Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Nếp Sống Đạo


 

 

 

 

 

NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ NHÂN TỪ VÀ HIẾU THẢO

HẢI ĐÀO PHÁP SƯ

Hương Bối dịch

 

MỤC LỤC

Bài tựa

CHƯƠNG I : NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ LÒNG NHÂN TỪ VÀ HIẾU THẢO

1. Hương tượng hiếu thảo

2. Hạnh hiếu cảm động đến trời

3. Lòng nhân từ của con thú lông vàng

4. Báo ơn bảy ngày

CHƯƠNG II: NHỮNG MẨU CHUYỆN VỀ NGƯỜI CÓ BẢN LÃNH LỚN

1. Bản lãnh của Bàn Đặc

2. Các Tỳ-kheo nhỏ từ trời giáng xuống

3. Thách thức

4. Ánh mặt trời đã tắt

5. Trí giả Tỷ đề ê

6. Một lời hơn ngàn vàng

7. Cuộc so tài giữa ngoại đạo và Phật giáo

CHƯƠNG III: NHỮNG MẨU CHUYỆN VỀ NIỀM TIN SẼ CÓ SỨC MẠNH

1. Tam Quy y

2. Chuột chết trở thành chuột bằng vàng

3. Cây Phật sống lại

4. Mùi thơm tự nhiên

5. Phương pháp đối phó với quỉ giết người

6. Gia đình không có nhân tình

7. Không thể để cho kẻ giả dối doạ nạt

8. Một vạn mũi tên cũng không trúng đích

CHƯƠNG IV: CHỌN VIỆC LÀM ĐÚNG

1. Cúng dường với tâm thiện ác

2. Tế thần cây

3. Vì nhỏ mất lớn

4. Sáu ngày trở thành sáu năm

5. Vua Đảnh Lai làm điều thất chính giảm tuổi thọ

6. Y-Lợi-sa, lão nhà giàu keo kiệt

7. Diệu dụng của rượu

 

 

BÀI TỰA

Biên soạn cuốn sách “Hải Đào Pháp Sư Thuyết Cố Sự” là hy vọng giới thiệu với mọi người những mẩu chuyện mang nhiều tích cách giáo dục với hình thức ngụ ngôn phong phú và sâu sắc trong Phật giáo. Tuy có nhiều câu chuyện trong kinh điển Phật giáo, mọi người có lẽ đã nghe qua tai và rất tường tận, nhưng lại thường quên đi. Tôi mong rằng nhờ xuất bản tập truyện này, không ngừng nhấn mạnh tính giáo dục và gợi ý các câu chuyện, càng tạo nên ấn tượng sâu sắc về các chuyện trong kinh điển Phật giáo đối với mọi người. Vì thế trong hình thức biên soạn tôi cố gắng viết rất đơn giản, dùng cách đối thoại bằng khẩu ngữ, nội dung sâu sắc và lời văn dễ hiểu. Nhờ vậy tư tưởng của Phật giáo sẽ thấm sâu dần dần vào lòng đại chúng.

Ngoài ra biên soạn bộ sách này còn có hai công dụng:

1) Đại Sinh Mạng Điện Thị sẽ thành lập một lớp “đào tạo và huấn luyện các bà mẹ thích kể chuyện” cho các em nhỏ. Hy vọng sau khi học qua chuyên nghiệp đào tạo và huấn luyện các bà mẹ đều trở thành người kể chuyện tài giỏi, không những bà mẹ có thể gửi gắm cách giáo dục và dạy dỗ con cái trong nhà, mà còn có thể phát tâm đến viện trẻ em mồ côi hoặc viện giáo dục trẻ em. để kể chuyện cho các em nhỏ. Vì vậy, tập “ Hải Đào Pháp Sư Thuyết Cố Sự” sẽ trở thành đề tài chuyện cho các bà mẹ.

2) Vì thường giảng dạy tại các trường của nhiều tầng lớp, tôi phát hiện ra một điều, các học sinh nhỏ, phần nhiều rất thích nghe kể chuyện. Sau này tôi hy vọng đài Sinh Mạng Điện Thị thành lập một cuộc thi kể chuyện cho các em nhỏ, đề tài có thể tuyển chọn hàng loạt các câu chuyện trong tập chuyện này. Vì hầu hết các câu chuyện được tuyển chọn đều mang tính giáo dục cao và trong đó cũng có không thiếu các câu chuyện về nhân quá báo ứng, làm cho đề tài kể chuyện của các em nhỏ rất phù hợp với lứa tuổi.

Phối hợp với toàn bộ tập sách, minh hoạ bằng màu sắc tươi đẹp, tạo nên một sức hẫp dẫn cho các em nhỏ có hứng thú đọc sách, vì thế có hiệu quả giáo dục chính diện đối với trẻ em. Mong rằng, nhờ những mẩu chuyện trong tập sách này, giáo hoá các em nhỏ hiểu rõ đạo lý đúng-sai, thiện – ác một cách đơn giản, ngoài ra cung cấp phương thức suy nghĩ lương thiện trong quan niệm của trẻ em, giúp các em hoàn thiện nhân cách ngày càng tốt hơn.

Đài trưởng: Đài Sinh Mạng Điện Thị

Lý Sự Trưởng: Hiệp hội ấn Kinh Trung Hoa Hải Đào.

 

CHƯƠNG I:

NHỮNG CÂU CHUYỆN VỀ LÒNG NHÂN TỪ VÀ HIẾU THẢO

 

1.Hương Tượng hiếu thảo

Ngày xưa, có hai vị Vua nước Ca-thi và nước Tỉ-đề-ê. Vua nước Tỷ-đề-ê có một con Hương Tượng sức mạnh rất phi thường, chỉ cần một cử động nhẹ nhàng của nó, thì quân đội của vua nước Ca-thi tan tác. Vì vậy, vua nước Ca-thi muốn rửa sạch tủi nhục này, liền truyền lệnh trong toàn nước:” Nếu người nào bắt được Hương Tượng khoẻ mạnh, sẽ được trọng thưởng”.

Bấy giờ, có người phát hiện trong núi có một con Hương Tượng trắng, bèn tâu lên vua nước Ca-thi lập tức phái quân đội lên núi bao vậy để bắt nó. Sợ Hương Tượng phản kích, họ mang theo nhiều vũ khí và lưới nhưng thật bất ngờ, Hương Tượng này không có một chút ý gì chạy trốn cả, thế là họ bắt nó như con vật đã thuần hoá, mang về cung.

Bắt được Hương Tượng trắng quí giá, nhà vua rất mừng xây cho nó một ngôi nhà rất đẹp, bên trong trang hoàng bằng tơ lụa mịn màng, cung cấp nhiều thức ăn ngon, lại còn sai người đến đàn cho nó nghe. Nhưng, bất luận vua đối xử tốt thế nào, nó vẫn một lòng không ăn thứ gì cả. Nhà vua nghĩ:”Cứ tiếp tục như thế này Hương Tượng nhất định vì đói mà chết mất”. Vì vậy vua rất lo lắng, đích thân đến xem Hương Tượng, và hỏi:

- Tại sao ngươi không ăn thứ gì cả?

Hương Tượng trả lời:

- Cha mẹ tôi ở trong núi, họ tuổi già sức yếu, mắt mờ tai điếc, không cách nào tự mình tìm kiếm được thức ăn. Mấy ngày nay vắng tôi, họ nhất định chết đói mất thôi! Chỉ cần nghĩ đến đó, thì tôi không sao nuốt nổi thứ gì.. Đại Vương! Ngài có thể thả tôi về nuôi dưỡng cha mẹ được không? Đợi khi cha mẹ qua đời, tôi nhất định tự động trở lại đây, làm theo lệnh của bệ hạ”.

Nghe xong, vua nước Ca-thi vô cùng cảm động, liền thả Hương Tượng quí giá về núi, đồng thời ban lệnh:” Toàn nước, con cái phải nuôi dưỡng, cung kính cha mẹ, người nào bất hiếu sẽ xử tội nặng.

Mấy năm trôi qua, cha mẹ già qua đời, Hương Tượng đúng theo lời hẹn ước trở lại cung vua. Vua nước Ca-thi vô cùng vui mừng, liền phái Hương Tượng đến tấn công nước Tỷ-đề-ê nhưng Hương Tượng thưa với vua rằng:” Tâu đại vương! Không có một người dân nào thích chiến tranh, đánh nhau không những gây ra chết chóc đau thương, mà còn làm cho gia đình tan nát, vì thế nhiều cha mẹ già không được nuôi dưỡng. Tôi sẵn sàng đến nước Tỷ-đề-ê làm sứ giả hòa bình, hoà giải ân oán của hai nước”.

Vua cho rằng Hương Tượng nói rất có lý, liền phái Hương Tượng đến nước Tỷ-đề-ê thử xem.

Sau đó, nhờ thành ý, Hương Tượng dạy bảo được mọi người quan niệm hiếu thuận với cha mẹ, hoà giải thành công ân oán giữa hai nước, vì thế nhân dân hai nước đều được an cư lạc nghiệp.

Đức Phật bảo:” Vua nước Ca-thi lúc ấy chính là Vua Ba-tư-nặc bây giờ, vua nước Tỷ-đề-ê chính là vua A-xà-thế, còn Hương Tượng đó chính là Ta. Vì Hương Tượng hiếu thuận với cha mẹ, cảm động đến mọi người cũng hiếu thuận mới có thể làm cho hai nước cùng chung sống hoà bình, không còn chiến tranh”.

2. Hạnh hiếu cảm động đến trời

Ngày xửa ngày xưa, có một đạo nhân tên Thiểm Tử cùng tu hành với cha mẹ trong núi sâu. Cha mẹ anh đều đã già, mắt không còn thấy gì cả. Thiểm Tử rất hiếu thuận, hết lòng hết sức chăm lo đến cha mẹ. Đêm nào, anh cũng thức dậy ba lần đến giường cha mẹ, thăm hỏi cha mẹ lạnh ấm thế nào; ban ngày đi hái trái cây, dâng lên cha mẹ, đợi cha mẹ ăn xong mới ăn phần còn lại. Mỗi lần nghĩ đến cảnh cha mẹ đi lại khó khăn, lòng anh vô cùng buồn bã, lòng nghĩ mình nhất định lo lắng cho cha mẹ an hưởng tuổi già một cách thoải mái.

Một hôm, cha mẹ Thiểm Tử khát nước, thế là anh lập tức ra bờ sông lấy nước, bên bờ sông có một bầy nai đang xúm lại chỗ anh. Đúng lúc ấy, vua nước Ca-di vào núi săn bắn. Xa xa trông thấy bên bờ sông có một bầy nai đang uống nước, vua liền dương cung lên bắn; một tiếng vèo bay đến, nào ngờ đâu mũi tên không trúng con nai nào, mà lại trúng Thiểm Tử đang ngồi múc nước gần bầy nai.

A! Ai mà lòng dạ ác độc thế này? Ta sẽ chết mất thôi, cha mẹ tôi phải làm sao đây!”. Mũi tên độc trúng ngay ngực của Thiểm Tử, tiếng anh vang lên trong đau đớn vô cùng.

Nghe tiếng vang ai oán, vua vội vàng thúc ngựa chạy đến, thấy một người bị trúng tên nằm bên bờ sông, máu chảy loang cả mặt nước. Vua lập tức xuống ngựa đỡ Thiểm Tử dậy hỏi:

- Thật, ta bắn trúng ngươi sao? Vì sao ngươi lại ở chốn núi sâu này?

Thiểm Tử hổn hển trả lời:

- Tôi là dân của Đại Vương, tôi cùng tu đạo với cha mẹ trong núi sâu này.

Nghe xong, vua vô cùng hối hận, nghẹn ngào nói:

- Ta muốn bắn nai, ngờ đâu bắn nhầm người tu đạo, tất cả là sai lầm của ta! Vua vừa nói vừa xúc động nước mắt tuôn trào.

Vua vỗ nhẹ vai anh nói:

- Xin anh cho ta biết chỗ ở của cha mẹ anh, ta sẽ trình bày với họ chuyện đáng tiếc này, đồng thời xin chuộc tội với họ.

Bấy giờ Thiểm Tử chỉ còn thở thoi thóp, nói một cách khó nhọc:

- Đại vương theo con đường nhỏ này, không xa sẽ có một ngôi nhà bằng lá, cha mẹ tôi đang sống trong đó. Xin ngài nói với cha mẹ tôi, tôi xin vĩnh biệt cha mẹ tôi, cầu nguyện cha mẹ khoẻ mạnh sống lâu, nhất thiết đừng vì thương nhớ tôi mà quá đau buồn.

Nói xong, Thiểm Tử khóc như mưa, rồi trút hơi thở cuối cùng. Thấy vậy vua và các đại thần đều vô cùng thương xót.

Nhà vua cùng một tốp người đi đến nhà cha mẹ Thiểm Tử, cha mẹ anh nghe có nhiều tiếng bước chân gần đến nhà mình, trong lòng cảm thấy rất sợ hãi nghĩ:” Ồ! Ai đến nhà mình nhỉ?”

Nhà vua đến trước cha mẹ anh, chào hỏi xong nói:

- Tôi là vua nước Ca-di

Cha mẹ anh vui vẻ nói:

- Cảm ơn đại Vượng đại giá đến đây, xin Đại vương ngồi tạm nơi chiếu cỏ này, con chúng tôi đi lấy nước rồi, đợi nó về chúng tôi sẽ pha trà dâng lên ngài.

Nhìn thấy vẻ mặt thương yêu của họ khi nhắc đến Thiểm Tử, trong lòng cảm thấy đau đớn vua buồn bã nói:

- Xin ông bà cứ trách ta! Ta đã bắn trúng con của các người. Nó hiện đã bị tên độc thấm vào người chết rồi, không còn trở về nữa.

Nghe tin này cha mẹ anh suýt nữa ngất đi liền khóc lớn và nói:

- Con của tôi! Nó là người con hiền lành hiếu thảo nhất trên đời. Nó có tội tình gì, mà Ngài phải bắn chết nó?

Đức Vua hối hận nói:

- Con các người là người hiền đức nhất trên đời, nó không có tội gì cả, chỉ vì lúc ta đi săn bắn trúng nó mà thôi.

Cha mẹ anh vừa xoa xoa vết thường, vừa ngửa mặt lên trời; Thần Núi, Thần Sông, Thần Cây! Con tôi tin phụng Phật pháp, tôn trọng hiền nhân, hiếu thuận cha mẹ, thương xót tất cả loài vật cỏ cây, các Thần đều đã biết! Tại sao lại để nó phải chết? Xin các thần cứu nó, cho nó sống lại để tiếp tục hoàn thành công việc tu hành!”.

Nỗi lòng thương con của cha mẹ anh cảm động cả trời đất, cuộc sống của Ngọc Hoàng thượng đế, Tứ Đại Thiên Vương ở trên trời; Thần núi, Thần sông ở trên trời dưới đất đều không ngồi yên, liền ùn ùn đi đến bên xác Thiểm Tử. Ngọc Hoàng thượng đế nói với cha mẹ Thiểm Tử:

- Chúng tôi đều biết đức hạnh của Thiểm Tử, người như thế không thể chết được, ta sẽ cứu sống đứa con hiếu thảo của các ngươi.

Nói xong Ngọc Hoàng thượng đế liền lấy thần dược ra rót vào miệng Thiểm Tử.

Chẳng bao lâu, vết thương của Thiểm Tử dần dần liền lại, anh từ từ mở mắt ra một lát rồi ngồi dậy. Mọi người thấy thế đều vui buồn lẫn lộn, vừa khóc vừa cười. Các vị thần thấy công việc đã hoàn thành tốt đẹp, liền cáo từ rồi đi. Mọi người vái lạy các vị thần, cảm ơn khôn cùng.

Cuối cùng nhà vua đứng lên bảo mọi người:

- Thiểm Tử tin phụng Phật pháp, phẩm đức cao thượng mới được như hôm nay. Từ nay về sau, ta ra lệnh cho cả nước phải thờ Phật, tin pháp, hiếu thuận cha mẹ, thương xót chúng sanh, giống Thiểm Tử vậy.

Từ đó nhân dân nước Ca-di tin phụng Phật pháp, khắp nơi bình yên, nước giàu dân mạnh.

3. Lòng nhân từ của con thú lông vàng

Nước Ba-la-nại có một vị vua hung ác tàn bạo, xa hoa phóng đãng. Ông ta thường giết hại muôn dân trong nước một cách vô cớ, vì vậy mọi người vừa căm giận vừa khiếp sợ.

Một hôm, vua nằm mộng thấy một con thú lạ kỳ, toàn thân đều lông vàng, đầu mỗi sợi lông phát ra ánh sáng, ánh sáng vàng lấp lánh chiếu khắp nơi. Sau khi thức dậy, vua nghĩ:” trên thế giới nhất định có loài dã thú này, không có làm sao ta có thể thấy nó trong giấc mộng? Nếu lột da nó làm mền, sẽ đẹp biết bao?”

Hôm sau, vua cho dời tất cả thợ săn trong nước đến cung vua, nói rồi, rồi nói:” Đêm qua ta nằm mộng, thấy một con thú lạ kỳ, toàn thân đều lông vàng, đầu mỗi sợi lông phát ra ánh sáng, thật tuyệt vời! Các ngươi nhanh chóng vào rừng sâu khám xét, hoặc sục sạo khắp lũng sông, nhất định phải tìm ra cho ta con thú này, sau khi lột da làm mền dâng lên, ta sẽ ban thưởng cho các ngươi rất nhiều, nếu không thì sẽ giết sạch các ngươi và gia đình các ngươi.

Rời khỏi cung vua, các thợ săn ai nấy xìu mặt, âu sầu ủ dột. Bỗng có một người nói:

- Vua chỉ thấy con thú kỳ lạ trong mộng, không phải chính vua nhìn thấy, ai mà biết con thú này ở nơi nào chứ?

- Đúng vậy, Nhưng nếu chúng ta không bắt được nó, thì Vua sẽ không tha cho chúng ta đâu, thì lúc đó chúng ta sẽ mất mạng mất.

Các thợ săn bàn bạc qua lại, nhưng rốt cuộc không nghĩ được cách nào.

Lúc đó, có một thợ săn lớn tuổi phấn chấn nói:” Thế này nhé! Tôi xin vào rừng trước, để thăm dò chỗ ở của con thú lạ kỳ này. Các ông hãy đợi tin tôi. Mọi người đều đồng ý.

Các thợ săn nói:” Nếu ông bình an trở về, biết được tin tức của con thú kỳ lạ, chúng tôi nhất định thưởng vàng cho ông; không may ông gặp nạn trong núi, không trở về được chúng tôi cũng đem tiền của đến cho vợ con ông. Ông cứ yên lòng ra đi!”

Thế rồi người thợ săn lớn tuổi về nhà chuẩn bị một ít hành trang, tạm biệt gia đình rồi ra đi.

Ông trèo đèo vượt núi, băng rừng lội suối, đi khắp nơi tìm dấu vết của con thú lạ kỳ. Nhưng ngày ngày trôi qua, vẫn không tìm ra con thú kỳ lạ trong mộng của vua, thân thể ông thì ngày càng suy yếu.

Một hôm, ông bị rơi xuống một bãi cát, trời nắng chói chang, nước uống lại không còn một giọt, môi lưỡi khô rát, hai mắt không mở nổi, thật sự không biết làm sao cử động. Nghĩ đến mình không tìm được gì mà đã chết, ông rất đau buồn, dùng hết sức lực còn lại để cất tiếng lớn gào khóc thê thảm:” Có ai phát lòng từ, đáng thương tôi, hãy cứu tôi với!”.

Có một dã thú ở trong núi gần đó, tên là “Cứ Đà”, toàn thân nó lông màu vàng rất đẹp, đầu mỗi sợi lông đều có ánh sáng rực rỡ chiếu khắp nơi. Lúc ấy, đang uống nước bên bờ sông, bỗng nghe tiếng kêu cứu, nó nghĩ nhất định có người gặp nạn ở bãi cát rồi. Cứ Đà vội vàng chạy đến bãi cát thấy người thợ săn nằm mê man trên mặt đất, nó liền cõng người đó trên vai, chạy đến bờ sông. Cứ Đà lấy nước sông mát lạnh rưới trên thân người thợ săn, lại đi hái trái cây, ép lấy nước đổ vào miệng thợ săn.

Sau khi ông tỉnh dậy, thấy mình nằm dưới bóng cây bên bờ sông, có một con dã thú ánh sáng vàng lấp lánh đang lo lắng bên mình. Lúc ấy, ông mới hiểu rõ dã thú này là người đã cứu mình, trong lòng vô cùng cảm động. Nhìn kỹ lại ông vô cùng kinh ngạc:” Trời! Con thú này không phải con thú kỳ lạ mà nhà vua bắt chúng ta tìm kiếm đó sao?”

Người thợ săn tim đập dồn dập, nghĩ đến mình phải cứu sống sinh mạng của tất cả thợ săn, nhưng ông ta lại nghĩ:” Lúc sinh mạng ta nguy cấp, chính nó đã cứu sống ta. Ta báo đáp còn chưa được, làm sao có thể quên ơn phụ nghĩa mà giết hại nó? Nhưng nếu ta không tìm được da của nó thì vua sẽ giết tất cả thợ săn và toàn bộ gia đình họ, ta phải làm thế nào mới phải chứ? Suy nghĩ mãi, không thể tìm ra cách nào vẹn toàn cho cả hai bên, ông không cầm được nước mắt liền bật khóc.

Cứ Đà lo lắng hỏi:” Tại sao ông khóc? Có tâm sự gì thì xin cứ nói ra, Tôi sẽ hết sức giúp đỡ ông”,

Người thợ săn không chịu nói ra, nhưng Cứ Đà cứ ba lần bốn lượt truy hỏi, cuối cùng ông cũng đành nói lên nguyên nhân của sự việc. Nghe xong, Cứ Đà nói với người thợ săn:” Việc này ông chớ u sầu nữa, Tôi tự nguyện dâng ông tấm da này. Đời trước tôi đã từng xả thân nhiều vô số, hoàn toàn không mong được báo đáp. Hôm nay, da của tôi có thể cứu sống được nhiều người như thế. Tôi xin tình nguyện dâng xả thân một lần nữa. Ông hãy nhanh ra tay lột da tôi đi! Tôi đã quyết định rồi, không bao giờ hối hận, ông cứ yên lòng lột da tôi đi!”.

Người thợ săn không biết làm cách nào. Sau cùng. Cứ Đà ba lần bốn lượt thúc giục, ông đành vừa khóc vừa dùng dao lột da Cứ Đà. Cứ Đà nhẫn chịu sự đau đớn tột cùng, cố gắng giữ vẻ mặt bình thản, để cho người thợ săn có thể lột xong một tấm da đầy đủ. Sau khi lột da xong Cứ Đà vì đau đớn quá mức, nên đã ngã lăn xuống đất mà chết

Người thợ săn dâng tấm da thú lên Vua, vua vô cùng thích thú, cười sặc sụa nói:” Trên đời thật có da thú kỳ lạ, quý báu, mịn màng này sao! Vật cao quí này chỉ có ta mới xứng đáng được hưởng thọ! Nói rồi, vua liền đem nó trải trên giường của mình.

Các người thợ săn nghe chuyện về Cứ Đà đều cảm động trước phẩm đức cao thượng bỏ mình cứu người, họ phát nguyện mạnh mẽ, để đáp ứng ơn đức lớn lao ấy của Cứ Đà, từ nay không giết hại sinh mạng của muôn loài.

Thế rồi, họ vứt cả dụng cụ săn bắn, trở về nhà làm bạn một người nông dân lương thiện.

4. Báo ơn bảy ngày

Có một vị Bồ tát tu hành trong núi thẳm hang cùng. Ngài thường dùng tâm đại từ bi hoà đồng với những khổ đau sinh tử của chúng sanh trong thiên hạ, tịnh tâm thành ý mong cầu sự giác ngộ. Nhưng có một vật gì đó cứ làm trở ngại sự tu luyện và giác ngộ của ngài, đó chính là một con rận.

Con rận ở trong quần áo của Bồ tát, mỗi khi ngài toạ thiền con rận quấy nhiễu toàn thân, làm cho Bồ tát khó giữ được bình yên. Thường Bồ tát đã khó nhập vào thiền định, lại bị ngứa ngáy khó chịu quấy nhiễu, làm cản trở, vì thế ngài quyết tâm phải bắt được con rận quấy rầy này.

Một hôm, Bồ tát tìm tới tìm lui khắp thân thể, con rận trốn Đông núp Tây, chạy tới chạy lui mất nhiều thời gian, Bồ tát mới bắt được nó. Lúc Bồ tát mới chuẩn bị bóp nó trong lòng bàn tay, bỗng nhiên tâm Bồ tát khởi lên sự thông cảm và xót thương vô hạn.

“Rận này! Rận này! Ngươi ở trên thân ta sẽ làm trở ngại sự tu hành của ta, ta sẽ thả ngươi ở đây, ngươi hãy tự bảo vệ nhé!” Bồ tát nói xong nhẹ nhàng thả nó trên một đống xương khô.

Con rận may mắn thoát ra một kiếp, ở trong đống xương khô 7 ngày, nó tìm được nhiều thức ăn, sau khi ăn xong nó mới tự bò đi. Sau đó qua mấy lần rồi chết, chết rồi sanh, cứ lần lượt như thế.

Cuối cùng Bồ tát cũng tu luyện thành Phật. Một đêm nọ tuyết rơi nhiều, trên đường không một người qua lại. Lúc ấy, có một trưởng giả đến chào hỏi đức Phật, xin cúng dường đức Phật và chúng đệ tử của Ngài, mong tăng thêm phước huệ.Cả nhà trưởng giả thành tâm thật ý rất nhiệt tình. Thoáng một cái, bảy ngày trôi qua, nhưng tuyết vẫn rơi không ngừng, đường xá bị tuyết phủ đầy, không cách nào đi được.

Đức Phật bảo A-nan và các đệ tử:” Chúng ta phải trở về tự viện thôi”.

A nan nghe vậy giật mình, vội vàng thưa:” Bạch thế Tôn! Trưởng giả có thành ý và cung kính chúng ta như thế, chúng ta có thể bảo ông ta cúng dường vài ngày nữa không được sao? Bây giờ chúng ta trở về tự viện, có thể không có nơi nào để ôm bát hoá duyên”.

Đức Phật nói:” Ý tốt của trưởng giả đã hết rồi, không thể cúng dường chúng ta nữa”.

Thế rồi, đức Phật cùng các đệ tử đội gió lớn tuyết rơi trở về tự viện.

Hôm sau đức Phật gọi A-nan đến bảo” Ông hãy đến nhà trưởng giả kia khất thức thử xem”.

Ngài A-nan vâng lời Phật dạy, ôm bát đến nhà trưởng giả. Người gác cửa không thèm báo với chủ nhà, cũng không nói một lời. A-nan đứng một hồi lâu, nhưng người gác cửa vẫn im lặng. Thấy không có ý cúng dường, A-nan liền trở về tự viện, đem tất cả mọi việc thưa với Phật, ngài A-nan nghi ngờ hỏi:” Bạch Thế Tôn! Vì sao thái độ của họ ngày hôm qua khác hẳn ngày hôm nay?”

Đức Phật nói về nhân duyên quá khứ của ngài với con rận, sau đó nói với A-nan:” Này A-nan! Con rận đó chính là trưởng giả bây giờ. Bồ-tát đó chính là ta, cho nên bảy ngày đó, trưởng giả cúng dường chúng ta sơn hào hải vị, để báo đáp nhân duyên đời trước. Bảy ngày trôi qua, tâm ý trưởng giả cũng hết rồi, hiện tại ông đã rõ rồi chứ!”.

 

CHƯƠNG II

NHỮNG MẨU CHUYỆN VỀ NGƯỜI CÓ BẢN LÃNH LỚN

 

1. Bản lãnh của Bàn Đặc

Có một lần, Dược-Vương-Kỳ-Vực tổ chức một buổi tiệc lớn, ông đến thỉnh đức Phật và tăng chúng đến tham dự, nhưng không mời La hán Bàn-Đặc.

Đúng ngày hội, đức Phật và tăng chúng cùng đến nhà Kỳ-Vực. Thấy đức Phật và tăng chúng đến Kỳ-Vực rất vui mừng, lập tức theo qui định, chuẩn bị nước rửa tay sạch sẽ cho Phật và chúng tăng. Nhưng lúc ông mang nước rửa tay đến trước Phật lại từ chối.

Thấy Phật không tiếp nhận, Kỳ-Vực liền thưa:

- Bạch Thế Tôn! Xin Thế Tôn chỉ dạy, không biết tại sao Thế Tôn không nhận nước?”

Đức Phật trả lời:

- Hôm nay tăng chúng đến đây, nhưng trong đó không có Hoà thượng Bàn-đặc, nên ta không nhận.

Thấy đức Phật vì Bàn Đặc không đến nên không nhận nước, trong lòng có chút gì cảm thấy là không đúng. Xưa nay, ông ta xem thường Bàn Đặc, vì thế buộc miệng thưa:

- Bàn Đặc là một Tỳ-kheo ngu si châm lụt, những người chăn bò, chăn dê cẩu thả cũng hơn Bàn Đặc rất nhiều, ông không đến có liên quan gì?”

Thấy Kỳ-Vực xem thường Bàn Đặc, trong lòng ngầm cười Kỳ-Vực có mắt không thấy Thái Sơn, đức Phật liền nói:

- Nếu ông không đến mời Bàn Đặc, ta nhất định không nhận nước trong sạch của ông.

Kỳ-Vực vốn là người tin Phật, luôn vâng lời Phật dạy bảo, thấy đức Phật cứ khăng khăng bảo mời Bàn Đặc, ông đành phải sai người đi mời Bàn Đặc đến tham dự lễ hội.

Sau khi Bàn Đặc đến, đức Phật nói khẽ với A-nan :

- Ông hãy nhanh tìm một cái bát đưa cho Bàn Đặc và nói với ông ta ngồi yên ở đó ,rồi từ xa trực tiếp đưa bát đến cho ta .

Ngài A-nan liền lấy một cái bát đưa cho Bàn Đặc, đồng thời nói với Như Lai bảo ngài từ xa đưa bát cho Như Lai Nghe xong, Bàn Đặc mỉm cười, biết được dụng ý của Phật. Thế rồi ngài một tay cầm bình bát, nói lớn:

- Bạch Thế Tôn! Xin Thế Tôn nhận bát của đệ tử! Đang nói, không thấy người đi lên, chỉ nhìn thấy chiếc bình bát giống như cánh chim bay, mọi người trố mắt nhìn theo, nó chính từ trong tay Bàn Đặc  bay ra. Chiếc bình bát lại giống như con mắt mở lớn bay xung quanh Kỳ-Vực 3 vòng, sau đó nhắm thẳng đức Phật rồi nhẹ nhàng bay đến, rơi xuống trong tay p.

Thấy pháp lực chuyển dời vật trong không trung, nhẹ nhàng từ xa dâng bát cho Phật của Bàn Đặc, chúng tăng đều đồng thanh khen hay.

Xưa nay Kỳ-Vực  rất xem thường Bàn Đặc, lúc thấy Bàn Đặc thi triển pháp lực mới biết ngài là bậc cao tăng đức trọng, ông vô cùng hối hận, tự trách mình nói:” Ái dà! Ta sao ngu độn thế này, Bàn Đặc là người đức độ như thế, mà ta lại xem thường Ngài, thật là không phải!”.

Thế rồi Kỳ-Vực cung kính xin lỗi Phật và tăng chúng, thưa:

- Bạch Thế Tôn! Con thật là người có mắt không tròng! Con tự cao tự đại, xem thường thánh chúng, nói ra những lời nhục mạ thánh chúng, thật là có lỗi với đức Phật!

Từ đó về sau, Kỳ-Vực rất kính ngưỡng Bàn Đặc, đồng thời rất muốn kết bạn với Bàn Đặc. Sau đó quan hệ của Kỳ-Vực và Bàn Đặc ngày càng thân thiết còn hơn tình bạn với 500 cao tăng khác.

2. Các Tỳ-kheo nhỏ từ trời giáng xuống

Ở nước Xá Vệ đức Phật từng hoá độ 500 trẻ em ăn xin, những trẻ em ăn xin này về sau trở thành các Tỳ-kheo nhỏ theo Phật tu hành. Chớ xem thường chúng tuổi nhỏ không có tài năng, mà trái lại những Tỳ-kheo nhỏ này đều có bản tánh thông minh, lanh lợi. Vì thế, sau khi quy y theo Phật, các Tỳ-kheo nhỏ dụng công khắc khổ, tu hành siêng năng, và đều trở thành các vị có thần thông siêu phàm.

Một hôm, thái tử Kỳ-đà nước Xá Vệ chuẩn bị thỉnh Phật và chúng Tăng đến đông cung giảng kinh thuyết pháp, liền phái sứ thần đến tịnh xá Kỳ Hoàn thỉnh Phật và chúng tăng.

Sứ thần cung kính thưa Phật.

- Tại Đông cung thái tử Kỳ Đà đã chuẩn bị thức ăn ngon, con xin thỉnh ngài và chúng đệ tử ngày mai đến thọ trai, đồng thời giảng pháp cho mọi người nghe

Nghe xong đức Phật mỉm cười gật đầu.

Sứ thần bước đi vài bước rồi quay trở lại, dường như muốn thưa một điều gì, nhưng còn do dự. Đức Phật biết sứ thần có nhiều điều muốn nói, liền bảo: “sứ thần có điều gì cứ nói ra đi.”

Ngập ngừng một lát, sứ thần ấp a ấp úng thưa:

- Ngày mai là ngày lành tháng tốt, thái tử Kỳ- Đà rất kỵ những người bần tiện xen vào niềm vui của ông. Vì vậy, xin đức phật đừng cho các kỳ kheo nhỏ trước đây xin ăn đi cùng.

Nghe xong đức Phật mỉm cười khoan dung, nói:

- Ông hãy tâu với thái tử, xin thái tử yên lòng, ta không có các tỳ kheo nhỏ đi đâu.

Sứ thần biết yêu cầu của thái tử quá thất lễ, nói song cảm thấy sấu hổ, liền chấp tay đảnh lễ Thế Tôn, vội vàng từ biệt ra về.

Đợi sứ thần đi, đức Phật dạy 500 vị tỳ kheo nhỏ:

- Ngày mai các ông không được vào Đông kinh thọ trai, dù đến trong cung cũng không được thọ thực, đây là lời dặn dò của thí chủ, các ông nghe rõ chưa?

Các tỳ kheo nhỏ đồng thanh trả lời:

- Bạch Thế Tôn! Chúng con xin vâng lời ạ!

Nói xong, đức Phật bảo các tỳ kheo nhỏ giải tán.

Trưa hôm sau, đức Phật và chúng đệ tử đến Đông cung, hoàn toàn không có 500 tỳ kheo nhỏ đi theo.

Trên mặt đất bằng phẳng trước đại điện Đông cung bày nhiều thức ăn sơn hào hải vị, thái tử đích thân bưng cơm, cung kính dâng lên mời đức Phật dùng.

Ngồi thọ trai một lát, bỗng nhiên đại chúng nghe trong không trung truyền đến những âm thanh, chỉ có đức Phật mỉm cười vì ngài biết chắc chắn là 500 tỳ kheo nhỏ đi đến.

Quả nhiên, một lát sau, 500 tỳ kheo nhỏ bưng bát xuất hiện trên không trung, người này nối tiếp người kia từ từ hạ xuống, theo thứ tự ngồi trên khoảng đất chống gần đấy. Mọi người trong cung vô cùng kinh ngạc, thái tử thấy thế chỉ biết dương mắt ra nhìn.

Thuộc hạ của thái tử lập tức vây quanh các tỳ kheo nhỏ. Họ phát hiện ra một điều hết sức kinh ngạc, trong bát các tỳ kheo nhỏ, rõ ràng đựng đầy cơm gạo tẻ đặc biệt. Loại gạo tẻ này chỉ có sản xuất ở Bắc-uất-đơn-việt cách nước xá vệ vài trăm dặm, lúc này chính là mùa thu hoặch ở Bắc-uất-đơn-việt. Mọi người rất kinh ngạc vè loại gạo tẻ này, ngay ở trong cung Thái tử cũng chỉ ăn được gạo cũ, gạo mới năm nay phải qua sang năm, mới được ăn.

Từ xưa đến nay, thái tử Kỳ Đà chưa hề thấy cảnh tượng này, không nén nổi liền thưa với Phật:

- Bạch Thế Tôn! Đây là các Tỳ-kheo thánh đức từ trên trời giáng xuống hay là từ nơi nào đến?

Đức Phật mỉm cười đáp:

- Đây chính là 500 trẻ em ăn xin, hiện tại là đệ tử của ta, tất cả các Tỳ-kheo nhỏ đều có thần thông.

Nghe xong, thái tử Kỳ đà thẹn đỏ mặt, cảm thấy việc mình không cho các Tỳ-kheo nhỏ đến thọ trai là ý nghĩa rất xấu xa.

3. Thách thức

Có một nước nọ, từ trên vua quan cho đến dưới bần dân, không luận trai gái già trẻ, tất cả đều là những kẻ bất lương, không có việc ác nào không làm, Đức Phật biết tình hình ở đó, nên muốn bảo chúng đệ tử dùng trí huệ giáo hoá họ, khiến họ bỏ ác làm lành.

Đức Phật hỏi trong chúng:

- Trong chúng ngươi có người nào tình nguyện đến nước kia hoá độ dân chúng?

Mục Kiền Liên thưa:

- Bạch Thế Tôn! Xin Thế Tôn cho phép con đến nước ấy hoá độ dân chúng! Con tin rằng mình nhất định sẽ thành công.

Đức Phật bằng lòng.

Mục Kiền Liên ra đi với niềm tin mãnh liệt; đến nơi ngài hướng dẫn muôn dân không nên làm việc xấu ác, giảng cho họ nghe về đạo lý nhân quả nghiệp báo. Nào ngờ, người dân vốn không nghe lời dạy bảo, ngược lại còn chửi trách Mục Kiền Liên:

- Thật là một gã cổ hủ! Ai thèm nghe lời nói bậy của ông? Hãy cút đi mau!

Mục Kiền Liên đành phải buồn bã ra về.

Thấy Mục Kiền Liên ra về, Xá Lợi Phất biết Mục Kiền Liên thất bại liền nói:

- Làm giống kiểu ông nhất định không thực hiện được, đối với những người ngoan cố này, phải dựa vào trí tuệ, lần này để tôi đi xem sao!

Sau đó, Xá Lợi Phất xin đức Phật cho mình đi. Được đức Phật chấp thuận, Xá Lợi Phất ra đi với niềm tự tin chắc chắn.

Nhưng kết quả thật không ngờ, người dân ở đây đã có kinh nghiệm một lần, nên lần này, vừa thấy người thích giảng, không đợi Xá Lợi Phất nói gì, họ ùn ùn kéo đến nhổ nước bọt trước mặt ngài, rồi đuổi đi.

Thế rồi, Xá Lợi Phất mang đầy mình toàn nước bọt, bối rối trở về bên Phật.

Tiếp theo là Ngài Ma Ha Ca Diếp và 500 đệ tử của Ngài đều đến nước đó, nhưng tất cả đều thất bại ra về, không có một người nào thành công.

Lúc ấy, ngài A Nan giận dữ thưa với Phật:

- Người dân của nước này toàn là kẻ xấu xa! Không chịu nghe lời dạy bảo, lại còn huỷ nhục các bậc La-hán, rõ ràng họ hết sức độc ác không thể tha thứ.

Đức Phật điềm nhiên trả lời:

- Người dân nước kia thật là tội nghiệp sâu dày, nhưng họ vẫn còn có thể hoá độ được.

Nói xong, đức Phật nhìn sang Bồ-tát Văn Thù đang ngồi bên mình

Ngài Văn Thù liền đứng dậy thưa:

- Bạch Thế Tôn! Theo con thấy, họ hoàn toàn không phải là hạng người độc ác không thể tha thứ, con nghĩ sẽ có cách để hoá độ cho họ. Xin đức Phật cho phép con đến đó thử xem!

Ngài Văn Thù đến nước đó, trước tiên Ngài đến yết kiến quốc vương, ca tụng vua là bậc anh minh, sau đó lại quan sát kỹ lưỡng từng người dân, hết lòng trò chuyện với họ, lắng nghe tiếng nói của họ, còn y theo hoàn cảnh và sở trường của mỗi người, để khen ngợi người này dũng cảm, người kia có lòng nhân ái, người nọ rất hiếu thảo, người ấy có trí tuệ, người đó có thao lược vv…Mọi người nghe xong rất kinh ngạc, nào ngờ vị trưởng lão này biết rõ chỗ hay của mỗi người, nên trong lòng hết sức cảm động. Chẳng bao lâu họ đem hoa tươi quí hiếm, rải trên đầu Bồ tát Văn Thù, rồi tranh nhau được cúng dường y phục, và thức ăn cho ngài trước tiên.

Bồ tát Văn Thù thấy thời cơ đã đến liền nói với họ:

- Mọi người đều cho rằng tôi có đức hạnh và trí huệ, nói thật về mặt này tôi không có bằng một phần nhỏ của thầy tôi, thầy tôi chính là đức Phật. Nếu các ngươi hoan hỷ cúng dường Phật, thì có thể được phước báo gấp vạn lần cúng dường cho tôi.

Nghe xong người dân trong cả nước rất vui mừng nghe theo ngài Văn Thù. Trong khoảng thời gian dài, tất cả đều không muốn lên đoạn đầu đài.

4. Ánh mặt trời đã tắt

Ngày xưa có hai vị chuyên tâm tu hành trong núi sâu, tên là Đề-kỳ-la và Na-lại. Trải qua thời gian tu luyện, họ đã vượt qua mê hoặc của dục giới, đạt được thần thông.

Một đêm nọ, Đề-kỳ-la tụng kinh xong, cảm thấy mệt, liền nằm xuống nghỉ một lát. Lúc ấy Na-lại cũng đi tụng kinh, vì hang đá trật hẹp, sơ ý đạp phải đầu của Đề-kỳ-la. Đề-kỳ-la đau đớn không chịu nổi miệng mắng một câu:

- Ai đạp vào đầu tôi? Sáng mai lúc mặt trời mọc, đầu của người đó sẽ vỡ thành bảy mảnh.

Vừa nghe, Na-lại rất nổi giận nói:

- Chính tôi đạp nhầm đầu ông, nhưng ông làm gì mà nguyền rủa nặng như thế? Ông nói ngày mai lúc mặt trời mọc, đầu tôi sẽ vỡ thành bảy mảnh, vậy tôi sẽ không cho mặt trời mọc!

Nói xong, Na-lại liền thi hành phép thuật.

Ngày hôm sau, mặt trời quả nhiên không mọc. Liên tiếp năm ngày không thấy ánh mặt trời, mặt đất trở thành một dãy tối tăm, nhân dân cả nước cảm thấy hoang mang sợ hãi, khắp nơi đều đốt đèn cầy, mọi người bàn luận rối rít. Họ đều cảm thấy chắc chắn sẽ phát sanh sự việc đáng sợ gì đây.

Vua triệu tập những người có đạo hạnh và có học vấn đến cung vua, lần lượt hỏi việc này cuối cùng là thế nào đây? Trong những người đó, có một vị đạo hạnh rất cao tâu vua:

- Tâu Đại Vương! Theo quan sát của thần, việc này là do hai vị đạo nhân đã tu hành đắc đạo gây ra. Họ vì một việc nhỏ phát sanh tranh chấp nên đã thi hành pháp thuật không cho mặt trời mọc.

Vua sốt ruột nói:

- Chúng ta phải làm sao bây giờ? Nếu họ cứ tranh chấp mãi thì chúng ta không phải sẽ đi đời rồi sao?

- Tâu đại vương, xin đại vương chớ nóng lòng! Thần có một biện pháp, sáng sớm ngày mai, xin bệ hạ dắt dẫn toàn bộ dân chúng trong cả nước cùng đến chỗ hai vị đang tu hành đó, khẩn cầu họ hoà giải. Họ là những người tu hành có tấm lòng từ bi vô bờ bến, vì lợi ích muôn dân, thần nghĩ họ sẽ đáp ứng, mà hoà giải với nhau.

Sáng sớm hôm sau vua lập tức dẫn muôn dân vào núi. Trước tiên vua đến chỗ Na-Lại, vội vàng quỳ xuống đất nói rất thành khẩn:

- Đất nước chúng tôi giàu có, nhân dân yên ổn, hoàn toàn nhờ ơn của hai vị đại nhân. Bây giờ hai ngài phát sanh tranh chấp, hoàn toàn do lỗi lầm của ta. Xin hai vị đại nhân xem lợi ích của muôn dân làm hàng đầu, mà hoà giải với nhau!

Na-Lại nói:

- Thưa đại vương! Tôi cũng muốn hoà giải chỉ cần sự đồng ý của Đề- kỳ- la, tôi lập tức cho mặt trời mọc.

Vừa nghe xong vua lập tức đi tìm Đề- kỳ- la,  để nói lại với Na-Lại.

Đề- kỳ- la nói:

- Tôi cũng không có ý kiến gì. Nhưng, các ông nhanh chóng lấy bùn làm thành bảy phần giống đầu của Na-Lại. Các ông làm xong mặt trời sẽ mọc.

Vua liền ra lệnh cho mọi người làm theo lời của Đề- kỳ- la.

Mặt trời từ từ nhô lên ở phương đông, ánh sáng chiếu khắp mặt đất, muôn dân hò reo vui mừng.

Chỉ thấy bảy mảnh đầu của Na-Lại làm bằng bùn nổ “đành” một tiếng, nát vụn trên mặt đất. Sau đó, hai vị, đạo nhân hoà thuận với nhau như trước, đồng thời giúp vua trị vì thiên hạ.

Vốn hai đạo nhân tranh chấp chẳng qua là một kế sách vì vua và muôn dân đều không tin phật pháp, không biết nhân quả. Để hoằng dương việc giáo hoá giúp vua trị vì đất nước họ mới nghĩ ra chủ ý này. Từ đó về sau, cả nước từ trên đến dưới đều dần dần tin tưởng Phật Pháp sâu sắc.

 

5. Trí giả Tỷ-đề-ê

Ngày xưa ở nước Ba-la-nại có một vị đại thần tài giỏi tên là Tỷ-đề-ê. Ông ta chuyên cần tu học Phật Pháp, thường vận dụng Phật pháp phụ giúp nhà vua. Vua và tất cả đại thần vô hình trung nhân thấy được ông cảm hoá, toàn bộ mọi người đều nỗ lực tu tập thiện pháp. Vì thế trong nước từ trên đến dưới đều tín nhiệm và kính ngưỡng ông.

Bấy giờ, Long vương minh tướng thường đến ông lãnh thọ lời dạy dỗ. Không ngờ, phu nhân Long vương thấy chồng mình thường xuyên ra ngoài liền suy nghĩ bậy bạ, nên nổi cơn ghen.

Sau đó, tuy biết Long vương hoàn toàn không phải ra ngoài trăng gió, mà là nhận lãnh Phật Pháp, nhưng bà cũng cảm thấy chiếm nhiều thời gian của chồng bà.

Lâu ngày chày tháng, phu nhân Long vương càng ngày càng oán hận Tỷ-đề-ê, liền suy nghĩ lệch lạc, muốn giết hại ông ta. Quỷ-doạ-xoa biết tâm ý của phu nhân Long vương, liền nói:

Muốn giết Tỷ-đề-ê thì dễ thôi, tôi có thể lấy máu ông ta dâng lên phu nhân.

Phu nhân Long vương vui mừng khôn siết, liền nói:

- Sự việc thành công, ta nhất định trọng thưởng cho ngươi.

Thế rồi Quỷ-doạ-xoa đến Long cung mượn một ít châu như ý, hoá trang thành một thương nhân buôn bán châu báu, lẻn vào nước Ba-la-nại, tìm cách gần gũi nhà vua. Quỷ-doạ-xoa biết người nước Ba-la-nại rất thích cờ bạc, vì vậy lấy châu như ý thiết lập một sòng bạc. Chẳng bao lâu, nhà vua và Tỷ-đề-ê cùng đi đến. Nhà vua càng chơi càng hăng, thật lòng muốn đem tất cả chân bảo trong kho ra đánh bạc, muốn quyết một trận thắng bại với Quỷ-doạ-xoa. Nhưng cuối cùng Quỷ-doạ-xoa giành thắng lợi.

Lúc vua đang mặt mày ủ rũ sai người về kho lấy chân bảo, Quỷ-doạ-xoa vừa cười vừa thưa với vua.

- Tâu Đại Vương! Thần cũng không thích gì châu báu của bệ hạ, chỉ muốn bệ hạ bằng lòng giao Tỷ-đề-ê cho thần mà thôi, và thần sẽ dâng hết những viên châu như ý này cho bệ hạ.

Điều này ngoài sức tưởng tượng, vua liền quay sang nói với Tỷ-đề-ê:

- Ta thua rồi chỉ có thể nghe theo yêu cầu của đối phương. Tỷ-đề-ê à! Ông xem ta phải làm sao đây?

Tỷ-đề-ê trả lời:

- Sự việc đã đến nỗi này, thần đành phải đi theo ông ta thôi. Tỷ-đề-ê theo sau Quỷ-doạ-xoa, vừa đi vừa hỏi:

- Ông thà lấy châu như ý dâng lên vua, thì đối với những thứ khác đâu đáng gì với ông, vì sao cứ một mực cần tôi, điều này nói cho cùng là ông cần gì đây?

Quỷ-doạ-xoa bị Tỷ-đề-ê hỏi tới tấp, không nhịn được liền trả lời thành thật:

- Phu nhân Long vương muốn uống máu ông, mới khiến tôi bày ra cái bẫy này.

- Sự việc vốn như thế nào! Nhưng máu người giống nhau, ông giết tôi lấy máu về cho phu nhân, nếu như phu nhân không tin, ông biết làm sao? Chi bằng ông dẫn tôi đến giao cho phu nhân, để bà ta tự giải quyết.

Nghe Tỷ-đề-ê nói, Quỷ-doạ-xoa nghĩ:

- Đây quả là một người có trí tuệ danh sứng với thực! Phu nhân muốn giết một người như thế, thật quá tàn nhẫn!

Thế rồi Tỷ-đề-ê bị mang đến Long cung, gặp phu nhân của Long vương.

Sau khi ban thưởng hậu hỉ cho Quỷ-doạ-xoa, phu nhân ra lệnh cho người cầm dao đến. Lúc đó Tỷ-đề-ê thưa với phu nhân:

- Thưa phu nhân! Bà muốn uống máu tôi, sớm muộn gì cũng được mà. Tôi chỉ xin phép phu nhân một điều, trước lúc tôi chết, cho phép tôi được thuyết pháp một lần cho quý vị nghe. Nếu được như thế tôi chết không chút gì oán hận.

Phu nhân Long vương bằng lòng.

Thế là, Tỷ-đề-ê  vận dụng trí tuệ của mình, thuyết pháp cho phu nhân nghe, ông hoá giải được hận thù và tức giận trong lòng phu nhân, làm cho bà rất vui vẻ và tôn kính.

Về sau, phu nhân và Quỷ-doạ-xoa, vv…đều tình nguyện tiếp nhận giới pháp của ông, đồng thời tặng cho ông chân bảo quý hiếm để tỏ lòng biết ơn.

Cuối cùng, Tỷ-đề-ê an nhiên trở về bên nhà vua, còn những vật quý báu mang về, một phần dâng lên vua, một phần bố thí cho người nghèo.

6. Một lời hơn ngàn vàng

Ngày xưa có một nước nọ nhân dân sống trong cảnh thanh bình no ấm. Một hôm vua nói với các đại thần:

- Các khanh xem nước ta, của cải dồi dào, nhân dân giàu có đông đúc, không thiếu một thứ gì. Nhưng dưới vòm trời bao la này nhất định còn có vật mà ta không có.

Các đại thần nghe song, trả lời:

- Chi bằng chúng ta phái một sứ giả ra nước ngoài tìm mua những thứ mà nước ta không có.

Vua chấp thuận, thế rồi các đại thần tuyển chọn một sứ giả đi ra nước ngoài.

Sứ giả đi đến một nước kia, đi khắp chợ đò, nhưng không vật gì đặc biệt, những món vật báu trong gian hàng thì nước mình cũng có, không có một thứ gì hiếm lạ cả. Sứ giả cảm thấy không còn hy vọng gì định quay về nước. Lúc đang chuẩn bị trở về, bỗng nhiên sứ giả phát hiện có một ông già không bán gì mà ngồi trong chợ có vẻ đang làm gì.

Cảm thấy lạ, sứ giả bèn bước tới hỏi:

- Ông không mua bán vậy ngồi không đây làm gì?

Ông lão mỉm cười, nói:

- Tôi cũng buôn bán đấy chứ.

Hiếu kỳ, sứ giả nhìn xung quanh ông, thật sự không có hang hoá gì cả, liền hỏi tiếp:

- Vậy ông ngồi đây bán cái gì?

- Tôi ngồi đây bán trí tuệ.

- Trí tuệ ông bán là gì? Bao nhiêu tiền

Ông lão tính toán một chút với sứ giả, rồi từ từ trả lời:

- Trí tuệ của tôi phải đáng giá 500 lượng vàng! Ông muốn mua phải đưa vàng ra trước, tôi sẽ nói trí tuệ của ông.

Sứ giả nghĩ: “Đây quả là một việc quá mới mẻ! Trí tuệ mà có bán nữa sao? Ở nước ta chưa bao giờ thấy, cứ mua thử xem, để về nước có mà cư xử”

Nghĩ rồi, sứ giả cầm đủ năm trăm lượng vàng đưa cho ông già, ông già liền nói bốn câu.

Gặp việc phải xét kỹ

Chớ sanh tâm tức giận

Cứ để nó đi qua

Tự sẽ có hiệu nghiệm

Sứ giả thấy mất năm trăm lượng vàng đổi lấy bốn câu, không đáng gì, nhưng đã giao ước xong xuôi, đành phải học thuộc bốn câu trong lòng, rồi từ biệt ông già ra về.

Trên đường trở về nước, đi ngang qua nhà mình, Sứ giả ghé vào thăm nhà. Đến nhà vào lúc lửa đêm, vừa bước vào cửa, sứ giả thấy dưới giường vợ mình có hai đôi dép, liền đùng đùng nổi giận, trong lòng nghĩ chắc rằng, lợi dụng thời cơ mình vắng nhà, cô ta đã tư thông với người khác. Lúc đang nghĩ như thế, bỗng nhiên sứ giả nhớ lại bốn câu nói của ông già, thế là anh đọc kỹ lại hai mươi chữ này để điều hoà cơn giận dữ của mình. Một tiếng đằng hắng, người ngủ trên giường giật mình thức dậy. Đó chính là mẹ anh đến chăm sóc vợ anh bị bệnh, nên tối đến hai mẹ con ngủ với nhau, hai đôi dép dưới giường chính là đôi dép của mẹ chồng nàng dâu.

Bà mẹ nghe tiếng ai giống tiếng con mình liền hỏi:

- Con đã về rồi sao?

Sứ giả lúc này mới phát hiện ra, đó là mẹ mình và vợ mình ngủ với nhau, anh vội vàng chạy ra khỏi phòng, vui sướng hét to:

- Rất tuyệt vời! Rất tuyệt vời! Thật quá tuyệt vời! Bà mẹ thấy vậy ngạc nhiên hỏi:

- Con ra nước ngoài mua được thứ gì, sao lại nói tuyệt vời như thế?

Sứ giả trở vào phòng, cầm tay mẹ vui vẻ nói:

- Mẹ và vợ con, dù một vạn lượng vàng con cũng không bán cho người khác, nhưng hôm nay, nhờ trí huệ con mua 500 lượng vàng mà tính mạng nhà mình được bảo toàn, đó không phải là quá tuyệt vời sao? Thật giá trị của một câu nói, còn hơn cả ngàn lượng vàng vậy!

7. Cuộc so tài giữa ngoại đạo và Phật giáo

Ngày xưa ở một nước kia, nhà vua thì tin theo Lục Sư ngoại đạo, còn thái tử lại tín ngưỡng Phật giáo. Thầy Phật giáo của thái tử là một người mặc áo trắng, có đạo hạnh cao cả, và rất có danh tiếng. Năm trăm ngoại đạo thấy hiền giả áo trắng danh tiếng hơn họ nên rất ganh ghét. Thế rồi họ đưa ra mưu kế để hăm hại bậc hiền nhân.

Năm trăm ngoại đạo cử một Bà-la-môn đề nghị với vua:

- Hiện tại nước ta cùng lúc phụng thờ Bà-la-môn và Phật giáo, nếu một nước hai tôn giáo thịnh hành, thì tư tưởng của người dân nước đó rất khó thống nhất. Bà-la-môn chúng tôi muốn so tài với người đại diện của Phật giáo, nếu bên nào thua sẽ trọn đời làm nô lệ cho đối phương! Xin đại vương chấp thuận và chính ngài đã làm người xét chuyện này.

Được sự đồng ý của vua, những Bà-la-môn liền đi đến thoả thuận so tài với thầy Phật giáo:” Hai bên đều bắt một con nai, sau đó để cho hai con nai đọ sức với nhau, nếu nai của bên nào thua, thì bên ấy sẽ làm nô lệ của đối phương”.

Sau khi thoả thuận hai bên đều tự vào núi tìm nai.

Năm trăm Bà-la-môn đều giỏi về săn bắt, vì thế họ dùng mũi tên bắn và bắt được những con nai to lớn. Chỉ một lát họ đã bắt được nai, nhưng vì họ dùng mũi tên để bắt, nên mắt trái của nai bị đâm thủng, do đó mắt trái của con nai nào cũng bị thương.

Thầy Phật giáo của thái tử, tức là hiền giả áo trắng cũng vào núi tìm nai. Nhưng vì không nỡ giết hại chúng sanh, nên anh chỉ biết ngồi thiền dưới gốc cây, lặng yên tụng kinh Phật, chí thành cầu nguyện Phật pháp giúp đỡ anh để hoằng dương đạo Phật. Lúc đó chỉ thấy một con nai hoa lớn năm mầu từ dưới đất vọt lên, nhảy nhót vui mừng, vừa đẹp vừa to lớn khoẻ mạnh. Hiền giả vô cùng vui mừng, hớn hở dắt nai về nhà.

Năm trăm ngoại đạo Bà-la-môn, biết hiền giả có được một con nai hoa năm màu to lớn khoẻ mạnh, vo cùng hoảng sợ liền nghĩ đến thủ đoạn lừa bịp để bắt nai của hiền giả. Thừa lúc hiển giả vắng nhà, họ phái người đến cố ý nói vợ hiền giả:

- Chồng cô muốn bỏ cô vào núi tu hành, đều do con nai hoa mang điềm dữ này phá hoại sự bình yên trong gia đình cô!

Nghe xong, vợ hiền giả nổi giận, lập tức dẫn nai ra giao cho Bà-la-môn.

Trở về nhà, phát hiện bị mất, hiền giả hỏi vợ:

- Con nai hoa tôi dắt về đi đâu rồi?

Người vợ giận dữ nói:

- Đồ súc sanh đáng chết! Chàng tại sao dẫn vật không may về nhà này? Tôi đã thả nó đi rồi!

Nghe xong, hiền giả rất lo lắng, nghĩ đến lúc công khai thi đấu, nếu thua thì không còn cách nào để hoằng dương Phật Pháp, không có nai biết làm sao đây?

Hiền giả lần nữa trở vào núi sâu, vẫn ngồi trước gốc cây lần trước, niệm Phật tụng kinh, một lòng sám hối Phật. Bỗng thấy một đường sáng từ dưới đất phát ra, trước mặt hiền giả xuất hiện một viên thần châu, ánh sáng báu chiếu khắp nơi. Trong hạt châu có thể nhìn thấy quá khứ, tương lai của sự vật, thật là một trân bảo hiếm có trên đời, giá trị rất lớn.

Hiền giả cầm thần châu, quan sát tỉ mỉ liền phát hiện ra Bà-la-môn lừa bịp bắt nai của mình. Thế là, hiền giả cầm bảo châu đến nhà Bà-la-môn, bảo châu trong tay sáng chói lạ thường.

Vợ Bà-la-môn thấy bảo châu sáng chói, trong lòng không phục, liền dắt nai hoa năm mầu trong nhà ra, nói với hiền giả:

- Thần khí gì! Ông có bảo châu, tôi có nai hoa mai năm mầu, bảo vật của ông là vật chết, con nai của tôi là vật sống!

Thấy vợ Bà-la-môn dắt nai ra, hiền giả nói lớn:

- Nhà vua có lệnh, bảo tôi nuôi dạy thuần phục con nai năm mầu này, cô lại bắt trộm nó, lẽ nào không sợ bị chém đầu hả!

Nghe xong, vợ Bà-la-môn vừa sợ vừa lo, run lập cập giải thích:

- Việc này không liên quan đến tôi, nai này do chồng tôi dắt về, xin ông dắt nó đi đi! Dù thế nào đừng nói chúng tôi ăn trộm.

Được nai trong tay, hiền giả không cần lý luận với bà ta nữa, dắt nai trở về.

Đến ngày thi đấu, các Bà-la-môn đều dắt nai săn bắt được đem đến. Những con nai này đều bị thương ở mắt trái đã mấy ngày nay, nên máu mủ vữa ra, thật quá dơ bẩn, hôi hám, thấy thế vua vừa đùng đùng nổi giận, vừa tiếc thay cho họ, nhưng không còn cách nào.

Lúc ấy, hiền giả từ từ dắt nai hoa mai năm màu và thần châu mắt sáng đến đại điện. Hai thần vật, nai màu sắc rực rỡ, châu ánh sáng chói loá mắt, từ đó mọi người đều mở rộng tầm nhìn, miệng không ngớt khen ngợi.

Lúc đó, năm trăm ngoại đạo Bà-la-môn như bóng da xì hơi, không còn tinh thần thi đấu nữa, thắng bại đã rõ ràng.

Theo giao ước trước đây, năm trăm Bà-la-môn trọn đời làm người bị sai khiến của thầy Phật giáo, vợ của họ cũng giống như họ, làm nô tỳ cho vợ hiền giả. Hiền giả giảng thuyết dạy bảo cho các Bà-la-môn khiến họ quy y Tam Bảo và làm đệ tử của mình.

 

CHƯƠNG III

NHỮNG MẨU CHUYỆN VỀ NIỀM TIN SẼ CÓ SỨC MẠNH

 

1. Tam quy y

Có một tên trộm thường đến trộm tài vật trong thất của hoà thượng. Vì thế Hoà thượng rất khổ não, trong thất không có gì phòng thân, và lại sức khoẻ không địch nổi tên trộm, đành phải ngày nào cũng đóng cửa chặt chẽ, không dám ra khỏi nhà một bước.

Một hôm, đang ngồi trong thất, bỗng nhiên Hoà thượng nghe tiếng gõ cửa cộp cộp cộp…, Hoà thượng nhìn ra khe hở, thấy đúng là tên trộm, liền vội vàng lấy bàn, ghế chận cửa lại.

Thấy Hoà thượng không mở cửa tên trộm nói:

- Lão Hoà thượng, mở cửa mau lên! Tôi đến đây để cảm ơn ông, trước đây tôi lấy của ông rất nhiều thứ, nay tôi đem tất cả những thứ đó trả lại ông.

Không thể tin lời quỷ quái của tên trộm, Hoà thượng không chịu mở cửa. Nhưng tên trộm cứ gõ cửa hoài, càng gõ càng mạnh, Hoà thượng càng lúc càng lo lắng. Lúc ấy, Hoà thượng nhanh trí nghĩ ra một biện pháp, liền dùng lời hoà nhã nói:

- Ông đừng gõ cửa nữa, tôi không dám gặp ông, càng không dám nhận sự cám ơn của ông. Ông hãy mau đưa tay vào lỗ này, ông muốn vật gì tôi sẽ đưa cho ông vật đó.

Vừa nghe tên trộm vừa nghĩ:” Hì hì! Lão Hoà thượng cuối cùng cũng ngoan ngoãn nhỉ!”, liền đưa tay vào lỗ nhỏ của cánh cửa.

Ở bên trong, vừa thấy cánh tay của tên trộm, Hoà thượng vội chụp lấy tay hắn, lấy tay cột chặt tay hắn vào một cái cột gần cửa, sau đó cầm thiền trượng mở cửa đi ra, đánh tên trộm.

Đánh phát thứ nhất Hoà thượng nói lớn:

- Quy y Phật!

Tên trộm khiếp sợ, vội vàng nói theo!

- Quy y Phật!

Hoà thượng lại đưa thiền trượng lên cao ra sức phát thứ 2, miệng nói:

- Quy Y Pháp!

Tên trộm đau đớn không chịu nổi, sợ Hoà thượng đánh tiếp, đành nói theo:

- Quy y Pháp!

Bất ngờ Hoà thượng tiếp tục gia sức đánh phát thứ ba nói:

- Quy y Tăng!

Tên trộm vội vàng nói theo:

- Quy y Tăng! Quy y Tăng!

Vừa nói, trong lòng vừa phân vân:” Không biết lão Hoà thượng còn quy y bao nhiêu lần nữa? Nếu ông ta còn quy y như thế này nữa thì mạng sống nhỏ nhoi này e rằng không bảo đảm được!”

Đang lo lắng, Hoà thượng lại ngừng tay không đánh nữa, đồng thời cởi trói, bảo tên trộm hãy đi đi.

Tên trộm bị đánh mặt mũi tái xanh, toàn thân đau nhói, không còn chút sức lực, từ từ đứng dậy, khập khà khập khiễng trở về nhà.

Thế là tên trộm ở nhà dưỡng thương một thời gian dài. Đến lúc dưỡng thương xong, anh ta quyết định xuất gia tu học Phật Pháp

Bạn bè biết chuyện ngạc nhiên hỏi:” Ông trước đây làm nhiều việc xấu thế, tại sao hôm nay bỗng nhiên hối hận, muốn xuất gia học Phật?

Tên trộm đáp:

- Tôi nghĩ đi nghĩ lại, cảm thấy đức Phật Thích Ca Mâu Ni thậi vĩ đại! Hôm đó tôi bị Hoà thượng trói, lấy thiền trượng đánh ba cái, dường như gần chết. Nếu đức Phật hồi đó không dạy đệ tử “ Tam quy y”, mà dạy “ tứ quy y”, không phải tôi đã chết rồi sao? Tôi nghĩ pháp lực của đức Phật vô biên, trước đây mấy trăm năm biết tôi sẽ bị đánh, biết rằng nếu chế định “ Tứ quy y” Tôi sẽ bị đánh chết, cho nên chỉ chế định “ Tam quy y”, đó chính là đức Phật Thích Ca thương xót tôi vậy!

2. Chuột chết trở thành chuột vàng

Ngày xưa, có một chàng thanh niên khi cha mẹ qua đời để lại cho anh ta rất nhiều tiền tài. Nhưng bản tính của anh thích ăn nhác làm, không chăm lo nghề nghiệp, lại không biết quản lý tài sản, vì thế không bao lâu gia nghiệp cha mẹ anh vất vả gây dựng dần dần tiêu sạch.

Lúc cha anh còn sống có một người bạn thân, hiện giờ ông ta là một phú ông rất giàu có và danh tiếng. Thấy con bạn mình không biết tiến thân, phá hại tài sản của cha mình, trong lòng vừa giận vừa lo. Phú ông một mình đến tìm chàng thanh niên, dạy cho anh ta phải quản lý tài sản như thế nào, đồng thời hảo tâm đưa cho anh một ngàn lượng vàng, làm tiền vốn để chấn hưng gia nghiệp.

Chàng thanh niên theo biện pháp dạy dỗ của phú ông học buôn bán, nhưng vẫn ăn chơi rượu chè cờ bạc, nên tiền kiếm được vẫn không đủ để chơi bời hoang phí. Chẳng bao lâu, một ngàn lượng vàng của phú ông cho ông đã tiêu sạch. Nhiều lần như thế nhưng phú ông vẫn kiên nhẫn giúp đỡ anh. Song chàng thanh niên lúc nào cũng nhanh chóng sài tiền hết sạch. Phú ông giúp đỡ liên tiếp năm lần, nhưng anh ta vẫn nghèo rớt mồng tơi.

Rất thất vọng về anh ta, phú ông nghĩ:” Vì tình bạn xưa với cha nó, ta cứ giúp nó một lần nữa. Nếu nó không biết sửa đổi, ta cũng không còn cách nào hơn!”

Một hôm, phú ông đến nhà chàng thanh niên. Thấy ngoài cửa có một đống phân, phía trên đống phân có một con chuột chết, phú ông liền mượn việc này để chỉ dạy anh ta:” Người còn trẻ nên cần biết, một người thông minh cần tranh thủ thời gian, tạo điều kiện làm giàu, trở nên giàu có. Lấy việc con chuột chết trước mắt mà nói, chỉ cần chịu động não một chút, nhờ vào đó cũng có thể lập nghiệp. Thật sự tôi khó tin được anh cầm mấy ngàn lượng vàng mà nghèo cùng đến nỗi này! Hôm nay tôi cho anh một ngàn lượng vàng, anh phải nỗ lực làm ăn để xoay chuyển tình hình. Nếu anh cứ như mấy lần trước, tiêu sài hết chỗ tài sản này, thì anh đừng gặp tôi, và tôi cũng không đến tìm anh nữa”.

Lúc đó, cách tường có một em bé ăn xin, nghe lời phú ông dạy, tức thì cảm nhận được. Sau khi cảm ơn xong, nó lấy con chuột chết từ đống phân ra, rửa ráy sạch sẽ, sau đó xin cách thứ gia vị, rồi lột da chuột thành món ăn ngon, thế là em bé đem thức ăn ra chợ bán được 2 đồng tiền. Nhờ hai đồng tiền làm vốn, nó làm nghề bán rau cải và nhanh chóng kiếm được mấy trăm đồng tiền. Cứ như thế, ngày nào nó cũng vất vả làm ăn. Lâu ngày chày tháng, cuối cùng nó trở thành người giàu có.

Trở thành người giàu có rồi nghĩ:” Ta chính nhờ lời dạy dỗ của phú ông kia, mới được khai mở tâm trí. Bây giờ đã giàu có, ta phải báo đáp vị ân nhan đó. Thế rồi, anh ta làm một cái bàn bằng bạc, đúc một con chuột bằng vàng, bỏ đầy các thứ trân bảo quý hiếm, rồi để chuột vàng lên bàn bạc, lại dùng đã quí, anh lại viền hoa xung quanh bàn, rồi anh cho người mang lễ vật đến nhà phú ông, để nói lên sự phát tài của mình.

Đến nơi anh ta thưa:

- Thưa ông! Tôi có được như ngày hôm nay, hoàn toàn nhờ nghe lời dạy bảo của ông, một chút lễ mọn này xin ông vui lòng nhận cho.

Thật bất ngờ trước lời nói của chàng trai, không ngờ lời nói của mình, mà từ một em bé xin ăn trở thành một người giàu có tiền giắt đầy lưng. Phú ông vô cùng vui mừng gả con gái cho chàng thanh niên vừa siêng năng vừa thông minh. Trước lúc lìa đời, ông lại giao toàn bộ tài sản của gia đình cho anh.

Còn anh chàng thanh niên kia ngày nào cũng sống chơi bời phóng đãng, không làm việc chân chính, vì thế tiền bạc hết sạch, không biết nương nhờ ai, đành phải ăn xin qua ngày.

3. Cây Phật sống lại

Ngày xửa ngày xưa, có Phật ra đời hiệu là Thuỷ Vô, bấy giờ vua Hảo Tín rất tin Phật, hết lòng lễ bái, cúng dường Phật và nghe Phật thuyết pháp không hề biết chán. Vua Hảo Tín trồng một cây Ni-câu- loại rất quí hiếm, đồng thời dưới gốc cây làm bằng toà cao bằng gỗ chiên đàn hương, để đức Phật ngồi thuyết pháp, còn vua ngồi cung kính nghe Phật thuyết giảng kinh pháp.

Đức Phật Thuỷ Vô tuỳ theo căn cơ giáo hoá chúng sinh, duyên cơ đã mãn, bèn thị hiện nhập Niết-bàn. Từ khi thấy đức Phật nhập Niết-bàn, vua Hảo Tín gọi cây Ni –câu-loại ấy là cây Phật, để khi nhìn thấy cây ấy, giống như nhìn thấy thân Phật hàng ngày, vua thường ngồi dưới gốc cây để ôn lại những cảnh lúc đức Phật thuyết pháp cho vua trước đây. Tuy đức Phật diệt độ rồi, nhưng nhờ có cây Phật, vua cảm thấy rất mãn nguyện.

Đức vua một lòng hướng về Phật, tự nhiên lơ là với Hoàng hậu.

Hoàng hậu nghĩ :” Ta là Hoàng hậu, lại thua một thân cây, thật là không có chút đạo lý!”

Càng nghĩ bà càng tức giận, càng ghanh ghét, bao nhiêu giận dữ đổ lên cây Phật.

Hoàng hậu lại nghĩ:” Ta nhất định phải làm cho cây Phật đến chết mới được, xem đại vương còn tin Phật không?”

Thế rồi, Hoàng hậu bỏ ra nhiều tiền, thuê một tay hạ độc cao thủ, muốn hạ độc chết cây Phật nhưng không để lại dấu vết gì.

Tên hạ độc cao thủ chọn một ngày xấu, tức là tối ngày mùng 7 tháng 4, dự định ngày ấy sẽ hạ độc cây Phật. Hắn ta bắt một con rắn lớn rất độc, lấy não rắn đó trộn với dịch độc của rắn. Đựng trong một cái bình. Chờ màn đêm buông xuống, hắn phi ngựa một mạch đến cây Phật. Chỉ thấy hắn lấy ra một cây dao găm, từ từ gọt một lớp vỏ cây sát dưới gốc, rồi lấy nước não rắn bôi vào thân cây, sau đó lấy vỏ cây đắp lên, thật không thể sơ hở tí nào, quỷ thần cũng khó biết.

Sáng hôm sau, như thường lệ vua đến cây Phật, việc trước tiên là lễ Phật. Lúc vừa đi đến trước cây Phật, vua rất kinh ngạc, cây Phật ngày hôm qua cành lá xanh tươi, sức sống mạnh mẽ nhưng bây giờ lại cành khô lá úa, chết khô mất rồi!

Thấy cảnh tượng đó nhà vua không ngăn được nỗi u buồn, liền khóc lớn. Nhưng vua cuối cùng cũng khôn thẹn mình là một Quốc Vương có tín tâm, có nghị lực, có tầm nhìn sâu rộng, nghĩ:” Chỉ khóc, không phải là biện pháp, chi bằng ta nghĩ cách cứu sống cây Phật”. Thế rồi, nhà vua tin chắc rằng mình lễ Phật sám hối vài mươi năm, nhất định sẽ cảm động đến trời đất, sẽ được Phật giúp đỡ. Ngày hôm sau tức nửa đêm mồng tám tháng tư, nhà vua lấy nước thơm năm màu được đức Phật Thuỷ Vô cho mình trước đây, sau đó ngắt cánh hoa của năm loại hoa tươi bỏ vào nước thơm khuấy đều với nhau. Đợi cánh hoa dung hoà với nước thơm xong, vua đem nước thơm năm màu đổ dưới gốc cây Phật. Vừa đổ vừa nói:” Mong rằng Phật vẫn còn mãi trong tâm con, mong sao cành lá Phật gặp mùa xuân có thể xanh tươi trở lại!”

Lạ kỳ thay, chưa đầy hai tiếng đồng hồ, cây Phật đã chết khô cuối cùng lại đâm chồi nảy lộc, tràn đầy nhựa sống!

Thấy như thế, vui mừng khôn xiết, vội vàng lễ bái cây Phật không ngừng, đồng thời biểu lộ tâm trạng của mình:” Con mong rằng chư Phật trong mười phương, từ nay về sau đều lấy ngày mồng tám tháng tư làm ngày đản sanh của mình, con ước mong lúc chư Phật tu thành chánh quả cũng định ngày mồng tám tháng tư, và nhập cảnh giới Niết-bàn cũng là ngày mồng tám tháng tư”.

Về sau mọi người lấy ngày mồng tám tháng tư làm tốt lành nhất, đồng thời gọi ngày mồng tám tháng tư là ngày tắm Phật.

4. Mùi thơm tự nhiên

Triều đại Khổng Tước ở Ấn Độ có vua A-dục xây dựng một cung điện rất lớn. Vua ra lệnh triệu tập các hoạ sĩ nổi tiếng của các nước lân cận đến vẽ tường cung điện đủ các hình các loại.

Có một hoạ sĩ đến cuối cùng, khi anh ta đến, thì toàn bộ các bức tường, rường cột, cột trụ, các bức tranh gần như chỗ nào cũng có, nhất thời anh không nghĩ ra phải vẽ gì cho thích hợp đây. Bỗng nhiên, anh nhớ lại, lúc đi qua một thành phố nhỏ, thấy một người con gái đẹp như tiên đứng bên bờ ao ngắm hoa sen. Vẻ đẹp của người con gái mới lớn đó, làm anh phải đứng ngắm nhìn. Nghĩ đến đây, anh nhanh chóng lấy giấy bút ra vẽ cảnh đẹp ấy.

Mấy hôm sau, vua đến cung thị sát; khi nhìn thấy bức tranh này khác với các bức tranh khác liền hỏi:

- Vẽ đẹp thật! Ai vẽ bức tranh này?

Người hầu đáp:

- Tâu bệ hạ! Đó là bức tranh của hoạ sĩ đến cuối cùng.

- Lập tức mời họa sĩ đến gặp ta, vua truyền lệnh.

Đợi hoạ sĩ đến đại điện vua hỏi:

- Người đẹp hấp dẫn trong bức tranh của ông là căn cứ vào cảnh thực hay do trí tưởng tượng mà ra?

Hoạ sĩ đáp:

- Tâu bệ hạ! Đây là một cảnh đẹp có thực, lúc đến đây, giữa đường thần thấy được cảnh đẹp này, vì vậy thần vẽ lên tường để bệ hạ thưởng thức. Nghe xong, vua gật đầu, sau đó cùng hoạ sĩ thưởng thức rất kỹ lưỡng. Thấy người đẹp trong tranh đoan trang mỹ lệ, nét mặt tươi cười rạng rỡ, người đẹp này khó gặp được, càng nhìn vua càng ưa thích, thế rồi phái sứ giả đến cầu hôn, muốn phong cô ta làm Hoàng hậu

Lúc sứ giả đến thôn cô ta ở, nào ngờ cha mẹ cô ta biết cô ta đã có chồng rồi. Nhưng sứ giả không tuyệt vọng, bèn đến nhà chồng cô ta, nói với người chồng:

- Quốc vương là vua một nước, ông nên dâng hiến vợ cho vua, vợ ông đẹp như thế, có thể thọ hưởng vinh hoa phú quí khôn cùng, ông cũng có thể được nhiều của báu.

Người  chồng là một cư sĩ tin Phật. Nghe lời sứ giả nói, anh nghĩ:” Nếu ta không hiến dâng vợ cho vua, không những hại vợ bị trừng trị mà còn có thể liên luỵ đến cả nhà.

Nghĩ như vậy, anh đanh nuốt lệ thương đau giao vợ mình cho sứ giả.

Sứ giả dắt người đẹp về kinh đô. Vừa thấy người đẹp, nhà vua vô cùng vui sướng, lập tức phong cô làm Hoàng hậu, sau đó đưa nàng đến hậu cung ngày đêm cùng hầu bạn.

Không bao lâu, nhà vua phát hiện mỗi lần Hoàng hậu đến bên ao sen trong ngự hoa viên thường đứng khóc sụt sùi.

Một hôm, không ngăn được sự hiếu kỳ vua buột miệng hỏi Hoàng hậu:

-Tại sao ái khanh vừa thấy hoa sen, liền khóc bi thương như thế?

- Hoàng hậu trả lời:

- Thưa Hoàng thượng! Thiếp không dán nói đâu, nếu bệ hạ khoan hồng tha thứ cho thiếp vô tội, thiếp mới dám nói ra hết sự tình.

Vua cười nói:

- Được rồi! Ta sẽ tha thứ cho ái khanh vô tội, ái khanh hãy nói với ta nghe đi!

Hoàng hậu nói:

- Thưa Hoàng thượng! Mùi vị của hoa sen này giống mùi hương trên thân chồng thiếp trước đây, vì cảm xúc cảnh sanh tình, cho nên thiếp khóc.

Nghe xong, vua đùng đùng nổi giận, mắng:

- Cô là người đàn bà đê tiện! Đã có một đời chồng, sao giấu ta? Lại lúc nào cũng nhớ người chồng cũ, còn bịa đặt chuyện hoang đường để lừa dối ta! Bây giờ ta sẽ phái người đến bắt hắn ta về đây. Nếu trên thân chồng trước của cô không có hương vị hoa sen, ta sẽ cho hai người cùng chịu tội.

Nói về chàng cư sĩ trẻ tuổi kia, từ khi mất đi người vợ yêu qúi, anh bèn xuất gia tu học Phật pháp, và đã đắc quả A-la-hán.

Tốn rất nhiều thời gian, sứ giả mới tìm ra chàng thanh niên xuất gia, nay đã trở thành vị A-la-hán, liền bắt dẫn về cung vua.

- Vị Tỳ-kheo vừa bước vào cung, vua liền nghe mùi hương còn hơn vị của hoa sen. Nhà vua lập tức hạ lệnh!

- Người này trên thân thể nhất định có bôi các chất liệu hương thơm, các ngươi lấy nước ấm tắm cho hắn sạch đi.

Nhưng, sau khi vợ Tỳ-kheo trẻ tắm nước  ấm xong, trên thân thể anh ta tỏa ra mùi thơm còn hơn lúc trước. Song vua không tuyệt vọng, ra lệnh cho người hầu lấy tơ lụa cuốn chặt khắp thân thể Tỳ-kheo trẻ, nhưng mùi hương càng toả ra thơm ngát khắp cung điện.

Lúc đó, nhà vua mới hạ lệnh cho người hầu ngừng tay, tin chắc trên thân thể vị Tỳ-kheo trẻ có mùi hương, nên tắm không bay, quấn khăn cũng không ngăn được mùi thơm. Hiếu kỳ vua hỏi:

- Thân thể ngươi tại sao toát ra mùi hương thần kỳ như vậy?

Tỳ kheo trẻ đáp:

- Tâu bệ hạ! Đời trước thần là một Bà-la-môn, lúc đi trên đường nghe tiếng giảng kinh ở đằng xa, trong lòng rất vui mừng, đồng thời từ đáy lòng mình khen ngợi Bồ-tát, lại chí thành đốt hương cúng dường. Vì vậy Bồ-tát ban phước cho thần, khiến cho thần đắc đạo, và trên thân có mùi hương như vậy.

Nghe xong nhà vua tán thán sự thần kỳ của Phật pháp, từ đó không còn trừng phạt hoàng hậu nữa, mà lại dốc lòng tu Phật, làm cho chiều đại Khổng Tước trở thành thời đại cực thịnh của Phật Pháp.

5. Phương pháp đối phó với quỉ giết người

Ngày xưa có một tu sĩ tín ngưỡng Phật giáo. Vì tài trí kém cõi, nên từ đầu đến cuối chưa giác ngộ được chân đế của Phật Pháp, nhưng anh vẫn một lòng tin Phật, tu hành cùng với các hiền sĩ. Về sau, vị cư sĩ này tuổi tác ngày càng cao, đôi mắt bị loà, đi lại chậm chạp; ông không muốn chung sống với các hiền sĩ nữa vì sợ trở thành gánh nặng cho họ, vì thế bèn liền xa họ, một mình đi vào núi sâu.

Vào núi, ông tìm được một nơi yên lặng mát mẻ, bèn dựng một ngôi am tranh, và bắt đầu khai khẩn đất hoang, trồng lương thực, sống trong một cuộc sống không có gì ràng buộc.

Ngày tháng trôi qua, suốt ngày ông bận rộn công việc ruộng vườn, hoặc vào khe núi giặt quần áo, bắt cá, tuy sống rất thanh bần, nhưng ông cũng sống qua những tháng ngày vui vẻ tự đắc. Từ từ, ông quên hết toàn bộ kinh pháp của Phật, cũng không còn sớm tối lễ Phật tụng kinh, biến thành một người không có  chút gì tín ngưỡng Phật giáo.

Một ông Phạm Chí đến núi này. Vì đường xa, lại vừa đói vừa khát, bỗng thấy xa xa có am tranh