CHẾT TRONG AN
BÌNH
LOVING AND DYING
Tỳ Kheo Visuddhacara
Thích Tâm Quang dịch
PHẬT LỊCH 2548 – DƯƠNG LỊCH 2004

MỤC LỤC
LỜI TỰA
Tôi viết tác phẩm này nhằm chia
sẻ một số suy nghĩ về cái chết với bất cứ ai quan tâm muốn tìm hiểu về cái
chết. Suy nghĩ về cách chúng ta có thể trực diện với cái chết – bằng can
đảm và tính thanh thản, có phẩm cách.
Và nếu bạn muốn bằng một nụ cười. Suy nghĩ về cách
đương đầu với khổ đau, cách sống bằng trí tuệ
và lòng từ bi, hay bằng nhiều thứ về
điều đó mà chúng ta có thể tập trung
được cho đến khi chúng ta chết.
Nhưng thường thường người ta
không thích nói về cái chết. Bất cứ lúc nào vấn
đề này
được đề cập, người tạ bắt đầu cảm thấy khó chịu. Ðặc biệt
được coi là cấm kỵ không
được nói đến vào những dịp tốt lành
như sinh nhật hay Năm Mới. Làm như
đề cập đến từ chết vào những dịp tốt
lành có thể gây tai hại và mang lai vận rủi hay chết sớm! Ðương nhiên, tôi
không đồng ý với những ý tưởng như thế. Với
tôi, điều đó chỉ là dị đoan. Tôi có
thể hiểu dù cho người ta coi vấn đề về
cái chết trong những dịp tốt lành là không ý nhị. Nhưng tôi cho
rằng nghẫm nghĩ về cái chết và cả đến những
dịp như sinh nhật và Năm Mới là
tốt và đúng, có lẽ nên suy ngẫm nhiều
hơn nữa vào những dịp như vậy. Tại sao? Bởi vì chúng ta có thể xét thấy
chúng ta không phải ngày một trẻ lại mà ngày một già
đi và cứ mỗi năm
trôi qua mang chúng ta đến gần nhà mồ. Trong suy ngẫm như thế,
chúng ta có thể đánh giá lại đời sống mình,
thẩm xét lại vị trí của mình và xem xét liệu chúng ta có
đi đúng hướng hay không - hướng của trí tuệ và
từ bi.
Là một nhà sư, tôi thường trầm
tư (thiền) về cái chết. Việc này nhắc nhở tôi sống một cuộc
đời có ý nghĩa hơn, không uổng phí ngày
giờ vô ích dù tôi phải thú nhận tôi vẫn còn thỉnh thoảng lãng phí thì giờ
quý báu; vì như quý vị biết cái tâm đôi khi
rất bướng bỉnh và lười biếng. Tuy nhiên bởi suy ngẫm thường xuyên
về cái chết, tôi luôn nhớ rằng tôi phải tìm ra nhiều thì giờ hành thiền
tuệ giác hơn nữa để tôi có thể thanh lọc tâm
ra khỏi những ô nhiễm của tham sân và si.
Ðức Phật khuyên chúng ta nên
thường xuyên suy ngẫm về cái chết, hàng ngày hay vào bất cứ lúc nào. Nó sẽ
khơi dậy trong chúng ta sự tỉnh thức – ý thức cấp bách
để phấn đấu tích cực hơn nữa nhằm loại bỏ khổ
đau do tâm ô nhiễm và bị lừa dối mang lại. Tôi thích nói về cái
chết. Ðó là đề tài sở thích của tôi.
Phải chăng tôi bệnh hoạn? Cũng được đi - Cứ
tiếp tục. Bạn có thể nói tôi bệnh hoạn và gì
đi nữa tùy bạn. Không sao cả. Tôi
không bận tâm. Người ta, có nghĩa không chỉ có tôi mà cả bạn nữa, phải
thừa nhận nhân quyền căn bản được bầy tỏ quan
điểm và cảm nghĩ miễn là bầy tỏ như vậy một cách chính
đáng, đồng cảm, không bị áp đặt và bất
bạo động. Không ai có thể giận dữ với một
người vì việc bầy tỏ bằng cách thức như vậy, dù không may là
đôi khi chúng ta quên và trở nên nóng
nảy. Nhưng trở lại với đề tài này, tôi
luôn cân nhắc, tôi luôn băn khoăn và
vẫn đang băn khoăn: Tại sao chúng
ta sống? Tại sao chúng ta chết? Tất cả cái đó
là gì? Cái đó để làm gì? Cho
mục đích gì? Vì cứu cánh gì?
Chắc chắn nhiều câu trả lời
đã được
đề nghị. Tôi chắc chắn có nhiều người rất vui vẻ cho tôi những câu trả lời
về những câu hỏi này từ khi con người biết suy nghĩ và cân nhắc.
Nhưng tôi không thể nói là tôi đã thỏa
mãn với tất cả những câu trả lời được đưa ra.
Tôi vẫn còn đang tìm kiếm.
Trong những ngày này tôi đã trở thành
một nhà sư Phật Giáo và hành thiền. Tôi nguyện giữ năm
giới không giết hay làm hại, không trộm cắp hay lừa
đảo, không phạm tội gian dâm như ngoại tình,
không nói dối và không dùng rượu hay ma túy. Thêm nữa là một nhà sư, tôi
phải tuân thủ cuộc sống độc thân và
những giới khác của một nhà sư.
Tôi không thể nói cho
đến nay tôi đã tìm thấy tất cả những
câu trả lời đối với những câu hỏi của tôi,
nhưng tôi đã tìm thấy sự an ủi, sự thoải mái nào
đó trong giáo hệ của Ðức Phật. Tôi có
thể nói hiểu lời dạy của Ðức Phật về chánh niệm và từ bi. Và tôi vẫn
thiền. Có lẽ tôi có thể tìm thấy tất cả câu trả lời vào một ngày nào
đó. Sẽ rất tốt đẹp nếu tôi có thể. Nhưng nếu
tôi không làm được, thì cũng
không sao. Những vấn đề nào mà tôi
đã thử thách. Tôi sẽ rất sung sướng dù
cho tôi phải thử chết. Vì dẫu sao thì tôi cũng
đã thử. Bằng cách
đó đời sống của tôi vẫn còn có ý
nghĩa, ít nhất là ở mức độ nào
đó. Và
đương nhiên theo đường lối này,
tôi sẽ cố gắng truyền bá càng nhiều càng tốt sự vui vẻ và hạnh phúc theo
khuynh hướng và khả năng của tôi.
Tôi
đã cố gắng viết cuốn sách này
để chia sẻ sự hiểu biết giới hạn của tôi về
cuộc sống và cái chết. Tôi cảm thấy chúng ta cần thảo luận vấn
đề cái chết một cách thẳng thắn. Chúng ta
không nên sợ đưa đề tài này ra.
Nếu không, làm sao chúng ta có
thảo luận và học hỏi được? Khi chúng ta có
thể thảo luận công khai, học hỏi và hiểu biết,
điều đó rất tốt vì chúng ta có thể
đi đến chấp nhận cái chết. Chúng ta có thể
biết cách đối phó với nó tốt hơn. Ðiều này rất quan trọng; vì lý do
đơn giản là tất cả chúng ta
đều phải chết. Không ai có thể thoát khỏi. Và
nếu chúng ta không thể hiểu cái chết ngay bây giờ, làm sao chúng ta có thể
hiểu vấn đề đó khi chúng ta nằm trên
giường lúc lâm chung, vào lúc sắp thở hơi cuối cùng? Phải chăng
chúng ta thể vượt qua được sợ hãi và bối rối? Cho nên tốt hơn là
chúng ta học hỏi tất cả về cái chết ngay từ giờ. Chắc chắn
điều đó sẽ rất có ích cho chúng ta. Vậy chúng
ta không cần sợ hãi nữa. Chúng ta sẽ có lòng tin, và khi cái chết
đến chúng ta có thể ra đi với nụ cười. Chúng
ta có thể nói: "Tử Thần, cứ làm
điều xấu nhất đi. Ta biết mi rồi và ta có thể mỉm cười".
Tôi
đã viết tác phẩm này một cách thẳng
thắn và hấp dẫn theo khả năng. Tôi đã
cố gắng để nó không quá học thuật hay cứng
nhắc. Tôi chỉ muốn quý bạn vui vẻ đọc cuốn sách này, khúc khích
cười những phần có thể đáng cười và có
thể học được một hay hai sự việc có thể giúp
ích cho bạn trong cuộc sống, tình thương và chết chóc. Ngoài ra tôi
không viết thiên về tư cách một tu sĩ với một người không chuyên môn mà là
cách nói của con người với con người. Cho nên tôi
đã viết hoàn toàn tự do vói mục
đích truyền cảm, đi vào lòng người.
Mặc dầu tôi không thể nói tôi đã thành
công hay thất bại đến đâu! Chỉ quý bạn sẽ là
sự phán xét tốt nhất về điều đó.
Vì tôi là một nhà tu Phật Giáo,
độc giả sẽ thấy nội dung có nhiều chuẩn tắc
đạo đức và khái niệm Phật Giáo. Ðương nhiên, một số giá trị như
tình thương và từ bi là phổ biến. Chúng không thuộc về một tôn giáo nào cả
mà thuộc về tất cả. Tất cả các tôn giáo đều
dạy tình thương và từ bi. Chúng đều là
những tôn giáo tốt. Nhưng chính chúng ta những tín
đồ lại không tuân theo. Cho nên chúng
ta giết, làm thương tổn, và gây tác hại dưới danh nghĩa tôn giáo. Ai là
người đáng trách ngoài chúng ta ra!
Không phải tôn giáo hay những khai sáng ra tôn giáo bao giờ cũng thuyết
giảng tình thương, trí tuệ, và lòng khoan dung, tha thứ và từ bi sao. Nếu
chúng ta có thể tỉnh thức trước sự ngu si của chúng ta thì chúng ta có thể
thương yêu thật tình. Chúng ta có thể sống như anh chị em với
độ lượng, kiên tâm và thông cảm, với
tình thương và từ bi.
Tôi viết tác phẩm này chủ yếu
là cho Phật tử. Nhưng những người không phải là Phật tử có thể
đọc và tìm thấy một số lợi ích, một số
lãnh vực đồng thuận, đánh giá đúng và
hiểu biết chung. Tối thiểu, họ cũng biết đến
quan điểm của Phật Giáo, cách giải quyết vấn đề và trí tuệ của Phật
Giáo. Ðiều bổ ích là biết quan điểm của nhau,
nó dẫn đến độ lượng hơn, thông cảm hơn và
đánh giá đúng cách giải quyết và niềm
tin của người khác. Về phần tôi, tôi không có một chút ý thích nào nhằm
đổi đạo của người khác. Việc đó phải thật rõ
ràng. Hãy để cho mọi người thực hành
tôn giáo của riêng họ và hãy để cho họ rèn
tập tốt tôn giáo của họ, như người trúng giải thưởng Hòa Binh Nobel, Ngài
Ðạt Lai Lạt Ma đã nói từ bi rốt cuộc
là cốt lõi của tất cả tôn giáo.
Tôi
đã cố gắng chia sẻ sự hiểu biết của
tôi trong khả năng tốt nhất của tôi. Nhưng
tôi chắc chắn sẽ có một số khuyết điểm ở chỗ này chỗ kia. Hay ở một
số lãnh vực có thể có những khác biệt trong việc giải thích hay hiểu biết.
Rất có thể bạn không thích hay không đồng ý
với một số sự việc tôi nói. Hay bạn có thể không thích cách tôi diễn đạt.
Bạn có thể nghĩ điều đó không thích hợp, khiếm nhã, vô tình, ủy mị,
khó chịu, méo mó, vô lý, hay gì đi nữa. Cũng
được đi. Ðiều này là tự nhiên. Chỉ cần có hai người là sẽ có những
bất đồng ý kiến. Bạn chỉ cần không chấp thuận
những điều bạn không đồng ý, bác bỏ chúng ấy là nói vậy. Bạn không
cần phải chấp nhận mọi điều tôi nói. Tại sao
bạn phải chấp nhận? Ðương nhiên bạn có một tâm tốt của mình, và bạn
có thể nghĩ và quyết định cho chính bạn.
Chúng ta có thể đồng ý hay không đồng ý mà không bối rối hay giận
dữ. Chúng ta có thể đồng ý hay không đồng ý mà
vẫn giữ được tình bằng hữu. Phải chăng
chúng ta không thể? Ðó là việc tuyệt vời nhất, cái tinh hoa của sự
trưởng thành tinh thần. Vì mỗi người chúng ta quyết
định một cách thành thực và ngay thẳng
cho chính chúng ta những điều chúng có thể
hiểu và những điều chúng ta không thể
hiểu. Chúng ta không cần phải tin mọi thứ hay bất cứ thứ gì.
Chính Ðức Phật
đã nói tốt hơn là phải xem xét cẩn
thận, điều tra nghiên cứu và kiểm tra
cho chính chúng ta trước khi chấp nhận một
điều gì. Ngay cả đến những lời của
Ðức Phật cũng phải được kiểm tra kỹ
lưỡng. Rốt cuộc, Ðức Phật không ngoại trừ
điều nào cả. Ngài không bao giờ tin
trong niềm tin mù quáng. Ngài không bao giờ bảo chúng ta chỉ tin vào
điều Ngài nói hay chỉ bác bỏ
điều người khác nói. Mà Ngài bảo chúng
ta hãy điều tra nghiên cứu, thực hành
và minh định cho chính chúng ta. Nếu chúng ta
thấy điều gì tốt, điều ấy là
điều thiện, lành mạnh dẫn
đến loại bỏ tham sân si, thì chúng ta
chấp nhận. Nếu không, chúng ta bác bỏ. Ðó là một lời khuyên tuyệt hảo. Cho
nên lấy ý của Ðức Phật, tôi bao giờ cũng thích nói: Không tin vào
điều gì cả. Nhưng hãy suy nghĩ, thực
hành và minh định cho chính mình. Với
tôi đó là cách giải quyết tốt nhất và
an toàn nhất. Nhưng về bất cứ lỗi lầm nào trong phần trước tác cuốn sách
này, tôi xin lỗi và xin được tha thứ.
Nguyện cầu tất cả chúng sinh
đều hạnh phúc. Chúc cho chúng ta tìm
được trí tuệ và hạnh phúc mà chúng ta
đang tìm kiếm theo con
đường riêng của từng người; và vui
đọc sách!
XIN CHÀO TỬ THẦN,
CHÀO TỪ BIỆT CÕI ÐỜI
Một ngày nào
đó khi tôi chết, vì tôi phải chết, tôi
muốn chết với một nụ cười trên môi. Tôi muốn ra
đi bình thản, muốn chào tử thần như
một người bạn, có thể nói vui vẻ: "Xin chào Tử Thần, Chào Từ Biệt Cõi
Ðời".
Tôi có thể tưởng tương chính
tôi có một cuộc đối thoại với tử thần. Có lẽ
có thể như thế này: "Chào Thần Chết! Mi có khỏe không? Ta
đã chờ
đơi ngươi từ lâu. Suốt đời ta mong mỏi ngươi đấy. Phải chăng rốt cuộc
ngươi đang đến với ta? Ðã đến giờ ta
phải ra đi rồi phải không?
"Ðúng,
đúng, Tử Thần! Ta đang đến đây. Hãy
kiên nhẫn. Ta đã sẵn sàng. Ngươi không
biết ta là gì? Từ lâu ta đã dự tính
chào ngươi bằng một nụ cười. Phải, Tử Thần à, ta hiểu. Ngươi không phải
xin lỗi. Ta biết ngươi có việc phải làm. Ta không có gì chống lại ngươi
cả. Không có cảm nghĩ khó chịu. Không có gì là riêng tư, ta hiểu.
"Như ta
đã nói, Tử Thần à, suốt
đời ta mong đợi lúc này. Ðể xem liệu
ta có thể gặp ngươi với một nụ cười không. Ít ra cũng
để xem liệu ta có hứng trong cái chết không,
nếu không có hứng ở trong cõi đời. Bây
giờ ngươi đang cho ta cơ hội này và ta cảm ơn ngươi về
điều đó.
"Phải, ta
đã nghe rất nhiều về ngươi. Ngươi
không đợi ai. Ngươi đến như một tên
trộm ban đêm. Ngươi không mặc cả với
một ai. Ngươi không chấp nhận câu trả lời "không".
Tử thần,
được rồi. Ta sẽ đến với ngươi một cách vui
vẻ. Ta đã mệt rồi. Tấm thân này như một cái vỏ vỡ. Nó
đã rệu rã. Nó
đã sống lâu hơn thời gian nó
được sử dụng. Như ngươi thấy, ta đã
sẵn sàng kề cái chết. Và ta đã chịu
đựng tất cả sự đau đớn này, cố gắng
mỉm cười với tất cả khách đến mời gọi ta. Tử
thần, nói thật với ngươi, lẽ ra ngươi phải đến sớm hơn. Xét cho cùng
sự đau đớn này, ngươi là khoảng thời
gian thoải mái như của trời cho. Nhưng nói đủ
rồi. Tử Thần, không lần lữa nữa. Nào lên
đường. Hãy cầm tay ta."
Và ta phải
đi như ta thường mơ ước với nụ cười trên
môi. Cách chết đẹp đẽ biết là nhường
nào! Tất cả những người xúm quanh tôi không cần phải khóc. Họ vui vẻ vì
thấy tôi đang mỉm cười. Họ sẽ biết tôi được
lắm chứ. Cái chết chẳng là cái gì mà phải sợ hãi. Hãy
đối xử với cái chết như một người bạn. Hãy
sẵn sàng nói lời chào tử thần và chào từ biệt cõi
đời.
Ðương nhiên không ai
được miễn trừ trước cái chết. Tất cả chúng ta
phải chết. Như Ðức Phật đã nói:
Ðời sống mong manh và cái chết là điều
chắc chắn. Trong khi chúng ta sống chúng ta
đau khổ khi chia lìa xẩy tới với cái
chết của một người thân. Cả hai ông bà tôi
đều đã chết. Tôi không nhớ ông nội tôi. Ông chết lúc tôi còn rất
trẻ. Nhưng tôi nhớ bà nội tôi. Bà rất ân cần với tôi. Bà cũng rất nghèo
khổ. Bà thích sống ở miền quê trong khi cha mẹ tôi lại sống ở thành thị.
Tôi nhớ một lần bà đến thăm chúng tôi, tôi
xin bà năm xu. Lập tức bà lấy
ngay ví tìm ra năm xu và
đưa cho tôi. Vào thời
đó có thể mua đồ với năm xu:Bạn có thể mua
được một cục nước đá hay một ly nước đá với năm xu. Nếu bạn muốn uống nước
dừa do người da đỏ bán bạn có thể mua được hai ly nước dừa với năm xu! Và
với năm xu bạn có thể mua được năm cái kẹo.
Cha tôi chết lúc tôi mười tuổi.
Tôi nhớ có đến thăm cha tôi lần cuối vào
một đêm tại Bệnh Viện Ða Khoa, Cha tôi
nằm chết tại đấy vì bệnh lao và các
biến chứng khác. Tôi nhớ mẹ tôi nói với cha tôi: "Này Beh,
đây là con Johnny
đến thăm" Cha tôi không nói
được. Ông thở qua ống dưỡng khí ở mũi. Ông
dường như nhìn tôi một cách yếu ớt. Tôi còn nhỏ. Tôi không biết gì
về cái chết, nhưng bây giờ tôi biết khá hơn. Bà mẹ tội nghiệp của tôi
đau khổ. Bà
đã chứng kiến quá nhiều cái chết và
đã có một
đời sống cực kỳ khó khăn từ hồi còn trẻ. Chắc chắn,
đời sống không phải là thảm hoa hồng
với bà.
Một trong những người anh em
tôi chết khi còn nhỏ. Một người anh em khác chết lúc 23 tuổi cùng với vị
hôn thê. Ðó là một thảm kịch. Hai người bị chết
đuối. Tôi vẫn còn nhớ nhìn thấy xác
của họ tại nhà quàn. Mẹ tôi than khóc lòng
đau xót. Thật là đau đớn cho bà
vì mất một đứa con trai thân yêu một
cách bi thảm như vậy. Tôi hoàn toàn choáng váng và không biết làm gì
để hiểu được điều này. Lúc
đó tôi đã 16 tuổi. Tôi cố gắng ra vẻ
thờ ơ, vô tình. Tôi gắng cầm nước mắt. Tôi nói và xử sự như không có gì
xẩy ra và như thể cái chết với tôi là chuyện hàng ngày, không cần phải sầu
thảm. Tôi coi điều đó là không quan
trọng và cố tỏ ra vẻ lạnh lùng.
Nhưng lúc một mình, tôi khóc.
Tôi khóc một cách đắng cay. Sau lễ mai táng
tôi quay trở lại nghĩa địa. Tôi đi vòng vòng trong nghĩa
địa đầu nặng trĩu. Tôi đào
đất và trồng hoa chung quanh mộ của
anh tôi và mộ người yêu dấu của anh. Tôi khắc vào cây thánh giá bằng gỗ
những chữ sau: "Không tình yêu vĩ đại nào
bằng tình yêu của một người đã chịu hy
sinh thân mình vì bạn", vì anh tôi đã
chết trong khi cố gắng cứu người vợ chưa cưới. Và tôi nói với Thượng Ðế
.Tôi hỏi Ngài: "Hỡi Ðức Chúa Trời, Sao Ngài cư xử với tôi thế này? Tại sao
Ngài bắt anh tôi? Phải chăng đó là ý
muốn hay lòng khát khao của Ngài? Nếu thế, xin
để ý muốn của Ngài
được thực hiện. Tôi chấp nhận việc đó".
Vì các bạn thấy lúc đó tôi là một
người Cơ Ðốc Giáo tốt. Và ý muốn của Thượng Ðế phải
đi trước tất cả mọi việc khác. Không được
nghi hoặc. Nhưng bây giờ tôi là một Phật tử, tôi tin là tôi hiểu
hơn một chút. Phải, không có Thượng Ðế nào bắt anh tôi. Nếu chúng ta chấp
nhận sự sống, chúng ta phải chấp nhận cái chết. Chết là phần thiết yếu của
sự sống. Như Ðức Phật đã nói, chính vô
minh đã làm cho vạn vật trong vòng khổ
đau, và chúng ta cứ trôi lăn
hết kiếp này đến kiếp khác theo những
hành vi của chúng ta. Thiện mang điều
lành và ác mang điều xấu. Tôi phải thú
thật rằng tôi có thể hiểu rõ hơn với cách Ðức Phật nhìn vào mọi sự.
Sau này trong cuộc sống tôi
chứng kiến nhiều cái chết hơn. Là một nhà báo, tôi
đã nhìn thấy xác những người chết vì
tai nạn, băng đảng đánh nhau, tự tử, độc dược
vân vân... Tôi đã viết những chuyện bi kịch, cảm xúc hay bi thảm về
người ta chết ra sao. Có một người hôn đứa
con gái nhỏ từ biệt rồi tự bắn vào đầu
mình. Có một cặp trai gái thỏa thuận cùng nhau tự tử trên giường
của một khách sạn. Người con gái chết vì thuốc
độc họ mang theo, người con trai thoát chết.
Và có tên cướp khét tiếng bị bắn chết bởi Cảnh Sát vào Ngày Tết.
Tên cướp này bị theo dõi nên đã không
thể sống để nhìn thấy hết ngày
đầu năm mới. Nhưng đối với tôi đó chỉ là
một câu chuyện nữa. Tôi chưa bao giờ nghĩ sâu xa về cái chết. Tôi hoàn
toàn bị tê liệt bởi nó. Tất cả tôi muốn là câu chuyện hay
được đặt trên trang nhất của tờ báo.
Hầu như không có cảm nghĩ hay tình thương trong tôi
đối với những nạn nhân tội nghiệp. Tôi quả là
một người nhẫn tâm và ích kỷ chỉ chú trọng
đến phúc lợi của mình.
Mãi sau này, là một nhà sư, tôi
đã gặp những cái chết – vào lúc này
tôi thấy nhiều cảm nghĩ và từ bi hơn. Khi tôi thăm
người bệnh tôi thông cảm với họ. Tôi cố gắng hết mình
để an ủi họ. Với những người Phật Tử, tôi
tụng kinh, những bài kinh Phật. Tôi nói với họ câu Ðức Phật dạy:
Thân bệnh nhưng đừng để tâm bệnh.
Chúng ta có thể không làm được gì
nhiều cho thân nhưng chúng ta có thể làm được
gì đó cho tâm. Chúng ta có thể giữ tâm
bình tĩnh khi chúng ta đau yếu. Chúng
ta có thể chú tâm. Chúng ta có thể theo dõi sự tăng
giảm của đau đớn, nó đến và đi từng
đợt như thế nào. Chúng ta có thể hiểu biết bản chất của khổ
đau. Chúng ta có thể gặp nó và học hỏi
từ nó. Chính đó là một cuộc thử nghiệm
– làm sao chúng ta hiểu rõ bản chất của sự sống, làm sao chúng ta hiểu rõ
rằng không có cái ngã thường còn nơi đây mà
chỉ có sự thay đổi liên miên của sinh
và diệt, giống như dòng sông trôi chảy bất tận; làm sao chúng ta hiểu rõ
chính cái vô minh, tham ái, luyến chấp, giận hờn, sợ sệt vân vân của chúng
ta là nguyên nhân của khổ đau.
Bằng sự hiểu biết
đó chúng ta có thể đứng lên
đón nhận cái đau đớn. Chúng ta có thể coi
điều đó là việc bình thường. Chúng ta có thể giữ bình tĩnh và ôn
hòa. Thậm chí không một chút gì ngã lòng. Ðúng chúng ta có thể mỉm cười,
ngay cả lúc đau đớn. Chúng ta có thể nói:
"Này đau đớn, mi thật tình muốn
ta chết phải không? Người khác có thể gục ngã với mi nhưng với ta thì
không. Ta đã
được huấn luyện và sắt
đá với mi. Ðức Phật dạy ta nên
đáp lại mà không giận dữ hay ghét bỏ.
Cho nên ta cố gắng đáp lại mi không giận dữ
hay ghét bỏ. Ta hiểu rằng bằng chánh niệm và an lạc trong tâm ta,
ta có thể vượt lên mi. Ta có thể cười mi. Mi dạy ta
đời là khổ
đau. Nhưng mi cũng dạy rằng ta có thể vượt lên
mi." Và bạn có thể mỉm cười trước cơn đau.
Bạn sẽ cảm thấy khỏe hơn ngay lập tức.
Cuộc sống hầu như là bèo bọt
Chỉ có hai điều trân quý
Tử tế với người phiền muộn,
Can đảm tự trong lòng
Adam Gordon
HAI QUYẾT TÂM
Khi tôi viết những dòng này,
tôi nhớ lại mới hôm qua một nhà sư bạn tôi chết. Ông bị ung thư giai
đoạn cuối cùng
đã tám tháng. Khi tôi ở bên cạnh ông
tại bệnh viện một vài ngày trước khi ông chết, ông
đang ở trong cơn đau đớn. Tôi cố gắng đút cho
ông ăn một chút canh nhưng ông không ăn được. Ông trông rất hốc hác và
khủng khiếp. Ông hầu như không nói được. Bênh
ung thư đã tàn phá thân thể ông và
không phải là một nhiệm vụ dễ dàng để chịu
đựng cho tinh thần của ông. Tôi cố nài ông lưu ý quan sát cái
đau đớn như ông thường làm trong lúc
hành thiền, để càng giữ
được bình tĩnh và thanh thản càng tốt.
Ông là một người thiền định vững vàng
và tôi chắc chắn ông đã thiền về chính
phút cuối cùng này.
Tôi nhớ lại một dịp khác khi
tôi đến thăm một ông già khả ái bị
bênh bạch cầu. Ông cũng ở trong cơn đau đớn.
Ðau đớn hiện trên nét mặt ông.
Có những giọt mồ hôi trên trán và mặt ông. Tôi lấy cái khăn
và nhẹ nhàng lau mồ hôi cho ông. Tôi ghé vào tai ông thì thầm cố
gắng làm cho ông giảm đau. Ông này
cũng là người hành thiền và tôi lại nhắc nhở ông giữ chánh niệm quan sát
cái đau càng
điềm tĩnh càng tốt. Tôi cảm thấy vui
khi nhìn thấy vẻ đau đớn biến mất trên
mặt ông. Một lúc sau đó thân nhân đến và
tôi ra về. Một vài giờ sau, ông chết. Tôi vui vì
đã có thể giúp ông một chút trước khi
ông tắt thở.
Mặc dù có hạnh phúc trong cuộc
sống, nhưng vẫn có khổ đau. Hạnh phúc hình
như rất phù du – nó ra đi không đợi chờ chỉ
để rồi được thay thế bằng phiền muộn và bất mãn. Bởi vì sự sống kết
thúc bằng cái chết nên tự nó là một thảm kịch. Có người nói
đời sống giống như một củ hành: bạn
bóc nó làm chảy nước mắt. Ðức Phật nói sinh là khổ
đau vì sinh dẫn
đến suy tàn và chết. Chúng ta nên hiểu
rõ điều này. Nếu chúng ta chấp nhận sự
sống chúng ta phải chấp nhận cái chết. Nếu chúng ta muốn khóc khi người
nào đó chết thì chúng ta cũng nên khóc
vào lúc người ấy ra đời. Vào lúc
đứa trẻ sinh ra thì mầm mống của cái
chết đã ở trong nó. Nhưng chúng ta lại
mừng rỡ khi đứa trẻ được sinh ra. Chúng ta
cười và chúc mừng cha mẹ đứa trẻ. Nếu
chúng ta hiểu sinh – nó phải dẫn đến cái chết – thì khi cái chết
đến chúng ta có thể đối mặt với nó bằng một
nụ cười.
Nhìn con người chết trong
đau đớn ra sao, thân thể của họ bị suy sup vì
bệnh, và thấy tất cả đời sống phải kết liễu
bằng cái chết (sự việc đó đã làm cho tôi hiểu mỗi lần
đi đến nhà quàn
để tụng kinh), hai quyết tâm phát sinh trong
tâm tôi: Trước nhất, đến lúc tôi chết, tôi muôn chết với một nụ cười trên
môi. Tôi muốn tôi có thể giữù chánh niệm và
được thanh thản. Nói một cách khác tôi muốn giữ bình tĩnh. Tôi muốn
có thể vẫn mỉm cười dù cái đau đớn nó hành
hạ tôi đến thế nào
đi nũa. Tôi muốn tôi có thể mỉm cười với tất
cả khách khứa đến thăm viếng tôi. Tôi muốn tôi có thể mỉm cười với tất cả
các bác sĩ và y tá tốt bụng săn sóc
tôi. Tôi muốn tôi có thể mỉm cười với những bệnh nhân bạn tôi để giúp họ làm
bất cứ cách nào có thể ở bênh viện, hoặc để
truyền cảm hứng hoặc để an ủi.
Thay vì những bác sĩ và y tá
hỏi tôi có khỏe không, tôi muốn hỏi họ: "Bác sĩ có khỏe không? Chị có khỏe
không? Hôm nay quí vị thế nào? Quí vị biết không quí vị
đang làm một công việc cao cả. Chúng
tôi rất may mắn có quý vị. Xin tiếp tục công việc tốt
đẹp này. Xin cảm ơn quý vị nhiều." Và
với những khách là Phật tử, tôi sẽ nói Phật Pháp. Tôi sẽ nói: Hãy nhìn
tôi. Tôi sắp chết rồi. Kết thúc rồi! Quý bạn biết
đấy hành thiền lúc sắp chết không phải
là dễ. Vậy nên trong khi bạn còn khỏe hãy cố gắng tận dụng
điều đó. Hãy hành thiền! Hãy thực hành
Pháp! Không còn hối hận sau này. Ðừng đợi đến
lúc bạn đau nặng thì đã quá
trễ. Nhưng nếu ngay bây giờ bạn thực hành thiền, khi bạn bệnh, bạn sẽ
không bị khó khăn nhiều lúc phải đối phó với
cơn đau. Bạn có thể quan sát nó và thậm chí vượt qua nó.
Các bạn biết
đấy, Ðức Phật bảo chúng ta rằng mọi
thứ đều vô thường. Nếu chúng ta hành
thiền chăm chỉ đầy đủ, chúng ta có thể hiểu
được sự thật về vô thường sâu xa hơn, như vậy chúng ta sẽ không bị trói
buộc vào tâm và thân này. Chúng ta biết chắc chắn thân này không
phải của chúng ta, tâm này cũng chẳng phải của chúng ta. Hiểu biết, chúng
ta có thể buông bỏ. Chúng ta sẽ không bị trói buộc vào vào những dục lạc
thô thiển của sự sống. Chúng ta có thể sống một cách khôn ngoan hơn. Chúng
ta về già một cách thanh nhã. Và chúng ta không cần sợ chết.
Ðức Phật nói khổ
đau gắn liền với đời sống. Và chúng ta
phải học hỏi cách sống với nó và vượt qua nó. Chỉ bằng cách áp dụng chánh
niệm vào cuộc sống hàng ngày và hành thiền chúng ta có thể thâm nhập vaò
chân lý của khổ đau. Khi chúng ta hiểu được
khổ đau một cách sâu xa, chúng ta sẽ tranh đấu để loại bỏ nguyên
nhân của nó, đó là tham ái, bị trói
buộc vào đời sống, vào sức cám dỗ của
những cảnh tượng vui thích, âm thanh dịu dàng, những mùi vị dễ chịu, và
những đụng chạm êm
đềm. Chúng ta sẽ cố gắng thanh tịnh tâm trước
tất cả các ô nhiễm.
Theo Ðức Phật, khi tâm chúng ta
được tẩy sạch tham sân và si, chúng ta
sẽ vượt qua được tất cả khổ đau. Chúng ta sẽ
không bao giờ phản ứng lại bằng luyến chấp và ác cảm với bất cứ gì.
Thay vì điều đó sẽ có trí tuệ và từ bi
trong chúng ta. Chính điều này chính
là chấm dứt khổ đau. Không bám víu nữa chúng
ta sẽ không bao giờ khổ đau. Cả đến cái đau thể xác cũng không làm
tinh thần đau vì tâm không phản ứng
bằng ác cảm và giận dữ. Tâm sẽ bính an. Có chấp nhận và hiểu biết. Khi
chúng ta chết trong lúc có loại trí tuệ và an bình này, Ðức Phật nói
điều đó là sự chấm dứt khổ
đau. Không còn tái sanh, không còn trở
lại vòng sinh tử. Nếu chúng ta không tái sanh, không còn suy tàn và chết
kèm theo khổ đau. Chấm dứt! Hạ màn!
Cái khối đau khổ bị dập tắt. Và chúng
ta có thể nói giống như các vị thánh thời cổ
đã nói, Làm được cái đáng phải làm.
Ðược sống là cuộc đời thánh thiện.
Ðương nhiên, ngay bây giờ chúng
ta có thể vẫn còn xa mục tiêu. Nhưng người ta nói, hành trình ngàn dậm bắt
đầu bằng một bước đi. Cho nên tôi là
người lạc quan. Vâng, tôi là một Phật tử và một người lạc quan. (Ai nói
người Phật tử là người bi quan?) Và tôi tin rằng mỗi bước
đi trên con
đường chánh niệm sẽ mang chúng ta bước gần
hơn tới mục tiêu – mục tiêu Niết Bàn, sự kết thúc của mọi khổ
đau. Và là một người lạc quan, tôi
thích nghĩ rằng sớm hay muộn chúng ta sẽ đạt
tới Niết Bàn.
NÓI CHUYỆN ÐÓ BẰNG CẢ HOA LÁ
Và khi tôi
đang nằm trên giường bênh viện, tôi
thích nói Phật Pháp với tất cả những ai hỏi han tôi, hay bất cứ ai muốn
nghe.
Hơn nữa, tôi có thể gửi hoa
tặng đến tất cả những bạn hữu ngoài
kia. Tôi có thể đính kèm một cái thiệp
với thông điệp như sau: "Chào bạn! Bạn
có mạnh khỏe không? Bạn có thích những đóa
hoa này không? Hoa này không đẹp phải
không? Bạn có thì giờ để tạm nghỉ và
thưởng thức cái đẹp của bông hoa và
hít hương thơm ngát của nó không? Và khi bạn nhìn vào bông hoa, bạn có
nhìn thấy những cặp mắt long lanh của người thân hay
đứa con bạn không? Bạn có cảm thấy hiểu hy
vọng và sợ hãi của họ không? Hay là bạn quá bận, quá lo lắng với
những kế hoạch tham vọng trần tục, sự theo
đuổi danh vọng và của cải của bạn phải không?
"Bạn
đã xem xét kỹ bản chất của vô thường
chưa bạn – làm sao tất cả phải úa tàn và chết? Và làm sao trong khi chúng
ta sống, chúng ta phải sống có ý nghĩa để sau
này khỏi phải ân hận. Cũng vậy, giống như bông hoa
đang úa tàn, tôi cũng
đang chết. Nhưng tôi gửi những lời cầu chúc
tới ban. Chúc bạn khoẻ và hạnh phúc! Tôi hy vọng bạn sẽ tìm
được thì giờ cho những người thân yêu
của bạn tập hành thiền. Ban biết không, kiếm tiền, có nhiều
đồ xa xỉ, vui hưởng dục lạc không phải là
mọi thứ. Những thứ đó có thể làm cho
bạn vui một lúc nào đó thôi, nhưng thực tế tử
tế và tình thương yêu quan trọng hơn nhiều: nó làmõ cho bạn thỏa
mãn và hạnh phúc nhiều hơn. Xin tha thứ cho tôi vì
đã thuyết giảng những lời làm nhàm như
vậy nhưng xin hãy lưu ý đến những lời của một
người sắp chết. Hãy cho phép người ấy
được giãi bày. Ðúng, trong khi bạn sống bạn nên cố gắng trải rộng
vui vẻ và hạnh phúc càng nhiều càng tốt. Hãy tha thứ cho mọi người. Không
nên nuôi dưỡng một thái độ hằn học nào
hay coi bất cứ ai là kẻ thù của bạn. Luôn luôn nhớ rằng
đời sống ngắn ngủi và chẳng bao lâu
tất cả chúng ta đều phải chết. Và
thương yêu chính là cho chứ không phải là nhận. Cho tình thương không kèm
theo điều kiện. Tình thương không mong
mỏi được đền bù. Hãy cố gắng trau dồi
loại tình thương đẹp đẽ như vậy. Chúc bạn
hạnh phúc!" Tôi kết thúc bằng lời tái bút: – "Hãy bảo trọng. Không
cần phải đến thăm tôi. Nhưng bạn có thể vui
sướng cho tôi. Vì tôi đang mỉm cười và
tôi sung sướng là tôi có thể chết với một nụ cười trên môi. Tạm biệt và
chúc may mắn"
Và nếu tôi không nói
được vì quá mệt thì tôi vẫn có thể mỉm
cười để cho thấy mọi việc đều tốt đẹp, và
bệnh chỉ hại cái thân tôi nhưng không hại cái tâm tôi. Bằng cách
đó ta vẫn có thể truyền cảm hứng cả đến khi
chúng ta bệnh. Lúc ấy người ta sẽ đánh giá Phật Pháp cao hơn, và
thực hành chăm chỉ hơn. Lẽ đương nhiên,
nếu tôi đang nói với những người bạn không
phải là Phật tử, tôi phải được áp đặt
quan điểm tôn giáo của tôi lên họ. Tôi có thể giãi bày quan
điểm của tôi chứ không đời nào lại áp
đặt cho họ quan điểm ấy. Giống như tôi không
muốn họ áp đặt quan điễm của họ cho tôi, vậy cũng thế tôi phải
không áp đặt cho họ quan điểm của tôi. Chúng
ta phải tôn trọng quan điểm tôn giáo của nhau và phải có tình
thương yêu-khả ái với nhau. Bằng cách này, sẽ có chung sống hòa bình.
ÐỐI PHÓ VỚI BỆNH TẬT –
THÁI ÐỘ THÍCH HỢP
Chúng ta không nên coi bệnh tật
và khổ đau là thứ hoàn toàn tàn phá
chúng ta, và vì thế chịu thất vọng và ngã lòng. Trái lại (nghĩa là trường
hợp người Phật tử), chúng ta phải coi đó là
cuộc trắc nghiệm xem chúng ta đã hiểu
lời Phật dạy tốt đến đâu, và chúng ta
có thể áp dụng sự hiểu biết mà chúng ta cho là
đã học tốt
đến mức nào. Nếu chúng ta không
đối phó được về mặt tinh thần, nếu chúng ta
bị suy sụp, nó cho thấy sự hiểu biết của chúng ta về Phật Pháp, sự thực hành
của chúng ta, vẫn còn yếu. Vì vậy bằng cách này,
đó là cuộc trắc nghiệm và cơ hội cho
chúng ta thấy mức độ chúng ta đã quán
triệt sự thực hành của chúng ta.
Rồi bệnh cũng là cơ hội cho
chúng ta nâng cao hơn nữa sự thực hành kiên nhẫn và khoan dung của chúng
ta. Làm sao chúng ta có thể thực hành và phát triển
đến viên mãn (toàn hảo) ví như lòng
kiên nhẫn nếu chúng ta không trắc nghiệm, nếu chúng ta không bị
đặt vào những hoàn cảnh khó khó khăn
và khốc liệt? Vậy nên bằng cách này, chúng ta có thể coi bệnh là cơ
hội cho chúng ta trau dồi thêm nhẫn nại.
Chúng ta cũng có thể nhìn vào
sức khỏe không phải chỉ là sự vắng bóng của bệnh tật mà còn là khả năng
trải qua bệnh, và học hỏi và phát triển từ
đó. Ðúng, một
định nghĩa mới lạ về sức khỏe như thế bắt
nguồn từ một số chuyên gia y tế như Bác Sĩ Paul Pearsall của Bệnh
viện Sinai tại Detroit, Hoa Kỳ. Thấy bệnh không bao giờ trừ tiệt
được và cuối cùng chúng ta phải gục
ngã bằng cách này hay cách khác ra sao, những bác sĩ này
đã đi đến
định nghĩa về sức khỏe có thể giúp ta có thể thích nghi với bệnh khi nó
đến. Ðiều đó đúng phải không? Cho dù
nhiều máy móc, phương pháp và thuốc men tinh vi
đến thế nào
đi nữa, người ta vẫn cứ gục ngã trước
ung thư, bệnh AIDS, bệnh đau tim và
nhiều bệnh khác.
Cuối cùng, không có lối thoát.
Chúng ta phải hiểu và chấp nhận sự thật, để
khi nó đến và chúng ta phải gục ngã, chúng ta có thể gục ngã một
cách thanh tao. Chắc chắn, chúng ta sẽ chữa trị bệnh bằng hết sức mình,
nhưng khi bất chấp những cố gắng cao nhất của chúng ta, chúng ta thất bại
và bệnh tiếp tục gia tăng, chúng ta phải chấp
nhận và cam chịu với cái không thể tránh
được.
Phân tích
đến cùng, không phải vấn
đề là chúng ta sống lâu bao nhiêu mà
là chúng ta sống tốt đẹp ra sao mới đáng kể,
và điều đó gồm cả cách chúng ta có thể
chấp nhận bệnh tật của chúng ta đến mức nào, và sau hết chúng ta có
thể chết ra sao. Về mặt này, Bác sĩ Bernie S. Siegel trong cuốn sách của
ông, "Hòa Bình, Tình Thương và Chữa Bệnh", viết:
Những bệnh nhân khác thường
không cố gắng để không chết. Họ cố gắng để
sống cho đến khi họ chết. Họ đã thành công, mặc dù hậu quả bệnh
tình như thế nào, vì họ đã chữa lành
đời sống của họ, chơ dù họ không chữa
được bệnh của họ.
Và ông cũng nói:
Một cuộc
đời thành công không phải về cái chết.
Ðó là về sống tốt đẹp. Tôi đã thấy có
người mới hai tuổi và chín tuổi đã
thay đổi được người ta và cả các cộng
đồng bởi khả năng của họ về tình
thương, và đời sống của họ thành công
dù ngắn ngủi. Mặt khác, tôi biết nhiều người sống lâu hơn rất nhiều và
không để lại gì ngoài sự trống rỗng.
Cho nên thật tuyệt vời rốt cuộc
là đời sống của chúng ta có thể được chữa lành
mặc dầu bệnh của chúng ta có thể không được
chữa khỏi. Sao vậy? vì khổ đau là
vị thầy giáo và nếu chúng ta học bài thuộc, chúng ta có thể trở nên thành
người tốt hơn một cách đáng ngạc nhiên.Chúng
ta đã không nghe những chuyện có những
người trải qua đau đớn nhiều, thoát khỏi, đã
thay đổi thành người tốt hơn ư? Nếu họ
không kiên tâm, ích kỷ, cao ngạo và không thận trọng trước
đó, bây giờ họ có thể trở nên kiên
nhẫn, tử tế, lịch thiệp, và nhũn nhặn hơn. Ðôi khi họ nhận thấy bệnh là
một điều tốt cho họ – bệnh đã cho họ
cơ hội để xem xét lại lối sống và
những giá trị quan trọng hơn trong đời sống.
Họ đi đến đánh giá cao gia đình và bạn hữu hơn, và quý trọng thời
gian họ đã sống với những người thân
yêu. Và nếu họ bình phục lại được, họ sẽ dành
nhiều thì giờ hơn cho những người thân, và làm những việc thực sự quan
trọng và có ý nghĩa nhiều hơn.
Nhưng cho dù chúng ta bị gục
ngã vì bệnh chúng ta vẫn có thể học hỏi và phát triển từ nó. Chúng ta có
thể hiểu được cái mong manh của sự sống và
lời dạy của Ðức Phật đúng ra sao – có một yếu
điểm trong sự sống. Chúng ta có thể trở nên tử tế hơn, cảm niệm
nhiều hơn về lòng khả ái mà chúng ta nhận
được từ người khác. Chúng ta có thể tha thứ những ai đã làm cho
chúng ta đau đớn. Chúng ta có thể thương yêu
một cách hào phóng và sâu xa hơn. Và khi cái chết
đến, chúng ta có thể chết bằng sự chấp nhận và
an bình. Bằng cách đó, chúng ta có thể nói
đời sống của chúng ta được chữa lành vì chúng ta hòa hợp với thế
giới và chúng ta sống trong bình an.
CHÚNG TA CÓ THỂ HÀNH THIỀN
Khi chúng ta ốm và nằm liệt
giường, chúng ta không cần phải thất vọng. Chúng ta vẫn có thể hành thiền
khi chúng ta nằm trên giường. Chúng ta có thể quan sát tâm và thân chúng
ta. Chúng ta có thể giành được bình
tĩnh và sức mạnh bằng cách hành thiền hơi thở. Chúng ta có thể quan sát sự
hít vào và thở ra, biết chúng ta hít vào và thở ra. Việc này có thể cho
chúng ta ấn tượng bình tĩnh. Hay chúng ta có thể quan sát cái bụng phồng
lên và xẹp xuống khi hít vào và thở ra. Tâm của chúng ta có thể
đi theo sự lên xuống, và hòa nhập với
nó. Việc này cũng có thể cho ta sự bình tĩnh. Và từ sự bình tĩnh này, sự
hiểu biết có thể phát sinh. Chúng ta có thể nhìn thấy tính chất nhất thời
và hủy diệt của tất cả các hiện tượng, và có thể hòa hợp với sự thật về vô
thường, bất toại nguyện và vô ngã.
Nếu chúng ta
đã học thiền chánh niệm hay thiền Minh
Sát [*], thời gian có thể trôi qua dễ dàng. Có nhiều
đối tượng chúng ta có thể quan sát trong bất
cứ tư thế nào dù nằm, ngồi đi hay
đứng. Chúng ta có thể biết tư thế của chúng ta đang ở tư thế nào,
và cảm thấy những cảm giác phát sinh trong thân chúng ta. Chúng ta có thể
quan sát chúng bằng cái tâm vững vàng và bình thản. Và lẽ
đương nhiên, tâm cũng phải là
đối tượng quan sát. Cho nên chúng ta
có thể quan sát các trạng thái của tâm. Tất cả
đều có thể được quan sát – buồn bã,
thất vọng, bồn chồn, lo lắng, suy tư – và tất cả chúng phải qua
đi nhường bước cho trầm tĩnh, an lạc và
trí tuệ. Trạng thái thiện và bất thiện đến
rồi đi. Chúng ta có thể quan sát tất cả chúng bằng sự hiểu biết và
trầm tĩnh.
[*] Thiền Minh Sát tức Tuệ
giác thiền hay Chánh niệm thiền. Trong Thiền Minh Sát, hành già dùng chánh
niệm để quan sát bản chất hiện tượng tinh
thần và thể chất, cuối cùng nhận thấy cái
đặc điểm của vô thường, bất toại nguyện và
vô ngã. Với sự giới thiệu vào thiền Minh Sát, và sự tu tập một loại thiền
khác gọi là từ bi thiền, hay thương yêu-khả ái thiền, xin mời bạn xem
"Thiền Minh Sát" và "Kiềm Chế Nóng Giận Trải Rộng Tình Thương", cả hai
đều cùng một tác giả và phát hành bởi
Trung Tâm Thiền Mã Lai, Penang
Ðôi khi chúng ta có thể biểu lộ
lòng thương yêu-khả ái. Lập đi lập lại nhiều
lần chúng ta có thể nguyện cho tất cả chúng sinh:
Nguyện cho chúng sinh tất cả đều được khỏe mạnh và
hạnh phúc
Nguyện cho chúng sinh đều thoát khỏi tổn hại và hiểm họa.
Nguyện cho chúng sinh thoát khỏi khổ đau tinh thần.
Nguyện cho chúng sinh thoát khỏi khổ đau thể xác.
Nguyện cho chúng sinh có thể chăm lo cho chính mình một cách hạnh phúc.
Cũng bằng cách
đó thì giờ có thể trôi qua một cách
hoàn toàn thích hợp cho dù chúng ta nằm liệt giường. Chúng ta có thể
truyền lòng từ bi-khả ái đến các bác sĩ, y tá
và các bệnh nhân đồng cảnh ngộ. Chúng
ta cũng có thể truyền từ bi khả ái đến những người thân, họ hàng và
bè bạn chúng ta. Hơn thế nữa chúng ta có thể thỉnh thoảng suy nghĩ về Phật
Pháp, nhớ lại những gì chúng ta đã
đọc, nghe hay hiểu biết. Suy nghĩ như vậy,
chúng ta có thể đáp lại được khổ đau của chúng ta bằng trí tuệ và
trầm tĩnh.
Giáo huấn của Ðức Phật là trau
dồi tâm, hành thiền, và làm như vậy cả khi chúng ta bị ốm
đau. Thật ra, vào những thời
điểm như vậy chúng ta cần phải cố gắng nhiều
hơn nữa để tập trung chánh niệm của chúng ta. Ai biết, Niết Bàn hay
trí tuệ tối thượng, có thể đạt được vào
lúc trút hơi thở cuối cùng! Trong kinh, Ðức Phật có kể trường hợp một
người ốm – bị khổ sở vì cảm giác đau đớn thể
xác, buồn bã, đau dữ dội, hành
hạ, làm quẫn trí, khó chịu làm tàn lụi cuộc sống. Nhưng con người ấy không
ngã lòng. Người ấy cảm thấy samvega - một ý thức cấp bách phấn
đấu dù ở vào những giờ phút cuối cùng.
"Người ấy đã cố gắng phù hợp" Ðức Phật
nói, "Tâm của người ấy kiên quyết vào Niết Bàn, Người ấy
đã tự mình nhận thức
được chân lý tối thượng, người ấy thấy Niết Bàn
bằng cách thâm nhập vào bằng trí tuệ".
Ðúng là, đúng là người chủ hộ bị ốm, thân của
ngươi yếu và gây trở ngại. Vì ai mang cái thân này, hỡi này chủ hộ, chỉ
muốn sức khỏe chốc lát thì hoàn toàn ngu dại. Hỡi này chủ hộ, vì vậy,
ngươi phải tự rèn luyện:
"Dù thân bệnh, tâm tôi không bệnh."
Hỡi này chủ hộ, vì vậy, ngươi phải tự rèn luyện.
Ðức Phật
NGỢI KHEN KUAI CHAN
Tôi muốn nói với bạn về một
hành giả du già can đảm, đã chết êm ả
do bệnh ung thư với tiếng "Niết Bàn" trên môi. Tên bà là Kuai Chan và bà
ra đi vào ngày 18 Tháng Chạp Năm
1992 tại Kuala Lampur. Bà bốn mươi ba tuổi. Chồng bà, Billy, kể cho
tôi nghe bà đã
đương đầu với bệnh tình ra sao. Thấy
câu chuyện đầy hứng thú, nhất là
đối những hành giả du già (tu thiền),
tôi xin phép ông được kể lại trong sách này,
và tôi cảm ơn ông đã
đồng ý cho phép tôi.
Bà Kuai Chan
được chẩn bệnh lần đầu tiên với bệnh
ung thư vú vào tháng 4 năm 1989. Vào
thời gian này bà đã tu tập thiền Minh
Sát vào khoảng độ một năm. Bà bình
tĩnh chấp nhận bệnh tình. Billy nói, "Vợ tôi chấp nhận bệnh,
đó là cái nghiệp của bà" (nghiệp
là một định luật tự nhiên của nguyên
nhân và hậu quả). Bà không đổ cho ai hay bất
cứ cái gì. Bà cũng không cay đắng hay
rơi vào tình trạng ngã lòng. Bà hết sức vững vàng và giữ bình thản
cho đến lúc chết". Kuai Chan
đã trải qua phẫu thuật
để loại bỏ vú bị nhiễm. Ba tháng sau bà
lại phải giải phẫu lẫn thứ hai khi người ta thấy những tế bào ung thư vẫn
còn ở trong khu vực này. Sau đó bà
được xạ trị và hóa trị có tác
động phụ tối thiểu. Trong suốt thời kỳ chữa
bệnh ung thu vú và trong sáu tháng cuối
đời khi được chẩn đoán là bệnh ung thư
phổi giai đoạn cuối, bà
đã từ chối không uống một thứ thuốc
giảm đau nào. Billy nói, "Bà không
muốn thứ thuốc giảm đau nào". Cả
đến khi cơn đau lên
đến cực độ bà vẫn từ chối không uống
thuốc giảm đau, ngay cả đến một viên
Panadol. Bà là một người kiên quyết, rất mạnh mẽ và
đáng khâm phục"
Quyết
định không chữa trị bằng thuốc giảm đau vì
bà muốn giữ tâm bà càng trong sáng và tỉnh táo càng tốt. Bà là hành giả du
già, và tất cả những hành giả du già trân quý chánh niệm. Họ không muốn
một thứ thuốc nào làm cho tâm họ trì độn và
làm hại sự thiền định của họ. Cho nên
nếu họ lâm bệnh họ sẽ làm như vậy. Kuai Chan
đã sửa soạn đối đầu với cái đau nên
bà đã từ chối thuốc giảm
đau. Bà chỉ chấp nhận xạ trị - hóa trị
cho ung thư vú của bà vì phương pháp này có thể dẫn
đến chữa lành bệnh. Nhưng về sau, bà
bị ung thư phổi và được cho biết đã ở
giai đoạn cuối bà
đã từ chối chữa bằng xạ trị-hóa trị mà
bệnh viện đề nghị làm cho bà
đỡû tức thở. Và khi bác sĩ
đề nghị thuốc giảm đau như morphine, bà
cũng từ chối.
Billy cho biết khi trong
đợt ung thư vú đầu tiên Kuai Chan có
một chút khó khăn với cơn đau sau khi giải
phẫu. Là hành giả du già, bà đã
có thể nhận thấy cơn đau rất rõ ràng
và cơn đau sẽ biến đi. Nhưng ung thư phổi là
một sự thử thách thực sự với bà. Cơn đau luôn
lên đến cực điểm nhưng bà vẫn
từ chối không dùng thuốc. Có nhiều lúc bà bị ngất xỉu và ngã sóng soài
trên sàn nhà khi cơn đau đột phát. Nhưng bà
vẫn bình tĩnh. Bà cũng bị ho dữ dội dai dẳng nhiều ngày
đêm. Billy ở bên cạnh bà và khi thấy
bà không ngủ được ban đêm ông cố làm
bà dịu cơn đau bằng cách xoa dầu, chà
sát và những cách chữa trị truyền thống. Billy
đưa ba
đến các thầy thuốc Trung Hoa và mua nhiều loại thuốc bắc và sắc lên
cho bà uống.
Billy nói chính niềm tin tưởng
và thiền định đã khiến bà có thể
đối đầu với khổ đau với một mức độ thanh thản
và tự tại phi thường. Cả hai đều đã
hành thiền với Thượng Tọa Sujiva tại một đạo
tràng tại Ðài Bắc năm 1988. Sau đó
Kuai Chan tiếp tục tham gia thường xuyên các
đạo tràng khổ hạnh của Thượng Tọa
Santisukharama tại Kota Tinggi, Johor.
Khi
được chẩn đoán bị ung thư phổi sau đợt ho vào
tháng bẩy năm 1992, bác sĩ cho biết bà
chỉ sống được một tháng nữa. Chỉ cho Kuai
Chan và Billy hình chụp tia X, ông chỉ rõ ung thư
đã lan tràn ra sao khắp cả phổi. Ông
cũng rất ngạc nhiên thấy Kuai Chai vẫn đi
được và trông rất khỏe mạnh, mặc dù tình trạng ung thư tàn phá phổi
của bà. Nhưng bác sĩ không biết là Kuai Chan có một tâm thép. Bà
đã sống
được sáu tháng nữa. Ðối với bà không phải là một cuộc chiến
để sống mà là chết có nhân cách. Khi
bà và Billy gặp tôi tại Trung Tâm Trí Tuệ ở Petaling Jaya khi tôi
đến thăm nơi đây vào tháng 7, họ hỏi
họ có thể làm gì. Tôi bảo họ: Ðiều một hành giả du già có thể làm là thiền
định! Nếu tôi là bà tôi sẽ thiền
định cho đến lúc cuối cùng. Họ
được khích lệ và Kuai Chan kiên quyết
dành những ngày còn lại hành thiền tại nhà. Billy nói ông hỗ trợ bà tận
tình.
Nhưng bà không cho là cơn
đau có thể ghê gớm
đến thế. Bà nói bà chưa từng thấy cơn
đau nào như vậy. Nhất là ở phần dưới
lưng, nóng như đốt và
đau như cắt. Bà
đã dồn tất cả sức mạnh tinh thần
để biết cái đau đớn nhưng bà vẫn không
thành công. Nó quá nhiều. Có những lúc bà nằm
đó bất lực không nhận biết được cái đau đớn nữa. Bà hơan toàn cam
chịu. Nhưng bà vẫn không uống thuốc giảm đau.
Bà tham khảo với thầy dạy thiền, Thượng Tọa Sujiva khuyên bà trải
lòng từ bi khả ái và tu thiền sổ tức hít thở
để giảm thiểu cơn đau khi bà chịu không nổi nữa. Việc làm này khiến
cho bà dễ chịu. Từ sự dễ chịu này bà có thể tiếp tục thiền minh sát. Một
hôm sau ba tuần chiến đấu với cơn đau dai
dẳng, bà có một kinh nghiệm độc đáo. Bà
nói với Billy trong khi nhận thấy cái đau như
cắt, bà quan sát thấy nó càng ngày càng nhỏ
đi cho đến khi nó biến hẳn. Bà nói bà
cảm thấy như tất cả giác quan đều bị cắt bỏ,
như thể không có danh-sắc (tâm và thân) vào lúc
đó tâm và thân
đã cùng nhau biến
đi với cái đau. Bà nói với Billy bà
cảm thấy giống như bà trải nghiệm Niết Bàn, và bà cảm thấy cực kỳ sung
sướng. Sau kinh nghiệm này, bà không bao giờ gặp phải loại
đau đớn cực độ nữa.
Mười ngày trước khi lâm chung,
Billy mang bà vào một bênh viện tư vì bà khó thở. Bác sĩ
đặt ống dưỡng khí cho bà. Hình chụp
tia X cho thấy những tế bào ung thư đã
lan rộng hơn nữa làm trầm trọng sự nghẹt thở. Chữa bằng xạ trị – hóa trị
được đề nghị không phải là có thể chữa
lành bệnh mà chỉ để giảm nhẹ bệnh tình.
Nhưng Kuai Chan không muốn tâm mất sáng suốt nên bà
đã từ chối. Sau năm
ngày bà đòi Billy
đem bà về nhà vì bà cảm thấy không có
lý do nào nữa để bà phải ở lại bênh
viện. Billy lắp bình dưỡng khí tại nhà, mang bà về nhà và
để bà thở qua ống dưỡng khí hầu làm
giảm bớt khó khăn về hít thở của bà. Năm
ngày sau từ 13 Tháng Chạp đến lúc bà
chết ngày 18 Tháng Chạp bà dường như ở trong tình trạng thiêm thiếp ngủ,
thỉnh thoảng mới tỉnh dạy. Hai ngày trước khi chết bà vẫn còn nhớ ngày
sanh nhật thứ 17 của đứa con gái vào
ngày 17 Tháng Chạp. Bà nhắc Billy luộc hai quả trúng cho
đứa con gái và cho con gái một bao (lì
sì) đỏ, Billy đã làm theo lời bà.
Vào ngày 18 Tháng Chạp, bà tỉnh
dạy lúc 9 giờ sáng với một nụ cười. Bà hỏi, "Có phải tôi ngủ không?" Billy
trả lời: "Phải đã năm
ngày rồi, em biết không?" Bà ngạc nhiên. Bà dường như rất sung
sướng và mỉm cười. Bà nói bà không cần uống thuốc bắc nữa. Bà lại nhớ lại
ngày sinh nhật của đứa con gái và mặc
dầu Billy đã nói cho bà biết là ông
đã đưa
bao lỳ sì đỏ cho đứa con gái như bà
đã dặn, Bà lại nói lần nữa với Billy,
"Hãy cho cho đứa con gái một phong bao nữa
(bao lì sì khác) nhân danh tôi".
Billy nói, vào khoảng 2 giờ
chiều Kuai Chan muốn nói cái gì với ông ta nhưng quá yếu không nói nổi.
Billy nhắc bà hãy duy trì tâm trạng vô tư,
đừng lo lắng gì về chồng và các con, và cảm thấy tự do
để ra đi êm ả. Ông nói, họ
đã thảo luận nhiều lần về việc này
trước đây, rằng nếu bà có thể lành
bệnh thì tốt, và nếu không thể chữa được, thì
cũng phải chịu: bà có thể đi một cách thanh
tao, hiểu biết nghiệp luật, rằng tất cả chúng ta một ngày
đó bắt buộc phải chia lìa.
Vào lúc ba giờ, khi
đứa con trai 15 tuổi, đi học về và báo
với me: "Mẹ ơi, con đã về", bà hiểu
tuy không nói được. Bà gật
đầu để ra dấu bà biết.
Vào khoảng ba giờ ba mươi phút,
Billy nói, Kuai Chan tận dụng sức lực nói rõ ràng bằng tiếng Quảng Ðông,
Woh Yap Niphoon, có nghĩa là "Tôi đã
vào Niết Bàn", câu này có ý nói nói là bà tin tưởng bà
đã thực hiện hay chứng nghiệm Niết
Bàn. Và bà chỉ vào bụng. Ðó là lời cuối cùng của bà, bà ra
đi một cách rất êm ả vào khoảng 45
phút sau. Billy nói Kuai Chan, trong lúc hành thiền, thường quan sát sự
chuyển động lên xuống của bụng xẩy ra
mỗi lần hít vào hay thở ra. Bà thấy sự lên xuống của cái bụng là một
đối tượng tốt để đặt tâm vào, và bà
thường khuyến khích các hành giả du già nên bám vào
đối tượng ấy. Bất chấp hiện tượng nào
của thân hay tâm khi ta áp dụng chánh niệm và tập trung vào, cuối cùng ta
có thể thấy sự sinh diệt của hiện tượng và đi
đến hiểu biết tính chất vô thường, cái bất toại nguyện và vô ngã
của chúng. Sự hiểu biết có thể tiến tới đỉnh
cao trong việc đạt Niết Bàn, trạng thái chấm dứt khổ
đau. Những ô nhiễm của tham sân và si
sẽ bị hoàn toàn bị loại bỏ khi chứng nghiệm Niết Bàn
đạt được ở trình
đô A La Hán [*].
[*] Về kinh nghiệm chấm dứt
những hiện tượng duyên hợp trong khi thiền
định, Niết Bàn có thể đạt được ở bốn
bậc thánh quả. Mặc dầu kinh nghiệm của Niết Bàn là chấm dứt những
hiện tượng duyên hợp ở tất cả bốn bậc. Niết Bàn chỉ có một vị,
đó là vị "an lạc" kết quả về phương
diện loại bỏ những ô nhiễm tinh thần tuy nhiên khác biệt ở mỗi bậc của bốn
bậc.
Ở bậc thứ nhất Tu Ðà Hoàn (Nhập
lưu) tham và sân bị yếu đi nhưng chưa bị loại
bỏ hoàn toàn. Hai ô nhiễm này bị yếu
đến độ người đắc quả Tu Ðà Hoàn không thể phá năm
giới, không giết (cả đến một côn trùng) không trộm cắp hay lùa bịp,
không ngoại tình, không nói dối và không uống rượu và không dùng các chất
ma túy. Ở bậc thứ hai Tư Ðà Hàm (Nhất Lai), những ô nhiễm bị yếu hơn nữa.
Ớ bậc thứ ba A Na Hàm (Bất Lai), lạc thú nhục dục và sân hoàn toàn bị loại
bỏ. Nhưng vẫn còn dấu vết của vô minh và ham thích một thiên nhiên không
nhục dục, có nghĩa là một ham thích dược tái sinh vào cảnh trời Phạm Thiên
không nhục dục. Ở bậc thứ tư A La Hán (Bất Sanh, quả thánh hoàn toàn) tất
cả ham muốn/ tham đều bị loại bỏ. A La Hán
sống kiếp cuối cùng và không còn bị tái sinh nữa.
Billy nói khi giờ phút cuối
cùng sắp tới, mặt của Kuai Chan rạng rỡ, khi bà nói, mắt của bà long lanh
và sáng. Vào khoảng 4 giờ 15 chiều, Billy nhận thấy bà
đã tắt thở. "Bà trông rất bình thản,
thanh thoát. Billy nói, Bà đã ra
đi một cách rất an lạc.
Vào khoảng 4 giờ chiều hôm ấy,
một người bạn đạo, Lily, cư ngụ ở xa Petaling
Jaya 25 cây số, đột nhiên có ý nghĩ trải tâm từ bi-khả ái
đến Kuai Chan. Lily ngồi xuống và
thiền định, gửi đi tất cả những tư tưởng về
từ bi-khả ái đến Kuai Chan. Bà ta nói bà thấy Kuai Chan rất thanh
thản trong một ảo ảnh trong suốt như pha lê. Khi bà ngừng thiền, bà ta
nhìn đồng hồ lúc đó là 4 giờ 15, cùng
lúc Kuai Chan ra đi.
Chết theo cách Kuai Chan
đã chết, rõ ràng là một cái chết
đẹp đẽ. Cách ra đi nào tốt hơn – với
tâm bà tập trung về Niết Bàn. Ai có thể nói cái kinh nghiệm duy nhất nào
bà đã trải qua? Chỉ có mình bà biết
thôi. Nhưng có một điều chắc chắn là,
tâm bà vững vàng vào lúc cuối cùng, hướng về Niết Bàn. Tôi cớ thể nghĩ
rằng bà đã
đạt Niết Bàn. Nếu bà
đã không làm
được thế trong đời này, tôi nghĩ rằng
bằng tâm vững chắc và cương quyết của bà, bà sẽ trải qua tái sanh lành làm
người hay người trời, và sẽ đạt được mục tiêu
hằng ấp ủ trong kiếp sống đó.
Là một Phật tử, Bà
đã chỉ dẫn cho Billy tổ chức cho bà
một tang lễ đơn giản, không có những nghi lễ
và nghi thức không cần thiết. Theo ý muốn của bà, Billy
đã thu xếp việc hỏa táng vào ngày hôm
sau. Một vài nhà sư Phật Giáo, một số hành giả du già và bạn bè tụng kinh
Phật. Tang lễ rất giản dị theo lời bà yêu cầu. Billy thu thập tro cốt và
đem rắc tại cây bồ đề tại thiền đường sư phụ
của họ tại Jahor.
Hồi tưởng lại
đời sống cùng nhau, Billy nói Kuai
Chan là một người vợ tốt nhất mà ông đã
có được: "Chúng tôi lấy nhau
đã 22 năm
và bà đã sát cánh với tôi qua
thăng trầm, qua nhiều thử thách và cực
khổ. Bà có một tâm tính vui tươi và hoạt bát. Bà bao giờ cũng thương yêu
và ân cần. Ngay cả lúc bà ốm bà vẫn tuyệt vời. Bà không bao giờ phàn nàn.
Bà không ngã lòng. Không có giận hờn hay cay
đắng nơi bà. Bà vẫn bình tĩnh và vững vàng. Bà vẫn có thể mỉm cười
và cười lớn. Bà chấp nhận tất cả khổ đau với
thái độ trang nhã. Bà nói thân bà bệnh nhưng tâm bà không bệnh. Tâm
bà vẫn sung sức và khỏe mạnh. Sự quan ngại của bà không phải cho chính bà
mà cho người khác. Bà nói nếu bà có thể sống thêm 10 năm
nữa, bà sẽ thực hành Phật Pháp nhiều hơn. Bà rất quan tâm
đến tôi và những
đứa con.
"Thực ra bà
đã chịu
đựng khổ đau tốt hơn tôi. Tôi không thểâ chịu nổi khi thấy bà quá
nhiều đau đớn. Tôi cố gắng cho bà uống
thứ thuốc bắc tốt nhất hy vọng có thể chữa khỏi hay cho bà
được nghỉ ngơi. Ðôi khi tôi hỏi tại
sao tất cả việc đó lại xẩy ra cho bà.
Và tôi nghĩ: Hãy để cho bà sống thêm
mười năm và cuộc
đời tôi ngắn đi mười năm. Xin để cho tôi cho
bà 10 năm của đời tôi. Nhưng lẽ đương
nhiên điều đó không phải là
để cho chúng ta nói. Chính nghiệp mới có
quyền ăn nói cuối cùng.
"Bà thường nói với tôi: "Ðó là
nghiệp của em, Billy à. Cái đó hoàn
toàn đúng. Em không biết em đã làm gì
trong quá khứ. Em phải chấp nhận nghiệp của em." Ðôi khi bà nói: "Em rất
hối hận vì đã
đem đến cho anh tất cả khó khăn này,
Billy, tất cả cái khổ đau này. Billy
biết không em nợ anh rất nhiều trong cuộc đời
này." Tôi phải nói với bà xin đừng nói
thế. Tôi nói, bà không nợ gì tôi cả. Chúng ta là vợ chồng phải
không? – và bà là người vợ tuyệt vời của tôi. Chúng ta cùng trải qua những
lúc thăng trầm, và bây giờ là giờ phút
cần thiết của bà, tôi sẽ ở bên cạnh bà. Chúng ta sẽ một mất một còn cùng
nhau, tôi nói với bà, tôi cam đoan với bà.
"Vào những dịp khác, bà nói với
tôi:, Này Billy đây là giáo lý chân
chính, con đường thực sự, tôi rất tin điều đó",
và bà nhắc tôi đừng lơ là thực tập
hành thiền, không nên tự mãn mà phải tu tập chăm
chỉ. Chúng tôi đã mất một thời gian tìm kiếm một giáo lý mà chúng
tôi có thế hiểu. Và khi chúng tôi tình cờ gặp Phật Giáo và thiền Minh Sát
vào năm 1988, chúng tôi đã say mê nó.
Ông biết không, chúng tôi thường cùng nhau bàn luận Phật Pháp mỗi
đêm bên tách trà. Mối liên hệ của
chúng tôi rất tuyệt vời."
Người anh em họ của Kuai Chan,
Sati, hỏi liệu bà có sợ bệnh ung thư không, bà trả lời không, bà không sợ
bệnh này. Bà sẵn sàng chịu đựng đau đớn mà
không dùng thuốc. Bà quả là một hành giả du già can
đảm, mặc dù hết sức chênh lệch, mà vẫn
kiên trì thực hành Pháp. Bà làm tôi băn
khoăn, nếu tôi, một nhà sư mà ở hoàn cảnh như bà, bị ung thư, tôi
có thể chịu được nhiều như thế không, có can
đảm và chịu đựng như thế không? Bà
quả là một tấm gương đầy cảm hứng, một vị
thầy làm gương cho tất cả chúng ta. Tôi phải cảm ơn Billy
đã đưa ra
chuyện riêng tư của mình để chia sẻ
với chúng ta câu chuyện truyền cảm này
để chúng ta có thể can đảm trong việc tu tập cương quyết hơn nữa và
phấn đấu mạnh hơn nữa.
Billy yêu cầu tôi ghi nhận lòng
biết ơn của ông đối với Thượng Tọa Sujiva và
những nhà sư khác cùng với các hành giả du già về tất cả sự giúp
đỡ ân cần mà họ
đã cho ông và Kuai Chan. Những bạn
hành giả Du già tại Trung Tâm Trí Tuệ Phật Giáo, PJ,
đã đặc
biệt hỗ trợ tinh thần và khuyến khích Kuai Chan trong suốt thời
gian bà bệnh. "Tôi không biết làm sao bầy tỏ lòng biết ơn của tôi
đến tất cả mọi người đã giúp
đỡ tôi. Xin vui lòng nói với họ, tôi
xin cảm ơn tất cả, xin được nói, Cảm ơn quý
vị. Cảm ơn quý vị rất nhiều về mọi thứ mà quý vị
đã dành cho Kuai Chan."
Phần tốt nhất đó trong đời sống của một
người lương thiện là những hành
động nhỏ nhoi không sao
kể xiết bị lãng quên về lòng tốt
và thương yêu.
Woodsworth
CHÚNG TA PHẢI LÀM TRÒN
BỔN PHẬN CỦA CHÚNG TA
Trước
đây tôi đã nói khi tôi nhìn thấy một
người bệnh, người sắp chết và người chết, hai quyết tâm phát sinh trong
tâm tôi. Một là có thể chịu đựng sự đau đớn và
cái chết với một nụ cười, có thể giữ được
chánh niệm và tự tại cho đến lúc cuối
cùng. Bây giờ tôi muốn nói đến quyết
tâm thứ hai. Vâng, khi nhìn thấy con người và thực ra tất cả chúng
sinh đang sống, đều phải chịu đau khổ nhiều
như vậy, tôi cảm thấy ít nhất chúng ta có thể làm
được, trong khi chúng ta còn sống, là
đóng góp làm nhẹ bớt khổ
đau chung quanh chúng ta.
Nhiều người
đang phục vụ nhân loại theo nhiều cách thức
phi thường. Mẹ Theresa, chẳng hạn, đã dành cả cuộc
đời để săn sóc những người thiếu thốn và
cơ cực. Nhiều người và tổ chức đã dấn
thân vào làm những công tác xã hội cho người bệnh, người tàn tật, người
chết đói, người già, những người sắp
chết và nhiều người khác. Tất cả những đạo sư
tôn giáo vĩ đại đều kêu gọi các đệ tử
hãy nhân từ. Jesus Christ nói: "Hãy thương yêu người láng giềng như
chính thân mình" Và Ngài tán dương những người cho người
đói ăn, cho người khát uống, cho quần áo
người trần trụi, cho chỗ ở kẻ bần hàn, thăm
viếng người bệnh và người bị giam cầm. Ngài nói rằng: "Vì các ngươi
đã làm thế cho một trong những người
anh em của ta, tức là các ngươi đã làm
cho chính ta". Có một câu tương tự trong Kinh Koran chỗ nhà Tiên Tri
Mohamed nói Thượng Ðế có thể nói trong Ngày Phán Xét:" Ta
đói mà các ngươi không cho ta
ăn. Ta bị bệnh mà các ngươi không
đến thăm. Và khi
được hỏi bởi một người hoang mang không hiểu
như thế là thế nào, Thượng Ðế trả lời "Như một người xin bánh mà
ngươi không cho. Như một người bệnh mà ngươi không
đến thăm".
Trong Ðạo Phật, mặc dầu chúng
ta không tin vào Ðấng Thượng Ðế Sáng Tạo, chúng ta tin vào
điều thiện và hô hào không giết hại cả
đến một con vật hay côn trùng. Chúng
ta tin vào Nghiệp luật- đó là thiện
đem lại thiện, ác đem lại ác. Cho nên
chúng ta bao giờ cũng phải bám chặt vào điều
thiện: tránh không giết hại, trộm cắp, lừa đảo, tà dâm, dối trá,
uống rượu và các chất say. Chúng ta tự rèn luyện
để tiến đến chỗ chúng ta làm
điều thiện vì lợi ích làm
điều thiện và không phải vì sợ hãi
địa ngục hay mong muốn được phần thưởng.
Chúng ta làm điều thiện vì
chúng ta thích làm điều thiện và tự
nhiên ngả về điều thiện. Nói một cách khác
chúng ta không thể tránh được làm việc thiện. Ðiều thiện với chúng
ta là một.
Ðức Phật chỉ thị các
đệ tử của Ngài phải nhân từ và quan
tâm đến người khác. Ngài nói một chút
cố gắng cũng có giá trị khi cho. Cả đến ném
một vài mẩu bánh xuống nước cho cá ăn
cũng được tán dương bởi Ðức Phật. Một lần, mấy nhà sư không săn
sóc một nhà tu bệnh, Ðức Phật đích
thân tắm rửa cho vị sư bệnh này và khuyên bảo các vị kia: "Ai săn
sóc người bệnh chính là săn sóc ta".
Ðức Phật kêu gọi các vì vua hãy trị vì với lòng từ bi. Ngài khuyên các nhà
vua nên loại trừ nghèo đói vì
đó là một trong những yếu tố góp phần
vào sự cướp bóc và các tội khác. Là một người yêu hòa bình, Ngài
đã từng ngăn
cản được khi hai quốc gia đang sắp sửa lâm vào vòng chiến vì tranh
chấp một dòng sông. Ðức Phật hỏi họ: "Cái nào quan trọng hơn – nước hay
máu của con người sẽ chảy vì chiến tranh?" Hai bên lâm chiến thấy sự tranh
chấp điên rồ của họ
đã rút lui không
đánh nhau.
Một trong những vị vua nhân từ
nhất chịu ảnh hưởng trước những lời Phật dạy là Asoka, trị vì Ấn Ðộ vào
thế kỷ thứ Ba trước Công Nguyên, khoảng 200 năm
sau khi Ðức Phật nhập diệt. Nổi tiếng về lòng nhân
đạo, sự rộng lượng và lòng tốt cửa
Ngài trải đến cả con vật. Ngài
được nổi tiếng vì
đã lo liệu bác sĩ cho cả người lẫn súc
vật. Ngài đã xây công viên, trạm nghỉ
ngơi cho khách bộ hành và nhà tế bần cho những người nghèo và người bệnh.
Mặc dầu là một Phật tử thuần thành, Ngài cho dân ngài hoàn toàn tự do
trong việc thờ phượng và ủng hộ các giáo phái khác. Trong một sắc lệnh nổi
tiếng khắc trên đá, Ngài nói Ngài
"Chúc mừng những người của tất cả những tôn giáo sống ở mọi nơi trong
vương quốc của Ngài ... vinh danh người của tất cả các tôn giáo, thành
viên của những dòng tu và cư sĩ, bằng tặng vật và những biểu hiện quý
trọng khác". Ngài muốn tất cả các tôn giáo
đều được kính trọng vì "bằng cách kính trọng tôn giáo là nâng cao
niềm tin của chính tôn giáo mình và đồng thời
phục vụ niềm tin của những người khác... Cho nên chỉ có hòa thuận
không thôi là đáng khát khao ... (Và
Ngài, Asoka) mong muốn người của tất cả các tôn giáo khác hiểu biết học
thuyết của nhau và tìm được học thuyết lành
mạnh..."
Asoka coi vai trò của Ngài như
một người cha nhân từ và coi dân như con khi nói rằng Ngài muốn họ
được mọi loại thịnh vượng và hạnh
phúc. Ðức Phật nếu có thể chứng kiến triều
đại của Hoàng Ðế Asoka, thì Ngài sẽ hết sức vui mừng khi thấy giáo
lý của Ngài đã
được tôn trọng triệt để một cách chuyên
cần bởi vị hoàng đế vĩ đại này. H.G.
Wells trong cuốn "Outline of History" (Lịch Sử Ðại Cương) có nói, trong số
các vị hoàng đế đã
đến và ra
đi trên thế giới, "tên của Hoàng đế
Asoka sáng chói, sáng chói hầu như một tinh tú không có ai ngang hàng".
Chắc chắn tất cả những chính phủ sẽ thành công khi nghiên cứu và áp dụng
cách giải quyết nhân đạo của Hoàng Ðế
Asoka trong việc trị vì.
Cũng vậy, nếu chúng ta
đi theo những lời Ðức Phật dạy, thì
chúng ta cũng giống như Asoka, làm việc theo
đường lối của chúng ta để giảm bớt khổ đau và trải rộng hòa bình và
hạnh phúc. Chính Ðức Phật đã là tấm
gương tốt đẹp nhất cho chúng ta soi, Ngài
đã dành cả cuộc
đời để chỉ cho con người lối thoát khỏi khổ
đau. Vâng, Ðức Phật không những quan tâm
đến việc làm nhẹ bớt khổ
đau, mà Ngài còn quan tâm
đến việc loại bỏ nó hoàn toàn. Cho nên
sau khi giác ngộ, Ngài đã bỏ cả 45 năm
cuộc đời còn lại dạy cho con người con
đường loại bỏ khổ đau. Ngài dạy con
đường chánh niệm.
Ðức Phật thấy chỉ bằng cách
giải quyết triệt để mới có thể loại bỏ được
khổ đau. Mặc dù săn sóc người bệnh,
chữa lành bệnh tật, cung cấp thực phẩm và các trợ giúp vật chất cho
người túng thiếu là một phần thiết yếu trong việc
đối phó với khổ đau, Ðức Phật muốn
tham gia nhiều hơn là chỉ có những triệu chứng: Ngài muốn tìm cách chữa
lành hoàn toàn chứng bệnh khổ đau. Cho nên
Ngài đã thiền
định toàn bộ câu hỏi
đời sống và cái chết. Và Ngài thấy
muốn giải quyết vấn đề từ gốc rễ, chúng ta
cần phải xem xét lại toàn bộ tâm. Khổ
đau thực chất là tinh thần. Khi có đau
đớn thể chất, người ta thường phản ứng bằng buồn rầu, sợ hãi và ngã
lòng. Nhưng người tu