Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam


 

 

 

 United Vietnamese Buddhist Congregation of Canberra & Surrounding Districts, Inc.
SAKYAMUNI BUDDHIST CENTRE

Office: VAN HANH  MONASTERY, 32 Archibald St, Lyneham CANBERRA;  Postal: PO box 1004 Dickson ACT 2602, AUSTRALIA. ABN 20 648 948 015.
(Int’l Code +61) Tel: Viet 02-6257 5517; Eng. 02-6257 5280; Fax 02-6257 7733; Mob. 0412-224 553; Email: quangba@tpg.com.au; Bank a/c CBA 06-2904-1004 7432

 

Kính bạch Ngài Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang

Đệ tứ Tăng Thống GHPGVNTN, tại Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định. 

Con là Quảng Ba từ Úc vọng bái về Bình Định xin đảnh lễ Ngài, cầu nguyện Tam Bảo thường mật hộ Ngài pháp thể luôn khang an.

Hơn 25 năm xa quê hương, chỉ mới mấy năm gần đây con mới được hầu chuyện Ngài dễ dàng qua phone, nhiều lần Ngài đã căn dặn con ‘nếu QB xây chùa nhớ xây cho lớn, cho đẹp, cho đàng hoàng’. Con xin tâm lãnh lời khuyến tấn của Ngài. Và ở đây, xin Ngài cho phép con sơ tả chút Phật sự ở hải ngoại mà con đã làm được, tuy chưa hoàn tất, để trình lên Ngài, sau bao lần Ngài han hỏi, mà con không dám dong dài kể hết qua phone:

Tu Viện thứ nhất là Vạn Hạnh, con khởi dựng tại thủ đô Canberra từ đầu 1984, vài tháng sau khi con từ trại tỵ nạn Mã lai đến Úc, mọi mặt rất ổn định, tuy chỉ có 8 Thầy trò cùng lo bao nhiêu là Phật sự với nhau. Đến cuối 2001, con gầy dựng ở Sydney Tu viện Nguyên Thiều, nay vẫn còn sơ khai lắm, vì trễ tràng và xa xôi, và do không thể trực tiếp trông coi phát triển được, con đã cử Thầy Vạn Pháp đệ tử huynh Đồng Hạnh con làm trụ trì, có 2 cô Thức xoa lớn tuổi phụ lực.

Tại Tu Viện Vạn Hạnh, do phước lực con yếu kém, và cộng đồng Phật tử quá nhỏ bé, nên 4 năm đầu con thuê nhà làm chùa tạm, đến 1988 mới bắt đầu xây cất trên lô đất 16,650m2 nằm ngay trong Trung Tâm Thủ đô, do chính phủ Liên Bang hiến tặng năm 1987.  

Ước gì hoàn cảnh GHPGVNTN mình được phục hoạt, chế độ CS biết điều hơn, con sẽ xin được thỉnh Ngài qua thăm Vạn Hạnh của con, nước Úc và GH chúng con bên nầy một chuyến. 

Suốt 24 năm qua, ngoài nhiều Phật sự đào tạo, truyền giới, hoằng pháp tại Úc và hải ngoại, nhiều công tác từ thiện cứu tế tại Úc, tại các nước Á-Nam Mỹ-Trung Đông và nhất là cho quê nhà Việt Nam qua các thiên tai, nhân họa, chúng con còn cố gắng phát huy Phật đạo vào quần chúng, sinh viên học sinh Úc, và luôn ủng hộ các nhóm Phật tử Thái, Tích Lan, Lào, Tây Tạng, vv.. tại thủ đô, để họ gầy dựng nhóm tu, rồi xây chùa, của họ.

Riêng việc xây cất chùa viện, Thầy trò Tăng Ni Phật tử Vạn Hạnh chúng con đã cố gắng tự túc kinh tế khá nhọc nhằn. Việc quyên góp trong cộng đồng đồng hương Việt Nam tỵ nạn mới định cư ở Úc rất hạn chế. Chính phủ dân chủ Úc do theo đuổi đường hướng tôn giáo và chính quyền không được can thiệp vào nhau nên không giúp vào việc xây cất cơ sở cho tôn giáo nào. Con được hiến đất để xây Tu Viện là may nhờ một đạo luật đặïc biệt cũ.

Từ một mảnh đất hoang chưa có điện nước, 20 năm qua chúng con đã vay mượn, quyên góp để chi phí hơn $3,5 triệu Úc kim và xây cất được:

(1)- Năm 1988-9 xây Phật đài lộ thiên đức Bổn Sư cao 6,5m và Tu viện Vạn Hạnh, 400m2 có chánh điện tạm, thư viện nhỏ, 2 văn phòng, phòng sinh hoạt Phật tử, 4 phòng Tăng, 2 phòng Ni, bếp núc, nhà kho, nhà tắm, vệ sinh, vv…..;

 (2)- Năm 1993 xây Tượng đài lộ thiên Quán Thế Âm cao 6,5m, hồ sen 64m2, khu vườn cảnh 100m2;

(3)- Năm 1997-2001 xây Đại Bi đường và Cư xá La Hầu La với 4 dãy 52 căn hộ chung cư để cho người Úc nghèo thuê ở, tất cả hơn 1600m2;

(4) Năm 2002-2005 xây Ni xá Diệu Không 420m2, Tăng xá Bửu Quang 480m2, Tam Quan Bất Nhị cao 11m rộng 15m sâu 5m, và Tháp Hồng Chung Linh Cảm cao 9m rộng 64m2.

Năm nay 2008, tạm trả vơi bớt được nợ xây cất 4 đợt cũ, và đồ án mới đã xin được giấy phép, chúng con dự trù 5 năm tới 2008-2011 sẽ cố gắng vay Ngân Hàng và vay mượn Phật tử để mong xây cất 4 công trình chót, tốn chừng 4 triệu Úc kim nữa:

(1)- Thư viện Long Thọ 650m2 gồm cả Trung Tâm Xã Hội-Từ Thiện Văn Lang và đoàn quán GĐPT,
(2)- Phật Học Viện Giác Tánh 750m2 với 4 giảng đường, 2 văn phòng, phòng nghiên cứu, phòng thu hình thu âm, và các tiện nghi cư trú dài hạn cho 2 Giáo thọ,
(3)- Bảo Tháp Xá lợi Hòa Bình Thế Giới, nền vuông 100m2, cao 16m với 5 tầng lục giác, và
 (4)- quan trọng nhất là tòa Đại Điện Bát Nhã, 2 tầng 1600m2 luôn cả trên lầu là Phật điện, bao lơn, hành lang, sân đón, chung cổ lâu, Tổ đường, Báo ân đường, Phương trượng, và tầng trệt là Hội trường & Giảng đường, đa dụng, trai đường và các tiện nghi công cộng cho 700 người.

Con kính xin Ngài viết cho con mấy chữ chính thức cho phép con được vĩnh viễn tôn vinh đạo hiệu của Ngài (Huyền Quang) trên xứ Úc qua việc đặt tên cho Hội trường & Giảng đường này là GIẢNG ĐƯỜNG HUYỀN QUANG. Con không muốn đợi sau khi Ngài viên tịch mới tự ý chọn tên, xin được Ngài thương xót chứng tri lòng thành kính của con, mà cho con vài chữ lưu niệm. Con sẽ xin được khắc bút tự của Ngài vào bản đồng để nghìn năm ghi nhớ, xin yết thị tôn dung của Ngài ở Giảng đường này, để con và tứ chúng đệ tử Úc – Việt của con thường xuyên được quan chiêm kính ngưỡng. 

Con nhớ lại những năm 1964-1968 còn làm điệu ở Tổ đình Hưng Long, mỗi lần mồng 5 Tết Ngài ở Viện Hóa Đạo về quê dự kỵ Bà Cụ của Thầy con (Ngài Giác Tánh), cũng như niên khóa 1968-9 nhập học lớp 9 ở PHV Nguyên Thiều, con luôn được kính ngưỡng Ngài qua những bảo ban ân cần, những thương tưởng khuyến tấn. Trong những năm con đeo đuổi học rồi tốt nghiệp Trung Đẳng Chuyên Khoa cấp 1 ở PHV Phước Huệ Thập Tháp (1970-1973), TĐ cấp 2 tiếp lên Cao Đẳng CK tại Hải Đức Nha Trang (1973-1975), con ít được gặp Ngài, chỉ qua loa trong mấy lần con xin theo phái đoàn GH Bình Định tham dự Đại Hội Văn Hóa 1973, ở ĐH Vạn Hạnh, và Đại Hội GH kỳ V, năm 1974, ở Viện Hóa Đạo.

Con cảm niệm ân đức Ngài nhiều nhất là lần con mang hồ sơ Giới đàn Hưng Long đem nộp TV Tăng Sự (mà Thầy trò Hưng Long phải cam go lắm mới tổ chức được cuối năm 1975 cứu bớt được gần 150 Tăng trẻ gắng giữ giới y mà không bị quá nhiều áp lực của chế độ mới buộc phải bỏ tu hằng loạt), Ngài đã khuyến tấn và tạo điều kiện cho con được Viện Hóa Đạo bổ nhiệm về trông coi GH Phú Bổn vào tháng 9/1976, lúc con vừa đủ 3 tuổi hạ.

Sau 3 năm (1977-1980) tù tội, do nhậm chức Chánh Đại Diện GH Phú Bổn (2 pháp đệ Nguyên Tú, Viên Lý đi với con, tuy ngắn hơn, cũng đều bị tù), con nhờ được Ngài Viện Trưởng Trí Thủ mời đến ở Già Lam Saigon để cộng tác 2 cựu Giáo sư ở VCĐPH Hải Đức (Thầy Tuệ Sỹ và Trí Siêu) biên tập bộ Bách khoa Phật Học Từ Điển VN, nên con mới được gần gũi Ngài nhiều hơn.

Ngài sai con phụ Ngài việc hiệu đính bản dịch âm-nghĩa Thiền Môn Chánh Độ mà Ngài vừa soạn dịch xong. Gần gũi hơn nữa là mấy tháng con tạm dọn về ở hẳn Ấn Quang, sau khi được Viện Hóa Đạo mời làm Phó Thư Ký (nhưng lại phụ trách 90% công tác hành chánh và tổ chức) cho Đại Giới Đàn Thiện Hòa mà GH mình tổ chức vào tháng 9/1980 với hơn 1500 giới tử Tăng Ni Phật tử. Ngài là Phó Chủ Đàn, nên con may mắn được gần gũi, phụ tá, học hỏi kinh nghiệm Phật sự và hành chánh GH với Ngài, gần như mỗi ngày.

Ngài cũng vẫn thường xuyên lên xuống Già Lam để trao đổi Phật sự với Ôn Viện Trưởng, và để giảng dạy chúng xuất gia tại gia ở GL mùa An cư, nên con niệm ơn sâu sắc đã học thêm (thỉnh thoảng con mới được đi nghe ké, vì ngoài việc hằng ngày đi qua Vạn Hạnh phụ trách phần Hán Tạng cho Ban biên  tập Bách khoa Từ điển, con cũng bận làm Giáo thọ dạy Kinh Luật cho chúng xuất gia trẻ ở Già Lam) được ít nhiều Kinh Pháp từ Ngài.

Chỉ đến 5/1981, khi bị nội gián báo cáo, Bộ Công An ra lệnh trục xuất con ra khỏi Già Lam và Saigon, con mới thực sự xa Ngài, đằng đẵng suốt 27 năm qua.

Vô tù 15 tháng lần 2 vì vượt biên không thành (9/81-12/82), con dấu tung tích để vượt biên lần 3, vài tuần sau Tết Quý Hợi 1983, may sao chỉ sau 7 ngày sóng gió và suýt bị hải tặc tấn công (nhờ bộ y hậu con mang theo không bị mất trộm), con tìm được bến bờ tự do, nhưng bạch Ngài, quê hương, Thầy Tổ, đệ huynh, Giáo Hội, cũng từ đó biền biệt mù khơi.

Quê hương mình thì tuy có biến dạng đổi hình, bổn đạo Phật tử mình Trung Nam Bắc tuy có tan nát nghèo khổ hơn, nhân luân thiện hạnh có sa sút hơn, nhưng chắc là vẫn còn đó, nhưng lòng con lúc nào cũng cứ thắc thỏm âu lo, không biết năm nào các bậc Thầy ghi đậm ân đức trong lòng con sẽ lâm niết bàn, khiến con hụt hẫng bơ vơ như mất dấu?? Con tu hành yếu kém, đờøi nay xa cách ngàn trùng, đời sau biết có cùng nhau tương ngộ??

Hai Ngài Bổn sư thế độ Bửu Quang và phú pháp Giác Tánh của con, và các bậc ân sư giáo dưỡng, giáo thọ mà ít nhiều con được hàm ơn đều đã lần lượt quy Tây: quý Ngài Tâm Hoàn, Kế Châu, Huyền Ấn, Bửu Tịnh, Giác Đạo, Huệ Đồng, Đồng Từ, Tâm Hiện, Đồng Thiện, Thiện Siêu, Trí Nghiêm, Đỗng Minh, Trừng San, Trí Thủ, Đức Nhuận, Thiện Minh, Giải An, Thiện Hòa, Từ Mãn, Nguyên Ngôn, Minh Phát, vv..vv.. Rồi sau 45 năm trong đạo, 8 năm học qua 3 Phật trường, 37 năm từ ngày biết làm việc Giáo Hội (con được PHV Thập Tháp chọn đi Giảng sư cho GH Bình Định từ Phật đản 1971, 6 tháng sau khi được Ngài Đệ nhị Tăng Thống cho con đắp y Sa Di tại ĐGĐ Vĩnh Gia, Đà Nẵêng 10/1970), đến nay, với Ngài, trước Ngài, con chỉ thấy mình ngày càng nhỏ bé, vì sự hy sinh cho đạo pháp, cho dân tộc, cho GH của Ngài là thâm thiết, vĩ đại quá. Ở tuổi 54 của con, 1974, không những Ngài đã là Đệ nhất Phó Viện Trưởng cho VHĐ, mà Ngài sau 10 năm cầm giữ cương lĩnh và điều hành toàn bộ Phật sự cả nước cho GH trong vai trò TTK, còn đã xây dựng suốt 2-30 năm trước đó, với biết bao tâm huyết, nên biết bao những Phật sự to lớn khắêp miền Trung, và cả riêng cho quê hương Bình Định tỉnh nhà.

Còn con, quá hổ thẹn, vì phần riêng thì chút ít Phật sự xứ Úc quê người, mấy chục năm trời vẫn ì ạch xây chưa xong ngôi chùa; phần chung thì tuy có hành thâm ước thệ, mà rồi qua những nội suy làm cho GH rạn nứt gần đây, tuy biết rõ sở nhân, con cũng chưa thể hàn gắn nổi !!

Ngưỡng mong Ngài luôn hộ niệm cho con được mãi dõi theo hạnh nguyện hùng vĩ của Ngài, tâm chí bao la của Ngài, bước chân du hóa của, Ngài suốt từ Háo Đức, Nhơn An, chùa Vĩnh Khánh, từ 1934 mãi đến ngày nay.

Do con bền giữ lập trường GH: một lòng hành hoạt chỉ vì dân tộc và đạo pháp, chứ không thể bán thân tâm cho chế độ XHCN, dù chỉ là phương tiện, nên tự biết sẽ mù tỏa trùng khơi, biết năm nào mới được về tới quê con Hưng Long, Thiên Đức, Nguyên Thiều? Hay là rồi đây, con cũng sẽ chôn thân nơi xứ lạ quê người, không thể một lần tái ngộ, như nhiều huynh đệ thân thương và các Ngài tôn trưởng của con, những vị vì sự nghiệp hoằng hóa hải ngoại, trước những bạo ngược của thế tình, mà đành phải vĩnh viễn đánh mất cả bầu trời quê hương, dân tộc và vĩnh viễn trùng khơi xa cách với Tổ đức và Đạo pháp quê nhà: Huyền Vi, Mãn Giác, Trung Quán, Chơn Thường, Đức Niệm, Thiện Trì, An Thiên, Quán Không, Đàm Lựu, vv..vv..??

Con cúi đầu hướng về quê nhà đảnh lễ Ngài, kính thỉnh Ngài trụ thế trên 100 năm, như Đức đệ nhị Tăng Thống GH, để chúng con và GH mãi được hưởng nhờ ân pháp vũ.

Xin Ngài xót thương mà doãn hứa cho con.

Con tỳ kheo Quảng Ba cúi đầu đảnh lễ.

Canberra 24/3/2008.



(xem hình Tu Viện Vạn Hạnh, do TT Quảng Ba sáng lập)

 

----o0o---


Trình bày: Thích Phổ Trí

Cập nhật: 07-07-2008


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Mục Lục

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544