Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thánh tích Phật Giáo


 

 

 

 

Hành Hương Hoa Hạ

 

Thích Nhật Quang chủ biên

 

Phần 2

Hành Hương Hoa Hạ - Sư Cô Hạnh Chiếu

Quảng Đông

 

CHÙA QUANG HIẾU

 

Ngày 09-5-2007

Sân bay Bạch Vân hiện ra đúng như tầm cỡ của xứ sở Trung Quốc, đất rộng người đông, sân bay lớn. Máy bay đáp xuống Quảng Châu vào lúc 2h50 phút chiều Trung Quốc, sau Việt Nam 1 giờ. Đây được xem là phi trường lớn của Trung Quốc hiện nay

Toàn khu vực sân bay rộng đến hai ba cây số. Quảng Châu là thủ phủ của tỉnh Quảng Đông, nó cũng chính là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả tỉnh với diện tích 7.047 km2, khoảng 12 triệu dân. Nhiệt độ lúc đó là 24oC, rất giống Việt Nam nên đoàn nghe quen thuộc, dễ chịu.

Chúng tôi gồm 73 vị, trong đó có 14 Tăng, 32 Ni và 27 Phật tử. Hòa thượng Nhật Quang, Trụ trì thiền viện Thường Chiếu làm Trưởng đoàn. Hướng dẫn đoàn là ba vị hướng dẫn viên trẻ, 1 người Việt Nam, 2 người Trung Quốc, vui vẻ, hiền lành, nhiệt tình và nói tiếng Việt khá sõi.

Trung Quốc từ lâu đã được biết đến như một đất nước kỳ vĩ với nhiều non nước mỹ tú diễm lệ. Bắc Kinh, Thượng Hải ngày nay hào nhoáng giàu sang với những tòa nhà chọc trời thấu đất. Đường phố, cầu vượt tầng tầng lớp lớp, uốn lượn quanh co, đâu đó giữa phố thị rực rỡ tân kỳ là thành xưa miếu cổ, sắc nước lưng trời… Song những điều ấy không phải là nguồn cảm hứng, là lời mời gọi chúng tôi đến với Trung Quốc, mà trên tất cả vì nơi đây từ thuở xa xưa đã từng là đạo tràng của chư vị Bồ-tát thị hiện tu hành, các tùng lâm thiền phong vang dội của lịch đại Tổ sư, mà đã một thời cái nhướng mày chớp mắt của quý ngài, uy vũ lệch nghiêng trời đất. Cho đến bây giờ sức mạnh vô biên ấy vẫn đủ để kích dương hạt giống Phật trong lòng hậu thế. Rất đơn giản, chúng tôi thực hiện chuyến hành hương về phương Nam Trung Quốc lần này chỉ vì muốn chiêm bái chốn Tổ năm xưa, noi theo gương hạnh của cổ nhân, để tìm lại nơi mình cái mình muốn tìm hôm nay. Thế thôi.

Thật ra, đôi khi ta cũng chợt nhận ra gia bảo nhà mình ai cũng có, không phải đi tìm đâu xa. Nó ở trước mắt, nó hiển hiện trong lòng. Nhưng vì mắt vướng bụi nên ta không thấy, tâm rối loạn nên ta không tỉnh, do vậy ta chưa nhận ra đó thôi. Là những người con Phật, dĩ nhiên ta hiểu rõ điều này rồi. Song mà, kho báu vô tận ấy cũng không phải bỗng dưng sờ sờ ra đó để cho thiên hạ mặc tình tiêu pha. Muốn nhận ra nó, tùy ý thọ dụng, phải lặn lội qua những chặng đường, dài ngắn tùy mỗi lữ khách chọn lựa cho mình lộ trình thẳng tắt hay quanh co. Nhớ là đi một mình và tự tay mở cánh cửa Không. Để rồi đến một lúc nào đó thời tiết nhân duyên đã đủ, công phu chín muồi, ta ngồi thật yên trong chốn thâm mật, nhẹ nhàng buông xuống, buông xuống… Buông xuống cả chính mình thì toàn thể pháp giới hiện bày.

Chuyến đi này phải chăng mở đầu cho cuộc hành hương tâm linh của chúng tôi, những tu sĩ khát khao được giác ngộ giải thoát như đức Phật và hết lòng ngưỡng mộ ánh thiền quang sắc lạnh của Tổ sư? Bằng con đường thiền định, các ngài đã ra đi và đã đến. Viễn ly, viễn ly, xa lìa mộng tưởng điên đảo, cứu cánh Niết-bàn. Trung Quốc là nước có lịch sử Thiền tông phát triển mạnh mẽ và có tầm ảnh hưởng lan rộng, lâu dài đến Phật giáo các nước thuộc khu vực Đông Nam Á, trong đó có nước ta. Có thể nói chư Tổ thiền tông Việt Nam lĩnh hội được trọn vẹn tinh tuý của dòng thiền Ấn Hoa, dung hội tài tình đường lối tu hành của người xưa với bản sắc văn hóa nước Việt, tạo thành một dòng thiền Việt Nam “trực chỉ, thi vị và tùy duyên” (nhận xét của Hòa thượng Trúc Lâm), rất kỳ tuyệt để chúng ta hãnh diện và lấy đây làm kim chỉ nam cho hành giả tu thiền Việt Nam.

Rời phi trường, xe đưa đoàn đến thành phố Quảng Châu. Đây là một trong những thành phố cổ của Trung Quốc. Chúng tôi như lọt thỏm vào những tòa chung cư cao ngất ngưởng và cũ kỹ. Bỗng dưng ta có cảm tưởng như bị chết ngộp vì những mảng bê-tông cốt thép chồng lên nhau. Nhà là nhà. Toàn bộ các cánh cửa sổ được bọc khuôn sắt để phòng chống kẻ gian. Cứ tưởng tượng mình bị nhồi nhét vào trong những tòa nhà đó thì thiệt là khó thở. Rồi ra mới quý mảnh vườn cây xanh trái ngọt quê nhà. Việt Nam chúng ta rất may ít có nhà cao tầng kiểu này (nhưng hình như bây giờ người ta cũng bắt đầu xây nhà cao tầng rồi), nên dân mình vẫn còn thấy trời xanh mây trắng. Ở thủ đô hay thành phố thì có nhà cao tầng nhưng không cao và khít rịt như vầy, vẫn còn chừa chỗ cho người và cây xanh thở. Ở miệt vườn thì tha hồ. Ngẩng lên là trời cao lồng lộng, ngó xuống là ruộng vườn mênh mông, lòng người cũng theo đó rộng mở, độ lượng, bao dung. Ai bảo nghèo không sướng, nghèo mà biết đủ không phải sướng lắm sao? Cuộc sống quê mùa, yên tĩnh, đơn sơ, bước một bước là vào đến nhà, không phải leo lầu hay chui vào cái thang máy bít bùng, sợ cúp điện muốn chết!

Quảng Châu sầm uất, nhộn nhịp vì là trung tâm buôn bán thuộc miền Nam Trung Quốc. Đoàn chọn chỗ này làm điểm tham quan đầu tiên vì nơi đây có chùa Quang Hiếu tức chùa Pháp Tánh ngày xưa, là nơi đức Lục Tổ được pháp sư Ấn Tông thế phát xuất gia. Cuộc đời tu hành của Lục Tổ khác lạ hơn ai hết, thăng trầm lắm nỗi. Sau mười lăm năm đã ngộ đạo và được truyền y bát của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, Lục Tổ vẫn giữ hình thức cư sĩ, sống lẫn trong đám thợ săn, tùy duyên giáo hóa, tùy duyên độ nhật. Vậy mà vẫn không yên vì một số bạn đồng môn săn lùng, rượt đuổi giành lại y bát. Cuộc sống thật khó khăn, kham khổ. Thế nhưng Tổ vẫn là Tổ, cuộc thế này có nghĩa lý gì đâu với một bản tâm “vô nhất vật”.

Khi thấy đã đủ duyên, Tổ đến chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu, gặp pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết-bàn. Bên ngoài gió thổi, có hai vị tăng cãi nhau, một vị nói gió động, một vị nói phướn động, Tổ nghe thế liền bảo “không phải gió động, cũng không phải phướn động mà là tâm nhân giả động”. Câu nói này đã làm lộ hành tung của Ngài sau mười lăm năm ẩn dật. Pháp sư Ấn Tông khi nhận ra và được xem y bát của Tổ, đã cung kính thế phát cho Ngài, nhưng lại thờ Ngài như bậc Thầy. Từ đây, dưới cội Bồ-đề chùa Pháp Tánh, Lục Tổ chính thức khai pháp môn Đông Sơn, khơi mạch nguồn cho dòng thiền Tào Khê tuôn chảy mãi về sau. Thiền đốn ngộ phương Nam lấp lánh tỏa sáng dưới những ngọn truyền đăng tục diệm của đời đời Tổ sư. Một cõi thiền quang quét sạch vô lượng đảo điên ngu muội của bao chúng hữu tình, đưa họ trở về chốn yên bình. Trong đó không biết có chúng ta chăng?

Chùa Quang Hiếu ở phía tây bắc Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông Trung Quốc. Xứ sở này quả thật không biết nhỏ là gì nên chùa chiền cũng lớn. Tuy nhiên, những ngôi cổ tự nằm trong lòng phố chỉ có đền điện, chứ cảnh quan không thiên nhiên và u nhã như chùa núi hoặc ngoại ô. Theo Quang Hiếu Tự Chí, ban đầu chùa vốn là nhà cũ của Nam Việt vương Kiến Đức (cháu Triệu Đà, thuộc đời Tây Hán). Nước Ngô thời đại Tam Quốc, Ngu Phiên bị giáng chức ra ở đất đó, gọi là Ngu Uyển. Đến năm 362, Tam Tạng nước Kế-tân đến đây mới lập thành chùa Phật, gọi là chùa Chế Chỉ, còn gọi là chùa Vương Viên. Đời Lưu Tống, vị cao tăng Ấn Độ là ngài Cầu-na-bạt-đà-la đến chùa này khai lập giới đàn, gọi là Đạo tràng Chế Chỉ.

Năm 502, ngài Tam Tạng Trí Dược đem cây Bồ-đề từ Tây Ấn Độ đến trồng tại đây và huyền ký rằng: “Sau 170 năm, có nhục thân Bồ-tát dưới cội cây này khai diễn pháp Đại thừa, độ vô lượng người”. Đến năm 527, Sơ Tổ Đạt-ma đến ở đây. Đến đời Đường chùa đổi tên Chế Chỉ thành chùa Càn Minh Pháp Tánh. Đời vua Cao Tông, năm 676 Lục Tổ Huệ Năng đến chùa này và gặp pháp sư Ấn Tông như đã nói ở trên. Năm 705, vị Tam Tạng người Tây Vức là ngài Bát-thích-mật-đế ở đây phiên dịch kinh Thủ-lăng-nghiêm (10 quyển), Tể tướng Phòng Dung bút thụ. Đến năm 845, chùa Càn Minh Pháp Tánh đổi tên thành Tây Vân Đạo Cung. Trong khoảng năm 825-826, chùa dựng Đại Bi Tràng. Đầu thời Bắc Tống đổi tên là Càn Minh Thiền viện. Đời vua Cao Tông lại đổi tên là chùa Báo Ân Quảng Hiếu. Đến năm 1466 đời Minh Hiến Tông, mới bắt đầu gọi là chùa Quang Hiếu. Khoảng năm 1646 đời Minh, chùa bị quân Thanh phá hủy. Đến năm 1662, thiền sư Nguyên Chí trùng hưng trở lại thành Nam Hải Đệ Nhất Thiền Lâm. Tuy nhiên cũng có nhiều thuyết khác nhau nói về sự thay đổi của chùa này.

Chùa hiện còn những kiến trúc quý báu với phong cách kiến trúc đặc thù vùng Hoa Nam như điện Lục Tổ, Đại Hùng Bảo Điện… được xây cất khoảng năm 1241-1252 thời Nam Tống. Có một Thiết Tháp (tháp sắt) đã rất cũ tạo thêm nét cổ kính lâu xưa cho chùa. Cây Bồ-đề vẫn còn đó nhưng lá đã vàng, cội cũng khô. Chắn chắn là vào thời Tổ nó xanh và có hồn hơn, bởi vì ngày ấy nơi đây cô tịch lan-nhã, là vườn thiền rừng vắng, chớ không thị tứ ồn náo giữa trung tâm phố thị như bây giờ. Chúng tôi đến vào buổi chiều, chiêm bái cảnh hoàng hôn của Quang Hiếu Tự ngày nay mà ngậm ngùi nhớ về Tổ sư. Hiện tại cũng có bóng dáng chư tăng, nhưng hình như quý thầy tu Tịnh độ, không theo pháp tu thiền của Tổ ngày xưa. Chùa chỉ dành cho khách hành hương vãng lai nhiều hơn là du tăng hành khước một thuở. Thiền môn nghiêm tịnh, hải chúng an hòa của hơn nghìn năm trước, nay đã thiên di mấy độ. Cũng là lẽ thường thôi. Quý ở chỗ tâm Tổ vẫn còn nguyên.

Là hậu sanh, được học lại cuộc đời Tổ sư, chúng ta cung kính chấp tay đảnh lễ một hiện thân Bồ-tát thôi thì chưa đủ, mà phải làm sao tu tập như Ngài. Toàn bộ cuộc đời của Tổ là tấm gương sáng dạy chúng ta vượt qua mọi thử thách cam go, và nhất là vượt qua chính mình, xả bỏ tâm kiêu mạn ngông cuồng mới có thể học đạo và tu đạo. Đến cửa này thì phải biết cúi xuống, cúi xuống thật gần với chính mình để nhận ra đâu là chốn trở về. Cái gì ngăn cản chúng ta sống một đời sống rộng mở, tỉnh giác, chan hòa và an vui? Chướng ngại là “cái tôi”, từ đó mà có “cái của tôi” để ta bám chặt, để ta tự siết lấy đời mình, đời người cho tới khi nhắm mắt vẫn khôn nguôi. Nếu biết tung ra khỏi cái vỏ kén đầy ích kỷ, nhỏ nhen và cô đơn này, thoát khỏi cái bản ngã co cụm của mình, chúng ta sẽ dễ sống chan hòa cùng tha nhân, biết yêu thương và chia sẻ thật lòng. Cho đi mà không bao giờ đòi lại là nguồn hạnh phúc vô biên của một người biết sống đạo.

Rời khỏi chùa đoàn đã ghi hình kỷ niệm. Kính mong Tổ nhận cho lòng thành của chúng con, những tu sĩ đến muộn nhưng thật là rất tha thiết tu thiền như chính Tổ năm xưa.

Cơn mưa phùn rỉ rả làm hỏng đi chương trình du thuyền bến nước Châu Giang của đoàn. Xe chạy một vòng cho chúng tôi tham quan. Thế cũng đủ, vì thật ra trời cũng đã tối. Con nước Châu giang bắt nguồn từ Vân Nam chảy qua bao bến bãi thăng trầm, để rồi âm thầm đi vào lòng phố, uốn lượn quanh quẩn theo chân người, làm mát lại chốn thị thành và thêm rực rỡ sắc đêm dưới muôn ngàn ánh đèn. Ồ, mà ta cũng không biết rõ dòng sông len lỏi vào lòng phố hay lòng phố mọc lên theo dòng sông. Thôi, cũng không cần biết tới chuyện ấy làm gì. Chỉ có điều Châu giang làm cho trong chúng tôi, ít nhiều người nhớ tới sông Hương bên nhà. Cũng len lỏi trong lòng phố, cũng uốn lượn đôi bờ bến nước con đò, cũng bóng dáng phố thị in trên dòng, nhưng sông Hương nguyên sơ và trầm lặng hơn Châu giang nhiều. Sông Hương lại càng lãng đãng sương khói hữu tình, e ấp dịu dàng ẩn mình bên núi Ngự khi bóng hoàng hôn thả xuống đất Thần kinh. Nét đẹp của sông Hương không thể đem so sánh với Châu giang hay bất cứ một dòng sông nào. Bởi vì nó là nét đẹp của dòng sông quê nhà. Dòng sông đã từ lâu mang tiếng chuông chùa Linh Mụ đi vào dòng đời, cảnh tỉnh nhân sinh. Cho nên thôi, mình cứ giữ kín trong lòng.

Đêm nay đoàn nghỉ lại khách sạn Quảng Châu. Nhìn xuống dòng Châu giang, ánh nước lung linh trong ánh đèn. Nơi đây bao người đã nhảy xuống, bao người lại ngoi lên? Cái trò chơi xem ra rất cũ, nhưng người ta dường như chưa biết chán. Cả thế gian này cũng chỉ thế thôi, hết sinh lại tử, hết tử lại sinh. Vậy mà chúng sanh lặn hụp trong đó từ vô thủy kiếp đến nay. Ngán thì có ngán, nhưng chán thì chưa chán. Thiền sư thì không như thế. Hoa Đình Thuyền Tử ung dung bước trên đôi bờ sanh tử, làm người lái đò đưa khách sang sông. Một con thuyền không đáy. Một giọt nước chẳng dính chân. Đêm về ngẫu hứng thả câu:

Thiên xích ty luân trực hạ thùy,

Nhất ba tài động vạn ba tùy.

Dạ tĩnh thủy hàn ngư bất thực,

Mãn thuyền không tải nguyệt minh quy.

Dịch:

Nhợ câu ngàn thước đà buông xuống,

Một sóng vừa gợn muôn sóng sanh.

Nước trong, đêm lặng, câu chẳng dính,

Đầy thuyền chỉ chở ánh trăng thanh.

 

 

 

CHÙA BÁO QUỐC

Không còn đủ thời gian để lần lựa nữa, xe theo con đường nhựa tiến thẳng về hướng Nga My sơn, cách Lạc Sơn khoảng 40km. Vào đến huyện Nga My ta cảm nhận ngay cái không khí đất Phật. Một dãy đèn đuốc sáng choang trên những tầng ngói uốn cong, thoạt nhìn cứ tưởng là ngôi đại già-lam, nhưng không phải, đó là khách sạn. Tổng thể khu du lịch dưới chân núi Nga My đều có kiến trúc như vậy. Thật hay. Rõ ràng vào đến Thánh địa, lòng Phàm cũng lắng dịu bụi trần.

Nghe danh chùa Báo Quốc là Nga My Đệ Nhất Tự, chúng tôi hăm hở nối gót nhau đi thật nhanh, trước khi trời sụp tối. Quả thật danh bất hư truyền. Có thể nói bốn ngôi Đại cổ tự để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong đoàn là chùa Báo Quốc tại đây, chùa Hiển Thông tại Ngũ Đài sơn, chùa Thiếu Lâm tại Tung sơn và Nam Hoa Thiền Tự tại Tào Khê. Đón khách là một thác nước trắng xóa ở giữa. Bên phải là bút tích của vua Khang Hy với ba chữ “Nga My Sơn” khắc trên đá thật mạnh mẽ, sắc nét. Bên trái, một khối thạch bảng dựng đứng hùng dũng với năm chữ “Chấn Đán Đệ Nhất Sơn” do Mao Chủ Tịch đề tặng, đủ biết danh tiếng của ngọn núi này. Chùa Báo Quốc án ngữ ngay dưới chân núi, xứng đáng là cánh cửa của tòa Nga My sơn. Khách đến Nga My mà không ghé chùa Báo Quốc thì chưa thể biết thế nào là:

Nhập thâm sơn, trú lan-nhã,

Sầm ngâm u thúy trường tùng hạ.

(Vào rừng sâu, trú lan-nhã,

Núi dựng, tùng già ôm bóng cả.)

Chứng Đạo Ca

Phiến đá, con đường, rặng cây, ngọn cỏ… mỗi mỗi đều lan-nhã. Đường dẫn lên chùa đẹp như tranh và dĩ nhiên sống động hơn tranh. Chúng tôi cúi xuống để lách qua một vòm cây là bước sang một khúc quanh mới với những mảng đá lạ. Cảnh trí biến đổi theo những đoạn đường quanh co với thiên nhiên hòa điệu cùng tâm hồn và bàn tay của con người gầy dựng, làm cho cảnh trí chùa Báo Quốc thật là có một không hai. Rất tiếc trời mờ tối nên chúng tôi không đọc được bút tích trên các bia đá dọc đoạn đường lên chùa. Chữ viết đủ kiểu, chân phương, thảo, biến thể… khi thì truyền thần mạnh mẽ, lúc lại uyển chuyển thanh tao, sắc sảo vô cùng. Lầu chuông u tịch nằm chêch chếch với Đại Hùng Bảo Điện, càng về chiều càng trầm mặc đến lặng người. Đứng nơi đây nhìn sang cổng Tam quan của chùa mà nhớ tới một thời hưng thịnh của thiền tông tại ngôi già-lam này.

Chùa được xây dựng vào khoảng năm 1573-1619 đời vua Thần Tông nhà Minh, thuộc tự viện thiền tông. Chùa có tên cũ là Hội Tông Đường cũng gọi là Hội Tông Phường. Đời Thanh (khoảng năm 1662-1722), chùa được trùng tu và đổi tên như ngày nay. Phía trước cổng Tam quan có biển đề Báo Quốc Tự do tự tay vua Khang Hy viết. Điện vũ chính có Di-lặc Điện, Đại Hùng Bảo Điện, Thất Phật Điện, Tàng Kinh Lâu, từ trước đến sau theo thế núi và cấp bậc lên cao. Kiến trúc hoành tráng, tượng Phật uy nghi, mỗi mỗi đều được thếp vàng sáng chói. Tháp Phật ở trước điện Thất Phật đúc bằng đồng cao 7m, nguyên là tháp Phật của chùa Thánh Tích, ngôi chùa cũ đã hư vào đời Minh. Trên tháp khắc hơn 4.700 tượng Phật và toàn bộ kinh Hoa Nghiêm. Đây là một kiệt tác tinh xảo về nghề đúc tượng của Trung Hoa.

Cảnh chùa làm cho chúng tôi nhớ đến hai câu thơ tiếp theo của thiền sư Huyền Giác:

Ưu du tĩnh tọa dã tăng gia,

Khuếch tịch an cư thật tiêu sái!

Dịch:

Thong dong tĩnh tọa gã tăng quê,

Vắng lặng an nhiên cõi tiêu sái.

Bóng thiền tăng bây giờ ở đâu? Thiền sư Huyền Giác xin được làm một gã tăng quê thì chắc có lẽ Ngài ở một mái chùa tranh, chớ không ở một ngôi chùa tráng lệ như vầy. Song chiếc bóng tĩnh tọa thong dong, một cõi tiêu sái hiện bày thì quảng đại uy nghiêm và vĩnh cửu hơn muôn ngàn lâu đài điện các. Đây mới đích

thực là linh hồn muôn thuở của già-lam, và cũng chính là chốn tìm về của mỗi chúng tôi.

Đêm nay nghỉ dưới chân núi Nga My, mà không được tĩnh tọa trong ngôi thiền tự năm xưa. Thấy cũng buồn!

NGA MY SƠN

Ngày 11-5-2007

Thiên nhiên dường như ban tặng cho Trung Quốc những đường nét hùng vĩ nhất của mình. Dãy Hy-mã-lạp sơn chất ngất chọc trời xanh quanh năm tuyết phủ, những cao nguyên ngút ngàn lộng gió, những đồng bằng mênh mông bất tận, những sa mạc thử chân người cứng mềm, những dòng sông đôi bờ ngút mắt. Nhưng có thể nói tuyệt tác nhất là sơn kỳ thủy tú.

Trung Quốc có những ngọn núi đã trở thành Thánh địa thiêng liêng, là đạo tràng của các vị Bồ-tát như Ngũ Đài sơn của ngài Văn-thù, Nga My sơn của ngài Phổ Hiền, Cửu Hoa sơn của ngài Địa Tạng, Phổ Đà sơn của ngài Quan Âm. “Tứ đại danh sơn” không chỉ là trú xứ tâm linh của người dân Trung Quốc mà còn là nguồn tìm về của những ai bén duyên với Phật pháp trong khắp năm châu bốn bể.

Nga My sơn nằm ở phía nam tỉnh Tứ Xuyên, cách Thành Đô 160km về phía tây nam. Mạch núi xuất phát từ Mân sơn, chập chùng uốn lượn như chiếc cầu vòng, dài hơn 180km, chu vi từ 5km đến 6km. Đỉnh cao nhất là Vạn Phật Đỉnh 3.099m. Toàn dãy núi có ba ngọn chính là: Đại Nga, Trung Nga, Tiểu Nga. Quần thể chùa viện đền đài hơn 200 ngôi, trên 40 sơn động và 100 thạch khám. Từ chân núi lên đến chỗ cáp treo trước khi đi cáp và leo bộ lên Kim Đỉnh là 53km, ngồi xe ô tô mất khoảng 2 tiếng. Nhưng thật không tiếc chút nào vì cảnh non Bồng nước Nhược của Nga My. Xe len lỏi giữa những tầng núi chập chùng ghềnh thác. Mỗi một vách núi là một cảnh tượng khác lạ, biến ảo không lường. Kỳ hoa dị thảo phủ lên non cái diễm lệ tự nhiên, không tô điểm ngượng ngùng. Nước trên non chảy xuống, mây lưng đèo bay lên. Núi và mây. Thinh và sắc… réo rắt xao xuyến lòng người. Thật chưa từng thấy!

Là nhà tu, đến chỗ này thì phải tu lắm mới được, không thôi cái lỗ tai, đôi con mắt bị Ngộ Không dẫn đi chơi quên mất đường về. Nhà thiền bảo thấy chỉ thấy, nghe chỉ nghe, xem ra không đơn giản chút nào. Thiền sư Đạo Giai dạy chúng:

Ngộ thinh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa,

Kiến lợi kiến danh như nhãn trung trước tiết.

Dịch:

Gặp thinh gặp sắc như trồng hoa trên đá,

Thấy lợi thấy danh như bụi rơi trong mắt.

Thiền sư không dính, Bồ-tát không dính nên các ngài ở núi dễ. Còn chúng ta lợi danh mờ mắt nên ở núi khó. Muốn ở núi cao thì chí phải cao, tâm phải lớn, hạnh phải rộng. Với người đời nét đẹp sơn thủy là sương khói hữu tình, nhưng với người tu non cao rừng thẳm là nơi trưởng dưỡng công phu. Khí càng thanh tâm càng thoát, cảnh càng vắng lòng càng yên, mới có chút phần tương ưng. Cho nên Bồ-tát Phổ Hiền đã chọn nơi này làm trú xứ tu hành.

Lên đến Kim Đỉnh nhiệt độ chỉ khoảng 30C – 50C, không khí đã loãng, tất cả đều chìm ngập trong biển mây bao la. Không biết có phải “mây ma-ni vương” do Bồ-tát rưới khắp mười phương như trong kinh Hoa Nghiêm đã tả chăng, mà sao diệu kỳ đến thế! Đoàn còn được hạnh ngộ với mưa Nga My, mới biết thế nào là cái buốt giá nơi đây. Lạnh từ trong xương lạnh ra. Thở bằng mũi không đủ dưỡng khí, phải há hốc mồm thở phụ. Toàn thân run cầm cập mặc dù ai cũng mặc ba bốn lớp áo.

Có tới nơi mới kinh ngạc về sự kỳ vĩ không phải chỉ núi non mà là con người. Một đất nước quá lớn cho nên đã sinh ra những con người có đầu óc cũng quá lớn. Dám nghĩ dám làm. Chỉ đi hai tay không với một đoạn núi ngắn có bậc cấp đàng hoàng mà ta còn thở dốc. Chẳng hiểu ngày xưa không có ô tô, không có cáp treo, làm sao người ta lên đây mà xây dựng đền đài, điện các trang nghiêm uy vũ như vầy, chưa kể đến phải chịu đựng một khí hậu quanh năm giá rét và mây mưa phủ ngập đêm ngày.

Trong sử ghi từ thời Đông Hán (25-220), ở đây đã có Kim Đỉnh Phổ Quang Điện. Đến khoảng đời nhà Đường, nhà Tống, Nga My sơn được dựng lên rất nhiều điện các. Cho đến đời Minh, đời Thanh thì huy hoàng rực rỡ. Ngày nay ngoài Kim Đỉnh ra, có khoảng 20 ngôi tự viện đang được bảo quản và trùng tu, trong đó Kim Điện, Ngân Điện được xem là hoành tráng và lộng lẫy nhất. Vừa nghĩ đến thôi là đã phát run, đừng nói tới làm. Phải chăng mỗi một con người nơi đây là hiện thân của ngài Phổ Hiền, mang đại hạnh của Ngài đi vào đời. Bởi vì chỉ có hạnh nguyện đại hải như Bồ-tát mới làm nổi những chuyện khó làm nhất trên đời.

Kiến trúc của Kim Đỉnh Phổ Quang Điện thật là kỳ vĩ. Đây là một ngôi điện hình tròn, nằm trên đỉnh núi Nga My. Nóc điện là tượng Bồ-tát Phổ Hiền Thập Diện, chia làm ba tầng. Diện mục xoay tròn tượng trưng cho sự có mặt của Ngài biến khắp mười phương cõi. Bồ-tát ngự trên con voi sáu ngà, bốn mặt xây về bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Toàn bộ Kim Đỉnh được thếp vàng óng ánh, chiếu tỏa trên tòa Nga My. Chúng tôi bước vào Kim Đỉnh, biển đề “Thế giới Hoa Tạng” hiện bày, đức Tỳ-lô-giá-na ngự chính giữa. Mây mưa bên ngoài dứt bặt, ánh sáng bên trong tỏa chiếu, Bồ-tát Phổ Hiền như ảnh hiện trong mỗi kẻ cùng tử lang thang.

Phổ Hiền thân tướng như hư không

Nương chân tánh ở chẳng phải cõi

Tùy lòng chúng sanh chỗ thích ưa

Thị hiện thân hình đồng tất cả.

Kinh Hoa Nghiêm

Nếu Bồ-tát Văn-thù cưỡi sư tử xanh tượng trưng cho đại trí thì Bồ-tát Phổ Hiền ngồi trên voi trắng tượng trưng cho đại hạnh. Voi trắng sáu ngà để biểu thị hạnh nguyện rộng lớn.

Trong các loài thú, về sức mạnh chuyên chở, voi là mạnh hơn cả. Nó hay chuyên chở người và vật từ chỗ này đến chỗ khác. Bồ-tát Phổ Hiền cũng thế, dùng đại hạnh hóa độ chúng sanh, đưa họ từ bờ mê đến bến giác. Sáu ngà tượng trưng cho Lục độ. Hai vị Bồ-tát Văn-thù và Phổ Hiền luôn luôn được tán dương song song với nhau để nói lên thâm ý “tri hành hợp nhất” trong giáo điển Đại thừa.

Toàn bộ tông chỉ của kinh Hoa Nghiêm là “Nhất tâm chân như, pháp giới duyên khởi”, được diễn đạt xung quanh ba hình ảnh chính: Đức Phật Tỳ-lô-giá-na, Bồ-tát Văn-thù, Bồ-tát Phổ Hiền. Không rời Pháp thân thanh tịnh (Phật Tỳ-lô-giá-na), từ Căn bản trí (Bồ-tát Văn-thù), khởi Sai biệt trí làm lợi ích vô lượng chúng sanh (Bồ-tát Phổ Hiền). Đức Phật và hai vị Đại Bồ-tát này thật ra không phải ở đâu xa, mà đã ngự sẵn trong lòng mỗi chúng sanh.

Dưới con mắt của Hoa Nghiêm thì vũ trụ vạn hữu trùng trùng do nhân duyên hòa hợp mà thành. Từ một vật nhỏ như hạt bụi cho đến một vật lớn như trăng sao đều nương vào nhau, làm nhân làm quả, dung thông nhau, ảnh hưởng nhau mà có. Mỗi pháp mỗi pháp trong vũ trụ không thể tồn tại riêng lẻ, biệt lập mà tự có được. Cái này có là nhờ cái kia có, tương quan tương duyên, lớp lớp không cùng cho nên gọi là “trùng trùng duyên khởi”. Vì là trùng trùng duyên nhau nên một là tất cả, tất cả là một. Mọi sự vật trong vũ trụ đều dung thông nhau, do đó kinh Hoa Nghiêm gọi là “Sự sự vô ngại pháp giới”.

Thiện Tài đồng tử khi gặp được Bồ-tát Văn-thù, lãnh thọ và nhiếp trì chỉ giáo của Ngài xong, thân tâm vô cùng hoan hỷ, thành tựu vô số pháp môn, đầy đủ vô lượng đại trí quang minh. Bồ-tát Văn-thù dùng thần lực quảng đại khiến Thiện Tài vào được đạo tràng của Bồ-tát Phổ Hiền. Vào được cảnh giới Phổ Hiền là vào được “Sự sự vô ngại pháp giới” của Hoa Nghiêm. Mỗi sự mỗi vật đều từ pháp tánh hiển hiện. Lý pháp tánh viên dung vô ngại nên hiện ra sự vật cũng viên dung vô ngại.

Bồ-tát làm tất cả việc mà chẳng thấy có việc gì để làm, nên chẳng có chi ngăn ngại. Do chẳng có chi ngăn ngại cho nên trùm khắp pháp giới. Bồ-tát Phổ Hiền do nhiều kiếp lập hạnh nguyện rộng lớn, công đức không thể tính kể, đã thể nhập Hoa tạng thế giới hải, cho nên mới có diệu lực như thế. Chúng ta lập hạnh tu hành quyết phải có hai vị Bồ-tát này dẫn dắt mới không rơi vào ma đạo. Làm nhiều mà không có trí thì dễ làm điều sai quấy, mê chấp thân tâm,

lầm sanh nhân ngã, dẫn tới phiền não khổ đau, trọn không có công đức.

Kim Đỉnh biểu trưng cho giai đoạn chư Đại Bồ-tát đã lên vị Pháp Vân Địa trong Thập địa. Tại đây sẽ được Bồ-tát Phổ Hiền dẫn đạo thể nhập Thập nguyện vương, tiếp tục tu tập để tiến lên Đẳng giác, Diệu giác thành Phật. Mười đại nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền là:

1. Kính lễ chư Phật.

2. Xưng tán Như Lai.

3. Rộng tu cúng dường.

4. Sám hối nghiệp chướng.

5. Tùy hỷ công đức.

6. Thỉnh chuyển pháp luân.

7. Thỉnh Phật trụ thế.

8. Thường theo Phật học.

9. Luôn tùy thuận chúng sanh.

10. Hồi hướng khắp tất cả.

Ngài bảo dù “cõi hư không cùng tận, cõi chúng sanh cùng tận, nghiệp chúng sanh cùng tận, phiền não chúng sanh cùng tận” thì hạnh nguyện của Ngài “vẫn không cùng tận, niệm niệm nối luôn không hở, ba nghiệp thân khẩu ý không hề nhàm mỏi” (kinh Hoa Nghiêm). Trên con đường Bồ-tát đạo để tiến lên Phật đạo, hành giả đừng nghĩ đến thời gian, cứ tu hoài tu hoài, không bao giờ chán, đó là tập theo hạnh của Bồ-tát Phổ Hiền. Khó là ở chỗ này. Chúng ta thường chỉ siêng tu giai đoạn đầu hoặc gặp thuận duyên mới tu, đụng phải chướng duyên dễ thối chí nản lòng, nên đạo nghiệp không xong.

Cũng trong kinh Hoa Nghiêm, nói về hạnh “Tùy thuận chúng sanh”, Ngài kể lại:

- Trong tất cả các loài, nếu kẻ có bệnh tôi vì họ mà làm lương y, nếu ai bị lạc đường tôi vì họ mà chỉ cho con đường chánh, nơi đêm tối tôi vì họ mà làm ngọn đuốc sáng, người nghèo thiếu tôi làm cho được của báu. Bồ-tát lợi ích cho chúng sanh bình đẳng như vậy. Vì sao thế? Vì Bồ-tát nếu có thể tùy thuận chúng sanh là tùy thuận cúng dường chư Phật… Nếu làm cho chúng sanh vui mừng chính là làm cho tất cả Như Lai vui mừng. Vì sao thế? Vì các đức Như Lai dùng tâm đại bi làm thể. Nhân nơi chúng sanh mà sanh lòng đại bi, nhân lòng đại bi mà phát tâm Bồ-đề. Nhân nơi tâm Bồ-đề mà thành bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Như lời Bồ-tát thì chúng ta không thể thành Phật khi không có chúng sanh, không gặp thử thách. Cho nên ta hãy an lòng vui tu nơi cõi này, vì chỉ nơi đây mới có nhiều thắng duyên để cho ta giật mình nhìn lại chính mình.

Sau Kim Đỉnh là Hoa Tạng Tự, ngôi chùa xưa nhất tại đây, được trùng tu vào đời nhà Thanh (1866). Gần đó là Kim Điện và Ngân Điện. Đứng trên Kim Đỉnh, ngẩng lên là hư không vô biên, cúi xuống là biển mây vô tận, như chính đại hạnh đại nguyện của ngài Phổ Hiền. Tại Hoa Tạng Tự, Hòa thượng Thường Chiếu đã thuyết một thời pháp ngắn, nói về công đức và đại nguyện của Bồ-tát. Lời sau cùng, Ngài bảo hãy đảnh lễ và nương vào chính đại hạnh Phổ Hiền nơi mỗi chúng ta mà lập hạnh tu hành, để thành tựu viên mãn Phật đạo dài lâu.

Đoàn xuống núi. Mười nguyện lớn của Bồ-tát vẫn còn vang mãi trong lòng.

Hư không hữu tận,

Ngã nguyện vô cùng…

 

 

THANH DƯƠNG CUNG

Ngày 12-5-2007

Trước khi đến thiền viện Bảo Quang, đoàn đã ghé tham quan Thanh Dương Cung của Đạo giáo, là một giáo phái bản xứ của Trung Quốc. Tứ Xuyên là nơi bắt nguồn của Đạo giáo. Nghe nói cách Thành Đô 6km về hướng tây có một ngọn núi tên là Thanh Thành. Ngọn núi này có 27 đỉnh, rải rác nhiều đền đài của Đạo giáo. Nơi đây vào đầu công nguyên có một đạo sĩ tên là Trương Đạo Lăng (34-156) đã sáng lập ra Đạo giáo. Tương truyền Trương Đạo Lăng là cháu chín đời của Trương Lương, ban đầu theo Nho giáo nhưng về già học tiên thuật của Lão giáo. Ông soạn ra sách “Đạo Thư” gồm 24 thiên là giáo lý cơ bản của “Thiên Sư Đạo”. Từ đó động của ông trong núi Thanh Thành được gọi là Thiên Sư Động.

Giáo lý của Thiên Sư Đạo dựa vào tư tưởng của Lão Tử, phối hợp với bói toán chú thuật và lấy phép phù thủy chữa bệnh giúp dân. Mỗi khi chữa bệnh, đạo sĩ được phần lễ tạ năm đấu gạo nên đạo này còn được mệnh danh là “Ngũ Đẩu Mễ”. Tư tưởng chủ yếu của Đạo giáo là ngắm nhìn thiên nhiên mà trực nhận ra quy luật của vũ trụ vạn hữu. Thế nên tri kiến của Đạo là trực giác từ thiên nhiên, hành động của Đạo là vô vi, làm mà không tác ý([1]).

Chúng tôi vào trong thấy các điện đài chính của Thanh Dương Cung gồm có điện Hỗn Nguyên, điện Tam Thanh… kiến trúc cũng hao hao giống các chùa chiền Phật giáo. Cảnh trí yên tịnh, các đạo sĩ mặc áo dài đen, đầu búi tóc đi đi lại lại nhìn khách, không biết nói chi!

Với những nơi không phải là trọng điểm nhắm đến của chuyến hành hương, chúng tôi chỉ tham quan cho biết và lược ghi đôi nét hoặc có nơi thông qua.

([1]) Phần này viết theo Mùi Hương Trầm của Nguyễn Tường Bách.

THIỀN VIỆN BẢO QUANG

Thiền viện Bảo Quang nằm ngay trong lòng Thành Đô. Đây là thiền viện lớn nhất trong thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên. Dẫn vào chùa là một công viên nhiều cây xanh, rải rác những tháp đá thanh tú được điêu khắc thật tinh xảo. Con đường lát đá hoa cương sang trọng, sạch sẽ nằm giữa hai dãy phố cổ thật đẹp. Bốn chữ thiền viện Bảo Quang hiện ra sau bức tường màu son

đậm, tạo cho ta cảm giác thiền môn là chốn không quá gần cũng không quá xa với cuộc đời.

Kiến trúc chùa cổ rộng lớn thật đúng với tầm cỡ một ngôi đại già-lam của Tứ Xuyên. Các điện đường được phối trí hài hòa dưới những tàng cổ thụ lâu năm. Chúng tôi nhận thấy hầu như các thiền viện, tự viện Trung Quốc thường xây dựng các dãy điện đường cách nhau bởi một khoảng sân rộng. Giữa sân là những đỉnh đồng và lư hương lớn để cho khách thập phương thắp nhang.

Vào chùa trước tiên là điện Di-lặc, kế đến có ngôi cổ tháp 12 tầng. Trên tháp phía trước khắc ba chữ “Quang Minh Tạng”, phía sau là “Xá-lợi Bảo Tháp”. Kế nữa là Thất Phật Bảo Điện, thờ sáu vị Phật quá khứ và đức Thích-ca-mâu-ni. Chung quanh là các dãy nhà dành cho chư Tăng, nhà khách, nhà ăn… Tương truyền, ngày xưa có một cư sĩ tị nạn chiến tranh ở vùng này. Ban đêm ông nằm mộng thấy ngay khu vực tháp hào quang sáng rực. Ông liền cho đào lên và phát hiện có 12 viên xá-lợi của Phật. Do đó ông xây tháp này, đặt tên là tháp Bảo Quang, để thờ phụng xá-lợi Phật. Nhìn kỹ ta thấy tháp hơi bị nghiêng, người hướng dẫn viên giải thích rất vui. Họ bảo khi xây tháp có Tứ thiên vương đến nâng phụ bốn góc tháp, trong đó có một vị mạnh quá nên nâng tháp cao hơn các vị kia. Do vậy mà tháp bị nghiêng như chúng ta thấy hiện tại.

Cảnh trí nơi đây được bàn tay con người chăm chút khá kỹ lưỡng với những non bộ, những vòm cổng uốn cong mỹ thuật. Thế nên chùa không chỉ dành cho Phật tử đến bái sám mà còn là thắng cảnh cho du khách tham quan. Giữa lòng phố chùa trở thành một góc yên bình cho bao người sau một ngày làm việc mệt mỏi. Chiều về ghé lại chùa, ngồi yên ả một mình trên ghế đá, dưới cội đại thọ, hít thở thật sâu, thân tâm lắng dịu, bao lo toan muộn phiền cũng theo đó vơi đi.

Đặc biệt chùa có La-hán Đường tôn trí mấy trăm tượng La-hán, diện mạo không vị nào giống vị nào. Sự khác biệt ấy để nói lên biệt hạnh của quý ngài. Tất cả đều sống động hồn nhiên và gần gũi với con người. Đây thật là một kho tàng nghệ thuật điêu khắc phong phú. Các chùa Việt Nam cũng có thờ La-hán, nhưng thường là Thập Bát La-hán (18 vị La-hán), chớ không nhiều như ở Trung Hoa. Con số ấy chỉ mang ý nghĩa tượng trưng mà thôi. Thật ra chư vị La-hán ngay thời Phật còn tại thế đã vô số, nói gì đến những vị tu hành chứng Thánh sau này, an trụ trong mật hạnh, các ngài không cần đề danh. Mỗi vị có một hạnh tu và phương pháp giáo hóa riêng. Đa số cuộc đời các ngài kỳ bí, ẩn hiện khó lường, đến đi với chúng sanh chớp nhoáng, không lưu lại dấu vết. Bồ-tát và Thánh tăng thường là như thế.

Trong số 18 vị La-hán thường được nhắc đến, có Tôn giả Tân-đầu-lô rất gần gũi với chúng ta. Ngày nay sau buổi thọ trai, khi phục nguyện, chư Tăng Ni tại các tự viện thường niệm thỉnh danh hiệu Tôn giả Tân-đầu-lô-phả-la-đọa chứng trai. Ngài là vị La-hán thứ nhất trong số 18 vị La-hán, được đức Phật thọ ký ở lại nhân gian giáo hóa chúng sanh. Ngài cùng 1.000 vị La-hán khác trụ ở Tây Ngưu Hóa Châu. Theo truyền thuyết, Ngài xuất thân dòng Bà-la-môn, là một đại thần danh tiếng của vua Ưu-điền. Vì thích tu nên Ngài cáo quan vào núi nỗ lực thiền định. Sau khi chứng Thánh quả, Ngài cưỡi hươu về triều giáo hóa vua, nhân đó có danh hiệu La-hán Cưỡi Hươu.

Khi Phật còn tại thế, nhân một cuộc đọ sức với ngoại đạo, Tôn giả dùng thần thông lấy cái bát quý treo trên trụ cao của một vị Trưởng giả. Sự việc này làm cho ngoại đạo rất nể phục chư Thánh tăng đệ tử Phật. Hay tin, chẳng những không khen mà Phật còn quở trách Tôn giả biểu diễn thần thông làm mê hoặc dân chúng, khiến họ ngộ nhận mục đích tu học của đạo Phật giác ngộ giải thoát. Thế Tôn thường khuyên dạy các thầy Tỳ-kheo nên dùng đạo thông giáo hóa chúng sanh, không nên dùng thần thông. Chỉ trừ đức Phật hoặc những trường hợp thật đặc biệt với sự cho phép của Thế Tôn, các thầy mới được dùng thần thông. Để răn đe hàng Thánh đệ tử ghi nhớ việc này, Phật dạy Tôn giả phải vĩnh viễn lưu lại nhân gian làm phước điền cho chúng sanh, vì thế Ngài thường làm bậc ứng cúng trong các pháp hội như đã nói ở trên.

Một lần ở thời Ngũ Đại, triều vua Ngô Việt thiết trai, có một Hòa thượng tướng mạo gầy ốm, lông mày dài bạc trắng bay đến, ngồi vào chỗ dành cho khách quý, thọ thực vui vẻ. Ăn xong, Ngài cho biết mình là Tân-đầu-lô rồi biến mất. Dưới thời vua A-dục và vua Lương Võ Đế, Ngài đích thân hiện đến giáo hóa, làm tăng trưởng lòng tin mọi người. Thời Đông Tấn, ngài Đạo An là bậc cao tăng phiên dịch kinh điển, thường lo sợ chỗ dịch của mình không đúng với Thánh ý. Ngài khấn nguyện xin chư Hiền Thánh hiển lộ để chứng minh. Tối hôm đó, Ngài nằm mộng thấy một vị Hòa thượng lông mày trắng đến nói:

- Ta là Tân-đầu-lô ở Ấn Độ, lấy tư cách là một Đại A-la-hán, ta bảo chứng những kinh điển ông dịch đều rất chính xác.

Ngài Đạo An rất vui mừng, từ đó mới an tâm dịch kinh.

Ngoài ra, còn một vị La-hán rất quen thuộc với chúng ta, mà kinh điển thường hay khen ngợi, đó là Tôn giả La-hầu-la. Sau khi theo Phật xuất gia, nhờ sự giáo dưỡng của Thế Tôn, Ngài bỏ dần tập khí vương giả và thói xấu trêu ghẹo người, nỗ lực tu tập và chứng Thánh quả. Sau khi thành A-la-hán, Ngài thay đổi hoàn toàn, luôn khiêm cung nhẫn nhục, không thích tranh cãi hơn thua. Phòng của mình bị người đến ở, Ngài lẳng lặng vào nhà xí ngủ qua đêm. Đi khất thực bị bọn côn đồ ném đá trúng đầu chảy máu, Ngài lặng lẽ đến bờ suối rửa sạch rồi tự tay băng bó vết thương. Tín chủ cúng cho Ngài tịnh thất, ít lâu sau đòi lại cúng cho người khác, Ngài cũng bình thản dọn ra khỏi phòng. Sau khi đã chứng Thánh quả, Ngài vẫn siêng năng lặng lẽ tu tập. Đức Phật khen Ngài là Mật hạnh đệ nhất trong mười vị đại đệ tử và chọn Ngài vào trong số 18 La-hán lưu lại nhân gian, giáo hóa chúng sanh.

Xem gương người xưa, ta thảng thốt nhìn lại mình và hiểu rõ vì sao cho đến bây giờ đạo nghiệp vẫn chưa tới đâu. Từ những chuyện rất nhỏ trong cuộc sống, trong ứng xử, biểu hiện được một nội tâm sâu lắng định tĩnh bên trong hay nông cạn vụng về toát ra cả bên ngoài. Vui buồn từng cử chỉ, cắng đắng từng lời nói, hơn thua từng việc nhỏ… đã gây tạo những đau khổ lớn cho nhau. Tất cả đều vì bất giác, vì bản ngã mà ra. Con người chỉ là hạt cát. Một hạt cát giữa trùng dương sa mạc thì cũng chỉ là cát thôi. Có gì phải bận lòng! Vậy mà ta quên.

Trưa nay, đoàn dùng cơm tại chùa Bảo Quang rồi sang viếng viện Văn-thù, một trong những ngôi cổ tự lâu đời của Thành Đô.

 

VIỆN VĂN THÙ

Viện Văn-thù cách thiền viện Bảo Quang không xa. Chùa còn có tên là Cổ Đại Thánh Từ Tự, mặt xây về hướng nam lưng quay về hướng bắc, đúng theo truyền thống các tự viện lớn của Trung Quốc. Biển đề trước cổng chùa ngày nay là bút tích của vua Quang Tự đời nhà Thanh kính lưu. Đây là một ngôi Phạm vũ của hoàng gia, thuộc phái Thiền tông, đã có 1.600 năm lịch sử, được xây dựng vào đời nhà Đường.

Tương truyền Đường Huyền Tông lúc trốn loạn đến Thành Đô, dân tình lúc ấy thật đói khổ. Ông thấy một nhà sư trong chùa bố thí cháo cho dân nghèo không sót một ai, nhà vua rất cảm kích. Sau này khi đã yên vị, vua ra lệnh trích ngân quỹ quốc gia xây dựng chùa. Ngày xưa đất chùa cả 1.000 mẫu, có tới 96 viện lớn nhỏ. Cuối đời nhà Minh, chùa bị hủy hoại vì chiến tranh, sang đầu nhà Thanh mới được tái thiết. Do đó kiến trúc chùa ngày nay mang phong cách kiến trúc đời Thanh và diện tích chỉ còn vài sào mà thôi. Khi được xây dựng lại, người ta đào nền móng lên và thấy những viên gạch màu xanh lưu ly với đường nét hoa văn cực kỳ tinh xảo, đáng gọi là giai phẩm của công nghệ mỹ thuật đời Đường. Một số còn được giữ lại và trưng bày trong phòng Trưng bày của chùa.

Đặc biệt tại đây Tam Tạng Pháp sư Đường Huyền Trang đã lưu lại dịch kinh trong vòng 6 năm. Do đó chùa có cả một phòng trưng bày triển lãm và bảo lưu số kinh điển do Ngài phiên dịch. Ngoài ra các tranh ảnh thuyết minh con đường thỉnh kinh có một không hai và các pháp sự vô lượng công đức của Ngài thật sinh động. Trong đó có bức tranh pháp sư Huyền Trang một hình một bóng giữa sa mạc mênh mông cát chảy, bên cạnh là những chiếc đầu lâu một đi không trở lại, dưới bức tranh có dòng chữ “Bất cầu đắc đại pháp, thệ bất Đông quy nhất độ”, nghĩa là nếu không cầu được đại pháp, thề không trở về Đông độ, đã khiến cho ta phải rùng mình khiếp phục mà đảnh lễ Đường Tăng bằng cả thân tâm.

Điện Quan Âm ở giữa có tôn thờ tượng Bồ-tát Quan Âm cao 7m, được điêu khắc từ một khúc gỗ cực quý dày hơn 2m, có 4.200 năm tuổi. Hỏi vì sao có được khúc gỗ quý này, người ta kể lại khi nạo vét sông lấy cát, dân làng phát hiện ra nó nằm sâu trong lòng cát, nên không hề bị mục nát và màu sắc thật đặc biệt. Họ báo về chùa, chư sư mới tìm đến xin mua lại và điêu khắc thành tượng. Vân và gỗ ngày càng lóng lánh, khiến cho Bồ-tát mỗi lúc mỗi chói tỏa hơn.

Thật ra, không phải Bồ-tát chói tỏa vì sắc tượng bên ngoài mà vì diệu lực của Ngài. Thương và không từ bỏ một loài nào, hễ chúng sanh niệm tưởng đến là Ngài liền ứng hiện. Trong kinh Pháp Hoa, khi Bồ-tát Vô Tận Ý hỏi Phật rằng Bồ-tát Quan Âm làm thế nào dạo khắp Ta-bà và phương tiện của Ngài là gì? Đức Phật trả lời nếu có chúng sanh nào cần dùng thân Phật được độ thoát, Bồ-tát Quan Âm liền hiện thân Phật mà nói pháp. Cần hiện thân Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà-la-môn được độ thoát… Ngài liền hiện các thân ấy mà nói pháp. Quan Âm xuất hiện với 32 ứng hóa thân tương ứng với 32 hoàn cảnh, là tiêu biểu cho mọi tình huống kêu cứu của chúng sanh. Nhẫn đến Bồ-tát có thể vì chúng sanh mà làm người phu quét đường hay những thân phận thấp kém nhất trong xã hội này, để cứu thoát tất cả.

Bồ-tát Quan Âm luôn có mặt bên cạnh chúng ta. Ngài ở lại Ta-bà mãi mãi mà chúng sanh không chán, vì tai Ngài lắng nghe tiếng nói của chúng sanh, tâm Ngài lắng nhận và thấu cảm nỗi khổ của chúng sanh, để đến và chia sẻ, không từ chối một ai. Vì lắng lòng nơi trần gian nên giữa Ngài và trần gian không thể rời nhau được. Đó chính là nguyên nhân Bồ-tát thường hiện hữu nơi cõi Ta-bà và luôn được chúng sanh ngưỡng mộ thương kính.

Chẳng những Bồ-tát nghe được mọi âm thanh của chúng ta, mà tánh nghe này thấu suốt khắp mười phương Phật. Cho đến những niệm nhỏ nhiệm nhất của chúng sanh, Ngài đều nghe được. Phật bảo tánh nghe này không chỉ Bồ-tát Quan Âm mới có mà tất cả chúng sanh cũng có. Nhưng Bồ-tát khác chúng sanh vì Ngài quên trần cảnh nhớ tánh nghe, còn chúng sanh quên tánh nghe nhớ trần cảnh. Cho nên nhĩ căn của Ngài viên thông, còn nhĩ căn của chúng sanh không thông. Trong kinh Lăng-nghiêm, Phật đã chọn pháp tu Nhĩ căn viên thông của Bồ-tát Quan Âm làm pháp tu căn bản cho hành giả trên đường trở về bản tâm.

Bồ-tát Quan Âm sử dụng đại bi và đại trí như hai cánh tay không rời Pháp thân Phật. Do đó từ tâm của Ngài hiển hiện thành diệu dụng dưới mọi dạng thức để hóa độ chúng sanh. Tình thương của Bồ-tát được nâng lên đến đỉnh điểm của bi trí tròn đầy, vượt qua mọi ngăn ngại, không còn thấy mình và người, cũng không còn tình thương để cho và nhận. Đó mới chính là tình thương chân thật. Giống như ánh sáng mặt trời tỏa chiếu khắp nhân gian, không cần biết nơi chốn cao thấp. Dù chúng ta quý kính Bồ-tát hay không, Ngài vẫn thương chúng ta. Thành tựu trí lực này, Bồ-tát Quan Âm đi vào cuộc đời không chướng ngại, thân nơi cõi tục mà tâm an trụ cảnh giới Phật.

Có người hỏi nếu niệm danh hiệu Quan Âm, nhảy vào lửa có cháy không? Cháy chứ. Nhào xuống biển có chìm không? Chìm chứ. Niệm bằng cái tâm loạn động và cái miệng suông thì chết chắc! Hành giả phải niệm bằng tâm thuần tịnh. Tâm tâm tương ưng với Bồ-tát. Chánh niệm, chánh định, niệm ngoài sóng thức, niệm đến vô niệm. Quên hết. Quên cả chính mình thì không còn bị khủng bố, sợ hãi. Được thế, dù cho xác thân có cháy cũng chỉ cháy phần huyễn tướng, có chìm cũng chỉ chìm năm uẩn bốn đại, bấy giờ hành giả nhập được Pháp thân bất diệt, vĩnh viễn vượt ngoài sự sống chết. Như vậy không phải Bồ-tát đã cứu thoát mình đó sao? Quan Âm diệu trí lực, hay cứu khổ thế gian, chính là đây vậy.

Đảnh lễ Bồ-tát Quan Âm trước khi rời Viện Văn-thù, chúng tôi cảm thấy một chút an lòng khi chợt nhớ đến hai vị Đại Bồ-tát luôn ở bên mình, trong từng niệm từng niệm bi trí tròn đầy.

THƯỞNG TRÀ

Tứ Xuyên là xứ của danh trà. Cho nên ngành du lịch Trung Quốc nhất định phải đãi khách cho bằng được những chung trà đặc sản. Ghé vào một quán trà Thành Đô, đoàn được mời vào căn phòng ấm áp. Ở đây, chủ chỉ rót và khách chỉ uống, chớ không đối ẩm, càng không phải trà thiền hay trà đạo như ở Nhật Bản.

Uống trà như uống… rượu. Đây, Trúc Diệp Thanh một chung, mời. Thanh Sơn Lục Thủy một chung, mời. Lan Quý Nhân một chung, mời. Thế là Vương trà, Hồng trà, hoa nhài, Ô Long, Long Tỉnh… nối nhau xếp hàng chào khách. Uống một hơi mười mấy chung thì… hết biết. Vô phân biệt. Chẳng còn nhớ nổi vị nào là đậm, nhạt, thơm, ngon, đắng, chát… Thật hay. Nhưng tiếc là không có chung trà Triệu Châu năm xưa, để cho khách uống phải tỉnh mộng, nhớ lại việc bổn phận của mình.

Nhà tu thì không được say bất cứ thứ gì trên đời, kể cả say trà. Cho nên chúng tôi uống xong quên tuốt hết. Lối tiếp thị của Trung Quốc quả là rất có phong cách, nhưng Tăng Ni Việt Nam dường như chỉ quen uống trà xanh, trà Phật, cây nhà lá vườn bình thường thôi. Song để đáp lại tấm thịnh tình nơi đất khách, Phật tử trong đoàn đã mua khá nhiều trà cúng dường quý Thầy cô hoặc đem về tặng thân hữu gọi là chút quà Trung Hoa.

Riêng chúng tôi xin gửi đến Thành Đô – Tứ Xuyên chung trà của thiền sư Huyền Quang – Việt Nam như là chút đạo tình cho một lần hội ngộ.

Phú quý phù vân trì vị đáo,

Quang âm lưu thủy cấp tương thôi.

Hà như tiểu ẩn lâm tuyền hạ,

Nhất tháp tùng phong, trà nhất bôi.

Dịch:

Giàu sang mây nổi đến dần dà,

Ngày tháng trôi nhanh chẳng đợi mà.

Chi bằng tiểu ẩn([1]) nơi rừng suối,

Một giường gió mát, một chung trà.

Hòa thượng Thanh Từ dịch

([1]) Tiểu ẩn là ở nơi rừng núi, trung ẩn là làm quan nhỏ, đại ẩn là ở triều đình.

Một chung trà này, chẳng thích lắm sao!

Giã từ Thành Đô, chúng tôi lên tàu. Chắc chắn đêm nay sẽ rất tỉnh vì một hỗn hợp trà còn ấm trong bụng.

 

Tứ Xuyên

LẠC SƠN ĐẠI PHẬT

Ngày 10-5-2007

Ăn sáng xong, đoàn đáp chuyến bay đi Thành Đô vào lúc 8 giờ sáng. Sân bay Thành Đô nhỏ hơn sân bay Quảng Châu. Thành Đô là thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên. Đoàn đến Trung Quốc vào đầu mùa hè, nên nhiệt độ Tứ Xuyên lúc này khoảng 80C – 150C. Ở đây quanh năm sương mù nên ta có cảm giác mát dịu hao hao như Đà Lạt. Nếu là mùa đông chắc sẽ lạnh hơn nhiều.

Tứ Xuyên là tỉnh đông dân, khoảng 120 triệu dân, có diện tích hơn nửa triệu cây số vuông, lớn gấp rưỡi Việt Nam. Đây là tỉnh có địa thế rất hiểm trở, hình lòng chảo, núi non vây quanh tứ bề. Phía nam là cao nguyên Vân Nam, phía đông bắc tiếp giáp với Thiểm Tây, phía đông là rặng Vu sơn, phía tây là Thanh Hải – Tây Tạng. Ngày xưa nơi đây là vùng biên địa hạ tiện, đất đai khô cằn. Đến thế kỷ IV trước công nguyên mới được người Hán đến khai khẩn.

Khách đến Tứ Xuyên thì không thể không nhớ tới nước Thục ngày xưa của Lưu Bị. Sử Trung Quốc ghi rằng đầu công nguyên (năm 67) vua Hán Minh Đế là người đầu tiên ngưỡng mộ Phật pháp và cho truyền bá đạo Phật trong xứ sở này. Đó là thời Hậu Hán. Sau gần 200 năm, con cháu của Minh Đế là Hiến Đế lên ngôi, bị Đổng Trác và Tào Tháo chuyên quyền lấn hiếp. Trong tôn thất nhà Hậu Hán có một người tên Lưu Bị, làm nghề dệt chiếu, đóng dép. Đau lòng vì cơ nghiệp nhà Hán, ông kết nghĩa cùng Quan Vân Trường, Trương Dực Đức dấy quân phò vua giúp nước. Song có thể nói đại nghiệp của ông thành tựu là nhờ vào thiên tài Khổng Minh Gia Cát Lượng (181-234). Quân sư Gia Cát Lượng giúp Lưu Bị chiếm được vùng đất Thục, nay là tỉnh Tứ Xuyên, đóng đô ở Thành Đô.

Bấy giờ Tào Tháo giữ đất Trung Nguyên gọi là nước Ngụy, còn Tôn Quyền dựng nước Ngô. Đó là ba vùng đất to lớn, chia Trung Quốc ra thành thế chân vạc, mỗi người hùng cứ một phương và luôn rình rập dòm ngó nhau. Không biết vì chí lớn muốn thống nhất giang san một cõi hay vì lòng tham không đáy của con người mà trận đồ đẫm máu Tam quốc Ngụy, Thục, Ngô kéo dài suốt 60 năm, để lại cho hậu thế tác phẩm Tam Quốc Chí chưa khô dòng huyết lệ, quá đau thương để cho người sau phải ngậm ngùi.

Chịu bao biến đổi thăng trầm, bể hóa cồn dâu, Tứ Xuyên bây giờ không còn là biên địa hạ tiện nữa mà trở thành một trong những tỉnh gần trung tâm rất phát triển của Trung Quốc. Lưu Bị có còn nằm trong thành Bạch Đế, cung Vĩnh An mà ngắm Tứ Xuyên ngày nay, chắc hẳn sẽ thấy vui? Bài học lịch sử nào cũng có kẻ thắng người bại, nhưng rồi tất cả đều trở thành thiên cổ, tro tàn xương lạnh, tương sinh tương diệt theo quy luật vô thường. Có chăng chỉ còn lại khí tiết, phẩm chất, đạo đức của người anh hùng. Song những thứ ấy cũng không sao sánh được với cái lẽ chân thường, hư ngưng tịch lặng. Con người chỉ là một chút duyên sinh theo nghiệp tạm đến, thuận dòng tạm đi, sao để thân tâm chịu nhiều khổ lụy như thế!

Hãy xem Thượng sĩ Tuệ Trung nước ta, một tướng lĩnh chung vai sát cánh với vua Trần, với dân tộc trong những ngày đất nước gặp cơn binh biến, đã có thái độ đến đi trong cuộc đời bằng cái tâm của người sống đạo, đẹp và tỏa sáng hơn cả vầng trăng: “Đói thì ăn chừ cơm mười phương góp, mệt thì ngủ chừ nơi chẳng quê hương… Buông bốn đại chừ đừng nắm bắt, tỉnh một đời chừ thôi chạy quàng”. Được thế là do Thượng sĩ tu thiền, liễu đạt nguồn tâm, sống tự do, chết tự tại, không gì có thể buộc ràng. Cho nên Ngài đã bất tử, đã sống mãi trong lòng đất Việt, trong lòng Tăng Ni, Phật tử và dân tộc Việt Nam, không tính kể thời gian.

Đường từ phi trường đến Thành Đô khá tốt. Những mảng dây leo dọc bờ đá ở hai bên đường man mác xanh lẫn trong sương mờ, làm cho Tứ Xuyên mù tỏa lại càng mù tỏa hơn. Mặt trời lên muộn, đã gần 11 giờ trưa mà vẫn chưa thấy nắng. Dân ở đây bảo có hôm mặt trời ngủ quên thì Tứ Xuyên cũng trùm mây mà ngủ luôn suốt ngày đêm. Thật ra, vùng bình nguyên đất đỏ này như cái lòng chảo nằm chính giữa, chung quanh núi non bao phủ, nên khí hậu lạnh và ẩm quanh năm, hiếm khi thấy nắng ấm trời trong.

Vào Thành Đô, dùng trưa xong là đoàn đi ngay đến Lạc Sơn. Đây là một thị trấn nhỏ nhưng lại có đức Phật rất lớn - Lạc Sơn Đại Phật. Diện tích Lạc Sơn là 12.800km2, có 3.600 dân và hơn 3.000 năm lịch sử. Thời Nam Bắc triều gọi đây là Gia Châu, thời Nam Tống gọi là Gia Định, đến đời Thanh gọi là Lạc Sơn và tên này được dùng luôn cho tới nay. Người ta bảo ở đây nổi tiếng là “Nhất Sơn, Nhị Phật, Tam Giang”. Nhất sơn là Nga My sơn, Nhị Phật là Đại Phật, Tam giang là ba dòng Mân giang, Thanh Y giang và Đại Độ hà hợp lưu tại Lạc Sơn. Vì thế nó trở thành đô thị được nhiều du khách vãng lai.

Chúng tôi phải đi bộ một đoạn đường khá xa (khoảng 3km) và đẹp dọc bờ Mân giang trước khi được đảnh lễ Như Lai. Nước sông hắt lên làm dịu bớt cái hanh nắng mùa hè. Cảm ơn hàng cây xanh bên đường phe phẩy một chút gió và bóng mát tỏa râm là món quà tặng lữ khách phương xa. Mới đến Trung Quốc có hai ngày, cho nên ai cũng còn đủ sức, đi rất khỏe. Xem ra đây mới chỉ là khúc đầu của bản dạo bộ, đi bộ, lội bộ cho tới chạy bộ của chúng tôi suốt 14 ngày tại Trung Quốc. Hết lên đường lại xuống đường, muốn dừng cũng không sao dừng được. Các tay nhiếp ảnh trong đoàn vẫn còn rất thư thả nhắm, ngắm, bấm… thật vui vẻ.

Truyền thuyết kể về sự ra đời của đức Phật nơi đây khá hay. Lạc Sơn là chỗ nhập lưu của ba dòng Mân giang, Thanh Y giang và Đại Độ hà. Do vậy chỗ này nước xoáy, sóng dữ, sẵn sàng lật đắm ghe thuyền bất cứ lúc nào. Dòng thủy triều nơi đây trở thành mồ chôn của bao nhiêu khách thủy hành. Bấy giờ có một vị tăng hiệu là Hải Thông không chịu được thảm cảnh ấy, ngài quyết chẻ núi lấp sông. Và kỳ tích hơn là chính ngọn núi được chẻ ấy sẽ tạc thành tượng của đức Đại Phật Lạc Sơn. Ngài chọn một vách đá lưng dựa vào núi Lăng Vân, mặt nhìn ra đúng chỗ hợp lưu của ba dòng sông trên, rồi quyên góp lòng hảo tâm của nhiều người, chung vai góp sức để thực hiện tâm nguyện trên. Viên quan địa phương bấy giờ thấy Ngài có tiền của, nổi lòng tham nhũng nhiễu đòi chia. Ngài cương quyết không cho và nói đó là số tiền của bá tánh, nếu của riêng thì Ngài sẵn lòng. Viên quan không tha, xin thử mắt đại sư, nào ngờ Ngài móc mắt đưa ngay. Sự việc đó làm cả người lẫn thần sông phải kinh sợ. Thế là ngài Hải Thông bắt đầu xây dựng công trình này vào năm 713 đời nhà Đường.

Công trình chưa xong thì Đại sư đã theo Phật. Do tâm hạnh và bi nguyện của Ngài quá lớn, quá cảm động lòng người nên chiêu cảm nhiều tăng sĩ tự nguyện noi theo, tiếp tục công trình cho tới ngày hoàn thành. Thật đáng khâm phục, 90 năm sau tức năm 803, Đại Phật Lạc Sơn viên mãn tỏa sáng và trở thành tượng Phật được điêu khắc từ đá lớn nhất thế giới với chiều cao 71m. Mặt Phật rộng 10m, mắt ngang 3,3m, tai dài 7m, vai rộng 24m, trên bàn chân đứng hơn 50 người, thế ngồi an nhiên vững chãi. Quả xứng với câu “Sơn thị nhất Tôn Phật, Phật thị nhất tòa sơn” (núi là một vị Phật, Phật là một ngọn núi). Kể từ đó ngọn Lăng Vân được kiến tạo thành một quần thể hang động với rất nhiều chư Phật và Bồ-tát.

Đức Phật ngự trên một tòa núi đá, uy nghi hùng tráng trước sông nước như vậy thì nước sông nào dám nổi cơn cuồng nộ? Cho nên từ đó dòng sông biến đổi hoàn toàn, đá từ núi đổ xuống đã lấp bằng những chỗ xoáy sâu, chế ngự được các dòng chảy hỗn loạn. Người dân yên tâm trên những chuyến thuyền qua lại. Đến đây, hầu như ai cũng hướng về Đại Phật cúi đầu chấp tay cung kính đảnh lễ và không quên tưởng nhớ đến công đức của đại sư Hải Thông.

Đoàn đi đường vòng lên chùa Lăng Vân. Chùa nằm ở vị trí ngang đầu mặt Đại Phật. Cảnh trí già-lam u nhã thanh tịnh. Kiến trúc đẹp, vòm mái các điện đài chạm trổ sắc sảo, thanh nét, tạo cho khách cảm giác nhẹ nhàng tươi mát. Đứng trên cao nhìn xuống ta thấy rõ hai con đường hẹp ở hai bên đức Phật, xây thành cấp thang dẫn từ chân Đại Phật lên núi Lăng Vân. Thiện nam tín nữ có thể nhiễu quanh theo bên phải ba vòng (nếu đủ sức) rồi đứng lại cung kính đảnh lễ Như Lai mà thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài ít bệnh ít não chăng? Chúng sanh ở đây dễ độ chăng?” Nếu đức Phật gật đầu thì xem như kẻ ấy có duyên với Đại Phật lắm. Du khách cũng có thể dùng thuyền theo dòng Mân giang đến ngay dưới chân tượng, lễ Phật rồi lên chùa chiêm ngưỡng Như Lai.

Chúng tôi ngồi nơi lầu chuông nhìn xuống ngã ba sông, chỗ hợp lưu ba dòng Mân giang, Thanh Y giang và Đại Độ hà bây giờ, con nước thật hiền hòa, lững lờ quanh những cồn cát nổi vân. Ai biết được nó đã hung tợn như thế nào trước đây những nghìn năm? Ai dám bảo không có gì thay đổi theo dòng thời gian? Chỉ có điều các pháp đổi thay tốt hơn hay xấu hơn mà thôi. Tất cả đều tùy tâm lưu chuyển. Nếu không phải là từ tâm, đại tâm như đại sư Hải Thông và chư sư tiếp nối thì liệu dòng sông có được như ngày nay chăng? Cho nên trước tiên phải chuyển cái tâm mình đã, lo gì không hết khổ, được vui. Tâm có Phật ngự thì hết sợ, như Lạc Sơn Đại Phật với Tam giang đầu hợp vậy.

Chiều xuống nhanh, tiễn chân chư tăng Việt Nam là những chung trà ấm của Lăng Vân Tự và nụ cười hiền của Sư Trụ trì. Mong ngày gặp lại.

 

Thiểm Tây

14/09/2007

LÊN TÀU ĐI TÂY AN

Chuyến tàu K6 đi Tây An lăn bánh vào lúc 20h52 phút. Đây là chuyến tàu đầu tiên của đoàn, để từ đó những tuyến tàu kế tiếp nhau lưu lại trong chúng tôi nhiều ấn tượng hỏa xa… xuất hạn mồ hôi. Vì là lên và xuống tàu ở một sân ga giữa chừng, nên thời gian dành cho hành khách rất ít, khoảng 5 phút – 8 phút, có chỗ chỉ 3 phút.

Đoàn lại đông, đa số là người lớn tuổi, hành lý nhiều, cho nên việc đi tàu lửa trở thành kỷ niệm nhất. Có người về đến nhà, nhắc lại chuyến đi không nhớ gì cả ngoài chuyện đi tàu lửa. Nhưng lần này vẫn còn thong thả, chưa có gì đáng nói lắm. Lần gần cuối cùng kia, mới biết thế nào là chạy đua với tàu lửa.

Từ Thành Đô đến Tây An nhìn trong bản đồ chỉ chừng một đốt tay, mà tàu chạy suốt đêm không thấy tới, Trung Quốc quả thật là một đất nước bao la. Đêm nay nghỉ lại trên tàu. Nằm lắc lư trong toa, nhìn ra những cánh đồng mênh mông, những đồi, những núi, những làng mạc ẩn khuất gần xa… chập chờn mờ tỏ trong đêm, chúng tôi chợt nhớ lại bài pháp của Hòa thượng Ân sư.

- Có một con tàu kỳ lạ gồm nhiều toa, nhiều hạng nhưng không có người lái. Nó tự chạy đều đều tiếp nối liên tục từ phố thị ra biển khơi với một vận tốc thật chậm. Trên đó vô số người bị lính áp tải lên những toa khác nhau, từ hạng tốt đến hạng xấu. Hành khách đều có mang theo hành lý riêng. Tuy chung một con tàu nhưng họ rất khác nhau. Có người ngủ vùi, có người mê say ăn uống, có người vui đùa thâu đêm, có kẻ ẩu đả vì những canh bạc đỏ đen… Bao nhiêu cảnh tượng chen lấn giành giâït miếng ăn giấc ngủ liên tục xảy ra, mặc cho con tàu lăn bánh đưa họ ra trùng dương.

Trải qua quãng đường dài vạn dặm, hương thơm cỏ lạ, kỳ hoa dị thảo dàn trải trước mắt. Nhưng cũng có lúc con tàu chạy ngang qua những cánh rừng thâm u, cảnh tượng ma quái ghê rợn, hoặc chui vào lòng núi băng giá, âm khí ngột ngạt… Nơi nào vừa lòng thích ý, hành khách mong cho con tàu chạy chậm lại để thỏa lòng thưởng thức. Nơi nào nghịch lòng trái ý, họ muốn con tàu lướt nhanh. Song ác nghiệt thay, con tàu lạ kỳ ấy vẫn không thể nào lùi chậm hay tiến nhanh theo lòng người.

Đường xa đắm cảnh khiến cho đa số hành khách trên tàu quên rằng đoạn đường cuối cùng sẽ là biển khơi. Vui thú, đam mê theo những hình ảnh đẹp, có người nhảy bổ ra ngoài và chết mất. Đau lòng hơn, nhiều cảnh tranh giành lấn hiếp, xô đẩy nhau đã khiến họ quăng đồng loại mình xuống vực thẳm ven đường. Trong số đó, rất ít người còn lại trên tàu, biết rằng số phận mình sẽ rơi xuống biển sâu, họ không chạy theo ngoại cảnh, mà âm thầm lặng lẽ ngồi kết từng mảnh cao su lại với nhau thành chiếc phao, mặc tình những kẻ chung quanh cười chê.

Rồi cũng đến lúc đại dương hiện ra trước mặt. Những ai quên đi số phận của mình, bấy giờ hốt hoảng kêu la cầu cứu, van nài con tàu dừng lại. Nhưng quy luật ấy không thể thay đổi được. Nó đâm nhào xuống biển, kết thúc cuộc hành trình dài vô vị, vô lý kia. Chỉ những người không chạy theo huyễn duyên, không màng chuyện hơn thua phù phiếm, họ đã có sẵn chiếc phao, để khi con tàu lao xuống biển, họ trầm tĩnh nương chiếc phao lên bờ bình an vô sự.

Câu chuyện được hợp pháp như sau: Bọn lính áp tải người lên tàu ví cho nghiệp lực dẫn chúng ta thọ sanh vào các cõi. Các toa tốt xấu dụ cho tùy phước hay tội mà chúng ta sanh ra trong gia đình, xã hội, hoàn cảnh thuận nghịch, sang hèn khác nhau. Cảnh vật bên ngoài là ngũ trần. Hiện tượng diễn ra bên trong là tam độc, bát phong… Sự vận chuyển liên tục không dừng là dòng thời gian. Điểm khởi và điểm đến dụ cho sanh tử, chúng ta ai cũng sinh ra và cuối cùng lại chết đi. Nếu người tỉnh giác thì không chìm đắm trong biển vô minh, được lên bờ giải thoát. Ngược lại, kẻ si mê quên đi việc sống chết vô thường đang theo đuổi mình từng phút từng giờ thì hẳn phải trầm luân nơi biển khổ.

Bài pháp ấy là một bài pháp sống đã đi theo chúng tôi trong suốt cuộc hành trình, như một hồi chuông cảnh tỉnh, như một ánh đuốc soi đường, hướng đạo kẻ lữ hành không lạc vào mê lộ tử sinh.

CHÙA TỪ ÂN - THÁP ĐẠI NHẠN

Ngày 13-5-2007

Khoảng 12h30 phút, đoàn đến Tây An. Nhiệt độ khoảng từ 16oC – 29oC, rất quen. Nghỉ trưa xong, chúng tôi đến chùa Từ Ân và tháp Đại Nhạn bằng xe ô tô. Tây An là thủ phủ của tỉnh Thiểm Tây và cũng chính là cố đô Trường An của các triều Chu, Tần, Hán, Tùy, Đường, Minh… trước sau có đến 10 triều đại chọn nơi đây là trung tâm kiến thiết kinh đô, trải dài hơn 1.100 năm. Xe chạy qua cổng thành cổ xưa tạo cho ta cảm giác kính cẩn rụt rè như kẻ thứ dân bước vào cổng nhà quan lớn. Chung lâu và Cổ lâu sừng sững trong thành càng làm tăng thêm vẻ uy nghi đường bệ của một thời cố đô cổ đại. Bóng mát của hai hàng cây ngô đồng được rắc lên chút sắc chiều hoàng hôn, làm cho lối dẫn vào Tây An như một đường ngầm xanh thẳm, lấm tấm điểm nắng hồng. Cổ kim giao hưởng tạo nên một dáng dấp Tây An hôm nay. Đẹp và cổ kính.

Chu vi thành 11km, chung quanh có 4 cửa, người ta đào hào sâu bên ngoài để giữ thành. Đồng thời làm thêm một con đường bao quanh thành rộng đến 150m, hai bên đường trồng cây ngô đồng và cây du. Ngày nay Tây An có khoảng 3 triệu dân. Thành Trường An đời nhà Đường to lớn kỳ vĩ hơn thành Trường An đời nhà Hán gấp bội. Từ sau đời Đường, kinh đô các triều đại khác chuyển về phía đông. Đời Minh đổi Trường An thành Tây An. Ngày nay chúng ta thấy tường thành và lâu thành hoàn chỉnh như vầy đều là kiến trúc của đời nhà Minh.

Nhà khảo cổ Hạ Tân Thành cho biết thành Trường An đời Đường là thiết kế tinh tế nhất của Trung Quốc, là một kinh đô cổ đại có bố cục cân đối. Nam – Bắc 8,4km; Đông – Tây 7,9km; với tổng diện tích 81,48km2. Vào thế kỷ thứ VIII, IX Trường An được xem là kinh đô lớn nhất thế giới. Đông tây nam bắc thành Trường An được thiết kế thẳng góc giống như một bàn cờ. Thành Lạc Dương, thành Bắc Kinh sau này đều mô phỏng theo quy cách ấy.

Thành Trường An đời Đường có tới 12 cổng thành, chớ không phải chỉ 4 cổng như bây giờ. Trong đó, nổi tiếng nhất là cổng Khai Viễn nằm ở phía tây. Chính nơi đây Đường Huyền Trang đã xuất phát, thực hiện một cuộc Tây du dài 5.000 dặm, để sau này Phật giáo Trung Quốc có được một kho tàng kinh điển đồ sộ chưa từng thấy. Có thể nói cổng Khai Viễn chính là khởi điểm ở phía đông của con đường tơ lụa. Con đường mà không biết truyền nhân nào đã tìm ra từ đầu công nguyên, để từ đó mở lối cho các cao tăng Ca-diếp Ma-đằng, Trúc Pháp Lan, An Thế-cao, Cưu-ma-la-thập, Pháp Hiển, Bồ-đề Đạt-ma, Huyền Trang và vô số những tăng sĩ khác đưa Phật giáo vào Trung Quốc.

Trường An vì thế đã trở thành cuốn sử vẫn chưa khép của một dân tộc có 6.000 năm văn hiến, trải qua nhiều thăng trầm biến đổi. Thành Trường An vào đời Đường có dân số khoảng 1 triệu người, diện tích bao bọc thành khoảng 85km2. Các đời sau do chiến tranh phá hoại, Trường An dần dần bị suy thoái. Đến đời Minh, khu vực thành trì thu hẹp lại chỉ còn 30,2km2. Nhưng đến thế kỷ XX, Trường An đã thành Tây An và hoàn toàn đổi mới, với tổng diện tích lên đến gần 100km2, vượt rất xa thành Trường An huy hoàng nhất trong lịch sử của thời Thịnh Đường. Và có lẽ sống nơi một thành phố từng là cố đô của nhiều đời vua chúa, nên người dân thành Tây An ngày nay vẫn còn phưởng phất đôi nét phong lưu nhàn nhã, giữa một dòng sống cuộn chảy theo nền văn minh thời đại tiến nhanh như thác lũ.

Chúng tôi đến Tây An là vì nơi đây có Đường Huyền Trang, một Tam Tạng Đại pháp sư, danh xưng và công đức bất hư truyền. Cùng với ngài Cưu-ma-la-thập, Đường Huyền Trang đã đi vào lịch sử Phật giáo Trung Quốc như một ngôi sao Bắc đẩu, sáng chói và vĩ đại nhất trong sự nghiệp dịch thuật kinh điển, với một trình độ văn chương trác tuyệt và nội dung chuẩn xác. Vì thế điểm thăm viếng đầu tiên của đoàn là chùa Từ Ân nằm phía tây thành phố Tây An, ngôi chùa Đường Tăng trụ trì đầu tiên và phiên dịch kinh điển, từ chữ Phạn ra chữ Hán và ngược lại.

Chùa Từ Ân được vua Đường Cao Tông lập ra để báo ân cho mẹ. Đây là một ngôi chùa hoàng gia, thời đó cực kỳ tráng lệ và rộng lớn, thường dân không được vào. Ngày nay diện tích chùa đã thu hẹp lại nhiều mà vẫn còn thấy rộng. Người ta bảo đến Tây An mà không thưởng ngoạn các kiến trúc đời Đường thì đành lòng sao được! Chùa Từ Ân và tháp Đại Nhạn là những di sản quý báu còn lại mang kiến trúc thời ấy, đến bây giờ vẫn không hề thuyên giảm giá trị mỹ thuật lẫn kỹ thuật của một thời Thịnh Đường.

Tại Quang Minh Đường, nổi bật những bức tranh đồng, tranh gỗ miêu tả lại cuộc đời và thuyết minh con đường thỉnh kinh của ngài Huyền Trang thật sinh động, với những nét vẽ và điêu khắc cực kỳ sắc sảo, đã làm cho khách chiêm ngưỡng hết lòng khâm phục Đường Tăng. Riêng bức chân dung Ngài mang giày cỏ, lưng đeo giá kinh bằng gỗ, phía trên giá hơi nghiêng về phía trước và có treo một cây đèn dầu lạc là thường thấy nhất ở những tự viện thờ Ngài. Bức tranh này khiến cho nhiều người xúc động. Cây đèn trước giá kinh có công dụng tỏa ra ánh sáng dù chỉ leo lét thôi, cũng đủ thắp lên ngọn tâm đăng và niềm tin cho Đường Tăng tiến lên trên hoang lộ dày đặc hiểm họa và tối tăm.

Ngài Huyền Trang thế danh là Trần Huy, sinh năm 602 tại Hà Nam. Năm thứ ba đời Đường Thái Tông (629), Ngài chỉ mới 27 tuổi, hãy còn rất trẻ mà đã quyết chí vượt mọi khó khăn nguy hiểm rời Trường An sang Tây Vực thỉnh kinh. Một mình qua sa mạc Gobi dài non 500km, tới nước Cao Xương. Rồi leo núi Thông Lãnh cao 7.200m trong dãy Thiên sơn, tiến theo con đường tơ lụa tới Thiết Môn sơn, một nơi rất ư hiểm trở. Từ đây Ngài theo hướng đông nam qua nhiều nước nhỏ, rồi vòng qua Đại Tuyết sơn vào Tây Trúc. Trải qua hơn 5.000 dặm đường đầy gian nan nguy khốn, ngày đêm chịu đói khát trên những vùng cát cháy, tay vin núi tuyết, chân đạp trên đỉnh cô phong, chỉ vì một tâm nguyện muốn Phật pháp được lưu bố rộng khắp dài lâu trên đất nước Trung Hoa, làm lợi lạc quần sanh.

Chiến thắng mọi nguy khốn gian nan đối với người tu vẫn chưa là điều đáng quý, chiến thắng chính mình mới là chiến công oanh liệt nhất. Và ngài Huyền Trang đã hoàn toàn chiến thắng trên cả hai trận tuyến ấy. Sau 16 năm xa quê, năm 645 Ngài trở về Trường An và đã thành một cao tăng 45 tuổi, đi gần 30.000km, qua 128 nước, đem về cho Trung Quốc 657 bộ kinh, chưa kể nhiều vật quý khác và niềm kính phục vô biên của thời nhân cũng như hậu thế.

Về tới Trường An, một tháng sau, ngài Huyền Trang bắt tay ngay vào việc phiên dịch toàn bộ kinh điển đã mang về từ Thiên Trúc. Công việc này được thực hiện đại quy mô và liên tục trong suốt thời gian dài 19 năm, dưới sự tài trợ của triều đình. Ngài tổ chức một ban dịch thuật chuyên môn, có trình độ giáo điển uyên thâm và vốn liếng ngoại ngữ dày dặn. Ngài mời các vị cao tăng thông cả Hoa ngữ lẫn Phạn ngữ hợp tác. Phương pháp dịch thuật của Pháp sư Huyền Trang rất khoa học và chu đáo, được chia làm 10 khâu: phiên dịch chính, chứng nghĩa, chứng văn, sao chép, ghi nhận, xuyết văn, tham dịch, san định, nhuận văn, Phạn suy([1]). Nhờ thế, các dịch phẩm được soát đi soát lại nhiều lần nên khá chính xác. ([1]) Phạn suy: Đối chiếu bản dịch với chữ Phạn.

Những bộ kinh khó nhất, ý nghĩa thâm sâu nhất, ngài Huyền Trang trực tiếp phiên dịch. Ngài làm việc siêng năng miệt mài vô cùng. Hằng ngày dịch kinh cho đến khuya, canh ba mới ngủ, canh năm lại dậy. Thái độ làm việc rất nghiêm túc cẩn thận, không hề lơi lỏng chút nào. Thật là tấm gương sáng cho chúng ta noi theo. Tại Ấn Độ, môn học sở trường của Ngài là Duy Thức. Vì vậy về đến Trung Quốc, Ngài thu lượm tinh hoa của các bộ Đại luận thuộc tông Duy Thức, chuyển sang Hán ngữ để tên là “Thành Duy Thức Luận”, tổng cộng 10 quyển. Do đó Pháp sư Huyền Trang cũng chính là Tông chủ Pháp tướng tông tại Trung Quốc.

Tới năm 663, Ngài dịch được 600 quyển. Ngoài ra, Ngài còn để lại cho hậu thế bản dịch Đạo Đức Kinh từ tiếng Hoa ra tiếng Phạn, giới thiệu triết học Trung Quốc với Ấn Độ. Bản Đại Thừa Khởi Tín Luận cũng từ Hoa ngữ ngược về Phạn ngữ, vì nguyên bản chữ Phạn ở Ấn Độ đã thất lạc từ lâu, trong khi Trung Quốc còn giữ được bản chữ Hán. Soạn một quyển ngữ pháp Phạn, giản lược mà sáng sủa và chính xác. Viết bộ Đại Đường Tây Vực Ký gồm 12 quyển, chép những điều mắt thấy tai nghe trong suốt hành trình thỉnh kinh. Bộ sách này là tài liệu rất quý cho các nhà khảo cổ Ấn Độ và Trung Á về sau, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Nhật, Đức, Việt Nam… đã giúp cho các học giả Ấn sửa lại nhiều điểm sai lầm trong lịch sử của họ khoảng thế kỷ thứ VII.

Năm 664, giữa hương trầm quyện tỏa, bản kinh Bát-nhã vừa được dịch xong, tâm nguyện đã viên mãn, thấy sắp đến giờ từ biệt, Ngài lên chùa lễ Phật lần cuối rồi ngồi kiết-già an nhiên thị tịch. Chúng nhân đầm đìa rơi lệ, thương tiếc quý kính một bậc Tam Tạng Pháp sư vô tiền khoáng hậu của Trung Quốc, đã vì lưu truyền Thánh giáo nơi đời mà quên cả thân mạng. Thánh cữu của Ngài có cả triệu người ở Trường An và dân tứ xứ đến cung tiễn. Báo thân Ngài tuy theo dòng duyên sinh tạm đến tạm đi, nhưng công đức và chân thân Bồ-tát thì mãi mãi không hư hoại và cửu trụ nơi đời, hiện ra muôn ngàn ứng hóa thân giáo hóa chúng sanh cho đến ngày thành tựu Phật quả.

Tháp Đại Nhạn nằm trong khuôn viên chùa Từ Ân do Ngài dựng lên để chứa kinh. Hình dáng ngôi tháp này không giống phần lớn các tòa tháp cổ của Trung Quốc mà phỏng theo hình dáng các tháp Phật ở Ấn Độ. Điều này thầm nói lên tấm lòng luôn tưởng nhớ và tri ân của Pháp sư đối với các bậc thầy đã hết lòng chỉ dạy Ngài trên đất Phật. Tháp Đại Nhạn cao 64m, gồm 7 tầng, toàn bộ làm bằng gạch nung chắp ghép lại mà thành. Tháp đã trải qua hơn ngàn năm sương gió, từng bị rung chuyển qua bao nhiêu lần động đất, đến nay vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Không biết có phải do tâm kiên cố sắt đá, không gì lay chuyển nổi của Đường Tam Tạng chiêu cảm nên chăng?

Bên ngoài khách ngẩng đầu lên nhìn những phiến đá xanh trên các bậu cửa đều thấy có khắc tượng Bồ-tát. Đường nét thật ưu mỹ ấy ắt phải từ tay của các nhà điêu khắc diệu thủ. Đường lên tháp là một cầu thang gỗ hình trôn ốc. Qua mỗi tầng chúng ta đều có thể nhìn ra xa tứ phía qua các khung cửa sổ, cảnh sắc thật tuyệt. Toàn bộ thành phố Tây An nằm ngoan hiền bên dưới Nhạn tháp. Có cả một quảng trường thủy canh với hàng nghìn vòi nước nhảy múa nhịp nhàng, điệu nghệ như một vũ khúc nghê thường. Lên đến tầng cao nhất, tầm mắt ta có thể nhìn rõ dãy Chung Nam sơn uốn lượn quanh co, nơi đây viên lăng của hoàng tộc các đời Hán, Đường yên nghỉ và dãy Bắc sơn cũng thấp thoáng ẩn hiện xa xa. Bất chợt lòng khách nghe da diết cái điệu cổ hoài hương của một cánh nhạn lưng trời.

Cúi đầu niệm ân và đảnh lễ Thánh tượng Tam Tạng Pháp sư trước khi ra về, chúng tôi không quên ngoảnh lại một lần cuối để nhìn thật kỹ, nhớ thật sâu ánh mắt của Ngài, trong đó gửi gắm biết bao nhiêu điều chưa nói mà người sau phải tự nhận hiểu và tiếp nối cho tròn ân đức vô biên của cổ nhân.

Ai ngàn xưa du hóa,

Ai ngàn sau hành hương,

Thấy chăng trong nhịp hoằng dương,

Bóng người hộ pháp lồng khuôn Phật-đà.

Trúc Thiên

Nói về Pháp sư Huyền Trang thì không thể không nhắc đến Phật giáo thời Đường. Có thể khẳng định rằng triều Đường là thời đại hoàng kim của Phật giáo nói chung và Thiền tông nói riêng. Phật giáo cực thịnh như vậy một phần nhờ các hoàng đế tôn sùng, ngưỡng mộ và hết lòng ủng hộ Phật pháp, một phần nhờ có sự xuất hiện của các bậc cao tăng, thiền sư đương thời, trong đó có Lục Tổ Huệ Năng, mặt trời thiền phương Nam.

Ngài Huyền Giác (665-713) là một trí thức Phật giáo đời Đường, sau này trở thành một thiền sư xuất cách, với tác phẩm Chứng Đạo Ca như là viên ngọc quý trong rừng thiền Nam Năng, văn tài cũng như Đường Tăng. Pháp sư và Thiền sư đều tỏa ra những vầng quang sáng ngời, cứu kính tuy không khác, nhưng phương tiện chẳng đồng đường. Ngài Huyền Giác đã đến với Lục Tổ Huệ Năng, như là tuyệt lộ của cuộc hành trình dò dẫm tìm bến đỗ, sau bao năm tháng hoang mang giữa mê và ngộ, mơ hồ giữa tri thức và trực giác. Thiền sư đã kể lại khúc nôi ấy trong Khúc ca

Chứng Đạo:

Ta sớm bao năm chuyên học vấn,

Từng viết sớ sao tìm kinh luận,

Phân biệt danh tướng mãi không thôi,

Vào biển đếm cát tự chuốc hận.

Quả đáng bị Như Lai quở trách,

Châu báu của người có ích gì?

Lâu nay đắng đót rõ công suông,

Uổng bấy làm thân phong trần khách.

Thật vậy, ngài Huyền Giác vào chùa tu từ tấm bé, học tập kinh luận Phương đẳng và chuyên ròng thực tập phép Chỉ Quán của tông Thiên Thai đến mức nhuần nhuyễn. Một tông phái nổi tiếng lừng lẫy không chỉ ở thời Đường mà kéo dài mãi về sau. Nhưng cuối cùng Ngài ngộ ở kinh Duy-ma. Với vốn kiến thức Phật pháp uyên bác, dày dặn như vậy mà đi tìm Lục Tổ Huệ Năng, vốn không biết một chữ ấn chứng cho thì thật là làm đảo lộn mọi chuyện. Thế nhưng, cuộc trắc nghiệm không khoan nhượng giữa Lục Tổ Huệ Năng với ngài Huyền Giác, trơn dường băng, bén dường gươm đã cho ta thấy nhà thiền chỉ quý vô tâm, chỉ nhận trực giác, trực ngộ, chớ không luận bàn việc sắn bìm:

Huyền Giác đi quanh Tổ ba vòng, xong chống tích trượng đứng. Tổ nói:

- Phàm là Sa-môn phải đủ ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh. Đại đức từ đâu đến mà lớn lối ngạo mạn vậy?

- Sanh tử là việc lớn, vô thường mau chóng lắm.

- Sao chẳng thể nhận cái lý “vô sanh”, cái nghĩa “không chóng”?

- Thể tức “vô sanh”, thấu vốn “không chóng”.

- Đúng vậy! Đúng vậy!

Huyền Giác bèn đầy đủ oai nghi bái tạ, giây lát xin cáo về.

Tổ hỏi:

- Về chóng thế sao?

- Vốn chẳng phải động, há có mau chóng?

- Ai biết chẳng phải động?

- Đúng là tại nhân giả sanh phân biệt.

- Ông thật đã thấu cái ý vô sanh.

- Vô sanh há có ý sao?

- Không ý thì ai phân biệt?

- Phân biệt cũng chẳng phải ý.

Tổ bảo:

- Tốt lắm! Hãy nán lại một đêm.

Một đằng chẳng biết một chữ, một đằng chữ nghĩa vun đầy. Cởi bỏ hết hai bên, không còn mau chậm, thẳng đó tiến vào đất thật, thấy thẳng biết thẳng thì tổ tổ tương phùng, tâm tâm tương ưng, chẳng phải do ý thức vọng sanh phân biệt. Đã thế thì Lục Tổ mời thiền sư Huyền Giác nghỉ lại một đêm. Cho vui. Thiền tông thời Đường, từ Lục Tổ nối tiếp về sau chia thành Năm tông Bảy phái, phát triển rực rỡ ở Trung Hoa, khai ngộ không biết bao nhiêu kẻ mê mờ, thức tỉnh muôn vạn người trên hoang lộ tử sinh.

Không chỉ Trung Hoa mà dòng thiền Việt Nam cũng trực chỉ như vậy, nhưng cách tiếp người của các thiền sư Việt Nam nhẹ nhàng tế nhị hơn so với thiền sư Trung Hoa. Hòa thượng Trúc Lâm nói “thiền dạy người tu một cách thực tế, tìm lại “bản lai diện mục” của mình. Bởi quá thực tế nên người ta không hiểu nổi. Con người là hướng ngoại, con người là cầu xin, con người là ỷ lại. Ở đây thiền đập tan ba tánh ươn hèn ấy. Ba tánh ấy đã chôn vùi chúng ta từ vô lượng kiếp. Chúng ta phải cương quyết quả cảm đập nát chúng, để rồi chúng ta tìm lại bộ mặt thật của chúng ta. Chúng ta là chủ nhân của chúng ta từ vô lượng kiếp. Chúng ta phải khôi phục lại quyền năng của ông chủ bản hữu nơi chính mình. Đó là chúng ta tu thiền”.

Mang theo lời dạy của Ân sư, chúng tôi lại tiếp tục lên đường.

Xe đưa đoàn tham quan một vòng thành phố Tây An vào buổi tối trước khi về khách sạn nghỉ ngơi. Khung thành Tây An đến ban đêm mới tự khẳng định về cái sắc màu hoàng triều một thuở của mình. Đèn và đèn, bao bọc toàn bộ khung thành, nhưng không biết có bảo vệ nổi cho con người mãi mãi bình yên, thoát khỏi vòng tay của tử thần hay không? Ánh sáng phát ra từ những lỗ châu mai trên khung thành làm cho ta như còn nghe đâu đây tiếng vọng canh đổi phiên gác của người lính già năm xưa. Ôi! Sương gió và thời gian, bể hóa cồn dâu. Rồi ra nghìn năm thiên tử đi về đâu? Để cho Đường Tăng vẫn còn đứng đây dõi mắt trông chờ các đấng quân vương hồi đầu thị ngạn… Trong lặng lẽ thiên thu!

BINH MÃ DŨNG

Ngày 14-5-2007

Sáng nay đoàn được hướng dẫn đến thăm lăng mộ Tần Thủy Hoàng, nằm ở phía đông thành phố Tây An. Huyệt mộ khổng lồ này được phát hiện vào năm 1974. Đến nay Trung Quốc tu sửa thành một khu triển lãm rộng lớn với tổng diện tích hơn 16.000m2. Trong mộ có đến 6.000 tượng binh mã tùy táng bằng đất nung, bày thành thế trận hào hùng dũng mãnh trấn giữ lăng mộ. Tướng sĩ, binh lính, chiến mã đều to lớn bằng người thật, ngựa thật.

Viện bảo tàng Binh Mã Dũng được chia ra làm ba phần:

1. Địa Cung: Đây là cung điện của nhà vua dưới lòng đất. Chúng tôi đứng trên lầu quan sát và nghe thuyết minh về ngôi mộ chính của Tần Thủy Hoàng. Trên bản đồ có một ngọn đồi, đó chính là nơi chôn thi thể nhà vua. Cho tới ngày nay, người ta vẫn không dám khai quật chỗ này, vì nghe đồn trong mộ có cả một hồ thủy ngân với những máy móc hại người. Ngoài ra truyền thuyết còn nói nếu đào ngôi mộ ấy lên thì Trung Quốc sẽ chia năm xẻ bảy và có nội chiến. Có lẽ đây là chút ân huệ còn lại cho một ông vua mạnh nhất, hung hãn nhất, xa xỉ nhất và cũng có công nhất trong việc thống nhất Trung Quốc thời cổ đại. Ông cầm quyền chưa tới 15 năm mà làm cho đất nước thay đổi hẳn, thống nhất về mọi mặt, mở mang thêm bờ cõi, thiết lập chế độ trung ương tập quyền và trở thành đế quốc lớn thời thượng cổ.

2. Binh Mã Dũng: Đây là quần mộ quân lính của vua Tần. Tất cả những tướng lãnh và binh lính bằng đất nung được đào lên từ một nơi gần mộ Tần Thủy Hoàng, người ta đem đến đây trưng bày triển lãm trong một căn nhà như một sân vận động lớn của quốc gia.

3. Phần này đang được khai quật. Trong đó, ta thấy có các nhà khảo cổ và nhân công còn đang đào xới.

Sử ghi lại trong một cuộc kinh lý, Tần Thủy Hoàng đã bị Trương Lương thuê võ sĩ đón đường ám sát hụt ở Bác Lãng Sa. Đến cuộc kinh lý sau, năm 210 ông bị bệnh chết ở dọc đường. Người ta phải ngầm đưa thi thể ông về Hàm Dương, sau đó mới công bố cho dân biết và an táng trong một ngôi mộ do chính ông ra lệnh xây sẵn ở Ly Sơn. Trong mộ chứa rất nhiều châu báu, có bản đồ 100 con sông, trên đó sông Hoàng Hà, sông Dương Tử và Biển Đông đều bằng thủy ngân. Hầm mộ ngày đêm được thắp đèn đốt bằng dầu cá, một loại cá đặc biệt giống hình người. Quan tài hạ rồi, người ta nấu đồng để gắn phần mộ và đặt một cái máy, hễ có kẻ nào lén vào đào mả thì sẽ bị những mũi tên từ tứ phía bắn ra, tự động giết hết những ai dám cả gan động đến mộ phần của Thủy Hoàng. Tương truyền lăng này do 700.000 người xây cất trong nhiều năm. Đủ biết vua Tần đã chu đáo cho việc sống chết của mình như thế nào.

Khi sống ông tự xưng là Hoàng đế, vì vậy lúc chết cũng muốn làm Thiên tử âm phủ. Ông đâu hay rằng cả ngàn năm sau, cái triều đình dưới lòng đất ấy với cung tên, khí giới và thế trận dữ dội đã bị khai quật và trở thành Viện Bảo tàng Binh Mã Dũng, phơi bày ra ánh sáng những gì ông muốn vĩnh viễn chôn kín trong lòng đất. Tần Thủy Hoàng quả là một ông vua đã muốn thì làm, đã làm thì phải được, chỉ có điều không biết quân vương có nắm rõ hai chữ “vô thường” là một định luật mà cho dù thiên tử cũng không thể nào thay đổi được! Nếu ông sớm hiểu điều đó, có lẽ dân đen không phải chịu cảnh lầm than, khổ sở đến tận cùng như vậy.

Chỉ ngôi mộ thôi mà đã vận dụng sức người sức của đến như thế, nói gì những công trình khác. Người ta kể lại, gần kinh đô ông cho xây cung A Phòng là một cung điện mùa hè trên bờ sông Vị. Phải dùng 700.000 tù nhân để cất, chở đá từ các núi phương Bắc xuống, chở gỗ từ các rừng phương Nam lên. Chưa hết, trong một khoảng mà bán kính dài trên trăm cây số chung quanh kinh đô, còn xây thêm 270 cung điện nữa. Bao nhiêu châu báu, nhạc công và vũ nữ của lục quốc, ông gom về đó để làm vui tai mắt cho mình. Cuối đời Tần, khi kinh đô bị chiếm và đốt, ba tháng sau ngọn lửa mới tắt.

Đáng kể nhất là Vạn Lý Trường Thành. Ba trăm ngàn chiến sĩ với không biết bao nhiêu tội nhân, quan lại phạm lỗi, nho sĩ không tuân lệnh đốt sách… phải chịu khổ sai trong một miền rừng núi trùng điệp, mù mịt cát bụi, mùa đông lạnh buốt xương, mùa hè nóng bỏng da. Trong dân gian còn truyền lại nỗi khổ của nàng Mạnh Khương thương nhớ chồng bị bắt đi xây thành. Nàng đi bộ mười ngàn dặm để thăm chồng. Đến nơi thì chồng nàng đã chết rồi, chung quanh chỉ có rừng núi và đá. Không biết tìm xác chồng ở đâu, nàng tuyệt vọng khóc mấy ngày mấy đêm, khóc tới nỗi chính cái thành cũng phải mủi lòng. Tại thành ấy không biết bao nhiêu người bỏ mạng, không biết bao nhiêu lời thán oán, bao nhiêu nước mắt của phu dân khổ sai. Họ hận ông. Núi oan cừu kia sẽ trút xuống thần thức trong giờ phút ông lâm chung, thật đáng lo sợ lắm thay!

Trước khi rời lăng mộ Tần Thủy Hoàng, chúng tôi muốn gởi lại ông một bài thơ sám hối của Đại vương A-dục (vua Ấn Độ) trong trận chiến Kalinga thuở nào:

Kalinga ngày nào máu lửa hóa sen tòa!

Kalinga lau đi dòng nước mắt.

Hỏi làm chi ai còn ai mất?

Bạo chúa giờ đâu?

Đây chỉ có Chuyển Luân Vương.

Bạo chúa là ai?

Đây chỉ có đau thương.

Đây chỉ có một tâm hồn ray rứt,

Quằn quại giữa muôn niềm đau ấm ức.

Vương gục đầu cắn lệ nuốt trong sương.

Vương,

Suốt một đời ngang dọc ngọn trường thương,

Uy vũ lệch nghiêng trời đất,

Đầu lâu rắc nẻo biên cương.

Mà hôm nay,

Khi chiến thắng hồi loa vừa ngây ngất,

Núi xương máu vút trời lên chất ngất.

Vương gục đầu cắn lệ nuốt trong sương.

Và chùa xa chuông vẳng tiếng du dương…

Mà tiếng vọng cứ triền miên trong gió rít,

Như giục giã, như chan hòa, như quấn quýt,

Như nức lên từ giữa khối hư không,

Hồn ai kêu ơi ới giữa mông lung,

Như chuỗi máu nhiễu dài trong bóng tối.

Vương nắm đôi tay, tay đầm những máu.

Vương ôm hồn gục xuống giữa hoang vu,

Và chùa xa chuông vẳng tiếng vi vu…

Đầu gục trên niềm hối tiếc,

Tay buông nhẹ hết triều nghi.

Chắp lại một lời tha thiết:

“Con nguyền sám hối quy y.

Gươm giáo đó sẽ là chuông là tượng,

Thân tâm này sẽ là bát là y.

Con thành kính dâng lên niềm tin tưởng,

Trên khung trời tạc lại nét từ bi”.

Nam Mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.

Trúc Thiên.

Không biết Tần Thủy Hoàng có vui nhận chăng?