Phạn Ngữ
: Dvātrimsánmahā-purusa-laksanāni. Thuộc hệ Chuyển Luân Vương. Tuy
nhiên, trong 32 tướng, Chuyển Luân Vương lại không có hai tướng ...Cát
Tường Hải Vân (Vạn Ðức. -Chữ Vạn ở trước ngực) và Nhục Kế (phóng quang
đảnh tướng) như Phật được.
Ba Li Ngữ
: Dvattimsa mahā-purisa-lakkhanāni.
Tướng tốt của Phật
Thích Ca và chư Phật là tướng tốt từ ở thân ứng hóa mà
nói. Những tướng tốt về dung mạo thù thắng vi diệu nầy, nếu nói :
Riêng về các Ðại Bồ Tát cũng
có đủ 32 tướng, như Chuyển Luân Vương, nhưng trong đó lại còn có 7
tướng thù thắng hơn Chuyển Luân Vương.
Luận Trí Ðộ Q-381 nói : “ Bồ Tát tướng
giả, hữu thất sự thắng Chuyển Luân Thánh Vương Tướng, Nhứt Tịnh Hảo,
Nhị phân minh, Tam Bất thất Xứ, Tứ Cụ túc, Ngũ Thâm nhập, Lục Tùy trí
tuệ hạnh bất tùy thế gian, Thất Tùy viễn ly chuyển luân thánh vương
tướng ”. (Ðẹp và thanh tịnh – Sáng suốt rõ ràng –Vĩnh viễn không
mất bổn xứ – Tròn đầy – Vào chỗ tột cùng – Theo trí tuệ độ sanh không
bị thế gian lôi cuốn – Không dính mắc vào tướng của Chuyển luân).
Còn các danh tự khác để gọi
32 hảo tướng, như :
-Tam thập nhị đại nhơn
tướng
-Tam thập nhị đại trượng
phu tướng
-Ðaïi nhơn tam thập nhị
tướng
Và lược xưng là : _Ðại Nhơn
Tướng. –Tứ Bát Tướng.
(lối gọi của Tàu 8x4)
–Ðại Sĩ Tướng. –Ðại Trượng Phu Tướng .v.v... Tóm lại, gọi tắt là
“Tướng Hảo”.
Tướng
hảo, là Tướng Tốt ! Mà người diễn dịch làm cho xấu tệ đi. Thì sao gọi
là “Tướng Hảo”? Tuy không hẳn là một lỗi lớn, nhưng liệu tránh sao
khỏi “Tội ly kinh” còn cứ thẳng thừng “Voi, Nai, Ngỗng”thì không lẽ
không bị tội “Y kinh”sao? Thực tế, là sẽ buồn lòng bao người con chí
kính với đấng Ðại Hùng, Ðại Lực, Ðại Từ Bi! Cẩn thận, chín chắn đừng
nói ma, đừng oan Phật. Vì lẽ đó, nay chúng ta đem trưng dẫn ra một ít
kinh điển để so sánh đỉnh kết cho nghiêm chỉnh về các Tướng Hảo của
Phật. Và đó là y cứ cho bài khảo dịch nầy :
A - Kinh Ðại Bát Nhã
S9/165/LT (y cứ).
B - Trường A Hàm Kinh Ðại
Bổn Duyên (tham khảo).
C - Ðại Trí Ðộ Luận S.78
Q4,178/LT. & S.80 Q89 (y cứ).
D - Phật Quang Ðại Từ Ðiển
Hán Tự Q1/507-32. 268/80 (y cứ).
Ð - Phật Học Ðại Từ Ðiển
Hán Văn Q1/275 (tham khảo).
E - Từ Ðiển Phật Học Hán-Việt 127/80.
1127/32 (tham khảo).
G - Niết Bàn Kinh /28 (y cứ).
H - Trung A Hàm Tam Thập Nhị Tướng kinh
PHÐTÐ (Ðinh) 1/276.
(& tham khảo bản dịch Ðại Tạng
Việt Nam. Chỉ có 28 tướng !)
I – Phật Bản Hạnh Tập Kinh. (tham khảo)
[Chỉ nói 77 tướng. Cho rằng chính kinh bản gốc thiếu 3 tướng]
K- Du Ðà Sư Ðịa Luận. (tham khảo) gồm
100 quyển ÐT. Sách 80-81-82. (32 tướng và 80 hình hảo, Q49, trang
412-417) Thuộc đoạn : Bồ Tát Ðịa “Trì cứu cánh Du Gìa Xứ Ðịa” phẩm.
Qua 5 bộ Kinh Tạng và 3 Ðại
Từ Ðiển và 2 bộ luận nêu trên, để dịch về 32 Hảo Tướng và 80 Tùy Hình
Hảo của Chư Phật và Boà Tát để tạo nền tảng “Quán Tưởng” Phật Tướng
cho phần tu Tán Thán công đức Phật. Nên biết các “Tướng
Tốt” mầu nhiệm đó là do Phật đã trải qua vô lượng kiếp tu nhân hạnh
“Lục Ðộ” mới cảm được cái quả thù thắng đó, cho thân tướng Ứng Hóa khi
hiện thế độ sanh.
Có một điều tưởng cũng nên
lưu tâm : Hơn 2600 năm về trước, các vị “Tướng Sư” trong dòng
Bà-la-môn ở Ma-kiệt-đà thời đó, ngôn ngữ của họ, có lẽ dùng thí dụ hơn
là mỹ từ đeå diễn tả những nét đẹp kỳ diệu ? Cho nên họ hay dùng hình
ảnh vóc dáng một vài chúa của loài cầm thú để so sánh và miêu tả cái
vẻ hùng vĩ, mềm mại của “Hảo Tướng” như ta đã thấy xen vào trong Tam
Thập Nhị Tướng và Baùt Thập Chủng Hảo. Về mặt dịch thuật tôi không dám
bỏ [............câu lấy thú tướng thay tướng người, hay chỉ là thí
dụï], tôi sẽ dùng trọn Việt-ngữ. Nhưng xin đóng ngoặc những thú tướng
đó lại (...) nhằm bảo tồn lời nói cuûa các vị tướng sư thuở xa xưa
trong kinh điển. Tôi cố tâm dùng các mỹ từ của tiếng Việt để mô tả; Dù
biết những mỹ từ đó vị tất đã chuyên chở trọn vẹn ý nghĩa ! Vẫn hơn
“đẹp như Ðùi Nai chúa ”! v.v...Mà đùi nai thì dẹp đâu có tròn! ?.
Cúi lạy hồng đức Tam Bảo xá
tội ! Vì con nghĩ “Thú vẫn là thú ! Làm sao sánh đước Diệu Tướng của
Ðấng Chí Tôn”.
Về mặt sưu khảo để dịch
thuật, tôi áp dụng “Ngũ Pháp” dịch thuật của Phật Giáo, tôi vẫn biết
dù kỹ đến đâu cũng không tránh khỏi thiếu sót ! Mong sự chỉ giáo chung
của các bậc trí tuệ đã tham thấu cao siêu huấn thị lại cho, hy vọng có
ngày bổ túc được đầy đủ hơn.
-Kinhvăn
:
菩萨先已行了知是父是母。是父是母能长养我Ị。我ỊỊ父母生身得阿耨đ矶罗三藐三菩嘈提。是净心念?父母。相续入胎。是名正慧入母胎。是菩萨满十月新正慧不失念?。出u胎行七步。发口言逴。是我Ị末后i身。乃至将示相师。汝观我Ị磷Ĩ实有三十二大衖人相不。若o有三十二相具足者。是应笑有二法。若衞在家?当为转轮猆圣王。若o出u家?当成佛。诸ỵ相师言O。地天太子I实有三十二大衖人相。若o在家?者当作
转
轮U王。若o出u家?者当成佛。王言O。何?等三十二相。
相师答言O。
......................
-Lời kinh
:
[Bồ
Tát tiên dĩ liễu tri thị phụ thị mẫu, thị Phụ thị Mẫu năng trưởng
dưỡng ngã thân. Ngã y phụ mẫu sanh thân đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu
Tam-bồ-đề, thị tịnh tâm niệm phụ mẫu. Tương tục nhập thai, thị danh
Chánh Tuệ nhập mẫu thai, thị Bồ Tát mãn thập nguyệt Chánh Tuệ bất thất
niệm. Xuất thai hành thất bộ, phát khẩu ngôn : Thị ngã mạt hậu thân.
Nãi chí tương thị tướng sư. Nhữ quang ngã tử thật hữu tam-thập-nhị đại
nhân tướng phủ? Nhược hưũ tam thập nhị tướng cụ túc giả! Thị ưng hữu
nhị pháp : -Nhược tại gia, đương vi Chuyển Luân Thánh Vương! –Nhược
xuất-gia đương thành Phật! Chư tướng-sư ngôn : “Ðịa thiên Thái Tưû
thật hưũ tam thập nhị đại nhân tướng.
Nhược tại gia giả đương tác Chuyển Luân Vương! Nhược xuất gia giả
đương thành Phật”.
Vương ngôn : Hà đẳng tam thập nhị tướng? Tướng sư đáp ngôn ]:
-Nghĩa Kinh:
[
............Bồ Tát trươùc đã biết ai xứng làm cha ai xứng làm mẹ,
là Cha hay là Mẹ phải có đủ khả năng trưởng dưỡng thân của Bồ Tát. Bồ
Tát nương nơi cha mẹ thành thân mà được Chánh Ðẳng Chánh Giác. Bồ Tát
luôn tịnh tâm niệm ân Cha Mẹ ! Suoát luôn như vậy để vào thai, đó là
Chánh Tuệ. Bồ Tát không hề “mất Chánh Tuệ” cho đến khi đủ mười tháng.
Lúc đản sanh rồi, liền đi bảy bước và tuyên nói : Ðây là thân sau cùng
của ta... Cho đến khi ... ở trước mặt của các tướng sư, đức Vua hỏi
họ, các ông xem con ta có đủ 32 Ðại Nhân Tướng không? Nếu có, thì sẽ
xảy ra hai điều –Tại gia làm Thánh Vương Chuyển Luân. –Xuất Gia sẽ
thành Phật, có phải vậy không? Các vị tướng sư tâu : Bệ hạ, trong cõi
bao la (đất trời) nầy Thái Tử Ngài quả có đủ ba mươi hai tướng của bậc
đại-nhân. Nếu Thái Tử ở ngôi Ngài là bậc Chuyển Luân Thánh Vương, còn
Ngài xuất-gia đi tu đương nhiên là bậc Ðại-giác Ðại-ngộ.
Ðức
Vua hỏi: Những tướng gì là 32 tướng?
Thuộc Về Bộ
Kinh Ðại Bát Nhã :
(Ðể khỏi nhầm các tên kinh,
viết tắt : –Luận Ðại Trí Ðộ, viết là [ÐTÐ]. –Trung A Hàm, viết
là [TAH] . –Phật Học Từ Ðiển Hán Việt, viết là [PHTÐHV].
–Phật Quang Ðại Từ Ðiển, viết là [PQÐTÐ]. Ðể So sánh và nhận
biết các câu “Hảo Tướng” thuộc về kinh nào. Những câu -Kinh Văn
: đương nhiên là của Bộ Ðại Bát Nhã. Ngoài ra các câu tương
đồng không đem vào). Chữ [ td : ] là thí dụ.
BA MƯƠI HAI TƯỚNG TỐT CỦA PHẬT
(Tam Thập Nhị Tướng)
1/32 - Túc Hạ An Bình Lập Tướng
(Tướng an ổn và bằng phẳng ở baøn
chân Phật).
Phạn
: – supratisthita pàda.
-Lời kinh : ...Thế Tôn túc hạ, hữu
bình mãn tướng, diệu thiện an trụ, do như liêm để, địa tuy cao hạ, tùy
túc sở hãm, giai tất thản nhiên, vô bất đẳng xúc. Thị vi đệ nhất ”.
-Nghĩa Kinh
: Dưới bàn chân của Ðức
Thế Tôn, có tướng bằng phẳng đầy đặn, thật khéo an trụ, như cái hộp
ấn, nó thản nhiên tùy theo chỗ cao thấp (nông cạn), chạm đến (đụng
vào) đều tự cân bằng chính xác. Ðó là tướng thứ nhất (không bị bẻ lật
hay trẹo hụt vấp váp).
-ÐTÐ :一者足下安平唤立相。足下一切着地间无晦所受。不容一针.
Nhứt giả, túc hạ an bình
lập tướng, túc hạ nhứt thiết trước địa gian, vô sở thọ bất dung nhứt
châm. [Nghĩa: Một là, cái tướng được thành lập thật an bình ở dưới
bàn chân, mỗi khi bàn chân (Phật) sắp giáp vào mặt đất, tất cả các vật
bén nhọn đều tự vẹt tránh khỏi bàn chân Phật ].
TAH
: 1/ Bậc Ðại Nhân
có lòng bàn chân bằng phẳng.
2/32 - Thiên Phúc (Bức)
Luân Tướng (Thiên Phúc Võng Cốc). Còn gọi Nhị Luân Tướng.
Dưới bàn chân có
tướng bánh xe ngàn căm, rất tươi thắm. s–cakrànkita hasta-pàda tala.
(P. hettha pada-talesu cakkanijatani).
-Kinh văn:
世尊足下千辐轮U文辋毂众内相无不圆薏满是为弟二.
-Lời kinh
: Thế Tôn túc hạ “Thiên Phúc Luân” văn võng cốc chúng tướng vô
bất viên mãn. Thị vi đệ nhị.
-Nghĩa kinh
: Dưới mặt bằng hai chân của Thế Tôn, có hình bánh xe tròn ngàn
căm, tên là “Thiên Phúc Luân” Các đường văn ấy đều phân minh rõ ràng
tròn trặn đầy đủ. Ðó là thứ hai.
[TÐHV: 2/ Chỉ bàn chân có xoáy tròn như bánh xe có ngàn nan
hoa].
[PQÐTÐ: Hai bánh xe, có ngàn bánh xe tròn, là tướng thồi phục
ác ma oán địch, chiếu phá ngu si của vô-minh. Gọi đúng là “Thủ túc
luân tướng”. Lòng
bàn chân có hiện tướng THIÊN PHÚC LUÂN của phật. Có hình hai bánh xe
Chuyển Pháp Luân (ngàn căm). Tướng vi diệu nầy, có khi không hiện ở
hai bàn chân, thì lại hiện nơi hai bàn tay. Vì trải qua nhiều đời
quá khứ Phật đã vì Cha, Me,ï Thầy, Bạn và Tất cả chúng sanh bôn ba
khắp chỗ khắp trong ba cõi, đã làm các việc bố thí, cúng dường, cưùu
độ ... nên biểu thị cái tướng Pháp Luân Ấn nầy.
-Kinh văn:
( bị mất )
...过一切。是为华第三。
Phạn
: mrdụ-tarụna-hasta-padà-tala.
4/32 - Mang Võng Tướng.
Tướng mạng lưới mềm.
Phạn: S- jàlàvanaddha-hasta pàda.
-Kinh văn :
世尊手U足一一换指间。犹柑如雁王咸有鞔网。金色交络文心同绮画。是为第四。ª
[đồng nghĩa câu 5 của Trí Ðộ luận].
-Lời kinh : Thế Tôn
thủ túc nhứt nhứt chỉ gian, do
như nhạn vương hàm hưũ man võng, kim sắc giao lạc văn đồng ỷ hoạch.
Thị vi đệ tứ.
-Nghĩa kinh
:
Mỗi mỗi khoảng (kẽ) ngón tay, chân của Thế Tôn có lớp da mỏng như màng
lưới, mịn tợ như lụa đâu-la-miên của trời Ðế Thích, có nét vẻ màu vàng
kim. Ðó tốt thứ tư. (khi xếp tay lại thì tựa như biến mất, không thấy
nếp nhăn của man-võng <Thí dụ : nhạn vương ( nhạn chúa) man võng túc>.
{Trung A Hàm
:
Câu
số 8/ Lại nữa, chân tay đại-nhân có màng lưới (giống như của chim nhạn
chúa). Ðó là tướng của bậc đại-nhân}
-ÐTÐ:
四者足跟?广平相.
Tứ giả, túc ngận quảng bình tướng. [Gót
chân bằng và rộng].
5/32 -
Thủ Túc Chỉ, Viên Mãn Tiêm
Tướng.
Các ngón tay chân (tròn búp) thon đầy.
(Phạn : jàlàvanaddha-hasta-pàda).
-Kinh
văn :
世尊手U足所有诸ỵƯ。圆胁满纤长甚可爱乐U。是为第五7875?。
-Lời kinh : Thế Tôn thủ túc sở
hữu chư chỉ, viên mãn tiêm trường thậm khả ái lạc (nhạo). Thị vi đệ
ngũ.
-Nghĩa kinh : Các ngón
tay và ngón chân của Ðấng Thế Tôn, tròn mịn, bum búp, thon dài và đầy
đặn càng nhìn càng ưa mến. Ðó là thứ năm.
-ÐTÐ 五7875?者手U足指缦网相。如雁王张指父则ịƯ喜张则ị徊现籙。
Thủ túc chỉ mang võng tướng, như nhạn
vương trương chỉ tắc hiện, bất trương tắc bất hiện. [Tướng mạng
lưới ở giữa kẽ tay chân, có sè tay thì mới có, không sè tay thì không
có hiện ra].
6/32 - Gót Chân Tròn Ðầy, Tốt Thắng
Hơn Cả Cõi Hữu Tình.
-Kinh-văn :
世尊足跟广长圆满。与搽趺相称?胜余有嘈情。是为第六。ª
-Lời kinh : Thế Tôn túc ngận
quảng trường viên mãn, dữ phu tướng xưng thắng dư hữu tình. Thị vi đệ
lục.
-Nghĩa kinh : Gót chân
của Thế Tôn, dài rộng tròn đầy. Tướng vun tròn của mu bàn chân thật
đặt biệt hơn tất cả chúng trong cõi hữu tình.
-ÐTÐ
:
六者手U足柔软相。
Thủ túc nhu nhuyến tướng [Tướng mềm mại
dịu dàng của chân tay].
7/32 - Mu Bàn Chân Nổi Cao Ðầy Ðặn,
Mềm Mại Tương Xứng Với Gót.
-Kinh văn
:
世尊足趺修高充满。柔软妙?好与跟相称?。是为第七。
- Lời kinh : Thế Tôn túc phu
tu cao sung mãn, nhu nhuyến diệu hảo dữ ngận tương xứng. Thị vi đệ
thất.
-Nghĩa kinh : Mu bàn
chân của Ðức Thế Tôn nổi cao đầy đặn mềm mại cùng với gót chân tương
xứng nhau thật là kỳ diệu. Ðó là tướng tốt thứ bảy.
- ÐTÐ:
七者足趺高满相。以Ơ咦蹈地不广不狭。足下色如赤莲华。足指愀间网及足边色如真?珊瑚。指爪如净赤铜。足趺上真?金色。足趺上毛青毗琉璃色。其足严好。譬洎如杂Ĩ宝屐种ƯƯU庄饰?。
Thất giả, túc
phu cao mãn tướng, dĩ túc hảm địa bất quảng bất hiệp, túc hạ sắc như
xích liên hoa. Túc chỉ gian võng cập túc biên sắc như chơn san hô. Chỉ
trảo như tịnh xích đồng. Túc phu thượng chơn kim sắc, túc phu thượng
mao thanh tỳ lưu ly sắc. Kỳ túc nghiêm hảo lý chủng chủng trang sức.
[ Tướng mu bàn chân cao đầy, khi chân bước giáp đất dấu không rộng
không hẹp, màu sắc dưới chân như hoa sen đỏ, lưới dưới kẽ chân màu sắc
như san hô, móng chân trong sáng như đồng đỏ. Màu sắc trên mu bàn chân
in như vàng ròng, màu của lông trong xanh như lưu ly. Cực kỳ xinh đẹp
như xen nhiều các bảo vật để chung vào trang sức].
8/32 - Ðùi Vế Thon Tròn, Chân Dài.
-Kinh
văn :
世尊双腨渐次?纤圆。如瑿泥邪仙鹿王腨。是为勃第八。
-Lời kinh : Thế Tôn song
chuyên tiệm thứ tiêm viên, như lịch-nê-tà-tiên lộc vương chuyên. Thị
vi đệ bát.
-Nghĩa kinh : Hai đùi
vế của Thế Tôn tròn trĩnh thon đẹp (như đùi của lộc vương lịch- nê-
tà- tiên). {腨膊
chuyên, thuần : cùng một nghĩa}. Ðó là thứ tám.
-ÐTÐ:
八者伊泥延罥膊相。如伊泥延罥鹿膊随?次?[月庸鹿]纤。
Bát giả, y-nê-diên thuần tướng, như
y-nê-diên lộc thuần tùy thứ dung tiêm. [Tám là, tướng đùi vàng óng
ánh, giống như của y-nê-diên]. {Y-nê-diên Phạn : Aineyajagha} tên của
lộc vương. Thử vân, kim-Sắc nghĩa là vàng óng ánh].
9/32 - Ðứng Thẳng Bàn Tay Úp Lên Ðầu
Gối.
-Kinh
văn
:
世尊双臂修直庸惫圆如象瞚王,鼻平立摩膝。是为姜第九。
-Lời kinh : Thế Tôn, song tý
tu trực dung viên như tượng vương, tỷ bình lập ma tất. Thị vi đệ cửu.
-Nghĩa kinh : Hai cánh
tay của Thế Tôn thẳng dài tròn đầy, đứng đưa tay duỗi xuống bàn tay
bằng ngang và thoa lên đầu gối. Ðó là tướng tốt thứ chín.
-TAH : Chân tay
Ðại-nhân rất đẹp, mềm mại, xòe ra như hoa đâu-la. Ðó là tướng của bậc
đại nhân.
-ÐTÐ :
正平立摩膝相不俯不仰絬以ƠỈ漳膝.
Chánh bình lập
ma tất, bất phủ bất ngưởng dĩ chưởng ma tất. [Tướng đứng thẳng không
cúi không ngước tay rờ (úp) đầu gối].
10/32 - Âm Tàng Tướng.
Phạn : Kosópagata. (Nam căn ẩn
kín)
-Kinh
văn
:
世尊阴相势?峰藏密。其犹涮龙马亦如象鄆王。是为第十。ª
-Lời
kinh
: Thế Tôn âm tướng thế phong tàng mật.
Kỳ do long mã diệc như tượng vương. Thị vi đệ thập.
-Nghĩa kinh : Âm tàng
tướng của Thế Tôn ẩn kín (tợ như Long chúa Tượng Mã). Ðó là tướng tốt
thứ mười.
-ÐTÐ:
十者阴藏相。譬酴如调善?象i宝马宝。问曰驶。若o菩萨得阿耨đ卸罗三藐三菩嘈提。时诸ỵ弟子I何?因ịƠ见阴藏相。答曰趸。为度众人决u众疑谏故示現如是
Thập giả, âm tàng tướng, thí như điều
thiện tượng bảo mã bảo, vấn viết : Nhược Bồ-tát đắc A-nậu-đa-la
tam-miệu tam-bồ-đề, thời chư đệ tử hà nhân duyên kiến âm tàng tướng.
Ðáp viết : Vị độ chúng nhơn quyết chúng nghi, cố thị hiện như thị. [Bồ
tát thành Chánh Giác rồi, vì duyên gì mà để cho mọi người thấy được âm
tàng tướng ? –Ðáp : Vì độ cho mọi người giải các nghi ngờ nên hóa
hiện tướng rồng báu, voi báu, ngựa quí để tỏ rằng âm tàng cũng như vậy
đó].
11/32 - Lông Tươi Mướt Màu Xanh.
-Kinh
văn
:
世尊毛孔各一毛生。柔润籭绀青右Ị旋宛转。是第十一。»
-Lời kinh : Thế Tôn mao khổng
các nhứt mao sanh, nhu nhuận khám thanh, hữu truyền uyển chuyển. Thị
đệ thập nhứt.
-Nghĩa kinh : Mỗi lỗ
chân lông mọc một lông trên thân Thế Tôn, tươi nhuận mềm mại với một
màu xanh mướt đều xếp về phía bên phải. Ðó là tướng tốt thứ mười một.
-TAH : (11) Mỗi chân
lông, chỉ sanh một sợi lông. Lông màu xanh lóng lánh như màu của ốc
cừ, lông xoay tròn về hướng phải.
-ÐTÐ:
十一者身广长等相。如尼拘卢陀籌树。菩萨身齐须为中四边量等。
Thập nhứt giả thân quảng trường đẳng
tướng, như ni-câu-lô-đà thọ. Bồ Tát thân tê vi trung tứ biên lượng
đẳng. [ Thân của Bồ Tát chiều cao và chiều ngang dang
tay bằng nhau, như cây ni-câu-lô-đà.
Lấy rún làm chuẩn bốn chi đo cân nhau]. (Phạn : Nyagrodha. Dịch là
vô-tiết. Cây cao lớn, che rộng, không có lóng đốt, lá gần giống như
liễu, dáng đẹp, tàng rộng tươi mát, sống lâu, còn gọi là cây dung.
Ficus Indica (nặc-cù-đà)...).
12/32 - Thân Kim Sắc, Lông Tóc Xanh
Biếc.
-Kinh
văn
:
世尊发毛端皆O上靡?。右Ị旋宛转柔润i绀青。严金色身甚可爱乐U。是第十二。
-Lời kinh : Thế Tôn phát mao
đoan giai thượng mị, hữu truyền uyển chuyển nhu nhuận khám thanh,
nghiêm kim sắc thân thậm khả ái nhạo. Thị vi thập nhị.
-Nghĩa kinh : Các đầu
lông, tóc của Thế Tôn đều mềm mịn, màu xanh biếc như lưu ly xanh và
cùng hướng lên xoay về bên phải, toàn thân màu vàng ròng, ngắm nhìn
rất ưa thích. Ðó là thứ mười hai.
-ÐTÐ:
十二者毛上向?相。身有诸ỵ忻生。皆玂上向?而稚。É
Thập nhị giả mao thượng hướng tướng.
Thân hữu chư mao sanh, giai hướng thượng nhi mị. [Các lông trong
thân đều hương lên, mịn màng không rối].
13/32 - Da Mịn Không Dính Bụi.
-Kinh
văn
:
世尊身皮细薄润滑。尘垢水等皆O所不住。是第十三。
-Lời kinh : Thế Tôn thân bì tế
bạc nhuận hoạt, Trần cấu thủy đẳng giai sở bất trú. Thị vi thập tam.
-Nghĩa kinh : Làn da
trên thân thể của Thế Tôn, mịn màng tươi nhuận, các chất nước bẩn, bụi
bặm đều không thể đọng dính trên da. Ðó là tướng mười ba.
-ÐTÐ
:
十三者一一换孔一毛生相。毛不乱?青琉璃色。毛右ỊỊ蒙向?
-Thập tam giả, nhứt nhứt khổng nhứt mao
sanh tướng, mao bất loạn thanh lưu ly sắc, mao hữu phỉ thượng hướng.
[Tướng mỗi chân lông chỉ sanh một lông, lông không rối, màu sắc của
lông xanh suốt như màu xanh của lưu ly, các lông đều hướng lên và xoay
về cùng chiều tay mặt].
14/32 -
Thân Sáng Chói Như Vàng Diêm-Phù-Ðàn.
-Kinh văn
:
世尊身皮皆真?金色。光洁晃?曜如妙?金台。众宝庄严众谮所乐U见。是第十四。
-Lời
kinh : Thế Tôn thân bì giai
chơn kim sắc, quang cất hoản diệu như diệu kim đài. Chúng sở trang
nghiêm, chúng sở nhạo kiến. Thị đệ thập tứ.
-Nghĩa kinh : Trên làn
da toàn thân của Thế Tôn màu vàng ròng lóng lánh sáng rỡ trông đẹp như
đài vàng diệu kim, các báu nhóm lại để trang nghiêm, các chúng trong
cõi nhân thiên đều ưa thích nhìn ngắm và sinh tâm an lạc. Ðó là tướng
tốt thứ mười bốn.
-ÐTÐ:
十四者金色相。问曰驶何?等金色。答曰。若籵铁在金边则ị诓现籙。今d现U在金比佛在谮时金则ị不现U。佛在时金比阎赨浮那金则ị不现U。阎U浮那金比大i海中转轮蠻圣王道中金沙则ị胁现籙。金沙比金山则ị不现U。金山比须弥U山则ị不现U。须弥U山金比三十三诸ỵ天璎珞i金则ị不现U。三十三诸ỵ天璎珞i金比焰?摩天金则ị不现U。焰?摩天金比兜率陀I天金则ị不现U。兜率陀I天金比化自O在天金则ị不现赨。化自O在天金比他化自贠在天金则ị诓现籙。他化自O在天金比菩谛萨身色则ị不现U。如是色是名金色相。
[Kim sắc tướng phải so sánh như thế nào
? Luận đáp rằng :
Nếu đem sắt để sánh với vàng thì màu
của sắt sẽ không hiện rõ. Nay đem vàng cõi thế để so sánh với màu vàng
“Kim tướng” của Phật thì màu vàng cõi thế không tỏ hiện. Và cứ như thế
so sánh vàng của Diêm-phù-na, vàng trong biển lớn của vua Chuyển Luân,
vàng của núi Tu Di, vàng anh lạc của cõi trời 33, vàng của Diệm-ma
thiên, vàng của Ðâu-suất-đà thiên, vàng của Tha-hóa-tự-tại thiên tất
cả các vàng vô lượng quí giá sáng chói đó; đều không sánh với màu
vàng của thân Bồ Tát ! Như vậy đó, là màu vàng của “Kim-sắc” tướng].
15/32 - Bảy Chỗ Ðều Ðầy Ðặn.
-Kinh văn
: 世尊两足二手U掌?中颈及双肩七羞处充满。是第十五7875?。
-Lời kinh
: Thế Tôn lưỡng túc, nhị thủ
chưởng trung kỉnh cập song kiên, thất xứ sung mãn. Thị vi thập ngũ.
-Nghĩa kinh : Hai chân,
hai bàn tay, cổ và đôi vai của Phật, bảy chỗ nầy đều đầy đặn. Làø thứ
mười lăm.
-ÐTÐ:
十五7875?者丈光相。四边皆O有一谢丈光。佛在是光中谛端严第一。如诸ỵ惶诸ỵ焱宝光明净。õ
Thập ngũ giả, trượng quang tướng, tứ
biên giai hữu nhứt trượng quang. Phật tại thị quang trung đoan nghiêm
đệ nhứt, như chư thiên chư vương bảo quang minh tịnh. [Tướng quang
sáng suốt của Thế Tôn, vầng sáng bao quanh rộng xa hơn trượng. Phật
trong ánh quang chói sáng đó thật là đệ nhất trang nghiêm đoan chính.
Hơn hẳn hào quang quí báu của các vua ở các cõi trời].
16/32 - Kiên Ðảnh Thật Thù Diệu.
-Kinh văn :
世尊肩项?圆满殊瞖2妙?。是第十六。
-Lời kinh : Thế Tôn kiên đảnh
viên mãn thù diệu. Thị đệ thập lục.
- Nghĩa kinh :
Trán và vai của Thế Tôn tròn đầy thật là đặc thù mầu nhiệm. Ðó là thứ
mười sáu.
-ÐTÐ:
十六者细薄皮相。尘土不着身。如莲华叶ざ不受尘水。若o菩萨在汹干土山中经行。土不着足。随?蓝风来吹破Ỉ土山。令?散为尘乃至一尘不着佛身。»
Thập lục giả, tế bạt bì tướng bôn thổ
bất trước thân, như liên hoa hiệp bất thọ bôn thủy. Nhược Bồ Tát tại
can thổ sơn trung kinh hành, thổ bất trước túc. Tùy lam phong suy phá
thổ sơn, linh tán vi bôn, nải chí nhứt bôn, bấy trước Phật thân. [
Tướng da của Thế Tôn mịn mỏng nhỏ rức, bụi bặm đất cát không thể bám
dính vào thân. Như Hoa Sen, những thứ nước lầy bùn không hề làm nhớp
được hoa sen vậy.
17/32 - Xứ Long Mãn Tướng.
-Kinh văn :世尊髆m腋悉皆窸充实。是第十七。ß
-Lời kinh : Thế Tôn bát dịch
giai tất sung thật. Thị đệ thập thất.
-Nghĩa kinh :
Chỗ hủng nách của Thế Tôn thật khác thường, vì rất đầy. Ðó là thứ mười
bảy.
-ÐTÐ:
七处隆满相。两手遀两足两肩项?中七羞处。皆O隆满端正色净胜余身体à
Thập thất giả, xứ long mãn tướng, lưỡng
thủ, lưỡng túc, lưỡng kiên, đảnh trung thất xứ giai long mãn đoan
chánh sắc tịnh thắng dư thân thể. [ Mười bảy, gọi là Xứ Long Mãn
tướng, hai tay, hai chân, hai vai và trán, bảy chỗ đó đều tươi tốt,
đoan chính vun đầy, màu sắc thanh sạch hơn cả các cõi nhơn thiên.
18/32 - Dung Nghi Ðoan Chánh.
-Kinh văn :
世尊容仪圆遣满端直。是第十八。±
-Lời kinh : Thế Tôn dung nghi
viên mãn trực đoan. Thị vi thập bát.
-Nghĩa kinh:
Dung nhan và nghi cách của Thế Tôn, đoan chính viên mãn. Ðó là mười
tám.
-ÐTÐ:
十八者两腋下隆满相。不高不深?。
Thập bát giả, lưỡng dịch hạ long mãn
tướng. Bất cao bất thâm. [ Mười tám là, hai nách của Thế Tôn đầy
đặn xinh đẹp không vun cao cũng không trũng sâu].
19/32 - Thân Tướng Trang Nghiêm.
-Kinh văn :
世尊身相修广端严。是第十九。
-Lời kinh : Thế Tôn thân tướng
tu quảng trang nghiêm. Thi vi thập cửu.
-Nghĩa kinh :
Thân tướng của Thế Tôn to lớn nghiêm chỉnh và ngay thẳng và thật cân
đối. Ðó là mười chín.
-ÐTÐ :
十九者上身如师子I相。
Thập cửu giả, thượng thân như sư
tử tướng.
[Phần giữa cơ thân trở lên, trông vóc dáng oai phong vô cùng uy dũng.
(như sư tử vương)].
20/32 - Thân Tướng Hảo Mãn Như
Nặc-Câu-Ðà.
-Kinh văn :
世尊体相纵广量等。周匝苄圆满如诺瞿材陀I。是第二十。
-Lời kinh : Thế Tôn thể tướng
túng quảng lượng đẳng, châu tráp viên mãn như nặc-cù-đà. Thi đệ nhị
thập.
-Nghĩa kinh :
Dung mạo và thể tướng của Thế Tôn, các bề cao rộng, tỷ lệ thật cân
đối, toàn chu vi thể lượng tròn đầy hảo mãn tợ như cây liễu.
(Nặc-cù-đà loại cây mềm cao to, tàn cây rộng mát Nyagrodha. Chỉ có ở
Aán mới có. Còn có tên ni-câu-đà v.v..). Ðó là hai mươi.
-ÐTÐ:二十者大i直身相。于壁一切人中恍身最?大i而直±
Nhị thập giả, đại trực thân tướng, vu
nhất thế nhân trung tối đại nhi trực.[ Thứ hai mươi là, một thân
tướng cao thẳng to lớn. Có thể nói đối với nhân loại là một thân tướng
cao lớn bậc nhất vậy.]
21/32 - Hàm Ức Uy Dung Quảng Ðại.
-Kinh văn :
世尊颔臆ボ并身上半。威容广大i如师子I王。是二十一。»
-Lời kinh : Thế Tôn hàm ức
tịnh thân thượng bán, uy dung quảng đại như sư tử vương. Thị nhị thập
nhứt.
-Nghĩa kinh :
Phần thân trên của Thế Tôn từ ngực đến cằm, vóc dáng nở rộng, dung
nghi uy dũng (như sư tử vương). Là hai mươi mốt.
-ÐTÐ:
二十一者肩圆徊好相。一切治Ỵ患无甾如是者。
Nhị thập nhứt giả, kiên viên hảo tướng.
Nhứt thiết trị kiên vô như thị giả. [ Tướng hai mươi mốt là, tướng
vai tròn của Phật, không thể tìm thấy bất cứ ở đâu ngoài báo thân
Phật].
22/32 - Thân Sáng Chói.
-Kinh văn :
世尊常光面?各一寻。是二十二。»
-Lời kinh : Thế Tôn thường
quang diện các nhứt tầm. Thị nhi thập nhị.
-Nghĩa kinh :
Vầng ánh sáng chung quanh đầu mặt của Thế Tôn, thường sáng là một
tầm. (một trượng). Là tướng hai mươi hai.
-ÐTÐ:
二十二者四十齿相。不多不少余人三十二齿。身三百余噜骨。头骨有九。菩行萨四十齿。头有一谢骨。菩萨齿骨多头骨少。余朽人齿骨少头骨多。以Ơ是故异于熠余人身。à
Nhị thập nhị giả, tứ thập xỉ tướng. Bất
đa bất thiểu, dư nhơn tam thập nhị xỉ. Thân tam bách dư cốt. Ðầu cốt
hữu cữu. Bồ Tát tứ thập xỉ, đầu hữu nhứt cốt. Bồ Tát xỉ cốt đa đầu
cốt thiểu. Dư nhơn xỉ cốt thiểu đầu cốt đa. Như thị cố dị vu dư nhơn
thân. [ Tướng hai mươi bốn là, nói về răng, Thế Tôn có 40 cái
răng, không nhiều và cũng không ít đối với con người. Con người có 32
cái răng, xương hơn 300, 9 xương đầu. Bồ Tát răng 40, xương đầu chỉ có
1. Bồ Tát xương răng nhiều, xương đầu ít. Còn con người thì xương răng
ít xương đầu nhiều. Do vậy nên nói Bồ Tát khác với thường nhân].
23/32 - Bốn Mươi Răng Trong Trắng.
-Kinh văn :
世尊齿相四十齐平虢。净密根深?白逾珂?雪。是二十三。
-Lời kinh : Thế Tôn xỉ tướng,
tứ thập tề bình, tịnh mật căn thâm, bạch du kha tuyết. Thị nhị thập
tam.
-Nghĩa kinh: Hàm
răng của Ðức Thế Tôn đủ 40 cái, bằng đều không so le, sít kín nhau,
chân sâu và trong trắng như ngọc “Kha Tuyết”. Ðó là hai mươi ba.
-ÐTÐ:
二十三者齿齐相。诸ỵ氤等无蒉粗U无细不出辵不入。齿密相人不知者谓为一齿。齿间不容一毫。»
Nhị thập tam giả, “Xỉ Tề” tướng. Chư xỉ
đẳng vô thô vô tế bất xuất bất nhập, xỉ mật tướng, nhơn bất tri giả vị
vi nhứt xỉ, xỉ gian bất dung nhứt hào. [Hai mươi ba là tướng “Tề
Xỉ”, các răng bằng như nhau, không lớn không nhỏ, không de ra, không
xéo vào. Kín nhiệm người khó phân biệt, tưởng chừng như một khối. Dù
một xơ nhỏ cũng không mắc kẹt vào kẽ răng được].
24/32 - Răng Và Bốn Răng Cửa Ðều Trong
Suốt.
-Kinh văn :
世尊四牙鲜白锋?利。是二十四。
-Lời kinh : Thế Tôn tứ nha
tiễn bạch phong lợi. Thị nhị thập tứ.
-Nghĩa kinh: Bốn
răng cửa của Thế Tôn, trắng tươi và bén nhọn. Là hai mươi bốn.
-ÐTÐ:
二十四者牙白相。乃至胜雪山王光。Á
Nhị thập tứ giả, “Nha Bạch” tướng. [Hai
mươi bốn là tướng “Nha Bạch”. Tướng “Nha Bạch” của Thế Tôn trong sáng
lóng lánh hơn cả “Tuyết Sơn” vương].
25/32 - Cổ
Có Mạch Hầu Biến Chất Ăn Thành Thượng Vị.
-Kinh văn
:
世尊常得味中缎上味。喉脉秛直故能引饼身中诸ỵƯ节脉衭所有上味卸。风热痰病不能为杂Ĩ由I彼不杂Ĩư吕沉浮延隝缩坏损痈曲等过。能正吞咽津?液通流故。身心适悦好常得上味。是二十五7875?。
-Lời kinh : Thế Tôn thường đắc
vị trung thượng vị, hầu mạch trực cố năng dẫn thân trung chư chi tiết
mạch, sở hữu thượng vi phong nhiệt đàm bịnh, bất năng vi nhiễm, do bỉ
bất nhiễm mạch ly trầm phù, diên xúc hoại tổn thống khúc đẳng quá.
Năng chánh thôn yết tân dịch thông lưu cố. Thân tâm hoạt duyệt thường
đắt thượng vị. Thị nhị thập ngũ.
-Nghĩa kinh :
Tất cả hương vị khi đến với Thế Tôn đều trở thành “Thượng Vị”. Sở dĩ
có như vậy, vì ngay nơi hầu mạch (mạch tại cổ) có công năng dẫn thẳng
đến các mạch chi tiết của toàn thân. Các bịnh đàm ấm phong nhiệt, đều
bị vô hiệu với cơ thân của Thế Tôn. Cơ thể miễn nhiễm tuyệt vời đó làm
tiêu hoại tất cả sự xâm tổn đến các mạch, nổi chìm co giãn trong thân
của Ngài. Ðó là hai lăm.
-ÐTÐ:
二十六者味中缎得上味相。有缎人言O。佛以Ơ食着口中。是一谢切食皆O作最?上味。何?以Ơ故。是一切食中恍有最?上味因ị豆。无兽是相人不能发其因ị涔。不得最?上味。复有缎人言O。若o菩萨举食着口中行。是时咽喉边两处。流注甘露和合诸ỵỴ。是味清净故。名味抖中得上味卸。
Nhị thập lục giả, vị trung đắc thượïng
vị tướng. Hữu nhơn ngôn, Phật dĩ thực trước trung khẩu, thị nhứt thế
thực giai tác tối thượng vị. Hà dĩ cố ? Thị nhứt thiết thực trung,
hữu tối thượng vị nhân cố. Vô thị tướng nhơn bất năng phát kỳ nhơn cố,
bất đắc tối thượng vị. Phục hữu nhơn ngôn, nhược Bồ Tát cữ thực trước
khẩu trung, thị thời yết hầu biên lưỡng xứ, lưu chú cam lồ hòa hợp chư
vị, thị vị thanh tịnh cố, danh vị trung đắc thượng vị. [TÐL số 26
nói: Ðóù là cái tướng được “Thượng Vị” trong các vị. Các món ăn đến
miệng Phật thì món ăn đều biến thành thượng vị. Cớ sao vậy ? Bởi vì
chất thượng vị hằng có trong thực vị, nhưng người không có tướng
“Thượng Vị” không thể phát tiết ra được cái nhân tố tối thượng vị
nầy. Còn một ý nói khác là Bồ Tát khi đưa món ăn đến miệng thì dòng
mạch ngoài hai bên yết hầu, chảy ra chất “Cam Lồ” hòa hợp với thực vị,
khiến cho vị đó liền trong sạch thơm tho, để trọn nên “Thượng Vị”].
26/32 - Lưỡi Che Trùm Cả Mặt.
-Kinh văn :
世尊舌相薄净广长。能覆面?轮U至耳发际。是二十六。Á
-Lời kinh : Thế Tôn thiệt
tướng bạt tịnh quảng trường, năng phú diện luân chí nhĩ phát tế. Thị
nhị thập lục.
-Nghĩa kinh :
Tướng lưỡi của Thế Tôn, trong sạch dài rộng và mỏng, công năng của
lưỡi có thể che trùm cả mặt cho đến mé tóc trán và đến mang tai. Ðó
là hai sáu.
27/32 - Tiếng Nói Âm Vang Trong Suốt
Như Tần-Già Âm.
-Kinh văn :
世尊梵i音ơ词韵弘7863?雅。随?众多少无谵不等闻。其配声洪7855?震犹如天鼓。发言蘋婉d约如频嫉迦音ơ。是二十七。ß
-Lời kinh : Thế Tôn phạm âm từ
vận hoằng nhã, tùy chúng đa thiểu vô bất đẳng văn. Kỳ thinh hồng chấn
du như thiên cổ, phát ngôn uyển ước như tần-ca âm. Thị nhị thập thất.
-Nghĩa kinh :
Phạm âm từ vận giọng nói của Thế Tôn, lan rộng hòa nhã dịu dàng, bất
luận thính chúng nhiều ít, xa gần độ nghe được, đều bình đẳng giống
nhau. Chấn âm của giọng như tiếng trống trời, điệu uyển chuyển của
thanh âm mềm như “Tần-già thinh” (giống chim nói pháp cõi Tịnh Ðộ). Là
hai mươi bảy.
-ÐTÐ:
二十七者大遡舌相。是菩萨大衖舌从I口中出衭覆一切面?分U。乃至发际。若羙还入口口亦不满。à
Nhị thập thất giả, “Ðại Thiệt” tướng
thị Bồ Tát đại thiệt tùng khẩu trung xuất phú nhứt thế diện phần, nải
chí phát tế. Nhược hoàn nhập khẩu, khẩu diệc bất mãn. [Hai mươi bảy
là “Ðại Thiệt” tướng, lưỡi lớn của Bồ Tát khi le ra che trùm trọn cả
mặt, cho đến mé tóc. Khi trở lại co vào miệng, miệng vẫn bình thường
không choáng ngập trong miệng].
28/32 - Lông Mi Xanh Biếc, Dày Và
Thẳng.
-Kinh văn :
世尊眼睫犹若蘯牛王。绀青齐整不相杂Ĩ肼Ị。是二十八。
-Lời kinh : Thế Tôn nhãn tiệp
do nhược ngưu vương, khám thanh tề chỉnh, bất tương nhiễm loạn. Thi vi
nhi thập bát.
-Nghĩa kinh :
Ðôi chân mày trên đôi mắt của Thế Tôn, màu xanh biếc (sậm) lóng lánh,
xếp lớp nằm nghiêng chỉnh tề không rối.
-ÐTÐ:
二十八者梵i声相。如梵i天王五7875?种Ư声从I口出u。其一浠深?如雷。二清彻远闻杜闻者悦琶乐U。三入心敬爱。四谛了易解。五7875?听者无厌。菩扌萨音ơ声亦如是。五7875?种Ư声从I口中出衭。迦陵毗伽声相。如迦陵毗伽鸟d声可爱。鼓声相。如大i鼓音ơỵƠ。É
Nhị thập bát giả, “Phạm Thinh” tướng
như Phạm Thiên Vương, ngũ chủng thinh tùng khẩu xuất, kỳ nhứt thâm như
lôi. Nhị thanh triệt viễn văn văn giả duyệt lạc. Tam nhập tâm kỉnh ái.
Tứ đế liễu dị giải. Ngũ thính giả vô yểm. Bồ Tát âm thinh diệc như
thị, ngũ chủng thinh tùng khẩu trung xuất, ca-lăng-tỳ-già thinh tướng.
Ca-lăng-tỳ-già điểu thinh khả ái. Cổ thinh tướng, như đại cổ âm thinh
tham viễn. [ Hai mươi tám là, tướng của tiếng “ Phạm thinh”, như vua
Phạm thiên từ miệng phát ra có năm thứ tiếng một lúc. Tiếng đó: -Một
là, trầm sâu như sấm. -Hai là, thấu suốt xa nghe, nghe thời vui sướng.
-Ba là, đem lòng kỉnh ái. -Bốn là, hiểu rõ chắc thật. -Năm là, nghe
không nhàm chán. Âm thanh (tiếng nói) của Bồ Tát cũng giống như vậy].
29/32 - Ðôi Mắt Trong Xanh Ngời Sáng.
-Kinh văn :
世尊眼睛绀青鲜白。红环间饰?晈洁分U明。是二十九。
-Lời kinh : Thế Tôn nhãn tình
khám thanh tiễn bạch, hồng bôi gian sức hào cật phân minh. Thị nhị
thập cửu.
-Nghĩa kinh :
Ðôi tròng mắt của Thế Tôn, phần trắng trắng tươi, phần đen thì xanh
đậm, trong xanh tươi trắng phân minh, chỗ giáp màu hơi ửng hồng. Là
hai mươi chín.
-ÐTÐ:
二十九者真?青眼相。如好青莲华。
Nhị thập cửu giả, chơn thanh nhãn
tướng, như hảo thanh liên hoa. [ Hai mươi chín gọi là “Chơn Thanh Hảo
Tướng ” mắt đẹp Hoa Sen Xanh].
30/32 - Mặt Tròn Sáng Như Vầng Trăng
Tròn.
-Kinh văn :
世尊面?轮U其犹涮满月。眉相晈净如天帝弓。是第三十。Â
-Lời kinh : Thế Tôn diện luân
kỳ do mãn nguyệt, mi tướng hào tịnh, như Thiên cung. Thị vi tam thập.
-Nghĩa kinh :
Khuôn mặt của Thế Tôn, tròn sáng như trăng đầy, chân mày cong như cánh
cung của trời Thiên Ðế. Là thứ ba mươi.
-ÐTÐ:
三十者牛眼睫相。如牛王眼睫长好不乱?。
Tam thập
giả, ngưu nhãn tiệp tướng, như ngưu vương nhãn tiệp trường hảo bất
loạn. [Ba mươi là, lông mi thật dài, chân mi thẳng lông cong thật đẹp
(Tợ như rèm lông ngưu vương)].
31/32 - Tướng Bạch Ngọc Hào.
Kinh văn
:
世尊眉间有白毫相。右Ị行柔软如睹罗绵。鲜白光净逾珂?雪等。是三十一。»
-Lời kinh : Thế Tôn mi gian
hữu Bạch Hào tướng. Hữu truyền nhu nhuyến như đỗ-la-miên, tiễn bạch
quang tịnh du Kha-tuyết đẳng. Thị tam thập nhứt.
-Nghĩa kinh :
Khoảng giữa hai chân mày của Thế Tôn có tướng Bạch Hào. Nhúm lông
trắng nầy xoay tròn về phía hữu, mềm mại như tơ đỗ-la-miên (tơ cõi
trời), tươi trắng sáng suốt như ngọc “Kha-tuyết”. Là ba mươi mốt.
32/32 - Khuôn Trán Như Ô-Sắc-Nị-Ca.
-Kinh văn :
世尊顶上乌瑟腻沙高显贠周圆懿。犹如天盖。是三十二。善?现U。是名三十二大i士相
-Lời kinh :
Thế Tôn đảnh thượng Ô-sắc-nị-ca
(Urna-kesa) Phật cao hiển châu viên, do như thiên cái. Thị tam thập
nhị.
-Nghĩa kinh :
Giữa khoảng chót trán đến đỉnh đầu của Thế Tôn nổi lên một cục tròn
gọi là Ô-sắc-nị-ca (Nhục kế) Nơi đây cũng là “Ðảnh Tướng” (tựa như
thiên bảo cái). Ðó là tướng thứ ba mươi hai.
-ÐTÐ
:
三十二者白毛相。白毛眉间生不高不下。白净右Ị旋舒?长五7875?尺。相师言O。地天太子I三十大i人相如是
Tam thập nhị
giả, bạch mao tướng, bạch mao mi gian sanh bất cao bất hạ. Bạch tịnh
hữu truyền thư trường ngũ xích. Tướng sư ngôn : Ðịa thiên Thái Tử
tam-thập-nhị đại nhơn tướng như thị. [Ba mươi hai là, tướng lông
trắng, chùm lông trắng nhóm tròn giữa hai đầu chân mày, ngay bằng giữa
không cao không thấp. Trắng ngần trong suốt xoay tròn về phía phải dài
5 thước. Các tướng sư nói : Trong cõi bao la, Thái Tử có đầy đủ ba
mươi hai tướng của bậc Ðại-nhân vậy ]. (* Nói thước của thân
trượng lục).