Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .

 


 

Ðường về xứ Phật

Minh Châu, Thiện Châu, Huyền Vi và Pàsadika

---o0o---

Mục lục

Lời giới thiệu

 

Lời Giới Thiệu

Năm 1961, hai Thầy Huyền Vi và Thiện Châu đến Nalanda, và năm 1962 chúng tôi cùng nhau tổ chức đi chiêm bái các Phật tích Ấn Ðộ.

Chúng tôi đi với hai mục đích chính: Thay mặt toàn thể Phật tử Việt Nam chiêm bái các Phật tích và viết một quyển ký sự để giới thiệu các Phật tích cho Phật Tử Việt Nam được biết.

Ði đến Phật tích quan trọng nào, chúng tôi cũng thay mặt toàn thể Phật tử Việt Nam đảnh lễ cúng dường và cầu chúc Phật gia hộ cho Phật tử Việt Nam và dân chúng Việt Nam sớm được thanh bình an lạc. Ði đến đâu, chúng tôi cũng giới thiệu Phật tử Việt Nam, Phật giáo Việt Nam bằng những cuộc nói chuyện, diễn giảng và tặng ảnh các ngôi chùa chính Việt Nam như Thiên Mụ, Xá Lợi, Ấn Quang v.v...

Quyển "Ðường về xứ Phật" ra đời là để thực hiện mục đích thứ hai, giới thiệu các Phật tích cho Phật tử Việt Nam và dân chúng Việt Nam. Chúng tôi đã đi thăm các Phật tích sau đây: Vương-xá, với núi Linh Thứu, động Kỳ-xà-quật, Trúc-Lâm tịnh xá, Bồ đề đạo tràng chỗ Ðức Phật đã thuyết pháp lần đầu tiên, Song lâm với pho tượng đức Phật nhập Niết Bàn khổng lồ, Lâm-Tỳ-ni ngôi vườn lịch sử đánh dấu nơi đức Phật đản sinh. Xá-vệ chỗ đức Phật ở lâu nhất và thuyết những kinh rất quan trọng, Sanchi với những tháp đồ sộ và cổ kính nhất, Ajanta, Ellora, những hang động Phật giáo có những bích họa được cả thế giới kính phục, động Elephanta và Kanheri, động sau này là động xưa nhất, chỗ tu hành thanh tịnh của chư Tăng. Từ Kanheri chúng tôi về lại Cực Phật học Nalanda nơi mà có thời hơn 10.000 tăng sĩ dự học, một Ðại học đường Phật giáo đã đào tạo ra Ngài Huyền Trang người Trung Hoa, và Ngài Ðại Thặng người Việt Nam. Chúng tôi cũng không quên nói đến Tân Phật học viện Nalanda chỗ chúng tôi ở, nghiên cứu và dạy đạo Phật.

Mỗi Phật tích nào, chúng tôi cũng tả tỉ mỉ các di tích quan trọng, ghi chép một vài nhận xét, cảm tưởng cá nhân, nhắc lại những tích truyện quan trọng nhất trong khi Phật tại thế, tìm hiểu lịch sử Thánh tích ấy và dịch những bài ký sự của hai Ngài Pháp Hiển và Huyền Trang, để mỗi chương tả mỗi Thánh tích được linh động hơn, chúng tôi cho in rất nhiều ảnh chụp tại chỗ, và những nhiếp ảnh viên cũng không ai xa lạ hơn là những tác giả của tập ký sự này. Và như vậy độc giả sẽ có cảm tưởng và cảm giác chính tự mình đích thân chiêm bái và viếng thăm các Phật tích ấy.

Cùng đi với chúng tôi có vị sư người Ðức tên là Pàsadika, một vị sư có rất nhiều cảm tình với Phật tử Việt Nam và rất ưa thích nghe chúng tôi tụng kinh tiếng Việt Nam tại các Thánh tích. Vị này không những cùng với chúng tôi chia ngọt sẻ bùi trong cuộc chiêm bái có tính cách lịch sử này mà còn cộng tác với chúng tôi trong việc trước tác tập ký sự này nữa. Vì vậy đặc điểm của tập "Ðường về xứ Phât" là một mục đích là để các Phật tử Phật và tai nghe mắt thấy những Phật tích lịch sử này.

Tiếp theo lời giới thiệu, chúng tôi xin mời toàn thể Phật tử Việt Nam và những người bạn của Phật tử Việt Nam cùng với chúng tôi đi chiêm bái các Phật tích.

Sài gòn, ngày 22-7-1964
Thích Minh Châu
Phó Viện trưởng.
Viện Cao Ðẳng Phật học Sài gòn.

Vương Xá (Ragir)

"Vui đẹp thay thành Vương Xá!.
Vui đẹp thay núi Linh Thứu!
Vui đẹp thay vườn Trúc Lâm!
Vui đẹp thay động Saptaparni!"
Lời đẹp thay động Saptaparni!"
(Lời Ðức Phật Thích Ca).

Ra đi

Sáng nay, ngày 11 tháng 10 năm 1962, chúng tôi thức dậy thật sớm sửa soạn hành lý cho cuộc chiêm bái mà chúng tôi đã lo liệu hơn một tháng trời.

Trận bão lớn vừa qua làm cho đường sá hư hỏng nhiều. Không có xe hỏa, xe hơi, nên chúng tôi phải dùng đến một phương tiện giao thông rất cổ kính: xe ngựa. Chiếc xe ngựa trên đó có thầy Minh Châu, thầy Thiện Châu và thầy Ghosananda người Cam Bốt, Thầy Pàsadika, người Ðức, vì bận chút việc nên không thể cùng đi một lần: thầy sẽ gặp chúng tôi tại Buddhagaya. Khởi hành vào lúc 8 giờ. Lướt qua những cánh đồng xanh rộng, những xóm làng yên tĩnh, chúng tôi thấy như đang đi trên một con đường quê nào ơ đất nước. Tiếng cọc cạch đều đều của chiếc xe làm chúng tôi liên tưởng đến vó ngựa đi ra của Thái Tử Tất-đạt-đa, Rồi một niềm vui tràn ngập trong lòng vì chúng tôi thấy mình làm một công việc đầy ý nghĩa và hứng thú.

Tìm dấu người xưa

"Ðây là ngã ba Silao", thầy Ghosananda vừa đưa tay chỉ vừa nói:

- Tên "Silao" lấy từ "Silabhadra" (Giới Hiền) tên của ngài Viện trưởng Ðại học viện Nalandà cũ và cũng là thân giáo sư của ngài Huyền Trang. Xưa kia, đức Phật thường ghé lại đây để thuyết pháp cho dân chúng, trên đường đi thành Vương xá đến Nalandà. Lúc bấy giờ tại đây có một phái ngoại đạo. Ông thầy tên là Suppiya, vì thấy đức Phật được nhiều người cung kính cúng dường nên chê bai, phỉ báng. Trái lại, người học trò tên Brahmadatta thì ca ngợi, tán thán đức hạnh nghiêm tịnh của đức Phật. Khi nghe lời phỉ báng, một số thầy Tỳ-kheo đã buồn giận, và trái lại họ sung sướng khi được nghe những lời tán thánh đức Phật. Biết được việc ấy đức Phật bèn khuyên: "Này các Tỳ kheo! Nếu gặp người dùng cách này nọ phỉ báng, Như Lai, phỉ báng Chánh pháp và chư Tăng, các ông không nên vội sanh lòng oán giận hay có ác ý thì tự các ông đã gặp người dùng đủ cách khen ngợi Phật, Pháp và chúng Tăng, các ông cũng chớ vội lấy đó làm điều vui mừng, kiêu hãnh, vì nếu các ông sanh tâm vui mừng kiêu hãnh, thì tự các ông đã bị hãm hại rồi!". (Kinh Trường A-hàm, bản dịch của Thượng tọa Trí Ðức).

Ðã chín giờ hơn nhưng trời vẫn còn mát mẻ. Nước trời, cây, cỏ đượm một màu tươi đẹp êm dịu. Xa xa dãy núi Vương Xá ẩn mình sau màn sương bạc như chứng kiến sự hướng về của đoàn người tin tưởng. Dọc đường thỉnh thoảng chúng tôi phải xuống xe và giúp sức cho ngựa vượt qua những đoạn đường khó. Từ Nalandà đến Vương Xá chỉ có 13 cây số, nhưng chúng tôi phải mất hai tiếng đồng hồ mới đến được.

Lịch sử thành Vương Xá

Vương Xá (tiếng Ấn là Ràjagriha) là thành cổ nhất ở Ấn Ðộ. Theo tập Ràmàyana, thành này do vua Vasu lập ra và đặt tên là Vasumati. Ðến đời đức Phật, được gọi là Vương xa, vì rất nhiều cung điện được xây dựng tại đây. Ràja nghĩa là Vương Griha nghĩa là Xá, gọi chung là Vương xá. Thành này nổi tiếng khắp Ấn Ðộ vì là kinh đô xứ Ma-kiệt-đà. Theo ngài Buddhaghosa (Phật Âm) thành này có đến 32 cửa chính và 64 cửa phụ. Sau khi Vua A-xà-thế (Ajatasatru) xây thành Pàtaliputra bên bờ sông Hằng (hiệ còn một vài di tích tại Patna, thủ đô của Bihar) thì thanh Vương xá mất dần địa vị quan trọng.

Ðức Phật đến thành Vương Xá nhiều lần. Trước khi Ðắc đạo, đức Phật có đến khất thực xung quanh thành. Ðược biết Ngài là Thái tử của dòng Thích Ca, Vua Tần-đà-ta-la (Bimbisara) mời Ngài bỏ đời sống tu hành để trị vì một phần đất của nước Ma-kiệt-đà. Ngài đã từ chối nhưng hứa sau khi đắc đạo sẽ trở về giáo hóa, như sự thỉnh cầu của nhà Vua. Ðức Phật thường ở nhiều nơi trong thành này. Chỗ Ngài thích nhất là núi Linh-Thứu (Gridharakuta) Ngài cũng thường ở Trúc Lâm tịnh xá (Veluvana).

Sau khi gởi hành lý trong chùa Miến Ðiện chúng tôi lần lượt thăm các thánh tích sau đây:

1. Trúc Lâm tịnh xá (Veluvana).
2. Ngôi nhà lá (Pippalaguha).
3. Nơi kết tập kinh điển lần thứ nhất, động Saptaparni.
4. Suối nước nóng.
5. Núi Linh Thứu (Gridharakuta).

 

1. Trúc Lâm tịnh xá

Trước hết chúng tôi đến Trúc-lâm, một khu tịnh xá rộng lớn gần thành Vương-Xá, do Vua Tần-bà-ta-la cúng hiến cho Phật và chúng Tăng. Hiện này cũng chưa biết chắc Trúc Lâm tịnh xá nằm vào chỗ nào. Trước đây, vùng này là một vùng hoang dại. Sau khi khảo cứu nhiều tài liệu, Chính phủ Ấn mới cho rào một khoảng đất khá rộng gần chùa Nhật Bổn và chỗ này được xem là Trúc Lâm tịnh xá. Trong khu vườn này cây cối được sửa sang ngay thẳng, hoa lá tươi xanh, có nhiều bụi tre già lớn ở phía trong. Có lẽ vì thế mà được gọi là Trúc Lâm tịnh xá. Một hồ nhỏ, nước trong xanh, nghiêng mình soi bóng những hàng cây, được xem là hồ Kalandaka, nơi Ðức Phật thường tắm. Ngài Huyền Trang có nói đến hồ này trong ký sự. Bên hồ có một tượng Phật đứng trong một ngôi tháp trống vuông do Chính phủ Ấn dựng lên để kỷ niệm. Ngài Huyền Trang còn cho biết thêm rằng Trúc Lâm tịnh xá cách cửa thành phía Bắc độ một dặm. Rất nhiều khóm tre mọc khắp vùng, đức Phật ở nhiều tháng tại tịnh xá này. Sau đây là một vài bộ kinh được Phật thuyết tại đây: Mahàkassapa, Mahamoggallana và Mahacun-dabhojihangasutta. Chính ngài Mục-kiền-liên thệ thế trước tinh xá sau khi bị ngoại đạo ám sát, và đặc biệt được đức Phật chỉ cho một chỗ để xây dựng một ngôi tháp thờ Ngài.

Sau khi lễ Phật và dạo quanh hồ, chúng tôi tất cả cùng đến nghỉ mát dưới một gốc cây. Ðã trưa nhưng chúng tôi chẳng muốn trở về vì không muốn rời bỏ cảnh sắc thanh tịnh và nhiều đạo vị này.

 

2. Ngôi nhà đá Pippalaguha

Cơm nước và nghỉ ngơi xong, chúng tôi tiếp tục chương trình vào lúc 2 giờ 30 phút. Chúng tôi đi thẳng lên ngôi nhà đá. Nói rằng ngôi nhà, chứ thật ra chỉ là một cái nền chung quanh có lan can. Có lẽ trước kia chỉ là cái nhà gác, nhưng sau có các thầy tu thiền nên trở thành một Thánh tích. Dưới nền nhà là hang Pippala, mà kinh điển Pali có nói đến. Hang này nằm về phía Ðông ngọn đồi Vaibhàra. Hang đã mất vẻ thiên nhiên vì bị chất đá chung quanh, cao độ bốn thước, dài độ 26 thước. Tương truyền ngài Ca Diếp ở tại hang này và một hôm Ngài đau nặng được đức Phật đến đây thuyết pháp Thất Bồ Ðề phần. Sau khi nghe thuyết pháp Ngài liền lành bệnh. Chúng tôi nghỉ lại đây trong vài phút để ngắm toàn cảnh thành Vương Xá rồi lại tiếp tục leo cấp đê lên động Saptaparni, nơi 500 vị A-la-hán kết tập kinh điển lần thứ nhất.

 

3. Nơi kết tập kinh điển

Ðường lên động Saptaparni cao thật là cao, cao và xa hơn đường lên động Huyền Không (Ngũ Hành Sơn, Ðà Nẵng). Chúng tôi nghỉ chân và uống nước đến hai lần để lấy thêm sức; thế mà thầy Ghosananda vẫn phải ở lại tại một ngôi đền Ấn giáo. Trời đã về chiều. Vài con vượn ngồi trên nóc đèn lặng nhìn cảnh vật trước khi màn đêm buông xuống. Một con lông trắng và lớn nhảy xuống dọa chúng tôi, những người đến khuấy động chúng.

Hiện nay, động Saptaparni chưa được biết đích xác ở chỗ nào. Vì có hai thuyết đều được xem là có lý: ông John Marshall cho là một chỗ xa hơn về phía Bắc; tại đó hiện có một ngôi nhà bằng đá bị đổ nát. Chỗ này xa và không có đường đi đến. Ông Aurel Stain cho là bốn động về phía ngoài đồi Vaibhàra, từ ngôi đền Thắng luận sư đi xuống. Cả hai đều là những nhà khảo cổ trứ danh. Thuyết sau được Viện Bác cổ thừa nhận. Chúng tôi chỉ đến chỗ sau. Ðây là một dãy rộng, gồm có bốn động nhỏ, không sâu lắm, đường vào trong gập ghềnh và tối đen. Mỗi động chứa được 40 người, nhưng phía ngoài có đá lơm chơom bô choài xuống. Vì thế, có người nói rằng động xưa kia rộng ra đến phía ngoài nhưng nay đã bị sập nên nhỏ như vậy.

Khi trở về, chúng tôi không quên vào xem các ngôi đền Thắng luận sư. Có một ngôi đền được dựng lên ngay trên nóc Saptaparni. Một vài ngôi khác được làm sát bên ngôi chùa cũ có những tượng Phật bằng đá vẫn còn gắn chặt trên tường, nhưng đã bị đập nát mũi, tai, chân, tay. Thật là đau đớn, buồn tủi cho Thánh địa hoang vắng này. Chúng tôi không hiểu tại sao người ta lại có thể nhẫn tâm lấn hại Phật giáo, một đạo rất giàu lòng từ bi.

 

4. Suối nước nóng

Chúng tôi gấp gáp trở về vì trời đã gần tối, nhưng vì quá mệt mỏi nên chúng tôi ghé lại suối nước nóng để tắm cho khoẻ. Ðức Phật có nói nhiều lần về suối này trong khi thuyết pháp. Có lẽ thỉnh thoảng đức Phât cũng có đến tắm tại suối này. Xưa kia có một ngôi chùa gọi là Tapodàràma gần suối này. Nay không còn nữa mà chỉ thấy toàn là Ấn giáo, được lập ngay trên các vòi nước và hồ tắm. Nước vừa nóng chảy từ trong núi ra vừa được chuyển thành nhiều vòi để cung cấp cho nhiều hồ tắm. Trên mỗi vòi có mộ tượng thần Ấn giáo. Một hồ nước khá nóng để cho những người tắm có thể ngâm mình lâu hơn. Nhiều người mắc bệnh ngoài da hoặc bệnh tê thấp đều đến tắm để chữa bệnh. Mùa đông dân chúng đến tắm rất đông. Ðang mệt mà tắm thì thấy khoẻ liền. Dựng lên ngôi đền Ấn giáo trên suối nước này, ai đó đã biết lợi dụng thiên nhiên để lôi cuốn lòng tin của những người thiếu lý đoán.

Trên đường về chùa Miến Ðiện, chúng tôi định ghé lại thăm chùa Nhật Bản trong chốc lát thôi. Nhưng rồi hợp cảnh, vui tình, chúng tôi ở lại đây một đêm. Chùa ở vào một nơi rất thanh tịnh. Tiếng trống công phu hòa với giọng tụng kinh trầm bổng của các thầy Nhật Bản làm sống lại trong lòng chúng tôi hình ảnh, âm thanh của những buổi công phu mai chiều ở đất nước. Ðại đức trụ trì đón tiếp chúng tôi một cách niềm nở. Ở đây chỉ có hai thầy. Họ thuộc về tông Nhựt Liên. Câu tụng niệm thường xuyên của họ là câu "Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh". Ðể kỷ niệm nơi đức Phật đã thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa, họ làm Chùa tại đây. Hai thầy tu hành một cách khắc khổ. Trên hai cánh tay của mỗi vị đều có dấu đốt lớn để cúng dường kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Sau những câu chuyện viếng thăm qua lại, chúng tôi lên Chánh diện lễ Phật. Ở đây từ tượng Phật cho đến cách trang trí, cái gì cũng giống Việt Nam. Ðặc biệt là những bình hoa, lơ thơ đôi cọng hoa rừng xen lẫn trong những lá dâm bụt, nhưng nghệ thuật làm sao! Chúng tôi tưởng có lẽ tất cả nghệ thuật cắm hoa của Nhật Bản nằm trọn vẹn trong những bình hoa ấy.

Lễ Phật xong, chúng tôi tất cả đều ngồi nghỉ trên những ghế đá bên cạnh chùa. Tại đây, chúng tôi gặp một gia đình người Ấn từ Calcutta đến nghỉ mát đi viếng cảnh. Trong câu chuyện, chúng tôi có hỏi người gia trưởng tin theo tôn giáo nào. Ông ta trả lời là Ấn giáo. Rồi ông ta bảo Phật giáo và Ấn giáo không khác nhau. Thật vậy hầu hết người Ấn đều tin tưởng đức Phật làh hiện thân thứ 9 của thần Shiva. Các đạo sĩ Ấn giáo cũng thường bảo như vậy. Nhiều đến Ấn giáo có thờ cả tượng Phật chẳng khác gì những am điện đồng bóng ở nước ta. Ðó là sự "đánh lộn sòng" để làm thỏa mãn sự đòi hỏi của những người Ấn kính mến đức Phật. Sự việc này, một phần nào đã làm cho đạo Phật ở Ấn độ suy tàn mau chóng và phục hưng chậm chạp. Nhưng rồi vì có học thức và hiểu biết sự cao trọng của đức Phật, người gia trưởng này đã vui lòng để ba con của mình đọc theo ba câu quy y bằng tiếng Pàli và hứa sẽ dạy lịch sự đức Phật cho chúng.

Vì đi đường và leo núi quá mệt, chúng tôi đi nghỉ sớm hơn thường lệ. Sáng ra chúng tôi lên đường đi Linh Thứu vào lúc 5 giờ 30. Thời gian hội ngộ tuy ngắn ngủi. Nhưng tình tiễn biệt của khách và chủ rất đậm đà, thắm thiết. Nhờ đi xe ngựa nên chúng tôi có đủ thì giờ để hỏi và nghe giảng về những thành tích phụ:

  1. Cách chùa Nhật Bản độ 500 thước, nơi đường kẽ chỗ hai mỏm núi gần tiếp giáp nhau là nơi đức Phật hàng phục con voi say của vua A-xa-thế thả ra để hại Phật.

  2. Ði độ 300 thước nữa, có một nền đá rộng dài, nằm dưới chân núi về phía bên phải. Ðó là tiền tu viện của Ngài Long Thọ (Nagarjuna), một giáo sư của đại học viện Nalanda cũ và cũng là một luận sư nổi tiếng về Không tôn đã hoằng khai giáo lý Bắc tôn.

  3. Xa hơn nữa có một bức tranh cũ bằng đá dày độ 2 thước. Chỗ này được xem là nơi vua A-xà-thế, vì muốn được làm vua sớm đã giam vua cha là Tân-bà-ta-la cho đến chết. Trong khi bị giam tại nhà tù này, Vua Tân-Bà-ta-la thường thấy đức Phật đi đi lại lại trên núi Linh Thứu. Nhờ thế mà vua bớt được nhiều đau khổ. Người ta có đào được một vòng sắt để trói tù nhân tại đây. Do đó có thể tin rằng đây là nhà tù giam vua Tân-bà-ta-la.

  4. Gần núi Linh Thức, cách bức thành không xa, có một nền tinh xá rộng lớn. Ðó là tinh xá của một y sĩ nổi tiếng tên là Jivaka đã quy y với Phật và nguyện suốt đời chữa bệnh cho Giáo Hội lúc Phật còn tại thế.

 

5. Núi Linh Thứu (Gridhrakùta)

Chiếc xe ngựa dừng ngay trước tam cấp đường lên núi Linh thứu sơn. Ðây là nơi quan trọng nhất trong các thánh tích ở thành Vương xá. Ðức Phật thường trú tại đây. Phần nhiều kinh điển Bắc tôn như kinh Pháp Hoa được đức Phật thuyết tại chỗ này. Vua Tần-bà-ta-la có xây một tam cấp bằng đá lên tận đỉnh đồi. Ði một chặn đến một tấm bảng đề: "Chỗ này vua Tần-bà-ta-la xuống kiệu, khi nhà vua lên yết kiến đức Phật". Leo lên độ vài mươi tầng cấp nuữa, lại có tấm bảng đề: "Chỗ này vua Tần-bà-ta-la bảo các người hầu cận ở lại để một mình vua lên yết kiến đức Phật". Qua một khe đá, gần dưới chân những tảng đá cao là nơi Ðề-bà-đạt-đa xô đá làm Phật bị thương ở chân. Ði lên nữa, rồi quanh qua động của đức A-nan thì đến ngôi chùa Phật ở. Ngôi chùa hiện đã đổ nát ở ngay trên đỉnh đồi. Trước đây toàn ngọn đồi đều bị cây cỏ che kín, nay được phá dỡ đi, và chính phủ Ấn đã sửa sang đường sá nên lên đến đỉnh một cách dễ dàng. Ngôi chùa chỉ có ba chân tường nhỏ hình vuông trong có một bệ đá nhỏ là chỗ xưa đức Phật nằm nghỉ, cỏ dại mọc đầy trên nền, nhưng xung quanh rất sạch sẽ.

Chúng tôi thắp đèn đốt hương, đảnh lễ và tụng kinh tại đây. Chúng tôi tưởng niệm đến ngài Ðại Thặng Ðăng, một trong những vị tăng sĩ Việt Nam sang Ấn độ vào thế kỷ thứ 7 đã bỏ mình vì bệnh tại Song lâm và Hòa thượng Huệ Quang, Phó Hội chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam, đã nhập diệt trên đất Phật trong khi dự hội nghị Phật giáo thế giới lần thứ tư, và cầu nguyện cho Phật giáo nước nhà được hưng thịnh. Ðã ba tháng, tuy có tụng kinh bằng Pali nhưng hôm nay được chung hòa trong buổi tụng niệm theo nghi thức quê hương, chúng tôi vui sướng và cảm động khôn xiết. Tiếng kinh vang động cả mấy ngọn đồi. Mùi hương tỏa dần theo gió sớm. Ánh bạch lạp lung linh như muốn chan hòa với những tia nắng vàng vừa lên khỏi núi. Tất cả tạo thành một khung cảnh vừa trang nghiêm vừa mầu nhiệm!.

Khi tụng niệm câu Nam Mô Lin Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát, một luồng gì lạnh buốt phát ra từ đỉnh đầu rồi tỏa khắp châu thân làm cho chúng tôi khoan khoái nhẹ nhàng. Tiếp đến là hai hàng nước mắt tuôn trào không ngăn chặn được. Bây giờ nhớ lại mới nhận ra là lúc ấy bỗng nhiên một cảm giác hân hoan tràn ngập tâm hồn vì tự thấy mình như được nghe pháp trong hội Linh sơn, nhưng rồi sự tủi buồn tiếp đến vì không được thấy Phật và các vị Thánh hiền đâu nữa.

Lễ Phật xong chúng tôi cùng lùi ra ngồi trên tảng đá lớn nhìn xuống cảnh vật chung quanh. Càng nhìn càng nhớ lại tất cả công hạnh tu hành, độ sanh cuả Ðức Phật. Và chúng tôi hiểu rõ vì sao Ðức Phật lựa chỗ này làm nơi thường trú: hoàn cảnh và địa thế không phải là tất cả thì một phần nào có thể làm cho tâm tư con người trở nên thế này hay thế khác. Có lên cao mới thấy rộng, nó vượt ra ngoài những gì thấp kém, ở nơi thoáng đại hùng vĩ nảy sanh ra được tư tưởng cao siêu huyền diệu. Ðức Phật đã tỏ sự trùng điệp cũng như một vài cảnh khác trong thành Vương xá. "Vui đẹp thay thành Vương Xá!. Vui đẹp thay núi Linh Thứu! Vui đẹp thay Trúc Lâm! Vui đẹp thay Saptaparni! v.v...".

Phải trở về cho kịp chuyến xe đi Bồ-đề Ðạo-tràng, nên chúng tôi từ giả Linh Thứu trong sự ngậm ngùi, lưu luyến vào lúc 8 giờ.

Trên đường về, chúng tôi thưa với Thượng tọa Minh Châu: "Nếu Phật giáo chúng ta không xây dựng trên Linh Thứu một ngôi chùa thì không khéo lại bị ngoại đạo xây đền trên ấy. Hơn nữa, cảnh trí ở đó mà không lập một thiền viện thì thật quá uổng!".

Thượng tọa Minh Châu cho biết: "Trước đây Ðại đức Kashyap đã có ý định ấy nhưng chưa thực hiện được. Lý do thứ nhất là vùng Vương Xá không có nhiều chư Tăng và Phật tử bản xứ. Còn người ngoại quốc thì không đủ sức, hơn nữa phần nhiều các nước đã xây chùa ở Buddhagaya, Linh Thứu lại quá xa làng xóm nên chưa có ai đủ can đảm ở luôn trên ấy. Trước đây có một vị sư Trung Hoa tu thiền tại động đức A-nan hơn một tháng, sau bị đạo tặc cướp phá nên vị ấy không ở nữa. Tôi và vài thầy ở Nalanda thỉnh thoảng cũng có lên thiền định và ngủ lại trên ấy!".

 

Ký sự của Ngài Pháp Hiển

"... Ði về phía Tây độ một do tuần_(1 yojama) sẽ đến thành phố mới của Vương xá. Thành này do vua A-xà-thế lập ra, giữa thành có hai ngôi chùa. Ra khỏi cửa thành phía tây sẽ đến một ngọn tháp, do vua A-xà-thế dựng lên để thờ Xá Lợi đức Phật mà xưa kia vua được chia một phần. Ngọn tháp này đồ sộ, đẹp đẽ và tôn nghiêm. Ra cửa thành phía nam, đi độ bốn dặm về phía nam, chúng tôi đến một thung lũng, thung lũng này đưa đến năm ngọn đồi, năm ngọn này như một bức thành bao bọc một vùng đất rộng, đó là thành Vương xá cũ của vua A-xà-thế. Thành này rộng từ đông sang tây độ 5, 6 dặm, từ bắc đến nam độ 7, 8 dặm. Chính tại chỗ này ngài Xá lợi Phất và ngài Mục kiền Liên lần đầu tiên nhận chân được diệu pháp, cũng là chỗ mà Ni-kiền-đà đào một hố sâu đầy lửa và dâng đồ ăn có thuốc độc cho đức Phật. Và cũng là chỗ mà con voi say cuồng của vua A-xà-thế chạy đến để hại đức Phật và được Ðức Phật hàng phục.

Tại góc đông bắc của thành Vương Xá có một ngôi chùa là chỗ Jivaka thỉnh đức Phật và 1.250 vị Tỳ-kheo đến để kính lễ. Ngôi chùa đó hiện vẫn còn. Thành phố hoàn toàn vắng, không có người ở. Ði vào trong thung lũng và đến gần dãy núi độ 15 dặm phía đông nam chúng ta đến núi Linh Thứu. Cách đỉnh núi độ 3 dặm có một bệ đá, giữa những tảng đá lớn. Ðó là chỗ đức A-nan ngồi thiền định, xây mặt về hướng nam. Ðộ 30 bước về phía đông bắc có một hang đá chỗ đức A-nan ngồi thiền định. Lúc bấy giờ có một con quỷ Pisuna ở cõi trời, biến hình thành con chim kên, đứng trước hang đá và dọa ngài A-nan. Ðức Phật dùng thần thông mở rộng động đá, cầm tay ngài A-nan và làm cho ngài A-nan hết sợ hãi. Ðầu con chim và lỗ hổng mà đức Phật đưa tay qua nắm ngài A-nan nay vẫn còn. Do đó, hòn núi ấy gọi là ngọn đồi của hang con chim kên. Trước hang này là chỗ ở của bốn đức Phật. Các vị A-la-hán, mỗi vị đều có một hang giống nhau khi các vị ngồi thiền định. Số động có đến 700.

Lúc đức Phật đang đi từ phía đông sang phía tây trước nhà đá, Ðề-bà-đạt-đa, đứng trên mỏm đá phía bắc, lăn một tảng đá xuống và làm ngón chân đức Phật bị thương, tảng đá ấy hiện còn. Phòng đức Phật giảng kinh đã đổ nát, chỉ còn lại chân tường gạch. Ðồi này bằng thăng và tôn nghiêm vì cao hơn tất cả 5 ngọn đồi xung quanh.

Ngài Pháp Hiển sau khi mua hương hoa và đèn dầu tại thành phố mới thuê hai người đưa đến hang động và núi Linh Thứu. Sau khi dâng hương và hoa các ngọn đèn tự nhiên sáng to. Pháp Hiển cảm động và buồn đến phát khóc rồi nói rằng: "Trước kia đức Phật ở tại chỗ này. Chính chỗ này Phật đã giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm. Pháp Hiển tôi không được thân tiếp Phật trong khi còn sống, nay chỉ tìm được dấu vết về đời sống của Phật. Tuy vậy, tự thấy cũng được chút gì vì đã từng đọc kinh Thủ Lăng Nghiêm trước hang đá này và ở lại đó một đêm ..." (Trích trong tập ký sự của ngài Pháp Hiển).

 

Ký sự của Ngài Huyền Trang

"... Ngoài cửa thành Vương xá về phía Bắc có một ngọn tháp. Chính chỗ này, Ðề-bà-đạt-đa và vua A-xà-thế, sau khi giao hữu với nhau đã đồng mưu thả con voi say để hại đức Phật. Nhưng Như Lai đã dùng thần thông hóa năm con sư tử chạy ra, từ năm ngón tay của Ngài; con voi say phải phủ phục chịu hàng. Phía đông bắc ngọn tháp này lại có một ngọn tháp khác. Chính là chỗ ngài Xá-lợi-phất nghe vị Tỳ-kheo Asvajit nói pháp và chứng được quả A-la-hán. Về phía Bắc tháp này có một hố rất sâu, bên cạnh có một ngọn tháp. Ðây là nơi Srigupta muốn hại Phật bằng cách giấu lửa trong hố ấy và dùng gạo có tẩm thuốc độc, vì Srigupta tôn sùng ngoại đạo và say mê theo tà giáo. Về phía đông bắc hố lửa của Srigupta và ở phía vòng cung của thành phố là một ngọn tháp. Chính tại chỗ này, Jivaka, vị thầy thuốc trứ danh, đã lập một giảng đường dâng lên đức Phật. Xung quanh có trồng hoa và vài cây trà. Dấu vết nền tường và rễ cây thối nát vẫn còn thấy. Ðức Phật khi còn tại thế thường dừng lại đây. Gần giảng đường này, nhà của Jivaka bị đổ nát và một lỗ giếng cũ vẫn còn.

Phía đông bắc thành Vương xá độ 14, 15 dặm là núi Linh Thứu, trên sườn núi phía Nam của ngọn núi phương Bắc, có một đỉnh núi rất cao, chim kêu làm tổ tại đây. Ðỉnh núi này hình dáng nhưi một vọng lâu, màu xanh của da trời phản chiếu xuống đỉnh núi tạo thành một cảnh sắc tươi hòa êm dịu.

Trong khoảng 50 năm hoằng dương Chánh pháp đức Như Lai thường ở tại ngọn núi này và diễn giảng kinh điển thậm thâm vi diệu. Vua Tân-bà-ta-la vì muốn nghe pháp, thường lên núi với một số tùy tùng. Số người này san bằng các thung lũng, bắc cầu sang các thác nước và dựng đá làm các bậc cấp rộng độ 10 bước và dài độ 5, 6 dặm. Nửa đường có hai ngọn tháp nhỏ, một ngọn gọi là "xuống xe" vì khi vua đến chỗ này thì đi bộ lên núi; ngọn kia "bảo tùy tùng đi lui", vì vua tách riêng tùy tùng, không cho họ theo mình. Ngọn núi này dài từ đông qua tây và hẹp từ bắc đến nam. Có một ngôi chùa bằng gạch, một bên là thung lũng rất sâu về phía tây ngọn núi. Cửa chùa này hướng về phía đông. Chỗ nay đức Như Lai thường dừng nghỉ và thuyết pháp. Ngôi chùa cao rộng và rất đẹp. Hiện còn một tượng Phật tạc Ngài đang thuyết pháp to lớn bằng hình dung thật của Ngài.

Phía đông ngôi chùa là một tảng đá dài, đức Phật thường đi kinh hành trên ấy để dưỡng sức. Bên cạnh là một hòn đá rất to cao độ 15,15 feet và độ 30 feet vòng tròn. Chính là chỗ Ðề-bà-đạt-đa xô đá hại Phật.

Về phía nam dưới hang thẳm có một ngọn tháp. Khi đức Như Lai còn tại thế, Ngài thuyết kinh Saddharma-pundarika (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh). Cũng tại đó phía năm ngôi chùa trên sườn núi có một cái nhà bằng đá: chính tại chỗ này đức Như Lai thường thiền định. Trước mặt nhà đá về phía tây bắc có một hòn đá rất lớn hình thù kỳ lạ. Tôn giả A Nan bị quỷ sứ dọa nạt tại đây. Bên cạnh chùa ấy có nhiều nhà đá khác, đó là chỗ của ngài Xá Lợi Phất cùng các vị đại A-la-hán nhập định.

Phía đông bắc ngôi chùa, giữa dòng suối chảy trên đá, nổi lên một tảng đá lớn. Ðó là chỗ đức Như Lai phơi áo Cà sa. Gần đó trên một tảng đá có dấu chân đức Phật. Dấu hình bánh xe ở ngoài đã lu mờ, như vẫn còn nhận được. Trên đỉnh dãy núi phía bắc có một ngôi tháp. Từ chỗ đó đức Như Lai nhìn thấy thành Ma-kiệt-đà; ngài đã thuyết pháp liên tiếp trong 7 ngày tại đây. Về phía Tây, ở cửa thành phía Bắc có một ngọn núi gọi là Vipulagiri. Theo tục truyền của dân trong làng thì phía bắc của những kẽ núi về phía tây nam trước kia có đến 500 suối nước nóng. Nay chỉ còn độ 10 suối, vài suối ấm, vài suối lạnh, nhưng không có suối nào nóng sôi. Tại miệng các suối nước nóng, có đặt những tảng đá chạm hình sư tử, hoặc đầu đàn voi trắng. Nhiều chỗ có đặt những ống dẫn nước, nước chảy trong các ống dẫn nước về phía trên, phía dưới có những hồ nước bằng đá, nước chảy vào như hồ tắm. Dân chúng các nơi thường đến tắm ở các hồ ấy. Những ai có bệnh, sau khi tắm có thể lành. Hai bên những suối nước nónt, có nhiều tháp hoặc chùa đổ nát, không cách xa nhau lắm. Tại những chỗ ấy, bốn đức Phật quá khứ đều đến tọa thiền hoặc đi kinh hành, và còn để lại những dấu tích. Những địa điểm này đều được bao bọc bởi những dãy núi, và có đầy đủ nước dùng, nên những nhà trí thức đến ở, có nhiều vị tu sĩ Ấn cũng sống trông cảnh thanh tịnh này.

Về phía tây các suối nước nóng là nhà đá Pipala. Trên đỉnh Vipula có một ngọn tháp. Ðó là chỗ khi xưa đức Phật giảng Chánh pháp. Hiện những người theo đạo "ở trần" (Nigranthas) thường đến tại chỗ ấy rất đông. Họ tu khổ hạnh ngày đêm không dừng nghỉ, từ sáng đến chiều tối, họ đi vòng quanh các ngọn tháp, chiêm ngưỡng rất thành kính.

Phía trái của thành bắc, đi về phương đông, về phía bắc của vực núi phía nam độ 2, 3 dặm, chúng tôi đến một nhà đá lớn, chính là chỗ xưa kia Ðề-bà-đạt-đa thiền định.

Từ cửa thành phía bắc đi độ một dặm, chúng tôi đến chùa Karandaveluvana. Tại đây, nay chỉ còn một nền đá và thành bằng gạch của ngôi chùa xưa.

Phía đông chùa Karandaveluvana có một ngọn tháp. Ngọn tháp này do vua A-xà-thế lập nên. Sau khi đức Như Lai nhập Niết bàn, các vua chúa phân chia Xá Lợi. Vua A-xà-thế đem phần của mình về và xây dựng tháp để cúng dường chiêm bái. Khi Vua A Dục trở thành Phật tử, ngài mở ngọn tháp ấy lấy Xá Lợi và tự mình dựng lên một ngọn tháp khác. Ngôi tháp này luôn luôn tỏa ánh sáng rất kỳ diệu. Một bên ngọn tháp của vua A-xà-thế có một ngọn tháp khác dựng nửa phần Xá lợi của đức A-nan.

Về phía tây nam Trúc-lâm tinh xá độ 5, 6 dặm về phía Bắc của ngọn núi phía nam có một rừng trúc. Giữa rừng trúc ấy, có một nhà đá rất lớn. Tại đây, đại đức Ca Diếp với 499 vị A-la-hán, sau khi Ðức Phật nhập Niết Bàn đã triệu tập một Hội nghị để kết tập Tam tạng.

Phía Tây Bắc chỗ đại đức Ca Diếp triệu tập Hội nghị có một ngọn tháp. Ðó là chỗ đức A-nan, sau khi bị các đại đức khác không cho dự Hội nghị đến ngồi một mình im lặng Thiền định và chứng quả A-la-hán. Sau đó Ngài được mời dự hội nghị.

Từ đó đi về phía Tây độ 20 dặm, có một ngọn tháp do vua A Dục dựng lên. Ðó là chỗ mà Giáo hội Tăng già họp để kết tập kinh điển. Phía bắc Trúc Lâm tinh xá đi bộ 200 bước, chúng tôi đến hồ Karanda. Phía tây bắc hồ ấh độ 2, 3 dặm có một ngọn tháp do vua A Dục dựng lên. Ngọn tháp ấh cao độ 60 feet và trên đỉnh có hình một con voi.

Ði về phía Ðông bắc trụ đá không xa lắm, chúng tôi đến thành Vương xá. Bức thành ngoài đã bị phá hủy không còn dấu tích gì. Bức thành trong, mặc dầu bị đổ nát vẫn còn có những chỗ cao hơn đất bằng và độ 20 dặm vòng tròn.

Tương truyền vua A-xà-thế trước tiên lập thành này, và vị vua kế vị khi lên ngôi, cũng xem thành ấy là kinh đô, mãi cho đến đời vua A Dục. Vua này dời đô ra Pataliputra và giao thành Vương xá cho hàng Bà-la-môn. Vì vây thành Vương xá không còn thấy dân chúng ở, mà chỉ có các nhà Bà-la-môn ước độ 1000 gia đình ..."

Tập ký sự của ngài Pháp Hiển và ngài Huyền Trang tả rất rõ ràng những thành tích còn lại ở thành Vương xá. Và sở Bác cổ hiện tại cũng nương theo hai tập ký sự trên để tìm những chỗ đã được tả một cách kỹ càng như vậy. Chỉ tiếc hiện nay không còn tất cả những ngôi tháp mà ngài Huyền Trang đã thuật. Do đó khó tìm ra tất cả những thành tích được tả trong tập ký sự của hai Ngài.

 

Bồ Ðề Ðạo Tràng (Buddha Gaya)

"Nhạc gió reo vui mừng ngày xuất thế,
Sừng sững oai nghiêm đại tháp Bồ đề.
Trụ biểu muôn đời Ðạo vàng xuất hiện
Ðèn chơn lý sáng ngời thế giới tam thiên".
(Bồ đề Ðạo tràng Thích Ca)

Bồ đề đạo tràng là địa điểm thứ hai cuộc chiêm bái của chúng tôi.

Chúng tôi vượt qua dãy núi hẹp về phía nam thành Vương xá, hoang vu như bãi sa mạc, với sự tranh sống nung nấu trong lòng. Nay quang cảnh giống như bóng rừng canh mát mà xưa kia những đại đức tu nhiều đã tụng vang lên những thánh thư cao đẹp trong tập Theragàthà, Therigàthà. Xứ Bihar này toàn là một màu xanh lá mạ, mọi vật đều sôi sục với nhựa sống, một nhu cầu cấp thiết, một nạn dịch, mùa ruộng lúa trảy hạt, đồng quê nhen nhúc sâu bọ và con nít. Tất cả mọi vật đều đến mức quá độ, trước hết là một sự nghèo đói cùng khắp, một sự nghèo đói tuyệt vọg. Mưa đã biến cảnh hoang vu khô khan của đồng ruộng trở thành những biển lúa gợn sóng xanh mát, nhưng các luống cày đã thấm đầy nước mắt của những kẻ ưu sầu khốn khổ. Thường năm xảy ra những nạn lụt ghê hồn, tiếp theo là những nạn dịch rùng rợn. Chúng tôi đi ngang nhiều làng mạc nhen nhúc những người và người. Dân làng xứ Bihar có thân hình nhỏ bé, xương xóc; phần lớn thiếu ăn, và sự thái quá của thời tiết đang in dấu tang thương trên gương mặt mọi người.

Ngang qua sông Ni-liên-thiền (Neranjara) nước mưa dâng lên làm cho sông lớn và rộng. Buổi chiều hiện ra, rực rỡ những màu sắc, ngăn khoảng bởi dãy đồi thon nhỏ đen xám của xứ Brahmayoni. Gaya là cả một đám bùn và gạch màu nâu sẫm; nào là đền thờ Hồi Giáo, nào là đầm nước nhớp rỉ chảy những đợt hương thơm bay lên, những đám khói cuồn cuộn nổi dậy từ những đám lửa cứt bò. Làm sao tả được sự ồn ào náo nhiệt của những tiếng còi nhà máy, chuông rung, máy radio la hét, khoe khoang nịnh hót, than vãn, cả một sự hỗn tập, nhen nhúc, đầy tràn, sôi sục những chủng loại, tin tưởng và giai cấp, hận thù, tự mãn, điên dại, tàn phá, héo mòn, đau khổ, nghèo đói và van xin.

Con đường đi đến Bồ Ðề Ðạo-tràng chạy dọc theo sông Ni-liên-thiền. Càng tới gần thánh địa, sự an ninh càng tăng dần. Một làn gió nhẹ mát dịu chạy lướt trên mặt sông. Những rừng cây Pipal thanh vắng, làm tăng thêm sự điều hòa, yên tĩnh. Cả vùng hình như chưa bỏ mất cảnh tĩnh mịch êm đẹp của thời xưa, cảnh tĩnh mịch mà các tu sĩ thời quá khứ ưa thích. Cho đến nay sự ồn ào của làng Buddhagaya cũng không thể làm rộn được con đường thanh tịnh đến cây Bồ đề. Chính là con đường mà xưa kia nhà ẩn sĩ nhiệt thành Siddhartha Gautama từ núi Dungsiri, một ngọn núi khô khan và như một lò lửa trong tháng mùa hè, bên kia bờ sông, đã đặt chân lên đê đi lần đầu đến địa vị Phật Như Lai.

Sáng sớm cùng đi với chúng tôi có thêm đại đức Sukitti, người Thái ở tại Bồ đề Ðạo-tràng. Chúng tôi ra đi và hướng về núi Dungsiri (Khổ hạnh lâm). Chúng tôi cũng tập theo một vài khổ hạnh nhè nhẹ để cho những cảm giác linh hoạt thâu nhận trên đường đi được sâu đậm hơn. Lội ngang qua sông Ni-liên-thiền, là sự thử thách đầu tiên. Sông sâu và nước chảy mạnh. Áo quần ướt tơi tả. Lắm lúc chúng tôi như bị nước cuốn trôi đi. Vượt qua được dòng sông, trong lúc trời đổ mưa, là một điều hơi gian khổ đối với chúng tôi, nhứt là Thượng tọa Minh Châu thấp người hơn cả. Băng qua những đồng ruộng và làng mạc, đôi lúc chúng tôi phải vượt những vũng bùn lầy lội, những suối nước đục ngầu. Các làng mạc và đường đi lần lượt bị bỏ lại phía sau. Dốc leo đứng và cao. Ðá lớn rải rác khắp nơi. Những rặng núi răng cưa, những tảng đá trơn tru là những tiêu biểu cho một chí khí nhiệt thành, chân thật, quyết tiến trên con đường đạo hạnh: "Ðừng thối chí, hãy tiến tới!". Một tu sĩ kiêm thi sĩ Tây Tạng luôn mặc áo cải. Ngài Milarepa, hát lên rằng:

"Trên núi có con đường bằng đá, chỗ đó người có thể đánh đổi sự luân hồi hỗn loạn với hạnh phúc thanh tịnh vô biên".

Ngang sườn núi, một ngôi chùa Tây Tạng nhỏ được treo như tổ chim én. Ba vị Lạt-ma, thuộc phái của đại đức giữ giới, đang chạm vài chi tiết cho một khám thờ. Toàn cảnh chùa Tây Tạng với những lá cờ có in kinh chú bằng chữ vàng, các băng khắc Om Mani Padme Hum. Những mái thếp vàng, những lò lửa quét vôi trắng để đốt trầm hương, tràn đầy không khí giải thoát, khinh khoái. Trước mái hiên, có trải tấm đệm để ngồi thiền; và trước mặt là những cành hoa cẩm chướng tươi nở; chính đức Bồ tát đã tu khổ hạnh ở chỗ này.

Chúng tôi bò vào cái hang khá rộng, chỗ đức Phật trú ẩn trong khi tu khổ hạnh. Hang này nay đã biến thành một khám thờ trạm trổ theo kiểu Tây Tạng làm tăng thêm vẻ đẹp của cảnh tĩnh mịch của núi rừng. Giọng tụng kinh đầy đạo vị và nhịp nhàng của các đại đức Việt Nam gây cho tôi một niềm cảm xúc thanh tịnh. Một vị thiền sư quá khích có thể cho khám thờ và tụng kinh là một sự xa xa chăng?

Tuy nhiên đức Bồ Tát đã từ bỏ hang khổ hạnh này.

"Ðã lâu quá quen quán tưởng pháp vô sanh, vô diêt, vô trú, tôi quên tất cả định nghĩa của mục đích này hay mục đích khác. Ðã lâu quá quen quán tưởng các sắc pháp là pháp thân, tôi quên tất cả sự quán tưởng do tâm tạo tác. Ðã lâu quá quen trầm tưởng trên cành vô vi giải thoát, tôi quên mọi phương tiện tập quán tục lệ, thường tịnh. Ðã lâu quá quen sự từ tốn khiêm nhường cả thân lẫn trí, tôi quên sự tự phụ và hãnh diện qua các bậc anh hùng vĩ đại (Milarepa: Jetsun Khbun)" ... và ngài từ từ tiến đến cây Bồ Ðề.

Lễ Phật tụng kinh dưới gốc Bồ đề là một kỷ niệm thiêng liêng của tôi. Biết bao nhiêu lần sự lễ Phật chỉ là một cử chỉ, một thủ tục, một tập quán tình cảm, và dầu có ý nghĩa diễn đạt các thứ bực tu chứng cũng không vượt quá mức... Lễ Phật dưới gốc Bồ Ðề, và các ngọn nến mới lại được thắp đi thắp lại: khói nhang Tích Lan bao phủ toàn ngôi tháp, hàng ngàn ngọn đèn dầu lạc hòa hợp với ánh sáng của những ngọn đèn điện mà chư Thượng tọa, Ðại đức Việt Nam xin thắp để cầu nguyện cho Phật giáo Việt Nam được phục hưng mau chóng, làm cho toàn thánh địa rực rỡ và vui vẻ hẳn lên. Giọng trầm hùng của các vị Lạt-ma khuyến lệ đạo tâm. Tiếng tụng kinh Thái cũng tương tự. Nhưng giọng kinh Việt Nam có nhiều đạo vị và thi tứ đặc biệt khiến cho người nghe hình dung như sau:

"Trầm bổng xuống lên như một ngọn trúc mềm mại, phấn khởi trước làn gió nhẹ của mùa xuân". Ðạo Phật phải luôn luôn mới lạ, tươi trẻ, kích thích, phấn khởi, giải thoát vượt ngoài duy tâm và duy vật. Lễ Phật với ý nghĩa cao đẹp nhất phải là một sự phối hợp giữa trí tuệ và phương tiện, một sự cố gắng bền bĩ để đi đến bờ bên kia, một sự kiểm soát và suy niệm liên tục, một sự chính xác khoa học và một thứ trực giác họa sĩ, và cuối cùng là vượt qua tất cả. Chúng ta hãy ngồi xuống dưới gốc cây đặc biệt nhất trong tất cả các cây; sau đó là Kim Cang tòa, khám thờ của tháp Ma-ha Bồ đề, một tượng Phật Thích Ca thếp vàng với nụ cười giải thoát, không có tôn kính, không có lễ nghi, không có lời tán vô ích.

"Từ Chánh pháp chúng ta phải thấy Ðức Phật.
Từ Pháp thân, chúng ta thấy con đường chỉ đạo của các Ngài.
Tuy vậy chơn tánh của pháp không thể phân biệt được, và không thể nhận thức được như một đối tượng" (E. Conze dịch).

Một ngày mới. Chúng tôi đi về phía nam, dưới những hàng cây hàng to lớn, dọc theo sông ni-liên-thiền. Bên kia bờ sông, Dungsiri mờ mờ trong sương mù của buổi bình minh, giống như động Lô sơn, chỗ tu thiền danh tiếng của các tu sĩ thiền sư đời Tống, đời Trần. Chúng tôi đi ngang qua những cánh đồng còn đẫm sương, và đây rồi một đầm nhỏ đầy bèo xanh, báo hiệu cho chúng ta biết đã đến hồ mucalinda. Ở đây, đức Từ phụ, khi trời giông tố mưa rào, đã vượt qua 7 từng Thiền định như thần rắn quấn tròn quanh Ngài. Trời đã về thu, thật thi vị và khoan khoái, buổi sáng tươi mát và ấm áp này: "Khoan khoái thay chỗ này". Kinh Pali đã chép như vậy. Những suối nhỏ quanh co rỉ chảy đến hồ Micalinda. Các đồng ruộng thấm nhuần nước tưới và dân làng cũng có vẻ lạc quan hơn nhiều.

Chúng tôi lội qua con sông và đến chỗ đức Giác Ngộ đã nghỉ ngơi tại nhà hàng Sujata (Tu-xà-đa). Một ụ đất có thể có một ngọn tháp ở dưới - được xem là nông trại lúc trước của Sujata người đã dâng sữa cho đức Thích Ca, khi Ngài từ động Dungsiri trở về.

Buổi chiều chúng tôi đi thăm một ngôi chùa Trung Hoa nhỏ của phái Tịnh Ðộ. Vị Ni cô già và can đảm đã tiếp đón chúng tôi rất nồng hậu. Vị nay đã sống ở đây rất lâu, nhẫn nại, khiêm nhường, tín thành và từ ái. Sự yên lặng thật cảm động!

Gần đó là một ngôi chùa Tây Tạng của phái Geluppas, thông thường được gọi là phái "mũ vàng". Ðã có nhiều sách viết về "xứ sở bí mật" này, phần lớn rất xuyên tạc, mù mờ, vì nhìn qua sự mờ ám và kích động của thần bí học. Từ khi những người tị nạn Tây Tạng qua Ấn độ và hiện cũng vẫn còn người qua, thì phái Vajrayàma (Kim Cang thừa) cua Nalanda ở thời đại Pàla được phục hưng lại theo truyền thông Tây Tạng. Chúng tôi được một dịp may mắn tìm hiểu về Lạt-ma giáo. Chùa Tây Tạng ở Bồ đề Ðạo tràng có một bánh xe Chánh pháp khổng lồ. Các bích họa, chung quanh, dầu cho hoàn toàn mới... hình như thuộc về một thế giới khác lạ. Cảm giác kinh hãi lại được tăng thêm, khi chúng ta lên tầng lầu trên và bước vào điện thờ Phật. Ban đầu người ta có một cảm giác bối rối, lúng túng. Ðiện Phật trông như cả một ổ tơ vò lộn xộn những hình ảnh, họa phàm và những vật dụng kỳ dị. Nhưng khi ngồi yên tĩnh được một lúc, dần dần mới nhận ra là cả một hệ thống tinh thần đặc biệt điều hòa. Tấm Tankha quan trọng nhất có vẽ bánh xe luân hồi. Những màu sắc rực rỡ không làm chóa mắt, và hình vẽ theo một hệ thống cổ truyền chánh tông tỷ mỷ trong từng chi tiết để đạt được những kết quả mong ước. Sự phức tạp của hình vẽ tượng trưng cho sự rắc rối lộn xộn của đời sống luân hồi; con đường đưa đến giải thoát và hình ảnh thuyết pháp, truyền đạo là cả một hệ thống hình học phân minh.

Ở trong trục bánh xe có vẽ một con gà, một con rắn và một con heo tượng trưng cho tham, sân, si. Con vật này cắn đuôi con kia và làm thành một con hình tròn vô tận. Vòng tròn xung quanh trục xe chia làm hai phần, đen và trắng, tượng trưng cho Karma hay nghiệp, một phần hướng thượng, đưa lên cõi trời, thiện đạo: Một phần hướng hạ, đưa xuống địa ngục, ác đạo. Những ai tạo các thiện nghiệp sẽ được đưa vào phần hình trắng phía trên, còn những người tạo nghiệp ác thời bị đưa vào phần đen ở dưới. Khoang giữa hai phần đen trắng và vành bánh xe được chia thành 6 phần. Phần trên, phía giữa (đã được nói đến) diễn tả những cõi hạnh phúc, thanh khiết của chư thiên sáng chói; phía tay trái cõi chư thiên là thế giới loài người của chúng ta; phía tay phải là hình ảnh của các A-tu-la dữ tợn, đang cố gắng cọng phá các vị thiên thần. Ba phần ở dưới, phần giữa ta những cảnh tra tấn khủng khiếp ở địa ngục một bên là lửa đỏ rực, một bên là dòng nước xoáy kinh khủng; phía tay mặt là những ngạ quỉ, với những cổ họng rất bé; phía trái tả cảnh giới khổ đau của súc sanh.

Cái vành xe chia thành 12 khoang diễn đạt lý Duyên khởi; một ngưòi đàn bà mù chỉ cho Vô minh (Avijjà); một người làm đồ gốm đang nhồi đất sét chi cho Hành (Sankhàra), một con vượn đang cầm cái ghế cái chậu chỉ cho Thức "Vinnàna": danh sắc (Nàmarùpa) là người trong một chiếc thuyền: một cái nhà với 6 cửa sổ là Lục nhập (Sàlàyàtana); một cặp trai gái ôm nhau chỉ cho Xúc (Phasso); Thọ (Vedana) là một người rút ra mũi tên đâm vào mắt: một kẻ nghiện rượu liên miên, chỉ cho Ái (Tanhà); Thủ (Upadana) là một con khỉ đang hái trái cây; một hình ảnh hành dâm là Sanh (Jàti); Lão (Jarà) là một người chống gậy; Tử (Maranam) là một số người đang mang thây chết, cũng vừa chỉ cho sự tiếp diễn của sự sống đưa đến một đời khác. Một con quái vật rùng rợn, Ma vương (Mara) đang cắn chặt toàn bánh xe trong răng nanh cuả nó và luôn luôn quay bánh xe ấy chạy tròn với móng vuốt của 2 tay và 2 chân. Phía mặt, góc bên trái đức Thích Ca đứng thẳng, cao xa, đưa tay chi Ma vương và bánh xe.

Nhiều bức họa (Tankhas) bao phủ các bức tường với những ác quỉ ghê gớm, khát máu, đần độn với những tiếng cười kinh khủng, chế nhạo và yêu quái, những vị tìm đạo giải thoát nhiệt thành thường dùng những bức họa tâm lý vũ trụ này; đối với những vị sư này tự ngã chỉ là sự đần độn như ma quái. Cả tiềm thức là một thự thể rộng lớn khó hiểu. Cả tiềm thức là một thực thể rộng lớn khó hiểu, chưa được khám phá, nguy hiểm. Thực thể này trở thành ý thức khi bị tác động. Các Tankhas là những công thức tâm lý cho người tu thiền quán tưởng, một phương tiện để nhận thức chứng ngộ và kiểm soát các sự phẩn nộ bùng phát dục tình. Các Tankhas khác trình bày hình người, tượng trưng cho Bá nhã Ba-la-mật-đa (Prajnàpàramita), đang múa cây gươm trí tuệ, chặt đứt vô minh, một trí tuệ đưa người đến bờ bên kia. Chính giữa điện thờ là hình ảnh đấng Ðại Từ bi Di-lặc (Maitreya), được cúng dường những Haddakhi (những khăn quàng trắng), các tua khăn đã nhầu úa.

Phải chăng những yếu điểm của phái Ðại thừa Kim Cang tương phản với giáo lý của phái Thượng tọa bộ mà buổi sáng và buổi chiều các đại đức Thái Lan đã tụng bằng tiếng Pali nói rõ sự vô ngã của 5 uẩn? Chính ở ngôi chùa Thái cũng vang dậy những bài kệ về lý 12 nhân duyên, diễn đạt không tánh của vạn vật.

Ðêm cuối cùng ở Bồ đề Ðạo-tràng, tại tháp Ðại Bồ-đề, gần những cột đá, chỗ đức Phật đi kinh hành, chúng tôi vái chào một vị Lạt-ma già những có vẻ mặt rất thông minh. Vị này đến với chúng tôi một cách nhún nhường và chúng tôi học được cách chào của các tu sĩ Tây tạng; người này đụng trán người kia. Vị Lạt-ma ấy tỏa ra một cảm tình nồng hậu đến nỗi chúng tôi cảm ngay là chúng tôi cùng họ là bạn tốt với nhau đã lâu, tuy mới gặp nhau lần đầu tiên, trước đây một phút thôi. Vị Rimpotche tiếp tục đi kinh hành; một lần nữa chúng tôi suy nghĩ đến lối kiến trúc của ngôi tháp Ðại Bồ đề; lối kiến trúc này đã biểu lộ nhựa sống của sự giác ngộ. Bên trong có rất nhiều những khám thờ và tượng Phật. Những vòm cầu đục trong đá với những đường nét giản dị nói lên ảnh hưởng cuả tiểu thừa. Ở đây hai vị Tỳ-kheo đang ngồi tu thiền thanh tịnh trang nghiêm. Ðàng kia vị Lạt ma Rimpotche Tây Tạng của chúng ta và một Ðại đức người Thái đã già, dễ thương, đã đi bộ trên con đường dài đằng đẵng từ Thái Lan đến Ấn Ðộ, chỉ với một bình bát để sinh sống không cần đụng đến một đồng tiền. Giống tình trạng của thời xưa, giặc cướp đã tấn công Ðại Ðức, Ðại đức đã trải qua biết bao gian lao nguy hiểm trong rừng rậm và núi sâu. Tuy vậy gương mặt của Ðại đức bao giờ cũng nở một nụ cười phóng khoáng cũng như nụ cười của vị Rimpotche, vị này rất có thể đã phải trải qua những nơi gian lao tương tự trên "nóc nhà tuyết phủ của thế giới".

"Có một con đường bằng đá, chỗ đó người có thể đánh đổi sự luân hồi hỗn loạn với hạnh phúc thanh tịnh vô biên".

Chúng tôi bắt đầu đi đến Ba-la-nại nhưng chúng tôi không thể nào quên được Bồ đề Ðạo-tràng, một tượng trưng phấn khởi của sự giác ngộ vô thượng, một sự kêu gọi toàn thể Phật tử đại đoàn kết, và hơn nữa một Ðại nguyện Bồ tát. Song song với cây Bồ Ðề là nụ cười của tượng Phật thếp vàng.

 

Phần lịch sử

Ðối với Phật tử, lịch sử của Bồ đề Ðạo tràng bắt đầu từ khi Thái Tử Tất Ðạt đa tu khổ hạnh tại Uruvela và sau khi đức Phật thành Ðạo dưới cây Bồ đề. Toàn thể Phật tử trên thế giới tự nhiên xem Bồ đề Ðạo tràng là một thành tích quan trọng bậc nhất. Và vì vậy trong suốt hơn 2500 năm Phật tử khắp các nước nô nức đến chiêm bai cùng sửa sang Bồ đề Ðạo tràng, mãi đến ngày nay cũng vậy.

Chính vua A Dục cũng đến chiêm bái chỗ này nhiều lần, và cuộc chiêm bái của Ngài được khắc vào đá kỷ niệm, hiện còn giữ tại Sanchi. Rất có thể chính vua A Dục đã lập ra ngôi tháp này nhưng tiếc thiếu bia ký để chứng thật. Có lẽ vì các vua sau Ngài cũng dựng lên tháp để kỷ niệm, thành thử công nghiệp của vua A Dục bị quên dần. Và cũng rất có thể đền, tháp dựng lên đã bị vua Sasanka phá huỷ. Vua này rất thù nghịch với Phật giáo.

Muốn hiểu lịch sử Bồ đề Ðạo tràng, cần phải tìm lại những tài liệu của ngài Pháp Hiển và ngài Huyền Trang. Dựa theo tài liệu ấy chúng ta có thể đoán chắc là ngôi tháp hiện tại được lập vào khoảng thế kỷ thứ hai sau Tây lịch.

Ngài Pháp Hiển đến thăm Bồ đề Ðạo tràng vào năm 409 sau Tây lịch, viết: "Tại chỗ đức Phật thành đạo có 3 ngôi tháp và nhiều vị sư tu hành. Gia đình dân chúng xung quanh cúng dường các thức ăn, mặc, rất đầy đủ, không thiếu thứ gì. Các vị sư giữ giới luật rất thanh tịnh trang nghiêm". (Ký sự Fa-hsien của James Legge trang 89, 90).

Ngài Huyền Trang chiêm bái Bồ đề Ðạo tràng vào năm 637, viết rằng về phía Ðông cây Bồ đề, có một tháp cao chừng 52 thước, nền tháp độ 20 thước vuông, tường bằng gạch xanh, trét vôi chu nam: các khám tượng của mỗi tầng đều thếp vàng. Bốn mặt tường đều đầy những tượng khắc rất đẹp; chỗ này là hình ảnh những chuỗi ngọc dài, chỗ kia những vị tiên. Ngọn tháp là một trái Amlak bằng đồng thếp vàng. Mặt phía đông, có một tòa lầu 3 tầng và các mái hiên, cột trụ và cột nhà cùng cửa lớn và cửa sổ đều được trang hoàng với những ảnh tưởng bằng vàng hay bạc, với ngọc ngà đính vào tượng và các kẽ hở. Những phòng âm u và những dãy hành lang bí mật đều có cửa mở vào trong những tầng lầu. Về phía mặt và phía trái đều có tượng đức Bồ tát Quan thế âm và tượng đức Bồ Tát Di-lặc. Nhưng tượng này đều bằng bạc và cao độ 3 thước tây. Tại chỗ tháp hiện tại, vua A Dục ban đầu có lập một ngôi chùa nhỏ, về sau có một người Bà-la-môn lập lại một ngôi khác to rộng hơn nhiều (Beal's Hsuan-Tsang. Tập 11 trang 118, 119).

Theo ông Alexander Cunningham, ngọn tháp mà ngài Huyền Trang miêu tả chính là ngọn tháp hiện tại, không còn nghi ngờ gì nữa, dầu có sửa chữa và thay đổi. (Cunningham's Maha Bodhi, trang 18).

Dầu chúng ta không tìm thấy một lịch sử liên tục về Bồ đề Ðạo tràng trong thời cổ nhưng những tài liệu tìm được cũng chứng tỏ ngôi tháp đó là của Phật tử xây dựng, cho đến khi giặc Hồi giáo chiếm cứ vào khoảng thế kỷ thứ 19 sau T.L. Và tất cả những sự sửa sang thay đổi, không những chỉ do Phật tử Ấn Ðộ đảm nhận, mà Phật tử Tích Lan, Miến điện và các nước khác cũng có dự phần. Như vậy, Bồ đề Ðạo tràng không phải là của riêng một tôn phái nào mà chính là thánh tích công cộng của Phật tử thế giới.

Theo lịch sử, Tích Lan có liên quan với Bồ đề Ðạo tràng từ khi vua A Dục cử đại đức Sanghamitta qua Tích Lan với một nhánh Bồ đề. Và vua Meghavana có lập một ngôi chùa tại Bồ đề Ðạo tràng vào năm 330 để các vị tu hành Tích Lan và khách thập phương đến chiêm bai. Vào khoảng năm 1079 Phật tử Miến Ðiện sửa sang lại cả ngôi tháp và dãy tường bao bọc chung quanh. Một vị Tỳ kheo tên là Dham Marakkhita vào năm 1100-1200 có trùng tu lại và phí tổn đều do vua Asokamala, vua xứ Sapadalaksha chịu. Ðến năm 1298, Phật tử Miến điện lại trùng tu chỗ ấy một lần nữa.

Một bia đề năm 1202 được tìm thấy tại Janibigha ở Bihar có chép một làng được dành riêng để tu bổ và cúng lễ Kim Cang tòa tại Bồ đề Ðạo tràng và làng ấy do vị Tỳ kheo Mangalaswami người Tích Lan quản lý.

Những tài liệu trên chứng tỏ ít nhất cho đến thể kỷ thứ 12 sau Tây lịch, Bồ đề Ðạo tràng còn thuộc về hoặc Phật tử Tích Lan, hoặc Phật Tử Ấn độ và chỉ khi quân Hồi giáo đến chiếm cứ, Bồ đề Ðạo tràng mới bị bỏ hoang, không người chăm sóc cho đến khi ông Mahant đến tại chỗ này.

Vào khoảng năm 1590 một vị tu hanh người Ấn tên Gosin Ghamandi Gir đến tại làng Buddhagaya. Vì mến cảnh thanh tịnh ông đã quyết định chọn chỗ ấy làm nơi trú ẩn lâu dài. Ông dựng một ngôi đền nhỏ gần nơi tháp chính và tụ họp được một số đệ tử. Theo thời gian, ngôi đền ấy càng được hưng thịnh. Trải qua một vài trăm năm trở thành Math (đền nhỏ). Ông Mahant hiện tại là người kế vị thứ 13 từ ông Ghamandi Gir. Chính trong đời ông Mahani Lal Gir mà Math của ông Mahant được mở rộng thêm ra. Làng Mittipur Taradih đều được vua Hồi giáo ở Delhi cho ông ta. Nhưng nên để ý rằng không gì làm chứng là ông Mahant có quyền sở hữu về ngôi tháp, vì khi ấy ngôi tháp bị đổ nát, không ai sửa chữa lại.

Ðến năm 1811, quốc vương Miến Ðiện đến chiêm bái và sau vua Ava cứ hai đại biểu đến tìm lại Bồ đề Ðạo tràng cùng các thánh tích kế cận, nhờ các kinh sách Phật giáo.

Bác sĩ Buchannan Hamilton nha khoa có chức danh đến thăm Buddhagaya vào năm 1812. Ông thấy ngôi tháp chính hoàn toàn hoang phế và rõ ràng ông Mahant không để ý gì đến tháp Maha Bodhi.

Ðến năm 1833, vị Ðại sứ Miến Ðiện tên là Mengy Maha Chesu cùng với tùy tùng đến thăm Bồ đề Ðạo tràng. Ông tìm được một bia khắc tiếng Pali bằng chữ Miến Ðiện tại chỗ ấy. Dưới đây là bản dịch: "Ðây là một trong số 84.000 ngôi tháp do vua A Dục, vua cõi Diêm Phù Ðề dựng lên để kỷ niệm nơi Ngài thành đạo sau khi đã dùng sữa và mật ong vào khoảng 218 năm sau khi Ngài nhập Niết Bàn (326 trước T.L)". Theo thời gian ngôi tháp đó bị đổ nát và được một vị tu sĩ tên là Nai-kamahanta trùng tu, rồi bị đổ nát, rồi lại được vua Sadomang trùng tu. Sau một thời gian cũng lại bị đổ nát cho đến khi vua Sewpyu Sakhetaramangyi cử vị sư phụ của mình tên là Dhammarajagune quản đốc công việc tu bổ ngôi tháp ấy. Vị này cùng với đệ tử tên là Kasyapa bắt đầu trùng tu ngôi tháp, nhưng không thể hoàn thành, dầu được nhà vua giúp đỡ rất nhiều. Về sau đại đức Varadasi Naik yêu cầu vua tự đứng lên quản đốc. Vua bằng lòng và cử Thái Tử Pyusa Kheng và vị Bộ Trưởng tên Ratha đến trùng tu. Như vậy, ngôi tháp được sửa lại lần thứ tư, và đến ngày thứ sáu tháng 10 lịch Pyadola, năm thứ 667 đời vua Sakharaja (1306 sau T.L) thì hoàn thành. Lễ khánh thành cử hành rất long trọng, trong lễ có cúng dường thức ăn, hương đèn, danh mộc; Kalpa Virikha và người nghèo cũng được bố thí như con vua vậy. Như vậy lễ khánh thành được cử hành với nhiều công tác từ thiện. Công đức ấy là những phần thưởng vĩnh viễn cho những vị trùng tu. Họ sẽ được sống trong danh vọng an hưởng Niết bàn tịnh lạc và trở thành A-la-hán trong đời Ðức Phật vị lai, đức Di lặc.

Ðến năm 1874, một vua Miến Ðiện cử một phái đoàn đến yết kiến chánh phủ Ấn với nhiều tặng vật quí giá cho cây Bồ đề và yêu cầu Chánh phủ giúp đỡ cho những vị đại biểu thay mặt chiêm bái thánh tích này. Vua cũng nêu rõ ý muốn sửa sang lại chung quanh cây Bồ đề và cử đại biểu ở luôn gần cây ấy. Vua Miến Ðiện cũng mong mỗi năm, một hay hai lần, dân chúng Miến Ðiện được phép đến cúng dường cây Bồ đề. Lời yêu cầu của vua Miến Ðiện được gởi đến cho ông Mahant và ông này chấp thuận. Liền sau đó, các đại biểu đến chiêm bái và tường thuật cho vua Miến Ðiện. Giá tiền và bảo vật bằng vàng, bạc, trị giá đến 60.000Rs (độ 900.000 đồng V.N). Vua Miến Ðiện bảo ông Mahant phải dựng một ngôi tháp Paribhoga để cất các vật châu báu ấy, do vua chịu phí tổn, nhưng ông Mahant lại lấy làm của riêng.

Sau khi phái đoàn về đến Miến Ðiện, bộ Ngoại giao Miến Ðiện có gởi cho ông Toàn quyền vào ngày 18 tháng 8 năm 1875 yêu cầu được phép sửa sang chung quanh cây Bồ đề, trùng tu ngôi tháp do vua A Dục lập nên, xây bức tường để đỡ một nhánh Bồ Ðề, phía tay mặt, sửa tất cả những đền đài đổ nát trong phạm vi cây Bồ đề, lập gần câ Bồ Ðề một ngôi chùa có thể trú được độ 20 vị tu hành., để hành lễ như thắp đèn, cúng dường hoa và nước, xây một bức tường bao chung quanh ngôi chùa ấy, thuê người ở tại chỗ để giữ gìn và cung cấp vật dụng cho chùa; lập một tháp Paribhoga để cất những vật do vua cúng dường. Ông Mahant thỏa thuận để công việc trùng tu được tiến hành, và vua Miến Ðiện đã chi phí một số tiền khá lớn trong việc này. Nhưng công việc làm không được tiến hành một cách khả quan. Sau Chính phủ Ấn phải cử ông Alexander Cunningham và Bác sĩ Rajentralal Mitra quản đốc việc tu bổ. Trong khi ấy, chiến tranh giữa nước Anh và Miến Ðiện bùng nổ. Do đó, việc trùng tu ngôi tháp đáng lý dưới quyền quản đốc của đại biểu vua Miến Ðiện lại đặt dưới quyền ông Mahant và Chính Phủ Ấn.

Chính phủ tiếp tục sửa chữa ngôi tháp chi phí đến 100.000 Rs (độ 1.500.000 đồng VN). Tất cả được sửa chữa xong. Chính phủ cử ông Maddox quản đốc, một tháng phải đến thăm một lần, để xem những gì ngôi tháp ấy cho Phật tử. Ông cũng viết thư cho các nước Phật giáo, yêu cầu để tâm đến vấn đề này. Lời yêu gọi của ông không được một ai hưởng ứng, cho đến khi Ngài Anagrika Dharmapala tự đứng lên đảm nhận trọng trách ấy vào năm 1891. Thật là một ngày lịch sử khi ngài Dharmapala đến tại Bồ đề Ðạo tràng và đảnh lễ cây Bồ đề tôn quí, vào ngày 21 tháng 1 năm 1891. Ngài Dharmaplala chép trong nhật ký như sau: "Tôi đến với ông Durga Babu và Bác sĩ Chetteijee tại Budhagaya, nơi tôn quí nhất của Phật tử. Sau khi đi độ 6 dặm Anh, chúng tôi đến tại thánh tích. Trong khoảng một dặm Anh, chúng tôi có thể thấy những tượng của đức Từ phụ chúng ta lăn lóc chỗ này chỗ kia. Tại ngôi đền của ông Mahant hai bên cửa có những tượng Thế Tôn đang thiền định hay đang thuyết pháp. Ôi! Tôn nghiêm làm sao ngôi tháp quí báu này! . Ðức Thế Tôn ngồi trên pháp tòa và sự tôn nghiêm tỏa khắp làm cho đệ tử thành phát khóc. Ôi sung sướng biết bao! Khi vầng trán của tôi chạm đến Kim Cang tòa, một ý niệm phát ra rồi đánh mạnh vào tâm trí tôi. Ý niệm ấy bảo tôi dừng lại đây và gìn giữ Thánh tích tôn nghiêm này, tôn nghiêm đến nỗi không gì trên đời có thể sánh bằng, vì đây là chỗ mà dưới gốc Bồ đề Thái tử Tất-đạt-đa đã giác ngộ. Tôi lượm một vài ngọn lá và một ngọn cỏ hình dáng rất đặc biệt. Khi một ý niệm đột nhiên đến với tôi, tôi hỏi vị tu sĩ người Nhật tên Kozen có bằng lòng ở lại đây với chúng tôi không? Vị này hoan hỉ bằng lòng. Và hơn thế nữa, vị này cũng nghĩ như tôi. Cả hai chúng tôi thề một cách trịnh trọng quyết ở lại đây cho đến khi một vài tu sĩ đến và quản đốc Thánh tích này" (Ngày 22 tháng 1 năm 1891).

Sau khi đi chiêm bái về đến Tích Lan, ngài Dharmaphala tổ chức một cuộc họp công cộng do ngài Sumangala làm chủ tọa vào ngày 31 tháng 6 năm 1891. Trong buổi họp này, hội Maha Bồ đề được chánh thức thành lập với mục đích lấy lại Bồ đề Ðạo tràng và truyền bá chánh pháp tại Ấn độ. Ðại đức Samangala được cử làm Chánh hội trường và ngài Dharmapala, làm Chánh thư ký.

Ðến tháng 7 năm 1891, ngài đến tại Bồ đề Ðạo tràng với 4 vị tu hành và để 4 vị này ở lại. Ông Hemnarayan Gir, vị Mahant lúc bấy giờ, có cảm tình với công việc của ngài Dharmapala và cầu chúc công việc được sớm thành tựu. Về sau, vị này miễn cưỡng cho phép tạm dùng một mẫu đất nhỏ để dựng tại một nhà tạm trú cho những Phật Tử chiêm bái. Không may vị Mahant này từ trần và ông Krishna Dalyal Gir lên thế, vào ngày 4 tháng 2 năm 1892. Khi vị này lên chức Mahant, các nỗi khó khăn bắt đầu xảy ra. Vì vị này không có cảm tình với công việc của ngài Dharmapala, và đã trở thành một địch thủ.

Sau khi dự hội nghị tôn giáo ở Chicago về, vào năm 1893, Ðại đức Dharmapala đem từ Nhật Bổn về một ngôi tượng Phật rất đẹp. Tượng này, các Phật tử Nhật Bản muốn ngài đem thờ tại tầng trên ngôi tháp ở Bồ đề Ðạo tràng. Ngày 25 tháng 2 năm 1895, ngài Dharmapala thân hành thỉnh bức tượng ấy lên trên lầu. Sau khi an vị tôn tượng xong, ngài đảnh lễ và ngồi quán tưởng. Liền khi ấy, những người của ông Mahant đến và quăng bức tượng ấy xuống. Một số người cùng đi với ngài Dharmapala đang lễ Phật cũng bị đánh đập. Một người bị thương khá nặng. Do cuộc hành hung này, mà xảy ra một vụ kiện giữa ngài Dharmapala và ông Mahant. Tại tòa án đệ nhất và nhị cấp, ngài Dharmapala thắng kiện, nhưng đến tòa thượng thẩm thì ông Mahant lại thắng. Ở đây, cũng cần để ý rằng các quan tòa đều biết ngôi tháp ấy hoàn toàn thuộc về Phật tử. Nhưng vì vụ kiện này thuộc về hình, nên không bàn đến ngôi tháp thuộc sở hữu của ai. Một quan tòa trong khi biện luận ở tòa đã nói: a) Ngôi tháp ấy thường xuyên và tiếp tục được các Phật tử đến chiêm bái và hành lễ. b) Không có một hình thức lễ bái nào của Ấn Ðộ giáo được cử hành trong ngôi tháp ấy, và không có gì để chứng tỏ những lễ nghi Ấn Ðộ giáo có cử hành tại đó, trải qua nhiều thế kỷ, từ đời vua Sankara. Chỉ từ tháng 7 năm ngoái, mới có sự cố gắng hành lễ theo nghi thức Ấn độ giáo trước hình ảnh đức Phật đặt tại khám thờ ở tầng dưới. Những cuộc hành lễ này rõ ràng là do ông Mahant và các đệ tử cuả ông ta xúi giục. Bắt đầu từ đó, như người quản đốc ngôi tháp ấy đã khai, một vị tu sĩ Bà-la-môn dưọc dùng để thắp đèn trước bức tượng, đánh chuông, lau ngôi tượng và chỗ thờ tự, đánh dấu Tilak trên trán, đeo một chiếc áo trên mình tượng và trang điểm bông hoa trên đảnh. Vị quản đốc cũng là một người Bà La Môn thuộc giai cấp cao nhất, khai rằng những nghi lễ ấy chưa phải thật nghi lễ Ấn Ðộ giáo. Nên để ý rằng, dầu những nghi lễ này được cử hành nhưng ông Mahant hay đệ tử của ông ta không có một ai đến hành lễ trong tháp ấy. Tất cả nghi lễ Ấn Ðộ giáo chỉ bắt đầu từ năm ngoái, sau khi ngài Dharmapala đặt tượng Phật Nhật Bổn ở tầng lầu trên của ngôi tháp, và sau khi thẩm vấn kỹ các sự kiện, chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa mà không quyết đoán rằng: những nghi lễ ở Ấn Ðộ giáo được cử hành ở đây chỉ là một âm mưu để ông Mahant có quyền xen dự vào những hành động của hàng Phật tử đối với ngôi tháp và để tăng cường quyền sở hữu cuả ông ấy để hưởng những đồ vật cúng dường tại đó.

Vị quan tòa thượng thẩm ở Calcutta, sau khi nghe lời khai, có tuyên bố: "Chúng ta có thể công nhận rằng tháp Ma-ha Bồ đề là một ngôi tháp cổ kính rất tôn quí đối với Phật tử. Nó chính là một ngôi tháp Phật. Và dầu ngôi tháp thuộc sở hữu của các ông Mahant, ngôi tháp ấy cũng chưa được biến thành một ngôi đền Ấn Ðộ giáo, nghĩa là có những tượng thần Ấn Ðộ giáo trong ấy và nghi lễ Ấn độ giáo chánh tông được cử hành tại chỗ ấy. Từ trước đến nay các Phật tử chiêm bái đều có quyền tự do đến thăm và lễ bái".

Dầu ngài Dharmapala thua kiện nhưng sự thua kiện đó đã làm cho Phật tử thế giới hiểu rõ được tình trạng nguy khốn của Bồ đề Ðạo tràng, nơi tôn quí nhất của Phật tử. Bản án được đăng trên tất cả báo chí và vấn đề Bồ đề Ðạo tràng trở thành một vấn đề được bàn tán ráo riết khắp Ấn Ðộ, Miến Ðiện và các nước khác. Ngài Dharmapala không có dư tiền để đưa vấn đề này lên Cơ mật viện (Private Council).

Ðến năm 1902, một vị tu sĩ Nhật Bổn tên Okakura đến tại Bồ đề Ðạo tràng và bắt đầu giao thiệp với ông Mahant để lập một tu viện đại thừa độc lập tại đó. Chính phủ Ấn Ðộ sợ có ẩn ý chính trị nên công việc không được thành tựu. Dự định của vị sư Nhật đem lại kết quả tai hại cho công việc của ngài Dharmapala, vì Chính phủ Ấn trước đây có cảm tình với công việc của ngài nay sợ những sự khó khăn do Nhật Bổn can thiệp gây nên, và trở thành đối lập, chống lại Phật tử. Nhận thấy chính phủ Ấn đã thay đổi thái đô, ông Mahant mạnh dạn làm đơn kiện ngài Dharmapala vào năm 1906 để trục xuất ngài ra khỏi pháp xá Miến Ðiện mà từ trước đến nay ngài được yên ổn. Ông Mahant lại được kiện một lần nữa và như vậy là các Phật tử bị trục xuất hẳn ra khỏi Bồ đề Ðạo tràng, nơi tôn quí nhất của họ.

Ngài Dharmapala tuy bị thất bại nhưng không thối chí, ngài liền dùng báo chí làm phương tiện tuyên truyền để kêu gọi công chúng can thiệp. Nhờ vậy, những người trí thức tán thành công việc của Ngài Dharmapala và hết sức giúp đỡ cho Phật tử lấy lại Bồ đề Ðạo tràng.

Vấn đề Bồ đề Ðạo tràng được đem ra bàn cãi tại Ðại hội Quốc gia Ấn Ðộ (Indian National Congress) họp tại Gaya, Belgaon, Coconada và các chỗ khác. Vấn đề cũng được đem ra thảo luận tại hội nghị Hindumaha Sabha họp tại Muzaffapur, hội nghị này ngài Dharmapala có đến dự cùng các Phật tử khác. Ðảng Quốc Ðại Ấn Ðộ cử một ban do bác sĩ Rajendra Prasad làm chủ tịch để xét vấn đề này. Sau khi bàn xét kỹ càng, ban này thảo một bản án rất tinh tường và đề nghị lập một hội đồng gồm các Phật tử và Ấn Ðộ giáo để quản đốc ngôi tháp ấy. Hội nghị Maha Sabha họp tại Cawnpore đề cử một ban khác do ông Bha Paramananda giữ ghế chủ tịch. Ban này cũng nghiên cứu vấn đề ấy rất kỹ lưỡng và cũng có một đề nghị tương tự như ban trước. Các đề nghị đều không được thi hành vì ông Mahant phản đối.

Sau khi Ấn Ðộ được độc lập, vấn đề này được đem ra bàn cãi và cuối cùng Chính Phủ Ấn Ðộ đứng ra can thiệp và giao quyền quản đốc ngôi tháp Bồ đề Ðạo tràng cho một ban gồm 11 người, năm người Phật tử và năm người Ấn Ðộ giáo trong này có ông Mahant và một vị chủ tịch do Chính phủ Ấn đề cử để quản đốc ngôi tháp. Ông Mahant không có quyền sở hữu gì nữa, chỉ là một hội viên trong ấy thôi. Từ khi Bồ đề Ðạo tràng được giao lại cho ban ấy quản đốc thời mọi việc tiến hành thuận tiện cho Phật tử. Không những cử người tu bổ và coi sóc, Chính phủ Ấn còn khuyến khích các nước Phật giáo đến lập chùa xung quanh ngôi tháp ấy đề tiện cho khách thập phương đến chiêm bái. Hiện có một ngôi chùa Miến Ðiện, một pháp xá Tây Tạng, một Hội quán của hội Ma-ha Bồ đề, một ngôi chùa Trung Hoa tên là Trung Hoa Ðại giác tự; chính phủ Thái Lan hiện đã xây cất xong một ngôi chùa rất lớn và cử nhiều vị sư Thái qua chăm sóc. Tất cả các nước Phật giáo đều đang dự trù cất chùa để tiêu biểu cho nền Phật giáo của nước mình. Bồ đề Ðạo tràng trong tương lai rất gần sẽ là trung tâm của Phật giáo quốc tế. Ấy là sự hy vọng của toàn thể Phật tử trên thế giới khi đến chiêm bái tại Thánh tích này.

 

Lộc Uyển (Sarnath)

"Núi dài sông rộng trời cao,
Thuyền tôi vượt sóng tiến vào bờ xa".
(Qua sông Hằng của Phật Thích Ca).

Sau hai ngày chiêm bái các Phật tích quan trọng nơi đức Thế Tôn hành đạo, chúng tôi rời khỏi Bồ đề Ðạo tràng (Buddhagaya) lúc 5 giờ chiều trong bầu không khí thân mật và đoàn kết giữa các đại đức Thái Lan và chúng tôi.

Trực chỉ đến thành phố Gaya trong lúc trời vừa tối sẫm, chúng tôi cảm thấy thiếu thốn ánh sáng và bị mất đi những vật gì quý báu nhất của đời tu sĩ chúng tôi. Hình ảnh Bồ đề Ðạo tràng, sông Ni-liên-thiền (Néranjara), Khổ hạnh lâm (Dukkarakrya) và những mái chùa hiền dịu cứ hiện rồi ẩn, ẩn rồi hiện trong tâm trí chúng tôi. Tôi thầm cầu nguyện "Kính lạy đức Thế Tôn, đã chứng kiến các cảnh tu hành đầy gian khổ của Ngài, chúng tôi còn một trong những chúng sanh được thấm nhuần đạo lý mà Ngài tìm được dưới cội Bồ đề, xin nguyện sẽ noi gương sáng và thực hành đạo pháp cuả Ngài, trọn đời hiến thân cho đạo để phụng sự Chánh pháp và phục vụ chúng sanh. Xin Thế Tôn từ bi chứng giám".

Trên đoạn đường này, có thêm một vị sư Cam Bốt và hai đạo hữu cư sĩ, cũng đi từ Bồ đề Ðạo tràng đến nhà ga, trên những chiếc xe Rikhsoh (như xe lôi bên ta). Ðêm nay chúng tôi phải ở tại ga để chờ tàu đi Sarnath.

Vào lúc 5 giờ sáng, chúng tôi tất cả không ai gọi ai đồng thức dậy. Thượng tọa Minh Châu đi lấy vé tàu, còn chúng tôi chuẩn bị hành lý. Rất tiếc là thầy Ghosànanda không thể tiếp tục đi với chúng tôi! Ðoàn chỉ còn Thượng tọa Minh Châu, thầy Thiện Châu, thầy Pàsàdika và chúng tôi. Ðúng 7 giờ 20 phút, tàu bắt đầu chuyển bánh. Lòng chúng tôi hòa vui với tiếng chuyển động khi nhặt khi khoan của tàu.

Ánh bình minh xuất hiện, bầu trời trở nên quang đãng, cảnh vật xinh tươi. Con tàu mang chúng tôi lướt qua hết cánh đồng xanh tươi bát ngát này, đến làng xóm cũ kỹ xa xưa nọ. Cảnh lạ cứ tiếp diễn mãi trước đôi mắt đăm đăm nhìn của chúng tôi. Ðây là con sông Hằng (Gange), một con sông lịch sử, cát trắng mịn; Phật tử Việt Nam không ai mà không nghe đến tên con sông này qua các kinh điển. Khi Phật thuyết pháp, Phật thường đem cát sông Hằng thí dụ cho con số không thể đếm được, như nói hằng hà sa số thế giới, hằng hà sa số chư Phật.

Tàu chạy qua nhiều thành phố lớn có, nhỏ có, cũ có, mới có... Kìa là Kàsi, một thành phố vĩ đại gần thành Ba-la-nại rồi đến ga Vàrànasi. Chúng tôi xuống ga này và nghỉ lại đây để tắm rửa, rồi sang xe Rikhsoh đi thẳng về Sarnath cách ga độ 10 cây số. Hai bên vệ đường cây cối um tùm mát mẻ, nhà cửa đồ sộ nguy nga. Thượng tọa Minh Châu nói: "Ðây là Sarnath, nơi đức Phật chuyển Pháp luân đầu tiên và độ 5 vị Tỳ kheo".

Nhìn kỹ, chúng tôi thấy nhiều ngôi chùa đồ sộ, nhiều di tích lịch sử vĩ đại... Sarnath (Lộc vương) là tên mới thay cho Migadàya (Lộc Uyển) hay Rishipatana. Ðức Phật chuyển Pháp luân lần đầu tiên tại đây. Do đó, Sarnath là thánh tích quan trọng bậc nhì sau Buddhagaya. Sarnath và Buddhagava được xem là bất động xứ. (Acalaceliyas) vì tất cả các đức Phật đều dùng hai chỗ này, một chỗ để thành đạo, một để thuyết pháp lần đầu tiên. Dưới đây là những nơi quan trọng tại Sarnath:

1. Mùlàgandhakuti Vihara.
2. Tháp Dhamek.
3. Khu vực được đào.
4. Viện Bảo tàng.
5. Thư viện Mùlàgandhakuti Vihara.
6. Trường học và nhà thương thí của Hội Ma-ha Bồ đề.
7. Tháp Choukhanda.
8. Arya Dharma Sangha Dhàmasàlà.

 

1. Mùlàgandhakuti Vihara

Sau khi sắp đặt chỗ ở tại khách xá xong, chúng tôi liền đến viếng chùa Mulàgandhakuti. Bước đến cổng chùa là nhìn thấy hình pháp luân hai bên trụ ngõ. Tôi nhớ lại lời đức Phật dạy trong các kinh: "Pháp luân thường chuyển huệ tâm khai". Thật vậy, chỗ nào giáo pháp được truyền ba thì chỗ ấy chúng sanh được mở mang trí huệ và tâm tính thuần hậu. Ði sâu vào là một ngôi chùa mới, được dựng vào năm 1931 do ngài Dharmapala và đệ tử của ngài. Ðây là một thánh tích cao quí trang nghiêm nhất cuả ngài Dharmapala đã nhiều năm cố gắng phục hưng Phật giáo tại Ấn độ.

Tiến vào chánh điện, chúng tôi gặp 3 vị sư Cam Bốt cũng đi chiêm bái. Hai bên chào hỏi nhau rất niềm nở và thân mật. Xung quanh chúng tôi là du khách Âu, Mỹ, Ấn v.v... tấp nập ra vào chiêm bái và viếng cảnh.

Lên điện Phật, theo thường lệ, chúng tôi dâng hương thắp đèn, lễ bái tụng niệm và nhất tâm nguyện cho Phật tử Việt Nam tu học tinh tấn và pháp giới chúng sanh đều hướng về đạo giải thoát. Sau đó quan sát kỹ, chúng tôi biết rõ ngôi chùa làm bằng đá Chunar. Tháp chùa làm theo kiểu Buddhagaya, thêm một căn dài với một dãy cột từ cửa bước vào. Trước điện Phật có một quả hồng chung rất lớn thếp vàng, do hội Nhật Bổn tặng trên tường phía trái và mặt có bảng đá cẩm thạch ghi tên những vị thí chủ cúng tiền xây dựng ngôi chùa. Ở trong điện Phật rất giản dị, không trang hoàng rườm rà; chỉ có một tượng Phật chính giữa tạc theo kiểu tưọng chuyển pháp luân lại Bảo tàng viện. Trên tường là những bức tranh diễn tả đời sống Ðức Phật do một họa sĩ Nhật, ông Kosetsunosu vẽ theo các tượng vẽ ở động Ajanta, phí tổn đều do ông B.L. Broughton, nguyên Hội trưởng Hội Maha Bồ đề ở Anh quốc chịu. Trong chùa có thờ Xá Lợi của đức Phật. Chính phủ Ấn có chuyển tặng cho chùa những Xá lợi tìm thấy ở Taxila, Nagarjuni Konda. Tại đây, hằng năm vào ngày khánh thành ngôi chùa, Xá lợi đức Phật được rước qua những con đường chánh tại Sarnath. Những đám rước này gồn có những đức Phật tử các nước Ấn Ðộ, Tích Lan, Miến Ðiện, Trung Hoa, Tây Tạng, Nhật Bổn, Triều Tiên, Thái Lan cho đến các nước Âu Mỹ cũng đến tham dự.

Trong những ngày ở tại Sarnath, sáng nào chúng tôi cũng đến lễ Phật tại ngôi chùa này, vì chùa không xa chỗ chúng tôi ở lắm, và rất mát mẻ, thanh tịnh.

Viếng chùa, lễ Phật cầu nguyện xong, chúng tôi đến lễ tháp Dhamek trong phạm vi hoa viên của chùa.

 

2. Tháp Dhamek

Dhamek là chữ viết tắt của chữ Dhama Mukha, nghĩa là suy tưởng Chánh pháp. Không hiểu người xưa xây dựng ngôi tháp này với mục đích gì? Có thuyết nói chỗ này đức Phật phú chúc đức Di Lặc sau này sẽ thành Phật. Ngọn tháp cao độ 32 thước. Phần dưới đều làm bằng những tấm đá chạm trổ rất đẹp. Phần lớn là hình chữ Vạn vẽ theo nhiều kiểu và song song với những hình hoa sen. Tháp có 4 khám thờ, xưa có nhiều tượng nhưng nay không còn nữa. Những tượng bằng vàng ngài Huyền Trang thấy được, chắc đã bị mất cắp rồi. Tháp này bị đục thủng nhiều lỗ và đá quí đã bị lấy ra. Những lỗ này su Viện Bác cổ lấp lại bằng những gạch đá thường. Có một bia ký chứng tỏ vào thế kỷ thứ tư sau T.L., Nhứt thế hữu bộ (Sarvastivàdà) thịnh hành ở Bốn Chiếu, trụ trì chùa này. Chúng tôi tất cả vào phòng khách, hai bên chào mừng vấn an xong. Thượng tọa Minh Châu hỏi qua sự kiến tạo ngôi chùa và cách hành đạo của các Ðại đức ở đây. "Nhờ đâu mà ngôi chùa đuợc kiến tạo đồ sộ như thế này?"

Ðại đức trụ trì hoan hỉ đáp:

- Phần lớn là nhờ các nhà đạo tâm ở Singapore, phần nhỏ do thiện tín ở đây cúng dường.

- Ngài ở đây bao nhiêu năm?

- 30 năm rồi.

- Ngôi chùa làm xong tốn độ bao nhiêu?

- Ðộ 40.000 RS (độ 6 triệu bạc Việt Nam).

- Có bao nhiêu đại đức thường trú ở đây?

- Thường trú chỉ có năm vị.

- Ðược bao nhiêu tín đồ quy y ở ngôi chùa này?

- Người Trung Hoa rải rác khắp Ấn Ðộ, còn người Ấn thì được vài ba gia tộc, độ 600 người tất cả.

- Công việc hoằng pháp ở đây như thế nào?

- Thỉnh thoảng có giảng kinh thuyết pháp, còn hằng ngày cho lo trì tụng, lễ bái, cúng dường...

Ðại đức trụ trì thân mật trao tặng cho chúng tôi mỗi người một quyển kinh Di Giáo (Hán, Anh đối chiếu) và tượng Phật Di Ðà phóng quang, Quan Âm, Thế Chí. Ðáp lại tấm thạnh tình ấy, chúng tôi có tặng vài ảnh chùa Việt Nam để lưu lại một kỷ niệm sâu sắc và lâu bền. Chúng tôi cáo từ ra về, Ðại đức trụ trì tiển ra tận cổng chùa.

Trên đường đi về khách xá, chúng tôi suy nghĩ bàn tán rằng, ở các Phật tích lớn như thế này đều có chùa đồ sộ của Phật giáo các nước. Xem qua ngó lại, chưa hề thấy ngôi chùa Việt Nam nào được dựng lập nơi Phật địa. Thật là buồn tủi! Không nói ai cũng biết rằng Phật giáo đã sống với dân tộc Việt Nam ngót 1.700 năm lịch sử.

Sáng ngày sau, chúng tôi cũng đến chùa Mulàgandhakuti rất sớm để lễ Phật và cầu nguyện, tọa thiền. Suốt ngày chúng tôi tiếp tục chiêm bái nhiều nơi khác.

Mặc dầu rất nhiều lần bị Hồi Giáo tàn phá, nhưng những Phật tích vẫn còn và còn một cách đầy đủ vết tích của ngàn xưa. Chúng tôi đến viếng những tàn tích bị Hồi Giáo phá hoại thấy mà xót dạ đau lòng.

 

3. Khu vực được đào bới để khảo cổ

a. Tịnh xá Kittoe. Từ Viện Bảo tàng đi về phía bắc, chúng tôi đến khu vực được đào bới. Trước hết chúng tôi thấy Tịnh xá Kittoe. Sở dĩ ngôi Tịnh xá này mang tên Kittoe là vì ông Kittoe đã đốc xuất đào bới tại Sarnath từ năm 1934 đến năm 1937. Chỉ nền của Tịnh xá là còn nguyên vẹn mỗi bề dài đến 33 thước, và có tất cả 28 tăng phòng. Tịnh xá này chắc chắn đã bị thiêu hủy, vì có nhiều bánh, gạo hoặc cơm bị cháy được đào thấy tại chỗ này, cái giếng được thấy ở giữa sân chính là cái giếng của Tịnh Xá.

b. Tháp Sri Dharmaràjikà. Ðây chỉ là một mô đất tròn với hồ xung quanh. Tháp này trước kia rất lớn, bằng tháp Dhamek, nhưng bị phá nát (nguyên do sẽ nói sau). Ngài Pháp Hiển vào thế kỷ thứ năm có đến thăm Tháp này và để lại ký sự chứng minh. Vào năm 1794, trước khi Viện Bác cổ được thành lập, ông Jagat Singh, Bộ trưởng của vua Chet Singh ở Ba-la-nại, vì thiếu vật liệu xây dựng thành phố Jagatguni ở Ba-la-nại, đã sai người đến chở gạch và đá ở đây, trong khi đào đá và gạch, ông tìm thấy một cái hộp bằng đá trong đó có một hộp bằng cẩm thạch đựng "Tro" chắc chắn là Xá Lợi đức Phật hay một vài vị Thánh tăng. Không biết dùng Xá Lợi này làm gì, theo tục lệ Ấn Giáo, ông đã làm lễ thả xuống sông Hằng. Như thế Phật tử chúng ta đã mất đi một bao vật quí giá. Biết bao nhiêu ngọn tháp cũng chung một số phận tương tự, trước khi Viện Bác cổ thành lập. Trong tháp này có tìm được bia ký Sthirapala, và Vasantapàla. Ngôi tịnh xá ở Calcutta, do ngài Dharmapala tạo lập năm 1921 cũng lấy tên Sri Dharmàrajikà. Ðây là ngọn tháp chính, xung quanh các ngọn tháp khác mới được dựng sau. Chỗ này, có một ngôi chùa gọi là Mulàgandhakuti nghĩa là phòng thơm, chỉ những phòng đức Phật ở. Sở dĩ chùa này có tên ấy vì đó là chỗ Ðức Phật ở trong 3 tháng đầu tiên, sau khi Ngài thành đạo Bồ đề.

c. Ðiện thờ chung quanh có lan can vua A Dục. Bước vào phía sân ngoài của chùa chính, chúng tôi thấy một ngọn tháp nhỏ, xung quanh là lan can bằng đá trơn láng kiểu cách tương tự những lan can của vua A Dục. Nhưng tại sao lại nằm chỗ này thật khó hiểu! Ðiều đáng chú ý là ngọn th