến bài kệ của ngài Vạn
Hạnh thiền sư để nhẹ nhàng nhắc nhở chúng em phải luôn tỉnh thức sự giả
tạm, sự vô thường của cuộc đời để có ý niệm rõ rệt về cuộc sống hiện tại
thì đời sống mới có ý nghĩa.
“Thân như điện ảnh , hữu
hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh ,thu
hựu khơ
Nhậm vận thịnh suy, vô
bổ úy
Thịnh suy như lộ, thảo
đầu phô”
Bao nhiêu
năm qua, Thầy đã hướng dẫn, dìu dắt tụi em những bước đi vững chắc trên
đường đạo cũng như đường đời. Những lời khuyên dạy của Thầy đã giúp tụi
em vượt qua được những non cao và hố sâu chìm nổi của cuộc đời. Thầy thể
hiện bậc Thầy cao cả trong tâm tụi em. Thầy thể hiện trí tuệ của người
cha và tình thương yêu vô hạn của người mẹ lo lắng, đùm bọc, dạy dỗ
tụi em. Chúng em không được ở vào thời Phật tại thế nhưng qua hình ảnh
của Thầy như cây cổ thụ cao to đã luôn che chở cho tụi em trú mưa tránh
nắng, giúp chúng em duy trì niềm tin và lý tưởng, vậy mà chưa một lần
chúng em bày tỏ với Thầy. “ Linh tại ngã, bất linh tại ngã”, ở cõi niết
bàn chắc hẳn Thầy đang mỉm cười hoan hỷ chứng cho lòng thành của tụi em,
phải không anh?
Dẫu nay Thầy
không còn trên cõi đời nữa, nhưng những lời răn nhủ của Thầy cũng như
chính hình ảnh và tâm niệm của Thầy vẫn sống mãi trong lòng tụi em. Mỗi
lần nghĩ nhớ đến Thầy, đốt nén hương lòng tưởng niệm, tụi em lại nghe
như đâu đây còn văng vẳng tiếng Thầy sang sảng ngân nga:
“Chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ
Phiền não vô tận thệ
nguyện đoạn
Pháp môn vô