Làm Chủ
Vận Mệnh
Thích Minh Quang
biên dịch
Ban Ấn Tống Giác Nguyên
129F/186/2 Bến Vân Đồn, P.4, Q.4, T.P. HCM (GP.117-88/XB/01.2001)
---o0o---
LỜI ĐẦU SÁCH
Làm Chủ Vận Mệnh là
sách ghi lại lời gia huấn của Viên Liễu Phàm đời Minh Trung Quốc, mục đích
dạy cho con ông là Viên Thiên Khải biết được chân tướng vận mệnh, phân
biệt tiêu chuẩn thiện ác, nắm vững phương pháp cải ác làm lành, cho đến
những ứng nghiệm của việc hành thiện, tích đức, khiêm tốn, v.v... Câu
chuyện này đều là người thật việc thật, và đạo lý nói đến được nghiệm
chứng bằng chính kinh nghiệm cải đổi vận mệnh của tác giả Viên Liễu Phàm.
Đây thật là một quyển sách quý, có ích cho thế đạo nhân tâm, chuyển hóa
lòng người, xây dựng xã hội an lạc.
Song
nguyên tác được viết bằng Hán cổ, không dễ gì cho người hiện nay đọc hiểu.
Cho nên vào năm đầu Dân Quốc, có Hoàng Trí Hải tiên sinh đã không ngại
khó, dùng tiếng Bạch Thoại chú giải tường tận, mục đích đại chúng hóa sách
này, khiến mọi người thấm nhuần pháp ích. Có thể nói, đây là việc làm khổ
nhọc với hoài bảo to lớn, công đức thật vô lượng. Bản chú giải của Hoàng
Trí Hải được truyền bá rộng rãi trong dân gian, với ưu điểm là nội dung
phong phú, tường tận. Song đó cũng là chỗ khuyết điểm của nó. Vì người
hiện nay không đủ kiên nhẫn và thời gian để đọc dài dòng, e rằng vì lý do
này sẽ ảnh huởng đến hứng thú đọc quyển sách quý, thì thật là điều đáng
tiếc.
Học Hội
Hoằng Pháp Liễu Phàm và Ban Ấn Tống Giác Nguyên nhận thức được điểm này,
nên đã phát tâm chỉnh lý, biên tập, phiên dịch và cho in ra, để giúp mọi
người dễ đọc dễ hiểu, sinh tâm hoan hỉ. Lại do các vị thiện tâm cùng góp
phần công đức, đọc thu thành băng ghi âm. Quyển sách này chính là bản căn
cứ cho phần ghi âm. Hy vọng rằng những ai được đọc, được nghe, sẽ học theo
tinh thần làm chủ vận mệnh của Liễu Phàm tiên sinh, cải đổi những điều
không tốt, và sáng tạo một tương lai xán lạn cho mình, cho quốc gia xã
hội, cho đến toàn thể nhân loại.
CHƯƠNG
MỘT
MÔN HỌC LẬP
MỆNH
Lập
mệnh chính là sáng tạo ra vận mệnh, không để bị vận mệnh trói buộc. Chương
Lập Mệnh này, chính là bàn đến cái học lập mệnh, giải giải đạo lý an thân.
Viên Liễu Phàm tiên sinh đã đem kinh nghiệm bản thân, cùng nhiều nghiệm
chứng trong việc cải đổi vận mệnh để dạy cho con trai. Ông muốn con trai
mình là Viên Thiên Khải không nên bó tay trước vận mệnh, mà phải gắng hết
sức cải đổi vận mệnh, bằng cách hành thiện, đoạn ác, như người xưa nói:
Đừng chê điều thiện nhỏ mà không làm, đừng khinh điều ác nhỏ mà làm.
Nếu làm được như vậy, nhất định sẽ cải đổi vận mệnh, như người xưa từng
nói: Đoạn ác tu thiện, dứt trừ tai ương, phước thọ miên trường. Đây
chính là nguyên lý cải đổi vận mệnh.
Ngàn người ngàn số mệnh, mỗi mệnh mỗi khác nhau. Viên Liễu Phàm đời Minh,
vận mệnh vốn bình thường, gặp được Khổng tiên sinh, đoán số đều trúng cả.
Chết yểu lại tuyệt hậu, công danh chẳng có đâu, do đời trước nghiệp sâu.
Suốt hai mươi năm dài, sống theo dòng nghiệp xoáy, đúng số mệnh chẳng sai.
Gặp thiền sư Vân Cốc, khai thị cho pháp lành, Viên Liễu Phàm cư sĩ, mới
chuyển đổi mệnh mình, mới chuyển đổi mệnh mình.
Cha
thuở nhỏ mất cha sớm. Bà nội bảo cha bỏ học, không nên đi thi đeo đuổi
công danh, mà đổi học ngành y làm thầy trị bệnh. Bà nội bảo: “Học nghề
thuốc vừa có thể kiếm tiền nuôi thân, vừa có thể cứu giúp người khác. Nếu
y thuật đến mức cao minh, cũng có thể trở thành y sư danh tiếng. Đây chính
là tâm nguyện của cha con khi còn sinh tiền”.
Về sau
cha ở chùa Từ Vân tình cờ gặp được một ông lão tướng mạo phi phàm, râu dài
phất phới, có vẻ tiên phong đạo cốt. Cha do đó cung kính vái chào. Ông lão
bảo: “Ngươi là người trong chốn quan trường năm sau có thể đi thi, bước
vào hàng trí thức cao, thế tại sao không chịu đi học?”
Cha trả
lời vì ý của bà nội muốn cha bỏ học để đeo đuổi ngành y. Kế đó cha lại hỏi
tính danh, nơi cư trú của cụ, cụ đáp: “Ta họ Khổng, người Vân Nam, được
chân truyền của Triệu Khương Tiết tiên sinh, người tinh thông về dịch số
Hoàng Cực. Tính theo số định, ta phải tuyền môn dịch số này cho ngươi”.
Do đó,
cha đưa vị tiên sinh này về nhà, thưa lại mọi việc với bà nội. Bà nội bảo
cha phải tiếp đãi cụ chu đáo. Lại còn dạy rằng: “Vi tiên sinh này tinh
thông dịch số vận mệnh. Vậy con thử nhờ cụ tính cho một quẻ xem sao. Thử
coi có linh nghiệm hay không”.
Kết quả
thật không ngờ, Khổng tiên sinh tính số mệnh cha, dù là việc nhỏ cũng vô
cùng chính xác. Cha nghe theo lời cụ, có ý định đi học lại, nên bàn với
người anh họ tên là Thẩm Xưng. Anh họ bảo: “Tôi có một người bạn thân
tên là Úc Hải Cốc mở lớp dạy học ở nhà Úc Hữu Phu. Tôi đưa cậu đến đó ở
trọ theo học, rất tiện”.
Từ đó
cha bắt đầu theo tiên sinh Úc Hải Cốc học tập. Một lần Khổng tiên sinh
tính số cho cha bảo: “Lúc ngươi chưa có công danh, còn là học sinh, thi
Huyện đứng hạng mười bốn, thi Phủ đứng hạng bảy mươi mốt, thi Đề Học đứng
hạng chín”.
Đến năm
sau, cha đi thi ba nơi, thứ hạng quả nhiên đúng như lời Không tiên sinh
nói. Khổng tiên sinh lại tính cho cha một quẻ kiết hung họa phúc suốt đời.
Cụ bảo: “Ngươi vào năm nào đó sẽ thi đậu hạng mấy, vào năm nào đó sẽ bổ
chức Lẫm sinh, vào năm nào đó lên chức Cống sinh, và năm nào đó được chọn
làm Huyện truởng một huyện thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Làm chức Huyện truởng được
ba năm rưỡi, bèn từ quan về quê. Vào giờ sửu ngày mười bốn tháng năm năm
mươi ba tuổi, ngươi sẽ từ trần tại nhà. Tiếc rằng số của ngươi không có
con trai”.
Những
lời này cha đều ghi lại, và nhớ kỹ trong lòng. Từ đó về sau mỗi khi thi
cử, thứ hạng đều đúng như lời Khổng tiên sinh đã đoán. Chỉ có điều cụ đoán
số thóc mà cha lãnh khi làm chức Lẫm sinh là chín mươi mốt thạch năm đấu,
sau đó mới thăng chức. Không ngờ khi mới nhận được bảy mươi mốt thạch
thóc, quan Học Đài là Đồ tông sư phê chuẩn cha được bổ chức Cống sinh. Cha
nghĩ thầm trong bụng: Khổng tiên sinh đoán số cũng có chỗ không linh
nghiệm.
Không
ngờ sau đó giấy phê chuẩn thăng chức của cha bị quan Học Đài thay thế là
Dương tông sư bác bỏ, không cho làm chức Cống sinh. Mãi đến năm Đinh Mão,
Ân Thu Minh tông sư xem thấy bài dự thi tuyển của cha, thấy không được
chấm đậu, nên lấy làm tiếc, than rằng: “Năm bài văn sách làm trong
quyển thì nàykhác nào tấu điệp dâng lên cho vua. Người có học thức như thế
này lẽ nào lại để cho mai một đến già?”
Do đó
ông dặn quan huyện đưa hồ sơ của cha lên chỗ ông, phê chuẩn cha bổ chức
Cống
sinh. Trải qua sự trắc trở này, cha huởng thêm một số thóc của chức Lẫm
sinh, cộng với bảy mươi mốt thạch thóc đã ăn khi trước, vừa đúng chín mươi
mốt thạch năm đấu. Sau khi xảy ra sự việc này, cha càng tin tuởng: Công
danh tiến thoái thăng trầm của một đời người đều do số mạng định sẵn. Sự
thành đạt đến sớm hay muộn, đều có thời gian nhất định. Do đó cha xem
mọi thứ bình thường, không còn có lòng tranh cầu gì nữa.
Khi
được tuyển làm chức Cống sinh, theo quy định phải đến trường Quốc Tử Giám
ở Bắc Kinh để học. Cho nên cha ở kinh thành một năm, suốt ngày ngồi yên,
không nói chuyện, cũng không khởi tư tuởng. Tất cả sách vở đều không xem
đến. Đến năm Kỷ Tỵ, cha trở về học ở trường Quốc Tử Giám tại Nam Kinh,
tranh thủ thời gian trước khi nhập học, đến núi Thê Hà bái kiến thiền sư
Vân Cốc. Ngài là một vị cao tăng đắc đạo.
Cha
ngồi đối diện với thiền sư trong một gian thiền phòng suốt ba ngày ba đêm,
không hề chợp mắt. Vân Cốc thiền sư hỏi: “Người ta sở dĩ không thể trở
nên thánh nhân chỉ vì vọng niệm trong tâm khởi lên không ngừng. Ngươi tịnh
tọa ba ngày, ta chưa từng thấy ngươi khởi lên một niệm vọng tuởng, đó là
vì sao?”
Cha
đáp: “Số mệnh của tôi đã được Khổng tiên sinh xem rõ rồi. Lúc nào sinh,
lúc nào chết, lúc nào đắc ý, lúc nào thất ý đều có số định sẵn, không cách
gì thay đổi được. Vậy cho dù có nghĩ tuởng mong ước cái gì đi nữa cũng vô
ích. Cho nên tôi chẳng thèm nghĩ tuởng, do đó trong tâm cũng không có vọng
niệm.”
Vân Cốc
thiền sư cười bảo: “Ta vốn cho rằng ông là bậc trượng phu xuất chúng,
nào ngờ chỉ là kẻ phàm tu tục tử tầm thường!”
Cha
nghe xong không hiểu, bèn thỉnh giáo tại sao lại như thế. Vân Cốc thiền sử
bảo: “Một người bình thường không sao tránh khỏi tâm ý thức vọng tuởng
xáo trộn. Đã có tâm vọng tuởng không dừng, thì phải bị âm dương khí số
trói buộc. Đã bị âm dương khí số trói buộc, sao có thể bảo là không có số
mệnh được? Tuy nói rằng có số, song chỉ người bình thường mới bị số mệnh
trói buộc. nếu là một người cực thiện, thì số mệnh không sao ảnh huởng
được đến anh ta.
Bởi
vì người cực thiện, cho dù số mệnh vốn có chú định phải chịu khổ sở, nhưng
nhờ làm được điều thiện cực lớn, sức mạnh của việc thiện lớn này, có thể
chuyển khổ thành vui, nghèo hèn đoản mệnh thành phú quý trường thọ.
Còn
người cực ác, số cũng không ảnh huởng được họ. Vì cho dù số mệnh họ chú
định được huởng phước, song vì họ gây tạo việc ác lớn, chính sức mạnh của
việc ác này khiến phước trở thành họa, giàu sang trường thọ trở nên nghèo
hèn chết yểu.
Số
mệnh của ông trong hai mươi năm được Khổng tiên sinh đoán trước, không
từng biết cải đổi một chút, trái lại còn bị số mệnh buộc chặt. Một người
bị số mệnh buộc chặt chính là phàm phu tục tử. Vậy ông không phải là kẻ
phàm phu tục tử hay sao?”
Cha hỏi
Vân Cốc thiền sừ rằng: “Theo như thiền sư nói, thì số mệnh có thể cải
đổi được chăng?”
Thiền
sư trả lời: “Mệnh do tự mình tạo, phước do chính mình tìm. Ta làm ác tự
nhiên bị tổn phước; Ta tu thiện tự nhiên được phước báo. Sách vở mà cổ
nhân để lại xưa nay, đã chứng minh tính chính xác của đạo lý này. Trong
kinh Phật nói: Muốn cầu phú quý được phú quý, muốn cầu con trai con gái
được con trai con gái, muốn cầu trường thọ được trường thọ.
Chỉ
cần tu tạo việc lành, thì số mệnh không sao trói buộc được chúng ta. Nói
vọng ngữ là đại giới của nhà Phật, chẳng lẽ Phật và Bồ tát lại lừa dối
chúng ta sao?”
Cha
nghe xong trong lòng vẫn chưa hoàn toàn minh bạch, mới hỏi thêm rằng:
“Mạnh tử từng nói: Bảo rằng cầu mà có thể được, là chỉ những gì ở trong
lòng ta có thể làm được. Nếu không phải là những gì ở trong lòng, thì làm
sao có thể nhất định cầu được? Ví như nói đạo đức nhân nghĩa, toàn là
những thứ ở trong tâm chúng ta, ta lập chí làm một người nhân nghĩa đạo
đức, thì tự nhiên trở thành người nhân nghĩa đạo đức. Đây là cái mà ta có
thể tận lực để cầu. Còn như công danh phú quý, là cái không ở trong tâm,
vốn ngoài thân chúng ta, nếu người khác chịu cho, ta mới có thể được. Còn
như người ta không chịu cho, ta không cách nào có được, vậy ta làm sao có
thể cầu?”
Vân Cốc
thien sư bảo: “Lời nói của Mạnh tử không sai, song ông giải thích lại
sai! Ông không thấy Lục Tổ Huệ Năng nói sao: Tất cả các loại phước điền
đều quyết định trong tâm chúng ta. Phước không lìa tâm, ngoài tâm không có
phước để cầu. Cho nên trồng phước hay gieo họa, đều do nơi tâm chúng ta.
Chỉ cần từ tâm mình đi cầu phước, không có gì mà không cảm ứng ra.
Nếu
biết từ tâm mình mà cầu, thì không những cầu được nhân nghĩa đạo đức trong
lòng, mà công danh phú quý bên ngoài cũng cầu được. Đó gọi là trong ngoài
đều được. Nói cách khác, dùng cách gieo trồng ruộng phước để cầu, thì nhân
nghĩa, phước lộc chắc chắn sẽ được.”
Một
người số mệnh có công danh phú quý, cho dù không cầu cũng có; còn như số
mệnh không có công danh phú quý, cho dù có cầu cũng vô ích.
Cho nên
chúng ta nếu không biết kiểm điểm xét lại mình, chỉ hướng ngoại tìm cầu
công danh phú quý một cách mù quáng, thì không chắc chắn có được, vì nó
còn lệ thuộc vào phước báo sẵn có của mình. Đó là khế hợp với ý hai câu
nói của Mạnh tử: “Cầu phải có đạo lý, còn được hay không là do số
mệnh”.
Phải
biết rằng, cho dù chúng ta cầu mà được, thì đó cũng là phước báo sẵn có
của chính chúng ta, mà không phải chỉ do cầu mà có hiệu nghiệm! Cho nên
cái gì đáng cầu mới cầu, mà không nên cầu một cách vô nguyên tắc, không có
đạo lý!
Nếu
như phước báo không có mà khăng khăng muốn cầu, thì không những công danh
phú quý cầu không được, mà còn do vì tâm tham cầu quá đáng, không có mức
độ, bất chấp thủ đoạn, nên đánh mất cả nhân nghĩa đạo đức trong tâm. Như
vậy chẳng phải trong ngoài đều mất cả sao? Vì vậy cầu mà không có đạo lý
là vô ích.
Cầu phú quý, được phú quý; cầu trường thọ, được
trường thọ; Cầu gái trai, được gái trai. Điều gì nguyện ước tất xong ngay;
điều gì nguyện ước tất xong ngay. Chỉ cần làm việc thiện, cầu ngay tại tâm
mình, tâm chính là ruộng phước, đó đạo lý nguyện cầu; tâm chính là ruộng
phước, đó đạo lý nguyện cầu!
Vân Cốc
thiền sư tiếp đó hỏi: “Khổng tiên sinh đoán số mệnh cả đời của ông như
thế nào?”
Cha
thuật lại tường tận những gì Khổng tiên sinh đã tính, vào năm nào thi đậu
hạng mấy, năm nào làm quan, bao nhiêu tuổi mất v.v... Vân Cốc thiền sư
bảo: “Ông tự suy xét sem, mình có thể thi đậu được công danh không? Có
thể có con trai hay không?”
Cha xét
lại những việc làm của mình đã qua, suy nghĩ rất lâu mới trả lời: “Tôi
không có phước tướng, nên biết phước báo không có bao nhiêu; lại không
biết tích công đức, làm việc thiện để vun bồi phước báo. Lại thêm tôi
không biết nhẫn nại, chịu gánh vác những việc phức tạp, nặng nề. Tôi lại
có tánh hẹp hòi, nóng nảy, ai làm gì sai không thể bao dung. Có lúc tôi
còn tự cao tự đại, đem tài năng, trí thức của mình ra lấn lướt người khác.
Tôi muốn làm gì thì làm, nói năng tùy tiện. Những biểu hiện trên là tướng
bạc phước, làm sao có thể thi đậu được công danh?
Sạch
sẽ là một đức tính tốt, song nếu quá mức sẽ trở thành tánh khí khó chịu.
Nên người xưa bảo: Chỗ nào nhiều phân rác, cây cối lại tốt tươi; nơi nào
nước quá sạch, tôm cá không thể sống. Tánh tôi thẳng thắn, trong sạch quá
mức, thành ra bất cận nhân tình. Đây là nguyên nhân thứ nhất tôi không có
con trai.
Vạn
vật phải nhờ vào ánh dương quang ấm áp, gió mưa mát mẻ thấm nhuần mới sinh
truởng được. Tánh tôi lại nóng nảy giận hờn, không có hòa khí tươi mát làm
sao có thể sinh được con trai? Đây là nguyên nhân thứ hai.
Nhân
ái là cội rễ của sự sống. Nếu tâm tàn nhẫn, không có từ bi thì khác nào
như
trái cây không
hạt, làm sao nảy mầm mọc thành cây khác? Cho nên người xưa bảo: Tàn nhẫn
là gốc của tuyệt tự. Tôi chỉ biết yêu tiếc danh tiết của mình, không chịu
hy sinh bản thân để thành toàn cho người khác, làm điều thiện, tích công
đức. Đó là nguyên nhân thứ ba tôi không có con trai.
Nói
nhiều dễ dàng hại đến khí. Tôi lại nhiều lời, nên thân thể không được khỏe
mạnh, làm sao mà có được con trai? Đây là nguyên nhân thứ tư tôi không có
con trai.
Người ta sống là nhờ tinh, khí, thần. Tôi thích uống rượu. Rượu làm tiêu
tấn tinh thần. Một người tinh lực không đầy đủ, cho dù sinh ra con trai
cũng không được trường thọ. Đây là nguyên nhân thứ năm tôi không có con
trai.
Người ta ban ngày không nên ngủ, ban đêm không nên thức. Tôi thường ngồi
suốt đêm, không chịu ngủ sớm. Đó là không biết bảo dưỡng nguyên khí tinh
thần. Đây là nguyên nhân thứ sáu tôi không có con trai. Ngoài ra còn có
nhiều sai lầm, không sao nói hết.
Vân Cốc
thiền sư bảo: “Ông như vậy không những không có được công danh, mà
nhiều thứ khác cũng không có được. Nên biết có phước hay không phước, đều
do tâm ta tạo. Người có trí tuệ biết rằng đó là tự mình làm, tự mình nhận
lấy kết quả. Người không hiểu biết, lại đổ thừa cho vận mệnh.
Ví
dụ như trên thế gian có người giàu sang, sản nghiệp ngàn lượng vàng, đó là
họ có phước báo ngàn lạng vàng. Người có sản nghiệp trăm lạng vàng, đó là
họ có phước báo trăm lạng vàng. Còn người nghèo cùng chết đói, là họ có
quả báo chết đói. Ví dụ như người lành tích đức, trời sẽ cho họ huởng phần
phước báo tương ứng; kẻ ác tạo tội, trời sẽ bắt họ chịu tai họa tương ứng.
Nói trời, là chỉ thiên lý, tức luật nhân quả tự nhiên, mà không phải có ai
ban phước hay giáng họa.”
Tiếp
theo là Vân Cốc thiền sư mượn cái thấy của người thế tục để khuyên cha
tích đức hành thiện: “Còn việc sinh con trai, giống như chúng ta gieo
hạt vậy. Nhân tốt sẽ gặt quả tốt, nhân xấu sẽ có quả xấu. Một người tích
chứa công đức được một trăm đời, thì có con cháu trong một trăm đời gìn
giữ phước báo của họ. Một người tích chứa công đức được mười đời, thì có
con cháu trong mười đời gìn giữ phước báo của họ. Tích chứa công đức được
hai ba đời, thì có con cháu trong hai ba đời giữ gìn phước báo của họ. Còn
người chỉ huởng phước trong một đời, đến đời sau lại tuyệt hậu, đó là vì
công đức tích chứa chỉ bấy nhiêu. Song tội nghiệp của người đó có lẽ lại
không ít!
Ông
đã tự biết khuyết điểm của mình, thì phải hết lòng hết sức cải đổi những
tính xấu, biểu hiện bạc phước khiến không được công danh và con trai đó.
Ông nhất định phải làm lành tích đức, đối với người hòa khí từ bi, bao
dung độ lượng và quý tiếc gìn giữ tinh thần của mình.
Hãy
coi tất cả những việc trước kia như hôm qua đã chết đi; còn những việc về
sau như hôm nay mới sinh ra. Biết sống trong hiện tại. Làm được việc này
là ông đã có một sinh mệnh mới. Đó là sinh mệnh nhân nghĩa đạo đức. Thân
huyết nhục của chúng ta còn có khí số nhất định; song còn sinh mệnh nhân
nghĩa đạo đức không bị số mệnh trói buộc, có thể cảm đến thiên lý. Thiên
Thái Giáp trong Kinh thư nói: Trời giáng xuống tai họa còn có thể tránh;
tự mình gây ra tai họa thì không thể tránh, ắt phải chịu khổ.
Kinh
thi cũng nói: Người ta phải thường xét nghĩ đến hành vi của mình có hợp
với đạo trời hay không? Nếu hợp đạo trời, thì phước báo không cầu cũng tự
nhiên đến. Cho nên phước hay họa đều là do mình.
Kinh Thư nói: Trời giáng họa tránh được; Mình gây
hoạ, khó tránh. Kinh thi nói: Thường phản tỉnh, xét lại mình, hợp hay
trái với đạo trời. Gặp phước hay gặp họa, tất cả là do ta. Tất cả là do
ta.
Khổng tiên sinh tính số cho ông bảo không có công danh, lại thêm không con
thừa tự. Tuy là bảo số trời định sẵn, song vẫn có thể cải đổi. Ông chỉ cần
mở rộng lòng đạo đức nhân nghĩa sẵn có, gắng sức làm lành, tích chứa âm
đức. Đó là ông tự mình tạo ra phước báo cho mình, người khác muốn cướp
giật cũng không được, làm sao mà không huởng được phước?
Kinh
Dịch cũng vì những người giữ lòng nhân đức mà tính trước nên đi hướng nào
sẽ kiết tường, tránh được những việc hung hiểm, những người hung hiểm,
những chổ hung hiểm.
Nếu
nói vận mệnh nhất định không thể thay đổi, thì làm sao có thể đến chỗ kiết
tường, tránh nơi hung hiểm? Chương mở đầu của Kinh Dịch đã nói: Gia đình
nào hành thiện, ắt sẽ dư nhiều phước báo, để lại cho con cháu. Đạo lý này
ông thực sự có tin không?”
Cha
tin lời Vân Cốc thiền sư, đảnh lễ tạ ơn và theo lời chỉ giáo. Cha đồng
thời đem những việc sai lầm tội lỗi lúc trước, không luận là lớn nhỏ nặng
nhẹ, ra trước Đức Phật phát lộ sám hối. Cha cũng làm một bài văn, trước
hết tỏ lòng nguyện cầu có được công danh, kế đó phát thệ nguyện làm ba
ngàn việc thiện, để đền đáp đại ân, đại đức của trời đất tổ tiên cha mẹ đã
sinh thành ra cha.
Vân Cốc
thiền sư nghe cha lập thệ làm ba ngàn việc thiện, liền đưa cho xem quyển
sổ ghi lại việc tội hay phước. Ngài dạy phải làm theo những lời dặn trong
đó. Phàm những việc làm của mình, không luận là thiện hay ác, mỗi ngày đều
phải ghi vào quyển sổ đó. Việc thiện thì ghi vào phần phước, còn việc ác
ghi vào phần tội.
Song
việc ác phải xem là lớn hay nhỏ, có thể dùng phần việc thiện đã ghi để
giảm trừ. Ngài còn dạy phải trì chú Chuẩn Đề, nhờ sức gia trì của chư Phật
để giúp nguyện ước sớm thành tựu.
Do đó
vận mệnh là tự mình tạo lấy. Nếu phân tách một cách tỉ mỉ để giảng, thì dù
giàu hay nghèo cũng không khác, đều phải làm theo đạo lý lập mệnh này. Khi
giàu không thể cậy tiền cậy thế hống hách, hiếp đáp người khác; mà phải
khiêm cung, chia sẻ giúp đở mọi người. Như vậy vận mệnh phú quý càng thêm
phú quý và có thể bảo tồn lâu dài. Khi nghèo vẫn giữ khí tiết, không làm
việc trái với lương tâm. Dù nghèo vẫn an phận thủ thường, làm một người
lương thiện. Như vậy mới có thể chuyển đổi vận mệnh bần cùng thành vận
mệnh phú quý. Cho nên, dù giàu hay nghèo đều phải bỏ ác làm lành, gieo
trồng ruộng phước.
Đoản
mệnh hay trường thọ cũng vậy. Không nên cho rằng mình vắn số, sống chẳng
bao lâu mà tranh thủ huởng thụ, mặc tình làm ác, vào đường đọa lạc. Nên
biết, vì nghiệp báo mình phải đoản mệnh, nên gắng sức làm lành, hy vọng
đời sau sẽ được trường thọ. Như vậy có thể đời này được sống lâu thêm.
Còn
người trường thọ cũng không nên ỷ lại mà mặc sức tạo ác, gian dối phạm
pháp, đắm mê tửu sắc. Nên biết trường thọ có được không dễ, nên biết phải
trân trọng, làm thêm điều lành để giữ gìn phước báo trường thọ này. Hiểu
được đạo lý này, mới có thể cải đổi đoản mệnh thành trường thọ; mệnh
trường thọ càng thêm lâu dài, càng thêm khỏe mạnh. Người ta sống trên đời,
việc hệ trọng nhất là sống và chết. Nếu có thể xem đoản mệnh và trường thọ
không khác, thì tất cả thuận cảnh, nghịch cảnh, giàu sang nghèo hèn, đều
bao quát trong đó.
Mạnh Tử
nói đến cái học về lập mệnh chỉ bàn đến đoản mệnh và trường thọ, mà không
nói đến giàu và nghèo, thành đạt và khốn cùng, cũng chính vì lý do này.
Vân Cốc
thiền sư lại bảo: “Mạnh Tử có câu “Tu thân để đợi đó”, là bảo: Tự mình
phải luôn luôn tu dưỡng đức hạnh, không nên làm ác gây tội dù là mảy may.
Còn như vận mệnh có cải đổi được hay không, đó là tùy thuộc việc tích đức
nhiều ít, hợp hay không hợp đạo trời.
Nói
đến chữ “tu thân”, là bảo sửa đổi những sai lầm, tội ác của chúng ta, như
uống thuốc trị bệnh. Còn bảo “đợi”, là chỉ phải đợi đến công phu tu thân
sâu dày, phước báo vun đắp đầy đủ, tội nghiệp tương ứng tiêu trừ, thì vận
mệnh sẽ tự nhiên chuyển đổi, trở nên tốt đẹp. Không nên có tư tuởng mong
muốn những gì vượt quá phận mình, để cho vọng tâm, dục tuởng làm mờ ám tâm
trí, mà phải giữ tâm bình thường, buông xuống mọi vọng niệm sinh diệt. Đến
trình độ này, đã đạt đến cảnh giới tâm như như bất động. Công phu này là
cái học chân chánh mà thế gian thọ dụng”.
Vân Cốc
thiền sư nói tiếp: “Hành vi của người bình thường tùy thuộc vào ý niệm.
Phàm việc gì còn khởi tâm phân biệt để làm thì không phải là tự nhiên, còn
có dấu vết. Ông hiện nay chưa thể đạt đến trình độ không động tâm. Khi ông
trì chú Chuẩn Đề không cần dụng tâm ghi nhớ, hay đếm bao nhiêu biến, cứ
niệm liên tục, không cho gián đoạn. Niệm đến lúc cực kỳ thuần thục, tự
nhiên miệng niệm mà tâm không cảm thấy niệm. Đó gọi là niệm mà không niệm.
Khi không niệm, trong tâm vẫn tự nhiên niệm. Đó gọi là không niệm mà niệm.
Niệm chú đạt đến trình độ đó, thì cả ba: người, chú và niệm đều hợp thành
một khối, không còn tạp niệm xen vào, như vậy không chú nào mà chẳng linh
nghiệm. Song công phu này, phải kinh qua thực hành, mới lãnh hội được.
Cha ban
đầu tên hiệu là Học Hải, song từ ngày đó trở đi đổi hiệu là Liễu Phàm. Bởi
vì sau khi hiểu rõ đạo lý lập mệnh, cha không muốn sống như kẻ phàm phu,
mà phát nguyện quét sạch kiến giải phàm phu, nên gọi là Liễu Phàm.
Từ đó
về sau, cả ngày cha đều chánh niệm tỉnh giác, cẩn thận từ lời nói, việc
làm cho đến ý nghĩ. Cha cảm thấy mình như thay đổi hẳn, trở thành con
người khác.
Lúc
trước cha sống tùy tiện, hồ đồ, không có kiềm thúc; đến nay trở nên cẩn
thận, cung kính, cảnh giác những điều bất thiện.
Cho dù
trong nhà, buổi tối không có ai đi nữa, cha cũng không dám tùy tiện, vì
biết có trời đất quỷ thần xét soi. Gặp người ganh ghét, hủy báng, cha vẫn
an nhiên, không chấp nhất, tranh luận với họ.
Năm thứ
hai sau khi tham kiến Vân Cốc thiền sư, cha đến bộ Lễ thi cử. Khổng tiên
sinh đoán số cha sẽ đậu hạng ba, không ngờ lại đậu được hạng nhất. Lời của
Khổng tiên sinh bắt đầu hết linh nghiệm. Khổng tiên sinh không nói cha sẽ
đậu cử nhân, song trong kỳ thi Hương mùa thu, cha lại thi đậu cử nhân. Đây
là do làm phước tích đức khiến số mệnh thay đổi. Vân Cốc thiền sư bảo:
“Vận mệnh có thể thay đổi”. Lời nói này đến nay đã được chứng
nghiệm, khiến cha càng thêm tin tuởng.
Cha tuy
sửa đổi lỗi lầm khá nhiều, song khi gặp việc nên làm, vẫn không thể chuyên
tâm nhất ý làm. Cho dù làm, vẫn còn miễn cưỡng, không được tự nhiên. Cha
phản tỉnh kiểm điểm, thấy lỗi lầm vẫn còn rất nhiều.
Ví dụ
như thấy việc thiện, tuy chịu làm, song không mạnh dạn nổ lực làm. Hoặc là
gặp lúc cứu người, trong lòng vẫn còn chần chờ, do dự, không kiến quyết
thực
hiện. Việc thiện
tuy tôi có thể miễn cưỡng làm được, song lại hay nói những lời lầm lỗi.
Khi tỉnh táo còn có thể tự chủ, song khi say rượu lại phóng túng, làm càn.
Cho nên cha tuy làm lành có tích chứa chút công đức, song lỗi lầm vẫn còn
rất nhiễu. Nếu lấy công đức để trừ đi lỗi lầm e còn chưa đủ. Thời giờ chỉ
luống uổng đi qua.
Từ năm
Kỷ Tỵ nghe lời khai thị của Vân Cốc thiền sư, cha phát nguyện làm ba ngàn
việc thiện, đến năm Kỷ Mão, đã hơn mười mấy năm mới hoàn thành ba ngàn
việc thiện này.
Lúc đó,
cha vừa cùng với Lý Tiệm Am tiên sinh từ Quan ngoại trở về Quan nội, chưa
kịp đem ba ngàn việc lành này ra hồi hướng. Đến năm Canh Thìn, cha trở về
phương Nam, mới thỉnh hai vị đại lão Hòa thượng đức độ là ngài Tánh Không
và Tuệ Không, mượn thiền đường Đông Tháp để hoàn thành tâm nguyện hồi
hướng này. Lúc đó, cha lại khởi lên tâm nguyện cầu sinh con trai, và phát
đại nguyện làm ba ngàn việc lành lớn. Đến năm Canh Tỵ sinh ra con, đặt tên
là Thiên Khải.
Cha mỗi
khi làm được một điều thiện đều ghi lại. Mẹ con không biết viết chữ, mỗi
khi làm được một việc lành, như cho người nghèo cơm ăn, hay phóng sinh
v.v... đễu lấy bút lông ngỗng, in một khuyên tròn màu đỏ lên lịch. Có lúc
một ngày in cả mười mấy dấu đỏ lên lịch, đại biểu cho ngày đó làm được
mười mấy việc thiện.
Như thế
mãi đến tháng tám năm Quý Mùi, mới hoàn thành ba ngàn điều thiện đúng như
nguyện. Cha lại thỉnh các vị như Hòa thượng Tánh Không v.v... về nhà làm
lễ hồi hướng. Đến tháng chín năm đó, cha lại khởi lên lời nguyện thi đậu
Tiến sĩ, và phát nguyện làm một vạn điều thiện để hồi hướng. Đến năm Bính
Tuất, lại thi đậu Tiến sĩ. Bộ Lại bổ cho cha làm chức Huyện truởng huyện
Bảo Để đương khuyết. Lúc cha làm huyện truởng huyện Bảo Để, có chuẩn bị
một quyển sổ kẻ ô để trống. Quyển sổ này cha gọi nó là Sổ Tay Trị
Tâm. Nói Trị Tâm là e tâm mình khởi lên tà niệm hay
ác niệm, dùng phương tiện này để đối trị.
Mỗi ngày thức dậy vào lúc sáng sớm, lúc thăng đường xét
xử, cha đều cho người để quyển sổ trị tầm này trên bàn làm việc. Mỗi ngày,
việc lành hay vie6.c ác dù là rất nhỏ cũng ghi vào đó. Bà nội thấy cha làm
việc thiện không nhiều, thường chau mày bảo: “Mẹ lúc trước ở nhà giúp
con làm việc thiện, cho nên lời nguyện ba ngàn việc thiện có thể hoàn
thành. Nay con phát nguyện làm mười ngàn việc thiện, trong nha môn thực
khó mà thực hiện được, biết đến bao giờ mới làm xong đây?”
Sau đó,
vào một đêm cha bỗng nằm mơ thấy một vị thiên thần xuất hiện. Cha bèn đem
việc khó mà hoàn tất mười ngàn việc thiện này thưa lại với thiên thần.
Thiên thần bảo: “Chỉ một việc ông làm Huyện truởng giảm thuế ruộng đất
cho dân là đủ để bù vào mười ngàn việc thiện”.
Thì ra lúc trước, ruộng của huyện Bảo Để mỗi mẫu đáng
lẽ phải thu thuế là hai đồng ba hào bảy xu. Cha cảm thấy nhân dân chịu
thuế quá nặng, nên thanh lý hết tất cả số ruộng trong huye6.n, mỗi mẫu chỉ
đóng thuế một đồng bốn hào sáu xu. Cha cảm thấy thật là lạ, tại sao việc
này thiên thần lại biết được. Vả lại cũng nghi ngờ, sao việc này có thể đủ
bù vào mười ngàn việc thiện?
Đúng lúc đó có thiền sư Huyễn Dư từ núi Ngũ Đại đến
huyện Bảo Để. Cha thưa lại chuyện trong mộng với thiền sư, và hỏi có tin
được chuyện này không? Huyễn Dư thiền sư đáp: “Làm việc thiện phải có
tâm chân thành khẩn thiết, không thể giả dối qua loa, có tâm cầu báo đáp.
Như vậy cho dù một việc thiện cũng có thể bằng mười ngàn việc thiện. Huống
chi ông giảm thuế cho toàn huyện, nông dân toàn huyện đều huởng được ân
huệ này. Cả ngàn vạn người nhờ đó mà giảm đi nỗi khổ vì thuế má nặng nề,
đó thực là phước báo to lớn”.
Cha nghe xong lời dạy của thiền sư, liền đem tiền bạc
bổng lộc của mình ra, nhờ thiền sư cúng trai tăng mười ngàn vị trên núi
Ngũ Đài và hồi hướng công đức.
Khổng tiên sinh tính số mạng cho cha bảo năm năm mươi
ba tuổi phải gặp tai nạn. Cha tuy không có cầu trời cho sống thọ, song năm
năm mươi ba tuổi lại không có chút đau bịnh gì. Năm nay cha đã sáu mươi
chín tuổi rồi. Kinh Thư nói: Thiên đạo là điều người ta khó mà tin
được, mệnh của con người không có nhất định. Lại nói: Mệnh con
người không có nhất định, đều do tự mình tạo.
Những
lời này không sai chút nào. Cha do đó mới biết, phàm nói đến họa phúc, đều
do tự mình tạo ra. Đó là lời của Thánh Hiền. Còn như bảo họa phúc do trời
chú định, đó là lời nói của kẻ dung tục trên đời.
Đạo
trời khó thể tin, mệnh người không nhất định, mệnh người không nhất định,
họa phước vốn do mình. Nếu bảo trời chú định, là lời kẻ phàm dung, Thánh
Hiền đâu có dùng, Thánh Hiền đâu có dùng.
Vận
mệnh của Viên Thiên Khải con không biết rồi sẽ như thế nào. Song cho dù là
vinh hoa phú quý, con cũng phải giữ tâm như lúc thất chí nghèo hèn. Cho dù
gặp may mắn tốt đẹp, con cũng phải giữ lòng như lúc trắc trở khó khăn. Cho
dù trước mắt có dư ăn dư mặc, con cũng phải cần kiệm như lúc thiếu thốn
nghèo hèn. Cho dù được người ta yêu thích, kính trọng, con phải luôn khiêm
tốn, cẩn trọng. Cho dù gia thế có danh vọng đến đâu, con cũng phải thấy
mình thấp kém. Cho dù học vấn có cao thâm bao nhiêu, con phải thấy mình
còn thô thiển.
Sáu
cách suy tuởng này, là từ phản diện để nhìn vấn đề. Nếu biết khiêm cung
như vậy, đạo đức dần dần nâng cao, phước báo cũng tự nhiên tăng truởng.
Xa thì
con nên truyền nối và mở rộng đức khí của tổ tiên; còn gần thì phải biết
hiếu kính cha mẹ. Trên thì con nên báo đáp ân huệ của đất nước; còn dưới
thì phải tạo dựng hạnh phúc cho gia đình. Ngoài thì con nên cứu tế cấp nạn
cho người khác; trong thì con phải luôn đề phòng niệm tuởng tà ác.
Sáu
cách trên là từ chánh diện để khẳng định vấn đề. Nếu con thường phản tỉnh,
suy xét như vậy, nhất định sẽ trở thành bậc chánh nhân quân tử.
Người
ta mỗi ngày cần phải biết được lỗi lầm của mình, mới có thể sửa đổi mỗi
ngày. Bằng không, cứ ngỡ là mình không có lỗi lầm, không chịu tu sửa,
không làm sao tiến bộ được. Người xinh đẹp thông minh trên thế gian không
ít, song phần lớn lại không biết dụng công tu dưỡng đạo đức, không biết
dụng công xây dựng sự nghiệp, đều chỉ vì thói lần lữa qua ngày, đến đâu
hay đến đó, không có chí phấn đấu cầu tiến, mới làm lỡ cả một đời của họ.
Những lời Vân Cốc thiền sư dạy về đạo lý lập mệnh, thật
là tinh thâm nhất, chân chánh nhất. Cha mong con đọc và suy nghĩ kỹ, lại
phải tận tâm tận lực thực hành, quyết không để ngày tháng quý báu luống
qua vô ích!
CHƯƠNG HAI
SỬA ĐỔI LỖI LẦM
Người
ta không phải mới sinh ra đã là Thánh Hiền, nên làm sao tránh được gây tạo
lỗi lầm? Khổng tử nói: Có lỗi lầm không sợ sửa đổi, là việc lành không
gì lớn hơn. Cho nên, Liễu Phàm tiên sinh sau khi giảng đạo lý lập mệnh
xong, lại bàn đến phương pháp sửa lỗi. Ông trình bày một cách tường tận để
dạy con mình là Viên Thiên Khải. Lỗi lầm nhỏ còn phải sửa đổi, huống chi
là tội ác lớn, đương nhiên quyết không thể phạm.
Vào
thời Xuân Thu, các quan cao cấp của các nước thường đoán việc kiết hung
họa phúc của một người nào đó thông qua ngôn ngữ hành vi của họ, và kết
quả rất là linh nghiệm. Điều này có thể thấy được qua sách Tả Truyện
và Quốc Ngữ. Phàm những điềm báo kiết tường hay hung
hiểm đều do mầm mống trong tâm phản ứng ra ngoài. Những điềm kiết hung này
còn thể hiện qua cử chỉ của người đó nữa. Nếu một người nhân hậu, cử chỉ
của họ sẽ chững chạc; còn kẻ bạc bẽo, thì cử chỉ sẽ tùy tiện.
Người
sống nhân hậu thì thường được phước; kẻ bạc bẽo nhất định sẽ gặp họa.
Người bình thường thiếu hiểu biết, không đủ trí tuệ để xét thấy việc này,
nên bảo họa phước không nhất định, không sao biết trước được.
Một
người có thể sống hết sức thành thực, không một chút giả dối, thì tâm họ
khế hợp đạo lý. Do đó, nếu đem tâm chân thành ra đối đãi với người, thì
phước báo tự nhiên sẽ đến. Cho nên, xét một người nào đó, chỉ cần nhìn
thấy họ toàn làm việc thiện, thì biết trước rằng phước của họ sắp đến.
Trái
lại, xét một người mà thấy hành vi của họ toàn làm điều ác, thì biết rằng
họ sắp gặp họa. Người ta muốn tránh họa được phước, phải tự mình cải đổi
lỗi lầm trước khi làm thiện.
Phương pháp cải đổi lỗi lầm, trước hết là phải phát khởi tâm hổ nhục.
Chúng
ta nên suy nghĩ: Thánh Hiền đời xưa như ta không khác, đều là nam tử
hán, đại trượng phu. Thế tại sao các vị ấy có thể lưu lại tiếng thơm muôn
đời, làm gương sáng cho hậu thế; còn chúng ta lại luống qua một đời, hay
thân bại danh liệt?
Đó là
vì chúng ta quá đam mê huởng thụ, bị hoàn cảnh vật dục bên ngoài ô nhiễm,
lén làm những việc không nên làm. Càng ngày chúng ta càng trầm luân trong
bể dục, không khác gì cầm thú, mà tự mình chẳng biết chẳng biết chẳng hay.
Cái hổ
nhục trên đời không có gì lớn hơn như vậy. Mạnh tử nói: “Việc lớn nhất,quan
trọng nhất của một người không gì hơn chữ
nhục”.
Vì sao?
Vì hiểu được chữ “nhục” này, ta có thể sửa đổi được tất cả
lỗi lầm, trở nên Hiền Thánh. Nếu không hiểu được chữ “nhục”
này, thì sẽ phóng túng làm càn, đánh mất nhân cách, không khác gì cầm
thú. Những lời trên chính là bí quyết chân chánh để sửa đổi.
Phương phát thứ hai để sửa lỗi là phải khởi tâm lo sợ thận trọng.
Chúng
ta phải biết Chư Thiên Hộ Pháp luôn ở bên cạnh chúng ta. Chư Thiên Hộ Pháp
thấy được tất cả những hành vi của mình, nên ta không thể lừa dối họ được.
Chúng ta có thể giấu được mọi người làm điều sai trái, qua mặt pháp luật,
nhưng không sao qua mắt được Chư Thiên Hộ Pháp. Việc ác của chúng ta đối
với họ như soi kính, đều hiện ra rõ ràng không sót. Chúng ta cho dù dấu
kín được tội, song Chư Thiên Hộ Pháp nhìn thấy rõ tâm can phế phủ của
mình. Chúng ta khởi tâm động niệm như thế nào, các vị ấy đều biết rõ. Cho
nên, mình biết rõ tâm niệm hành vi của mình như thế nào, Chư Thiên cũng
biết rõ như vậy.
Nếu
chẳng may hành vi xấu xa của chúng ta bị người khác biết được, thì chẳng
phải mình mất hết giá trị, bị người ta xem thường phỉ nhổ hay sao? Cho
nên, ta lúc nào cũng phải có tâm lo sợ, thận trọng.
Cho
nên, gây tạo tội nặng sẽ rước lấy tai họa, gây tạo tội nhẹ sẽ tổn phước
giảm đức. Tội lỗi đối với thần minh, long thiên Hộ Pháp không sao che giấu
được, như vậy ta lẽ nào không biết sợ hay sao?
Chúng
ta chỉ cần còn một hơi thở, cho dù phạm tội lớn đến đâu, đều có thể sám
hối. Thuở xưa có người cả đời làm ác, đến khi lâm chung tỉnh ngộ ăn năn,
khởi lên niệm lành rất lớn, liền được an ổn vãng sinh.
Nói như
vậy có nghĩa, nếu người ta khi đối diện cửa ải tử sinh, chỉ cần thống
thiết, dũng mãnh khởi lên niệm thiện, ăn năn tỉnh ngộ, thì có thể rửa sạch
nghiệp tội tích chứa trong suốt trăm năm. Ví như hang tối ngàn năm, chỉ
cần thắp lên một ngọn đèn sáng, thì lập tức sẽ quét sạch bóng đen, chỉ còn
ánh sáng rỡ ràng. Cho nên, không luận làm ác bao lâu, nhiều ít như thế
nào, chỉ cần thống thiết ăn năn, sửa đổi lỗi lầm, nhất định sẽ được thanh
tịnh.
Tuy nói
có lỗi chỉ cần biết ăn năn cải đổi là được, song tuyệt đối không được vì
thế mà ỷ lại, cho rằng thường phạm lỗi không sao. Người như thế có tâm
phạm lỗi, tội càng sâu nặng hơn.
Trong
thế gian bất tịnh này, vạn vật đều huyễn hóa vô thường, tấm thân huyết
nhục này nay còn mai mất không sao liệu trước được. Chẳng phải một hơi thở
ra mà không hít vào là đã qua đời khác sao? Đến lúc đó có muốn sửa đổi lỗi
lầm cũng không sao kịp nữa. Khi cái chết đến mọi thứ đều bỏ lại, chỉ có
nghiệp tội đi theo chúng ta mà thôi.
Do đó,
kẻ làm ác báo ứng ở dương gian là phải chịu tiếng xấu trăm ngàn năm, cho
dù có con hiếu cháu hiền cũng không sao rửa sạch được vết nhơ này. Còn quả
báo đời sau là phải trầm luân trong địa ngục, chịu vô lượng vô biên khổ
não, đọa đày trong ngàn muôn ức kiếp. Lúc đó dù gặp được Phật, Bồ tát,
Thánh nhân, cũng không cách nào cứu chúng ta được. Như vậy há không đáng
sợ sao?
Thứ
ba là phát khởi tâm dũng mãnh tiến lên.
Người
ta sở dĩ làm lỗi mà không sửa đổi được là do tâm dễ duôi, lần lữa qua ngày
mà không chịu lập chí tiến thủ, dũng mãnh kiên quyết. Đây chính là nguyên
cớ đọa lạc, thối lui.
Phải
biết nếu muốn sửa đổi lỗi lầm nhất định phải lập chí kiên quyết, lập tức
cải đổi, quyết không nên chần chừ, do dự. Không nên ngày nay lại hẹn đến
mai, mai lại hẹn đến mốt, cứ thế kéo dài, lần lữa đến chết. Lỗi lầm nhỏ
hãy xem như gai đâm vào xương thịt, để lâu một ngày là nhức nhối một ngày,
nên phải gấp rút nhổ ra. Lỗi lầm lớn hãy xem như rắn độc cắn phải, để chậm
môt giây là nguy hiểm đến tánh mạng một giây. Như quẻ Ích trong
Kinh Dịch nói: Gió thổi sấm nổ, vạn vật sinh truởng, lợi ích
lớn lao như vậy. Đây là dụ cho người đổi ác làm lành, được ích lợi lớn
như vạn vật nhờ mưa thuận gió hòa mà sinh truởng tốt tươi.
Sửa lỗi
phải phát tâm, phát tâm là tâm gì? Một, tâm biết hổ nhục, hai, tâm biết sợ
tội, ba là tâm dõng mãnh. Đầy đủ ba tâm này, sẽ sửa được lỗi ngay, sẽ sửa
được lỗi ngay!
Một
người lập chí sửa đổi lỗi lầm, nếu có đầy đủ ba tâm hổ nhục, sợ tội và
dũng mãnh, thì có thể lập tức sửa được lỗi lầm; như lớp băng mỏng mùa Xuân
gặp phải ánh dương quang, lo gì không tan rã? Song sửa đổi lỗi lầm có ba
góc độ dụng công. Một là từ trên thực tế để sửa đổi. Hai là từ
trên đạo lý để sửa đổi. Ba là từ trên tâm niệm để sửa đổi. Do
ba cách dụng công khác nhau, nên kết quả cũng bất đồng. Trước hết, nói về
từ trên thực tế sửa đổi lỗi lầm.
Ví dụ
như hôm qua sát sinh, hôm nay chấm dứt không sát sinh nữa. Hôm trước nổi
giận mắng người, hôm nay bỏ qua không giận nữa. Đây là phương pháp chấm
dứt lỗi lầm không tái phạm, bằng cách sửa đổi lỗi lầm khi sự việc đã phát
sinh. Song sửa lỗi như vậy là miễn cưỡng dằn lòng, tuy qua được một lúc
song mầm mống lỗi lầm vẫn còn trong tâm. Chỉ cần có cơ hội thích hợp là nó
lại tái phát, đôi khi còn mãnh liệt hơn nữa. Người ta bảo tức nước vỡ
bờ là vậy. Nên đây không phải là phương pháp sửa lỗi lầm một cách
triệt để.
Thế nào
là dựa trên đạo lý cải đổi lỗi lầm?
Một
người lập chí sửa đổi lỗi lầm, trước khi ngăn giữ không làm một điều sai
quấy nào đó, phải hiểu rõ đạo lý tại sao ta không nên làm. Ví dụ như một
người đối với lỗi lầm của việc sát sinh, trước hết anh ta phải nghĩ rằng:
Đức hiếu sinh là đạo lý tự nhiên. Phàm là loài só sinh mệnh ai lại
chẳng tham sống sợ chết? Thế mà ta lại giết loài vật để nuôi thân mình,
thử hỏi trong tâm có yên ổn không? Những con vật mà ta cắt cổ, nhổ lông,
lột da, xào nấu v.v..., chúng phải chịu bao đau đớn khổ sở lúc lâm chung,
như vậy có phải tội lỗi lắm không? Ăn uống trên sự tướt đoạt sinh mệnh,
gây tạo khổ đau cho chúng sinh, song miếng ngon khi qua khỏi miệng lập tức
trở thành đồ dơ mà ai cũng nhờm, cũng gớm! Như Vậy có đang cho chúng ta vì
thế mà gây tạo sát nghiệp, chàđạp trên quyền được sống còn của sinh vật,
khiến phải chịu tội báo, tổn giảm phước đức không? Ăn chay đạm bạc, thực
ra cũng đủ no và dinh dưỡng.
Lại suy
nghĩ rằng: Phàm loài có sinh mệnh huyết khí đều có tri giác tánh linh.
Đã có tri giác tánh linh, thì có khác gì chúng ta đâu? Ngày xưa bậc Thánh
như vua Thuấn, nhờ đạo đức cao thượng mà được voi cày ruộng giúp, chim nhổ
cỏ giùm. Ta nay tuy chưa thể tu dưỡng được như người xưa, khiến loài vật
đến tôn trọng, thân cận, song cũng không thể tàn hại sinh mệnh của chúng,
khiến kết nên nhân duyên oán thù. Mối hận này đeo đuổi chúng ta đến lúc
nào mới hết?
Người
biết suy nghĩ như thế, không thể nào nuốt trôi những cá thịt trên bàn.
Ví dụ như tánh tình của ta của ta trước kia hay nổi
sân, nên suy nghĩ rằng: Ai cũng có điều tốt, ai cũng có chỗ xấu. Khi
gặp chỗ xấu của người, xét về tình lý,
nên thương cho họ, mà tha thứ chỗ xấu đó, vì chính họ cũng là nạn nhân,
chịu khổ não bởi thói xấu bản thân. Nếu có người ngang ngược, vô lý mạo
phạm đến ta, thì lỗi đó ở họ có dính dáng gì đến ta, vậy tại sao ta phải
nổi giận?
Lại nghĩ rằng: Trên đời này không có ai dám tự cho
rằng mình là hoàn hảo, không chút lỗi lầm. Một người cho rằng mình là hoàn
hảo, mới chính là kẻ ngu nhất. Trên đời cũng không có đạo lý nào dạy chúng
ta oán hận người xung quanh. Người càng có học vấn thì càng phải khiêm
tốn, nghiêm khắc với mình, khoan dung với người, sao lại oán hận người
khác?
Cho
nên, một người làm việc không được vừa lòng đắc ý, đều do đạo đức của mình
không tu dưỡng tốt, còn thiếu công đức, không đủ sức cảm động lòng người.
Vì vậy phải phản tỉnh, kiểm điểm lại mình, xem có chỗ nào có lỗi với người
không?
Người
có thể suy xét được như vậy, dụng công sửa mình, thì người khác phỉ báng
sẽ trở thành sự trui rèn, thành tựu phẩm cách cho ta, bằng những bài học
phản diện. Ta nên hoan hỉ tiếp nhận sự giáo huấn, phê bình của người khác,
còn oán hận điều gì?
Lại
nữa, nghe người khác nói xấu mà ta không nổi giận, dầu lời nói đó ác độc
đến đâu; khác nào như đem lửa đốt trời, hư không vẫn rỗng rang, không có
gì để cháy, lửa cuối cùng cũng tắt. Nếu người ta nghe người khác hủy báng
mà tìm cách biện hộ, thì khác nào như tằm nhả tơ, tự trói buộc lấy mình.
Đó là tự mình chuốc lấy khổ. Cho nên, nổi giận không những vô ích mà còn
có hại.
Đó là
nói về hậu quả của nóng giận. Còn như những lỗi lầm và tội ác khác, cũng
nên y theo đạo lý này mà suy xét, thì tự nhiên sẽ không phạm phải lỗi
lầm.
Thế nào
là cải đổi lỗi lầm từ tâm niệm?
Người
ta gây tạo lỗi lầm vốn nhiều vô số, song tất cả đều từ tâm niệm mà ra. Nếu
tâm ta không động niệm, thì không có tạo ra bất cứ nghiệp gì. Như vậy lỗi
lầm từ đâu mà sinh? Phàm người ta thường có nhiều lỗi lầm như tham đắm nữ
sắc, danh tiếng, tiền của, hoặc hay nóng giận, v.v... Chúng ta không cần
tìm hiểu phương pháp để cải đổi từng lỗi lầm một, mà chỉ cần nhất tâm nhất
ý khởi niệm lành, làm việc thiện, lúc nào cũng chánh niệm hiện tiền, thì
không có ý niệm tà ác nào xen khởi, làm ô nhiễm tâm ta được.
Ví như
mặt trời soi sáng giữa từng không, tất cả những hắc ám đều không chỗ dung
thân. Đây chính là yếu quyết tu tâm, sửa lỗi chân chánh duy nhất. Phải
biết tất cả lầm lỗi tội ác đều do một tâm này gây tạo, nên chỉ cần ngay
nơi tâm này sửa đỗi lỗi lầm. Đây giống như trừ cây độc, phải đốn tận gốc,
trốc tân rễ, mới không sợ mọc trở lại, mà đâu cần phải chặt từng nhánh, bẻ
từng lá!
Phương
pháp cải đổi lỗi lầm cao minh nhất vẫn là tu tâm. Nếu biết tu tâm thì sẽ
lập tức khiến tâm thanh tịnh. Vì tất cả sai lầm đều do tâm khởi niệm bất
chánh mà ra. Nếu biết tu tâm, chánh niệm tỉnh giác, khi khi tà niệm vừa
khởi liền phát giác. Tà niệm ngay đó sẽ không còn, tâm trở lại thanh tịnh
bất động. Nếu ta không làm được như vậy, khi tà niệm khởi lên phát giác
muộn màng , và không đủ sức giác chiếu để khiến nó tiêu diệt, thì phải
dùng đạo lý để suy xét, thống trách, thì sẽ hóa giải được tà niệm đó. Còn
như không biết dùng đạo lý để suy xét thống trách, thì cố gắng dằn lòng,
tránh xa duyên phạm lỗi.
Cả ba
phương pháp này tuy có cao có thấp khác nhau, song đều có giá trị riêng,
và bổ túc cho nhau. Ta cần phải biết rõ mình, để có thể tùy cơ, tùy lúc
vận dụng cả ba phương phá một cách thích đáng tu sửa lỗi lầm, ắt sẽ công
hiệu. Song phương pháp tu tâm, chánh niệm tỉnh giác vẫn là chánh yếu,
không nên bỏ qua.
Lập chí
sửa đổi lỗi lầm cũng cần có trợ duyên để dễ thành tựu. Về phương diện thấy
được, đó chính là bạn tốt, khuyên bảo, nhắc nhở ta lúc hồ đồ, nông nổi. Về
phương diện không thấy được, đó là đối trước Phật, Bồ tát, chư thiên,
v.v... cầu chứng minh gia hộ, thành tâm sám hối, từ sáng đến tối không dám
buông lung. Như tôi đã từng sám hối bảy ngày, mười bốn ngày, cho đến một
tháng, ba tháng. Cứ sám hối như vậy nhất định sẽ có chứng nghiệm.
Sửa lỗi
phải phát nguyện, lại phải nhờ trợ duyên. Một mặt nhờ bạn lành, mặt khác
nhờ Bồ tát, để chứng minh gia trì. Phải một lòng một ý, sám hối mọi lỗi
lầm, sám hối mọi lỗi lầm.
Nói
chứng nghiệm của sự sám hối lỗi lầm là gì? Ví dụ như ta bỗng cảm thấy tinh
thần rất thư thới, trong lòng an vui, hay cảm thấy trước đây tối dạ, giờ
bỗng mở mang trí tuệ; hay dù là trong hoàn cảnh rộn ràng phiền phức, mà
tâm mình vẫn sáng suốt, tất cả đều thông tỏ. Hay lúc gặp phải kẻ oan gia
thù địch, có thể an ổn hoan hỉ, hóa giải cơn giận nỗi hận trong lòng. Hoặc
khi nằm mộng, mơ thấy ói ra thứ màu đen. Đây chính là những tư niệm tà,
tích chứa thành uế khí, trong mơ ói ra, thì tâm địa trở nên thanh tịnh.
Hay trong mơ trông thấy Phật, Bồ tát đến nâng đỡ, dắt dìu ta; hoặc thấy
mình bay lên không trung, tiêu dao tự tại. Hay mơ thấy các loại phan lọng
được trang sức bằng các loại châu báu nhiều màu. Những việc ít thấy ít
nghe như vậy, đều là những điềm tiêu trừ tội chướng trong quá khứ. Song
cũng không nên vì gặp được những điềm lành này, liền tự cho rằng mình có
sở đắc, tu hành hơn người mà khởi tâm ngã mạn, không chịu vươn lên, tiếp
tục nỗ lực.
Vào
thời Xuân Thu trước đây, quan đại phu nước Vệ là Cừ Bá Ngọc vào năm hai
mươi tuổi đã biết xét lại những lỗi lầm trong quá khứ của mình để kiểm
điểm, cải đổi. Đến năm hai mươi mốt tuổi, lại cảm thấy trước đây sửa đổi
lỗi lầm vẫn chưa triệt để. Đến năm hai mươi hai tuổi, nhìn lại năm hai
mươi mốt tuổi, vẫn giống như ở trong mộng. Cứ như vậy mỗi năm trôi qua,
mỗi năm lại sửa đổi lỗi lầm. Cho đến năm năm mươi tuổi, vẫn cảm thấy bốn
mươi chín năm qua mình vẫn lỗi lầm! Người xưa đối với việc sửa đổi lỗi
lầm cẩn thận coi trọng đến mức như vậy.
Đại phu
Cừ Bá Ngọc, người tài đức khiêm cung, hai mươi tuổi xét lỗi, mỗi năm đều
kiểm điểm, đến lúc tuổi năm mươi, vẫn thấy còn lầm lỗi. Sửa lỗi quan trọng
thay! Quan trọng thay!
Chúng
ta đều là kẻ phàm phu, lỗi lầm dẫy đầy, như lông trên mình nhím. Song ta
lại cảm thấy dường như mình không có lầm lỗi gì lắm. Đó là do ta hời hợt,
không biết phản tỉnh tự xét. Giống như con mắt có bịnh, không nhìn thấy
mình mỗi ngày đang tạo tội. Song một người làm lỗi tạo ác, đến một mức nào
đó sẽ có triệu chứng hiện ra. Như tâm tư hỗn loạn trệ ngăn, tinh thần suy
sụp, hay quên; hoặc việc không đáng phiền não lại cảm thấy vô cùng phiền
não; hoặc thấy người phẩm hạnh cao quý, cảm thấy hổ thẹn không vui; hay
nghe được những lời đạo đức quang minh chính đại, lại không thích; hoặc
đem ân huệ cho người, đối phương không nhận còn trở lại oán hận; hoặc tối
ngủ thấy những giấc mơ xấu đáng sợ; hoặc nói năng không thứ lớp, không
bình thường. Những hiện tượng bất bình thường như vậy, đều là biểu hiện
của việc làm ác.
Giả sử
có những hiện tượng như trên, ta phải đề khởi tinh thần, phấn phát hướng
thượng, sửa đổi những sai lầm cũ, mở ra con đường nhân sinh sáng tỏ cho
mình. Hy vọng mọi người không nên tự làm lỡ mình!
CHƯƠNG BA
TÍCH CHỨA PHƯỚC
THIỆN
Chương
trên đã giảng những phương pháp của đổi lỗi lầm. Nếu làm được như vậy, tự
nhiên có thể bảo đảm mệnh vận tốt đẹp không biến thành xấu, song vẫn chưa
đủ để cải đổi mệnh vận xấu trở nên tốt đẹp. BởI vì đờI này tuy ta không
phạm lỗi tạo ác, song đời trước ta có gây tạo tội ác hay không làm sao
biết được? Nếu đời trước phạm tội, đời này tuy không phạm, vẫn phải trả
báo của đời trước, vẫn gặp mệnh vận xấu ác. Vậy ta phải làm sao mới có
thể cải đổi vận mệnh xấu đây? Đó là không những phải cải đổi lỗi lầm, mà
còn phải tích chứa phước thiện, công đức, mới có thể khiến nghiệp tội đời
trước tiêu đi. Việc lành tích chứa nhiều, tự nhiên có thể chuyển đổi mệnh
xấu thành mệnh tốt, đồng thời cũng có thể nghiệm chứng được hiệu quả của
nó.
Khổng
tử tỉnh Sơn Đông, tích chứa phước thiện lớn, con cháu nhiều đời sau, vẫn
thịnh vượng không suy. Khổng Đức Thành tiên sinh, đời thứ bảy mươi ba! Đòi
thứ bảy mươi ba!
Kinh Dịch
nói:
Nhà tích chứa điều thiện, tự nhiên phước đức có dư. Trước đây có người
họ Nghiêm, định gả con gái của mình cho cha của Khổng tử, việc đầu tiên
là kiểm điểm những việc làm của nhà họ Khổng. Ông nhận thấy tổ tiên của họ
Khổng tích chứa phước đức rất nhiều và rất lâu, nên biết trước con cháu họ
Khổng sau này nhất định sẽ thành đạt lớn. Sau đó, quả nhiên sinh ra Khổng
tử. Lại nữa, Khổng tử khen sự hiếu thảo của vua Thuấn vượt hơn việc hiếu
bình thường. Khổng tử nói: “Lòng đại hiếu như vua Thuấn, không những tổ
tiên nhờ đó được huởng sự cúng tế của ông, mà con cháu nhiều đời cũng giữ
được phước lộc của mình, không bị thất bại”.
Nước
Trần vào thời Xuân Thu, chính con cháu vua Thuấn truyền lại, đủ chứng minh
con cháu đời sau của vua Thuấn thành đạt rất lâu! Cho nên, lời nói của
Khổng tử thật vô cùng chính xác.