LỜI NÓI ĐẦU
Tháng 8 ngày 17, mùa Thu năm Tân Tỵ (2001), Trưởng lão
Hòa thượng Thích Thiện Siêu đã thu thần thần thị tịch tại Tổ đình Từ
Đàm-Huế. Bậc Tôn tượng của Thiền lâm đã ra đi, để lại một sự nghiệp, một
công đức thật lớn lao: tu hành thâm hậu, tăng huy trí tuệ, quảng đại hoằng
pháp với việc hành trì giới luật, xây dựng Giáo hội, giáo dục Tăng, Ni,
hóa độ chúng sanh, trùng tu Tổ đình, phiên dịch và biên sọan hàng chục tác
phẩm Phật học, đồng thời, ban bố bao nhiêu là Pháp ngữ, lời Thiền qua hành
trạng thường nhật của Ngài.
Sự nghiệp của Hòa thượng vẫn còn đó, vời vợi khó nhòa,
nhưng một chút riêng tư về Hòa thượng như hơi thở đầm ấm, thì thầm vẫn là
mong ước của Tăng, Ni Phật tử gần xa. Ban Văn hóa trung Giáo hội Phật giáo
Việt Nam phối hợp với Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên – Huế, cùng
Môn đồ Pháp quyến thực hiện tập sách nhỏ này nhân lễ Tiểu tường của Hòa
thượng, gợi lại một hình ảnh của bậc Đại lão trí đức cao vời nhưng lại rất
than thiết đậm đà với quảng đại quần chúng. Tập sách gồm năm phần chính:
Phần I: Lược sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Siêu
(1921-2001); Phần II: Điếu văn tưởng niệm và Cảm tạ của Ban
Tổ chức Lễ tang; Phần III: Những bài thơ, văn, cảm niệm Hòa
thượng của Chư tôn Giáo phẩm, chư Tăng, Ni Phật tử và các Văn gia, học giả
than hữu. Phần IV: Tư liệu về Tang sự, Tang lễ cố Trưởng lão
Hòa thượng. Phần V: Một số hình ảnh về Tang lễ.
Tập sách mang tên “ TƯỞNG NIỆM TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG
THÍCH THIỆN SIÊU”, cũng để bày tỏ một số ước vọng về những công trình tu
tập, biên sọan, nghiên cứu sẽ được hình thành sau này bởi nhiều tác giả ở
mọi miền với các chuyên đề về hành trang, tư tưởng, thơ văn… của Hòa
thượng qua những tài liệu, những tác phẩm, những pháp ngữ của Ngài đang
được sưu tập và sẽ xuất bản.
Trong niềm kính tiếc sâu xa đến cố Trưởng lão, với long
mong mỏi được đáp ứng yêu cầu thiết tha của chư Tăng, Ni, Phật tử, chúng
tôi cố gắng đem hết công sức để hòan thành tập sách nhỏ này trong thời
gian ngắn nhất, nhưng dĩ nhiên vẫn còn nhiều thiếu sót. Kính mong Chư Tôn
túc, chư vị Trí giả, Độc giả niệm tình lượng thứ và bổ khuyết cho chúng
tôi để lần tái bản tới được sửa chữa, bổ sung cho hòan thiện hơn, chúng
tôi chân thành cảm tạ.
Phật lịch 2546.
Huế, Trọng Thu năm Nhâm Ngọ,
2002
Ban Văn
hóa Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Ban Trị sự
Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên- Huế
cùng Môn
đồ Pháp quyến
LƯỢC
SỬ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU
·
Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN.
·
Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự
GHPGVN
·
Tưởng Ban Giáo dục Tăng, Ni Trung ương
·
Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam
tại Huế,
·
Trú trì Tổ đình Tứ Đàm và Thiền Tôn –
Huế.
A. THÂN THỂ
Hòa thượng họ Võ, húy Trọng Tường, Pháp danh Tâm Phật,
tư Tri Đức, hiệu Thiện Siêu, Hòa thượng sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu
(1921) trong môt gia đình thâm Nho tín Phật ở làng Thần Phù, huyện Hương
Thủy, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế.
Thân Phụ là C ông Võ Trọng Giáng, than mẫu là Cụ bà Dương
Thị Viết. Hòa thượng là con trưởng
trong một gia đình có 6 anh em: 3 trai, 3 gái. Người
em kế cũng xuất gia, đó là cố Thượng
tọa Thích Thiện Giải, nguyên là Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Thống Nhất tỉnh Lâm Đồng; Trú trì chùa Phước Huệ - Bảo Lộc.
B. THỜI KỲ XUẤT GIA HỌC ĐẠO
Vốn có duyên với Phật giáo, năm 14 tuổi (1935), được sự
đồng ý của song than, Hòa thượng xin xuất gia. Ban đầu, Ngài được gởi vào
tu ở chùa Quan Thánh (còn gọi là chùa Ông, gần chùa Diệu Đế- Huế) với thầy
Mật Khế. Thuở nhỏ, Ngài là người hiền lành, thông minh, hiếu thuận. Ngài
được song thân cho học chữ Hán với các vị thâm nho nổi tiếng ở trong
làng. Những sách Ngài đã được học qua thời bấy giờ như Tam tự kinh, Minh
tâm bảo giám...và được Thầy yêu bạn mến. Ở chùa Quan Thánh được một thời
gian ngắn, thì Ngài được lên học Phật pháp tại chùa Trúc Lâm, xả Thủy
Xuân- Huế. Khi Hội An Nam Phật học mở trường để đào tạo Tăng tài, Ngài
được tuyển chọn vào học lớp này, do Hòa thượng Thích Giác Tiên chứng minh
trụ trì, Hòa thượng Thích Trí Độ làm Đốc Giáo, Cư Sĩ Tâm Minh – Lê Đình
Thám và một số vị Cư sĩ trí thức có nhiệt tâm với đạo phụ giảng. Đồng học
lớp này với Ngài có rất nhiều Hòa thượng, nay các Ngài còn lại rất ít,
tuổi đã ngòai 80, như: Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Hòa thượng Thích Trí
Quang, Hòa thượng Thích Trí Nghiễm (đã viên tich).. Trường được đặt tại
chùa Báo Quốc. Đây là trường Phật học đầu tiên do Hội An Phật học mở.
Gần mười năm (1936-1945) theo học các lớp Sơ, Trung,
Đại hoc Phật học, Hòa thượng đã Tốt nghiệp hạng ưu, Năm 28 tuổi (1949),
được Hòa thượng Bổn sư là Đại lão Hòa thượng Thích Giác Nhiên cho phép,
Ngài thọ giới Cụ túc tại giới đàn Hội Quốc tổ chức tại chùa Bảo Quốc – Huế
(1949), do cố Đệ nhất Tăng thống Thích Tịnh Khiết làm Đàn đầu Hòa thượng.
C. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO
I. Công tác hoằng truyền chánh pháp:
Đến năm 1944, do hòan cảnh chiến tranh nên Truờng lại
được chuyển lên Tòng lâm Kim Sơn, xã Lựu Bảo, ngọai ô kinh thành Huế. Đây
là Tòng lâm duy nhất của Phật giáo Trung Phần lúc bấy giờ. Tại đây, Ngài
cùng với quý Hòa thượng Trí Quang,Trí Tịnh, Trí Nghiễm, Trí thuyên… vừa là
giảng sư của Hội, vừa phụ trách giảng dạy các lớp Sơ và Trung đẳng của
Trường.
Năm 26 tuổi (1947), Ngài được Giáo hội cử làm Trú trì
Tổ đình Từ Đàm-Huế và giảng dạy cho Tăng, Ni ở Phật học đường Báo Quốc và
Ni viện Diệu Đức – Huế. Năm 1951, Hòa thượng được mời tham gia phái đòan
Phật giáo miền Trung dự hội nghị Thống nhất Phật giáo ba miền tại chùa Từ
Đàm –Huế.
Từ năm 1951 – 1955, Hòa thượng được bầu là Chánh Hội
trưởng Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên. Chính trong thời gian này, Ngài đã
ký quyết định hợo thức hóa nội qui thành lập các khuôn hội Tịnh độ trong
khắp tòan tỉnh.
Năm 1955-1961, Tổng Trị sự Phật giáo Trung phần cử Hòa
thượng làm Đốc giáo Phật học đường Trung Việt tại chùa Hải Đức- Nha Trang.
Năm 1962, Ngài được mời ra Huế đảm trách chức vụ hội
truởng Hội Phật học Thừa Thiên và tham gia giảng dạy cho Tăng Ni ở Phật
học đường Báo Quốc, Ni viện Diệu Đức; cũng như tham gia cá Phật sự tại
Tổng Trị sự Phật giáo Trung phần và giáo hội Tăng già tỉnh Thừa Thiên
–Huế.
Năm 1963, ngài được bầu làm Hội trưởng Tỉnh hội Phật
học Thừa Thiên.
Cũng trong năm 1963 này, khi chế độ Ngô Đình Diệm triệt
hạ co82 Phật giáo và vụ thảm sát ở Đài phát thanh Huế xảy ra, Hòa thượng
đại diện cho Phật giáo Thừa Thiên, là một trong năm tập đòan Phật giáo
miền trung,đóng tại chùa Từ Đàm – Huế, kí vào 5 điều Kiến nghị, phản đối
chế độ độc tài Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Đêm 20.8.1963, Ngài bị bắt
giam tại Thầy Công an Thừa Thiên, cho đến khi chính quyền Diệm bị lật đổ,
Ngài mới được trả tự do ngày 9 tháng 11 năm 963
Năm 1964-1974, Hòa thượng được mời làm Phó giám viện
Phật học viện Báo Quốc, Phó Đại diện Giáo hội Phật
giáo Việt Nam Thốngnhất tỉnh Thừa Thiên, Phó Đại diện Phật giáo miền Vạn
Hạnh; cùng quý Hòa thượng Đôn Hậu, trí Thủ, Mật Hiển và Mật Nguyện…tham
gia Ban Điều hành và giảng dạy lớp Cao đảng Phật học chuyên khoa Liểu
Quân đặt tại chùa Linh Quang – Huế. Đây là lớp đào tạo giảng sư Phật học
của Phật giáo miền Vạn Hạnh. Đồng thời Hòa thượng còn được mời giảng dạy
cho các Tòng lâm ở nhiều nơi khác như Đà Nẵng, Nha Trang, Tây Nguyên và
Sài Gòn… Chínhthời gian này, dù bộn bề công việc, nhưng Ngài đều hòan
thành tốt các Phật sự được Giáo hội giao phó.
Năm 1968, Ngài khai đạo giới tử cho Giới đàn Phật học
Viện Hải Đức- Nha Trang.
Năm 1970, Ngài lại được mời làm Tuyên luật sư, khai đạo
giới tử cho Giới đàn Vĩnh Gia – Đà Nẵng.
Năm 1973, Hòa thượng được cử giữ chức vụ Viện truởng
Viện Cao đẳng Phật học
Hải Đức- Nha Trang.
Năm 1973-1974, Đại hội Phật giáo Thống Nhất kì 4 họp
tại chùa Ấn Qunag, đã cử Ngài giữ chức Tổng thư ký Viện Hóa đạo GHPGVNTN.
Năm 1979, Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài được Giáo
hội và môn phái cử giữ chức Trú trì Tổ Đình Thiền Tôn –Huế.
Năm 1980, Hòa thượng làm Giáo thọ cho giới đàn Thiện
Hòa tại chùa Ấn Quang –TP. Hồ Chí Minh.
Năm 1981, Ngài được cử làm Trưởng phái đòan, đại diện
cho GHPG VNTN.
Năm 1982-1988, Ngài được Giáo hội tỉnh Phú Khánh cung
thỉnh làm trưởng Ban Trị Sự tỉnh Phú Khánh lien tiếp hai nhiệm kỳ.
Năm 1984-1988, Giáo hội cung cử Ngài giữ chức vụ Phó
Hiệu trưởng và Giáo Thầyọ
cho Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, đặt tại Thiền viện Vạn Hạnh- Tp. Hố
Chí Minh.
Năm 1984, Hòa thượng được cung cử vào chức vụ Phó Chủ
tịch thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVNTN .
Năm 1987, Hòa thượng khai đạo giới tử cho Giới đàn Báo
Quốc – Huế.
Năm 1988, khi viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam Được
thành lập, Hòa thượng được suy cử làm Phó Viện trưởng.
Từ tháng 4-1987 đến nay, Hòa thượng được bầu vào Đại
biểu Quốc Hội lien tiếp 3 khóa: Khóa 8, 9 và khóa 10.
Năm 1991, Giáo hội cung cử Ngài làm Phó chủ tịch Hội
đồng Phiân dịch Đại tạng kinh Việt Nam, đặc trách hán tạng.
Năm 1993, Ngài được cung thỉnh làm Tuyên luật sư,
Yết-ma cho giới đàn Thiện Hòa tại tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
Năm 1994, Hòa thượng lại được thỉnh làm Yết-ma tại giới
đàn Báo Quốc – Huế.
Năm 1994-2001, giáo hội cung cử Ngài làm Viện
truởngTrường Cơ bản Phật học 9nay là Trường Trung cấp Phật học) tỉnh Thừa
Thiên – Huế.
Năm 1997, Ngài được Giáo hội cung cử làm Viện trưởng
Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế cho đến ngày viên tịch.
Năm 1999, Ngài đứng ra đại trùng tu Tổ đình thiền Tôn –
Huế và tôn tạo ngọai thành tháp tổ sư Liễu Quán.
Năm 2001, Ngài tham dự Lễ tốt nghiệp Trung cấp Phật học
Và chính thức trao quyền Hiệu trưởng lại cho Ban Trị
sự Phật giáo tỉnh Thừa Thiên – Huế .
Trung tuần tháng 9 năm 2001, Ngài chủ trì Lễ tốt nghiệp
và Cấp phát văn bằng Cử nhân Phật học cho Tăng, Ni sinh Học viện Phật giáo
Việt Nam tại Huế, khóa I (1997-2001). Sau đó Ngài đã chỉ đão cho hội đồng
Điều hành Học viện chiêu sinh khóa II (2001-2005); kết quả là gần 200
Tăng, Ni sinh trúng tuyển. Trước khi đi xa, Ngài đã gửi văn thư cho Thường
trực Hội Đ62ng Trị sự GHPGVNTN đề suất bổ sung nhân sự vào Hội đồng Điều
hành Học viện. hội đ62ng Trị sự đã chấp thuận. Cuối cùng Ngài căn dặn quý
vị trong hội đồng Đi6èu hành chuẩn bị khai giảng khóa II cho Tăng, Ni sinh
vào học. Lớp học khai giảng được hai hôm thì Ngài viên tịvh. Cũng trong
năm nay, Ngài đã chứng minh Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Gia đình Phật tử
Việt Nam, tổ chức tại Tổ đình Từ Đàm –Huế.
Suốt cả cuộc đời, từ khi xúat gia hành đạo cho đến khi
viên tịch, Hòa thượng là một tấm gương sang ngời về phạm hạnh giáo dục và
hoằng hóa cho Tăng, Ni, Phật tử noi theo.
II. CÔNG TÁC DỊCH THUẬT VÀ BIÊN SỌAN
Trong cuộc đời của Hòa thượng, điều quang trọng nhất
đối với Ngài là dành nhiều thì giờ cho việc phiên dịch, biên sọan và in ấn
Kinh điển để giúp Tăng, Ni, Phật tử có thêm tài liệu nghiên cúu, tu tập.
Những công trình dịch thuật và biên sọan gồm có: Kinh Thủ Lăng Nghiêm
(1940), dịch tiếp phần sau khi Cư sĩ Tâm Minh- Lê Đình Thám ra Bắc; Phát
Bồ-đề tâm văn (1952); Kinh Kiến chánh (1953); Kinh 42 chương (1958); Nghi
thức tụng niệm (đồng sọan, 1958); Nghi thức thọ bồ-tát giới tại gia
(1958); Kinh Trường A-hàm 9lược dịch-1959); Kinh Pháp cú (1962); tân Duy
thức luận (1962); Đại cương Luận Câu-xá (1987); Luận Thành duy thức
(1995); Luận Đại trí độ (5 tâp, 1997-2001); Trung luận (2001); Vô ngã là
Niết-bàn (1990); Tỏa ánh từ quang (1992); Lối vào Nhân minh học (1995);
Cương yếu Giới luật (1996); Chữ Hiếu trong đạo Phật (đồng sọam, 1997); Ngũ
uẩn vô ngã (1997); Kinh Pháp hoa giữa các kinh điển Đại thừa (1997); Trì
Đức văn lục (9 tập, 1994-2001); và nhiều bài biên khảo đăng tải ở các Tạp
chí Phật giáo từ 1940-2001, như Viên âm (1940); Phật giáo Việt Nam (1960);
Liên hoa (1961); Giác Ngộ (1982); Tập văn- Ban Văn hóa Trung ương GHPGVNTN
(1985-2001). Ngòai ra, Ngài còn hiệu đính cho công trình dịch thuật Đại
tạng kinh Việt Nam, phần Hán tạng như; Trường A-hàm, trung A-hàm, Tạp
A-hàm…Các bộ trên đã được in thành sách và xuất bản.
III. CÔNG TÁC ĐỐI NGỌAI
Năm 1981, Hòa thượng tham gia phái đòan Phật giáo Việt
Nam dự hội nghị Tôn giáo vì hòa bình chống chiến tranh hạt nhân tại
Moscow.
Tháng 9 năm 1985, Hòa thượng làm Trưởng đòan đại biểu
GHPGVNTN thăm hai nước Liên Xô và Mông Cổ.
Năm 19889, Ngài Đại diện GHPGVNTN tham dự Hội nghị Hòa
bình châu Á, tổ chức tại Mông Cổ.
Năm 1994, Ngài làm Trưởng phái đòan Chiêm bái Phật tích
tại Ấn Độ.
Năm 1995, Hòa thượng là thành viên của phái đòan Quốc
hội Việt Nam, do Chủ tịch Nông Đức Mạnh dẫn đầu, đi thăm một số nước Đông
Âu và Nghị viện châu Âu.
Năm 1998, Hòa thượng là thành viên của phái đòan Phật
giáo Việt Nam sang thăm và dự Lễ Khánh thành tháp Hòa Bình tại Đài Loan.
Năm 1999, Hòa thượng làm Trưởng phái đòan Đại diện Giáo
hội Phật giáo Việt Nam sang thăm hữu nghị Phật giáo Trung Quốc.
IV. NHIẾP HÓA ĐỒ CHÚNG
Hòa thượng đã truyền thọ Ngũ giới, Thập thiện và Bồ-tát
giới tại gia cho hang ngàn Phật tử khắp ba miền đất nước. Ngài đã độ rất
nhiều đệ tử xuất gia như: Thượng tọa Thích Đạo Dung; Thượng tọa Thích Hải
Tịnh (đã viên tịch); Thượng tọa Thích Hải Ấn; Thượng tọa Thích Phước Tú;
Đại đức Thích Kiên Tuệ, Đại đức Thích Kiên Niệm, Đại đức Thích Kiên Định,
Đại đức Thích Tạo Thông… Các vị đệ tử xuất gia nay y chỉ với Hòa thượng ,
như: Thượng tọa Thích Minh Thông (Nha Trang), Thượng tọa Thích Minh
Thông (Canada)… Về Ni giới, trước đây là đệ tử 5 giới, nay đã xuất gia, có
các Ni sư như: Ni sư Thích Nữ Chơn Cẩn, Ni sư Thích Nữ Hải Liên, Ni sư
Thích Nữ Hải Hiền… và nhiều chư Ni khác hiện nay đang phục vụ cho Giáo hội
lên đến vài chục. nhiều vi đã và đang phục vụ cho Giáo hội ở cấp Trung
ương cũng như các tỉnh thành khắp cả nước. Nổi bật nhất là ở các ngành
Giáo dục, Văn hóa, Từ thiện xã hội và Y tế.
V. CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ TRÙNG TU
Hòa thượng đã cùng Hội đồng Điều hành ọc viện chỉ đạo
tiến hành xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế (nguyen là chùa
Hồng Đức do Ni trưởng Tích Nữ Diệu Không dâng cúng cho Gíao hội để làm nơi
đào tạo Tăng tài). Cơ sở vật chất của Học viện khang trang như hiện nay,
một phần là do uy tín và công sức lớn lao của
Hòa thượng.
Năm 2000-2001, Ngài đứng ra đại trùng tu Tổ đình Thiền
Tôn- Huế và tôn tạo ngọai thành thápTổ Liễu Quán, đã hòan thành một cách
trang nghiêm, viên mãn.
Với những công đức mà Hòa thượng đã đóng góp cho Đạo
pháp và Dân tộc, vào năm 2000, Nhà nước CHXHCNVN đã trao tặng Ngài Huân
chương Độc lập hạng nhì; vào năm 2001,GHPGVNTN đã tuyên dương Công đức Hòa
thượng.
Tháng 4 năm Canh Thìn (2001), Hòa thượng phát bệnh. Môn
đồ và đệ tử đã thỉnh Ngài vào chữa trị ở bệnh viện Chợ Rẫy – Tp. Hồ Chí
Minh gần 9 tháng. Sau đó, Ngài được thỉnh ra Huế để tiếp tục chữa trị tại
bệnh viện Trung ương.
Tháng 9 năm 2001, bệnh cũ tái phát nặng. Mặc du đã được
Ban Giám đốc Bệnh viên Trung ương – Huế, cùng các Giáo sư, Bác sĩ, Y sĩ và
môn đồ tận tình chăm sóc, nhưng báo than đã mãn, Ngài đã an nhiên th thần
thị tịch vào lúc 16 giờ 30 ngày 03 tháng 10 năm 2001 (nhằm ngày 17 tháng 8
năm Tân Tỵ) tại tổ đình Từ Đàm –Huế. Ngài trụ thế 81 tuổi đời, 53 tuổi
đạo.
Cuộc đời của Hòa thượng là một tấm gương sang về trí
đức, giới hạnh và giáo dục cho Tăng, Ni nhiều thế hệ. Trong công tác hằng
dương Chánh pháp, trải qua bao cơn sóng gió tưởng chừng như không thể vượt
qua, nhưng Ngài đã nhiếp tâm nhẫn nhục. Chính đức tính ấy đã thắng phục
được nghịch duyên để Ngài hòan thành sứ mạng hoằng Pháp. Trong những ngày
lâm bệnh, dù biết sức khỏe của mình đã cạn kiệt, nhưng Ngài vẫn tiếp tục
dịch ch xong bộ Luận Đại trí độ 5 tập, dày trên bốn ngàn trang. Và trong
những ngày cuối cùng trên giường bệnh, Ngài đã không ngừng tinh tấn, nhiếp
phục cơn đao hành hạ, để ngồi dịch cho xong cuốn Trung luận trước khi đi
vào cõi vô tung. Ngay những giờ phút nằm trên giường bệnh, Ngài luôn sách
tấn, nhắc nhở chúng đệ tử phải tinh tấn siêng năng tu học. Đối với Tăng,
Ni, Phật tử đến thăm Ngài, Ngài có lời nhắn nhủ: “ Đối với các Phật tử
quan tâm đến sức khỏe của tôi, tôi xin Chân thành cảm ơn. Nhưng quý vị
cũng nên biết, sinh lão bệnh tử là việc thường tình. Tôi mong quý vị cố
gắng tu tập theo Chánh pháp để lợi đạo ích đời. Đối với Phật sự của Giáo
hội, tôi tất tiếc vì sức khỏe đã cạn kiệt, không còn đủ sức để tiếp tục
đảm đương. Kính nhờ Chư Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng, Ni gánh
vác.Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả”.
Hôm nay, mặc dù Hòa thượng đã vào cõi Niết-bàn bất diệt
bất sinh, nhưng gương sang về trí tuệ, giới hạnh và tinh thần phục vụ Đạo
pháp, Dân tộc suốt cuộc đời của Ngài vẫn còn mãi với GHPGVNTN, với Phật
tử xứ Huế, với Tổ đình Từ Đàm, Thiền Tôn quê hương, như là sự hiện diện
của núi Ngự, song Hương giữa long tình cả của chốn Cố đô cùng trang sử
muon màu của Phật giáo Việt Nam thời cận và hiện đại. Quả thật: Hòa đàm
tuy rụng vẫn còn hương”.
Nam-mô Lâm Tế Chánh tong tứ thập tam thế, Trùng kiến Từ
Đàm Thiền Tôn nhị tự Trú trì, Việt Nam Phật giáo hội Trị sự Hội Đồng
thường trực Phó Chủ tịch, húy thượng Tâm hạ Phật tự Trí Đức hiệu Thiện
Siêu Hòa thượng Giác linh thùy từ chứng giám.
ĐIẾU VĂN CỦA HỘI ĐỒNG CHỨNG MINH VÀ HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Đọc trước giờ Cung nghinh Kim quan Cố Trưởng lão Hòa
thượng thượng thiện hạ Siêu: thăng thượng giá, lúc 8 giờ ngày 10 tháng 10
năm 2001, tức 23.8 tân Tỵ)
· Đại biểu Quốc hội khóa VIII, IX, X
· Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN.
· Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự
GHPGVN
· Tưởng Ban Giáo dục Tăng, Ni Trung ương
· Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam
tại Huế,
· Trú trì Tổ đình Tứ Đàm và Thiền Tôn –
Huế.
Nam- mô Bổn sư Thích-ca Mâu ni Phật
Kính bạch Chư tôn Giáo phẩm,
Kính thứa quý vị Tôn khách,
Kính thưa tòan thể Phật tử các giới.
Trước khi cử hành lễ cung tống Kim quan Hòa thượng nhập
Bảo Tháp, nơi an nghỉ ngàn thu của trần thế, chúng tôi xin được thay mặt
Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự GHPGVN, Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Thừ
Thiên- Huế và Tăng, Ni, Phật tử Việt Nam có đôi lời tưởng niệm:
Kính bạch Giác linh Hòa thượng,
Đẻn thiền Liễu Quán còn soi bóng
Nguồn nước sông Hương vẫn xuôi dòng
Pháp than chiếu diệu còn lồng lộng
Thiền Tôn chốn Tổ ấm gia phong
Giáo hội kính ghi gương đức hạnh
Từ Đàm còn mãi bóng chân nhân.
Nhớ Giác linh xưa, từ nơi chơn tánh hiện thân Đại sĩ,
Võ gia phong thọ mạng một đời, xứ Thần kinh trăm năm trác tích, giữa phàm
trần không nhiễm hồng trần. Nước Hương giang thao thao dòng tiểu sử, núi Ngự
Bình gió quyện mây lành, làng Hương Thủy sang
ngời Tâm Phật. Năm 14 tuổi, Hòa thượng đã xuất gia. Chùa Báo Quốc quyết
chí tu hành, đến Thiền Tôn kế thừa Tổ ấn, thượng hoằng Phật đạo hạ hóa
chúng sanh, bỏ ngòai ngàn dặm lòng tham dục, để lẽ huyền vi mãi ở trong.
Trên bước đường trở về bản thể, huạn lý chơn như, chùa
Báo Quốc cầu thọ Tam đàn, Ngài Trừng Thủy đàn đầu Hòa thượng, giới thể
châu viên, Tam Tôn kế vị. Trí Đức trang nghiêm như nhật nguyệt, tâm tư vòi
vọi tợ hư không, địa linh nhân kiệt muon đời nêu chí cả.
Cố Hòa thượng đã thăp sang đèn Thiền Liễu Quán, tục
Phật huệ đăng, nói dõi dòng thánh. Chùa Trúc Lâm, Báo Quốc, Hòa thượng đã
nghiên tầm nghĩa lý, đêm ngày nấu sử soi kinh, thấu lẽ huyền vi, đạo tâm
trác thế; trí tuệ khai thông, tâm hoa khai phát, suối nghĩa rạt rào. Kể từ
đấy: “Hương thiền gió lộng tỏa ngàn phương, trăng sáng năm xưa ngập
dặm đường, hương lòng quyện tỏa từ độ ấy, mãi mãi ngàn sao vẫn ngát hương”
Bằng tinh thần phụng sự Đạo pháp, kế vãng khai lai, báo
Phật ân đức, hơn 50 năm đóng vai long tượng trong Phật pháp, mô phạm chốn
rừng thiền, Hòa thượng đã nổ lực hoằng dương Chánh Pháp, mở Phật học
đường, các trường Phật học, Học viện Phật giáo Việt Nam để đào tạo Tăng
tài, kế thừa Đạo mạch, làm cho Tổ ấn trùng quang, Đạo vàng xán lạn, xứng
danh con nhà họ Thích ngàn đời. Quả thật, giữ gìn Tổ ấn tông phong, tốt
đời đẹp đạo giữa lòng nhân gian.
Từ cương vị Chánh Hội trưởng Tỉnh hội Phật học Thừa
Thiên vào những năm 1950; Phó Đại diện GHPGVNTN miền Vạn Hạnh, cho đến Phó
Chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự, Truởng Ban Giáo dục Tăng, Ni Trung
ương Gíao hội Phật giáo Việt Nam, Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam,
đại biểu Quốc hội, trong năm thập niên qua, Hòa thượng đã thể hiện trọn
vẹn tinh thần đại hung đại lực, đại từ bi, hộ quốc an dân, đẹp đời tốt
đạo, giống trống lôi âm vang rền tiếng Pháp, nêu cao gương uy mãnh giữa
rừng tà. Hòa thượng đã vận dụng tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên,
truyền trì đạo mạch, phát huy chân lý đạo nhà một cách trong sáng và tích
cực qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử. Với đức tính vị tha vô, nhiếp
hóa mọi người, Hòa thượng đã làm cho những Tăng, Ni, Phật tử hữu duyên
phát khởi tín tâm, tu hành tinh tấn, vững bền đạo nghiệp, tiến bước trên
đường giải thóat. Quả thật, công ai đổ xuống đất này, cho hoa Đạo pháp
ngày ngày thêm tươi.
Với tinh thần Giới đức trang nghiêm, thanh tịnh, thân
giáo, khẩu giáo, ý giáo viên dung, Hòa thượng đã hiện thân của giới luật,
là thọ mạng của Phật pháp, là người khai thông giới thân huệ mạng cho
nhiều thế hệ Tăng, Ni, Phật tử. Hòa thượng đã đăng đàn thí giới, khắp chốn
Tòng lâm, trường hương, khóa hạ xứ Thần kinh cho đến Phú Khánh, Bà
Rịa-Vũng Tàu, Sài thành một thuở. Qua đó, từng lớp, từng đàngiới tử, giới
thể châu viên trang nghiêm dòng diệu thể, trở thành
pháp khí Đại thừa truyền trì mạng mạch Phật
pháp, trường tử của Như Lai, lợi lạc hữu tình, vẹn tròn nhân Phật, tốt đạo
đẹp đời. Quả thật, lời Thầy ý Tổ còn đây, Hoa nghiêm suối ngọc dựng xây
đạo tràng.
Bằng tinh thần hòa hợp đoàn kết, thống nhất Phật giáo
cao độ, Hòa thượng đã thể được nguyện vọng Thống nhất Phật giáo của Tăng,
Ni, Phật tử cả nước; Hòa thượng đã tiếp nối dòng sinh mạng năm 2000 lịch
sử của Phật giáo Việt Nam, xây dựng thành công ngôi nhà Thống nhất Giáo
hội Phật giáo Việt Nam, Phật giáo tỉnh Phú Khánh, Thừa Thiên- Huế Cố đô
văn vật ngàn đời. Qua đó, Hòa thượng đã không ngừng làm cho ngôi nhà Phật
giáo Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh, trang nghiêm, hưng thịnh,
huy hoàng trong lòng dân tộc, để rồi hoa Đạo pháp nở rộ trong vườn hoa xã
hội và Đạo đời mãi mãi dung thông.
Thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau, là những người thừa
hưởng sự nghiệp thống nhất Phật giáo Việt Nam, là thừa hưởng gia tài quý
báu của Hòa thượng đã đóng góp một phần công đức rất lớn trong sự nghiệp
xây dựng, phát triển Phật giáo Việt Nam, trong tinh thần Hòa hợp dân tộc,
xây dựng Hòa bình.
Thống nhất tổ quốc theo phương châm hoạt động của Giáo
hội: “Đạo pháp-Dân tộc- Chủ nghĩa xã hội” mà Hòa thượng đã thể hiện bằng
sự sống và bằng hành động, bằng ý chí của mình. Quả thật, hạnh nguyện sáng
soi gương kim cổ, chí cả rạng ngời với núi sông.
Bằng hạnh nguyện khứ lai vô ngại, tư tại tùy duyên làm
Phật sự như không hoa, độ chúng sanh như huyễn hóa, vô tâm hành sự, như
Hòa thượng đã từng huấn thị: “Sắc tướng vốn không, muợn cảnh huyễn độ
người mê muội; tử sanh nào có, nương thuyền từ vớt kẻ trầm luân”. Hạnh
nguyện Hòa thượng thật tuyệt vời và vô tướng, vô tâm như người xưa đã nói:
“Nước chảy theo khe nào cố ý, khói tỏa bay cao vẫn vô tâm”.
Hôm nay Hòa thượng đã thuận lý vô thường, trở về với chân
như pháp giới, để lại một sự trống vắng vô cùng cho Giáo hội, một sự mất
mát to lớn này, chúng tôi và Tăng, Ni Phật tử Việt Nam không sao tìm lại
được trong kiếp người hữu hạn. Than ôi, “ Người xưa nay đã còn đâu, chỉ
còn mây bạc lòng sầu tiếc thương, ra vào lòng dạ vấn vương, sông Hương núi
Ngự sương sa phủ mờ”. Song công đức và đạo hạnh của Hòa thượng vẫn còn
sống mãi trong tâm tư và ký ức của Tăng, Ni, Phật tử Việt Nam. Nhất là đèn
Thiền còn tỏa sáng, đuốc Tuệ tiếp tục rạng soi, Chư tôn Giáo phẩm và toàn
thể Tăng, Ni trong giáo hội Phật giáo Việt Nam mãi mãi nguyện đoàn kết một
lòng tronh tình Linh sơn cốt nhục, nghĩa Thiên thai trong sáng đời đời.
Tất cả chúng tôi là những người bạn đồng hành đồng sự còn lại, nguyện kề
vai sát cánh bên nhau, nối tiếp sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp, lợi lạc
chúng sanh, duy trì và phát triển ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam
ngày càng trang nghiêm, vững mạnh huy hoàng, góp phần thực hiện hữu hiệu
phương châm hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam “ Đạo pháp, dân tộc,
chủ nghĩa xã hội” mà Hòa thượng còn bỏ dở, để gọi là thể hiện mối tâm giao
tình pháp lữ muon đời trong Chánh pháp.
Giờ đây, trong thế giới Niết-bàn vô tung bất diệt, nơi đất
Tổ xứ thần kinh, trong Bảo tháp trang nghiêm, thân tứ đại Hòa thượng hãy
mien viễn nằm đấy cho ngàn thu vang bóng: Với pháp thân lồng lộng hư
không, sẽ sống mãi trong lòng pháp lữ, trong tư duy cùng pháp giới chân
như.
Xin bái biệt Hòa thượng.
ĐIẾU VĂN CỦA BAN TRỊ SỰ TỈNH HỘI PHẬT GIÁO THỪA
THIÊN-HUẾ, HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI HUẾ, TRƯỜNG TRUNG CẤP PHẬT HỌC
THỪA THIÊN-HUẾ.
Dọc trong Lễ Sơ dạ Cố Trưởng lão Hòa thượng Thiện hạ
Siêu lúc 19 giờ ngày 9 tháng 10 năm 2001, tức 23.8 Tân Tỵ)
· Đại biểu Quốc hội khóa VIII, IX, X
· Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN.
· Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự
GHPGVN
· Tưởng Ban Giáo dục Tăng, Ni Trung ương
· Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam
tại Huế,
· Nguyên Hiệu trưởng đầu tiên Trường Trung
cấp Phật học Thừa Thiên – Huế
· Trú trì Tổ đình Tứ Đàm và Thiền Tôn –
Huế.
Ngưỡng bạch Giác linh Hòa thượng,
Hôm nay, Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên –
Huế, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, Trường Trung cấp Phật học Thừa
Thiên – Huế và toàn thể Tăng, Ni, Phật tử Thừa Thiên – Huế vô cùng thương
tiếc cung tiễn Giác linh Hòa thượng về cảnh giới Vô lượng thọ, Vô lượng
quang, ngưỡng mong Hòa thượng thùy từ chứng giám.
Ngưỡng bạch Giác linh Hòa thượng,
Chúng con nhớ mãi lời Hòa thượng dạy lúc sinh tiền
rằng: “ Hãy làm các Phật sự với tâm hành xả, như cánh Hạc đi qua giữa
trời, không để lại dấu vết”. Nhưng, trước giờ phút sắp biệt ly này, chúng
con làm sao nén được lòng thương cảm để thể hiện di huấn của Hòa thượng?
Kính xin Hòa thượng đại xá, cho phép chúng con một lần cuối quỳ trước Linh
đài được trình bạch nỗi niềm tôn kính và tri ân sâu xa của chúng con đối
với quãng đường dài 55 năm hoằng đạo của Hòa thượng; cho phép chúng con
nhắc lại những dấu chân đi tỏa sáng phạm hạnh, từ bi và trí tuệ của Hòa
thượng.
Ngưỡng bạch Giác linh Hòa thượng,
Hòa thượng ra đời vào buổi bình minh của thập niên đầu
chấn hưng Phật giáo Việt Nam; được đào luyện Giới, Định,Tuệ suốt 10 năm,
rồi lên đường hành đạo giữa thời gian lịch sử đầy gian truân. Qua 55 năm,
hình ảnh đó hiện rõ là hình ảnh của một sứ giả đích thực của Như Lai.
Thế Tôn, trong Tiểu bộ kinh, đã tự ví Ngài là một nông
dân đúng nghĩa, một nông dân lien tục cần mẫn canh tác cánh đồng Tâm ,
thức, cánh đồng Trí tuệ, đem lại cho đời những mùa gặt hạnh phúc, giải
thoát. Nay chúng con cũng hình dung Hòa thượng là một nông dân trân quý
của Giáo hội, đã phục vụ Giáo hội và cuộc đời qua bao nhiêu mùa gieo, gặt.
Từ năm 1947 đến năm 1963, các thửa ruộng tâm, tuệ của
Từ Đàm, Báo Quốc, Diệu Đức, Phổ Đà và Hải Đức-Nha Trang đã bao mùa tỏa
ngát hương Giới, hương Định và hương Tuệ.
Từ năm 1964 đến năm 1974, Hòa thượng đã tiếp nối sự
nghiệp với quy mô lớn hơn chăm lo các cánh đồng tâm thức suốt dọc miền
Trung.
Từ năm 1975 đến năm 1981, Hòa thượng không ngừng cần
mẫn thực hiện sứ mệnh sứ giả Như Lai của mình tại Nha Trang và Huế.
Từ năm 1982 đến năm 2001, Hòa thượng đã có những đóng
góp đáng kể trong các thành tựu
to lớn của ba miền đất nước Việt Nam: Năm 1981 là một mốc điểm quan trọng
trong ba mốc điểm lịch sử có ý nghĩa trọng đại math từng tích cực đóng
góp:
Năm 1951, quyết định thống nhất Tổng hội Phật giáo Việt
Nam, diễn ra tại chùa Từ Đàm- Huế.
Năm 1964, quyết định thống nhất với quy mô lớn diễn ra
tại chùa Xá Lợi-Sài Gòn: thành lập GHPGVNTN.
Năm 1981, quy61t định thống nhất Giáo hội Phật giáo
tòan quốc thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam sau khi đất nước thanh bình,
diễn ra tại chùa Quán Sứ-Hà Nội.
Chúng con làm sao quên được, và thời gian làm sao có
thể xóa nhòa đi được những dấu chân đầy đạo hạnh và trí tuệ ấy mà dấu chân
để lại đậm nét nhất trong tâm tư chúng con vẫn là quảng đường Phật sự của
Hòa thượng đầy gian khó tại Cố đô Huế từ năm 1982-2001. Khỏang thời gian
này, nếu thiếu đại lực, đại tuệ và tâm đại bi của Hòa thượng thì Phật giáo
Thừa Thiên – Huế làm sao có được những mùa gặt rực rỡ!
Ôi! Làm sao chúng con có thể quên được khỏang thời gian
đáng nhớ này: Tháp Tổ sư Liễu Quán khang trang; Tổ đình Thiền Tôn quang
rạng ở chân núi Thiên Thai; Báo Quốc nhộn nhịp màu áo lam nâu và Học viện
làm rực sáng cả một vùng Hồng Đức! Tất cả đều nương vào đức hạnh và trí
tuệ của Hòa thượng. Tất cả chúng con đã được an lạc đều nhờ vào sự cần mẫn
của trí tuệ ấy. Nhưng lẽ đời thường vận hành nghịch ý, niềm đau luôn cận
kề hạnh phúc. Hôm nay, Hòa thượng ra đi, đi vào một cuộc hành trình biền
biệt, để lại bao nhiêu kỷ niệm đau tình thân thương và để lại cho chúng
con những khỏang trống vắng lớn: Từ Đàm, Hồng Đức, Báo Quốc đang trở nên
trống trải! Huế hôm nay trời trở nên u buồn, đang có những đám mây án cả
trường không như đang có sóng ngầm biển lớn! Cảnh vật đang đầy mà vì sao
lại bỗng vơi! Ngưỡng mong Hòa thượng tưởng cảnh ngậm ngùi này, thường
phóng quang gia bị chúng con.
Ngưỡng bạch Giác linh Hòa thượng,
Chúng con đã từng được học về sự thật vô thường của thế
giới hữu vi: Có cuộc gặp nào mà không ly? Có cuộc vui nào mà không tàn?
Chúng con phải chóng trở về với tâm tỉnh giác trước giờ phút tiễn biệt Hòa
thượng. Chúng con chỉ xin được phép trình lên Hòa thượng một cản niệm cuối
cùng đã từng lay động tâm thức chúng con: Đó là câu chuyện về chim Pélican
trong văn học nước ngòai: Lúc thiếu mồi, chim mẹ đã lấy máu và thịt của
mình để nuôi sống đàn chim non. Chim con đã lớn lên ngơ ngác giữa bầu trời
vắng mẹ. làm sao chúng con lại không giác tỉnh rằng, các thành quả tu tập
và Phật sự hôm nay của chúng con, các thành quả làm đẹp Giáo hội và quê
hương, lại đã không đánh đỗi bằng mồ hôi, nước mắt, bằng máu thịt của mẹ
mình- đấng Nông dân đã nhiều mùa canh tác các cánh đồng trí tuệ ấy. hôm
nay ở giờ phút linh thiêng này, trước Linh đài, chúng con nhất niệm phát
lộ, cúi đầu lễ sám về thái độ sống vô tình một thuở của chúng con. Chúng
con thành kính cúi đầu trước Giác linh Hòa thượng và xin cúi lạy ngàn lần
với tâm nguyện tìm lại những vết chân đi của Hòa thượng. Chúng con sẽ đòan
kết, hòa hợp, thương kính nhau, cùng khích lệ động viên nhau đi vào những
mùa gieo gặt mới cho Giáo hội và cho quê hương. Nguyện xin Giác linh Hòa
thượng chóng “Thiên nhập Pháp huệ” và hồi nhập Ta-bà, nơi mà nhiều cánh
đồng hoang đang mong chờ những bàn tay cứu độ của từ bi và trí tuệ.
Chúng con xin cung kính cúi đầu tiễn biệt Hòa thượng
Nam-mô Lâm Tế chánh tông tứ thập tam tế, Việt Nam Phật
giáo hội Chứng minh Hội đồng thành viên: Trị sự Hội đồng thường trực Phó
Chủ tịch; Trung ương Giáo dục Tăng, Ni trưởng ban; Thuận Hóa Phật giáo Học
viện Viên trưởng; Trùng kiến Từ Đàm, Thiền Tôn nhị tự Trú trì, húy thuợng
Tâm hạ Phật, tự Trí Đức hiệu Thiện Siêu Trưởng lão Hòa thượng Giác linh
thùy từ chứng giám.
|
Giáo Hội Phật giáo Việt Nam
Hội Đồng Chứng Minh
Hội Đồng Trị Sự
Văn Phòng 2
294 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3
ĐT: 8. 483.080 – Fax:8.469.931
|
|
Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự
do – Hạnh phúc
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 11 năm 2001
|
CẢM
TẠ
·
Hội đồng Chứng minh GHPGVN.
·
Hội đồng Trị sự GHPGVN
·
Ban Giáo dục Tăng, Ni Trung ương
·
Hội đồng điều hành Học viện Phật giáo
Việt Nam tại Huế
·
Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thừa Thiên –
Huế và Môn đồ Pháp quyến
Thành kính tri ân và cảm tạ:
-
Chư tôn Giáo phẩm Hội đồng Chứng minh,
Hội đồng Trị sự GHPGVNTN
-
Các Ban, Ngành, Viện trực thuộc Trung
ương GHPGVNTN
-
Cụ Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng
-
Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
-
Chủ tịch Quốc hội
-
Thủ tướng Chính phủ
-
Chủ tịch Đòan Chủ tịch UBTWMTTQVN
-
Ban Dân vận Trung ương
-
Ban Tôn giáo của Chính phủ
-
Văn phòng Quốc hội, UBTWMTTQVN
-
Ban Trị sự các Tỉnh, Thành hội Phật giáo