Viết về gương
người tốt việc tốt, một nhà báo có thể làm thành một phóng sự xuất
sắc, có tính giáo dục cao. Viết về một danh nhân lịch sử, một học
giả có thể dựa vào các tài liệu khoa học mà thực hiện một đề tài
nghiên cứu có tính thuyết phục, có giá trị lâu dài. Ðó là những
tác phẩm mang tính khách quan, và ngòi bút của tác giả cứ từ các
dữ kiện thực tế mà đưa lên trang giấy những hình ảnh sinh động.
Nhưng đối với Ðức Thích Ca Mâu-Ni, là một bậc vĩ nhân lịch sử của
thế giới, Ðấng Giáo Chủ của hàng tứ chúng con Phật, Bậc Thầy của
ba cõi chúng sinh, thì ngòi bút điêu luyện nào có thể diễn tả
tường tận cuộc đời của Ngài, từ lúc Ðản sinh đến khi nhập diệt?
Ngôn từ nào vẽ ra được hình tướng trang nghiêm đẹp đẽ, biểu hiện
được tinh thần Bi-Trí-Dũng, ca tụng hết được công lao hoằng hóa
lợi sinh của Ngài trong suốt bốn mươi lăm năm ròng rã?
Là
con người, mấy ai không có tham sân si? Ðôi khi chỉ vì một chút
quyền lợi, một chức vụ nhỏ nhoi, người ta đã nhẫn tâm giết hại
nhau rồi. Thái tử Sĩ-Ðạt-Ta cũng là con người, sống trong uy quyền
tột đỉnh, trong hạnh phúc gia đình đầm ấm, lại tự nguyện từ bỏ tất
cả, sống cuộc đời Sa-môn khổ hạnh trong núi rừng, tìm đạo giải
thoát. Sự hy sinh ấy há chẳng phải vô vùng cao cả hiếm hoi?
Suốt
sáu năm thiết tha cầu đạo, hết học với các vị Tiên đến thực hành
công phu khổ hạnh, quên cả thân xác đến nỗi hình hài chỉ còn da
bọc lấy xương, Ngài vẫn không cô phụ lý tưởng đời mình. Lời thề
sấm sét dưới cội Tất-bát-la thể hiện rõ một ý chí dũng mãnh, một
nghị lực siêu phàm của Ngài. Dù trên đường tu mà Ngài không đạt
mục đích tối hậu là giác ngộ và giải thoát sinh tử thì Ngài không
chùn bước, chỉ riêng ý chí nghị lực ấy cũng đã khiến nhân loại
phải cúi đầu!
Thế
mà, sau khi tu thành đạo, Ngài đã tạo dựng cho mình những danh
vọng quyền lực gì? Thông thường, chúng ta miệt mài làm việc học
tập, chịu nếm trải muôn vàn đắng cay, chịu hy sinh hạnh phúc gia
đình và cả tuổi thanh xuân của mình, cũng chỉ hy vọng có ngày
thành công trong sự nghiệp; và lúc ấy, chúng ta sẽ được đền bù
xứng đáng, về vật chất lẫn tinh thần. Chính niềm hy vọng ấy là
động lực kích thích động viên ta cố gắng vượt qua mọi khó khăn
gian khổ. Riêng đối với Ðức Phật, dù được người đời tôn xưng là
Bậc Giác ngộ Viên mãn, là Ðấng Giáo chủ Thích-Ca Mâu-Ni, Ngài cũng
vẫn sống cuộc đời vô cùng đạm bạc. Hình ảnh Ðức Phật dẫn đầu đoàn
Tăng sĩ, đầu trần chân đất, vận áo nhuộm ôm bình bát, khất thực
từng nhà trên đường về thành Ca-tỳ-la-vệ quê hương, thật trái
ngược với bức tranh “vinh quy bái tổ” lộng lẫy hoành tráng của một
vị Thái tử, theo tưởng tượng của vua cha và quần thần. Nhưng chính
sự trái ngược giữa tưởng tượng và thực tế ấy càng làm nổi bật tư
cách cao thượng và sự vĩ đại của một Bậc Giác ngộ đã thành tựu
tinh thần vô ngã vị tha.
Trong cuộc đời hoằng hóa độ sinh, khó có thể tính được bao nhiêu
đường đất Ngài đã đi, bao nhiêu nhà được Ngài gieo duyên bằng hạnh
khất thực, bao nhiêu người được nghe những lời Ngài giáo hóa.
Trong Tăng đoàn của Ngài, mọi người đều bình đẳng trong sinh hoạt,
trong tu học và trong quả chứng. Chính Ngài đã làm một cuộc đại
cách mạng khi triệt để xóa bỏ ý thức phân biệt giai cấp, mà biểu
tượng đỉnh cao là sự đảnh lễ của một vị vua dòng Sát-đế-lợi trước
một bậc A-la-hán xuất thân từ giai cấp mạt hạng Thủ-đà-la.
Có
thể nói, ngày Ðản sinh (rằm tháng tư) và đêm Thành đạo (mùng tám
tháng chạp) là hai dấu ấn quan trọng bậc nhất của cuộc đời Ðức
Phật, và là hai ngày trọng đại nhất đối với những người con Phật
chúng ta. Bởi vì nếu Bồ-tát Hộ Minh không thị hiện xuống cõi Ta-bà
thì không có Thái tử Sĩ-Ðạt-Ta, không có ngày khởi đầu một kỷ
nguyên mới – kỷ nguyên của từ bi, trí tuệ và hùng lực - không có
Ðức Phật, không có Pháp, cũng không có Tăng già. Như vậy, ngày Ðản
sinh là dấu ấn thứ nhất bắt đầu cuộc đời Thái tử, và đêm Thành đạo
là dấu ấn thứ hai của sự ra đời ba ngôi báu Phật – Pháp – Tăng
trên thế gian này.
Ðã
hai mươi lăm thế kỷ trôi qua, con người vẫn còn lăn lộn trong cuộc
tử sinh. Ðâu đó vẫn còn hận thù chiến tranh. Chúng ta vẫn còn
nhiều lúc giật mình khi biết nơi này nơi kia còn tàn sát nhau,
hành hạ nhau không thương tiếc. Mây mù đang bao phủ bầu trời, và
nhân loại đang từng ngày lo sợ những cái chết không báo trước. Tuy
thế, một góc trời bình an hạnh phúc vẫn còn hiện hữu. Chỉ cần
chúng ta tỉnh thức, lắng sâu tâm thức nghe bức thông điệp từ bi
cứu khổ của Ðức Phật. Pháp âm vi diệu ấy vẫn vang vọng nếu ta chịu
mở lòng ra đón nhận. Ánh giác ngộ ấy vẫn chói lọi nếu ta chịu quay
lại soi sáng chính mình!
Chúng tôi không phải là nhà văn với khả năng sử dụng từ ngữ văn
hoa chuẩn xác; cũng không phải nhà nghiên cứu với kiến thức uyên
bác, với sự nghiên tầm công phu, lại viết về sự ra đời và sự thành
đạo của một Bậc Ðại Thánh Vô thượng, thì quả là một việc làm quá
sức chúng tôi, không khỏi lỗi lầm với những bậc thức giả. Nhưng vì
lòng tôn kính biết ơn vô hạn đối với người đã hy sinh cả cuộc đời
mình để chỉ dạy cho chúng sinh phương pháp thoát ly sinh tử; vì
lòng tôn kính nhớ ơn vô biên đối với vị Cha lành nuôi lớn thân huệ
mạng của mình; và vì tâm thành thiết tha muốn tất cả mọi người
luôn nhớ về gương sáng của Ngài, nguyện đời đời đi theo con đường
Ngài đã đi và đã đến đích; nên chúng tôi tập hợp những bài viết đã
đăng trên một số tập san Phật giáo,
làm thành quyển sách này. Nhưng vì là những bài viết cùng chủ đề,
không sao tránh khỏi có nhiều chỗ trùng lập. Ðộc giả hãy thông cảm
cho. Xin được xem đây như một nén tâm hương, kính dâng lên Ðức Từ
phụ Bổn Sư nhân ngày Khánh Ðản.
Mong
rằng tất cả chúng ta luôn được sống trong hào quang vô lượng của
Ngài!
Thiền
Thất Viên Giác
Ngày
Phật Ðản – PL. 2548
THÍCH THÔNG HUỆ
Vào ngày trăng tròn
cách đây trên 25 thế kỷ, có một bậc vĩ nhân
xuất hiện ở
đời. Ngài sinh vào cung Vua Tịnh Phạn năm 563 trước Tây lịch. Ðó
là thái tử Sĩ Ðạt Ta, sau thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Cuộc
đời Ngài từ lúc đản sinh đến khi nhập diệt là một cuộc đời hết sức
đẹp đẽ và có ý nghĩa. Ngài đã đi vào quá khứ, nhưng uy đức và trí
tuệ của Ngài vẫn còn sống mãi với con người và cuộc đời. Hôm nay,
nhân ngày Phật đản sinh, chúng ta cần ôn lại một đôi điều trong
các Kinh điển Phật giáo để hiểu được ý nghĩa sự ra đời của Ðức Từ
phụ. Từ đó, chúng ta nguyện noi gương Ngài, luôn tinh tấn trên
bước đường tự lợi, lợi tha. Chúng ta đều biết, Hoàng Hậu Ma Gia hạ
sinh Ngài tại vườn Lâm Tỳ Ni, trên đường về quê ngoại. Khi mới
sinh ra, Ngài đi được bảy bước, mỗi bước có hoa sen nâng chân, một
tay chỉ trời, một tay chỉ đất, Ngài đọc bài kệ như sau:
Thiên thượng Thiên hạ
Duy ngã độc tôn
Nhất thiết thế
gian
Sinh lão bệnh tử.
Tạm dịch:
Trên trời và dưới
trời
Chỉ có Ta trên hết
Tất cả trong thế
gian
Ðều Sinh lão bệnh tử.
Những hình ảnh trên
đây mang nhiều ý nghĩa rất sâu mầu. Vì sao Thái tử Sĩ Ðạt Ta đi
bảy bước mà không nhiều hơn hoặc ít hơn? Con số bảy nói lên điều
gì? Về mặt thời gian, người ta thường cho là có ba thời: quá khứ,
hiện tại, vị lai. Về không gian thì có bốn phương chính: Ðông,
Tây, Nam, Bắc. Những quan niệm về thời gian và không gian, thật ra
chỉ là con đẻ của vọng tưởng, không phải là lẽ thực. Cho nên, hình
ảnh Thái tử đi bảy bước tượng trưng Ngài đã siêu vượt được thời
gian và không gian, không còn bị ràng buộc trong những qui ước
tương đối của con người.
Về hoa sen, tất cả
Phật tử đều biết một đặc điểm rất tuyệt vời của nó, là mọc từ bùn
nhơ mà vươn lên rồi tỏa hương thơm ngát. Hoa sen ở trong bùn mà
không bị lấm bùn, không bị bùn nhơ làm ô nhiễm. Thái tử cũng như
thế, sinh vào chốn trần lao để làm lợi ích cho chúng sinh nhưng
không bị vướng mắc, nhiễm nhơ bởi bùn lầy ngũ dục.
Bài kệ bốn câu Ngài
đọc đã làm một số người hiểu lầm. Ðạo Phật là đạo Vô ngã, vì sao
vị Giáo chủ lại đề cao cái "Ta" của mình quá đáng như thế? Nếu đọc
kỹ hai câu sau, chúng ta mới thấy cái nghĩa lý uyên áo trong đó.
Tất cả chúng sinh, không ai thoát được bốn điều khổ não là Sanh,
Già, Bệnh, Chết, dù ở cõi Chư Thiên (trên trời) hay cõi người
(dưới trời). Chỉ riêng "Ta" là trên hết vì "Ta" đã thoát được sự
ràng buộc này. Thử hỏi, tất cả những hình tướng của thế gian, có
cái gì không chịu sự chi phối của lý vô thường? Có sanh thì có
diệt, có hình tướng thì phải có hũy hoại, dù là thân hình có 32
tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Thái tử. Vì thế, cái "Ta" ở đây dứt
khoát không phải là cái ngã hữu hình hữu hoại của Ngài, mà chính
là cái "Chơn Ngã". Ðó là Chơn-tâm, Phật tánh, là
Bản-tâm-thanh-tịnh, là Phật-tri-kiến, là Tâm Viên-giác, là
Bản-lai-diện-mục... Nó có vô số tên vì bản chất nó không có tên.
Nó không có hình tướng nên không thể bị hũy diệt. Nó trùm khắp vạn
hữu nên siêu việt cả không gian và thời gian. Tất cả mọi hàm linh
đều có cái Ngã này, không ai hơn không ai kém. Phật đã nhận ra và
sống viên mãn với nó nên Ngài thành Phật, còn chúng ta vì quên nó
nên cứ mãi trôi lăn trong sanh tử luân hồi.
Hiểu được những điều
này, chúng ta thấy mình được đôi phần an ủi. Nếu
chúng ta ngồi
trong tư thế thiền tọa, tâm an định không bị vọng tưởng lôi dẫn,
thì rõ ràng ngay lúc ấy chúng ta cũng đang ngồi trên tòa sen. Nếu
chúng ta đi từng bước thiền hành, tâm an trú trong giờ phút hiện
tại mà không duyên theo các pháp, thì mọi bước đi của chúng ta
cũng có hoa sen nâng chân. Và nếu chúng ta luôn luôn tinh tấn, gội
rữa dần từng lớp bụi ngũ dục, ở ngay trong cuộc đời mà không bị
nhiễm ô theo trần cảnh, thì một lúc nào đó, ánh trực giác đột
nhiên bừng lên, bóng tối vô minh từ bao đời kiếp sẽ bị xua tan
không còn dấu tích.
Trong Kinh A Hàm có
câu: " Một chúng sinh duy nhất, một con người phi thường đã xuất
hiện trên thế gian này, vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho
số đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc
cho Chư Thiên và loài người".
Vì sao đức Phật được gọi là "một chúng sinh". Ở đây, chúng
ta phải hiểu chữ "chúng sinh" theo nghĩa, các hình tướng do nhiều
pháp hợp lại mà thành. Như vậy, thân tướng của Ðức Phật, dù đủ vẻ
đẹp và tướng tốt, cũng là do tứ đại giả hợp mà thành, cũng bất
tịnh và vô thường như mọi người. Do đó, Ngài cũng là con người, là
chúng sinh, nhưng khác chúng ta ở chỗ, Ngài là một con người phi
thường, một chúng sinh duy nhất. Bởi vì, Ngài là một chúng sinh
không còn tham-sân-si, không còn lậu hoặc phiền não. Bởi vì, Ngài
là một con người tuy sinh ra nơi chốn trần lao, nhưng tự tại với
tất cả mọi cám dỗ của ngũ dục lục trần. Sự xuất hiện của Ðức Phật
mục đích cao cả, là vì lợi ích và hạnh phúc cho Chư Thiên và loài
người. Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng chói về sự quên mình để
đem lại an lạc và chỉ bày chân lý tối thượng cho chúng sinh.
Kinh Pháp Cú 193,
Phật dạy: "Khó gặp được Như Lai, không phải đâu cũng có, chỗ nào
Phật đản sinh, nơi đó tất an lạc". Nếu cho rằng
Như Lai là Ðức
Phật có 32 tướng tốt, gọi là Như Lai xuất thế, thì quả thật rất
khó gặp. Ðức Phật Thích Ca ở Ấn Ðộ đã nhập diệt trên 2.500 năm,
đến nay chúng ta vẫn chưa thấy có một vị Phật nào khác ra đời.
Nhưng nếu hiểu theo tinh thần Kinh Kim Cang, Như Lai
tức không từ đâu đến cũng không đi về đâu, nghĩa là phi sắc phi
tướng, vô hình vô vật, thì khi chúng ta tọa thiền, tâm lặng lẽ mà
hằng tri, thì khi ấy Như Lai đã hiện tiền. Một niệm tỉnh giác thì
Ðức Phật ra đời, vì Phật là Giác. Một niệm điên đảo chạy theo trần
cảnh thì Ðức Phật nhập diệt. Khi Như Lai tự tâm đản sanh, nghĩa là
lúc tâm an định sáng suốt thì rõ ràng nơi ấy tức khắc được an lạc.
Trong Kinh Pháp Cú
182: " Ðược sinh ra làm người đã là khó. Ðược sống còn lại khó
hơn. Ðược nghe chánh pháp là khó. Ðược gặp Ðức Phật ra đời là rất
khó". Quả thật, được làm thân người là khó, vì ngoài thế giới loài
người gồm 4 châu nhân gian, còn có các cõi khác như địa ngục, ngạ
quỷ ... Nhưng cái khó ở đây là khó phát tâm tu hành, vì thường thì
những nơi quá sung sướng (như cõi trời) hoặc quá khổ sở (như địa
ngục), chúng sinh ít có điều kiện được nhắc nhở để tiến tu. Còn
cõi người thì không quá sung sướng mà cũng không quá khổ cực,
nhiều khi gặp những thăng trầm trong cuộc sống hay đau khổ mất
mát, đó là những cơ hội để con người thấy rõ lý vô thường hay lý
nhân quả, từ đó nguyện theo con đường Phật dạy.
Trong bốn cái khó ở
trên, được gặp Phật ra đời là khó nhất. Trong một thế giới, không
bao giờ có hai vị Phật xuất hiện đồng thời. Chỉ khi nào giáo pháp
của vị Phật trước đã hết lưu truyền, thì vị Phật sau mới ra đời.
Hiện nay, dù đang trong thời mạt pháp, chúng ta không tận mắt thấy
được Ứùng hóa thân của Phật, nhưng chúng
ta vẫn còn nghe chánh pháp, vẫn còn chiêm ngưỡng được dung nhan
của Ngài qua hình tượng. Cho nên, nếu có ai tự xưng là Phật, giảng
pháp cho người khác, hoặc phao tin sắp có Hội Long Hoa, Phật Di
Lặc ra đời..., thì đó chỉ là những lời dối trá, mê hoặc người đời,
nhằm phục vụ cho một ý đồ đen tối nào đó.
Sự thị hiện của Ứùng
hóa thân Phật trên cõi đời là một sự kiện hiếm gặp, là điều vị
tằng hữu (chưa từng có). Nhưng chúng ta có khi nào tự hỏi, Ngài
xuất hiện trên đời để làm gì? Trong Kinh Pháp Hoa, Phật dạy: "Chư
Phật xuất hiện ở đời chỉ vì một đại sự nhân duyên: Khai thị cho
chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến". Bản hoài của Chư Phật mười
phương là muốn chỉ cho chúng sinh thấy, ai cũng có tri-kiến- Phật,
tức Phật tánh như nhau, bình đẳng không khác. Từ đó sẽ nhận ra và
hằng sống với Phật tánh của chính mình một cách viên mãn.
Kinh Phạm Võng,
Trường Bộ tập I, Phật dạy rằng: "Này các Tỳ kheo! Thân của Như Lai
còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến một đời sống khác đã bị chặt
đứt. Khi thân của Như Lai còn tồn tại, thì Chư Thiên và loài người
có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung, thì Chư Thiên và
loài người không thể thấy được". Khi Ðức Phật còn tại thế, thân 32
tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Ngài là một điều kiện tốt để dễ gần và
dễ giáo hóa những chúng sinh căn cơ thấp kém. Vì chìu uốn theo
tánh dục của chúng sinh nên Ngài phải thị hiện sắc thân như thế.
Nhưng dù thân ấy còn tồn tại, mà cái nghiệp lực thúc đẩy thọ lãnh
thân sau đã không còn. Chính lòng ái dục đã tạo dòng nghiệp lực
khiến đưa đến một đời sống khác, với chánh báo và y báo tương ứng.
Ứng hóa thân của Phật, vì có hình tướng nên Chư Thiên và loài
người có thể thấy được. Khi thân ấy đã hoại, Ðức Phật trở về với
pháp thân vô tướng nên không ai có thể thấy được Ngài. Tất cả
chúng ta cũng đều có pháp
thân vô tướng như thế. Vấn đề ở chỗ chúng ta có nhận ra không, và
tu hành cách nào để sống được với chân thân, miên mật từng phút
giây.
Chúng ta đã xét qua
một số ý nghĩa về sự đản sinh của Ðức Phật, để thấy rõ rằng, sự
xuất hiện của Ðức Thế Tôn, vị Giáo chủ của chúng ta, là một việc
hy hữu ở đời. Cứ mỗi lần mùa Khánh Ðản đến, người Phật tử về chùa,
nghe quý Thầy nhắc lại về cuộc đời và những đức tính cao đẹp của
Ngài, chúng ta mới biết rằng, Ngài cũng đã trải qua vô lượng kiếp
tu hành, cuối cùng mới thị hiện là Thái tử Sĩ Ðạt Ta ở Ấn Ðộ, sau
thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Ngài là một bậc vĩ nhân, đã để
lại một hình ảnh không bao giờ phai mờ trong lòng những người con
Phật khắp năm châu bốn biển. Vì cuộc đời Ngài quá vĩ đại và đẹp
đẽ, nên từ xưa đến nay, biết bao người đã dùng mọi hình thức văn
hóa để ca tụng cái toàn chân, toàn thiện, toàn mỹ của Ngài. Biết
bao người đã nguyện theo gương Ngài, quên mình để phụng sự chúng
sinh, hy sinh hạnh phúc riêng tư để lo cho hạnh phúc của nhiều
người. Những sứ giả của Như Lai đã mang thông điệp của Ðức Phật đi
vào cuộc đời, làm cho con người hiểu được bản chất của kiếp sống
là vô thường, là đau khổ, từ đó thúc giục con người sớm theo lời
dạy nơi Ngài tu hành để được giác ngộ và giải thoát.
Hôm nay, một lần nữa
kỷ niệm ngày Phật đản, chúng ta đem hết tâm thành quy ngưỡng và
đảnh lễ Ngài. Chúng ta thấy mình rất có phước duyên nên mới được
làm người, được thấm nhuần dòng sữa pháp, được Chư Tăng Ni hướng
dẫn tu hành, được làm bạn đạo cùng những người hiền thiện. Chúng
ta nguyện nhớ mãi hình ảnh Ngài bước trên hoa sen khi mới ra đời,
để bắt chước Ngài cũng bước từng bước an lạc, thảnh thơi trên
những bất ổn của cuộc sống. Thân ngũ uẩn của chúng ta tuy ở trong
trần thế, nhưng phải biết vươn lên, không để bùn nhơ của ngũ dục
làm ô nhiễm. Từ đó, chúng ta sẽ góp phần thổi một luồng sinh khí
mới vào cuộc đời, khiến mọi người cũng được an lạc và hạnh phúc.
Ðây là cách duy nhất để đền đáp ơn khó đền của Ðức Bổn Sư vô cùng
quý kính của chúng ta.
Một lần nữa, ngày
kỷ niệm Ðức Phật đản sinh lại về trên toàn thế giới. Trong không
khí tưng bừng của ngày hội lớn này, những người con Phật chúng ta
hãy suy gẫm đôi điều về sự xuất hiện của Ðức Bổn Sư. Từ đó, chúng
ta có thể rút ra những bài học quý giá, cần thiết cho cuộc sống
thường nhật và cho bước đường tu hành.
Hội nghị Tôn giáo thế giới lần thứ
tư, tổ chức tại Népal, đã chính thức công nhận vườn Lâm-Tỳ-Ni là
nơi Ðức Phật Thích Ca đản sinh. Vị Giáo chủ của chúng ta là một
nhân vật lịch sử, ra đời cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ, và vườn
Lâm-Tỳ-Ni trở thành một Thánh tích. Tuy Ngài là người của nước Ấn
Ðộ, nhưng lời dạy của Ngài - những chân lý vượt thời gian và không
gian, giờ đây đã lan truyền khắp hành tinh, mang tính hòa bình,
xây dựng và đem lại hạnh phúc đích thực cho con người.
Kinh Trung Bộ tập I, Phật dạy: "Này
Xá Lợi Phất! Những ai nói một cách
chân chính về Như Lai, sẽ nói như vầy: Một hữu tình không bị si
chi phối, đã sinh ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc của chúng sinh;
vì lòng thương tưởng cho đời; vì lợi ích an lạc và hạnh phúc cho
chư thiên và loài người". Vì sao Ðức Phật là một hữu tình không bị
si chi phối? - Ðức Phật xa xưa cũng là một chúng sinh hữu tình,
cũng từng vô minh tạo nghiệp, quay cuồng trong vòng luân hồi sinh
tử. Nhưng Ngài cũng đã trải qua vô lượng kiếp tu hành, nên trong
kiếp cuối cùng này, Ngài không còn si mê nữa. Sự ra đời của Ngài
tại Ấn Ðộ là một sự thị hiện, vì lợi lạc cho muôn loài chúng sinh,
nên đáng để chư Thiên và loài người ca ngợi tán thán.
Trong lịch sử tồn tại
và phát triển của mình, loài người đã đạt được một tầm cao về khoa
học kỹ thuật, cho phép đi sâu vào những bí ẩn của vũ trụ và cơ thể
con người. Nhưng bên cạnh trình độ cao của nền văn minh vật chất,
nhân loại đang bị đe dọa bởi bạo lực và chiến tranh - không những
là chiến tranh sắc tộc hay tranh chấp lãnh thổ, mà còn nhân danh
tôn giáo để tiến hành những cuộc Thánh chiến đẫm máu. Trong suốt
thế kỷ vừa qua, hành tinh chúng ta đã mang biết bao thương tích vì
hai trận thế chiến ở nữa đầu thế kỷ, cùng vô số cuộc xung đột vũ
trang và chiến tranh hũy diệt trên quy mô lớn sau này. Và do những
bất hạnh, những khổ đau triền miên đó, con người đã hướng về Ðạo
Phật, đến với giáo lý Phật Ðà, như đứa con mang thân xác gầy mòn
tiều tụy về nằm trong chiếc nôi êm của mẹ hiền. Thật vậy, Ðạo Phật
là đạo từ bi, ban vui và cứu khổ. Những người con Phật không bao
giờ mượn danh vị Giáo chủ của mình để truyền đạo bằng bạo lực,
bằng binh quyền. Ðạo Phật cũng không bao giờ chủ trương bắt buộc
người khác phải theo đạo mình. Bởi vì, như đã dẫn, Ðức Phật ra đời
vì an lạc hạnh phúc cho muôn loài chúng sinh, vì muốn loài người
được giác ngộ và giải thoát khỏi khổ đau và sinh tử luân hồi.
Trong thời Ðức Phật,
xã hội Ấn Ðộ được chia thành bốn giai cấp, trong đó có hai giai
cấp thống trị là Bà-la-môn lãnh đạo về tinh thần, và Sát-đế-lợi có
sức mạnh binh quyền, đứng đầu về chính trị xã hội. Giai cấp thấp
hèn nhất là Thủ-đà-la, bị chà đạp bóc lột, không còn có quyền làm
người nữa. Chính Ðức Phật, như một nhà đại cách mạng,
đã dõng dạc tuyên bố: "Không có giai cấp khi mọi dòng máu
cùng đỏ, không có giai cấp khi mọi nước mắt cùng mặn". Bằng trí
tuệ siêu xuất, Ngài thấy tất cả chúng sinh - kể cả chúng sinh hạ
đẳng, đều có Phật tánh như nhau. Vì vậy, bức thông điệp của Ngài
trao truyền cho xã hội đương thời và cho muôn thế hệ về sau, mang
tính bình đẳng và tính tự do tuyệt đối, cũng như trả lại cho con
người quyền làm chủ thực sự đối với vận mệnh của chính mình.
Vì sao nói Ðạo Phật
có tính bình đẳng tuyệt đối? - Chúng ta biết Ðức Phật chủ trương
không phân biệt giai cấp và giới tính. Trong Tăng đoàn của Ngài,
nhiều vị thuộc giai cấp Thủ-đà-la hoặc nữ giới được xuất gia. Ðây
là bình đẳng về xã hội, chỉ có tính cách tương đối. Ðỉnh cao nhất
của sự bình đẳng, là mọi người đều ngang nhau khi thọ lãnh nghiệp
báo hoặc khi tu thành đạo quả. Phàm phu chúng ta, nếu tạo nghiệp
ác thì bị đọa vào ba đường khổ, nếu tạo nghiệp thiện sẽ được tái
sinh về các cõi lành. Ðức Phật và chư vị Tổ sư, dù đã đắc đạo
nhưng nếu còn dư báo, cũng phải trả cho xong: Phật bị nạn kim
thương mã mạch, Tổ Sư Tử bị chặt đầu, Tổ Huệ Khả chết trong nhà
ngục... đó là bình đẳng đối với nghiệp báo. Nhưng nếu phàm phu
nghe lời Phật dạy, tinh tấn tu hành đúng đường đúng hướng, thì có
ngày cũng thành Phật như Ngài. Có thể nói, chỉ có vị Giáo chủ của
Ðạo Phật mới đặt mình ngang hàng với tất cả chúng sinh - vì đây là
cái thấy như thật của một người đã thực sự giác ngộ.
Mặt khác, Ðức Phật đã
dạy rõ cho chúng ta về lý nhân quả, với hai cặp phạm trù nhân quả
thế gian và xuất thế gian (Khổ - Tập, Diệt - Ðạo). Ðể phù hợp với
trình độ căn cơ, Ngài cũng phương tiện dạy về Ngũ thừa và phương
pháp tu hành tương ứng (tu Nhơn thừa phải giữ năm giới, tu Thiên
thừa là hành Thập thiện...). Tất cả chúng ta đều có quyền tự do
lựa chọn con đường mình đi, tự do tạo nghiệp và tự do thọ lãnh quả
báo. Nếu thấy được cái khổ tột cùng nhất chính là cái khổ luân
hồi, không muốn trầm luân sinh tử nữa, chúng ta cũng có quyền lựa
chọn pháp môn thích hợp để đạt mục đích cuối cùng là giải thoát.
Ðây há chẳng phải là sự tự do tột đỉnh, tự do tuyệt đối sao?
Từ năm 1948, thế giới
lấy ngày 10/12 làm ngày Quốc tế Nhân quyền, và hô hào tất cả các
nước hãy "Trả thế giới con người, những quan hệ của con người về
với bản thân con người". Nhưng thật ra, ở nơi này nơi khác vẫn còn
đầy dẫy những áp bức bất công, đầy dẫy sự kỳ thị chủng tộc - quốc
gia - tôn giáo. Chỉ riêng Ðức Phật ngay trong thời đại văn minh
chưa phát triển, con người còn mê tín theo những giáo thuyết thần
quyền, Ngài đã bảo mình không phải là thần linh để có quyền ban
phước giáng họa cho ai. Trong suốt cuộc đời, Ngài cũng nói năng
sinh hoạt như mọi người, cũng tọa thiền khất thực như các đệ tử
của Ngài. Ðức Phật là một con người bình thường, nhưng khác chúng
ta ở chỗ không còn bị tham-sân-si chi phối, nên trong cái bình
thường ấy chứa đựng cái phi thường. Ngài luôn đề cao tư cách con
người, luôn dạy con người phải tự mình tìm sự giải thoát ngay
trong chính mình chứ không mong cầu ở tha lực. Vì thế, Ðạo Phật đã
trả về cho con người quyền làm người chân chính nhất.
Sự kiện Ðức Phật đản
sinh được xem là điều chưa từng có; không những hy hữu về thời và
xứ, còn là hy hữu về đức và sự. Hy hữu thời là rất hiếm được sinh
ra cùng thời với Phật; hy hữu xứ là khó thể ở cùng nơi để chiêm
ngưỡng kim thân của Ngài. Ngài có vô lượng phước đức và vô lượng
trí huệ, nên gặp được người như Ngài là điều hiếm có - đó là hy
hữu đức. Lại nữa, sự nghiệp hoằng hóa độ sanh của Ngài trong vô
lượng kiếp tu hành thật không thể nghĩ bàn, tất cả chư vị Bồ tát
hay Hiền Thánh Tăng đều không sánh kịp, vì vậy ta gọi là hy hữu
sự.
Một hình ảnh độc đáo
trong quang cảnh ra đời của Ðức Phật, là bảy bước đi nở bảy đóa
sen. Ở đây, chúng ta không bàn về vấn đề thực hay hư của sự kiện,
mà chỉ đề cập đến ý nghĩa sâu xa của nó. Phật dạy: "Như hoa sen
tươi đẹp và dễ thương, không nhiễm ô bùn nhơ nước đục, giữa chốn
bụi trần ta không nhiễm chút bợn nhơ, như vậy ta là Phật". Hoa sen
tươi đẹp thanh khiết, tỏa hương thơm ngát đã có gốc rễ từ đâu? Nếu
không có bùn nhơ nước đục sen không nẩy mầm, tăng trưởng rồi trổ
hoa như thế. Thái tử Sĩ -Ðạt- Ta sinh ra trong hoàng cung, hưởng
tất cả lạc thú thế gian, nhưng
Ngài đã bỏ lại sau lưng để một mình đi tìm chân lý. Sống
trong ngũ dục nhưng Ngài không tham đắm, luôn luôn canh cánh trong
lòng ba câu hỏi lớn: Con người từ đâu sinh ra? - Sau khi chết đi
về đâu?- Có cách nào giải thoát khỏi luân hồi sinh tử? Ngài mang
thân phận làm người, giữa chốn bụi trần mà không bị nhiễm ô, khác
nào hoa sen trong bùn mà không hôi tanh mùi bùn. Lịch sử Phật giáo
có rất nhiều hoa sen ngát hương như thế: Tướng quốc Bùi Hưu và
Bàng Long Uẩn ở Trung Hoa, Sơ Tổ Trúc Lâm và Tuệ Trung Thượng Sĩ
của Việt Nam. Dù là cư sĩ hay người xuất gia, đều tìm được hạnh
phúc đích thực từ mãnh đất phiền não nhiễm nhơ của cuộc đời.
Từng bước đi nở hoa
sen là biểu tượng của những bước chân vững chãi và thảnh thơi
trong cuộc đời. Ðây là bí quyết của những hành giả tu Phật. Muốn
thành bậc xuất trần, phải ngay từ trần tục mà vươn lên. Người có
sức mạnh tu hành là người luôn thắng được những khó khăn trở ngại
đến từ bên ngoài và cả bên trong nội tâm của chính mình. Tu không
phải là trốn chạy các pháp mà là trực diện với chúng, nhưng tâm
không dính mắc khi đối duyên xúc cảnh - Ðối cảnh vô tâm mạc vấn
thiền. Khi tiếp xúc với trần cảnh mà tâm không khởi niệm phân biệt
hay - dở, tốt - xấu, ưa - ghét ..., ngay đó đã là Thiền, không cần
hỏi Thiền chi nữa. Hiểu được như vậy, chúng ta mới thấu triệt được
tinh thần của Ðại thừa Phật giáo, ngay trong vô thường mà thấy cái
hằng hữu, ngay trong khổ đau mà chứng được Bồ đề.
Một biểu tượng khác
của hoa sen thường được đề cập đến trong nhà Thiền, là sen nở hoa
trong lò lửa. Chúng ta có tin được điều này không? Xin hãy nghe
bài kệ:
Thấm thoát thu qua
mấy độ rồi
Ðời người bóng chớp
áng mây trôi
Muôn vật hiện bày trò
ảo hóa
Sen nở trong lò sắc
thường tươi.
Trong lò lửa vô
thường của thân tứ đại, có một đóa sen luôn luôn tươi tốt. Ðóa sen
ấy là Diệu Pháp Liên Hoa. Ðây cũng là ý nghĩa của cành mai không
bao giờ tàn, mà Thiền sư Mãn-Giác đã nhìn thấy. Hoa sen hay cành
mai ấy là chân tâm, là Phật tánh của mỗi chúng sinh. Tuy chúng
sinh ở trong cảnh giới vô thường, mang thân vô thường, tâm nghĩ
tưởng cũng vô thường, nhưng pháp thân không bao giờ biến hoại theo
thời gian vô cùng và không gian vô biên. Người tu chúng ta phải
nhận được chân tâm bất sinh, bất diệt trong ngũ uẩn sinh diệt và
luôn sống với nó - đó là mục đích cuối cùng của mỗi người tu Phật.
Có khi nào chúng ta
tự hỏi: Ðức Phật xuất hiện nơi đời là vì bản thân Ngài hay vì
chúng sinh? Và vì sao trong suốt 45 năm hoằng pháp, tựu trung Ngài
chỉ nói về khổ và phương pháp thoát khổ? - Bản hoài của chư Phật
là chỉ cho tất cả chúng sinh nhận ra và sống được với bản lai Phật
tánh của chính mình. Do vậy, Ðức Thích-Ca thị hiện trên thế gian
này là vì chúng sinh, muốn chúng sinh cũng được giác ngộ giải
thoát như Ngài. Nhưng bởi chúng sinh còn vô minh, nhận lầm cái giả
cho là thật, cái khổ cho là vui, cái không có chủ thể cho là ngã,
cái nhiễm nhơ cho là thanh tịnh, nên Ngài phải giúp chúng ta ý
thức được cuộc đời là khổ não vô thường. Một người luôn luôn sống
trong cảnh sung sướng giàu sang, mọi việc đều thành tựu như mong
cầu, thì khó tu và khó tiến. Nếu gặp việc bất như ý hay đau khổ
trong đời sống, ta mới dễ thức tỉnh, dễ đến với Ðạo. Có thể nói,
khổ đau là chất liệu nung nấu người tu tìm cách thoát khổ, là điều
kiện cần thiết để một hành giả thăng tiến đạo lực, vì đạo lực chỉ
biểu hiện nơi cảnh thử thách truân chuyên, cũng như bùn nhơ nước
đục là điều kiện cần để hoa sen nở và tỏa hương thơm ngát.
Nhân ngày Khánh đản,
chúng ta suy nghiệm lại một số điều mà Ðức Phật muốn truyền trao,
bằng thân và khẩu giáo. Ðặc biệt, chúng ta học nơi Ngài tình
thương bao la, trí huệ siêu xuất và ý chí phi thường. Có tình
thương bao la tức đại bi, Ngài đã thị hiện vào các cõi tế độ quần
sinh. Do giác ngộ tột cùng nên Ngài có đại trí tức trí vô sư, thấu
triệt được thực tướng
của tất cả pháp và thể nhập chân tâm thường trụ; từ đó khởi
phát diệu dụng, thiết lập phương tiện giáo hóa người hữu duyên. Do
ý chí phi thường tức đại hùng, Ngài đã chiến thắng những chướng
ngại nội tâm cũng như những thử thách bên ngoài mà thành tựu đạo
quả.
Chúng ta cũng thệ nguyện thừa hưởng
pháp âm vi diệu của Ngài, vun bồi lý tưởng giải thoát để cuộc sống
thăng hoa, để lòng từ mở rộng. Chúng ta cố gắng tu tập theo Ngài
để cuộc đời mình có nhiều lợi ích, nhiều ý nghĩa; và trang trải
kết quả ấy cho những người xung quanh cũng được lợi ích như mình.
Ðó là cách cúng dường Ðức Bổn Sư thiết thực nhất.
Ngày
Phật đản được xem như ngày tết của Phật giáo, vì đánh dấu thời
điểm trọng đại một bậc vĩ nhân ra đời vì lợi ích cho nhân loại nói
riêng và cho chúng sinh trong toàn pháp giới nói chung. Cuộc đời
của Ðức Bổn Sư, từ khi sinh ra đến khi nhập diệt, đều thể hiện
tính cách kỳ vĩ siêu tục có một không hai. Cho đến bây giờ, dù đã
trải qua 25 thế kỷ, trí tuệ và lòng từ bi của Ngài vẫn còn ảnh
hưởng sâu đậm đến cuộc đời, và là tấm gương sáng chói cho tất cả
mọi người con Phật.
Kinh
kể rằng, Ðức Bổn Sư của chúng ta vốn là một vị Ðại Bồ-tát ở nội
viện cung trời Ðâu Suất. Ngài chỉ sinh vào cõi Ta-bà một lần cuối
cùng là thành tựu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên được
tôn là Bồ-tát Nhất sanh Bổ xứ. Trước khi nhập thai, Ngài quan sát
khắp cõi Diêm-phù-đề, thấy nước Ấn Ðộ là trung tâm, và Vương quốc
Ca-tỳ-la-vệ là nơi cường thịnh nhất. Vua Tịnh-Phạn và Hoàng Hậu
Ma-Gia là những người đạo đức, có duyên với Ngài từ nhiều đời.
Trong Vương quốc, phần đông dân chúng được thuần hóa, những ngành
Triết học rất thịnh hành. Vì thế, Ngài chọn hoàn cảnh trên làm y
báo.
Gần đến ngày sinh, Hoàng hậu Ma-Gia
theo tục lệ trở về quê mẹ. Ðến vườn Lâm-Tỳ-Ni, bà hạ lệnh nghỉ
chân. Thấy trên cành cây vô ưu có một nụ hoa vừa nở, bà đưa tay
lên hái. Ngay lúc đó, Thái tử từ hông phải của bà sinh ra. Vừa mới
ra đời, Thái tử đã đi bảy bước, có bảy hoa sen nâng chân. Một tay
chỉ trời, một tay chỉ đất, Ngài đọc bài kệ như sau:
Ngã ư nhất thiết
Thiên nhân chi
trung
Tối tôn tối thắng.
Vô lượng sinh tử
Ư kim tận hỉ.
Tạm
dịch:
Ta đối với tất cả
Chư Thiên và loài
người
Là tối tôn tối
thắng.
Qua vô lượng sinh
tử
Kiếp này là chấm
dứt.
Một bài kệ khác thường được truyền
tụng hơn:
Thiên thượng thiên
hạ
Duy ngã độc tôn
Nhất thiết thế
gian
Sinh lão bệnh tử.
Tạm dịch:
Trên trời dưới
trời
Chỉ Ta trên hết
Tất cả thế gian
Sinh lão bệnh tử.
Những sự kiện phi khoa học nầy khiến
chúng ta khó thể chấp nhận; và nếu không hiểu ý nghĩa sâu xa của
huyền thoại Ðản sinh, ta dễ cho đó là dị đoan mê tín.
Người xưa có câu “Lưu danh thiên cổ, lưu xú vạn niên” (Ðể lại
tiếng thơm ngàn đời, để lại tiếng xấu muôn năm). Ðối với những bậc
vĩ nhân có công lớn với đất nước, lịch sử luôn luôn ca ngợi và
trong dân gian cũng có nhiều truyền thuyết về cuộc đời của các
Ngài. Ðây là biểu hiện lòng tôn kính ngưỡng vọng của người đời,
phù hợp với tinh thần Ðông phương ưa sự mầu nhiệm huyền bí, khác
với tính thực tế của Tây Phương, thường đánh giá sự việc bằng
thước đo khoa học. Ðức Phật là bậc vĩ nhân đệ nhất trong lịch sử,
truyền thuyết về Ngài đã nói lên phần nào sự tôn sùng kính ngưỡng
của các hàng môn đệ.
Mặt
khác, huyền thoại Ðản sinh của Ðức Phật còn có ý nghĩa tượng trưng
sâu xa. Vì Ngài đã là vị Ðại Bồ-tát trước khi thị hiện xuống cõi
Ta-bà, nên Ngài không sinh theo lối thông thường mà sinh từ hông
phải của hoàng hậu Ma-Gia. Bên phải tượng trưng sự thuận chiều,
tức thuận chiều Niết-bàn và nghịch chiều sinh tử. Ngài không bị
cuốn vào vòng xoáy luân hồi mà vượt thoát, và độ nhiều người cùng
vượt thoát như Ngài. “Phương pháp nào giúp con người thoát ly sinh
tử?” là vấn nạn lớn nhất của kiếp người, nhưng chỉ có Ngài biết
đặt ra và biết cách trả lời thỏa đáng.
Bảy
bước đi của Thái tử lúc mới hạ sinh tượng trưng ba yếu tố thời
gian (quá khứ – hiện tại – vị lai) và bốn chiều không gian (đông
tây nam bắc). Một người tự tại giữa dòng sinh tử sẽ không bị chi
phối bởi thời gian vô cùng và không gian vô biên. Hoa sen nở dưới
gót chân Thái tử biểu tượng sự trong sạch giữa cuộc đời, sống
trong trần mà không nhiễm trước, như hoa sen mọc giữa bùn lầy mà
vẫn nở hoa thơm.
Thật
ra, những câu chuyện thần kỳ về Ðức Phật được truyền tụng bao đời
nay, ngẫm lại vẫn chưa tương xứng với phẩm chất cao quý, với công
hạnh độ sanh của Ngài. “Xưng dương cập tán thán, ức kiếp mạc năng
tận”. Dù xưng tán trong trăm ngàn ức kiếp, chúng ta cũng không thể
nói hết sự vĩ đại siêu tuyệt của cuộc đời Ngài. Ngay sự thị hiện
bằng thân 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp cũng có tính cách giáo hóa –
vừa nói lên công đức tu hành trong vô lượng kiếp của một bậc Ðại
Thánh, vừa chiều uốn theo sự ưa thích cái đẹp của chúng sinh để dễ
bề tiếp cận dạy bảo họ. Ngài cũng có một cuộc sống thế tục trước
khi xuất gia, cũng có những sinh hoạt bình thường như mọi người,
khiến ai cũng thấy Ngài vô cùng gần gũi ; từ đó phát khởi lòng tin
mình cũng có khả năng tu hành và thành đạo như Ngài.
Một
người có thân tướng đẹp đẽ hiếm thấy, có cuộc sống cao sang tột
bực, có hạnh phúc gia đình hoàn mỹ, vì sao lại từ bỏ tất cả, sống
đời cô độc khổ hạnh trong rừng già? Ðối với chúng ta, chỉ từ bỏ
chút ít tài sản hay quyền lợi nhỏ nhoi để theo đuổi một mục đích,
đã là việc khó làm. Và khi làm được điều ấy, ta lại mong thụ hưởng
kết quả, mong cho bản thân mình và người xung quanh có một ngày
mai tươi sáng hơn hôm nay. Chỉ riêng Ðức Phật nhận chân cuộc đời
và con người đều là những thứ giả tạm nay còn mai mất, nên với ý
chí xuất trần, Ngài nỗ lực đi tìm lẽ thật tuyệt đối, cái chân
thường hằng hữu trong các pháp giả hợp vô thường. Sau khi đạt được
ý nguyện, trở thành vị Giáo chủ mà Trời người đều kính ngưỡng,
Ngài vẫn bình đẳng với tất cả mọi người trong một cuộc sống vô
cùng giản dị. Ðôi chân trần đưa Ngài đi khắp nơi, gieo duyên và
hóa độ cho biết bao người, trong suốt 45 năm ròng không hề mệt
mỏi. Ðến giờ phút cuối cùng, Ngài vẫn còn thiết tha nhắc nhở việc
tu hành cho môn đệ. Những chân lý Ngài đã thấy, những phương pháp
hành trì thoát ly sinh tử, Ngài đều chỉ dạy tường tận, không hề
giấu giếm chút gì, vì thế ta tôn xưng Ngài là Bậc Giác hạnh viên
mãn. “Viên mãn” không có nghĩa Ngài đã độ tất cả chúng sinh, không
có nghĩa tất cả môn đệ của Ngài đều thành tựu quả vị tối thắng.
“Viên mãn” chỉ có nghĩa, giáo pháp của Ngài là rốt ráo cao tột,
những điều cần dạy Ngài đã dạy hết, Ngài không để lại điều gì bí
mật cho riêng mình. Ai tuân theo lời Ngài chỉ dạy, đi đúng con
đường Ngài đi, chắc chắn sẽ đạt kết quả như Ngài.
Một
người kinh doanh, trước tiên phải có vốn đầu tư. Người muốn có một
học vị, phải trang bị vốn kiến thức tương xứng về lĩnh vực chuyên
môn. Ðối với người Phật tử, muốn đạt mục tiêu Giác ngộ – Giải
thoát, trước hết phải có lòng tin đối với Tam bảo. Chúng ta tin
Ðức Phật là Bậc Toàn giác, là vị cha lành với trí tuệ, từ bi và
hùng lực siêu xuất đáng cho ta tin phục kính ngưỡng. Chúng ta tin
Pháp là những lời Ðức Phật tuyên thuyết, là thuyền bè đưa ta qua
sông sinh tử, là ngọn đuốc soi đường trong đêm tối vô minh. Chúng
ta tin chư Tăng là những người thay Phật lưu truyền chánh pháp.
Tuy chư Tăng chưa giác ngộ bằng Ðức Phật, nhưng các vị nhận trọng
trách trung gian giữa Ðức Phật và chúng sinh nên là “Sứ giả
Như-Lai”; các vị thắp sáng đuốc tuệ, làm chánh pháp mãi mãi trường
tồn, nên được tôn xưng là Tăng bảo – một trong ba ngôi báu. Nếu
chúng ta không có niềm tin sâu xa đối với Tam bảo, ta không chịu
khó nghiên cứu giáo lý, không tu hành theo chánh pháp, dễ bị lôi
cuốn bởi ngũ dục lục trần, đường tu có thể rơi vào những ngã rẽ
đáng tiếc. Do vậy, có thể nói, niềm tin Tam bảo là một trong những
điều kiện quan trọng bậc nhất của người Phật tử.
Ðức Phật đã nhập diệt, thân 32 tướng
tốt không còn nữa, nhưng ánh giác của Ngài vẫn soi sáng, pháp âm
vi diệu của Ngài vẫn vang vọng và ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ đến
toàn nhân loại. Nếu không có Phật pháp, con người sẽ còn độc ác
hung bạo gấp bao lần, cuộc đời còn chìm đắm trong đau khổ biết bao
lâu. Chúng ta có diễm phúc được sống trong hào quang của Ðức Phật,
tự thấy đời mình có phần an ổn thanh lương, phiền não có phần giảm
thiểu; từ đó vững bước tiến trên đường đạo. Ðể có thể tiếp cận với
Ngài, chúng ta không mong thấy được thân tướng, mà phải nương vào
nội tâm tỉnh giác của chính mình. Một niệm giác là ta đối diện với
ba đời chư Phật, một niệm mê là Phật nhập Niết-bàn. Như thế, giữ
gìn thân miệng ý thanh tịnh là phương pháp trực tiếp gặp Ðức Phật
một cách dễ dàng và có kết quả không nghi.
Thông thường, khi
liên tưởng đến Ðức Bổn Sư, chúng ta nghĩ đến sắc thân tuyệt hảo
của Ngài với 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Ðó là sự toàn mỹ của hình
thức, mà vì chìu uốn theo thị hiếu của chúng sanh, Ngài đã thị
hiện ra đời để dễ bề tiếp cận và giáo hoá. Riêng nhân cách vĩ đại
của Ngài, sự toàn thiện toàn chân của đời sống nội tâm, chúng ta
khó thể hiểu được thấu đáo vì không có trình độ tâm chứng khả dĩ
tương ưng. Tuy vậy, những người con Phật chúng ta cũng cần biết
đến một số đặc điểm nổi bật của Ngài, dù chỉ là sơ lược, để củng
cố lòng tin và càng thêm tôn kính vị Giáo chủ của mình .
Ðọc lịch sử Ðức Phật
Thích Ca từ khi sinh ra đến khi thành đạo và nhập diệt, chúng ta
thấy Ngài cũng là một người như bao người bình thường khác.Ngài
cũng từng hưởng lạc thú thế gian, từng đau khổ bệnh hoạn và cuối
cùng, cũng từ giã cuộc đời như bất cứ ai. Ðây là một điều khích lệ
lớn, vì chúng ta thấy Ngài vô cùng gần gũi, và tin tưởng mình cũng
có khả năng tu hành, chứng ngộ như Ngài, nếu chúng ta biết đi đúng
đường đúng hướng.
Kinh Kim Cang, đoạn
mở đầu diễn tả một số công việc thường nhật của Ðức Bổn Sư: "Khi
ấy gần đến giờ thọ trai, Ðức Thế Tôn đắp y mang bát vào đại thành
Xá-Vệ khất thực. Trong thành, Ngài theo thứ lớp khất thực xong,
trở về trú xứ. Sau khi thọ trai, Ngài cất y bát, rửa chân, trải
tòa ngồi".Tất cả
việc làm nầy hoàn toàn quen thuộc đối
với mọi người, không có gì mang tính chất siêu phàm vượt thế hay
phô diễn thần thông diệu dụng. Vậy tại sao Trưởng lão Tu-Bồ-Ðề
cung kính ca ngợi: "Ðức Thế Tôn! Thật ít có, Như-Lai khéo hộ niệm
các vị Bồ -Tát, khéo phó chúc các vị Bồ- Tát "? - Như hoa sen
trong bùn vẫn nở hoa tinh khiết, Ðức Phật ở trong trần lao nhưng
không vướng chút nhiễm nhơ. Ngài đã tẩy sạch lậu hoặc phiền não,
không còn vô minh tăm tối. Hàng ngày Ngài vẫn đối duyên xúc cảnh,
vẫn sinh hoạt nói năng, nhưng tâm Ngài không khởi niệm phân biệt
khen-chê-ưa-ghét. Nhà Phật gọi đó là Tâm bình thường - tâm ấy
chính là Ðạo. Toàn thân Ðức Phật là Ðạo, nên bên trong hình thức
bình thường lại chứa đựng sự phi thường, ngay nơi những hành động
thường tục luôn ẩn tàng sự siêu tục. Chính vì thế, chúng ta luôn
xưng Ngài là Ðấng Thế tôn - bậc tôn quí của thế gian.
Do rốt ráo chứng ngộ,
có cái nhìn thấu thể vào bản chất muôn pháp, nên Ðức Phật không
chấp nhận có một quyền lực
siêu nhiên nào có thể kiểm soát và chi phối vận mệnh con
người. Ngài cũng từng nói, Ngài không phải là một đấng thần linh
có quyền ban phước giáng hoạ cho ai. Mỗi người tự làm chủ vận mệnh
của mình, tự mình tạo nghiệp và thọ hưởng kết quả của nghiệp ;
không ai cứu rỗi được mình và mình cũng không thể tu thay cho
người khác.
Phật dạy:
"Hãy tự xem con là
hải đảo của con
Hãy tự xem con là nơi
nương tựa của con
Không nên tìm nương
tựa nơi ai khác".
Người đi biển gặp
trận cuồng phong, thuyền gần chìm đắm, bỗng nhiên thấy một hòn đảo
ở phía trước, ai cũng muốn tấp ngay vào để tìm sự bình an. Hải đảo
là nơi nương tựa của thuyền khi gặp tai nạn trên biển, cũng như
mình là nơi nương tựa vững chắc của mình khi bị sóng đời vùi dập.
Ðối với người tu, sự nổ lực cá nhân chính là điều kiện quyết định
để đạt mục tiêu giác ngộ và giải thoát. Nếu gởi gắm mục đích tối
hậu của đời mình vào một năng lực siêu nhiên, ấy là ta đã lầm lạc
từ căn bản. Ðức Phật còn bị nạn kim thương mã mạch, huống gì phàm
phu chúng ta. Cho nên, cầu Phật gia hộ cho mìmh luôn gặp may mắn
hạnh phúc, là điều không thực tế. Chúng ta hiểu cặn kẽ luật nhân
quả, có sức mạnh tinh thần, thì dù gặp thử thách khó khổ vẫn có
sức tự chủ và kham nhẫn. Người biết tu không phải mong tránh khỏi
nạn tai, mà là người luôn giữ chánh niệm tỉnh giác trước mọi hoàn
cảnh thuận nghịch trong đời.
Ðề cao tinh thần tự
lực, không phải đạo Phật hoàn toàn chối bỏ sự gia trì giúp đỡ của
tha lực. Tuy "tự mình thắp đuốc lên mà đi ", nhưng phải "thắp lên
với chánh pháp". Ðức Phật là bậc Ðạo sư, vị Thầy dẫn đường. Chúng
ta tự mình tiến bước, nhưng phải đi theo con đường Ngài đã đi, nếu
không muốn lạc vào ngã rẽ. Khi tâm ta thanh tịnh, phần nào tương
ứng cùng tâm chư Phật Bồ-Tát, tự nhiên được thần lực của các Ngài
gia hộ độ trì, sự linh ứng sao có thể phủ nhận? Nếu tham sân si
còn đầy dẫy mà thắp hương dâng lễ cầu xin việc nầy việc khác, mong
các Ngài thỏa mãn nguyện ước của mình, thử hỏi điều mong ước ấy có
thể thành tựu được không?
Trả cho con người
quyền làm chủ cuộc đời mình, trong cả ba thời quá
khứ - hiện tại - tương lai, quả
thật đạo Phật mang tính nhân bản rất cao và tính tự do tuyệt đối.
Ðây là một nét độc đáo của đạo Phật, vì vị Giáo chủ không bao giờ
tự xưng mình là Ðấng cứu tinh của nhân loại. Với tinh thần nầy,
chúng ta đến chùa nghe pháp, cũng không vội vàng tin tưởng mù
quáng vào ai, không thần tượng hóa người nào, dù đó là một vị thầy
khả kính. Nói như thế không phải khuyến
khích sự tự tôn kiêu mạn hay sự nghi ngờ quá đáng, mà chỉ cốt đề
cao khả năng tư duy độc lập, trí tuệ nhận định đúng - sai, hay -
dỡ. Người Phật tử cần có chánh kiến và chánh tín, biết đâu là
đường hướng phải theo, ai là vị Thiên tri thức hướng dẫn đời mình.
Khi đã quyết định đúng, ta sẽ có niềm tin kiên cố, có sức mạnh phi
thường vượt qua mọi trở ngại gian nan để hoàn thành đạo nghiệp. Ta
sẽ có sức sống trào dâng, có cơ hội bơi lội vào công phu của chính
mình để truyền đạt sức sống ấy cho mọi người xung quanh.
Một đặc điểm quan
trọng và độc đáo góp phần hình thành nhân cách vĩ đại của Ðức
Phật, cũng là một yếu tố căn bản khiến đạo Phật còn lưu truyền mãi
đến ngày nay, là tính bình đẳng đích thực. Không những Ngài chủ
trương bình đẳng giữa những giai cấp trong xã hội, giữa hai giới
nam và nữ, mà còn bình đẳng giữa loài người với mọi loài chúng
sanh. Ðặc biệt hơn cả là sự bình đẳng giữa Ngài là vị Giáo chủ tối
cao với tất cả môn đệ. Bằng trí tuệ siêu xuất của một bậc Giác ngộ
toàn triệt, Ngài thấy mọi chúng sanh đều có Phật tánh, mọi chúng
sanh đều có khả năng thành Phật. Vàng còn trong quặng bị lẫn nhiều
tạp chất, chưa biểu lộ giá trị thật sự của nó. Ðến khi được tôi
luyện thành vàng ròng, nó mới được tôn vinh. Ðức Phật là vàng đã
tôi luyện, chúng sanh còn là vàng trong quặng phiền não vô minh.
Nói về hình thức, Phật và chúng sanh khác nhau ngàn trùng. Nhưng
về bản chất, thì rõ ràng giữa Phật và chúng sanh không hơn không
kém. Bản chất vàng ấy là Phật tánh bình đẳng của muôn loài hữu
tình, mà nếu nhận ra, tức đã có chánh nhân thành Phật.
Xã hội Ấn Ðộ thời bấy
giờ bị phân chia thành bốn giai cấp, trong đó Thủ -Ðà- La là giai
cấp nô lệ, bần cùng nhất và bị khinh miệt nhất. Chính Ðức Phật đã
làm một cuộc cách mạng lớn khi mạnh mẽ xóa bỏ giai cấp, khiến lung
lay cả thể chế cố định từ bao đời. Ngài đã dõng dạc tuyên bố:
"Không có giai cấp khi mọi dòng máu cùng đỏ; không có giai cấp khi
mọi nước mắt cùng mặn". Trong giáo đoàn của Ngài, mọi người đều
được cư xử ngang nhau, đều được hưởng pháp âm vi diệu như nhau,
đều có điều kiện tu hành giống nhau, và đều có cơ hội chứng Thánh
quả nếu tu hành đắc lực. Ðối với nữ giới, xã hội đương thời không
xem trọng, các giáo phái khác cũng không cho gia nhập. Riêng Ðức
Phật, dù đợi Ngài A-Nan cầu xin đến ba lần và đặt ra Bát kỉnh
pháp, Ngài vẫn cho phép Di mẫu cùng một số nữ đệ tử xuất gia. Chư
Ni trong thời Ðức Phật cũng chứng Thánh quả, cũng có những vi nổi
danh đệ nhất về trí tuệ, thần thông, biện tài ... như chư Tăng
không khác.
Tâm từ bi của Ðức
Phật vô cùng rộng lớn, nên Ngài đối xử bình đẳng với tất cả mọi
người, không phân biệt thân sơ, thù bạn. Kẻ sát nhân Anguilimala
hay kỹ nữ Ambapàli cũng được Ngài giáo hóa và thành tựu công hạnh
như các Ðại đệ tử của Ngài. Ngay như Ðề-Bà-Ðạt-Ða, kẻ phá hòa hợp
Tăng, ác tâm hãm hại Ngài nhiều lần, Ngài vẫn tha thứ bao dung.
Thuyền to sóng lớn, chính người có công phu tu hành cao thâm lại
thường gặp nhiều trở ngại thử thách kinh khiếp, mà nếu vượt qua
được, sẽ tiến một bước rất dài trên đường đạo. Cho nên, ta có thể
hiểu vì sao Ðức Phật bảo Ðề-Bà-Ðạt-Ða là Thiện hữu tri thức bậc
nhất của Ngài. Chúng ta theo gương Ngài, nhìn cuộc đời bằng đôi
mắt bao dung như thế thì phiền não giảm thiểu biết chừng nào !
Một số giáo phái thời
Ðức Phật có tục lệ giết súc vật tế cúng thần linh. Bằng biện tài
vô ngại, Ðức Phật đã thuyết phục được ngoại đạo bãi bỏ việc giết
hại ấy. Trong giáo đoàn của Ngài, các môn đệ đều phải giữ gìn cấm
giới, mà giới không sát sanh, bao gồm việc không giết người và cả
súc vật - được đưa lên hàng đầu. Bởi vì, tất cả chúng sanh hữu
tình đều có mạng sống, cũng ham sống sợ chết như con người. Không
lý gì con người lại dùng sinh mạng của chúng để phục vụ cho nhu
cầu dinh dưỡng và giải trí cho mình; nói chi đến việc tế lễ cầu
Thánh Thần ban ơn phước. Ngay cả cây cỏ, chúng cũng có cái biết,
dù rất yếu và thô. Ngày nay, các nhà khoa học đã chứng minh, cây
khi được nghe những bản nhạc êm dịu sẽ trổ hoa và ra trái nhanh
hơn những cây đối chứng. Cách đây trên 25 thế kỷ, vị Giáo chủ của
chúng ta đã dạy các Tỳ-Kheo, phải có lòng biết ơn những loài thực
vâït cho mình bóng mát, rau quả, không được hũy hoại mầm sống dù ở
hình thức nào. Có thể nói, người tu theo tinh thần đạo Phật không
những tôn trọng sinh mạng của con người và loài vật, mà còn biết
bảo vệ môi trường sống, biết tạo khung cảnh yên lành thanh lương
cho tất cả chúng sanh.
Nhân ngày Phật đản,
chúng ta ôn lại những đức tính hiếm có của Ðức Bổn Sư, để thấy
mình có phước duyên vô hạn mới được làm đệ tử của Ngài, được đi
theo con đường Ngài chỉ dạy. Nhân cách vĩ đại của Ðức Phật là tấm
gương sáng chói về trí tuệ, đạo đức và phương cách xử thế. Hiểu
Ngài bao nhiêu, chúng ta càng tôn kính và tin tưởng Ngài bấy
nhiêu. Và tôn kính tin tưởng Ngài, chúng ta cũng tôn kính tin
tưởng giáo pháp của Ngài cùng những sứ giả thay Ngài nối truyền
mạng mạch Phật Pháp.
Chúng ta nguyện noi
gương Ngài, nỗ lực tu hành để phát huy trí tuệ và từ bi, tích cực
đem Ðạo vào đời để chan rải niềm an lạc hạnh phúc cho tất cả mọi
loài. Một ngày nào đó, chúng ta viên thành công hạnh tư lợi - lợi
tha, đó mới thật là đền đáp được ơn sâu dày của Ðức Bổn Sư, mới
không cô phụ bản hoài của chư Phật Bồ - tát. Tu hành theo tinh
thần ấy, chúng ta mới xứng đáng là môn đêï trong nhà Phật, và dù
đã xa Ðức Phật một khoảng cách không gian và thời gian, chúng ta
vẫn ở trong Pháp hội Linh Sơn, vẫn được tắm gôïi trong hào quang
vi diệu của Ngài, vẫn tận hưởng khoảnh khắc thiên-thu của cành sen
Ðức Phật và nụ cười Ca-Diếp!
“Một
người, nầy các Tỳ kheo, khi xuất hiện ở đời, là xuất hiện một cách
vi diệu. Người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc A-La-Hán Chánh đẳng
giác”. Ðức Phật đã nói về sự xuất hiện của chính bản thân Ngài và
của chư Phật, một sự kiện vô cùng trọng đại ngàn năm chưa một
thuở.
Vì
sao sự kiện Ðức Phật đản sinh được tôn xưng bằng mỹ từ “vi diệu”?
- Bởi vì sự hiện diện của Ngài trên thế gian như ánh sáng mặt trời
xua tan bóng đêm tăm tối; chúng sanh nhờ Ngài dẫn lối đã biết thế
nào là hạnh phúc đích thực, là bình an vĩnh cửu, thế nào là tình
thương chân thật và bình đẳng giữa người với người, giữa người với
vũ trụ vạn loại. Và trên tất cả, Ngài ban cho toàn thể loài người
một phương thuốc nhiệm mầu điều trị được nỗi khổ lớn nhất của
chúng sanh: nỗi khổ trầm luân sinh tử.
Một
tác phẩm quan trọng viết về cuộc đời Ðức Phật Thích-Ca, từ lúc đản
sinh đến khi nhập diệt, là Phật Sở Hành Tán của Bồ-tát Mã Minh
(100-160), tác giả bộ Luận Ðại thừa Khởi tín. Trong tác phẩm nầy
có nhắc lại lời Ðức Bổn Sư lúc mới đản sinh như sau:
Thử sinh vi Phật
sinh
Tắc vi hậu biên
sinh
Ngã duy thử nhất
sinh
Ðương độ ư nhất
thiết.
Tạm
dịch:
Phật thị hiện sinh
ra
Là lần sinh cuối
cùng
Ta trong một đời
nầy
Nguyện độ khắp tất
cả.
Bài
kệ nầy cho thấy rõ, sự xuất hiện của Ðức Phật là sự thị hiện của
một Bồ-Tát Nhất sanh bổ xứ. Chỉ còn sinh ra trên thế gian nầy
trong một đời, tu hành và thành tựu quả vị Phật, nên Ngài biết rõ
đây là lần sinh cuối cùng. Còn phàm phu chúng ta, khi ra đời mờ mờ
mịt mịt, đâu thể biết mình phải chịu luân hồi bao nhiêu kiếp nữa?
Có phước duyên gặp Phật pháp, nguyện nỗ lực tu hành mong chặt đứt
mối manh sinh tử, nhưng chúng ta cũng phải trải qua biết bao đời
kiếp, đâu phải chỉ một sớm một chiều. Ðiều này nhắc nhở chúng ta
thận trọng khi nghe người quả quyết có thể giúp ta giải thoát chỉ
trong một đời.
Vì biết rõ đây là lần sinh cuối cùng,
nên Ðức Phật nguyện trong đời này độ khắp tất cả muôn loài. Ròng
rã suốt 45 năm, Ngài đã đi cùng khắp xứ sở, giáo hóa cho mọi người
biết con đường sáng phải theo nếu muốn vĩnh thoát luân hồi. Công
hạnh của các vị Bồ-tát, từ lúc sơ phát tâm đến Nhất sanh bổ xứ đều
nhằm mục đích duy nhất, vừa tự lợi vừa làm lợí ích cho chúng sanh.
Ðến khi thành Phật, các Ngài vẫn thị hiện khắp các cõi, dưới nhiều
hình tướng thích hợp, hóa độ cho những chúng sanh hữu duyên. Các
Bồ-tát Quan-Âm, Văn Thù, Phổ Hiền hoặc cư sĩ Duy-Ma-Cật đều là
những hình ảnh tuyệt vời về công hạnh độ sanh của các vị Cổ Phật,
trợ hóa cho Ðức Phật Thích Ca.
Bản
thân Ðức Phật đã từng miệt mài khổ luyện ở trường đời và trường
đạo, nhờ vậy ngài sở đắc kiến thức bác lãm của thế gian và trí tuệ
tuyệt vời xuất thế gian. Từ năm 16 tuổi, Ngài đã thông thạo văn
chương võ nghệ, luôn dẫn đầu trong những cuộc thi tài. Lúc xuất
gia tìm thầy học đạo, Ngài đã quán thông mọi ngành tư tưởng triết
học và tôn giáo đương thời, thấu triệt 62 kiến chấp của ngoại đạo.
Nhiều lần vào hội chúng ngoại đạo có khi đông cả ngàn người, Ngài
vẫn dễ dàng đối phó. Nhờ trí tuệ siêu xuất và vô ngại biện tài,
Ngài thấy rõ những sai lầm trong các luận thuyết của họ, và bẻ gãy
những luận điểm ấy một cách khoa học, đầy sức thuyết phục. Một số
vị trưởng lão hoặc chức sắc cao cấp của Bà-la-môn, Kỳ-na-giáo ...
đã quy y theo Ðức Phật, trở thành những đệ tử lớn của Ngài. Ðức
Phật được tôn xưng là bậc Thế gian giải, vì Ngài uyên bác về cuộc
sống thế gian về mọi lĩnh vực trong đời người. Ngài đã chỉ dạy
tường tận về bản chất của cuộc đời là khổ, nguyên nhân của khổ để
đưa đến cái thấy như thật về các pháp là con đường bất tử thực
chứng Niết-bàn.
Không những Ðức Phật là vị đại diện tối cao của trí tuệ, Ngài còn
là tấm gương sáng ngời về lòng từ bi vô hạn và ý chí kim cương.
Bằng trí tuệ xuất thế, Ngài nhìn tất cả các pháp một cách thấu thể
tận nguồn cội của chúng, nên đối cảnh mà tâm vẫn như như. Ngài
thấy chúng sanh muôn loài đều bình đẳng ở tánh giác, chỉ vì vô
minh nhận thân cảnh giả là thật mình, mãi tạo nghiệp và đắm chìm
trong sinh tử, nên Ngài phát khởi tình thương bình đẳng và rộng
khắp tất cả chúng sanh. Ðây là bản chất của lòng từ bi – ban vui
và cứu khổ. Chính vì lòng từ bi, Ngài đã hy sinh mọi tài sản,
quyền lực và hạnh phúc thế gian, cả thân xác mình lúc tìm thầy học
đạo, chỉ với mục đích duy nhất là tìm cho mình và cho chúng sanh
con đường thoát ly sinh tử.
Sống
và tu chỉ với mục đích duy nhất ấy, Ngài đã khắc phục biết bao trở
ngại từ bên ngoài và cả bên trong: bên ngoài là hoàn cảnh khó khổ,
ngoại đạo phá khuấy; bên trong là những tập khí tham-sân-si ngay
tự thân. Ðây là ý chí sắt đá, là hùng lực của bậc Thánh nhân, thể
hiện rõ nhất nơi lời thề sấm sét dưới cội Tất-bát-la: dù thịt nát
xương tan, nếu chưa thành tựu đạo quả thề không rời khỏi chỗ nầy!
Và sau 49 ngày nổ lực công phu, cuối cùng Ngài đã hoàn thành sự
nghiệp vĩ đại: trở thành Bậc Vô thượng Chánh Ðẳng Chánh giác, Ðấng
ban vui của toàn thể chúng sanh, Bậc Thầy cao cả của Trời và
Người!
Nhân
cách tuyệt vời của Ðức Phật còn biểu hiện ở tính khiêm cung, một
đức tính rất đáng quý và rất hiếm gặp nơi những vị đứng đầu thiên
hạ. Dù được tôn xưng bằng nhiều danh hiệu cao quý, dù được các bậc
vua chúa cung kính cúng dường, Ngài vẫn giữ nếp sống giản dị của
Sa Môn. Bàng bạc trong kinh điển là lời Ðức Phật nhiều lần nhắc
nhở, Ngài không phải là một Ðấng quyền năng ban phước giáng hoạ,
mà chỉ là một Người dẫn đường. Những ai đi theo con đường Ngài chỉ
dẫn đều có thể giác ngộ giải thoát; nhưng đi hay không, đi nhanh
hay chậm là công việc của riêng mỗi người. Với lời dạy nầy, Ðức
Phật đã trả lại cho con người quyền làm chủ đích thực – làm chủ cả
vận mệnh, tương lai và sự sanh tử của chính mình.
Chúng ta đang sống trong thời kỳ khoa học công nghệ đang phát
triển vượt bâïc, nhưng đời sống tâm linh lại có chiều hướng đi
xuống. Con người phần đông thiên về tiện nghi vật chất, chỉ nghĩ
đến quyền lợi bản thân và lợi ích cục bộ mà quên sự cần thiết của
đạo đức. Từ đó đưa đến hận thù, chiến tranh, đau khổ; và hạnh phúc
như là một thứ xa xỉ phẩm, một cái bóng phù du không bao giờ với
tới. Sự hiện diện của Ðức Phật, của Tăng đoàn, sự truyền bá chánh
pháp của Ngài đã trở nên cần thiết và sự quan yếu đối với sự bình
an của toàn nhân loại. Bởi vì, Ngài chỉ dạy rõ ràng cho chúng ta
về đạo tình đạo nghĩa, về những hiểu biết đúng đắn đối với các
pháp thế gian và xuất thế, về phương pháp tìm hạnh phúc đích thực
cho mình và cho mọi người. Hình ảnh Ngài và các Thánh đệ tử đầu
trần chân đất, ôm bình bát đi khất thực một cách thong dong tự
tại, là một hình ảnh thật đẹp đẽ của một hạnh phúc Vô ngã-vị tha.
Tình cảm thì không ai không có, nhưng cần được tịnh hoá và hướng
về tha nhân mới là tình cảm chân chính; còn tình cảm vị kỷ, yêu
thương người vì mình chỉ là sự ràng buộc chiếm hữu của phàm phu.
Mặt khác, lòng từ bi cần được soi
sáng