Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

Tưởng Niệm
Thượng Tọa Thích Minh Phát


...... ... .

Kỷ Yếu

Thượng Tọa THÍCH MINH PHÁT

(1956 – 1996)

---o0o---

“Quảy dép về Tây chốn nghĩ ngơi,
Hạc vàng cất cánh ngắm phương trời,
Huyễn thân trả lại nơi trần thế,
Giả biệt hôm nay có mấy lời…”

 

MỤC LỤC

 

Thay lời tựa


Phần I
Trích lục những vần lưu bút


Phần II
Tiểu sử và các điếu văn trong tang lễ
Cáo phó
Chương trình tang lễ
Tiểu sử
Lời tưởng niệm
Ðiếu văn
Ðiếu văn của môn đồ pháp quyến
Văn điếu của huynh đệ đồng môn
Cảm niệm Ân Sư
Văn tác bạch cúng dường báo hiếu Ân Sư
Văn tác bạch Ni Trường Dược Sư
Nhớ Thầy
Thơ phúng điếu
Kính lạy Giác linh Thầy
Thư chia buồn
Hồi ký
Khó tiễn Thầy
Ai điếu
Hạnh từ
Ta Bà vắng bóng Cực Lạc thêm hoa
Nam Mô A Di Ðà Phật
Hòai cảm Ân Sư
Ðến và Ði
Phần III
Ðối trướng, trích sổ tay lưu niệm
Ðối trướng kính viếng
Sổ tang lưu niệm
Cảm tạ
Phần IV
Hồi ức về cuộc đời của Thầy Minh Phát
Ðiệu Nguyên: Pháp Huynh Thích Minh Thành
Ðôi dòng hồi tưởng Thầy Minh Pháp: Thích Minh Thông
Vài nét về Thầy Minh Phát: Thích Minh Cảnh
 

 

 

 

Kỷ Yếu

Thượng Tọa THÍCH MINH PHÁT

(1956 – 1996)

---o0o---

“Quảy dép về Tây chốn nghĩ ngơi,

Hạc vàng cất cánh ngắm phương trời,

Huyễn thân trả lại nơi trần thế,

Giả biệt hôm nay có mấy lời…”

Thay lời tựa

Cuộc đời tu tập và hành đạo của Thầy Minh Phát là bức tranh minh họa hiện thực sinh động lời dạy của Ðức Phật: “Này chư Tỳ kheo! Hãy du hành vì an lạc, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư Thiên và loài người”.

Những bài văn, thơ, kệ… tưởng niệm của chư vị Tôn đức, chư vị pháp huynh, pháp hữu, môn đồ… được ghi lại trong tập “Kỷ Yếu” này cho chúng ta thấy rõ hình ảnh đẹp của một Sa di Minh Phát thời niên thiếu; đặc biệt là nổi bậc hơn là công hạnh đạo đức ấy đã tăng trưởng vượt bực trong suốt hai mươi mốt năm hiện thân là một vị Tỳ kheo trong giáo pháp.

Dù tại Thành phố Hồ Chí Minh hay các tỉnh miền Tây, miền Ðông, miền Trung, kể cả một số tỉnh miền Bắc xa xôi… nơi nào có nhơn duyên xây dựng chùa chiền, trùng tu Tam Bảo, tổ chức an cư kiết hạ, khai đàn truyền giới hay thiên tai địa ách, hỏa hoạn, lũ lụt, bão lụt v.v… là nơi đó Thầy Minh Phát luôn luôn có mặt và hoan hỷ trong mọi trường hợp.

Những sự kiện nổi bật nơi Thầy Minh Phát và chư Tôn đức Tăng, Ni, Phật tử quen biết xa gần đều  rất khó quên: Nơi các Ðại giới đàn, Thầy là vị dẫn lễ thân kính của các giới tử; nơi các đàn chuẩn tế trong những lễ ngày hội lớn, Thầy là vị sám chủ uy nghiêm và gây ấn tượng mạnh trong lòng đại chúng; nơi các bệnh nhân, Thầy là vị lượng y kỳ diệu, với một chai nước mát Thầy đọc vài câu kinh ngắn chú nguyện, người bệnh mang về uống là có thể hết bệnh (đã có nhiều người bệnh nhờ uống những chai nước mát của Thầy cho); nơi các Tổ đình lớn, trong một số ngày lễ hội, khi cần - Thầy là người “đầu bếp tài ba” v.v…

Ngoài ra Thầy còn có một đặc tính gần như thiên phú, hay nói theo nhà Phật thì do thầy tu tập, tích tụ trong nhiều kiếp, đó là khả năng nghe và trùng tuyên Pháp ngữ - nơi nào có đại lễ, chư Tôn đức xướng Pháp ngữ… Thầy được nghe qua một lần là ngay sau đó, Thầy có thể lặp lại không thiếu sót. Ðồng thời, dù về mặc văn hóa phổ thông Thầy học không nhiều, nhưng Thầy có khả năng biên soạn một  kinh sách về Nghi lễ, luật giới, tiểu truyện v.v… Ðặc sắc nhất là Thầy có thể xuất khẩu thành thơ trong mọi trường hợp, đem lại sự an vui bá tánh trên đường hoằng hóa.

Hành trạng Thầy Minh Phát đã cho chúng ta cảm nhận giá trị tinh hoa kỳ diệu của dòng thời gian như lời dạy của Ðức Phật trong kinh Pháp Cú (câu 115):

Ai sống một trăm năm

Không thấy pháp tối thượng

Không bằng sống một ngày

Thấy được pháp tối thượng.

Về thọ mạng huyễn thân, Thầy Minh Phát hiện hữu với chúng ta không lâu - bốn mươi mốt năm - nhưng mỗi thời khắc đi qua là một hạt chuỗi ngọc long lanh của công đức và trí tuệ được tích tụ. Cho nên dù thời gian kiếp sống có ngắn ngủi vô thường nhưng Thầy đã tận dụng không bỏ phí “một điều thiện nhỏ” và như chúng ta đã chứng kiến, với công hạnh “ban vui cứu khổ”, tâm nguyện của Thầy đã làm cho dòng thời gian như ngừng lại, thường trụ và hình ảnh Thầy Minh Phát hiền hòa, từ ái luôn gần gũi như sống mãi, hằng hữu trong lòng người con Phật xuất gia và tại gia chúng ta.

Như vậy, nếu chúng ta sống một trăm năm, mà chúng ta chỉ biết sống ích kỷ cho riêng mình hoặc bỏ phí thời gian trôi qua trong những việc dễ duôi, vô ích thì dòng thời gian nhiều đó trở thành không nghĩa và tiêu tan như mây khói. Ngược lại, chúng ta sống dù một ngày, một tháng, một năm, mười năm, hay đôi ba mươi năm v.v… mà chúng ta sống không chấp thủ, không ích kỷ cho riêng mình, mỗi giờ phút trôi qua, chúng ta biết tận dụng làm thiện sự, đem lợi lạc cho nhân sinh thì nhất định dòng thời gian đó, dù ngắn cũng trở nên dài, đẹp, bất tử trong lòng mọi người và tự thể nó trở nên thiên thu.

Cuộc đời Thầy Minh Phát là tấm gương sáng về tinh thần “Vô ngã vị tha, lợi lạc quần sanh”. Trong vòng sanh diệt tương đối, cuộc đời Thầy có phần ngắn ngủi nhưng công đức tràn đầy vô lượng, xứng đáng với tấm lòng mọi người đã tôn vinh, tưởng niệm, thương kính, đưa tiễn… trong ngày tang lễ; xứng đáng được Giáo Hội Trung Ương và Thành Hội Phật Giáo truy phong – cung an Thầy vào hàng Giáo phẩm Phật giáo Việt Nam, tại buổi lễ tưởng niệm ngày 10-5-1996 Giáo hội và Thành hội Phật giáo đã công bố quyết định tấn phong Ðại Ðức Thích Minh Phát lên hàng Giáo phẩm Thượng Tọa. Tiễn đưa Giác linh Thầy hội nhập cõi vĩnh hằng “Thượng phẩm thượng sanh” của chư Bồ tát.

Tập “Kỷ Yếu” này được thực hiện bằng tất cả những tấm lòng của chư vị tông phong pháp lữ, huynh đệ pháp hữu và môn đồ tứ chúng, Phật tử gần xa bày tỏ đạo tình trân quý một cuộc đời đã hiến dâng trọn vẹn cho đạo pháp dân tộc và chúng sanh.

Nhân dịp cúng lễ Tuần chung thất, Ban biên tập “Kỷ Yếu” đề nghị tôi viết Lời Tựa cho tập sách, thể hiện tình “Linh Sơn cốt nhục” tôi có đôi lời tưởng niệm… trân trọng kính mời chư vị Tôn Ðức Tăng Ni, huynh đệ pháp hữu và Phật tử hãy cùng đọc và tưởng nhớ hình ảnh Thầy Thích Minh Phát thân thương.

Mùa An Cư Phật lịch 2540
Phó Ban kiêm Ủy Viên Văn Hóa
Thành Hội Phật Giáo  
Thượng Tọa Thích Giác Toàn

Phần I

Trích lục những vần lưu bút

Chùa Ðông Hưng

Thủ Thiêm – Saigon

Xem quyển kỷ niệm nầy có cảm tưởng:

- Trước dẫn lời thế tục: “Khen ai kiếp trước có tu, kiếp nầy xe kiệu võng dù nghinh ngang.”

Áp dùng ở đây:

- Tỳ kheo Thích Minh Phát kiếp trước có tu, nên kiếp nầy gặp Phật Pháp, gặp Minh sư và Thiện-Hữu Tri-Thức.

- Ðể lời rất mừng, rất khen và rất khuyến khích cố gắng tu hành đi tới đạo quả Bồ đề để hoằng pháp lợi sanh, báo Phật Ân đức.

- Cảnh sách Quy Sơn Tổ nói: “Ðời trước có căn lành, nay mới cảm đặng báo tốt lạ như vậy./.

Hành Trụ đề

(Lúc uống trà khuya 12 giờ trong thất (ngày 11/7/Mậu ngọ (14/8/1978.)

 

Nam Mô A Di Ðà Phật

Ta chẳng phiền ai nếu họ phiền,

Vì ta có mặt mới là duyên,

Nếu không ta, có ai phiền trách,

Gió thổi hư không giữa đất liền.

Ta chẳng não loạn với một ai,

Có thêm thân, có nghiệp theo hoài,

Khen chê thương ghét đầy vơi mãi,

Xả hết cho đời khỏi trả vay.

Ngày xưa pháp hội có hai người,

Tranh cãi buồn phiền chuyện hổ ngươi,

Một vị phương trời lo phướn động,

Một người cãi lại gió bay thôi.

Huệ Năng nhìn thấy trong câu chuyện,

Biết được ra khuyên một ít lời,

Phướn không gió cớ chi lay động,

Chỉ có tâm mình chịu nổi trôi.

Bà kia ông nọ người xa lạ,

Mà giận làm chi giữa cuộc đời,

Chẳng có vinh thì đâu có nhục,

Ðể lòng sầu não giữa đầy vơi.

Mái chùa từ buổi vui tình Phật,

Cắt tóc chia tay chẳng nợ đời,

Cơm Phật rau dưa qua ngày tháng,

Buồn chi lời nói của người đời.

Xả hết cho lòng không vướng bận,

Quên đi cho sạch chẳng chiều mơi,

Ai thương ai ghét đều là bạn,

Lời lẽ khen chê cũng thế thôi.

Giữ vẹn từ bi thêm hỷ xả,

Vào ra ba cõi mặc vui chơi.

1992

Thích Minh Phát

Nam Mô A Di Ðà Phật.

Chày kình tiếng nhẹ buông

Lòng con mãi lo buồn

Mong sao tròn nhân Phật

Ðể ngày tháng qua xuông

Hoàng hôn chiều mưa rơi

Mồ hoang khắp trong đời

Mờ sương lòng không nơi

Hết thời.

Nghĩ ngợi

Bao nhiêu duyên nghiệp người ơi!

Bao nhiêu oan trái trong đời viễn ly.

Xin tròn quả phước hôm ni.

Ngày nay cho đến một khi đạo thành.

Thích Minh Phát 

Nam Mô A Di Ðà Phật.

Xin hoan hỷ giữa chợ đời đen trắng

Chốn phiền ba bao mưa nắng dập dồn

Từ có thân này thành chuyện sớm hôm

Rồi ngày tháng buộc ràng thêm thắt chặt

Giữa thế hệ muôn chuyện ai cũng mặc

Miễn tâm tư hằng mãi nụ cười vui

Cho lòng luôn hòa thuận giữa ngọt bùi

Ðể tạo dựng vuông tròn trong lẽ sống

Muốn tất cả mọi người luôn tự trọng

Muốn thân thương giữa bao cảnh khóc cười

Muốn dung hòa cho sự được mười mươi

Muốn tùy hỷ giữa đất trời tang lệ

Ðời đã có rồi không thôi thì kệ

Kiếp nhân sinh bao thế hệ qua rồi

Nghiệp đa mang đeo đuổi kiếp con người

Thân tứ đại cũng tùy dòng luân tục.

Niệm Di Ðà điều phục lại thân tâm

Thoát trần ai trong sáng tợ trăng rằm

Hầu trở lại tròn đầy ba la mật.

Thích Minh Phát

Nam Mô A Di Ðà Phật.

Sự lý đua nhau giữa chợ đời

Ai người thong thả mặc vui chơi

Gặp nhau hoan hỷ lòng thông cảm

Cho vẹn lòng thương ở với đời.

Cho vẹn lòng thương ở với đời.

Biển trần lặn hụp mãi đua bơi

Nếu không cảnh tỉnh quay đầu lại

Muôn kiếp ngàn năm trả nợ đời.

Muôn kiếp ngàn năm trả nợ đời.

Nơi miền khổ thú mặc vui chơi

Quê xưa cảnh cũ chừng quay lại

Thôi đến liên bang cũng kịp thời

Thôi đến liên bang cũng kịp thời

Nơi miền Phật độ được thảnh thơi

Sanh già đau chết không còn nữa

Niệm Phật nhìn trăng chẳng nợ đời.

Thích Minh Phát

Ðời sống tăng nhàn vui nước non

Yên hà bạn lữ nguyện vuông tròn

Liễu xanh tùng biếc xuân thu mặc

An lạc hạnh tu chẳng mất còn.

Thích Minh Phát

Phần II

Tiểu sử và các điếu văn trong tang lễ

CÁO PHÓ

- THƯỜNG TRỰC BAN TRỊ SỰ THÀNH HỘI PHẬT GIÁO TP.HCM

- BAN ÐẠI DIỆN PHẬT GIÁO QUẬN 10

- BAN QUẢN TRỊ TỔ ÐÌNH ẤN QUANG

- CÙNG MÔN ÐỒ PHÁP QUYẾN

Kính báo tin đến Chư tôn Giáo Phậm, Ðại Ðức Tăng, Ni, Cư sĩ Phật tử

Thượng Tọa THÍCH MINH PHÁT

- ỦY VIÊN TIỂU BAN TỪ THIỆN XÃ HỘI THPG – TP.HCM.

- ỦY VIÊN TỪ THIỆN XÃ HỘI BAN DIỆN PG - QUẬN 10

- PHÓ BAN QUẢN TRỊ TỔ ÐÌNH ẤN QUANG.

- PHÓ GIÁM ÐỐC ÐẠI TÒNG LÂM PHẬT GIÁO

- TRỤ TRÌ CHÙA PHỤNG SƠN - QUẬN 11

- TRỤ TRÌ CHÙA VIÊN GIÁC - QUẬN TÂN BÌNH.

Sau một thời gian lâm bịnh, mặc dù được các bác sĩ Ðông, Tây y đã tận tình chữa trị, nhưng vì sức yếu, Thượng Tọa đã thu thần viên tịch vào lúc 06 giờ 40 ngày 21/3 năm Bính tý (8/5/1996).

Trụ thế: 41 năm

Hạ lạp: 21 năm

LỄ NHẬP QUAN sẽ chính thức cử hành lúc 18 giờ 00 ngày 21/3 năm Bính tý (8/5/1996) tại Tổ Ðình Ấn Quang, số 243 Sư Vạn Hạnh Quận 10.

LỄ DI QUAN và HỎA TÁNG tại Bình Hưng Hòa – Bình Chánh lúc 07 giờ 30 ngày 26/3 năm Bính tý (13/5/1996).

Kính mong Chư tôn Giáo Phẩm, Ðại Ðức Tăng, Ni, Phật tử hoan hỷ quang lâm Tổ Ðình Ấn Quang trợ tiến Giác linh cố Thượng Tọa cao đăng Phật quốc và tiễn đưa kim quan Thượng Tọa đến nơi hỏa táng thật đông đủ và thập phần viên mãn.

NAY CÁO PHÓ

TM. Ban Quản Trị Tổ Ðình Ấn Quang

Cùng Môn đồ pháp quyến

TT. Thích Minh Thành

TM. Thường Trực Ban Trị Sự THPG TP.HCM

Trưởng Ban Tổ Chức Tang Lễ

TT. Thích Trí Quảng

DANH SÁCH BAN TỔ CHỨC TANG LỄ

CỐ THƯỢNG TỌA THÍCH MINH PHÁT

- Ủy Viên Tiểu Ban Từ Thiện Xã Hội THPG – TP.HCM.

- Ủy Viên Từ Thiện Xã Hội Ban Ðại Diện Phật Giáo, Quận 10

- Phó Ban Quản Trị Tổ Ðình Ấn Quang - Quận 10

- Phó Giám Ðốc Ðại Tòng Lâm Phật Giáo - Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Trụ Trì Chùa Phụng Sơn - Quận 11.

- Trụ Trì Chùa Viên Giác - Quận Tận Bình.

I.                   Ban Chứng Minh:

Hòa Thượng Thích Trí Tịnh

Hòa Thượng Thích Thiện Hòa

Hòa Thượng Thích Ðạt Hảo

Hòa Thượng Thích Từ Nhơn

Hòa Thượng Thích Thiện Trì.

II.                Ban Tổ Chức Lễ Tang:

Trưởng Ban: Thượng Tọa Thích Trí Quảng

Phó Ban:          Thượng Tọa Thích Minh Thành

                        Thượng Tọa Thích Nhật Quang

                        Thượng Tọa Thích Thiện Nhơn

                        Thượng Tọa Thích Thiện Tánh

                        Ông Trần Ngọc Bảo - chủ tịch UBMTTQ - Quận 10

Ủy Viên:           Thượng Tọa Thích Minh Cảnh

              Thượng Tọa Thích Tịnh Hạnh

                        Thượng Tọa Thích An Ngộ

                        Thượng Tọa Thích Như Tín

                        Ni Sư Thích Nữ Như Hoa

                        Ni Sư Thích Nữ Như Hòa

                        Ni Sư Thích Nữ Như Ấn

                        Ni Sư Thích Nữ Như Ngọc

                        Ni Sư Thích Nữ Như Hải

                        Ni Sư Thích Nữ Như Dung

                        Ni Sư Thích Nữ Như Quang

                        Ni Sư Thích Nữ Phước Hiển.

III.             Các Tiểu Ban:

1. Tiểu Ban Nghi Lễ

HT. Thích Nhật Thiện

ÐÐ. Thích Lệ Trang

2. Tiểu Ban Nội Dung

TT. Thích Minh Thành

TT Thích Thiện Nhơn

ÐÐ Thích Lệ Trang

3. Tiểu Ban Thư Ký

TT Thích Minh Thông (Nha Trang)

ÐÐ Thích Như Thọ

ÐÐ Thích Tắc Ngộ

4. Tiểu Ban Tiếp Tân

Chư Tăng:

TT. Thích Minh Cảnh

TT. Thích Phổ Chiếu

TT. Thiện Thông

Chư Ni:

NS. Thích Nữ Như Quang

NS. Thích Nữ Như Ngọc

NS. Chùa Diệu Ðức – Long Hoa

Phật Tử:

Ðh. Minh Thiện

Phật tử Ban Hoằng Pháp

Ban Hộ Niệm Tổ Ðình Ấn Quang

5. Tiểu Ban Tiếp Lễ

NS. Thích Nữ Tịnh Ðức

NS. Thích Nữ Như Hải

Chư Ni Các Chùa Từ Nghiêm, Phước Hải, Vạn Hạnh, Thiền Ðức.

6. Tiểu Ban Xướng Ngôn

TT. Thích Chơn Thanh

ÐÐ. Thích Chơn Thành

ÐÐ. Thích Nhật Hỷ

7. Tiểu Ban Thủ Quỹ

ÐÐ Thích Thiện Hảo

ÐÐ Thích Thiện Phát

8. Tiểu Ban Trần Thiết

ÐÐ. Thích Minh Chiếu

ÐÐ. Thích Thiện Hậu

Cư Sĩ Tổ Ðình Ấn Quang

9. Tiểu Ban Trật Tự

TT. Thích Như Tín

ÐÐ. Thích Thiện Ngộ

Chư Tăng Các Chùa Giác Ngộ

10. Tiểu Ban Trai Soạn

Chư Ni Chùa Dược Sư

11. Tiểu Ban Hành Ðường

Chư Ni Các Chùa Từ Nghiêm, Viên Quang, Vạn Hạnh, Phước Hải, Phước Hiền, Kim Liên, Thiền Ðức.

12. Tiểu Ban Hương Ðăng Chung Cổ

Chúng Chùa Ấn Quang

13. Tiểu Ban Hầu Kim Quang

ÐÐ. Thích Tắc Ngộ

ÐÐ. Thích Minh Lương

ÐÐ. Thích Quảng Phước

14. Tiểu Ban Âm Thanh Ánh  Sáng

Minh Lực, Lệ Tâm

Anh Thanh

15. Tiểu Ban Y Tế

Diệu Hiền, Diệu Tâm, Bác sĩ Mai

16. Tiểu Ban Hiếu Ðồ

Quảng Tâm, Quảng Chơn, Quản Chánh, Quảng Phước, Quảng Huệ, Quảng Thanh, Quảng Thân.

17. Tiểu Ban Thủ Kho

Ban Tri Khách Chùa Ấn Quang

18. Tiểu Ban Vận Chuyển

Ban Tri Khách Phối Hợp Ban Trật Tự

19. Tiểu Ban Thị Giả

Chúng Chùa Ấn Quang

20. Tiểu Ban Vệ Sinh

Thầy Tuệ Không

21. Tiểu Ban Giữ Xe

Phường 9 - Quận 10 phụ trách.

BAN TỔ CHỨC TANG LỄ.

Chương Trình Tang Lễ

Cố Thượng Tọa THÍCH MINH PHÁT

Ngày 21-3 ÂL (8-5-1996)

18 giờ: Lễ nhập quan

20 giờ:              Luân phiên tụng niệm.

Ngày 22-3 ÂL (9-5-1996)

07 giờ:              Luân phiên tụng niệm

08 giờ: Lễ thành phục

09 giờ:              Lễ cúng ngọ

10 giờ: Tiến Sư

11 giờ: Thọ trai

14 giờ: Các phái đoàn phúng viếng

18 giờ: Khai kinh

20 giờ: Luân phiên tụng niệm

Ngày 23-3 ÂL (10-5-1996)

07 giờ:              Luân phiên tụng niệm

08 giờ: Các phái đoàn phúng viếng

09 giờ:              Cúng ngọ

10 giờ: Tiến Sư

11 giờ: Thọ trai

14 giờ: Các phái đoàn phúng viếng

20 giờ: Luân phiên tụng niệm

Ngày 24-3 ÂL (11-5-1996)

07 giờ:              Luân phiên tụng niệm

08 giờ: Các phái đoàn phúng viếng

09 giờ:              Cúng ngọ

10 giờ: Tiến Sư

11 giờ: Thọ trai

14 giờ: Các phái đoàn phúng viếng

20 giờ: Luân phiên tụng niệm

Ngày 25-3 ÂL (12-5-1996)

07 giờ:              Luân phiên tụng niệm

08 giờ: Lễ thành phục

09 giờ:              Cúng ngọ

10 giờ: Tiến Sư

11 giờ: Thọ trai

14 giờ: Các phái đoàn phúng viếng

18 giờ: Khai kinh

20 giờ: Luân phiên tụng niệm

Ngày 26 – 3 ÂL (13-5-1996)

07 giờ: Lễ di quan (có chương trình riêng).

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỘI ÐỒNG CHỨNG MINH

Số; 003/QÐ/HÐCM

TP. Hồ Chính Minh, ngày 10 tháng 5 năm 1996

QUYẾT ÐỊNH

VỀ VIỆC TRUY PHONG CỐ ÐẠI ÐỨC THÍCH MINH PHÁT

LÊN HÀNG GIÁO PHẨM THƯỢNG TỌA

Thay mặt Hội Ðồng Chứng Minh kiêm Phó Chủ Tịch Thường Trực Hội Ðồng Trị Sự GHPGVN

- Căn cứ quyết định số 83 – BT ngày 29/12/1981 của Bộ Trưởng Tổng Thư ký HÐBT về việc cho phép thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam;

- Căn cứ nghị quyết đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ III Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, ngày 4/11/1992 tại Hà Hội;

- Căn cứ điều 41, 42 chương IX Nội quy Ban Tăng sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam về việc truy phong giáo phẩm;

- Xét đề nghị của Ban Trị Sự Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh;

- Xét công lao đóng góp tích cực cho Phật sự Giáo Hội;

Quyết Ðịnh

Ðiều I:

Nay truy phong cố Ðại Ðức Thích Minh Phát, Ủy viên Ban Từ thiện Xã hội Trung Ương, Ủy viên Tiểu ban Từ thiện Xã hội Thành hội Phật Giáo TP. HCM, lên hàng Giáo Phẩm Thượng Tọa, kể từ ngày ký quyết định này.

Ðiều II:

Ban Thường Trực Hội đồng Trị sự, Ban Tăng sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP. HCM có trách nhiệm thi hành quyết định này.

TM. HÐ CHỨNG MINH

Kiêm P. CHỦ TỊCH H. Ð. TRỊ SỰ GHPGVN

HT. THÍCH THIỆN HÀO

Nơi nhận:

Như điều II “để thi hành”.

UBND, BTG, MTTQ TP.HCM “ kính tường”.

Lưu VP1-VP2.

Tiểu Sử

Cố Thượng Tọa Thích Minh Phát

(1956 – 1996)

-         Ủy Viên Từ Thiện Xã Hội TW. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

-         Ủy Viên Từ Thiện Xã Hội Thành Hội Phật Giáo TP. HCM.

-         Ủy Viên Từ Thiện Xã Hội Ban Ðại Diện Phật Giáo Q. 10

-         Phó Giám Ðốc Ðại Tòng Lâm Phật Giáo - Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

-         Trụ Trì Chùa Viên Chùa Viên Giác – Q. Tân Bình.

-         Trụ Trì Chùa Phụng Sơn – Q.11

I) Thân Thế:

Thượng Tọa thế danh Lê Nhựt Nguyên, pháp danh Nguyên Ðức, pháp hiệu Minh Phát. Sinh ngày 20 tháng 06 năm 1956 (Bính Thân) tại Chợ Lớn (nay là Quận 10, TP. Hồ Chí Minh). Phụ thân là ông Lê Thành An, mẫu thân là bà Trương Thị Ba, song thân đều đã từ trần. Thượng Tọa được bảy anh chị em, Thượng Tọa là người thứ tư trong gia đình.

II) Thời Gian Xuất Gia Học Ðạo:

Ðược sinh ra trong một gia đình nhân hậu, đời đời kính tin Tam Bảo và sẳn túc duyên nên vừa biết đòi ăn là Thượng Tọa đã ăn chay; lại gia đình may được ở gần chùa nên Thượng Tọa thường theo mẹ sang chùa lạy Phật. Nhờ đó mà hạt giống Bồ Ðề ngày càng phát triển.

Năm 1964, Thượng Tọa được song thân cho xuất gia học đạo với cố Hòa Thượng Thích Thiện Hòa, viện chủ Tổ Ðình Ấn Quang – Giám Ðốc Phật Học Ðường Nam Việt. Kể từ đó, hôm sớm kệ kinh siêng năng hành đạo, Thượng Tọa cùng với sư huynh Minh Thành giữ chức thị giả hầu cận Hòa Thượng Bổn Sư; Nhờ gần gũi chư vị Cao Tăng Tôn đức nên chủng trí vô sư nhiều đời huân tập nhân đây là tăng trưởng.

Năm 1971, Thượng Tọa thọ giới Sa Di với cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ tại giới đàn Tu viện Quảng Ðức (Thủ Ðức).

Năm 1975, Với hạnh nguyện sâu dầy, oai nghi đĩnh đạc, đáng làm pháp khí Ðại thừa, Thượng Tọa được Hòa Thượng Bổn Sư cho thọ giới Tỳ kheo và Bồ Tát tại giới đàn chùa Pháp Giới (Cầu Tre – Tân Bình) do cố Hòa Thượng Thích Hành Trụ làm Ðường Ðầu Hòa Thượng.

III) Thời Kỳ Hóa Ðạo:

Năm 1974, khi Hội Ðồng Quản Trị Tổ Ðình Ấn Quang và các cơ sở trực thuộc được thành lập, Thượng Tọa được cử làm chức Phó Tổng Quản Sự, kiêm chức Tri khố Tổ Ðình Ấn Quang, chăm lo công việc ăn ở cho đại chúng một cách chu toàn cho đến ngày viên tịch.

Năm 1976, vâng lệnh Hòa Thượng Bổn Sư và theo sự tha thiết thỉnh cầu của Phật tử chùa Viên Giác, Thượng Tọa kiêm nhậm chức Trụ Trì chùa Viên Giác - Quận Tân Bình; và nơi đây cũng chính là nơi thế độ chúng đệ tử Ưu Bà Tắc xuất gia.

Năm 1978, sau khi Hòa Thượng Bổn Sư viên tịch, Thượng Tọa được cử làm chức Phó Giám Ðốc Ðại Tòng Lâm Phật Giáo ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Cũng năm này, Thượng Tọa xây dựng chùa Viên Dung ở xã Linh Ðông, huyện Thủ Ðức trên phần đất do Phật tử Diệu Hạnh dâng cúng, là nơi tiếp nhận chúng đệ tử Ưu Bà Di xuất gia.

Năm 1992, theo lời thỉnh cầu của Hòa Thượng Phước Quang - Trụ trì chùa Phụng Sơn, Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh đã bổ nhiệm Thượng Tọa về trụ trì chùa Phụng Sơn.

Năm 1993, Sau khi Ðại Hội Phật Giáo toàn quốc kỳ III, Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh lần thứ IV, Thượng Tọa được mời làm Ủy Viên Ban Từ Thiện Xã Hội Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Ủy Viên Tiểu Ban Từ Thiện Xã Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh và Ủy Viên Ban Từ Thiện Xã Hội Phật Giáo Quận 10.

Sau ngày 19 tháng 09 năm Quý Dậu, Hòa Thượng Tổng Quản Sự Tổ Ðình Ấn Quang viên tịch, Thượng Tọa là một trong bốn Thượng Tọa lãnh đạo của Tổ Ðình Ấn Quang, và ThượngTọa đã đảm nhận chức Phó Ban Quản Trị kiêm Tri Sự điều hành mọi sinh hoạt của Tổ Ðình cho đến ngày viên tịch.

Bằng giới đức trang nghiêm thanh tịnh, mô phạm chốn tòng lâm biểu tượng nơi quy hướng cho Tăng Ni và Phật tử, trong những thập niên 1975-1995, Thượng Tọa đã từng đảm nhận các chức vụ Phó Ban Kiến Ðàn, Dẫn Thỉnh Sư trong các Ðại giới đàn để truyền trao giới pháp cho Tăng Ni, Phật tử. Qua đó từng hàng giới tử đạo thể trang nghiêm, giới đức thanh tịnh trở thành người hữu ích cho đạo pháp và cho xã hội.

Trong sự nghiệp kế thừa đạo mạch, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, Thượng Tọa đã thế độ cho hơn một trăm Tăng Ni xuất gia tu học và hàng ngàn Phật tử quy y Tam Bảo, thực hiện hạnh nguyện lợi tha, tu tâm hành thiện, đẹp đạo tốt đời. Ngoài trọng trách vận động tài chánh ẩm thực cho Trường Cơ Bản Phật Học Ðại Tòng Lâm, Ni viện Thiện Hòa, Thượng Tọa còn nổ lực yểm trợ cho các trường Cơ Bản Phật Học các tỉnh, thành tại một số địa phương, góp phần đào tạo Tăng Ni tài đức cho Giáo Hội và Tỉnh Hội, Thành Hội Phật Giáo trong cả nước.

Bằng công đức trang nghiêm ngôi Tam Bảo là trang nghiêm Tịnh độ của chư Phật, Thượng Tọa đã kế thừa sự nghiệp của cố Hòa Thượng Bổn Sư, đã nổ lực vận động tài chánh trùng tu ngôi Tổ Ðình Ấn Quang, chùa Long Triều, kiến thiết Ðại Tòng Lâm Phật Giáo, chùa Huệ Nghiêm, chùa Dược Sư, Chùa Viên Giác, chùa Phụng Sơn và chùa Khánh Ðức (sông Bé), làm trang nghiêm đạo tràng xứng đáng là cơ sở sinh hoạt tín ngưỡng của Giáo Hội tại địa phương. Ngoài ra Thượng Tọa còn ủng hộ công tác trùng tu, xây dựng một số lớn cơ sở tự viện tại các tỉnh, thành trên địa bàn cả nước.

Nêu cao tinh thần vô ngã vị tha, từ bi cứu khổ của đạo Phật, Thượng Tọa đã thể hiện tinh thần ưu đời mẫn thế, hạnh nguyện từ bi vô hạn, qua các mặt công tác từ thiện xã hội trên khắp mọi miền đất nước; nơi nào có thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn; bịnh tật, đói khát là nơi đó có hình ảnh và tài vật cứu trợ của Thượng Tọa. Có thể nói Ngài là biểu hiện của tình thương, là sự sống của người đau khổ, trong ý nghĩ hạnh nguyện của một vị Bồ Tát hiện thân.

Qua phúc đức trang nghiêm, túc duyên thù thắng, hạnh nguyện kỳ diệu, năng lực phi thường, có thể nói Thượng Tọa là Y Chỉ Sư cho toàn thể Ni giới. Nhất là đối với những hàng Tăng Ni, Phật tử có đủ thiện duyên khi được diện kiến, qua lời từ nhã, cử chỉ dịu dàng, tỏa sáng gương lành, tâm hồn thuần hậu của Thượng Tọa, tất cả đều được an lạc thỏa mãn mong cầu và phước lành thêm lớn, trong ý nghĩ diệu lực thù thắng bất khả tư nghì của đạo Phật.

Ngoài ra, Thượng Tọa còn dành nhiều thời gian biên soạn những tác phẩm để lưu lại cho hậu thế, gồm có:

- Ðời sống Ðức Ðiều Ngự.

- Xuân Vô Năng Thắng.

- Giai thoại nhà Thiền.

- Các nghi thức tụng niệm và chúc tán.

- Khoa cúng Tổ Kiều Ðàm Di Mẫu.

- Tu chỉnh Giới Ðàn Ni.

- Các tập thi phú v.v…

Với tinh thần hoằng dương chánh pháp lợi lạc quần sanh, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, hơn nửa cuộc đời phụng sự đạo pháp và chúng sanh - tốt Ðạo đẹp Ðời, Thượng Tọa đã được Giáo Hội, Thành Hội Phật Giáo, Ủy Ban Nhân Dân, Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố và Quận 10 tặng bằng Tuyên Dương Công Ðức, các bằng khen và giấy khen đủ loại.

IV) Thời Kỳ Viên Tịch:

Kể từ năm 1994, Thượng Tọa đã trải qua cơn bệnh ngặt nghèo, sức khỏe có phần giảm sút. Nhưng Thượng Tọa vẫn nỗ lực kiên trì thi hành Phật sự, lợi lạc quần sanh, quyết tâm đi cho trọn con đường phụng sự đạo pháp và nhân sinh. Nhưng lực bất tòng tâm, như Cổ đức dạy:

Bầu thuốc thánh đâu cứu được người hết số,

Chén linh đơn sao chữa được bệnh nan y.

Thế rồi ngày qua tháng lại, sức khỏe Thượng Tọa kém dần theo cơn bệnh, nhưng Thượng Tọa vẫn tỉnh giác chánh niệm an nhiên tự tại, sinh hoạt bình thường trong ý niệm sinh tử nhàn nhi dĩ. Và sau một cơn bệnh nhẹ, Thượng Tọa đã  xả báo an tường, thu thần thị tịch, trở về thế giới Niết bàn bất sinh bất diệt vào lúc 6 giờ 40 phút ngày 21 tháng 03 năm Bính Tý (nhằm ngày 08-05-1996), trụ thế 41 năm, Hạ lạp trải qua 21 mùa An Cư Kiết  Hạ.

Thế là Thượng Tọa đã ra đi vĩnh viễn, bỏ lại các pháp hữu vi giả tạm, hạnh nguyện chưa tròn, đường phụng sự đạo pháp và chúng sanh còn nhiều người mong đợi, chờ ơn; nhưng cõi Ta bà đã khuất bóng vì sao, miền Cực Lạc thêm trang Thượng Sĩ. Tuy nhiên công đức của Thượng Tọa đã cống hiến cho đạo pháp và chúng sanh sẽ còn sống mãi trong tâm tư những người con Phật và vạn loại hàm linh, trong ý nghĩa pháp giới vô biên, viên dung vô ngại qua những kiếp lai sinh trần thế cho đến khi chứng quả Bồ đề.

Phụng vì Ấn Quang Ðường Thượng, Từ Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Tứ Thế, húy Nguyên Ðức, hiệu Minh Phát Thượng Tọa Giác linh Thiền tọa.

LỜI TƯỞNG NIỆM

GIÁC LINH THƯỢNG TỌA THÍCH MINH PHÁT

của BAN QUẢN TRỊ TỔ ÐÌNH ẤN QUANG và CHỨ PHÁP HỮU

NAM MÔ TIẾP DẪN ÐẠO SƯ A DI ÐÀ PHẬT

KÍNH GIÁC LINH THƯỢNG TỌA MINH PHÁT

Trong giờ phút nghìn thu vĩnh biệt này, trước khi tiễn đưa kim quan Thượng Tọa đến nơi trà tỳ. Chúng tôi xin thay mặt Ban Quản Trị Tổ Ðình Ấn Quang và Quý pháp hữu có đôi lời tưởng niệm một người đồng hành, đồng sự, một người bạn muôn đời trong chánh pháp.

Kính Giác Linh Thầy Minh Phát

Biển nghiệp thức giờ đây đã lặng sóng

Trời trăng sao đã in đậm nét vô thường giữa dòng bất diệt

Bên này bờ sinh diệt, lời nào đây nói lên cho cùng

Trong thế giới Niết bàn, lời nào đây nói lên cho tận!

Nhớ Giác linh xưa, từ chân tánh hiện thân Ðại sĩ, đức tính hiền hòa, sớm gieo duyên cùng đạo cả. Quyết chí xuất trần từ thuở nhỏ, chốn Ấn Quang tỏ chí đạo mầu. Ðường giải thoát lâng lâng nhẹ bước. Vượt trần gian siêu thoát thường tình. Quả thật bỏ ngoài ngàn dặm lòng tham dục, để lẽ huyền vi mãi ở trong.

Rồi đã đến độ tâm hoa khai phát, suối nghĩa dạt dào. Thiên tư đỉnh ngộ, mật khế chân như, tiềm phù Tổ ấn, nối dõi môn phong, làm sáng danh con nhà họ Thích ngàn đời.

Mỗi bước chân đi là bao niềm an lạc, mỗi lời giảng pháp là sự giải thoát tràn đầy. Cử chỉ khoan thai, tiêu tan bao khổ lụy. Từ bi vô ngã, hỷ xả bao dung, quyết chí độ sinh, tùy duyên đa phương tiện. Một thân thị hiện, một kiếp hóa duyên, thỏa chí phỉ nguyền thừa hành Phật sự khắp mọi miền quốc độ. Ðạo đời lợi ích, một thể vuông tròn, ngàn năm còn mãi khắc ghi ơn tế độ.

Biết bao Phạm vũ, mấy chốn Tòng lâm, hàng vạn Ðạo tràng trang nghiêm thanh tịnh. Rừng thiền hoa nở, hương giới bay xa, chan hòa pháp giới. Chúng sinh ngưỡng mộ, thất chúng quy y. Ðạo tục sum vầy tình pháp lữ, nghĩa chúng sinh đồng thể đại bi. Ân đức ấy ví cao như núi, sánh tợ biển Ðông. Thực vậy:

“Hữu duyên vạn dặm còn tạn mặt

Vô duyên gặp mặt vẫn cách lòng”.

Thầy có nhớ chăng! Từ ngày sơ ngộ đến nay, xuân qua hạ lại, hơn ba mươi năm thắt chặt thâm tình. Tình Ðạo Pháp, tình Linh Sơn thuở trước. Chúng ta đã cùng nhau chan hòa tình Ðạo pháp, nghĩa Thích tử côn bằng, chung lo Phật sự, phụng sự chúng sinh, thượng hoằng hạ hóa nêu cao chí cả. Như Cổ Ðức đã nói:

“ Cây khô xuân đến hoa nở rộ,

Gió thoảng ngàn xa hương ngát bay”.

Nhưng hỡi ôi! Những tưởng tình đạo pháp trọn đời vạn kiếp chốn Ấn Quang kết cỏ ngậm vành. Quyết thượng hoằng hạ hóa chúng sinh, tục Phật huệ đăng truyền trì đạo. Nào ngờ đâu, một phút vô thường, âm dương cách biệt. Thầy đã đến và đi theo định luật vô thường. Quả thực:

“Duyên trần nay sớm vội chia bôi.

Hoa đàm sớm rụng, lệ rơi đôi dòng.”

Sự ra đi vĩnh viễn của Thầy không những là một sự mất mát lớn lao của Giáo Hội, cho Tăng Ni, Phật tử cũng như môn đồ tứ chúng, mà còn cho tập thể Linh Sơn cốt nhục Ấn Quang này. Từ nay, trên suốt đoạn đường còn lại của kiếp người, chúng tôi làm sao tìm lại được hình ảnh của một bậc hiền Tăng khả kính, làm mẫu mực cho mọi người cho đến khi hơi thở sắp tàn. Hết lòng phụng sự đạo pháp, phục vụ chúng sinh không biết mỏi cho đến khi hơi thở sắp tàn. Than ôi:

“Người xưa nay đã còn đâu

Chỉ còn mây bạc, lòng sầu tiếc thương.

Ra vào lòng dạ vấn vương,

Bóng hình Ðại sĩ du phương xa mờ.”

Giờ đây, niềm Tịnh cảnh Giác linh Thầy đã tiêu diêu tự tại, chứng vô sinh xin trở lại Ta bà, để cùng nhau kết giữa chan hòa, tình Pháp lữ Linh Sơn bất diệt. Chi đến khi nhân tròn quả mãn. Ðường giải thoát thong dong tự tại, giữa trần ai nhậm vận độ sanh, chứng viên thành đạo quả.

Hôm nay, trong phút vô thường, giữa trong lòng bất diệt, Thầy đã ra đi trở về thế giới Niết bàn, vô sanh bất diệt. Nhưng công đức, đạo hạnh của Thầy đã hiến dâng cho đạo pháp cùng chúng sinh vẫn còn sống mãi trong tâm tư, trong ký ức chúng tôi và những người con Phật. Cũng như Tăng Ni, Phật tử và chúng sinh trong tình Pháp giới viên dung vô ngại. Quả thật:

“Một mai thân xác tiêu tan,

Danh thơm vẫn ở thế gian muôn đời

Pháp thân lồng lộng sáng ngời

Sáng soi nhân thế rạng ngời chân như”.

Ðồng thời, chúng tôi xin thay mặt Ban Quản Trị Tổ Ðình Ấn Quang cùng chư Pháp hữu, những người bạn đồng hành, đồng sự Pháp lữ Ðại thừa của cố Thượng Tọa nguyện đoàn kết hòa hợp một lòng, kề vai sát cánh bên nhau, nỗ lực hoàn thành sứ mệnh và đoạn đường còn lại mà Thầy đã bỏ dở, đã góp phần xây dựng trang nghiêm, huy hoàng và hưng thịnh chốn Tổ Ấn Quang, cũng như các cơ sở liên hệ mà Thầy đã dày công xây dựng và hộ trì, càng phát triển trang nghiêm trong lòng dân tộc, làm tốt Ðạo đẹp Ðời.

Cuối cùng xin Thầy cùng chúng tôi kính nguyện:

Linh Sơn nghĩa cũ tình xưa

Ta bà Tịnh độ say sưa pháp mầu

Kiếp sau xin nhớ nguyện đầu

Xây tình Pháp lữ, bắt cầu tâm giao

Ðời nay đến những đời sau

Chung lo Phật sự với bao nhiêu tình

Quyết lòng độ tận chúng sinh

Từ bi, trí tuệ thỏa tình ước mong

Không rời bản thể chân không

Tùy duyên ứng hiện thong dong mọi miền.

Thôi, nơi thế giới Niết Bàn, xin Thầy hãy ngao du tự tại.

Xin vĩnh biệt Thầy!

Nam Mô Ấn Quang Ðường Thượng, Từ Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Tứ Thế, Húy Nguyên Ðức, Hiệu Minh Phát Thượng Tọa Giác Linh Thiền Tọa Chứng Minh.

ÐIẾU VĂN

của Chư Ni các Tự Viện TP. HCM do Ni Trưởng đọc trước Kim Quan Cố Thượng Tọa Thích Minh Phát

- Phó Viện Chủ Tổ Ðình Ấn Quang - Quận 10.

- Phó Giám Ðốc Ðại Tòng Lâm Phật Giáo Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Ủy Viên Ban Từ Thiện Thành Phố Hồ Chí Minh.

- Trụ Trì Chùa Viên Giác - Quận Tân Bình

- Trụ Trì Chùa Phụng Sơn - Quận 11 – TP. HCM.

Nam Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo tác đại chứng minh.

Nam Mô Ðiều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh.

Ngưỡng bạch chư Tôn Thiền Ðức trong Ban Tổ Chức Tang Lễ cùng môn đồ pháp quyến.

Ngưỡng bạch Giác linh cố Thượng Tọa thùy từ chứng giám.

Trong giờ phút trang nghiêm thanh tịnh, chúng con kính cẩn nghiêng mình trước kim quan cố Thượng Tọa, để tỏ lòng quý tiếc bậc Cao Ðăng Thạc Ðức đã sớm lìa trần thế trở về giác tánh chơn nguyên.

Hỡi ôi!

Sóng khổ hải lao xao

Trời chơn như tịch mịch

Bậc đống lương một phút xa lìa

Ngôi long tượng nghìn thu cách biệt

Trăng Lăng Già im bóng

Mây Phổ Ðà ngừng trôi.

Thượng Tọa phút chốc bỗng về nơi tịch diệt. Ðành rằng cuộc thế vô thường, thăng trầm luân chuyển, dừng sanh diệt thay đổi liên tục không ngừng, sinh ly tử biệt là lẽ tức sắc tức không, nhưng hôm nay trước lò trầm hương đang quyện tỏa, đưa Thượng Tọa đến nơi an nghĩ nghìn thu. Trong cảnh thành, trụ, dị, diệt chúng con không sao khỏi bồi hồi xúc cảm, khi hình bóng từ hòa của Thượng Tọa từ nay vĩnh biệt.

Ôi! Kể từ nay Giáo Hội mất đi một bậc Cao Tăng sáng suốt, hàng Ni Tăng vắng bóng bậc Giới đức vẹn toàn, tín đồ Phật tử mất đi bậc Ðại Sư gương mẫu, thật không sự mất mát nào bằng.

Kính bạch Giác linh Thượng Tọa,

Chúng con vẫn biết, biển trầm luân vốn sắc không chuyển hóa, nay cảnh sắc không chốn Tổ hiện, sự nghiệp hoằng dương pháp của Giáo Hội còn đây, mà Ngài đành dạo gót về Tây, giả từ tất cả.

“Quảy dép về Tây chốn nghỉ ngơi

Hạc vàng cất cánh ngắm phương trời

Huyễn thân trả lại nơi trần thế

Giã biệt hôm nay có mấy lời”.

Ngài là bậc Thiệu Long Thánh Chủng, là vị Tứ chúng Trung Tôn, đống lương Phật pháp. Luôn luôn quan tâm đến việc đào tạo Tăng tài. Duy trì mạng mạch Như Lai. Trong chốn thiền môn Ngài là vị đức độ khoan dung, đã hướng dẫn Tăng, Ni, tín đồ theo con đường đạo pháp chân chính. Ngài đã hy sinh trọn đời vì đạo. Cuộc sống hạnh đức trang nghiêm của Ngài là tấm gương phản chiếu cho Tăng Ni chúng con. Cuộc đời hành đạo của Ngài đã nói lên hạnh nguyện lợi tha chẳng khác nào ngọn hải đăng chiếu sáng muôn dặm nơi biển khơi sanh tử. Ngài là hiện tàng tự tại đi ở khôn lường như: “Bóng nhạn liệng giữa trời xanh, đâu mong in dấu chân trên mặt hồ”.

Ngưỡng bạch Giác linh Ngài, để lòng tôn kính và báo đáp thâm ân Ngài, chúng con thành tâm noi gương cao cả của Ngài nguyện tích cực tuyên dương chánh pháp, nỗ lực thành tựu lý tưởng giải thoát, trang nghiêm Giáo Hội giữ vững tôn chỉ thuần túy của đạo Pháp, thăng hoa trên bước đường hành đạo. Hướng dẫn mọi người thẳng tiến trên lộ trình giác ngộ an vui cứu cánh, hầu báo đáp hồng ân chư Phật trong muôn một.

Giờ đây, chúng con quỳ trước kim quan một lòng thành kính đốt nén tâm hương dâng lên cúng dường mười phương chư Phật và kính điếu Giác linh Ngài, nguyện cầu Giác linh Thượng Tọa cao đăng Phật quốc, bất xả từ bi, thùy quang đổng chiếu, hồi nhập Ta bà, hóa độ chúng sanh, viên thành Chánh giác. Ngưỡng nguyện Ngài thùy từ chiếu giám. Ðồng thời chúng con cũng không quên thay mặt chư Tôn đức Ni các Tự viện (Ni bộ) thành tâm phân ưu cùng chư Tôn Ðức môn nhơn pháp quyến, chân thành kính chúc chư Tôn Thiền Ðức pháp thể vô biên an lạc để nêu cao đuốc tuệ chánh pháp.

Nam Mô Lạc Bang Giáo Chủ Ðại Từ Ðại Bi A Di Ðà Phật tác đại chứng minh.

ÐIẾU VĂN CỦA MÔN ÐỒ PHÁP QUYẾN

Siêu tiến Giác linh Bổn Sư, Sa Môn Thích Minh Phát viên tịch ngày 21 tháng 3 năm Bính Tý

Than ôi!

Kể từ nay:

Ðàn truyền giới vắng Thầy Ðiển Lễ

Chùa Ấn Quang khuất bóng Ân Sư

Nước Cực Lạc sen khai chín phẩm

Cõi Ta bà an giấc ngàn thu.

Nhớ Thầy xưa:

Căn trần thanh tịnh, xuất gia từ lúc tuổn còn thơ,

Bẩm tánh hiền hòa, hoằng pháp từ khi vừa tiến Cụ,

“Với gió mát trăng thanh kết bạn,

Cùng hoa Ðàm đuốc tuệ làm duyên.”

Từ đây, nơi pháp hội thêm người thoát tục,

Do đó, giới Tăng Ni có bậc siêu trần.

Mồi tửu sắc nhường cho trần thế,

Bả lợi danh đoạn tuyệt tâm hồn,

Nhịp mõ sớm, khua tan đêm trường mộng,

Tiếng chuông khuya, thức tỉnh kẻ đam mê.

Sẵn túc nhơn, trí tuệ biện tài,

Chân tham lễ nào đất Bắc, nào Trung phần, nào Nam Việt thân hầu nhiều chốn Tổ.

Theo đại nguyện, thi ân bố đức,

Kết duyên lành những Ai Lao, những Thái quốc, những Cao Miên du hóa khắp Ðông Nam.

Ðã tới lúc:

Trụ Pháp Vương gia,

Trì Như Lai tạng.

Thầy đương gia chức Phó Quản Sự Ấn Quang, Ðại Tùng Lâm Phật Giáo.

Rồi gặp khi:

Hoằng dương chánh pháp,

Tiến dẫn hậu côn,

Thầy lãnh trụ trì chùa Viên Giác, Viên Dung, cùng chùa Gò di tích

Những tưởng:

Ðộ sanh duyên mãi

Hóa đạo còn dài,

Ngờ đâu:

Tuổi đời chưa lão

Duyên bệnh lại nhiều.

Cho dù:

Linh đơn Biển Thước khó đuổi bệnh căn,

Diệu dược Kỳ Bà khôn xua thần chết.

Than ôi!

Ân xưa nhớ mãi

Tang mới buồn hoài

Sư, nay hóa duyên đã hết

Thầy, thần đạo chốn Liên bang

Lý vô thường sắc sắc không không

Thân tứ đại sanh sanh diệt diệt

Mơ màng dáng dấp ngàn thu, mưa mờ dấu bước;

Phảng phất mộng hồn muôn thuở, khói tỏa hình dung.

Thôi từ nay!

Phật giáo mất đi một vị chân tu đại hạnh;

Tín đồ thiếu hẳn bậc thầy chỉ lối đưa đường.

Khắp mọi miền bùi ngùi luyến tiếc,

Bao Phật tử gạt lệ chia ly.

Môn đồ vắng lặng tiếng Pháp âm,

Hiếu quyến không còn lời khuyên bảo.

Giờ đây trước linh cữu,

Hương trầm nghi ngút,

Ðèn tuệ sáng ngời.

Lời nguyện cầu cao đăng thượng phẩm,

Nhạc tiễn đưa vĩnh biệt thầy hiền.

Thuyền giải thoát xuôi buồm về đất Phật;

Hình Ân Sư đẹp mãi dưới trời Nam.

Ngửa mong linh giác thùy từ,

Dũ ánh quang minh chiếu giám.

Nam Mô Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật.

Thích Quảng Chơn kính ghi.

VĂN ÐIẾU

của HUYNH ÐỆ ÐỒNG MÔN

Than ôi!

Mưa chiều khói nước mịt mờ, thuyền con lạnh lẽo,

Ðêm vắng đèn thiền leo lét, trượng thất quạnh hiu.

Tìm dáng dấp thêm buồn,

Nhìn di dung càng nhớ.

Nay tông môn huynh đệ, bốn chúng Tăng Ni thuộc môn hạ của cố Hòa Thượng Bổn Sư thượng Thiện hạ Hòa.

Giờ này, đối trước linh đài, nghẹn ngào đau xót!

Nghĩ rằng: Thầy!

Ra đời độ sanh, hiện huyễn tướng như trăng lồng đáy nước,

Tùy cơ tiếp vật, tìm chơn thân như hiện bóng trong gương.

Nhớ Thầy, người:

Tánh hòa trăng trắng

Mắt tách hoa mờ.

Xứng danh huynh đệ nương gần

Ðáng bậc đàn na trọng vọng.

Nào ngờ:

Trần gian lặng bóng

Thánh cảnh an thần

Vẫn biết rằng tức sắc tức không

Nhưng xót nỗi nào sanh nào diệt.

Than ôi!

Vang bóng tìm nơi nao,

Người không pháp có sao,

Không đi vì không đến,

Chim in dấu trời cao.

Xin kính chúc Thầy,

Ðến nước Như Lai tiêu diêu muôn thuở,

Vào nhà Từ Phụ an nghỉ ngàn thu.

Và thầm gia hộ cho:

Ấn Tổ vuông tròn, Tăng Ni hòa hiệp,

Tôn Phong trong trắng, thiện tín triêm ân.

Tất cả một lòng,

Dâng hương mặc niệm.

Nam mô Phụng Vì Ấn Quang Tự, Từ Lâm Tế Chánh Tôn, Tứ Thập Tứ Thế, húy Nguyên Ðức, hiệu Minh Phát Ðại Sư Giác linh.

Thích Minh Thông (Nha Trang)

Ðiếu Văn

Nam mô A Di Ðà Phật.

Ðược ai tin Thầy đã an nhiên thị tịch, chúng tôi Ban Kinh Sư chùa Ðịnh Thành cùng Tăng, Ni, Phật tử, và chư Phật tử môn hạ chùa Viên Giác, cùng nhau về trước linh đài, xin thắp nén tâm hương cúng dường trợ tiến.

Kính bạch Giác linh Thầy:

Thầy vẫn thường nói:

Ta bà là cõi tạm, nơi gởi thân sanh tử trăm năm,

Cực Lạc ấy quê hương, chốn an mạng Niết bàn muôn thuở.

Thâu thần mà thẳng đến Vô dư,

Tình pháp lữ phải thăm phải viếng.

Bạch Thầy:

Mới ngày nào,

Thầy còn đăng đàn tuyên dương chánh pháp

Tôi thì niệm chùy kích cổ xuy loa

Tình huynh đệ say sưa đạo vị

Nghĩa kim bằng công án cùng tham.

Nghĩ cũng tưởng:

Cái gót tùy duyên vẫn mãi

Nụ cười hỷ xả luôn hoài.

Nào ngờ đâu:

Cửa trần gian lặng khép

Sen Cực Lạc liền khai

Thôi từ nay!

Trăng lạnh phương bào

Mây mờ viên đảnh

Một bước chia tay muôn thuở

Giữa đường rẽ gánh ngàn thu.

Giờ này trước linh tòa phảng phất mộng hồn như thật, đau buồn kẻ ở người đi.

Chúng tôi kiều cần năm vóc, qui mạng Phật Ðà dâng hương kính nguyện:

Trên ao cửu liên sáng soi đưa xuống

Trong nhà Tam Bảo hoa rải rước về

Ðộ sanh còn nhớ lời thề

Tiếp chúng chưa quên ý nguyện

Tái lai thị hiện ứng hóa độ sanh.

Nam Mô Sanh Phật Quốc Bồ Tát Ma Ha Tát.

Thích Lệ Trang kính ghi

Cảm niệm Ân Sư

của toàn thể Môn Ðồ Pháp Quyến

Nam Mô A Di Ðà Phật

Kính bạch Giác linh Thầy.

Thầy ôi!

Ðèn thuyền xao gió,

Trăng giới lờ mây.

Nét bước tượng vương, nơi cửa pháp mơ màng trước mắt,

Tiếng kêu sư tử, lối rừng chiên vắng vẻ bên tai.

Vả chăng hay: Sắc tướng trò chơi đất cửu hữu,

Vẫn biết rằng thân này là ngũ uẩn,

Nhưng ngặt vì nỗi sư đồ nghĩa nặng.

Thuở xưa kia, trời Tứ Không còn khóc cảnh Song Lâm,

Thì nay đây, trước cảnh biệt ly, chúng con làm sao ngăn được đôi dòng lệ đổ.

Giờ này:

Chúng con quỳ trước linh đài, giữa khung cảnh trang nghiêm, hương trầm quyện tỏa, thành kính dâng lên Thầy lời tâm sự sau cùng,

Ðể rồi vĩnh viễn Thầy trở về cảnh giới Niết Bàn, và kể từ nay, chúng con đành mất đi bậc Ðạo Sư cương kỷ.

Kính  bạch Thầy:

Chúng con nhớ lại!

Buổi xa xưa, nơi rừng Song Thọ, đức Thế Tôn vào đại định Niết Bàn,

Thì ngày nay, trụ xứ Ấn Quang, Thầy an nhiên thâu thần về cõi Phật.

Thuở sanh tiền:

Ðức hạnh của Thầy, vời vợi non cao

Gương tánh trong ngần, sóng tình bặt dứt,

Căn trần thanh tịnh, nương vào túc thế thiện duyên.

Chí nguyện xuất gia, vào chùa lúc tuổi còn thơ ấu,

Theo hầu bên Hòa Thượng Tôn Sư,

Thân cận cùng đồng môn huynh đệ.

Nơi Ấn Quang đêm ngày công quả, phát sanh trí huệ bao la,

Xem trần gian giấc mộng chiều tà, lòng hỷ xả lợi tha là hạnh.

Gót Tăng lữ, khắp mọi nơi Thầy dạo bước,

Chốn môn đình, Thầy tuân giữ nghiệp gia phong.

Sớm tối ân cần,

Tinh chuyên tu niệm.

Xứng ngôi bốn chúng tôn thờ,

Ðáng bậc mọi người cung kính.

Nhớ Thầy!

Tuổi còn trẻ mà vai hoằng Phật sự,

Vì lợi sanh chẳng quản đến thân mình.

Cho đến lúc nghiệp bệnh ràng thân,

Thầy vẫn sớm tối ân cần tụng niệm,

Phật sự nhiều nơi cần đến,

Thầy đều thật dạ lo toan,

Thầy thường dạy bảo chúng con,

Phải luôn tô bồi công đức.

Nhớ lại thuở Hòa Thượng Tôn Sư viên tịch,

Thời nhiễu nhương, sinh hoạt thiếu thốn, Tăng chúng khó yên tu.

Vâng lời truyền di huấn của Tôn sư,

Thầy đảm nhận kinh tế nuôi Tăng chúng.

Trước chùa Ấn Quang, Thầy đã tự thân đứng bán,

Nào thơm, nào mía, nào hủ tiếu, nào thức ăn,

Tạo ra từng đồng tiền để làm phương tiện nuôi chư Tăng ở yên tu học.

Tự tay Thầy nấu nướng, từng thức ăn thức uống, dâng chư Tăng no đủ để yên lòng.

Mong Tăng Già tu học đến thành công,

Nương theo hạnh Như Lai mà độ chúng

Có vị nào tật bệnh,

Dù ở tận nơi đâu Thầy cũng đều giúp sức.

Lo toan nơi nhà bếp,

Cùng môn đồ tứ chúng kết thiện duyên.

Xem bệnh hốt thuốc nam,

Vì người mà cứu khổ,

Tới lui nơi đường chợ,

Cũng vì chùa mà tìm nẻo sanh phương.

Tổ chức hành hương,

Dẫn Phật tử tham quan khắp xứ,

Bắc, Trung, Nam bộ,

Vạn dặm sơn hà.

Ðất Thái, Lào một thuở lại qua,

Xứ Cam Bốt nhiều phen lui tới.

Ði cứu trợ mở mang vận hội,

Khắp Nam kỳ lục tỉnh vừa rồi,

Lũ Quảng Bình cũng đến tận nơi,

Hà nội, biên cương, Trường Sơn nào quản.

Một đời tròn công quả,

Vẹn nghĩa với sanh thành.

Chùa Ấn Quang Phật sự đã chu viên,

Nơi Viên Giác trùng tu còn dang dở.

Thật là:

Mảnh chơn tướng dễ lờ nước thủy,

Ðiểm không hoa chẳng dính dịu trần.

Bước vào đời chẳng ngại khó khăn,

Suốt một kiếp vui câu đạo lý.

Biển thệ nguyện bao la rộng lớn,

Trời chân tâm sáng tỏ làu làu.

Sửa sang chùa tháp trước sau;

Lợi vật, lợi nhân tùy thời cứu giúp,

Chúng sanh cần thì đến, chẳng ngại gian lao.

Ðạo pháp cần thì đi, không nề khó nhọc.

Chúng con cũng nhờ nơi phước đức căn lành dành sẵn, được gặp Thầy theo mà học đạo Như Lai.

Trừ tội chướng, một đao xuống tóc,

Phú phước điền, ba lớp truyền y,

Ðạo đức say sưa,

Thầy trò hoan hỷ,

Lý kinh nghĩa luật, giọng pháp âm tỏ rõ ngọn ngành,

Chỉ lối mở đường, đưa chúng con đến nhà Bảo sở.

Những tưởng:

Thầy trò mãi cùng nhau sum họp,

Mãi cùng nhau phụng sự đạo mầu.

Giấc Hoàng lương chưa hết vội đâu,

Ðất Cửu trụ còn nhiều duyên gần gũi.

Nhưng hỡi ôi!

Bầu thuốc thánh khó cứu người tận số,

Chén linh đơn khó chữa bệnh nan y.

Sáng mờ sương Thầy từ giã mọi người,

Lời vĩnh biệt khó mong ngày tái ngộ.

Trống Bát nhã vang rền nơi chốn Tổ,

Chuông Lôi âm giục tiễn khách vào thiền.

Sống Ta bà bốn mươi mốt xuân thu,

Và nhập được hai mốt mùa kiết hạ.

Giờ đây:

Tấm áo Cà sa sương lạnh ngắt,

Cành hoa Bát nhã gió buồn hiu.

Khi nào Thầy thăng tòa, trò niêm chùy cùng nhau sum vầy nơi pháp hội,

Bây giờ trò Ta bà, Thầy Cực Lạc biết bao sùi sụt nỗi ly tư.

Lơ láo một mình nơi chùa cũ,

Ðau buồn vì nỗi vắng bóng Thầy.

Biết đi về ngàn dặm đâu đây,

Tìm nơi nao mong chừng gặp lại.

Thầy ơi! Kể từ nay:

Biết cậy ai ngày la đêm nhắc,

Biết nương ai sớm dắt tối dìu,

Biết hỏi ai mở trí nguyên thần,

Biết nhờ ai nuôi thân huệ mạng.

Than ôi!

Chốn Tòng lâm bực Tôn đức lìa ngôi,

Trong Tăng giới thiếu đi người đại hạnh.

Chúng con nhớ lại Thầy,

Biết bao năm hoằng thệ,

Lúc tịnh tu, khi khai đạo độ đời,

Ðến hôm nay,

Thuyền Ðại nguyện trở về neo bến giác.

Xem Tam thừa giục thúc buổi đăng trình.

Môn đệ buồn vì đôi ngã tử sinh,

Thiện tín tủi vì mất Thầy dìu dắt.

Thầy ra đi lúc tuổi đời chưa lão,

Khi hai vai còn nặng gánh đạo đời.

Than ôi!

Sữa pháp mất rồi, lòng còn đói mãi,

Thiền phòng vắng vẻ, trượng thất bụi mờ.

Biết tìm đâu hình bóng từ hòa,

Ðã hướng dẫn con đi vào đạo.

Ðất nước Như Lai, Thầy dạo chơi muôn thuở,

Vào nhà Từ Phụ, Thầy an nghĩ ngàn thu.

Có hay chăng một đàn con dại,

Ðang ngẩn ngơ giữa buổi xuân tàn.

Ô hô!

Vân tán, tuyết tan,

Hoa tàn, nguyệt khuyết,

Ngày xưa rừng Ta La còn là nơi diệt độ,

Giờ đây Ấn Quang buồn đưa tiễn gót Thầy đi.

Biết tìm đâu ra hình bóng uy nghi,

Bậc Thầy khả kính Tăng Ni nể vì.

Ngưỡng mong Giác linh Thầy!

Nơi Liên Trì phó hội,

Nước Cực Lạc nghe kinh.

Nương thuyền từ thệ nguyện độ sinh,

Khắp ba cõi vào ra tự tại.

Giờ này:

Mây Bát Nhã trên nền trời không in dấu,

Hoa Ưu Ðàm rơi rụng vẫn dư hương.

Ngày mai đây,

Nhục thân Thầy sẽ rời chốn Phật đường,

Nhưng giác tính hằng nêu gương bất diệt.

Ðôi lời tâm sự, một bức ai văn,

Ðệ tử kiền thành, hòa nam bái bạch.

Thích Ðồng Văn cung soạn.

Văn TÁC BẠCH

CÚNG DƯỜNG BÁO HIẾU ÂN SƯ THƯỢNG MINH HẠ PHÁT

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kích bạch, Chư tôn Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa, Chư Ðại Ðức Tăn, Ni.

Hôm nay hiếu đồ pháp quyến chúng con có duyên sự đầu thành đảnh lễ xin dâng lời tác bạch.

Nam Mô Tiếp Dẫn Ðạo Sư A Di Ðà Phật tác đại chứng minh.

Ngưỡng bái bạch Chư Tôn Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa, Ðại Ðức Tăng, Ni.

Chúng con kính nghe:

Ta Bà cõi tạm, nơi gởi thân sanh tử trăm năm,

Cực Lạc quê hương, chốn an mạng Niết bàn muôn thuở.

Tùy duyên vô ngại,

Ði ở khôn lường.

Thiệt là:

Quảy dép về Tây chốn nghỉ ngơi,

Hạc vàng cất cánh ngắm phương trời,

Huyễn thân bỏ lại nơi trần thế,

Giã biệt hôm nay luống ngậm ngùi.

Từ đây,

Mơ màng hồn mộng năm canh, linh tòa tịch mịch,

Vắng vẻ hình dung muôn thuở thiền thất cô liêu.

Nhớ khi nào,

Khách viên đảnh, bạn phương bào, cùng Thầy hội ngộ,

Người phù bôi, kẻ chấn tích, một thuở tao phùng.

Nhưng rồi vật đổi sao dời,

Huyễn thân biến thiên sanh diệt.

Xót nỗi hoa trôi nước chảy,

Chạnh lòng vắng bóng Ðạo sư.

Hỡi Thầy!

Duyên hóa độ đeo mang thuở nọ, Thầy gỡ sao đành,

Gánh từ bi gởi gắm ngày nào; Thầy sang sao nỡ.

Nhưng rồi: