Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thiền Định Phật Giáo


 

 

 

 

101 CÂU CHUYỆN THIỀN KINH PHẬT LÝ

Thích Hải Tín soạn dịch

 

Tự Truyện

     Thiền là gì? Thiền, là trạng thái yên tĩnh, thanh tịnh, an lạc… sau một quá trình thay đổi cá nhân; là cảnh giới có được sau khi trải qua một phương pháp tu tập, sau khi nâng cao và cải thiện chính mình; là phương thức sống yên tĩnh, đơn giản; là một loại ngôn ngữ đặc biệt, có ý nghĩa gợi ý; là thể hiện tư tưởng sâu sắc của cuộc sống; là sự kết tinh trí tuệ bao dung vạn vật.

            Mấu chốt của Thiền là ở ngộ. Ngộ là gì? Ngộ, không thể dùng ngôn ngữ diễn tả rõ ràng được, nhưng bút giả cũng tạm mượn ngôn ngữ để nói vậy. Ngộ là sự thể nghiệm về tinh thần của con người một cách thuần túy; ngộ là bỗng thấy trong lòng sáng ra, rõ ràng trong suốt; ngộ là hoa tươi nở rộ, trong phút chốc chim tung cánh bay; ngộ là mặt trời mọc lên nhanh, không mấy chốc ánh sáng trùm khắp, cảnh vật rạng ngời; ngộ là cảnh giới bỗng nhiên một đêm gió xuân đến, muôn nghìn hoa cỏ rộ sắc hoa!...

            Chúng tôi soạn dịch 101 câu chuyện kinh điển Thiền Kinh Phật Lý này, hoàn toàn không phải để hoằng dương pháp môn Thiền, bởi vì pháp môn Thiền cũng chỉ là một pháp môn mà thôi, chỉ là phương pháp tu tập như những pháp môn khác, như pháp môn Tịnh độ hay Mật… cũng đều là phương pháp tu tập và những pháp môn ấy đều đạt được Thiền, nói rõ hơn là trạng thái Thiền (tức trạng thái an lạc thanh tịnh…). Dù ai tu theo bất cứ pháp môn nào thì ít nhiều đều đạt đến trạng thái Thiền. Trạng thái Thiền này, ví dụ giống như nước uống vậy, hễ là con người thì ít nhiều đều phải uống nước; cũng có thể ví dụ như thức ăn vậy, dù ăn món ăn nào ít nhiều thì món ăn ấy cũng biến thành năng lượng nuôi cơ thể. Các pháp môn tu cũng giống như vậy. Chúng ta thể hiện Thiền ngay trong cuộc sống của chúng ta như lời nói thiền, nghe âm thanh thiền, làm việc thiền, dụng tâm thiền…

            Lời nói thiền là lời nói hoan hỷ, lời nói chân thật, lời nói khiêm tốn, lời nói lợi ích cho mọi người…

            Âm thanh thiền là những âm thanh nghe được đều là những âm thanh từ bi, âm thanh giúp đỡ…

            Làm những việc thiền là làm những việc như bố thí, từ bi, giúp đỡ, phục vụ mọi người…

            Dùng tâm thiền là tâm bao dung hết tất cả, làm lợi ích cho tất cả…

            Một đóa hoa một thế giới, một hạt cát một càn khôn, một câu nói một trí tuệ, một câu chuyện một cuộc đời. Bút giả tuyển chọn 101 câu chuyện này, mỗi một mẩu chuyện đều là một tia sáng giác ngộ, đốn ngộ; là chùm ánh sáng của sao mai.

            Trạng thái Thiền là tấm gương sáng, nó chiếu sáng tâm của con người; Thiền là ngọn đèn, nó dẫn dắt chúng ta đi trên con đường giác ngộ. Hy vọng 101 câu chuyện kinh điển Thiền kinh Phật lý này có thể giúp độc giả lãnh ngộ được ý nghĩa thâm sâu của kiếp sống nhân sinh, tìm được kết tinh của trí tuệ.

       

1. TRÊN ÐỜI CÁI GÌ TRÂN QÚY NHẤT

     Thuở xưa, trong một thành nọ, có một ngôi chùa tên là Viên Âm, mỗi ngày có rất nhiều người đến thắp hương lễ Phật, nên chùa cũng rất hưng thịnh. Trên xà ngang (đòn tay) ở nóc chùa có con Nhền Nhện (Tri Thù) giăng tơ làm tổ. Do vì mỗi ngày đều chịu nhiều khói hương và sự kiền thành lễ bái xông lên, cho nên con Nhền Nhện đã có Phật tánh. Trải qua hơn một ngàn năm tu luyện, Phật tánh của Nhền Nhện cũng đã tăng lên nhiều.

            Một ngày nọ Ðức Phật quang lâm đến chùa Viên Âm, thấy hương khói nơi này rất thịnh vượng, Phật rất hoan hỷ. Lúc rời chùa, bất ngờ nhìn lên, thấy con Nhền Nhện trên xà ngang, Phật dừng lại, nói với Nhền Nhện rằng: “ Ta và ngươi có duyên mới gặp nhau, thấy ngươi tu luyện ở đây hơn ngàn năm rồi, không biết ngươi đã có kiến giải hay thấu triệt gì chưa, vậy Ta muốn hỏi ngươi một vấn đề, có được không?” Nhền Nhện gặp được Phật Nhền Nhện rất vui mừng, liền đồng ý lời Phật nói.

            Ðức Phật hỏi Nhền Nhện rằng: “Trên đời này cái gì là trân quý nhất?” Nhền Nhện suy nghĩ một hồi rồi đáp rằng: “Bạch Thế Tôn, trên đời này cái trân quý nhất là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”.” Ðức Phật khẽ gật đầu rồi rời khỏi chùa Viên Âm.

            Như vậy 500 năm đã trôi qua, Nhền Nhện vẫn tu luyện trên xà ngang của chùa Viên Âm. Tánh Phật của Nhền Nhện ngày càng sáng ra. Một ngày nọ Phật tổ lại đến chùa, nói với Nhền Nhện rằng: “Này Nhền Nhện, ngươi vẫn khỏe chứ? vấn đề 500 năm trước, ngươi có hiểu biết gì sâu rộng chưa?” Nhền Nhện đáp rằng: “Bạch Phật, con cảm thấy cái trân quý nhất trên đời này vẫn là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”.” Ðức Phật nói: Ngươi tiếp tục tu luyện và suy nghĩ thêm đi, Ta sẽ tiếp tục đến tìm ngươi”.

            Năm trăm năm nữa lại trôi qua, một ngày nọ, gió mạnh nổi lên, gió thổi một giọt nước cam lộ bay và vướng vào ổ lưới Nhền Nhện. Nhền Nhện nhìn giọt cam lộ, thấy nó trong suốt óng ánh rất đẹp, bèn sanh ý ưa thích. Nhền Nhện mỗi ngày ngắm nhìn giọt cam lộ rất vui vẻ, nó cảm thấy rằng đây là những ngày vui vẻ nhất trong hai ngàn năm nay.

            Bỗng nhiên một cơn gió mạnh thổi đến, giọt nước cam lộ kia cũng bị gió thổi đi mất. Nhền Nhện trong phút chốc cảm thấy mất đi cái gì đó, cảm thấy cô đơn buồn tẻ khó chịu. Lúc này Phật tổ lại đến, hỏi Nhền Nhện rằng: “Nhền Nhện à, năm trăm năm nay ngươi suy nghĩ kỹ vấn đề: Trên đời này cái gì là trân quý nhất?” Nhền Nhện nghĩ đến giọt cam lộ, vẫn đáp với Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, trên đời này cái quý nhất là vẫn là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”.” Phật nói rằng: “Hay lắm, ngươi đã kiến giải như vậy, hiểu biết như vậy, vậy Ta cho ngươi đi một vòng ở thế gian vậy”.

            Như vậy, Nhền Nhện đầu thai làm một tiểu thơ giàu có, làm con của một gia đình quan đại thần, cha mẹ cô ấy đặt cho cô ấy một cái tên là Tri Nhi (Bé Nhền Nhện), đến năm 16 tuổi Bé Nhền Nhện đã trở thành một thiếu nữ thướt tha yểu điệu đẹp đẽ sạch sẽ cảm động lòng người.

            Một ngày nọ, vua trong nước quyết định tổ chức tiệc mừng công cho tân khoa bảng vàng trạng nguyên Cam Lộc ở phía sau hoa viên. Trong buổi tiệc có rất nhiều thiếu nữ trẻ tuổi đến tham dự, có cả tiểu công chúa Trường Phong của vua. Trong buổi tiệc chàng trạng nguyên Cam Lộc, đem tài nghệ của mình ra cống hiến, như thi từ ca phú, tất cả thiếu nữ trong buổi tiệc không ai không bị tài nghệ của chàng trạng nguyên kia thuyết phục. Nhưng Bé Nhền Nhện không có gì tỏ ra lo lắng hay ganh tỵ gì, vì cô ấy biết, đây là nhân duyên Phật tổ thưởng cho cô ấy.

            Mấy ngày sau, kể ra thì cũng lạ thật, lúc Bé Nhền Nhện đưa mẹ đi thắp hương lễ Phật, cũng lúc ấy Cam Lộc cũng đưa mẹ đến lễ Phật. Sau khi thắp hương lễ Phật xong, hai người mẹ đứng một bên thăm hỏi chuyện trò, Bé Nhện và Cam Lộc vừa đi trên hành lang vừa trò chuyện, Bé Nhền Nhện rất vui vẻ nghĩ rằng, cuối cùng mình cũng được ở bên cạnh người mình yêu thích, nhưng Cam Lộc không có biểu hiện với sự vui thích của cô ấy. Tri Nhi (Bé Nhền Nhện) nói với Cam Lộc rằng: “Lẽ nào bạn chưa từng nhớ sự việc trên mạng lưới nhền nhện ở chùa Viên Âm mười sáu năm về trước hay sao?!” Cam Lộc rất kinh ngạc, nói rằng: “Bạn Tri Nhi ơi, bạn rất đẹp, cũng làm cho người ta thích, nhưng sức tưởng tượng của bạn hơi phong phú một chút.” Nói xong hai người chia tay nhau, cùng với mẫu thân rời chùa.

            Tri Nhi về đến nhà, trong lòng nghĩ rằng: “Phật tổ đã an bài chuyện hôn nhân như vậy, vì sao không làm cho anh ấy nhớ lại chuyện trước đây? Vì sao Cam Lộc không có cảm giác gì với mình?” Mấy ngày sau, vua ban lệnh, tân khoa trạng nguyên Cam Lộc kết hôn cùng với công chúa Trường Phong, Thái tử Chi Thảo kết hôn với Tri Nhi. Tin này đối với Tri Nhi như là sét đánh giữa trời quang, cố ấy nghĩ mãi mà nghĩ cũng không thông, vì sao Phật tổ đối với cô ấy như vậy?!

            Trong mấy ngày sau khi biết tin tức như vậy, cô ấy không ăn không uống gì, tính mạng rất nguy kịch sớm chiều. Thái tử Chi Thảo vừa hay được tình hình của Tri Nhi, bèn vội vàng chạy đến, bổ nhào đến bên cạnh giường của Tri Nhi, nói với Tri Nhi đang thoi thóp chút hơi tàn rằng: “Ngày ấy, trong các tiểu thư ở sau hoa viên, ta mới gặp nàng đã đem lòng yêu quý, ta đã khổ nhọc khẩn cầu phụ hoàng, phụ hoàng mới đáp ứng lời khẩn cầu của ta. Nếu nàng chết rồi, thì ta cũng không thiết sống nữa”. Nói xong, bèn rút gươm định tự tử.

            Ngay lúc này, Phật tổ đến, Ngài nói với thần thức của Tri Nhi sắp thoát khỏi thân xác rằng: “Này Nhền Nhện, ngươi đã từng nghĩ qua, Cam Lộ (hay Cam Lồ tức Cam Lộc) do ai mang đến bên cạnh ngươi vậy? Là do gió (công chúa Trường Phong) mang đến, cuối cùng cũng do gió mang nó đi. Cam Lộc là thuộc về công chúa Trường Phong, người ấy chẳng qua chỉ là khúc nhạc chen vào trong cuộc đời của ngươi mà thôi. Nhưng lúc ấy Thái tử Chi Thảo là cây cỏ nhỏ ở trước chùa Viên Âm, người ấy đã gặp ngươi hai nghìn năm rồi, đã ái mộ ngươi hai nghìn năm rồi, nhưng ngươi lại chưa từng cuối đầu nhìn qua người ấy. Này Nhền Nhện, bây giờ Ta lại hỏi ngươi, trên đời này cái gì là trân quý nhất?”

            Tri Nhi (Bé Nhền Nhện) sau khi nghe những chân tướng này, bỗng nhiên đại triệt đại ngộ, cô ấy bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, trên đời này cái trân quý nhất không phải là cái “đạt không được” và cái “đã mất đi”, mà là hạnh phúc đang có trong hiện tại.”

            Vừa nói xong Phật liền ra đi, thần thức của Tri Nhi cũng đã trở lại thân xác của Tri Nhi, cô ấy từ từ mở mắt ra, thấy Thái tử Chi Thảo đang muốn tự vẫn, cô ấy lập tức đánh thanh gươm rơi xuống đất, và ôm chặt Thái tử vào lòng…

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Trên đời này rất nhiều người cố chấp việc truy cầu những gì mình đạt không được hoặc đã mất đi, mà bỏ đi, đánh mất đi hạnh phúc trước mắt có được, như những gì có ở trong tay mình, điều này thật rất không đáng biết bao?! Trên đời này cái trân quý nhất không phải là cái gì “đạt không được” và cái “đã mất đi”, mà là hạnh phúc đang có trong hiện tại.

 

 

 

2. NGƯỜI MÙ THẮP ÐÈN

     Một thiền sinh đang đi trên đường, trời tối như mực, những người đi đường khó tránh khỏi va chạm vào nhau, thiền sinh cũng bị người đi đường đụng vào mấy lần rồi. Vị thiền sinh ấy tiếp tục đi về phía trước, từ xa xa thấy có người cầm lồng đèn đi về phía mình, lúc này bên cạnh thiền sinh, cũng có người đi đường nói rằng: “Người mù này thật kỳ lạ, rõ ràng là không thấy gì hết, nhưng mỗi tối đều cầm lồng đèn đi tới đi lui!”

            Thiền sinh cũng cảm thấy rất lạ, đợi lúc người mù kia cầm lồng đèn đi đến, thiền sinh bèn hỏi rằng: “Bạn thực sự là người mù sao?”

            Người kia đáp rằng: “Vâng, từ khi sinh ra đời đến bây giờ tôi chưa bao giờ thấy được một tia sáng nào, đối với tôi mà nói thì ban ngày cũng như ban đêm, thậm chí ánh sáng của đèn tôi cũng không biết nó ra sao!”

            Thiền sinh càng không hiểu, bèn hỏi: “Ðã là như vậy, vì sao bạn lại vẫn cầm lồng đèn đi tới đi lui? Thậm chí cũng không biết cái đèn lồng ra làm sao, cũng không biết ánh sáng đem lại cảm giác như thế nào cho con người.”

            Người mù nói rằng: “Tôi nghe người ta nói, mỗi khi tối đến, mọi người đều biến thành người mù giống như tôi, vì ban đêm không có ánh đèn, cho nên vào buổi tối tôi thắp đèn lồng và đi ra đường.”

            Thiền sinh vô cùng cảm động và cảm thán rằng: “Hóa ra tất cả những gì bạn làm đều là vì người khác!”

            Người mù trầm tư một hồi, rồi đáp rằng: “Không phải, tất cả là vì tôi và chính tôi!”

            Thiền sinh không hiểu, bèn hỏi: “Vì sao như vậy?”

            Người mù đáp rằng: “Lúc nảy, Thầy đi trên đường có bị người khác đụng vào Thầy không?”

            Thiền sinh đáp rằng: “Có, mới lúc nảy có hai người không chú ý va chạm vào tôi nè.”

            Người mù nói: “Tôi là người mù, nhìn cái gì cũng không thấy, nhưng tôi chưa bao giờ bị ai đụng vào người tôi. Vì cái lồng đèn của tôi, đã chiếu sáng cho người khác, cũng làm người khác nhìn thấy tôi, như vậy họ sẽ không phải vì nhìn không thấy mà va chạm vào tôi.”

            Thiền sinh đốn ngộ, cảm thán rằng: “Tôi bôn ba vất vả chạy đi tìm Phật, kỳ thật Phật chính đang ở bên cạnh tôi đây!”

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Cùng lúc đốt đèn chiếu sáng cho mọi người, cũng càng chiếu sáng cho chính mình. Ðây chính là đạo lý giúp người làm vui.

            Trong cuộc sống, chúng ta luôn luôn nên nhớ rằng: Giúp đỡ cho người cũng chính là giúp đỡ cho chính mình.

 

 

 

3. CÁI DŨNG CỦA HÒA THƯỢNG

     Trong một làng nọ, có những em trẻ tuổi, những em này rất thích nghịch ngợm gây rối, mỗi khi tối đến chúng thích giả làm ma quỷ để hù dọa người. Một ngày nọ, Thiền sư Vân Cư đi qua ngôi làng ấy để vào động tọa thiền. Những người trẻ tuổi thích gây rối kia bèn núp trên đường mà vị Thiền sư nhất định phải đi qua. Ðợi đến lúc Thiền sư đến, một người trong bọn trẻ kia, ngồi trên cành cây thò tay thòng xuống, và rờ lên đầu Thiền sư Vân Cư.

            Bọn trẻ kia vốn cho rằng vị Thầy kia bị hù dọa nhất định sẽ sợ đến nỗi hồn bay phách tán, không ngờ bất kỳ người nào rờ lên đầu của Thầy, Thầy đều đứng yên bất động. Ngược lại người trẻ tuổi kia lại giật cả mình, bèn mau mau rút tay lại, lúc này Thiền sư lại tiếp tục đi, xem như không có gì xảy ra.

            Ngày hôm sau, bọn chúng hỏi Thầy rằng: “Bạch Thầy, nghe nói gần đây thường hay có quỷ ma quậy phá, thực sự có chuyện này không thưa Thầy?

            ThầyVân Cư nói: “Làm gì có!”

            “Vậy hả Thầy? chúng con nghe nói có người khi đi đường vào buổi tối, bị ma quỷ rờ đầu mà.”

            “Ðó không phải là quỷ ma gì, mà là bọn trẻ trong làng đó!”

            “Vì sao lại như vậy nhỉ!”

            Vị Thầy nói rằng: “Bởi vì tay của ma quỷ không có rộng dày và ấm áp như vậy!”

            Thầy nói tiếp:

            “Lâm trận không sợ sống chết, đó là cái dũng của tướng quân; vào núi vào rừng không sợ cọp sói, là cái dũng của người thợ săn; ra biển không sợ giao long, là cái dũng của người đánh cá; vậy cái dũng của Hòa Thượng là gì? Chính là một chữ “ngộ”. Ngay cả chuyện sống chết đã vượt qua, thì làm sao mà có cảm giác sợ chứ?”

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Khi chúng ta gặp những việc đột nhiên phát sinh ngoài ý muốn, trước hết không nên sợ hãi trước hoàn cảnh thay đổi, bình tĩnh suy nghĩ. Không cách nào làm cho mình bình tĩnh lại được thì không thể gọi là dũng cảm. Vị Tiền sư khi đối diện với tình huống gần như nguy cấp, vẫn bình tĩnh phân tích được ma quỷ không có bàn tay rộng dày và ấm áp như thế, ung dung ứng phó với trò đùa dai của người khác, biểu hiện lòng can đảm, trí hiểu biết và đại triệt đại ngộ.

 

 

 

4. ẢNH TRONG NƯỚC

     Theo kinh Ðại Trang Nghiêm Luận, quyển 15 ghi rằng, Như Lai Thế Tôn đã nói qua một câu chuyện đầy triết lý như sau:

            Có một người vợ của một người giàu sang nọ, vì thường bị mẹ chồng mắng nhiếc, bèn giận dỗi đi vào trong rừng, muốn tự sát kết liễu cuộc đời. Tự sát không thành công, cô ấy bèn leo lên cây, muốn tạm thời ngủ nghỉ qua đêm. Bên cạnh gốc cây có một cái ao, bóng dáng của cô ấy hiện ra trong nước.

            Lúc này có một tỳ nữ trên vai gánh hai thùng đi đến bên ao để lấy nước, nhìn thấy ảnh ngược trong nước, cho rằng chính là mình, bèn tự nói rằng: “Ta lớn lên đoan trang đẹp đẽ như vầy, vì sao lại đi gánh nước cho người khác?” Lập tức đập vỡ thùng nước và trở về nhà chủ.

            Cô ấy nói với mọi người rằng: “Tôi lớn lên đoan trang đẹp đẽ như vầy, vì sao để tôi làm việc gánh nước nặng nhọc này?”

            Mọi người bàn tán rằng: “Con tỳ nữ này hình như bị ma am quỷ chướng rồi, cho nên mới nói những lời ngu xuẩn này và làm những việc ngu xuẩn như vậy”, mọi người cũng không để ý đến chuyện của cô ấy, lại đưa hai cái thùng nước khác và kêu cô ấy đi lấy nước gánh về. Cô tỳ nữ này tiếp tục đến bên ao nước để gánh nước, lại thấy ảnh ngược của vợ người giàu có hiện trong nước, bèn đập vỡ thùng nước.

            Vợ người giàu có kia ở trên cây nhìn thấy hết tất cả những gì đã xảy ra, không nhịn được bèn cười lên. Tỳ nữ thấy ảnh trong nước cười, bèn có chút giác ngộ, ngước đầu nhìn lên, thấy một phụ nữ ngồi trên cây mỉm cười, cố ấy dáng vẻ đoan trang, trang sức hoa lệ đẹp đẽ, mình không thể so sánh với cô ấy được, cảm thấy rất mắc cỡ hổ thẹn.

            Phật Thích Ca nói: “Vì sao Ta muốn kể câu chuyện này? Bởi vì trên đời này có chúng sanh mê hoặc ngược”.

            Thế là Phật nói kệ rằng:

                        “Dùng hương trang sức thân,

                        Với xiêm y anh lạc,

                        Lòng mê hoặc nhìn kia,

                        Cho rằng chính thân mình,

                        Như tỳ nữ xấu kia,

                        Thấy ảnh tưởng của mình.”

            Bài kệ Ðức Phật đã nói, là giải thích từ góc độ người tỳ nữ nhận lầm ảnh ngược của vợ người giàu có là của mình, Phật gọi hiện tượng này là “đảo hoặc” (mê hoặc ngược, hay điên đảo)

            Ðảo hoặc nhìn thấy tướng giả không phải của mình mà cho là của mình, thực chất là một loại hoạt động tâm lý, hay nói là một loại tiềm ý thức. Vì sao tỳ nữ thấy ảnh dưới nước cho rằng mình có? Bởi vì trong tiềm ý thức của cô ấy, chính là hy vọng mình lớn lên rất là đẹp, muốn thoát khỏi lao động nặng nhọc vất vả. Cô ấy đã bị lừa, cô ấy bị ảnh trong nước lừa phải không? Không phải. Cô ấy bị đôi mắt của cố ấy lừa phải không? Không phải. Cô ấy bị cái vọng tâm cầu đẹp và cái tâm sợ khổ của cô ấy lừa.

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Trên đời này có rất nhiều người dễ bị lừa, mắc lừa. Kẻ hay lừa tất nhiên là đáng ghét, nhưng người bị lừa đa phần do tâm điên đảo mê hoặc, vì vậy sẽ bị hiện tượng bên ngoài mê hoặc, nhìn không rõ bản chất của sự vật.

 

 

 

5. TÂM KHÔNG NGOÀI VẬT

     Tam Tạng Pháp sư Ấn Ðộ tự khoe có Thần Thông, Ngài đến trước thiền sư Tuệ Trung để nghiệm chứng.

            Tuệ Trung khiêm cung hỏi rằng: “Từ lâu đã nghe Ngài có thể hiểu rõ tâm trạng của mọi người, không biết có phải là thật không?”

            Tam Tạng pháp sư đáp rằng: “Chỉ là những trò nhỏ mà thôi!”

            Thế là trong lòng Tuệ Trung đã tưởng ra một việc, hỏi rằng: “Mời thỉnh Ngài xem hiện giờ tâm của Lão Tăng đang ở chỗ nào?”

            Tam Tạng vận dụng thần thông, kiểm tra xem xét hết một lượt, nói rằng: “Cao sơn ngưỡng chỉ, tiểu hà lưu thủy”, nghĩa là ngắm nhìn núi cao, dạo chơi sông nước, hay du sơn ngoạn thủy.

            Tuệ Trung mỉm cười và gật đầu, sau đó chuyển tâm đi nơi khác và hỏi: “Mời xem tâm trạng của lão Tăng hiện giờ ở đâu?”

            Tam Tạng lại xem xét một lượt, cười và nói rằng: “Sao thiền sư đi chơi đùa với những con khỉ trong núi vậy?”

            “Quả nhiên không sai!” gương mặt Tuệ Trung hiện ra vẻ tán thán, lập tức thâu tâm niệm đi mưa về gió lại, phản quan nội chiếu, nhập vào cảnh giới thiền định. Không có tướng ngã, không có tướng nhân, không có tướng thế giới, không có tướng động tịnh, lúc này mới mỉm cười, hỏi: “Mời xem tâm của lão Tăng hiện giờ đang ở nơi nào?”

            Tam Tạng mấy lần vận dụng thần thông chỉ thấy trên không trung không mây, hồ nước không ánh trăng, nhân gian không tông tích, gương sáng không bóng hình.

            Tam Tạng dùng hết sức mình tìm kiếm trên trời dưới đất cũng không thấy tâm của Tuệ Trung nơi nào, nhất thời ngơ ngẩn không biết làm thế nào.

            Tuệ Trung từ từ xuất định, mỉm cười và nói với Tam Tạng rằng: “Các hạ có thần lực thông hiểu tâm trạng mọi người, có thể biết tâm người khác đang đi đâu. Nhưng không thể thám sát tâm của tôi, Thầy có biết tại sao không?”

            Tam Tạng không biết trả lời thế nào, bèn nói rằng: “Xin thiền sư chỉ giáo”

            Tuệ Trung thiền sư cười và nói rằng; “Vì tâm tôi không có vọng ra bên ngoài, đã không có vọng ra bên ngoài thì làm sao mà thám sát?”

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Những người cho rằng mình tài giỏi có thể nhìn thấu nhân gian thế sự, luôn luôn chỉ nhìn thấy biểu tượng bên ngoài hoặc chỉ thấy bên ngoài của sự việc, mà không hiểu rõ bản chất của sự việc.

            Bất luận là tâm chúng ta ẩn sâu kín bao nhiêu, chỉ cần tồn tại, người khác có thể thám sát được. Chỉ có tâm không ngoài vật, mới có thể làm cho người ta không nhận ra.

 

 

 

6. NHỤC THÂN PHẬT

            Trong khoảng thời gian thiền sư Qui Tỉnh đảm nhiệm trụ trì, vì trời nắng khô hạn kéo dài, nên có rất ít người đến chùa cúng dường. Mỗi ngày chư Tăng chỉ ăn cháo với rau, cho nên ai ai cũng gầy guộc xanh xao.

            Một ngày nọ, Thầy trụ trì đi ra ngoài hóa duyên, Thầy Pháp Viễn bèn triệu tập đại chúng và lấy gạo được cất giữ trong lu để nấu cháo. Cháo vẫn chưa nấu xong thì Qui Tỉnh thiền sư về đến, các tiểu sư đệ sợ quá, chạy mất dạng. Qui Tỉnh thiền sư thấy Thầy Pháp Viễn lấy hết số gạo ra dùng, số gạo này để dành ứng phó với tình hình khó khăn, thấy vậy Qui Tỉnh thiền sư tức giận nói rằng: “Ai cho phép Thầy làm như vậy?”

            Thầy Pháp Viễn bình tĩnh đáp rằng: “Bạch Thầy, con thấy quý Thầy mặt mày hốc hác, ủ rũ, cho nên mới lấy số gạo để dùng trong lúc khó khăn nấu hết, xin sư phụ lượng thứ.”

            Qui Tỉnh thiền sư nói một cách nghiêm khắc rằng: “Theo thanh qui của thiền môn, đánh 30 roi và đuổi ra khỏi chùa!”

            Thầy Pháp Viễn lặng lẽ rời khỏi tự viện, nhưng Ngài lại không xuống núi, mà tìm một góc ở ngoài hành lang của chùa để nghỉ ngơi. Bất luận là mưa to gió lớn Ngài cũng không dao động nản lòng, quyết tâm hướng Phật.

            Có một lần tình cờ Qui Tỉnh thiền sư, nhìn thấy Thầy Pháp Viễn ngủ ở một góc của hành lang chùa, rất ngạc nhiên hỏi rằng: “Thầy ở đây bao lâu rồi?”

            “Bạch Thầy con ở đây đã hơn nữa năm rồi!”

            “Có trả tiền phòng chưa?”

            “Mô Phật chưa ạ”

            “Chưa trả tiền phòng sao dám ở đây! Thầy muốn ở thì phải trả tiền!”

            Hôm sau Thầy Pháp Viễn cầm bát lặng lẽ ra chợ, vừa tụng kinh cho mọi người, vừa đi khắp nơi để hóa duyên, toàn bộ số tiền có được dùng để trả tiền phòng.

            Qui Tỉnh thiền sư cười và tuyên bố trước đại chúng: “Thầy Pháp Viễn chính là nhục thân Phật vậy!”

            Sau này Thầy Pháp Viễn kế thừa y bát của Qui Tỉnh thiền sư và phát dương ánh sáng Phật pháp khắp muôn nơi.

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Trong quá trình đạt được mục tiêu của mình luôn gặp phải những hoàn cảnh khó khăn, lúc này chỉ có những người không từ bỏ niềm tin của chính mình mới có thể thực sự đạt được thành công.

 

 

 

7. BÍ QUYẾT XỬ THẾ

     Có một lần nọ, đại học sĩ Hoàng Sơn Cốc đi thăm thiền sư Tổ Tâm, thấy thiền sư ngày nào cũng như ngày nào đều nhẹ nhàng yên ổn trầm tĩnh, lúc nào cũng an nhiên tự tại, Hoàng Sơn Cốc luôn cảm thấy hình như thiền sư có bí quyết xử thế đặc biệt nào đó mà chưa từng truyền thọ.

            Một ngày nọ, hai người họ cùng nhau đi lên sườn núi, hai bên đường đi có rất nhiều loài hoa đang khoe màu đua sắc, hương thơm tỏa ra khắp nơi.

            Thiền sư Tổ Tâm bèn hỏi Hoàng Sơn Cốc: “Phật tử có ngửi được mùi thơm của hoa không?”

            Hoàng Sơn Cốc nhìn thấy hoa bách hợp, hoa lài, hoa dành dành nở đầy hai bên đường, lại nhìn xa xa chung quanh tự viện mùi hoa quế tỏa ra ngào ngạt, không nén được lòng tán thán: “Ðương nhiên ngửi được, thơm quá!”

            Chốc lát sau, hai người họ leo lên một đỉnh núi nhỏ, đưa mắt nhìn, chỉ nhìn thấy những ngọn núi nhấp nhô nối nhau liên tiếp, mây trắng vây quanh, ánh nắng ráng chiều.

            Thiền sư Tổ Tâm lại hỏi Hoàng Sơn Cốc: “Phật tử có thấy cảnh đẹp không?”

            Hoàng Sơn Cốc tán thán rằng: “Cảnh này giống như cảnh tiên, khiến người lưu luyến không muốn về.”

            Thiền sư Tổ Tâm gật đầu, cười và nói : “Phật tử ngửi được hương thơm của hoa, ngắm nhìn cảnh đẹp cũng giống như ta vậy, do đó ta đâu có giấu Phật tử điều gì đâu!”

            Hoàng Sơn Cốc ngơ ngác, lúc ấy bỗng nhiên giác ngộ.

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Bí quyết xử thế hoàn toàn không phải phương pháp và tài năng gì đặc biệt, mà là trước mắt cởi mở tự thân từng giờ từng khắc, và mỗi chỗ mỗi nơi đều tự tại. Nếu suốt ngày vì một số vọng niệm lo lắng, chỉ có thể là hai mắt không thấy, hai tai không nghe. Ngửi không được mùi thơm của hoa, nhìn không thấy cảnh đẹp cảm động lòng người, lãnh ngộ không được bí quyết xử thế đặc biệt.

 

 

 

 

 

8. BÀ LA MÔN VÀ LIÊN HOA

     Trong quyển 3 Ðại Chánh Tạng, có ghi một câu chuyện như vầy:

            Ngày xưa có một Bà La Môn, vợ ông ấy tên là Liên Hoa, không những đẹp mà tính cách rất dịu dàng ngoan hiền lương thiện. Nhưng Bà La Môn này ngày qua tháng lại giảm tình thương đối với vợ, lại không thích vợ của mình, ngược lại, lại cấu kết với một tỳ nữ trong nhà. Hai người gắn bó như keo sơn, Liên Hoa trở thành người chướng tai gai mắt họ, họ tìm trăm phương ngàn kế để đuổi Liên Hoa ra khỏi nhà.

            Một ngày nọ, Bà La Môn dùng lời ngon tiếng ngọt để lừa gạt Liên Hoa. Ông ấy nói với Liên Hoa là muốn cùng lên núi dạo chơi với Liên Hoa. Liên Hoa tin điều này là thật, bèn cùng ông ấy lên núi chơi. Hai người nhìn thấy cây ưu đàm bát, trên cây có nhiều trái ưu đàm bát, nhỏ có lớn có, tỏa ra mùi thơm hấp dẫn lòng người.

            Bà La Môn bèn trèo lên cây, hái những trái chín, ăn hết trái này đến trái nọ, một mặt hái những trái nữa chín nữa sống, nên rất chua liệng xuống cho Liên Hoa.

            Liên Hoa hỏi: “Sao anh ăn toàn trái chín, đưa cho em toàn trái còn xanh?”

            Bà La Môn đáp rằng: “Lẽ nào em không có tay không có chân? Muốn ăn trái chín thì em leo lên cây mà hái!”

            Liên Hoa nghe chồng nói như vậy, bèn đáp rằng: “Anh đã không hái cho em trái chín thì em chỉ y theo lời dặn dò của anh, để tự em leo lên cây hái vậy.” Liên Hoa vừa nói xong bèn leo lên cây.

            Bà La Môn thấy Liên Hoa trèo lên cây, cảm thấy cơ hội đến rồi, vội vàng từ trên cây tuột xuống, chạy tìm những cây có gai chất thành đống dưới gốc cây ưu đàm bát.

            Liên Hoa cuống lên và hỏi rằng: “Anh đang làm gì vậy, anh làm như vậy làm sao em xuống được?!”

            Bà La Môn không nói tiếng nào, đưa mắt nhìn đống cây có gai vây kín gốc cây ưu đàm, và nghênh ngang ra về, trong lòng thầm đắc ý rằng: “Lần này cho cô ấy chết ở trên cây, cuối cùng cũng nhổ cây đinh ra khỏi mắt!”

            Liên Hoa bị nhốt trên cây, trơ mắt nhìn hình bóng chồng đi càng ngày càng xa. Cô ấy không ngờ người chồng đối xử độc ác với mình như vậy, lúc này kêu trời trời không ứng, kêu đất đất không linh, vì cô ấy kêu cứu trong đau khổ, trong tuyệt vong, không mấy chốc âm thanh của cô ấy cũng không còn, cô ấy cảm thấy đau khổ vô cùng. Lúc này bỗng nhiên cô ấy nghe được tiếng người kêu ngựa hý từ nơi xa vọng lại, càng ngày càng gần. Hóa ra là Quốc vương dẫn dắt đại thần và võ sĩ ra ngoài đi săn, đang trên đường trở về và đi ngang qua chỗ này.

            Quốc vương nhìn thấy một phụ nữ đang khóc kêu cứu trên cây, xung quanh dưới gốc cây rất nhiều cây gai, vua cảm thấy rất kỳ lạ, bèn kêu thuộc hạ dọn dẹp các cây gai và đỡ người phụ nữ kia xuống. Quốc vương hỏi: “Ngươi là ai? Từ đâu đến? Ai đem những cây gai này chất thành đống xung quanh dưới gốc cây, làm cho ngươi không xuống được?

            Liên Hoa khóc và đem câu chuyện người chồng cấu kết với tỳ nữ như thế nào và vứt bỏ chính mình như thế nào, lần lượt kể lại rành rọt cho vua nghe.

            “Trên đời này có người tàn nhẫn như vậy sao, đem người đẹp như tiên bỏ ở nơi hoang vắng, còn muốn đưa cô ấy vào chỗ chết!”, thế là vua dẫn dắt Liên Hoa về cung.

            Sau khi về đến cung vua, Quốc vương phát hiện Liên Hoa rất thông minh, có tài nói chuyện, kiến thức lại cao, gặp việc phân tích mạch lạc rõ ràng. Không chỉ như vậy, đặc biệt cô ấy còn tinh thông các loại trò chơi bài bạc, những người nữ trong cung vua đến tìm Liên Hoa đánh bài, không ai mà không thua cô ấy. Quốc vương đối với Liên Hoa từ chỗ đáng thương sanh lòng yêu thương, bèn lập cô ấy làm Hoàng hậu.

            Danh tiếng của Liên Hoa ngày càng lan rộng, mọi người khắp bốn phương đều đến tìm cô ấy đánh bài để tranh thắng bại.

            Bà La Môn sau khi dương dương tự đắc về đến nhà, cùng với tỳ nữ cờ bạc rượu chè trai gái trác táng. Nhà ông ấy vốn có Liên Hoa chủ trì, đồ đạc trong nhà đâu đó rõ ràng, hiện nay hai người họ mỗi ngày siêng ăn mà biếng làm, ngày càng thu không đủ chi, dần dần thiếu ăn thiếu mặc. Lúc này Bà La Môn nghe nói Hoàng hậu rất thích đánh bài, thường cùng với mọi người đáng bạc tranh tài, nghe được điều này ông ấy không nén đươc sự vui mừng vượt cả ước mong, vì kỹ thuật đánh bài của ông ấy cũng rất cao.

            Ông ấy nghĩ: Lần này ta có thể đi hốt một số tiền rồi. Thế là ông ấy bán hết tất cả ruộng vườn nhà cửa, gom cho đủ vốn đánh bài, vội vàng đi đến vương cung, yêu cầu muốn đánh bài với Hoàng hậu. Ðợi đến lúc Hoàng hậu vừa mới bước ra, ông ấy vô cùng kinh ngạc, hóa ra Hoàng hậu chính là Liên Hoa đã từng bị ông ấy ruồng bỏ. Ông ấy biết kỹ thuật đánh bài của Liên Hoa còn cao hơn chính mình, lần này biết làm sao đây? Muốn bỏ ra về cũng không được, đành miễn cưỡng ngồi xuống.

            Bà La Môn rất nhanh, mưu kế nảy ra trong lòng, nghĩ rằng: Chúng ta dù thế nào cũng đã từng là vợ chồng, chỉ cần cô ấy nhớ đến ân tình cũ, thì sẽ nể tình, khiến ta sẽ thắng. Bèn nói rằng: “Lâu quá không gặp, em thật là càng ngày càng đẹp ra! Tóc của em thật là mềm mại óng ả, lông mày của em giống như người đẹp trong tranh vậy, thật là tiên nữ cũng không thể sánh bằng em. Em chắc còn nhớ những ngày hạnh phúc chúng ta sống bên nhau chứ!

            Liên Hoa nói: “Vâng! Em quên sao được anh thay lòng đổi dạ yêu thương lo lắng cho tỳ nữ như thế nào và ruồng bỏ em ở nơi hoang vắng như thế nào.”

            Bà La Môn lập tức nói rằng: “Môi và răng cũng có lúc cắn vào nhau mà, chuyện quá khứ anh thực sự hối hận vô cùng, hy vọng em đừng nhắc lại những chuyện ấy nữa, hãy nghĩ đến những ngày hạnh phúc lúc chúng ta ở bên nhau.”

            Liên Hoa nói: “Em mãi mãi không quên những trái cây chua mà anh hái cho em. Không cần nói nhiều, bắt đầu đi!”

            Bà La Môn không còn cách nào khác, đành phải bắt đầu đánh bạc, nhưng ông ấy nào phải là đối thủ của Liên Hoa! Không mấy chốc ông ấy thua sạch sành sanh, đành lắc đầu ra về với hai tay trắng.

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Cái nhân ác mà chính mình đã gieo trồng, cuối cùng cũng do chính mình hưởng. Chúng ta mỗi giờ mỗi khắc đều nên dùng thiện ý để đối xử với mọi người, có như vậy cuối cùng mới có thể có được sự đối xử tốt của mọi người.

 

 

 

9. BỐN NGƯỜI VỢ

     Khi Phật còn tại thế, có một hôm Ðức Phật Thích Ca giảng cho các đệ tử nghe câu chuyện như vầy:

            Có một thương gia cưới bốn người vợ: Người vợ thứ nhất vừa tháo vát vừa dễ thương, luôn ở bên cạnh người thương gia như bóng với hình; người vợ thứ hai là ông ấy cướp ở bên ngoài mang về, cô ấy rất đẹp, khiến mọi người hâm mộ; người vợ thứ ba, suốt ngày giúp ông ấy các việc vặt trong cuộc sống, giúp ông ấy không cần lo lắng cuộc sống; người vợ thứ tư là bận rộn nhất, nhưng ông ấy không biết cô ấy suốt ngày bận rộn chuyện gì, hình như ông ấy quên đi sự tồn tại của cô ấy.

            Một hôm nọ, người thương gia kia phải đi xa, trên đường đi rất vất vả, do đó ông ấy cần chọn một người vợ để cùng đi với mình.

            Người vợ thứ nhất nói: “Em không đi cùng anh đâu, anh đi một mình đi!; Người vợ thứ hai nói: “Là anh cướp em về, em không phải tình nguyện gã cho anh, cho nên em cũng không đi!” Người vợ thứ ba nói: “Em không thể chịu nổi cảnh ăn gió nằm sương trên đường đi, cho nên nhiều lắm thì em chỉ đưa anh đến bên ngoài thành! Người vợ thứ tư nói rằng: “Bất luận là anh đi đến nơi nào em cũng sẽ theo anh, vì anh là chủ nhân của em.” Thương gia cảm thán: “Ðến giờ phút quan trọng, vẫn là người vợ thứ tư tốt với tôi!” Thế là ông ấy mang theo người vợ thứ tư bắt đầu dặm trường vất vả.

            Ðức Thế Tôn nói: “Quý thầy hiểu không? Bốn người vợ này chính là các Thầy đấy!

            Người vợ thứ nhất là thân thể của chúng ta, vì sau khi chết thân thể của chúng ta phải lìa bỏ chúng ta; người vợ thứ hai là chỉ tiền bạc, rất nhiều người vì tiền bạc mà lao khổ cả đời, sau khi chết cũng chẳng mang theo đồng nào; người vợ thứ ba là chỉ những người thân như cha mẹ vợ chồng anh em… của mình, lúc còn sống thì dựa vào nhau mà sống, sau khi chết cũng không ai đi theo ta; người vợ thứ tư là chỉ nghiệp thức của chúng ta, chúng ta có thể không để ý nó, nhưng nó mãi mãi để ý đến chúng ta, bất luận là chúng ta nghèo hay giàu, nghiệp thức mãi mãi không bao giờ phản bội chúng ta, nó mãi mãi theo chúng ta.

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Thân thể của chúng ta, tiền tài của chúng ta cho đến những người thân thuộc của chúng ta, chúng ta đều ra sức chăm sóc bảo vệ, nhưng cuối cùng rồi cũng xa lìa chúng ta. Chỉ có nghiệp mới mãi mãi đi theo chúng ta, ở bên cạnh chúng ta. Vì vậy dù bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào, dù nghèo hay giàu, làm việc gì, chúng ta đều nên nghĩ đến và chăm sóc nghiệp thức của chính mình, luôn luôn nhớ rằng “ta là ai, ta muốn trở thành người như thế nào”.

 

 

 

 

10. NGƯỜI CON NGỖ NGHỊCH TRỞ THÀNH NGƯỜI CON HIẾU

     Trong “Phật Thuyết Kệ Ngữ Cho Bà La Môn”, có một câu chuyện Bà La Môn ăn xin để sống qua ngày, sau đó được con trai đón về nhà hiếu dưỡng. Câu chuyện như vầy:

            Một ngày nọ, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đi đến thành Xá Vệ hóa duyên, trên đường Ðức Thế Tôn gặp một Bà La Môn tuổi già, người này cũng đang cầm một cái bát đi xin, chống gậy đi xin thức ăn từng nhà từng nhà một.

            Như Lai Thế Tôn thấy áo quần người ấy rách rưới, vẻ mặt thê thảm khổ sầu, Phật bèn hỏi người ấy rằng: “Này ông già ơi, ông tuổi tác lớn như vậy, vì sao không ở nhà để an hưởng hạnh phúc tuổi già, mà lại đi xin ăn trên đường phố vậy?”

            Bà La Môn già đáp rằng: “Kính bạch Thế Tôn! Con vốn là một thương gia giàu có, vì tuổi tác đã cao, cho nên đem toàn bộ tài sản giao cho con trai quản lý, và cưới vợ cho nó. Nhưng không ngờ rằng, con trai có được tiền tài và cưới được vợ rồi, không những ăn nói thô lỗ cọc cằn với con mà còn đuổi con ra khỏi nhà. Con thực sự không còn cách nào khác, đành phải đi xin mọi người chút cơm cháo để lót dạ ạ!”

            Phật Thích Ca sau khi nghe Bà La Môn già tường thuật xong, bèn phát đại từ bi, nói với ông ấy rằng: “Ông chỉ cần học với Ta một bài kệ, sau đó về nhà đọc lại bài kệ ấy cho con trai ông nghe, nhất định người ấy sẽ thay đổi được cuộc sống thê lương của ông hiện nay.”

            Thế là Phật Thế Tôn đọc bài kệ cho ông ấy, ông ấy ghi nhớ kỹ từng lời bài kệ, trong khi về đến nhà lập tức đọc lại bài kệ này.

            Con trai của ông ấy nghe xong rất xấu hổ nhục nhã, vội vàng quỳ trên đất xin người cha tha lỗi và liên tục nói: “Ba à, xin ba miễn xá cho tội lỗi của con! Con mời ba về nhà ở.” Bà La Môn già sau khi về nhà, chính con trai giặt áo tắm rửa cho ông ấy, thay áo mới cho ông ấy, và tôn sùng ông ấy là chủ nhà, khiến cho ông ấy có thể an hưởng hạnh phúc tuổi già.

            Bài kệ mà Như Lai Thế Tôn nói, chính là nhằm vào các hành vi ngỗ nghịch của con trai:

                        Cha nuông chiều con bằng mọi cách,

                        Chịu cực khổ kiếm tiền cho con,

                        Thương chiều con cưới vợ cho con,

                        Nhưng con lại quên ân dưỡng dục,

                        Con không biết tôn trọng cha già,

                        Con đành đuổi cha ra khỏi nhà,

                        Con cho rằng cha đã già nua,

                        Chẳng khác nào ngựa già vô dụng,

                        Không cho cỏ lúa để nó ăn,

                        Con bất hiếu cướp quyền sống cha,

                        Không cho cha ăn uống trong nhà,

                        Khiến cho cha ra đường xin ăn,

                        Ðể duy trì cuộc sống tuổi già,

                        Cha chỉ có cây gậy làm bạn.

            Trong bài kệ, trước hết diễn tả Bà La Môn già nuông chiều con bằng mọi cách, chịu cực chịu khổ kiếm tiền cho con, cưới vợ cho con, nhưng con lại quên ân dưỡng dục, không biết tôn trọng người lớn, đuổi cha ra khỏi nhà, con coi ông già này giống như con ngựa già vô dụng, không cho nó lúa cỏ để ăn, con bất hiếu đã cướp đi quyền lợi của cha, không cho cha ăn cơm trong nhà, làm cho cha dựa vào xin ăn để duy trì cuộc sống, bên cạnh cha chỉ có cây gậy giúp cha đi đường.

            Chính những nội dung này đã làm lay động tâm linh của con trai Bà La Môn già, khiến cho anh ấy vô cùng hối hận, từ đó anh ấy chăm sóc cho người cha rất tỉ mỉ, giúp cho người cha sống an ổn hạnh phúc trong những tháng năm cuối đời.

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Có những người không có lễ phép, không có hiếu với bậc trưởng thượng như cha mẹ, ông bà, nhẹ thì chửi đổng, nặng thì ẩu đả. Thật không ngờ trên làm thế nào thì dưới bắt chước làm thế ấy, con cái lớn lên rồi cũng sẽ đối xử với chúng ta như vậy, đó chẳng phải là nhân nào quả đấy hay gieo gió gặt bão đó sao?

            Người già giống như mặt trời sắp lặng, ánh sáng và độ nóng sắp hết rồi, cho nên đối với cha mẹ ông bà chúng càng nên thực hành hiếu đạo, đó chính là thể hiện lòng tôn trọng ông bà cha mẹ, cũng như tôn trọng ánh mặt trời đang còn sót lại.

 

 

 

11. TÂM BÌNH THƯỜNG

     Một vị sa di nhỏ hỏi một vị cao Tăng đắc đạo rằng: “Thưa sư phụ, sư phụ tu hành ngộ đạo, tu thân dưỡng tánh có bí quyết gì không?”

            Cao Tăng đáp rằng: “Có.”

            Tiểu Sa di tiếp tục hỏi: “Như vậy bí quyết của Thầy là gì?”

            Cao Tăng đáp: “Khi Thầy cảm thấy đói thì ăn, khi cảm thấy mệt thì ngủ.”

            “Nhưng, bí quyết này có gì khác với mọi người? Mỗi người ai cũng đều như vậy mà!”

            Cao Tăng đáp: “Ðương nhiên là không giống! Vì khi ăn cơm họ luôn nghĩ đến những việc khác, không chuyên tâm ăn cơm; khi ngủ họ luôn nằm mơ, ngủ không yên giấc. Nhưng ta ăn cơm chỉ biết đang ăn cơm, không nghĩ tưởng chuyện gì; khi ta ngủ chưa bao giờ nằm mộng, cho nên ngủ rất sâu và rất yên ổn. Ðây chính là chỗ khác của ta với mọi người.”

            Cao Tăng tiếp tục nói: “Người đời làm việc gì cũng rất khó nhất tâm, họ như con thoi đưa tới đưa lui trong lợi hại được mất, không thể nào dùng cái tâm bình thường để đối đãi với vinh nhục phù hoa, sinh ra rất nhiều suy nghĩ và rất nhiều vọng tưởng. Cuộc sống của họ không bao giờ dừng lại, đây là chướng ngại lớn nhất trong đời của họ, vì vậy mà họ quên mất chính mình, đánh mất đi cái “bình thường tâm” c ủa mình. Muốn biết, chỉ cần đem tâm hòa nhập vào thế giới, dùng tâm để cảm nhận cuộc sống, mới có thể tìm được cái chân thật của cuộc sống.”

            Vì vậy có thể thấy, tâm không có tạp niệm là tâm bình thường chân chánh. Ðiều này cần phải thực hành tu tập, cần phải tinh tấn, một ngày nào đó chúng ta đạt đến cảnh giới này rồi, thì ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng giữ được trạng thái tâm an lạc nhẹ nhàng, lúc nào cũng phát huy hết khả năng làm việc của mình, sống hòa vào mọi người và mọi vật, lúc đó thực hiện được cái tự ngã hoàn mãn nhất.

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Mọi người thường vì lợi ích mà mệt mỏi và bôn ba, kỳ thật chúng ta nên học dùng cái tâm bình thường để đối đãi với người và việc, nhìn thấu được công danh lợi lộc, nhìn rõ thắng thua thành bại, mới cảm nhận được sự thật của cuộc sống, mới sống một cuộc sống nhẹ nhàng hơn, hạnh phúc hơn.

 

 

 

12. CẠO VÀNG CỨU NGƯỜI

     Có một người ăn xin áo quần rách rưới đến trước thiền sư Vinh Tây khóc và nói rằng: “Thưa Thầy cả nhà chúng con đã mấy ngày rồi không có sờ đến nồi cơm, trên thì có cha mẹ cần cung phụng, dưới thì có con nhỏ cần chăm sóc, nhìn cả nhà con đói sắp chết hết rồi. Xin Thầy từ bi cứu chúng con ạ, cả nhà chúng con sẽ mãi mãi ghi nhớ ân đức của Thầy…”

            Gương mặt thiền sư Vinh Tây hiện ra vẻ khó xử, tuy nhiên Thầy ấy vẫn muốn cứu những người này, nhưng liên tục hạn hán mấy năm liền, trong chùa cũng chỉ có một bữa cơm buổi sáng mà không có buổi chiều, khiến cho Thầy ấy không biết làm cách nào để cứu những người nghèo khổ đáng thương này? Thầy Vinh Tây nhất thời cũng đành chịu.

            Bỗng nhiên, Thầy Vinh Tây nhìn thấy tượng Phật mạ vàng. Sau khi suy nghĩ trong chốc lát, Thầy không do dự gì nữa bèn leo lên tượng Phật, dùng dao cạo vàng mạ bên ngoài tượng Phật xuống, dùng vải gói lại, sau đó đem cho người ăn xin và nói rằng: “Số vàng này, con hãy cầm lấy mà đi bán, rồi mua thức ăn về để cứu những người trong gia đình con!”

            Người ăn xin kia nhìn thấy thiền sư làm như vậy, không nén được lòng, nói rằng: “Con làm sao có thể lấy số vàng  này để bán lấy tiền. Ðây là tội lỗi ạ, con đã làm khó cho Thầy như vậy làm sao tâm con an ổn được!”

            Ðệ tử của Thầy Vinh Tây cũng không chịu được, nói rằng: “Vàng trên thân của Phật chính là y báo của Phật, sao sư phụ có thể lấy xuống cho người khác! Ðiều này chẳng phải đã xúc phạm đến Như Lai Thế Tôn sao? Chẳng phải đại bất kính với Phật tổ sao?”

            Thiền sư Vinh Tây với lời lẽ nghiêm túc đáp rằng: “Con nói đúng lắm, nhưng Phật của chúng ta từ bi, Phật sẵn sàng dùng thịt trên thân mình để bố thí cho chúng sanh, càng hà huống gì chỉ là y phục trên thân Ngài! Ðây chính là tâm nguyện của Phật chúng ta vậy! Nhìn thấy những người trong gia đình họ đói khổ sắp chết rồi, dù đem toàn thân Phật cho ông ấy, cũng phù hợp với tâm nguyện của Phật. Nếu ta làm như vậy mà phải vào địa ngục, chỉ cần cứu chúng sanh, dù có vào nước sôi lửa bỏng ta cũng không ngại khó khăn!”

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Có tâm từ bi, làm việc thiện, không phải chỉ nói trên miệng mà được, mà phải thực hành. Niềm tin nên thể hiện ở hành động, chứ không nên câu nệ ở hình thức bên ngoài. Nếu chỉ giữ gìn một niềm tin nào đó, chỉ biểu hiện ở bên ngoài mà xem nhẹ bản chất của niềm tin, như vậy giữ gìn niềm tin này cũng chỉ biểu hiện một sự giả dối mà thôi.

 

 

 

13. GIÁ TRỊ CỦA VIÊN ÐÁ

     Ngày xưa có một anh chàng mồ côi, cuộc sống không nơi nương tựa, đã không có ruộng đất để trồng trọt, cũng không có tiền để buôn bán, anh ấy rất hoang mang và bàng hoàng, suốt ngày trải qua cuộc sống lang thang và xin ăn, không có ai coi trọng anh ấy. Một ngày nọ, anh ấy cảm thấy không muốn sống nữa, bèn đi bái kiến một vị cao Tăng để cầu học.

            Vị cao Tăng dẫn anh ấy đến một đống đá nằm lung tung có chen những cây cỏ, vị cao Tăng chỉ vào một hòn đá nói rằng: “Sáng sớm ngày mai, con đem viên đá ấy ra chợ bán. Nhưng cần phải nhớ rằng, bất cứ ai trả bao nhiêu tiền để mua viên đá này, con cũng đừng có bán.”

            Chàng trai lòng mang đầy hồ nghi, và nghĩ rằng viên đá này tuy cũng được, nhưng làm sao có người chịu bỏ tiền ra mua đây? Nhưng anh ấy vẫn ôm viên đá ra chợ, ngồi ở một nơi không đáng để mắt đến và hô kêu bán đá.

            Nhưng, viên đá rốt cuộc vẫn là viên đá thôi, do vậy không có người nào để mắt tới viên đá. Ngày thứ nhất đã trôi qua, ngày thứ hai lại tiếp tục trôi qua, vẫn không có người hỏi đến. Mãi đến ngày thứ ba mới có người đến hỏi. Ngày thứ tư, quả thật có người muốn mua viên đá này. Ngày thứ năm viên đá ấy có thể bán được giá tiền rất cao.

            Chàng trai mồ côi về đến chùa, vui mừng báo cáo vị cao Tăng rằng: “Không ngờ một viên đá mà đáng giá nhiều tiền như vậy.”

            Vị cao Tăng cười và nói: “Ngày mai cầm đến các tiệm vàng bán, nhớ rằng dù người ta trả bao nhiêu tiền cũng không bán.”

            Chàng trai lại đem viên đá ra thị trường vàng bạc bán. Ngày thứ nhất, ngày thứ hai đã trôi qua, ngày thứ ba lại bắt đầu có nhiều người vây xung quanh hỏi, mấy ngày sau người hỏi giá càng ngày càng nhiều, giá cả cũng đã được nâng cao như giá vàng, nhưng chàng trai vẫn không bán. Nhưng càng như vậy thì hiếu kỳ của mọi người càng lớn, giá tiền viên đá được nâng lên càng cao.

            Chàng trai lại tìm vị cao Tăng, cao Tăng nói: “Con tiếp tục đem viên đá đến thị trường châu báu để bán, và cũng nên nhớ rằng là người ta trả bao nhiêu cũng không bán.”

            Chàng trai đem viên đá ra thị trường châu báu cũng xuất hiện tình hình giống như vậy, cuối cùng giá tiền của viên đá đã nâng lên còn cao hơn giá của châu báu. Nhưng thế nào đi nữa chàng trai cũng không bán, viên đá ấy được lan truyền là “châu báu hiếm có trên đời”.

            Ðối với điều này, chàng trai hoàn toàn mơ hồ, nên đi thỉnh giáo cao Tăng.

            Vị cao Tăng nói: “Trên đời này người và vật đều như vậy, nếu con cho rằng chính mình là viên đá xấu, như vậy con có thể mãi mãi chỉ là viên đá xấu; nếu con giữ vững lòng tin mình là viên đá quý vô giá, như vậy mình chính là viên đá quý vô giá”.

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Chỉ cần mình xem trọng mình, mình yêu thương mình thì cuộc sống sẽ có ý nghĩa, có giá trị.

            Giá trị của con người là do chính mình quyết định, và vận mạng của mình cũng do mình nắm lấy. Là viên đá xấu hay viên đá quý là xem thái độ của chính mình.

 

 

 

14. HOA SEN TRONG BÙN

     Ở Nhật, nông dân làm ruộng bị xem là dân đen tầng lớp hạ đẳng, ngay cả tư cách xuất gia làm hòa thượng cũng không có. Thiền sư Vô Tam tuy xuất thân từ dân đen, nhưng Ngài nhất tâm quy y cửa Phật, thế là giả mạo cái họ của dòng sĩ tộc để thực hiện tâm nguyện của chính mình.

            Sau đó thiền sư Vô Tam được quần chúng Phật tử mời làm trụ trì. Ngày cử hành nghi thức tấn phong làm trụ trì, bỗng nhiên có một người từ trong chánh điện chạy ra, chỉ vào thiền sư Vô Tam trên pháp đàn, lớn tiếng hô rằng: “Hòa thượng xuất thân từ tầng lớp hạ đẳng cũng có thể làm trụ trì sao!, rốt cuộc là chuyện như thế nào?”

            Nghi thức tấn phong trụ trì trang nghiêm long trọng, mọi người không ngờ lại xảy ra chuyện như vậy, chúng Tăng đều thấy chuyện xảy ra trước mắt không biết là chuyện như thế nào. Trong hoàn cảnh này, ai cũng không thể ngăn cản người này la hét, chỉ im lặng lắng nghe, dõi theo tình hình đang xảy ra.

            Nghi thức giữa chừng bị gián đoạn, toàn cảnh buổi lễ thật im lặng đến nỗi ngay cả cây kim rơi xuống đất cũng có thể nghe được, mọi người đều toát mồ hôi vì chuyện của thiền sư Vô Tam.

            Ðối diện sự việc xảy ra bất ngờ, thiền sư Vô Tam vẫn ung dung mỉm cười nói rằng: “Hoa sen trong bùn”.

            Diệu ngữ nhà Phật tuyệt vời! Mọi người tại hiện trường đều reo hò khen hay, người làm khó dễ kia cũng không có lời nào để nói, không thể không phục Phật pháp thâm sâu của thiền sư Vô Tam.

            Nghi thức tấn phong trụ trì tiếp tục tiến hành, sự gây khó dễ bất ngờ này hoàn toàn không có ảnh hưởng gì đối với nghi thức, vì diệu ngữ nhà Phật của thiền sư càng làm tăng thêm uy tín của thiền sư, mọi người càng ủng hộ thiền sư.

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Con người không thể phân ra giàu nghèo quý tiện, cuộc sống của mỗi người đều tương quan với niềm tin và sự truy cầu của chính mình, một câu “hoa sen trong bùn” chính là sự miêu tả chân thật.

 

 

 

15. CƯ SĨ VÀ CAO TĂNG

     Có một vị cư sĩ trẻ tuổi đi thăm hỏi một vị cao Tăng. Họ nói chuyện từ sáng đến trưa, đến giờ ăn cơm, thị giả trong chùa thấy hai người nói chuyện rất hợp ý nhau, bèn chuẩn bị cho họ hai tô mì, một tô lớn một tô nhỏ. Cao Tăng nhìn hai tô mì một hồi, bèn đẩy tô mì lớn đến trước mặt cư sĩ và nói rằng: “Con ăn tô lớn đi!”

            Theo lý thường, vị cư sĩ nên đưa tô mì ấy trở lại cho vị cao Tăng để biểu thị cung kính, nhưng vị cư sĩ không nhường chút nào, mà lại đón nhận tô mì lớn ăn rất tự nhiên. Vị cao Tăng thấy anh ấy như vậy, bất giác châu mày lại, nghĩ rằng: “Ta cho rằng huệ căn anh ấy không cạn, nhưng rõ ràng lại không hiểu lễ nghi chút nào!”

            Sau khi vị cư sĩ ăn xong, nhìn thấy cao Tăng vốn không có đụng đến đôi đủa, đồng thời mặt có vẻ giận, bèn cười và hỏi cao Tăng rằng: “Thưa Thầy, sao Thầy không ăn?”

            Vị cư sĩ thấy cao Tăng không nói lời nào, bèn cung kính nói: “Con quả thật rất đói, cúi đầu ăn như hùm như sói, nên có chỗ thất lễ với Thầy, nhưng con đem tô mì mà Thầy đưa cho con trả lại cho Thầy, đó không phải là bổn nguyện của con. Ðã không phải là bổn nguyện của con thì tại sao con phải làm như vậy? Con muốn hỏi Thầy, mục đích thầy đưa con nhường là gì?”

            Cao Tăng đáp: “ăn cơm.”

            Vị cư sĩ nói nghiêm túc rằng: “Ðã mục đích là ăn cơm, Thầy ăn là ăn, con ăn cũng là ăn, hà tất gì phải Thầy đưa con nhường! Lẽ nào Thầy đưa tô mì lớn cho con, không phải thật lòng sao? Nếu không thật lòng, tại sao Thầy phải làm như vậy?”

            Cao Tăng nghe xong những lời của cư sĩ nói bèn đốn ngộ.

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Nhiều lúc trong quan niệm của chúng ta khiêm nhường khách sáo là biểu hiện của lịch sự lễ phép, nhưng luôn luôn trái ngược với tâm ý của chính mình. Không ngờ lễ nghi chỉ là một loại hình thức, nhưng câu nệ ở hình thức lễ nghi chẳng qua là biểu hiện của sự giả dối, chân thành thẳng thắn mới là làm người với ý nghĩa chân thực.

 

 

 

 

 

16. PHƯƠNG PHÁP KỲ DIỆU TRUY CẦU HẠNH PHÚC

     Lúc Phật còn tại thế, có một vị Hắc Thị Phạm Chí đến trước Như Lai Thế Tôn, hai tay cầm hai bình hoa, muốn đem hai bình hoa này cúng dường Phật.

            Như Lai Thế Tôn thấy Phạm Chí, bèn nói với Phạm Chí rằng: “Hãy buông xả.”

            Phạm Chí cho rằng Như Lai Thế Tôn kêu ông ấy để bình hoa xuống, ông ấy lập tức buông bình hoa bên tay trái xuống.

            Ðức Phật lại nói: “Hãy buông xả.”

            Phạm Chí cho rằng Như Lai Thế Tôn kêu ông ấy để bình hoa bên tay phải xuống, cho nên ông ấy bèn để bình hoa bên tay phải xuống.

            Ðức Phật vẫn nói với Phạm Chí: “Hãy buông xả.”

            Phạm Chí hoàn toàn không hiểu, bèn bạch Phật rằng: “Con đã để hai bình hoa xuống rồi, con chỉ còn hai tay không, không còn gì để buông xuống nữa. Bạch Thế Tôn bây giờ con nên buông xả cái gì ạ?”

            Như Lai Thế Tôn nói: “Ta kêu con buông xả, hoàn toàn không phải kêu con buông những vật trong tay. Ta kêu con buông là buông lục căn, lục trần và lục thức. Khi con buông căn, trần và thức thì con không còn lo lắng gì, không còn phiền não gì, thì con sẽ giải thoát khỏi xiềng xích gông cùm của sanh tử.

            Phạm Chí xoa xoa đầu mình, nghĩ rằng: “Ta thật ngu muội! Mục đích ta đến đây chính là vì cái “buông xả” này, vì tinh thần giải thoát, t ư t ư ởng tự do tự tại”. Cuối cùng ông ấy giác ngộ được nghĩa chân thật của chữ “buông xả”, buông xả tất cả tham dục, sân hận và vọng tưởng trong lòng, sống một cuộc sống tự do tự tại.

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Con người ở đời có quá nhiều điều không buông xả được. Nếu chúng ta có thể buông xả theo lời dạy của Phật, thì sẽ không mất một con đường hạnh phúc giải thoát. “Buông xả, lại buông xả” có thể nói là phương pháp kỳ diệu truy cầu hạnh phúc.

 

 

 

17. MỘT LÀNG HƯƠNG CÚC

     Thiền Sư đã trồng hoa cúc trong vườn chùa, mùa thu năm thứ ba, vườn chùa trở thành vườn hoa cúc, mùi hương đã lan tỏa đến cả làng dưới núi.

            Hễ người đến viếng chùa đều tán thán rằng: “Hoa đẹp quá! Thơm quá!”

            Một ngày nọ, có người đến xin thiền sư vài cây hoa đem về trồng ở vườn nhà của người ấy, thiền sư đã hứa. Chính thiền sư tự tay mình chọn những cây có thân to khỏe và hoa nở thật tươi đẹp, nhổ cả gốc rễ đem đến tận nhà người xin. Tin tức truyền đi rất nhanh, người đến xin hoa liên tiếp không dừng. Trong mắt thiền sư, những người này, người nào cũng là tri tâm, thân cận, nên đều cho. Không bao lâu, hoa cúc trong vườn chùa đều được đem đi tặng hết.

            Không có hoa cúc, vườn chùa bỗng nhiên trở nên u ám mờ nhạt.

            Các đệ tử thấy cảnh thê lương phủ khắp sân chùa, nói rằng: “Thật đáng tiếc! Ở đây vốn là mùi hương lan tỏa khắp sân vườn chùa, bây giờ ngay cả một cây hoa cúc cũng không còn.”

            Thiền sư cười và nói với đệ tử rằng: “Các con nghĩ xem, như vậy chẳng phải càng tốt hơn hay sao, ba năm sau sẽ trở thành một làng có mùi hương hoa cúc!”

            “Một làng mùi hương hoa cúc!” Ðệ tử bất giác trong lòng vừa nóng lên, trước mắt hiện lên một làng hoa cúc đang nở, cảnh tượng thật đẹp.

            Thiền sư nói: “Chúng ta nên đem những việc tốt đẹp cùng chia sẽ với người khác, khiến cho mọi người đều cảm nhận được hạnh phúc này, dù mình không có gì hết, trong lòng cũng rất hạnh phúc! Lúc này chúng ta mới thật sự có hạnh phúc.”

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Khi chúng ta thương tiếc những gì tốt đẹp của mình vì bị phân chia mà mất đi, chúng ta nên hiểu rằng vì chúng ta phân chia cho người khác mà có được cái càng tốt đẹp hơn. Làm người không nên chỉ nghĩ về mình, nên đem những gì tốt đẹp của mình cùng phân chia cho người khác cùng hưởng, như vậy chúng ta mới thể hội được hạnh phúc cùng chia cho người khác hưởng, càng hạnh phúc hơn hạnh phúc của mình chiếm hữu!

 

 

 

18. Á NGỮ CỦA THIỀN SƯ

            Ðệ tử đi bái kiến thầy và hỏi rằng: “Thưa Thầy, vì sao con cảm thấy mấy năm gần đây tiến bộ chậm chạp, khó mà đột phá?”

            Thiền sư cười và nói rằng: “Ta rót cho con một ly trà nhé!” Thế là Thiền sư lấy cái bình trà ở trên bàn rót vào ly. Không mấy chốc nước đã đầy ly, nhưng thiền sư lại không dừng tay, vẫn cứ rót nước vào ly.

            Ðệ tử thấy vậy nhắc nhở Thầy: “Thầy ơi, đã đầy ly rồi!” Ý của thiền sư thâm sâu nói với đệ tử rằng: “Rót thêm chút nữa vậy, biết đâu sẽ nhiều thêm một chút!”

            Ðệ tử cười và nói: “Ly đã đầy rồi, Thầy có rót thêm nữa nước trong ly cũng không thể nhiều hơn.”

            Thiền sư khai thị rằng: “Con nói hay lắm! Kỳ thật không chỉ rót nước mới như vậy, mà việc học có tiến bộ hay không lại chẳng phải không phải như vậy sao?”

            Ðệ tử nghe xong, trong lòng như bị chấn động, tự nói thầm rằng: “Ðúng vậy! Cuộc sống cũng là ý nghĩa này, trong tâm chứa đầy những điều không cần chứa, đương nhiên không thể chứa những cái mình muốn chứa nữa!”

            Thiền sư thấy học trò đã có chỗ giác ngộ, bèn cười và nói: “Thật sự như vậy! Rất nhiều người chỉ nghĩ chứa quá nhiều trong tâm, cho rằng chứa nhiều như vậy sẽ có được nhiều. Nhưng họ càng như vậy thì càng không thể có được những cái mới, vì tâm họ đã đầy thì làm sao mà chứa được cái cần chứa? Nếu trong tâm chứa đầy những tạp niệm, thì tinh thần của chúng ta sẽ rơi vào tình trạng lão hóa, làm cho chúng ta không cách nào chấp nhận những cái mới, không cách nào làm mới những điều tư duy giác ngộ. Sự tiến bộ của con đường học vấn cũng như vậy, phát triển tri thức sẽ càng ngày càng mới, nếu chúng ta không thanh lý những tư duy vốn có, tiếp nhận quan điểm mới. Nếu không như vậy tất nhiên khó mà vượt qua tự ngã vốn có.”

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Tâm giống như vật để chứa, nó cũng có dung lượng. Muốn học, muốn biết hay muốn chứa cái mới thì phải xả bỏ những cái cũ.

            Tâm chúng ta đã chứa bao nhiêu tạp niệm? Và đã chứa bao nhiêu những điều tốt đẹp? Dung lượng của tâm có hạn, muốn tâm có nhiều điều tốt đẹp, tư duy mới thì hãy xả bỏ bớt lo buồn sầu khổ và phiền não.

 

 

 

19. VỨT BỎ KHÔNG TIẾC

     Có một người thanh niên trẻ tuổi thông minh, muốn mọi mặt đều hơn mọi người, đặc biệt anh ấy muốn trở thành một người có học vấn quảng bác. Nhưng nhiều năm đã trôi qua, các phương diện khác của anh ấy cũng khá, nhưng thành tích học tập của anh ấy không có gì tiến triển. Anh ấy rất khổ não, lo lắng, do đó anh ấy đến thỉnh giáo một vị Thầy.

            Vị Thầy nói: “Chúng ta leo núi đi, đến đỉnh núi rồi con sẽ biết nên làm thế nào.”

            Trên núi ấy có rất nhiều hòn đá sáng óng ánh, rất hấp dẫn mọi người. Mỗi khi chàng thanh niên thấy hòn đá mà anh ấy thích, vị Thầy đều bảo anh ấy nhặt lên để vào túi và mang đi, không bao lâu anh ấy không còn chỗ đựng những hòn đá nữa rồi.

            “Thưa Thầy, chắc không lên đỉnh núi đâu, e rằng con không còn đủ sức nữa rồi, con mang những hòn đá này đi muốn hết nổi rồi.” Chàng thanh niên ngẩng đầu nhìn vào Thầy và nói như vậy.

            Vị Thầy mỉm cười, nói: “Nên buông xả đi, mang theo những hòn đá làm sao mà leo lên tới đỉnh núi được?”

            Chàng thanh niên ngơ ngác, hình như trong lòng đã ngộ ra, bèn cảm ơn vị Thầy và cáo từ. Sau đó anh ấy chuyên tâm học hành, và tiến bộ rất nhanh…

            Kỳ thực, con người muốn có được, tất nhiên phải có mất, chỉ có học được  hạnh xả bỏ, mới có thể leo lên đỉnh cao của cuộc sống.

 

Thiền Tư Thiền Ngộ:

            Xả bỏ xả bỏ, nhất định phải có xả bỏ mới có thể có cái đạt được, trong cuộc sống, có nhiều cái cần phải vứt đi. Biết xả bỏ mới có cuộc sống nhẹ nhàng, mới có thể có thành tựu.

 

 

 

20. BÁT PHONG SUY BẤT ÐỘNG

  Khi Tô Ðông Pha nhậm chức ở Qua Châu, đã từng trở thành bạn chí thân với thiền sư Phật Ấn trụ trì chùa Kim Sơn ở Giang Nam, Giang Bắc Qua Châu và Giang Nam cách nhau một con sông. Họ thường nói chuyện đạo chuyện thiền với nhau rất vui vẻ. Có một hôm, Tô Ðông Pha cho rằng chính mình tu tập tọa thiền đã tiến bộ, đạt được cảnh giới thiền đến một trình độ nhất định, thế là bèn viết một bài thơ để trình bày lý giải của mình đối với thiền, sau đó sai một thư đồng chèo thuyền qua sông đem đến thiền sư Phật Ấn ấn chứng.

            Bài thơ viết như vầy:

                        Khể thủ thiên trung thiên,

                        Hào quang chiếu đại thiên,

                        Bát phong suy bất động,

                        Ðoan tọa tử kim liên.

            Bài thơ này có nghĩa: Con đảnh lễ Ðức Thế Tôn vĩ đại, nhận được ánh sáng của Phật chiếu soi, tâm con đã không còn bị thế giới bên ngoài làm lay động (tức tám ngọn gió thổi không lay động), giống như Phật ngồi trên tòa hoa sen.

            Thầy Phật Ấn xem thơ của Tô Ðông Pha viết xong, cười và lấy bút viết ở phía trên hai chữ “đánh rắm” (phóng tí), sau đó đưa thư đồng đem về cho Tô Ðông Pha xem. Thư đồng không dám chậm trễ, vội vàng ra về, đem lời phê của thầy Phật Ấn cho Tô Ðông Pha xem.

       &n