Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .

 

 

DANH LAM NƯỚC VIỆT

Võ Văn Tường - Huỳnh Như Phương

Nhà Xuất Bản Mỹ Thuật - 1995

 

[Bản dịch tiếng Anh]

---o0o---

Mục Lục 

Lời giới thiệu của Hòa thượng Thích Thiện Siêu

Lời nói đầu

Chùa Dâu (Tỉnh Hà Bắc)

Chùa Phật Tích (Tỉnh Hà Bắc)

Chùa Bút Tháp (Tỉnh Hà Bắc)

Chùa Trấn Quốc (Hà Nội)

Chùa Một Cột (Hà Nội)

Chùa Láng (Hà Nội)

Chùa Quán Sứ (Hà Nội)

Chùa Kim Liên (Hà Nội)

Chùa Thầy (Hà Tây)

Chùa Trăm Gian (Hà Tây)

Chùa Mía (Hà Tây)

Chùa Hương (Hà Tây) 

Chùa Tây Phương (Hà Tây)

Chùa Côn Sơn (Hải Hưng)

Chùa Dư Hàng (Hải Phòng)

Chùa Tháp (Phổ Minh) (Nam Hà)

Chùa Cổ Lễ (Nam Hà)

Chùa Hoa Yên (Quảng Ninh)

Chùa Keo (Thái Bình)

Chùa Thiên Mụ (Thừa Thiên - Huế)

Chùa Báo Quốc (Thừa Thiên - Huế)

Chùa Quốc Ân (Thừa Thiên - Huế) 

Chùa Từ Đàm (Thừa Thiên - Huế)

Chùa Thuyền Tôn (Thừa Thiên - Huế)

Chùa Linh Ứng (Quảng Nam - Đà Nẵng)

Chùa Chúc Thánh (Quảng Nam - Đà Nẵng)

Chùa Thiên Ấn (Quảng Ngãi)

Chùa Thập Tháp Di Đà (Bình Định)

Chùa Phước Sơn (Phú Yên)

Chùa Long Sơn (Khánh Hòa)

Chùa Linh Sơn (Lâm Đồng)

Thiền Viện Trúc Lâm (Lâm Đồng)

Chùa Giác Lâm (Tp. Hồ Chí Minh)

Chùa Ấn Quang (Tp. Hồ Chí Minh)

Chùa Xá Lợi (Tp. Hồ Chí Minh)

Chùa Vĩnh Nghiêm (Tp. Hồ Chí Minh)

Tịnh Xá Trung Tâm (Tp. Hồ Chí Minh)

Thiền Viện Vạn Hạnh (Tp. Hồ Chí Minh)

Chùa Bửu Phong (Đồng Nai)

Chùa Hội Khánh (Sông Bé)

Chùa Vĩnh Tràng (Tiền Giang)

Chùa Kh'leang (Sóc Trăng)

Chùa Tây An (An Giang)

Chùa Tam Bảo (Kiên Giang)

Thích Ca Phật Đài (Bà Rịa - Vũng Tàu)

Tài liệu Tham Khảo

 

 

 

 

LỜI GIỚI THIỆU  

Phật giáo bắt rễ đến đâu là thâm nhập ngay vào mọi sinh hoạt của quần chúng nhân dân. Phật giáo Việt Nam là một tiêu biểu rõ nét: trong suốt hai ngàn năm gắn bó với đất nước và dân tộc, những ngôi chùa là những chứng tích lịch sử, tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, in dấu những sinh hoạt của người Việt Nam qua các thời đại.

Trong những năm gần đây, khá nhiều công trình nghiên cứu, giới thiệu về chùa Việt Nam đã được xuất bản. Đây là dấu hiệu đáng mừng trong việc khơi dậy tinh thần tôn trọng văn hóa dân tộc cũng như văn hóa Phật giáo. Cuốn sách DANH LAM NƯỚC VIỆT do Võ Văn Tường và Huỳnh Như Phương biên soạn là một đóng góp đáng kể cho nỗ lực đầy ý nghĩa ấy. Đặc biệt, qua những hình ảnh và các bài viết miêu tả các ngôi chùa nổi tiếng, hai soạn giả còn giới thiệu một số sinh hoạt, hành trạng, có khi cả những tình cảm, tư duy và sự khéo léo tế nhị của Phật gia, danh nhân lịch sử, văn thi gia, nghệ nhân qua các mẩu chuyện, truyền thuyết, bài thơ gắn liền với những khung thời gian, không gian liên hệ. Tất cả tạo thành một màu sắc truyền thống, đa dạng và sáng tạo, khi thì rực rỡ sống động, khi thì lung linh thi vị.

Ở đây, dù khá công phu và cẩn thận khi trình bày các tư liệu, những người biên soạn hình như không đặt nặng tính chất khảo cứu khoa học mà chỉ nhằm giới thiệu một số nét kiến trúc và điêu khắc độc đáo của chùa Việt Nam lồng trong một tấm lòng hoài cổ.

Hơn mười bốn ngàn ngôi chùa được thống kê - và có lẽ con số thực sự còn cao hơn nữa - đã tô điểm cho non sông nước Việt. Người Việt thường dùng hai từ ghép "danh lam thắng cảnh" như mặc nhiên công nhận chùa nổi danh đi đôi với cảnh xinh đẹp. Thực vậy, thiên nhiên làm đẹp ngôi chùa và ngôi chùa tạo duyên dáng cho thiên nhiên. Ngay cả những nơi đô hội, sự hiện diện của ngôi chùa hẳn cũng làm dịu bớt không khí náo nhiệt, sôi nổi đến gần như hời hợt vô tình của nếp sống hiện đại. Trong ý nghĩa này, thật khó mà chọn hết được những ngôi chùa nổi tiếng.

Tại sao soạn giả chọn 45 trong số lượng lớn các danh lam của nước Việt? Hiển nhiên, trước hết là do khuôn khổ giới hạn của cuốn sách; kế đến, theo như Lời nói đầu, "? đây là những ngôi chùa tương đối tiêu biểu cho sự phát triển của đạo Phật ở Việt Nam, cho các hệ phái cũng như các địa phương trên cả nước". Có thể có độc giả sẽ không đồng ý về sự lựa chọn trên, vì tiêu chuẩn chọn lựa còn bị hạn chế ít nhiều. Tuy nhiên, đây không phải là một thống kê khoa học. Có lẽ những người biên soạn chỉ muốn cố gắng giới thiệu một số di sản văn hóa với lòng cảm xúc, sự kính mộ đối với tôn giáo Từ bi và Trí tuệ đã truyền sức sống của mình vào dân tộc và mang sức sống của chính dân tộc.

Nhận định như thế, tôi nghĩ rằng DANH LAM NƯỚC VIỆT của Võ Văn Tường và Huỳnh Như Phương là một công trình có giá trị và xin trân trọng giới thiệu cùng chư độc giả.

Chùa Từ Đàm, Trọng Đông Quý Dậu, 1993

Hòa Thượng THÍCH THIỆN SIÊU

 

LỜI NÓI ĐẦU

Từ lâu, nhiều ngôi chùa ở Việt Nam đã trở thành nơi lưu giữ các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc. Tìm hiểu ngôi chùa không chỉ là để nhận thức con đường du nhập và truyền bá đạo Phật ở nước ta mà còn là để lĩnh hội nhiều phương diện của văn hóa Việt Nam. Chính điều đó sẽ góp phần nâng cao lòng tự hào và ý thức bảo tồn những di sản văn hóa quý giá mà tiền nhân đã sáng tạo.

Trong bối cảnh đất nước đang đổi mới, hòa vào phong trào bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc, nhiều công trình nghiên cứu về chùa Việt Nam đã được công bố. Biên soạn cuốn sách DANH LAM THẮNG CẢNH này, chúng tôi muốn góp phần khiêm tốn của mình giới thiệu với bạn đọc những nét khái quát về lịch sử, cảnh quan, lễ hội, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc cùng những sự kiện văn học có liên quan đến 45 ngôi chùa nổi tiếng trên đất nước ta. Theo thiển ý, đây là những ngôi chùa tương đối tiêu biểu cho sự phát triển của đạo Phật ở Việt Nam, cho các hệ phái cũng như các địa phương trên cả nước. Bên cạnh các bài viết là những tấm ảnh màu ghi lại phong cảnh, công trình kiến trúc và điêu khắc các ngôi chùa. Tất nhiên vẫn còn rất nhiều danh lam tiêu biểu khác mà hoặc do chưa có đầy đủ tư liệu, hoặc do khuôn khổ tập sách, chúng tôi chưa thể giới thiệu ở đây. Xin bạn đọc rộng lòng lượng thứ.

Viết cuốn sách này, chúng tôi được may mắn tiếp thu, kế thừa những tư liệu và nhận định của các nhà nghiên cứu đi trước qua các công trình biên khảo về Phật giáo Việt Nam cũng như về lịch sử các ngôi chùa. Kết hợp với các chuyến đi thực tế đến các địa phương, chúng tôi đã tìm hiểu, đối chiếu, bổ sung tư liệu để hoàn thành các bài viết của mình. Nhân dịp cuốn sách được xuất bản, chúng tôi chân thành cảm ơn chư vị trụ trì các tự viện, tịnh xá đã tận tình giúp đỡ chúng tôi thu thập nhiều tư liệu; cảm ơn các tác giả những công trình mà chúng tôi đã tham khảo qua thư mục in ở cuốn sách; đặc biệt cảm ơn các ông Trương Ngọc Tường, Trần Tuấn Mẫn và Nguyễn Thái Hòa đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu. Dù vậy, cuốn DANH LAM NƯỚC VIỆT chắc chắn vẫn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót.

Cuốn sách này rất vinh dự được Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam kiêm Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni, viết lời giới thiệu. Chúng tôi vô cùng biết ơn sự quan tâm của Hòa thượng. Chúng tôi chân thành cảm ơn các dịch giả tiếng Anh - Trần Phương Lan, Nguyễn Văn Nghệ, Châu Văn Thuận và Thùy Dương. Chúng tôi cũng xin cảm tạ Ban Giám đốc Nhà xuất bản Mỹ Thuật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cuốn sách được ra mắt.

 Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12-1993

VÕ VĂN TƯỜNG - HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

---o0o---

 

Chùa DÂU (PHÁP VÂN TỰ)

Dù ai đi đâu về đâu,

Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về.

Dù ai buôn bán trăm nghề,

Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.

Mấy câu ca dao trên gợi lên nỗi nhớ về một ngôi chùa thuộc vào loại cổ nhất nước ta, được xây dựng vào đầu thế kỷ III sau Công nguyên, nằm ở trung tâm của cố đô Luy Lâu, nay thuộc thôn Khương Tự, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, cách Hà Nội khoảng 30km. Đó là chùa Dâu hay Pháp Vân Tự, đời Lý mang tên Cổ Châu, đời Trần mang tên Thiền Định, đời Lê mang tên Diên Ứng.

Vào những thế kỷ đầu Công nguyên, chùa Dâu đã chứng kiến sự phát triển của một khu buôn bán sầm uất nằm trên giao điểm những con đường lớn thời xưa mà nay chỉ còn lại di tích đổ nát là thành Luy Lâu nằm ở ngã tư Thuận Thành (Hà Bắc) giữa hai tỉnh lộ: một về phía Bắc đến Đông Triều - Phả Lại, một về phía Nam đến Khoái Châu - Hải Hưng.

Lịch sử chùa Dâu gắn liền với huyền thoại Man Nương, người trinh nữ làng Mãn Xá bên sông Đuống từ lúc 12 tuổi đã bỏ từ bờ Nam sang bờ Bắc để học đạo với Thiền sư Khâu-đà-la người Thiên Trúc (Ấn Độ) ở chùa Linh Quang (xã Phật Tích, Tiên Sơn). Khâu-đà-la là một Thiền sư đã kết hợp việc truyền giảng Phật giáo Mật Tông với tín ngưỡng dân gian nên có ảnh hưởng rộng lớn trong cư dân Luy Lâu. Nhưng con đường học đạo của Man Nương bị dở dang vì một hôm, đang lúc nàng đang ngủ, Khâu-đà-la sau giờ hành lễ đã bước qua người nàng khiến nàng thụ thai. Một năm hai tháng sau, nhằm ngày 8 tháng 4 âm lịch, Man Nương sinh một bé gái và mang trả cho Thiền sư, Khâu-đà-la bồng đứa bé đến một cây đa cổ thụ ven sông, niệm thần chú. Khi nhà sư dùng thiền trượng gõ vào, gốc cây nứt ra, đứa bé được đặt vào, vết nứt liền khép lại và một mùi hương thơm ngát tỏa ra. Kỷ vật cuối cùng mà Thiền sư trao cho Man Nương là cây thiền trượng. Theo lời dặn của Khâu-đà-la, mỗi khi trời hạn hán, đất đai khô nẻ, mùa màng thất bát, Man Nương lại cắm cây thiền trượng xuống đất, cất lời cầu nguyện, thì phép màu lại hiện ra: trời đổ mưa. Một đêm mưa to gió lớn, cây đa cổ thụ nơi gởi xác đứa con gái của Man Nương, bỗng đổ xuống sông và xuôi theo dòng nước trôi về làng Dâu. Dân làng không ai khiêng nổi cây, may có Man Nương dùng dải yếm đào kéo được cây lên bờ. Đêm ấy dân làng được thần nhân báo mộng khuyên nên đem cây tạc tượng thờ. Từ đó ra đời 4 pho tượng thờ bốn vị nữ thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp: Pháp Vân (tức bà Dâu, thờ ở chùa Thiền Định), Pháp Vũ (tức bà Đậu), thờ ở chùa Thành Đạo), Pháp Lôi (tức bà Tướng, thờ ở chùa Phi Tướng), Pháp Điện (tức bà Dàn, thờ ở chùa Phương Quang).

Huyền thoại Man Nương, người mẹ đồng trinh trở thành Phật Mẫu sinh ra Tứ Pháp, đã khiến cho hàng năm vào ngày 8 tháng 4 âm lịch, các vị sư tăng và khách thập phương về chùa Dâu mở hội như câu thơ trên kia đã nói. Hội chùa Dâu không chỉ là dịp để các Phật tử hành hương về nơi cửa Phật mà còn để tham dự những nghi thức văn hóa của cư dân nông nghiệp. Hội diễn ra khắp cả tổng với đám rước tưng bừng (gồm rước chào, rước đón, rước đưa) thỉnh các tượng bà Đậu, bà Tướng, bà Dàn về qui tụ với chị cả là bà Dâu ở chùa Diên Ứng. Sau lễ múc nước, dâng nước và múa gậy, đám rước lại thỉnh 4 tượng về bái vọng Phật Mẫu Man Nương ở chùa Tổ Mãn Xá. Vào ngày hội, trên bãi chùa Dâu người ta có thể xem múa sư tử, múa hóa trang rùa và hạc, múa trống, đấu vật, đánh cờ người.

Nằm trên một khu đất rộng ven sông Dâu - một nhánh của sông Đuống - Chùa Pháp Vân đã từng là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng cả nước. Chính đây là nơi tu trì và thuyết pháp của các Thiền sư danh tiếng: Ti-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci, người Nam Thiên Trúc sang Việt Nam năm 580, dịch bộ kinh Tổng Trì Đại Thừa), Pháp Hiền, Quan Duyên, Trì Bát, Định Không, Thiện Hội? Sách Thiền Uyển Tập Anh còn ghi lại cuộc hội ngộ và tâm truyền độc đáo giữa Ti-ni-đa-lưu-chi và Pháp Hiền diễn ở chùa Dâu, đánh dấu sự xuất hiện của Thiền trong đời sống văn hóa dân tộc.

Vốn là một ngôi đền mang tên Pháp Vân, chùa Dâu đã được sửa chữa và trùng tu nhiều lần: giữa thế kỷ XIII vào đời Lý, cuối thế kỷ XIII và thế kỷ XIV vào đời Trần, thế kỷ XVIII vào đời Lê, cuối thế kỷ XIX vào đời Nguyễn. Ngôi chùa ngày nay còn mang nhiều dấu ấn của kiến trúc thời Hậu Lê. Ông Mạc Đĩnh Chi đã đứng ra tổ chức trùng tu lớn ngôi chùa vào năm 1313 như Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi lại: "Đời Trần, Mạc Đĩnh Chi dựng chùa trăm gian, tháp chín tầng và cầu chín nhịp, nền cũ nay vẫn còn". Chùa làm theo kiểu "Nội công ngoại quốc". Từ tiền đường, đi qua một sân gạch có tháp Hòa Phong ở giữa, sẽ đến Đại bái đường và Phật điện, sau lưng là Hậu đường. Tất cả nằm giữa bốn dãy nhà dài vây quanh theo hình chữ "Quốc". Trong Phật điện, tượng bà Pháp Vân thờ ở gian giữa cao gần 2m ngồi trên tòa sen. Đặt liền hai bên tượng bà Pháp Vân là tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ cao 1,57m mang đặc trưng phong cách nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XVII - XVIII.

Nói đến kiến trúc chùa Dâu, không thể không nhắc đến ngọn tháp Hòa Phong vượt trên mái ngói nâu nổi bật giữa màu xanh của nền trời và bóng che. Được Thiền sư Pháp Hiền xây dựng vào cuối thế kỷ VI để giữ gìn các di tích xá lợi, tháp Hòa Phong vốn có 9 tầng. Thời gian làm cho đổ nát, nay tháp chỉ còn 3 tầng, cao 17m, tầng chân tháp hình vuông mỗi cạnh 7m, tường dày, trổ 4 cửa vòm cuốn. Hai cửa chính nhìn ra hướng Đông và hướng Tây có bậc cấp lên xuống. Hai bên bậc cấp là hai con sóc đá trong tư thế nằm dài từ thềm xuống sân mang phong cách rất gần với điêu khắc cổ Chăm-pa và điêu khắc thú tượng trưng trong kiến trúc lăng mộ đời nhà Tùy. Tháp Hòa Phong được trùng tu vào năm 1737 vào đời Lê. Trong tháp có chuông lớn đúc dưới triều Cảnh Thịnh và khánh lớn bằng đồng đúc năm 1837 dưới triều Minh Mạng.

Được xây bằng gạch mộc to bản, xưa kia tháp Hòa Phong cao chót vót như một thạch trụ chặn cản luồng gió nghiệp chướng từ cõi vô minh thổi tới.

 

Chùa PHẬT TÍCH (VẠN PHÚC TỰ)

Chùa Phật Tích có tên là Vạn Phúc Tự - nguyên tên ban đầu là Thiên Phúc Tự - nằm trên sườn núi Lạn Kha, xã Phật Tích, huyện Tiên Du; nay là xã Phượng Hoàng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc.

Từ Hà Nội muốn đến thăm chùa, du khách có thể đi bằng ô tô hoặc các phương tiện sẵn có theo hai đường: một đường theo tả ngạn sống Đuống, đi dọc bờ đê chừng 15km, sau đó có lối rẽ trái 1km nữa thì đến chùa. Một đường chạy qua núi Lim rẽ về bên phải đi khoảng 15km thì đến làng Phật Tích rồi vào chùa. Chùa ở sát làng, nhìn ra sông Đuống, chỉ cách bờ đê 1km.

Theo văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy (1686), "Vua thứ ba triều Lý (tức Lý Thánh Tông) vào năm Long Thụy Thái Bình thứ tư (1057) cất lên cây tháp quí ngàn trượng, lại dựng pho tượng mình vàng cao sáu thước, cấp cho hơn trăm thửa ruộng, xây chùa hơn trăm tòa". Tấm bia này còn ca ngợi vẻ đẹp của cảnh chùa: "Đoái trông danh thắng đất Tiên Du, danh sơn Phật Tích, ứng thế ở Càn phương (hướng Nam) có núi Phượng Lĩnh bao bọc? Phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh. Phía hữu Bạch Hổ núi ôm, trên đỉnh nhà khai bàn đá?".

Năm 1071, vua Lý Thánh Tông đã đến thăm chùa, chính tay nhà vua viết chữ "Phật" dài một trượng sáu thước và khắc vào bia đá để dựng trước chùa. Sang đời Trần, chùa đổi tên là Vạn Phúc. Vua Trần Nghệ Tông cho dựng điện Bảo Hòa và thư viện Lạn Kha ở gần chùa. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, năm 1384 Vua đã mở kỳ thi Thái học sinh ở chùa này.

Năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông (1686), chùa được xây dựng lại với qui mô đồ sộ và có giá trị nghệ thuật cao. Người có công trong việc xây dựng này là Bà Chúa Trần Ngọc Am - đệ nhất cung tần của Chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, khi Bà đã rời phủ Chúa về tu ở chùa này. Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi có ghi: "Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, sáng như ngọc lưu ly? Trên thềm đằng trước có bày mười con thú, phía sau có ao rộng. Gác cao vẽ chim phượng và sao Ngưu Đẩu sáng lấp lánh. Lầu rộng, tay rồng với tới trời sao, cung Quảng vẽ hoa nhụy hồng?".

Chùa xây theo kiểu "Nội công ngoại quốc", có đến hơn trăm gian, trước chùa có ngọn "tháp dựa mây xanh vút vút tầng" như Nguyễn Xướng đã miêu tả trong bài thơ Tiên Du Vạn Phúc Tự. Đằng sau chùa có long từ, thạch thất có nơi giảng kinh. Bên cạnh chùa là miếu Tiên chúa thờ bà Trần Ngọc Am, có câu đối "Đệ nhất cung thần quy Phật địa. Thập tam đình vũ thứ tiên hương".

Trong chiến tranh chống Pháp, quân đội viễn chinh đã tàn phá chùa Vạn Phúc. Ngày nay ngôi chùa cũ còn lại di tích là ba bậc nền bạt vào sườn núi, hình chữ nhật, mỗi nền dài khoảng 60m, rộng khoảng 33m. Nơi đây những năm 1949-1941, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những viên gạch lớn ghi rõ niên hiệu Long Thụy Thái Bình năm thứ tư (1057) và Chương Thánh Gia Khánh năm thứ bảy (1065). Trong các tác phẩm điêu khắc cổ, còn lưu lại 5 cặp tượng sư tử, tê giác, voi, trâu, ngựa nằm trên bệ hoa sen tạc bằng những phiến đá lớn, cao khoảng 2m. Ngoài ra còn có đá ốp tường, đấu kê, chân tảng chạm khắc các hình rồng, nhạc công, vũ nữ?

Tên chùa Phật Tích gắn liền với tượng Phật - một tác phẩm điêu khắc nổi tiếng hiện được thờ phụng trong ngôi chùa nhỏ mới xây sau này. Tương truyền rằng xưa kia có lần ngọn tháp của chùa bỗng đổ sụp, để lộ ra pho tượng này. Từ đó xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chùa đổi tên thành thôn Phật Tích. Tượng Phật này bằng đá cao 1,85m, cả bệ là 3m. Tượng tạng đức Phật đang ngồi thiền định trên tòa sen, bệ tượng tạc hình rồng và hoa lá. Tượng có nét mặt thanh tú, dáng thanh thoát từ bi, đường nét chạm rất tỉ mỉ và công phu.

Các địa danh Lạn Kha, Tiên Du còn gợi lên những huyền thoại người gặp tiên được lưu truyền mấy ngàn năm nay. Lạn Kha có nghĩa là cán búa nát, ghi lại tích Vương Chất lên núi đốn củi gặp hai vị tiên đánh cờ, mải mê xem không hay rằng cán búa bị mục nát vì thời gian trên trần thế đã trôi qua đến bảy đời rồi. Trên núi Lạn Kha này còn có tảng đá vuông, mặt phẳng lì gọi là bàn cờ tiên.

Còn Tiên Du nhắc nhở sự tích quan tri huyện Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn, gặp Giáng Tiên bị bắt trói vì tội hái trộm hoa. Từ Thức bèn cởi áo xin tha cho tiên nữ. Sau Từ Thức từ quan đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh, đến động núi ở cửa biển Thần Phù gặp lại Giáng Tiên. Do tích này, trước đây chùa Phật Tích mở hội Hoa Mẫu Đơn hàng năm vào ngày mồng bốn tháng giêng để nhân dân xem hoa và các văn nhân thi sĩ bình thơ.

Trong Ức Trai Thi Tập, Nguyễn Trãi có bài thơ vịnh cảnh chùa Phật Tích:

Đoản trạo hệ tà dương

Thông thông yết thượng phương

Vần quy thiền sáp lãnh

Hoa lạc giản lưu hương

Nhật mộ viên thanh cấp

Sơn không trúc ảnh trường

Có trung chân hữu ý

Dục ngữ hốt hoàn vương.

Nghĩa là:

Bóng xế thuyền con buộc

Vội lên lễ Phật đài

Mây về giường sãi lạnh

Hoa rụng suối hương trôi

Chiều tối vượn kêu rộn

Núi quang, trúc bóng dài

Ở trong dường có ý

Muốn nói bỗng quên rồi.

(Đào Duy Anh dịch)

Chùa BÚT THÁP

 (NINH PHÚC TỰ)

 

Đi lối cầu Đuống theo đường đê hữu ngạn hoặc rẽ trái từ ga Phú Thụy trên đường đi Hải Phòng, khoảng 15km, du khách sẽ đến xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc - trước kia là làng Á Lữ, xã Nhạn Tháp, huyện Siêu Loại - nơi có chùa Bút Tháp nằm giữa cánh đầng nhìn về phía Nam.

Chùa có tên là Ninh Phúc Tự. Khi Thiền sư Huyền Quang đến tu tại đây, ông đã cho xây tháp cao 9 tầng trang trí hình hoa sen , nhưng ngọn tháp đó ngày nay không còn nữa. Tháp Báo Nghiêm mang hình dáng quản bút khổng lồ vươn lên trời cao mà chúng ta thấy ngày nay được Thiền sư Minh Hành (1596-1659) dựng năm 1647. Năm 1876 tháp này được vua Tự Đức đặt tên là Tháp Bút, ngôi chùa từ đó mang tên Bút Tháp. Tháp xây bằng đá ghép, có 5 tầng, hình 8 cạnh, cao 13,05m, đỉnh tháp hình nậm rượu, giữa các tầng có gờ mái uốn cong. Bệ tháp mỗi bề rộng hơn 3m, có 2 lần tường bao bọc. Lòng bệ tháp đặt tượng Thiền sư Chuyết Công (1590 - 1644), người tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, sang Việt Nam năm 1633 và trụ trì ở chùa. Trước phút viên tịch, Thiền sư đọc cho đệ tử nghe bài kệ:

Tre gầy thông vót nước rơi thơm

Gió thoảng trăng non mát mát rờn

Nguyên Tây ai ở người nào biết?

Mỗi chiều chuông nổi đuổi hoàng hôn.

(Thích Thanh Từ dịch)

Vua Lê Chân Tông đã sắc phong cho Hòa Thượng Chuyết Công hiệu "Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư".

Sau đó, Hoàng Thái Hậu Trị?h Thị Ngọc Trúc, hiệu Pháp Tánh, người làng Á Lữ? xin cha là Thanh Đô Vương Trịnh Tráng cho trùng tu lại chùa Bút Tháp ở quê nhà. Bà đã cùng Thiền sư Minh Hành chăm sóc việc trùng tu. Đến khi vua Lê Thần Tông băng hà, Bà đã về tu hẳn ở chùa.

Phong cách kiến trúc đời Hậu Lê để lại rất rõ nét trên kiến trúc chùa Bút Tháp. Được xây dưng theo kiểu "Nội công ngoại quốc" như chùa Dâu, chùa Bút Tháp có một quần thể kiến trúc bao gồm: tam quan, gác chuông, tòa thiêu hương, thượng điện, cầu đá, tòa Cửu phẩm Liên hoa (Tích thiện am), nhà chung, phủ thờ, hậu đường. Tất cả gồm 10 tòa nhà, nằm trên một trục dài hơn 100m. Bên trái chùa là nhà tổ và tháp Báo Nghiêm. Lùi về phía sau có tháp Tôn Đức. Xung quanh tòa thượng điện là hàng lan can đá gồm 36 phiến chạm trổ tinh vi những cảnh đẹp của thiên nhiên đất nước với hình ảnh cò bay trên đầm sen, cá lội, trẻ chăn trâu và một số điển tích khác như cá hóa rồng, tứ linh, tứ quí, Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh?

Bước vào tòa thượng điện, cảm xúc về cái trác tuyệt hiện lên khi ta đứng trước tác phẩm điêu khắc nổi tiếng: tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn.

Tượng Quan Âm cao 3,70m bằng gỗ phủ sơn được một nghệ nhân họ Trương tạc vào năm 1656. Tượng có 11 khuôn mặt , 994 tay với 994 con mắt nằm trong lòng mỗi bàn tay. Dưới chiếc mũ hoa sen, khuôn mặt chính diện trang nghiêm mà hiền hòa, hai bên má còn có hai khuôn mặt khác. Lại thêm 8 đầu nhỏ xếp thành hình tháp 3 tầng, trên đỉnh là một pho tượng nhỏ. Trước ngực hai tay chắp lại, sau lưng 40 cánh tay vươn ra hài hòa như hình lá sen, phía ngoài là 952 cánh tay nâng con mắt tạo thành một vòng hào quang. Trên đỉnh tượng là một đôi chim thần đầu người xòe cánh rộng áp vào nhau. Tượng đặt trên tòa sen, do một con rồng vươn lên mặt nước đội đỡ. Bốn góc là 4 pho tượng lực sĩ thân hình vạm vỡ ra sức nâng bệ tượng.

Bao thế kỷ qua, Quan Âm vẫn ngồi đó, nghìn mắt để nhìn thấy mọi trầm luân của trần gian và nghìn tay để sẵn sàng cứu vớt chúng sinh. Chiêm ngưỡng pho tượng, ta có cảm giác như đức Phật nghe được tất cả những âm vang của cuộc đời và truyền cho con người lòng nhân ái khoan dung cùng sự bình thản trong tâm hồn.

Chùa TRẤN QUỐC

  (TRẤN BẮC TỰ)

Từ vườn Bách Thảo qua đường Hoàng Hoa Thám sẽ đến một trong những con đường thơ mộng nhất của thủ đô Hà Nội: đường Cổ Ngư, ngày nay là đường Thanh Niên, nằm giữa hai hàng cây và hai hồ nước xanh lặng sóng. Hai hồ này ngày xưa chỉ là một với nhiều tên: Xác Cáo, Kim Ngưu (Trâu Vàng), Lãng Bạc (Sóng lớn), Dâm Đàm (đầm Mù Sương). Cách đây 400 năm, người ta đắp con đường Cố Ngự (nghĩa là cố giữ vững, sau đọc chệch thành Cổ Ngư) ngăn đôi hồ này: hồ nhỏ là Trúc Bạch, hồ lớn là hồ Tây.

Với diện tích 466ha, chu vi 17km, chung quanh có nhiều đền chùa, thắng cảnh, hồ Tây đã là nguồn cảm hứng của nhiều thi sĩ. Vào thế kỷ XVIII, Nguyễn Đức Quý đã có thơ vịnh Tây Hồ:

Thuyền chứa nguyệt đài ngần ánh tuyết

Viện lồng hoa diệp biếc đầm sương

Sen xanh in trúc lung lay nguyệt

Vầng biếc hoa mai phảng phất hương.

Bài Phú tụng Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng là một áng văn nôm trác tuyệt đậm đà bản sắc dân tộc, thi hứng ngợi ca hùng khí triều đại Tây Sơn hòa trong cảm hứng trước vẻ đẹp hồ Tây.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong một chiều thu Hà Nội đã bắt gặp dưới ánh hoàng hôn hồ Tây hình ảnh "mặt nước vàng lay bờ xa mờ gọi, màn sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ vỗ cánh mặt trời" và đã sáng tác nên một ca khúc thật đẹp.

Từ con đường Cổ Ngư có lối dẫn vào một doi đất nằm bên mép hồ Tây, hình qui nên gọi là bãi Rùa, còn có tên là bãi Kim Ngư (Cá Vàng). Chính trên bãi đất này các vua nhà Lý đã dựng cung Thúy Hoa làm nơi nghỉ mát, các vua nhà Trần dựng điện Hàm Nguyên để ra vân cảnh. Nền cũ của cung và điện này ngày nay là vị trí của ngôi chùa vào loại cổ nhất nước ta: chùa Trấn Quốc.

Chùa này nguyên trước là chùa Khai Quốc (Mở Nước) khai sáng từ triều Lý Nam Đế (544 - 548) ở ngoài bãi sông Hồng, phía Đông Bắc phường Yên Hoa tức Yên Phụ, gần cầu Long Biên bây giờ. Tại chùa Khai Quốc, dưới triều Lý Nhân Tông, Thái hậu Ỷ Lan đã từng mở tiệc chay thết đãi các vị cao tăng. Bà cũng thường lui tới chùa cùng chư tăng đàm đạo.

Đến đời Lê Thái Tông (1434 - 1442) chùa được đổi tên là chùa An Quốc. Hàng năm nước sông Hồng lên to xói mòn làm lở bờ sông. Vì vậy, năm 1615, vào đời vua Lê Kính Tông, dân làng Yên Phụ dời chùa vào gò đất Kim Ngư. Dưới triều vua Lê Hy Tông (1676 - 1705) chùa mới được đổi tên là Trấn Quốc, bức hoành phi mang chữ "Trấn Quốc Tự" treo ở gian nhà đại bái hiện nay được làm từ lúc đó. Thời Lê-Trịnh, nơi đây được chọn làm hành cung Trấn Quốc dành cho vua chúa nghỉ ngơi khi dạo chơi hồ Tây. Năm 1842, vua Thiệu Trị đến thăm chùa đổi tên thành Trấn Bắc, nhưng nhân dân vẫn quen gọi tên cũ là chùa Trấn Quốc.

Chùa Trấn Quốc không chỉ tự hào về bề dày của lịch sử xây dựng mà còn về các vị cao tăng và danh nhân đã gắn bó với ngôi chùa. Các Thiền sư và Pháp sư Vân Phong, Khuông Việt, Thảo Đường, Thông Biện, Viên Học, Tịnh Không, Trần Tú Uyên đều thụ giáo hoặc tu trì ở chùa này. Năm 580, Thiền sư Ti-ni-đa-lưu-chi từ Ấn Độ sang Việt Nam cũng đã dừng chân tại đây một thời gian.

Năm 1069, vua Lý Thánh Tông đem quân sang đánh Chiêm Thành, bắt cả vua Chiêm là Chế Củ và một số tù nhân, trong đó có một vị sư rất am hiểu kinh pháp đạo Phật. Truy nguyên ra mới biết đó là Thiền sư Thảo Đường. Lý Thánh Tông phong Thảo Đường chức Quốc sư và mời Ngài trụ trì chùa Khai Quốc, từ đó mở ra Thiền phái Thảo Đường ở nước ta. Chùa cũng là Tổ đình của Thiền phái Tào Động truyền ở Việt Nam đời Hậu Lê.

Từ khi dời vào bãi Cá Vàng, chùa Trấn Quốc đã nhiều lần được kiến thiết và trùng tu. Năm 1624, dưới triều vua Lê Thần Tông, tòa Tam bảo, tòa thiêu hương và tiền đường được xây dựng. Đến năm 1639, xây thêm tam quan, hậu đường và hành lang tả hữu. Ở hiên phải nhà đại bái hiện còn tấm bia ghi lại việc trùng tu này do Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính lập.

Sau một thời gian bị chiến tranh tàn phá, theo nội dung tấm bia do Tiến sĩ Phạm Quí Thích dựng năm 1815, thì từ năm 1813 đến năm 1815, chùa Trấn Quốc lại được Sư trụ trì là Khoan Nhân tổ chức trùng tu lại chính điện, nhà thiêu hương, tiền đường, hành lang, gác chuông, hậu đường, đồng thời đắp tượng Phật và đúc chuông lớn. Chùa Trấn Quốc là một trong số rất ít những ngôi chùa ở miền Bắc có pho tượng Thích-ca nhập niết bàn bằng gỗ thếp vàng rất đẹp.

Ngay cổng chùa có hai câu đối:

Vang tai xe ngựa qua đường tục

Mở mặt non sông tới cửa Thiền

Trước cửa chùa lại thêm hai câu đối trên hai cột:

Trải bao phen gió Á mưa Âu, trơ đá vững đồng, chót vót cột trời chùa Trấn Quốc.

Riêng một thú hoa đàm đuốc tuệ, sớm chuông chiều trống, thênh thang cửa Phật cảnh Tây Hồ.

Trong vườn chùa, cùng với những cây cổ thụ sum suê tỏa bóng mát, có một cây bồ đề được chiết cành từ cội bồ đề, nơi 25 thế kỷ trước đức Phật Thích-ca thành đạo, do Tổng thống Ấn Độ R. Prasat mang sang Việt Nam tặng năm 1958.

Cảnh thiên nhiên tĩnh mịch bao quanh chùa giữa mùa sen nở trắng, hồng trên mặt nước hồ Tây dễ gợi lên cho con người không khí hoài cổ từng được lưu giữ trong những dòng thơ của Bà Huyện Thanh Quan:

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu

Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau

Mấy tòa sen tỏa hơi hương ngự

Năm thức mây phong nếp áo chầu!

 

Chùa MỘT CỘT  

(DIÊN HỰU TỰ)

 

Chùa Một Cột nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội, có nguồn gốc từ một giấc mơ lành của vua Lý Thái Tông (1028 - 1054). Theo truyền thuyết, vào năm 1049, một hôm nhà vua nằm mộng thấy Phật Quan Âm dắt Vua lên tòa sen. Tỉnh giấc, Vua đem việc ấy hỏi các quần thần , trong đó có các nhà sư đạo cao đức trọng. Sư Thiền Tuệ khuyên Vua xây chùa, dựng cột đá giữa ao, đặt tòa sen của Phật trên cột như đã thấy trong chiêm bao.

Chùa xây chỉ có một gian gọi là Liên Hoa đài (đài hoa sen) nằm trên một cột đá ở giữa hồ nhỏ gọi là Linh Chiểu tỉnh, nên được gọi là chùa Nhất Trụ (một cột). Ở chùa Long Đọi (Nam Hà) có một tấm bia còn ghi lại sự tích này: "Đào hồ Linh Chiểu, giữa hồ vươn lên một cột đá, đỉnh cột nở đóa hoa sen nghìn cánh, trên sen dựng tòa điện màu xanh. Trong điện đặt pho tượng Quan Âm. Vòng quanh hồ là dãy hành lang. Lại đào ao Bích Trì, mỗi bên đều bắc cầu vồng để đi qua. Phía sân cầu đằng trước, hai bên tả hữu xây tháp lưu ly".

Chùa nằm trong khu vườn Tây Cấm thuộc thôn Thạch Bảo, huyện Vĩnh Thuận, kinh thành Thăng Long. Khi chùa được khánh thành, các Sư chay đàn, tụng kinh cầu cho Vua sống lâu. Vì thế chùa còn có tên là Diên Hựu (kéo dài cõi phúc).

Hằng năm cứ đến ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch, nhà vua lại tới chùa làm lễ tắm Phật. Các nhà sư và nhân dân kinh thành Thăng Long cùng dự lễ. Sau lễ tắm Phật là lễ phóng sinh, Vua đứng trên một đài cao trước chùa thả một con chim bay đi, rồi nhân dân cùng tung chim bay theo trong tiếng reo vui của một ngày hội.

Đến năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho sửa ngôi chùa, trước sân dựng một ngọn bảo tháp. Năm 1108. Ỷ Lan phu nhân sai đúc một cái chuông rất to, nặng một vạn hai nnghìn cân, đặt tên là "Giác thế chung" (Quả chuông thức tỉnh người đời). Đây được xem là một trong tứ đại khí - bốn công trình lớn của nước ta thời đó - là: tháp Báo Thiên, chuông Qui Điền, vạc Phổ Minh và tượng Quỳnh Lâm. Giác thế chung đúc xong nặng quá không treo lên được, để dưới mặt đất thì đánh không kêu. Người ta đành bỏ chuông xuống một thửa ruộng sâu bên chùa Nhất Trụ, ruộng này có nhiều rùa, do đó có tên Quy Điền chung (chuông ruộng rùa). Đến thế kỷ XV, giặc Minh xâm lược nước ta, chiếm thành Đông Quan (Hà Nội). Năm 1426 Lê Lợi đem nghĩa quân Lam Sơn ra đánh, vây thành rất gấp. Quân Minh thiếu vũ khí đạn dược, tướng Minh là Vương Thông bèn đem phá chuông Quy Điền lấy đồng. Quân Minh thua, đất nước ta lại được hưởng nền thịnh trị thái bình nhưng chuông Quy Điền thì không còn nữa.

Chùa Một Cột được trùng tu vào khoảng những năm 1840-1850 và vào năm 1922. Đài Liên Hoa chúng ta thấy hiện nay được làm lại năm 1955. Đài hình vuông, chiều dài mỗi cạnh 3m, mái cong, dựng trên cột cao 4m, đường kính 1,20m gồm 2 trụ đá ghép chồng lên nhau liền thành một khối. Tầng trên là là một khung gỗ kiên cố đỡ ngôi đài với mái ngói, bốn góc uốn cong, trên có lưỡng long triều nguyệt. Hình dáng ngôi chùa như một đóa hoa sen vươn thẳng lên khu ao hình vuông được bao bọc bởi hàng lan can làm bằng những viên gạch sành tráng men xanh. Đi qua ao theo lối nhỏ lát bằng gạch, ta sẽ đến một cầu thang dẫn lên Phật đài có một tấm biển bằng chữ Hán đề trước cửa: Liên Hoa Đài.

Thiền sư Huyền Quang đã có thơ vịnh chùa Diên Hựu:

Đêm thu chùa thoảng tiếng chuông tàn
Phong đỏ, trăng ngời, sóng nguyệt tan
In ngược hình chim, gương nước lạnh
Sẫm đô bóng tháp, ngón tiêu hàn.

(Huệ Chi dịch)

Hoa sen lúc mới nở đã có "quả" lại có "nhân" tượng trưng cho giáo lý nhà Phật. Hoa sen cũng là loài hoa tinh khiết, giữa trần gian mà chẳng nhuốm mùi tục lụy. Chùa Một Cột, vì lẽ đó, là biểu tượng của cõi Thiền "bất nhiễu", "vô ưu". Gắn liền với lịch sử thủ đô, đó cũng là biểu tượng của Hà Nội ngàn năm văn vật.

 

Chùa LÁNG 

(CHIÊU THIỀN TỰ)

Sự tích chùa Láng gắn liền với truyền thuyết Thiền sư Từ Đạo Hạnh, một vị cao tăng dưới đời Lý Nhân Tông. Đạo Hạnh tục danh làng Từ Lộ, con viên Tăng quan Đô Án Từ Vinh. Hồi còn trẻ Từ Vinh trọ học ở làng Láng - tức là Yên Lãng, huyện Từ Liêm, Hà Nội ngày nay - ông lấy bà Tăng Thị Loan và sinh ra Từ Lộ. Do có sự bất đồng dẫn đến hiềm khích mà Diên Thành Hầu đã nhờ Pháp sư Đại Điên đánh chết Từ Vinh. Quyết trả thù cho cha, Từ Lộ vào ẩn trong hang đá Trì Sơn, tu luyện rồi sau đó đánh Đại Điên mang bệnh đến chết.

Cởi mối oan nghiệt, Từ Đạo Hạnh tập trung tu học pháp thiền. Ông có hai người bạn đồng đạo gần gũi là Thiền sư Minh Không và Thiền sư Giác Hải, cả ba đều biết nhiều pháp thuật. Sau Từ Đạo Hạnh về tu ở chùa Thiên Phúc tức chùa Thầy ở núi Sài Sơn. Tương truyền rằng Từ Đạo Hạnh đã hóa thân và đầu thai làm con trai của Sùng Hiền Hầu, em vua Lý Nhân Tông, tên là Dương Hoán. Vì vua Lý Nhân Tông không có con, nên Dương Hoán được lập làm Đông Cung Thái Tử và trở thành vua Lý Thần Tông (1128 - 1138). Về sau con của Lý Thần Tông là Lý Anh Tông (1138 - 1175) đã cho dựng chùa Láng để thờ vua cha và tiền thân của cha là Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Trong chùa, ngoài tượng Phật còn có tượng vua Lý Thần Tông và tượng Thánh Từ Đạo Hạnh.

Chùa Láng có tên chữ là Chiêu Thiền Tự với ý nghĩa rằng: "Vì có điều tốt rõ rệt nên gọi là Chiêu. Đây là nơi sinh ra Thiền sư Đại Thánh nên gọi là Thiền". Ngày 7 tháng 3 âm lịch là ngày sinh của Thiền sư Từ Đạo Hạnh, trở thành ngày hội chùa Láng.

Nhớ ngày mồng bảy tháng ba,

Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy

Chiêu Thiền Tự nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 7km về phía Tây. Xưa kia chùa dựng trên một địa thế rất đẹp nằm giữa cánh đồng bao la, chung quanh có những cây muỗm và cây đa cổ thụ khiến cho cảnh chùa thêm u tịch. Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu, kiến trúc hiện nay là do lần trùng tu vào giữa thế kỷ XIX với vẻ cổ kính vẫn còn giữ được của một danh lam từ tám thế kỷ trước.

Nét độc đáo đầu tiên đập vào mắt du khách là cổng chùa hao hao giống kiến trúc cổng ở cung vua phủ chúa ngày xưa: đó là một hàng bốn cột hoa kiểu bằng gạch với ba mái cong thanh thoát. Ba mái này không phủ lên đỉnh cột mà gắn vào sườn cột, mái giữa cao hơn hai mái bên . Sân chùa lát gạch Bát Tràng, nối cổng chùa với cửa tam quan. Qua tam quan là một con đường rộng lát gạch, hai bên có tường hoa dẫn tới Bát giác đình, nơi ngày hội đặt tượng Thánh cho dân làng làm lễ dâng hoa. Trong cùng là chùa chính bao gồm tiền đường, tòa thiêu hương, thượng điện, hành lang, nhà tổ, tăng phòng và các gian nhà phụ.

Vẻ bề thế của quần thể kiến trúc hài hòa, cân xứng với không gian thoáng đãng khiến cho chùa Láng đã từng được coi là đệ nhất tùng lâm ở phía Tây kinh thành Thăng Long xưa.

 

Chùa QUÁN SỨ

 

Chùa Quán Sứ được xây dựng vào thế kỷ XV nằm trên địa phận thôn An Tập, phường Cổ Vũ, tổng Tiền Nghiêm (sau đổi là tổng Vĩnh Xương), huyện Thọ Xương; ngày nay là phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, thủ đô Hà Nội. Nguyên xưa ở phường này chưa có chùa, chỉ có mấy gian nhà tranh ở phía Nam, dân làng dùng làm chỗ tế thần cầu yên gọi là xóm An Tập. Theo sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí, vào thời vua Lê Thế Tông, các nước Chiêm Thành, Ai Lao thường cử sứ giả sang triều cống nước ta. Nhà vua cho dựng một tòa nhà gọi là Quán Sứ để tiếp đón các sứ thần đến Thăng Long. Vì sứ thần các nước này đều sùng đạo Phật nên lại dựng thêm một ngôi chùa cũng nằm trong khuôn viên Quán Sứ để họ có điều kiện hành lễ. Thời gian đã xóa đi dấu khu nhà Quán Sứ nhưng ngôi chùa thì vẫn tồn tại.

Năm 1934, Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập, chùa Quán Sứ được chọn làm trụ sở trung ương. Năm 1942 chùa đã được xây dựng lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng do chính Tổ Vĩnh Nghiêm duyệt. Nghệ thuật kiến trúc và trang trí kết hợp tất cả tinh hoa các đại già lam miền Bắc. Chùa Quán Sứ có lẽ là một trong rất ít ngôi chùa ở nước ta mà tên chùa cũng như nhiều câu đối đều được viết bằng chữ quốc ngữ. Phải chăng vì ngôi chùa được xây dựng lại vào giữa thế kỷ XX và vì chùa đã trở thành trụ sở trung tâm của Tổng hội Phật giáo Bắc Việt, nay là của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ngôi Quốc tự chung của các thiện nam tín nữ trên đất Việt.

Tam quan chùa có ba tầng mái, ở giữa là lầu chuông. Đi qua một sân gạch nhỏ, bước lên 11 bậc thềm là tới chánh điện. Điện Phật được bài trí trang nghiêm, các pho tượng đều khá lớn và thếp vàng lộng lẫy. Phía trong cùng, thờ ba vị Tam Thế Phật trên bậc cao nhất. Bậc kế tiếp thờ tượng Phật A-di-đà ở giữa, hai bên có tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí. Bậc dưới đó, ở giữa thờ Phật Thích-ca, hai bên là A-nan-đà và Ca-diếp. Bậc thấp nhất , ở ngoài cùng có tòa Cửu Long đứng giữa tượng Quan Âm và Địa Tạng. Gian bên phải chánh điện thờ Lý Quốc Sư (tức Thiền sư Minh Không) với hai thị giả, gian bên trái thờ tượng Đức Ông và tượng Châu Sương, Quan Bình.

Các nhà chính và nhà phụ chùa Quán Sứ đều rộng rãi. Nơi đây từng là trụ sở báo Đuốc Tuệ và văn phòng Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ. Hiện nay chùa có giảng đường, thư viện, là nơi đặt văn phòng Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và văn phòng tổ chức Phật giáo Châu Á vì hòa bình (ở Việt Nam).

Nửa thế kỷ nay, chùa Quán Sứ đã chứng kiến nhiều hoạt động quan trọng của Phật giáo Việt Nam, trong đó có sự thống nhất tổ chức Phật giáo trong cả nước và sự hòa nhập của Phật giáo Việt Nam với Phật giáo thế giới. Chính nơi đây vào ngày 13-5-1951 (mồng 8-4 năm Tân Mão) lần đầu tiên lá cờ Phật giáo thế giới do Thượng tọa Tố Liên mang về từ Colombo đã xuất hiện trên bầu trời Hà Nội.

 

Chùa KIM LIÊN 

(ĐẠI BI TỰ)

Chùa Kim Liên được dựng trên một dải đất ven hồ Tây về phía Bắc, sát chân đê Yên Phụ, nước hồ bao quanh, tựa như một hòn đảo. Từ phía xa, đi trên mặt đê ta đã trông thấy mái chùa màu xám rêu và những ngọn tháp vươn lên giữa những bụi tre xanh thấp thoáng quanh chùa. Hai trăm năm trước, cảnh quan này đã được Phạm Đình Hổ ghi lại trong Tang Thương ngẫu lục: "Chùa xoay lưng ra sông Nhị Hà, Hồ Tây diễu quanh ở trước mặt, khói sóng man mác, trời nước một màu? Đằng phía tả có mấy cái gò, xen lẫn vào trong khoảng nước hồ, tháp gạch xây ở trên, khóm trúc cội tùng phơ phất?".

Chùa nằm trên địa phận huyện Nghi Tàm, xã Quảng An, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, nên còn được gọi là chùa Nghi Tàm. Xưa kia đây nguyên là chùa Đống Long, dựng từ thời nhà Trần (1225 - 1413) trên nền cũ của cung Từ Hoa có từ thời nhà Lý. Tương truyền rằng Công chúa Từ Hoa con vua Lý Thần Tông (1128 - 1138) đã đem cung nữ đến mảnh đất này trồng dâu nuôi tằm, mở ra trại Tàm Tang, sau đổi tên thành Tích Ma, rồi phường Nghi Tàm. Năm 1639, dưới triều vua Lê Thần Tông, chùa được tu sửa lại, gọi là chùa Đại Bi. Một bia dựng bên tả sân chùa do Ngô Độn Phu soạn có khắc năm chữ to: Trùng tu Đại Bi Tự. Một tấm bia dựng ở bên tả trong tiền đường do Bùi Huy Cận soạn cũng khẳng định chùa vốn tên là Đại Bi. Đến thời vua Lê Dụ Tông, niên hiệu Bảo Thái (1720 - 1728) có vị Hòa thượng tên là Huệ, nguyên là nội thị của Chúa Trịnh Uy Vương, đến tu tại đây. Năm 1771 Chúa Trịnh Sâm sai dỡ chùa Bảo Lâm về tu bổ chùa này và đổi tên là Kim Liên. Việc này được ghi lại trong tấm bia do quan Đại học sĩ Phan Trọng Phiên lập. Vào năm 1792 chùa lại được đại tu. mang dấu ấn nghệ thuật kiến trúc thời Tây Sơn. Lần tu sửa gần đây nhất kéo dài từ năm 1983 đến năm 1987 đã phục hồi lại diện mạo ngôi chùa 200 năm trước đây.

Chùa KIm Liên gồm ba nếp nhà: chùa hạ, chùa trung và chùa thượng, xếp song song theo kiểu chữ "Tam". Cột xà kiên cố, chạm khắc tinh vi, tường xây gạch cổ dày, không trát vữa. Mỗi nếp nhà có hai tầng mái, kiểu chồng diêm, lớp ngói cổ, với bốn góc đao uốn cong có gắn đầu phượng. Cổng tam quan là một kiến trúc độc đáo bằng gỗ, đượm dáng vẻ cung đình, với những bức chạm nổi trên mặt gỗ hình rồng, hoa văn hết sức tinh xảo.

Trong chùa còn lưu giữ đủ các tượng Phật và tượng Bồ-tát. Đặc biệt có pho tượng tạc hình một người trung niên, râu ba chòm, mặc áo văn lĩnh, đầu đội mũ miện, tay cầm hốt ở tư thế đứng. Theo Phạm Đình Hổ, thì tương truyền rằng đó là tượng chân dung Uy Nam Vương Trịnh Giang.

 

Chùa THẦY 

(THIÊN PHÚC TỰ)
 

Nếu chùa Láng gắn liền với giai đoạn đầu của cuộc đời ngài Từ Đạo Hạnh thì chùa Thầy lại chứng kiến quãng đời sau cùng cho đến ngày thoát xác của vị sư thế hệ thứ 12 thuộc dòng Thiền Ti-ni-đa-lưu-chi này.

Chùa Thầy dựa vào sườn Tây Nam một ngọn núi đá vôi có nhiều hang động là núi Thầy tức núi Sài Sơn thuộc làng Hoàng Xá, xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội khoảng 30km. Trong một bài ký ghi trên vách núi, Chúa Trịnh Cãn đ?phác họa cảnh chùa Thầy "như viên ngọc nổi lên giữa đám sỏi đá, rạng vẻ xuân tươi khắp cả bốn m?. Động tr? hệt như cõi thanh hư, bên vách còn in mây ráng. Ao rồng thông sang bến siêu độ, cầu tiên Nhật Nguyệt đôi vầng. Hình tựa bình phong, sông như dải lụa".

Ban đầu ch? Thầy chỉ là một am nhỏ gọi là Hương Hải am, nơi Thiền sư Từ Đạo Hạnh tu trì. Vua Lý Nhân Tông đã cho xây dựng lại gồm hai cụm chùa: chùa Cao (Đỉnh Sơn Tự) trên núi và chùa Dưới (tức chùa Cả, tên chữ là Thiên Phúc Tự). Đầu thế kỷ XVII, Dĩnh Quận Công c?g hoàng tộc chăm lo việc trùng tu , xây dựng điện Phật, điện Thánh; sau đó là nhà hậu, nhà bia, gác chuông. Theo thuyết phong thủy, chùa được xây dựng trên thế đất hình con rồng. Phía trước chùa, bên trái là ngọn Long Đẩu, lưng ch? và bên phải dựa vào núi Sài Sơn. Chùa quay mặt về hướng Nam, trước chùa, nằm giữa Sài Sơn và Long Đẩu là một hồ rộng mang tên Long Chiểu hay Long Trì (ao Rồng). Sân có hàm rồng. Thủy đình mọc lên giữa Long Chiểu, nơi thường diễn trò rối nước đặc sắc, chính là viên ngọc ở đầu rồng. Hai giếng là hai mắt rồng. Hai cầu cổ có mái ngói do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan xây dựng năm 1602 là hai răng nanh của miệng rồng: Cầu Nhật Tiên ở bên trái trông vào đền Tam Phủ xây trên một đảo nhỏ giữa ao. Cầu Nguyệt Tiên ở bên phải dẫn vào đường lên chùa Cao trên núi.

Đối diện với thủy đình là chùa Cả được xây dựng theo kiểu chữ "Tam" gồm 3 nếp nhà dựng trên nền cao bó đá hộc xanh. Nếp ngoài là nhà tiền tế, nếp giữa thờ Phật, nếp trong cùng thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Trong chùa có đặt 3 pho tượng diễn tả 3 "kiếp" của Thiền sư Từ Đạo Hạnh: Tãng, Phật và Đế Vương. B? trái là tượng toàn thân Thiền sư bằng gỗ bạch đàn lắp máy tự động có thể đứng l? ngồi xuống được, nhắc nhở thời kỳ Ngài đi tu ở Hương Hải am đ?làm thuốc trị bệnh cứu người và dày công sáng tạo môn nghệ thuật múa rối nước cổ truyền để cho dân giải trí. Chính giữa là tượng Thiền sư khi đã thành Phật, đội mũ hoa sen, tay chắp trước ngực, khoác áo cà sa vóc vàng. Bên phải là tượng Thiền sư sau khi đã hóa, đầu thai làm con trai của Sùng Hiền Hầu và trở thành nhà vua Lý Thần Tông (1) . Tượng Lý Thần Tông đầu đội mũ bình thiên, mình khoác long bào, ngồi trên ngai vàng.

Trong chùa còn có tượng ông Từ Vinh và bà Tăng Thị Loan là cha mẹ Từ Đạo Hạnh và hai bạn đồng đạo thân thiết của Ngài là Thiền sư Minh Không và Thiền sư Giác Hải. Hai bên chùa là hành lang dài thờ mười tám vị La Hán.

Đường qua cầu Nguyệt Ti? dẫn đến những bậc đá đi l? núi, nơi có chùa Cao vốn là Hiển Thụy am, còn có tên là Đỉnh Sơn Tự. Trên vách chùa còn khắc những bài thơ tức cảnh của Nguyễn Trực và Nguyễn Thượng Hiền. Tương truyền rằng động Phật Tích ở sau chùa là nơi Ngài Từ Đạo Hạnh thoát xác, nên còn gọi là hang Thánh Hóa.

Phía trên chùa Cao có một mặt bằng gọi là chợ Trời với nhiều tảng đá hình bàn ghế, kệ bày hàng, ly rượu … trong đó có một phiến đá nhẵn lì được gọi là bàn cờ tiên. Có lẽ nơi đây ngày xưa các bậc trích tiên vẫn ngồi chơi cờ, uống rượu, thưởng trăng và ngâm thơ giữa thiên nhiên khoáng đạt như hình ảnh trong bài thơ của Nguyễn Khuyến:

Hóa công xây đắp biết bao đời
Nọ cảnh Sài Sơn có chợ Trời
Buổi sớm gió tuôn, trưa nắng gắt
Ban chiều mây họp tối trãng chơi
Bày hàng hoa quả tư mùa sẵn
Giãi thủ giang sơn bốn mặt ngồi
Bán lợi mua danh nào những kẻ
Chẳng lên mặc cả một đôi lời.

Theo lối mòn ven núi, leo lên vài chục bậc đá nữa sẽ đến hang Cắc Cớ, nơi tình tự của trai gái ngày xưa trong những ngày hội hè, như ca dao đã ghi lại:

Gái chưa chồng nhớ hang Cắc Cớ,
Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy.

Từ hang Cắc Cớ, một con đường có nhiều cây đại thụ dẫn l? đền Thượng. Gần đền Thượng có hang Bụt Mọc với nhiều tảng đá được thời gian bào mòn trông như tượng Phật. Tiếp đó là hang Bò với lối vào âm u và hang Gió với những ngọn gió thổi thông thốc cả hai đầu.

Ở chân núi Thầy, về phía Tây có chùa Bối Am còn gọi là chùa Một Mái, vì chùa chỉ có một mái lợp bằng ngói, còn mái kia chính là vòm hang.

Nét độc đáo của thắng cảnh ch? Thầy là ở sự kết hợp giữa những con đường, những mái chùa vươn lên tầm cao, với những vẻ đẹp của hồ nước trải rộng và những bí ẩn trong chiều sâu lòng đất. Cả ba chiều không gian đó kết tụ lại trong một quần thể thi? nhiên đa dạng về kiến trúc và màu sắc. Hội chùa Thầy diễn ra từ ngày mùng 5 đến ngày mùng 7 tháng ba âm lịch hàng năm, là dịp để con người chiêm bái danh lam thắng cảnh này. Trong ngày hội, nhiều Tăng Ni từ các nơi khác trong vùng cùng về đây dự lễ trong những bộ cà-sa trang trọng, tay cầm gậy hoa, miệng tụng kinh trong tiếng mõ trầm đều. Lễ cúng Phật và trai đàn - một diễn xướng có tính chất tôn giáo - được thực hiện có sự phối hợp của các nhạc cụ dân tộc.

Nhưng hội chùa Thầy không chỉ có những nghi thức tôn giáo. Ở đây còn có trò múa rối nước mang đậm sắc thái dân gian mà ngày nay có tiếng vang ở cả nước ngoài. Trai thanh gái lịch gần xa tìm đến hội chùa Thầy còn để thỏa mãn tính mạo hiểm khi leo núi và khao khát bày tỏ tình yêu trong một khung cảnh thiên nhiên rộng mở:

Rủ nhau lên núi Sài Sơn
Ai làm đá ướt đường trơn hỡi mình?
Hỏi non, non những làm thinh
Phải rằng non đ?vô tình với ai?
Nước non ví chẳng chiều đời
Mắt xanh đâu lẽ phụ người tình chung?
Yêu nhau ta dắt nhau cùng
Non bao nhiêu đá nặng lòng bấy nhiêu.
(Á Nam Trần Tuấn Khải)

 

Chùa TRĂM GIAN 

(QUẢNG NGHIÊM TỰ)

 

Trên miền Bắc nước ta có hai ngôi chùa mang tên chùa Trăm Gian: một ở Hà Bắc, một ở Hà Tây. Cả hai ngôi chùa đều nằm trên đỉnh núi, có những sắc thái kiến trúc và phong cảnh độc đáo. Riêng chùa Trăm Gian ở Hà Tây thì gắn liền với truyền thuyết về một vị cao tăng tên là Nguyễn Lữ (hoặc Nhữ) hiệu là Bình An, quê ở Bối Khê, huyện Thanh Oai, Hà Tây, được người đời gọi là đức Thánh Bối.

Truyền thuyết kể rằng vào đời Trần, ở làng Bối Khê có một người phụ nữ nằm mộng thấy đức Phật giá