-ooOoo-
Mở
đầu
Xin thành tâm xưng tán và đảnh lễ tất cả chư Tổ của phái Kagyu. Tuy đã
giác ngộ và trở về với Pháp thân từ vô lượng kiếp, các ngài vẫn luôn luôn
thị hiện dưới nhiều hình thức để cứu độ chúng sinh. Chỉ cần nghe danh của
các ngài cũng đủ khiếp phục mọi lo âu và đem lại tin tưởng.
Sau khi đảnh lễ Thầy Bổn Sư (Lama) và chư Tổ của tông phái, tôi xin nói
đôi lời về Ðại Thủ Ấn, tinh hoa thâm thúy của Kim Cang thừa (Vajrayana) để
khuyến khích những đệ tử đang tìm cầu giải thoát. Ðây là con đường độc
nhất mà chư Phật đã đi qua, và đã được truyền khẩu từ thời đức Phật Thích
Ca Mâu Ni cho đến vị Thầy Bổn Sư [1] của ta. Nó là tinh hoa của tâm chư
Phật ba đời, là phương pháp dẫn đến giác ngộ giải thoát ngay trong một
đời.
Muốn tu học Phật pháp một cách hữu hiệu cần phải có một chí nguyện chân
chính. Cái gì đã thúc đẩy ta đi tìm cầu giải thoát? Trôi lăn trong sinh tử
luân hồi từ đời vô thỉ đến nay, tất cả chúng sinh, ít nhất trong một kiếp
nào đó, đều đã làm cha mẹ ta và chắc chắn đã thương yêu đối xử rất tốt với
ta. Cũng như ta, tất cả chúng sinh đều muốn sung sướng an vui, nhưng vì bị
vô minh che lấp nên chỉ tạo điều ác và gây khổ cho nhau. Do đó ta cần phải
giác ngộ giải thoát để trước cứu mình (tự độ), sau cứu người (độ tha)
thoát khỏi vô minh, đau khổ. Theo Kim Cang thừa, ước nguyện thành Phật để
cứu độ cha mẹ (là tất cả chúng sinh) được gọi là Bồ Ðề Tâm. Nhờ Bồ Ðề Tâm
thúc đẩy, ta sẽ tinh cần học hỏi và tu tập Phật pháp một cách chân chính.
Trước hết có ba điều sai lầm cần phải tránh. Thứ nhất: không nên giống như
một cái chậu úp ngược, tâm thức hạn hẹp, khiến cho giáo pháp không thể
thấm nhuần. Thứ hai: không nên giống như một cái chậu lủng đáy, nghe nhiều
nhưng không nhớ được gì cả. Thứ ba: không nên giống như một cái chậu dơ,
với những lầm đoán, những khái niệm biên kiến, khiến ta luôn luôn nghi ngờ
và bóp méo giáo pháp.
Tiếp theo là sáu phiền não cần phải trừ bỏ trong khi nghe giảng giáo lý:
- Kiêu ngạo: khinh thường giáo pháp
- Không tin tưởng hay nghi ngờ
- Không hứng thú: vì chí nguyện không vững
- Không chú ý: vì bị trần cảnh cám dỗ
- Hôn trầm: vì nhắm mắt định tâm
- Thất vọng hay nản chí vì không hiểu ý nghĩa
Ngoài ra còn có năm cách thâu nhận (nghe giảng) không đứng đắn: 1) ghi nhớ
văn tự mà không hiểu ý nghĩa; 2) ghi nhớ ý nghĩa bỏ quên văn tự; 3) và 4)
cho rằng văn tự và ý nghĩa đều không quan trọng; 5) ghi nhận giáo pháp sai
thứ tự hoặc hiểu lầm.
Tóm lại nếu ý thức được tự thân là một bệnh nhân, vọng tưởng vô minh là
căn bệnh, vị Thầy (Lama) là bác sĩ, và Phật pháp là thuốc hay, chắc chắn
ta sẽ được nhiều lợi lạc.
Chú thích:
[1] Lama-racine: Dịch là Thầy Bổn Sư. Theo Tây Tạng thì không hẳn là vị
Thầy mà ta đã quy y hay thọ giới, vì ta có thể có nhiều Thầy. Vị Thầy
nào đã làm cho ta giác ngộ (bổn tánh) thì vị đó được xem là Bổn Sư.
Trong trường hợp chưa giác ngộ thì vị Thầy nào hướng dẫn, giúp đỡ ta
nhiều nhất có thể được xem là Bổn Sư.
Chương
I:
Dự Bị Tu
Tập
Quy y, lễ lạy và Bồ Ðề
Tâm
Giải nghĩa về cách thức tu tập
Ðại Thủ Ấn của trường phái Kagyu bao gồm ba phần: dự bị tu tập, tu tập
chính yếu và kết luận.
Phần thứ nhất bắt đầu bằng sự
quy y và phát triển tâm Bồ Ðề.
Các cách thức dự bị tu tập được
chia làm hai loại: chung (căn bản) và riêng. Quán chiếu về thân người khó
được, về vô thường và chết, về nghiệp báo hay luật nhân quả, về sự đau khổ
của luân hồi, là những pháp quán căn bản và chung cho tất cả các trường
phái Phật Giáo. Riêng Kim Cang thừa có thêm bốn pháp dự bị tu tập đặc biệt
(ngeun-dro): vừa lạy Phật vừa quy y (quy lạy), Kim Cang quán (méditation
de Vajrasattva), cúng dường Mạn Ðà La (offrande du Mandala) và Bổn Sư Du
Già (Guru-yoga). Bốn pháp này có thể được tu tập theo nhiều cách, nhưng
thông thường nhất là thực hành 100.000 lần mỗi pháp theo thứ tự trong một
thời gian ấn định như (ba, bốn năm) với một sự tinh tấn không gián đoạn.
Còn có một cách tu tập khác là phân chia đều bốn pháp trên thành số lượng
nhỏ và ấn định làm thời khóa thường nhật. Số lượng này không nhất định, có
thể thay đổi, nhưng phải thực hành liên tục cho tới khi thấy được hảo
tướng mới thôi. Ngoài ra các pháp dự bị tu tập cũng có thể thay đổi, tùy
theo vị Thầy (Lama) quyết định xem cái nào phù hợp hơn với căn tánh của đệ
tử.
Sau đây là những pháp dự bị tu
tập tổng quát của trường phái Karma-Kagyu. Về những lời chỉ thị đặc biệt
và tỉ mỉ cần phải được giảng dạy từ vị Thầy riêng của mỗi
người.
Mục đích của sự dự bị tu tập là
tẩy trừ những nghiệp xấu làm chướng ngại cho việc tu tập, và tích tụ nhiều
công đức để tiến nhanh đến đạo quả. Sự quy lạy và Kim Cang quán thuộc mục
đích thứ nhất, cúng dường Mạn Ðà La và Bổn Sư Du Già thuộc mục đích thứ
hai. Trong khi quán chiếu về luật nhân quả, về những nghiệp xấu đã tạo
trong quá khứ và sự đau khổ kham chịu trong kiếp hiện tại, ta cần phải
phát tâm sám hối trở về nương tựa nơi Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Cúng
dường lễ lạy Tam Bảo sẽ giúp ta thanh lọc những mầm mống của đau khổ.
Ngoài ra cũng cần quán chiếu và ghi nhận rằng tất cả chúng sinh đều muốn
xa lánh đau khổ nhưng lại luôn luôn làm điều độc ác và ích kỷ, muốn có
hạnh phúc nhưng không bao giờ hành động đạo đức hay từ bi, bởi thế nên vẫn
đau khổ triền miên. Quán chiếu như vậy xong, ta làm khởi lên lòng đại bi
và nghĩ rằng sự tu tập của ta cũng thanh lọc luôn cả nghiệp chướng của họ.
Cuối cùng phối hợp Bồ Ðề Tâm với sự quy lạy, ta nguyện tiêu trừ tất cả
nghiệp chướng, sớm thành Phật để có thể thực sự làm lợi ích cho tất cả
chúng sinh.
Trên khoảng hư không trước mặt,
hãy quán tưởng có một thân cây năm nhánh. Vị Thầy Bổn Sư ngồi ở nhánh giữa
(dưới hình thức Vajradhara), ở nhánh trước mặt (vị Bổn Sư) có tất cả Hộ
Thần Kim Cang (Yidam), ở nhánh bên phải (vị Bổn Sư) là tất cả chư Phật
(Buddha), ở nhánh sau lưng là tất cả Giáo Pháp (Dharma), và ở nhánh bên
trái là toàn thể Tăng Già (Sangha). Quán tưởng như thế rồi ta bắt đầu quy
y (trong lúc lạy xuống) và quán tưởng rằng tất cả chúng sinh (là cha mẹ)
đều tề tựu sau lưng ta và cũng quy lạy như ta.
Ðây là phép quán về ruộng công
đức (phước điền) hay Cây Lịch đại Tổ Sư. Quán tưởng ta đang ở trong một
vườn hoa thanh tú, có những bãi cỏ êm dịu và một bầy thú hiền hòa. Ở chính
giữa là một cái hồ tuyệt đẹp có một cây làm toại nguyện tất cả điều ước
như đã tả ở trên. Vajradhara (Tạng ngữ: Dorjé Chang) là một hóa thân của
Phật khi thuyết về Mật giáo Tantra. Những vị Hộ Thần (Yidam) gồm có:
Vajrayogini, Héruka, ...; chư Phật ở đây là chư Phật ba đời: Quá khứ, hiện
tại, vị lai; Giáo Pháp gồm tam tạng Kinh điển (Tripitaka); Tăng Già bao
gồm tất cả chư Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn. Ở phần dưới thân cây có các
vị Hộ Pháp (Dharmapala) như Mahakala, Mahakali, ... Nếu không biết rõ hình
tướng các vị trên, hoặc không thể quán tưởng một cách rõ ràng, ta cũng
đừng nên lo ngại. Ban đầu chỉ cần tin tưởng nơi sự hiện diện của các vị ấy
là đủ. Với sự luyện tập lâu dài, với những tranh hình (Thangka) của các vị
ấy, ta sẽ quán tưởng rõ hơn sau này.
Tiếp theo quán tưởng ta dưới
hình thức bình thường bên phải là tất cả các chúng sinh
nam, bên trái là tất cả các chúng sinh nữ. Tưởng nghĩ
rằng chung quanh ta là một đám đông vô kể, cả người lẫn thú; dẫn đầu tất
cả, ta đảnh lễ và quy y. Khi bắt đầu đảnh lễ, chắp hai bàn tay lại, đưa
lên đụng đảnh đầu rồi xuống đụng trán, đụng cổ, ngực rồi quỳ xuống đất
duỗi thẳng toàn thân, hai tay đưa tới trước, xong rồi liền đứng dậy. Cùng
lúc lạy như vậy, ta đọc lên những câu sau: "Con và tất cả chúng sinh, cha
mẹ nhiều đời, đầy khắp hư không, xin quy y nơi chư Thầy Tổ tôn kính. Chúng
con xin quy y nơi các vị Hộ Thần Kim Cang và toàn thể chư Thần trong Mạn
Ðà La. Chúng con xin quy y nơi chư Phật ba đời. Chúng con xin quy y nơi
Thánh Pháp. Chúng con xin quy y nơi chư Thánh Tăng. Chúng con xin quy y
nơi toàn thể chư Thần Dakas, Dakinis, Hộ Pháp và Hộ Mạng". Hãy thực hành
như vậy với sự chánh niệm tối đa, với lòng tin kính và thành thật.Ba pháp
thực hành trên: lạy, tụng, quán tưởng được gọi là thân lạy, khẩu lạy và ý
lạy, cần được thực hiện ít nhất 100.000 lần. Trước khi tu tập các thời
khóa thiền quán khác, cũng nên lạy ít nhất là 7 lần.
Trong lúc tu tập về pháp quy
lạy, ta sẽ cảm thấy cực nhọc và mệt mỏi. Nhưng hãy xem đó như là một mũi
thuốc chích, tuy đau đớn nhưng sẽ cứu ta khỏi bệnh. Tuy nhọc mệt nhưng ta
vẫn vui vẻ, vì từ đời vô thỉ đến nay, ta đã tạo không biết bao nhiêu
nghiệp xấu, đúng lý ra ta sẽ phải chịu nhiều quả báo đau khổ hơn trong ba
đường ác, nhưng nay nhờ chịu đựng tu tập mà ta sớm giải thoát. Trong khi
lạy nếu cảm thấy nóng hay lạnh thì hãy cầu nguyện cho tất cả chúng sinh ở
địa ngục sớm thoát khỏi đau khổ của hỏa ngục và hàn ngục. Nếu bị đói khát,
ta hãy nguyện cho loài ngạ quỷ sớm được no đủ; hoặc khi đầu óc ta trở nên
nặng nề và đờ đẫn vì nhọc mệt, ta hãy nguyện cho mọi loài súc sinh sớm
thoát khỏi ngu si. Với một đức tin sâu đậm và kiên cố, ta sẽ đánh bạt mọi
phiền não khởi lên trong lúc tu tập. Nếu có những ý niệm khởi lên bảo ta
ngưng tập và đi tìm một pháp môn khác, ta hãy nhìn chúng như một đám điên
phá phách, bỏ qua không thèm để ý đến chúng.
Ta đọc tiếp: "Từ nay cho đến
ngày giác ngộ, con xin quy y Phật, Pháp, chư hiền thánh Tăng...". Cùng lúc
ta suy nghĩ rằng: "Tất cả chúng sinh đều đã là cha mẹ con, con xin quy y
và phát triển tâm Bồ Ðề". Sau đó ta quán tưởng về Tứ Vô Lượng
Tâm.
Tứ Vô Lượng Tâm là nguyện cho
tất cả chúng sinh:
1) đều được an vui hạnh phúc
và tạo nhiều căn lành;
2) đều thoát khỏi đau khổ và ngưng tạo điều
ác;
3) được sống trong thương yêu và hòa thuận;
4) đều có tâm bình
đẳng, không thương người thân, ghét kẻ thù.
Cuối cùng, quán tưởng rằng tất
cả đối tượng quán chiếu (sở quán) đều tan biến thành ánh sáng (hào quang)
thấm nhập vào ta và giòng tâm thức [1] của ta trở nên thanh
tịnh.
Sau mỗi thời khóa quy lạy, hãy
quán tưởng làm tan biến tất cả hình tướng của Cây Lịch đại Tổ Sư thành hào
quang thấm nhập vào ta và đưa ta vào trạng thái bất nhị trống rỗng, trong
suốt, không còn dính mắc vào một khái niệm hiện hữu nào nữa. Hãy trụ trong
"bây giờ và ở đây", và cảm tưởng rằng ta hoàn toàn thanh
tịnh.
Ðến đây chấm dứt phần dự bị tu
tập thứ nhất: quy lạy và phát triển tâm Bồ Ðề.
Kim Cang
Quán
Vajrasattva [2], Tạng ngữ:
Dorjé Sempa, là một hóa thân của chư Phật dùng để thanh lọc giải trừ đau
khổ, phiền não, quả báo của những nghiệp xấu, ác đã tạo. Hóa thân này có
thể xuất hiện dưới nhiều hình tướng: hiền từ hoặc dữ tợn như Héruka
Vajrasattva, đơn độc hoặc với một nữ phối. Sau đây là một phương thức tu
tập với hóa thân Vajrasattva đơn độc.
Quán tưởng trên đầu ta, có Thầy
Bổn Sư (Lama) dưới hình tướng Vajrasattva, toàn thân màu trắng, tay phải
cầm một kim cang chùy (vajra) ngang giữa ngực, tay trái cầm một cái chuông
ngang hông. Ðầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp.
Quán tưởng trên đảnh đầu chủng
tự PAM. Sau đó chủng tự này biến thành một hoa sen trắng, ở trên có chủng
tự AH, từ chữ AH xuất hiện một vành trăng tròn, ở trên có chữ HUM, chữ này
từ từ biến thành một kim cang chùy 5 đỉnh, và ở giửa chùy kim cang này lại
có một chữ HUM. Từ chữ HUM này phát ra nhiều đạo hào quang rồi sau đó lại
thu trở về hai lần: lần thứ nhất, những hào quang này hóa hiện ra muôn
ngàn trân châu quý báu cúng dường chư Phật, Bồ Tát; lần thứ hai, những hào
quang này tiêu trừ tất cả đau khổ của chúng sinh.
Tiếp theo, kim cang chùy biến
hình thành Vajrasattva như đã tả ở trên. Chân trái gấp lại, bàn chân đụng
dưới đùi phải, và chân phải hơi duỗi xuống dưới. Ở giữa ngực có một vành
trăng với một chữ HUM trắng ở trên.
Vajrasattva có một bài chú 100
chủng tự và một bài 6 chủng tự. Những chủng tự này thường được quán chiếu
theo nhiều cách: hoặc theo chiều kim đồng hồ, hoặc ngược lại, hoặc quay
tròn hoặc đứng yên. Riêng trong phép quán này, ta phải tụng 100.000 lần
bài chú 100 chủng tự, những chủng tự này màu trắng bất động, được sắp
chung quanh vành trăng theo chiều ngược của kim đồng hồ.
Sau khi quán tưởng như trên, ta
tụng: "Nam Mô Vajrasattva, con thành khẩn xin ngài giải trừ tất cả chướng
duyên và quả báo của những nghiệp xấu mà con đã tạo trong quá khứ". Ta cần
phải phát lồ sám hối và quán niệm về bốn điều hóa giải (lỗi
lầm).
Ðiều thứ nhất, nhớ tưởng lại
những lỗi lầm đã tạo và thành tâm ăn năn. Thứ hai, nguyện không bao giờ
tái phạm. Thứ ba, ghi nhớ những điều tốt như quy y, Bồ Ðề Tâm, giữ giới...
Thứ tư, thực hành những pháp thanh lọc, sám hối như Kim Cang quán để tiêu
trừ nghiệp chướng. Nếu không hội đủ bốn điều trên thì sự sám hối chỉ là
hào nhoáng bề ngoài.
Tiếp theo quán tưởng một nước
cam lồ trắng chảy từ ngón chân cái bên phải của Vajrasattva, xuống tới
đảnh đầu và chảy khắp toàn thân ta. Cùng lúc đó, tất cả những chướng
duyên, nghiệp báo đều bị tống khứ, và toàn thân ta chỉ còn là cam
lồ.
Nước cam lồ này bắt nguồn từ
chữ HUM và bài chú 100 chủng tự nằm trên vành trắng ở ngực Vajrasattva,
chảy xuống thấm vào thân ta.
Quán tưởng rằng từ những lỗ
chân lông và chín khứu của ta, những chướng duyên thoát ra ngoài như mồ
hôi và nhựa đen; bệnh tật, ốm đau thoát ra ngoài như máu mủ; tà ma, quỷ
ếm, như rắn, bò cạp, nhện độc và sâu bọ. Tất cả đều chảy ra ngoài và thấm
xuống đất. Bấy giờ toàn thân ta chỉ còn lại nước cam lồ trắng và hào
quang.
Ta hãy quán tưởng tất cả chúng
sinh cũng đều có một vị Vajrasattva ở trên đầu và đang lãnh nhận sự thanh
lọc như ta.
Hài lòng, vị Bổn Sư
(Vajrasattva) biến thành hào quang (rồi nhập vào ta), và quán tưởng rằng
thân, ngữ, ý của ta và của Vajrasattva nhập một không khác. Tất cả nghiệp
chướng lúc này thảy đều được tiêu trừ.
Ðến đây kết thúc phần dự bị tu
tập thứ hai: quán tưởng về Vajrasattva và trì tụng thần
chú.
Chú thích:
[1] Sách Tây Tạng thường nói
"giòng tâm thức" để chỉ định cái tâm. Vì theo các trường phái Duy Thức
và Trung Quán thì tâm không phải một vật có tự tánh cố định mà là một
giòng ý thức luôn trôi chảy
[2] Vajrasattva: Việt dịch là
Kim Cang Tát Ðỏa, cho đó là một vị Kim Cang thần hay Bồ Tát, nhưng đối
với Tây Tạng thì đó là một hóa thân Phật.
Cúng dường Mạn Ðà
La
Thông thường, sự cúng dường
không có nghĩa là làm vui lòng hay lấy điểm với bề trên, nó thể hiện lòng
dâng hiến toàn vẹn cho sự giác ngộ, đại diện bởi các bậc Thầy và ngôi Tam
Bảo; đồng thời cũng giúp cho ta gặt hái được nhiều công đức và lợi lạc.
Khi ta gieo những hạt giống vào một cánh đồng, chính ta sẽ là người hưởng
lợi chứ không phải cánh đồng. Sự cúng dường đến ngôi Tam Bảo cũng giống
như vậy.
Có nhiều loại Mạn Ðà La. Những
cảnh lâu đài thiên cung, nơi cư ngụ của các vị Bồ Tát, Hộ Pháp, được xem
là một loại. Ðó là những kiểu mẫu thường thấy trên tranh ảnh (thangka).
Riêng Mạn Ðà La dùng ở đây thuộc loại cụ thể, cấu tạo bằng một nền phẳng
với những vòng tròn, gạo, hạt cây hoặc ngọc báu, tất cả tượng trưng cho
toàn thể vũ trụ.
Quán tưởng trên hư không trước
mặt, có một lâu đài Mạn Ðà La vĩ đại. Ở trung tâm là vị Bổn Sư (dưới hình
dạng Vajradhara), phía trước ngài là những vị Thần Linh Quán [1], bên phải
là chư Phật, đằng sau là tam tạng giáo điển, và bên trái là toàn thể Tăng
Già. Ðây là Mạn Ðà La sơ khởi, đối tượng của sự cúng dường.
Tiếp theo ta cấu tạo một Mạn Ðà
La khác với những dụng cụ nhỏ đặc biệt, và tụng lên bài kệ cúng
dường.
Dùng một cái dĩa bằng phẳng làm
nền tảng cho Mạn Ðà La (vật cúng dường). Một tay cầm dĩa, tay kia lau mặt
dĩa và tụng bài chú 100 chữ của Vajrasattva để tẩy trừ mọi lậu hoặc. Sau
đó, nhỏ một giọt nước (trong và thơm) lên trên tượng trưng cho Bồ Ðề Tâm
hướng và lòng đại bi. Tiếp theo, đặt một cái vòng thứ nhất lên mặt dĩa và
đổ đầy những hạt gạo, đậu, v.v..., ở bốn góc một vài hạt kim cương, ngọc
báu [2]; sau khi đổ đầy vòng thứ nhất, tiếp tục như vậy cho đến vòng nhỏ
cuối cùng, và đặt trên vòng này một bảo vật. Ðây là sự cúng dường cụ thể
tượng trưng bên ngoài.
Trong lúc cấu tạo Mạn Ðà La để
cúng dường bên ngoài, ta đọc lên bài kệ thích hợp. Ðọc đến đâu, quán tưởng
đến đó, đây thuộc về ý cúng dường. Vật mà ta cúng dường tượng trưng cho
toàn vũ trụ, thường được miêu tả trong giáo lý A Tỳ Ðàm
(Abhidharma).
Vũ trụ thường được miêu tả dưới
nhiều hình thức khác nhau, tuỳ trường hợp, vì căn cơ và nghiệp báo của
thính chúng không đồng, nên khiến mỗi người thấy sự vật khác nhau. Riêng
theo sự miêu tả ở đây thì có một dãy đất bằng huỳnh kim, chung quanh bao
bọc bởi những bức tường sắt, bên ngoài là biển mặn. Bên trong bức tường, ở
bốn góc có bốn châu (lục địa), mỗi châu lại nằm giữa một đại dương. Từ mỗi
châu tiến dần vào trung tâm điểm gồm có bảy vòng đai xen kẽ với bảy núi
vàng và bảy hồ thanh lương. Ở trung tâm điểm là núi Tu Di (Suméru), hình
vuông giống bửu tháp (stupa) bốn tầng. Mặt núi phương đông bằng ngọc pha
lê trắng, phương nam bằng ngọc lưu ly, phương tây bằng ngọc hồng bào và
phương bắc bằng ngọc bích. Bầu trời và mặt biển ở bốn phía đều mang cùng
màu tương hợp với ngọc núi. Lục địa (châu) phương đông hình bán nguyệt,
mặt thẳng đối diện núi Tu Di, lục địa phương nam hình thang, lục địa
phương tây hình tròn và lục địa phương bắc hình vuông.
Quả đất chúng ta đang ở thuộc
phương nam (Nam Thiện Bộ Châu), biển và bầu trời màu xanh lơ. Những châu
còn lại (đông, tây, bắc), ta không thể đến được bằng tàu bay hay phi
thuyền, trừ khi ta tạo những nghiệp tương ưng với các chúng sinh ở
đó.
Bài kệ mà ta phải lập lại
100.000 lần trong lúc thược hành pháp này là: "Hướng về tất cả các cõi
Tịnh Ðộ của chư Phật, con xin cúng dường Mạn Ðà La này, làm bằng hoa, dầu
thơm, trầm hương, trang hoàng với núi Tu Di, tứ châu và nhật nguyệt.
Nguyện cho tất cả chúng sinh đều được sinh về các cõi Tịnh
Ðộ."
Bằng sự cúng dường này, ta sẽ
tích tụ được hai thứ: phước đức và trí huệ.
Sau khi cúng dường xong, quán
tưởng tất cả chư Phật, Bồ Tát trong Mạn Ðà La đối tượng, tan biến thành
hào quang và thấm nhập vào ta.
Cúng dường Mạn Ðà La cụ thể và
ý tưởng giúp ta gặt hái nhiều công đức. Cùng lúc đó, ta phải quán chiếu
luôn về tánh Không của các pháp, tức năng cúng và sở cúng đều trống rỗng,
không có thực tánh, nhờ đó trí huệ sẽ tăng trưởng. Tích tụ công đức dẫn
đến sự thành tựu Hóa thân (Nirmanakaya) và Báo thân (Sambhogakaya). Những
chúng sinh tu hành nhiều đời, gieo tạo căn lành có thể thấy được Hóa thân
Phật. Riêng Báo thân Phật, chỉ có hàng đại Bồ Tát, những vị đã thực sự
trực nghiệm tánh Không (Sunyata) mới thấy được. Tích tụ Trí Huệ (Bát Nhã)
dẫn đến sự chứng đạt Thể Tánh thân (Svabhavakaya) và Pháp thân
(Dharmakaya). Theo ý nghĩa tập luận ở đây thì Thể Tánh thân chính là nhất
thiết trí của Phật, còn Pháp thân là tổng tánh bất dị của ba thân trước.
Tuy nhiên. ở vài nơi khác, sự định nghĩa của hai thân này có thể đổi
ngược, nhưng thường thì chỉ có Pháp thân là hay được đề cập
đến.
Ðến đây chấm dứt phần dự bị tu
tập thứ ba: cúng dường Mạn Ðà La.
Chú thích:
[1] Divinité de méditation
(Yidam): tức là các vị Bồ Tát Hộ Thần, Hộ Mạng, còn được dịch là Ðại
Thần Linh Thủ Hộ. Những vị này xuất hiện rất nhiều trong các pháp thiền
quán Mật giáo và giữ một vai trò trọng yếu đối với hành giả Mật tông Tây
Tạng.
[2] Kim cương, ngọc báu ở đây
không bắt buộc là đồ thiệt. Có thể dùng những đồ trang sức bằng nhựa hay
đá đẹp để tượng trưng
Bổn Sư Du
Già
Bài dự bị tu tập chót nhằm mục
đích tích tụ công đức và sự gia hộ hay ban phép lành của chư Tổ. Ðó là
Guru Yoga.
Ở đây ta phải quán tưởng ta
dưới hình dạng của một Thần Linh Quán (divinité de
méditation).
Quán tưởng ở phía trên đầu là
vị Bổn Sư (Lama racine) hiện dưới hình dạng thông thường hoặc của một Thần
Linh Quán. Sau đó tất cả chư Tổ của giòng truyền (lignage) ngược trở lên
cho đến đức Phật Vajradhara đều ngồi theo một hàng dọc hoặc chung quanh
trên đầu vị Bổn Sư. Tiếp theo ta hướng về chư vị đó và cầu nguyện với lòng
thành khẩn, tôn kính chân thật vô biên.
Khi lòng thành khẩn của ta tăng
trưởng đến mức tột cùng, hãy giữ nguyên trạng thái đó và bắt đầu quán
tưởng chư Phật, Bồ Tát, chư Thần Dakas, Dakanis, Hộ Pháp, Hộ Mạng, chư Tổ
đều tan nhập vào vị Bổn Sư. Vị Bổn Sư lúc đó phải được xem là hóa thân của
tất cả các vị trên.
Có nhiều loại Thần Linh Quán,
đối tượng của Guru-yoga. Ta có thể quán tưởng vị Bổn Sư dưới hình dạng
thông thường hoặc hình dạng Vajradhara, Marpa, Milarépa, Gampopa, Karmapa,
v.v...
Tiếp theo, thực hiện sự cúng
dường bên ngoài, bên trong và bí mật, cũng như bài Kinh "Thất Nguyện"
(Septuple Puja).
Bài Kinh Thất Nguyện gồm: 1) Lễ
lạy, 2) Cúng dường, 3) Sám hối, 4) Tùy hỷ công đức, 5) Thỉnh quý Thầy
giảng pháp, 6) Thỉnh quý Thầy trụ thế, 7) Hồi hướng công
đức.
Khởi tâm trở về nương tựa Tam
Bảo, củng cố tâm Bồ Ðề và cầu nguyện như sau: "Tất cả chúng sinh (là cha
mẹ quá khứ) số lượng như hư không, xin hướng về Bổn Sư hiện thân của tam
thân Phật, hãy từ bi ...".
Bài cầu nguyện trên dạy rằng
phải quán tưởng vị Bổn Sư không khác đức Phật, hiện thân của Tam Bảo. Thân
của ngài tiêu biểu cho Tăng Già, lời của ngài là Giáo Pháp và tâm của ngài
là chư Phật. Thân, ngữ, ý của Phật chính là Tam Bảo và cũng không khác tam
thân Phật. Bài tụng trên có thể được lập đi lập lại 100.000 lần hoặc hơn.
Thông thường hành giả cũng tụng thêm bài kệ sáu câu của ngài Karmapa đệ
nhất và một triệu lần bài chú của ngài: "Con thành tâm cầu nguyện đến
ngài, vị Thầy tôn kính. Xin ngài gia hộ cho con khiến:
1) Tâm con không còn chấp
chặt vào một cái "Ta thường hằng".
2) Giòng tâm thức của con có khả
năng thấy rằng tất cả ý tưởng thế gian đều là ảo ảnh.
3) Tất cả ý
nghĩ trái ngược Phật pháp đều ngưng khởi.
4) Con hiểu rằng bổn tâm
vốn bất sanh (diệt).
5) Tất cả thành kiến sai lầm (nhị biên) đều tiêu
tan.
6) Con thấu triệt các pháp đều là Pháp
thân."
Sau đó vị Thầy (Lama) tan nhập
vào ta. Quán tưởng rằng thân, ngữ, ý của ngài và Tâm ta trở thành một,
không hai, không khác. Hãy trụ trong trạng thái bất nhị đó càng lâu càng
tốt.
Sau khi tụng chú xong, quán
tưởng vị Bổn Sư đang truyền cho ta bốn phép điểm đạo Mật giáo (initiations
tantriques):
Trước hết từ trán vị Bổn Sư,
một hào quang trắng phóng ra bay vào trán ta, tẩy trừ tất cả phiền não
thuộc thân nghiệp. Ðây là điểm đạo sơ khởi, giúp ta tu tập các pháp trong
giai đoạn tăng trưởng và gieo những chủng tử của sự thành tựu Hoá
thân.
Từ cổ vị Bổn Sư, một hào quang
đỏ phóng ra bay vào cổ ta, tẩy trừ tất cả phiền não thuộc khẩu nghiệp. Ðây
là điểm đạo bí mật, giúp ta quán chiếu về giai đoạn thành tựu các pháp dẫn
chuyển những luồng khí lực vi tế trong thân và gieo những chủng tử của Báo
thân.
Từ tim vị Bổn Sư, một hào quang
xanh lơ phóng ra bay vào tim ta, tẩy trừ tất cả phiền não thuộc ý nghiệp.
Ðây là điểm đạo trí huệ, giúp ta tiến tu các pháp siêu nhập và gieo những
chủng tử của Pháp thân.
Cuối cùng, cả ba hào quang
trắng, đỏ, xanh từ ba nơi trên người vị Bổn Sư đồng phóng ra bay vào trán,
cổ, và tim ta, tẩy trừ tất cả phiền não của ba nghiệp thân, khẩu, ý. Ðây
là điểm đạo linh âm tối thắng, giúp ta thành tựu Ðại Thủ Ấn, hay giai đoạn
vô tướng và gieo những chủng tử của Thể tánh thân.
Sau lễ điểm đạo, tất cả chư Tổ
của hệ phái tan nhập vào vị Bổn Sư, và vị này cũng tan nhập vào
ta.
Hãy trụ trong trạng thái bất
nhị và vô niệm này. Sau đó hồi hướng công đức cầu cho tất cả chúng sinh
sớm mau giác ngộ.
Nếu tinh tấn tu tập pháp này ta
sẽ nhận được nhiều sự gia trì, ủng hộ của chư Tổ, khiến ta sớm thâm nhập
được Ðại Thủ Ấn.
Ðến đây kết thúc phần dự bị tu
tập đặt biệt của Kim Cang thừa: Bổn Sư Du Già.
Vô thường và sự
chết
Nếu không quán chiếu về vô
thường thì tâm sẽ không bao giờ dứt bỏ sự dính mắc cuộc đời. Nếu tâm còn
dính mắc thì còn sinh tử luân hồi. "Sự sống của con người luôn luôn bị đe
dọa, nó vô thường mỏng manh như hòn bọt trên mặt nước, có thể vỡ tan dưới
cơn gió nhẹ. Quả thực là một phép lạ cho chúng ta, sau khi thở ra lại có
thể hít vào được một hơi khác, và sau khi ngủ dậy, thấy rằng mình vẫn còn
sống." (Nagarjuna, Suhrillekla).
Tất cả sự vật, do nhân duyên
giả hợp, đều vô thường, sự sống của mọi loài cũng vậy. Ta không thể nào
biết chắc khi nào ta sẽ chết. Thêm vào đó, khi cái chết đến, ta không thể
cầu cứu với ai được, ngoại trừ Phật pháp. Nếu lúc còn sống, ta tự thả trôi
theo giòng đời, bám víu vào dục lạc nhất thời, thì chắc chắn không thể nào
thoát khỏi nguyên nhân của đau khổ. Vậy ta hãy phát nguyện quán chiếu về
sự chết mỗi khi tâm ta chạy theo ngũ dục (tài, sắc, danh, thực,
thùy).
Tất cả sự vật, là những pháp
hiện hữu do nhiều nhân duyên kết tạo, đều vô thường. Tất cả động vật, bất
động vật, sinh vật và cảnh vật đều là pháp giả hợp. Một bức tường cứng rắn
hôm nay, có thể tiêu tan thành cát bụi ngày mai. Sự sống của ta lại càng
mong manh và dễ mất hơn nữa. Không ai dám quả quyết rằng mình sẽ còn sống
ngày mai, và một khi chết đến thì ngay cả bạn bè, bà con, bác sĩ, thuốc
thang, tiền tài, danh vọng cũng đều bất lực. Chỉ có một điều duy nhất cứu
giúp ta được, đó là sự tu hành theo Phật pháp. Nếu sống một đời đạo đức và
tạo nhiều việc thiện, ta có thể nhắm mắt chết bình thản, vì biết rằng với
một nghiệp thiện, ta sẽ tái sinh nơi nhàn cảnh.
Không nên dại dột nghĩ rằng
thỏa mãn những thú vui thể xác sẽ đem lại cho ta hạnh phúc lâu
dài.
Khi mắt bị thu hút bởi những gì
đẹp đẽ và dễ coi ta hãy nghĩ đến cái chết của con thiêu thân lao mình vào
lửa, chỉ vì ưa thích ánh sáng. Về khoái lạc thể xác cũng vậy, hãy nghĩ đến
những con ong bị nuốt sống bởi cây thằng thảo, vì ưa mùi hương; những con
ruồi bị chết ngộp trong hầm phẩn vì ưa thích phân uế; những con cá bị mắc
câu vì ham miếng mồi ngon.
Quán chiếu suy nghĩ về những
thí dụ trên sẽ giúp tâm nhàm chán, lìa bỏ dục lạc của thế gian và thấy đó
chỉ là những nguyên nhân dẫn đến khổ đau.
Ý thức được cái chết có thể đến
bất cứ giờ phút nào, sẽ giúp ta tu hành tinh tấn. Hãy tập nhìn đồ ăn và y
phục như một tên tử tội, sắp bị đem ra pháp trường, nhìn bữa ăn và bộ quần
áo cuối cùng.
Hãy nhớ lại, bao nhiêu bạn bè,
họ hàng người thân của ta đã ra đi? Họ đã ra đi thế nào và bây giờ xác
thân của họ còn lại gì? Nghĩ đến họ xong rồi nghĩ lại bản thân ta cũng sẽ
chung số phận. Làm sao khởi được trong tâm sự sợ hãi giống như đang bị tên
đao phủ lôi ra pháp trường. Khi tâm hoàn toàn nhàm chán tất cả sự vật thế
gian, hãy giữ nguyên và trụ tâm ở trạng thái đó. Ðây là bài dự bị tu tập
thứ năm: quán chiếu về sự chết và vô thường.
Phép quán chiếu trên không phải
để làm cho ta bi quan chán đời. Nếu quán chiếu rằng: "Tôi sắp chết và chả
làm được gì cả!", đây lại là một nguyên nhân của đau khổ, lo âu. Mục đích
của phép quán chiếu trên là thúc đẩy ta tu hành tinh tấn và hiểu rõ nghiệp
báo hay luật nhân quả có thể ảnh hưởng đến sự tái sinh đời sau. Sau nữa,
nó đào luyện cho ta tánh dũng cảm sẵn sàng đối phó với cái chết như người
chiến sĩ nơi sa trường.
"Xưa kia, ta đã rút lui vào núi
ẩn tu, chỉ vì ta quá sợ chết. Nhưng ngày hôm nay, cái chết có thể đến, ta
không còn sợ hãi nữa, vì ta đã thấy và trở về với chân tánh của tâm [1]."
(Djetsun Milarépa)
Chú thích:
[1] Véritable nature de
l’esprit: dịch là bổn tánh hay chân tánh của tâm. Thực ra tâm và tánh
khác nhau, nhưng đa số chúng ta thường cho tâm là tánh.
Nghiệp báo và luật nhân
quả
Tiếp theo ta cần sáng suốt biết
rõ những gì đáng làm và những gì nên tránh phù hợp với luật nhân quả. Một
người tạo nhân nào thì chính người đó sẽ hưởng quả nấy, đó là luật tự tác
tự thọ.
Phạm mười điều ác sẽ dẫn đến
tái sinh trong kiếp sống đau khổ. Những hành động chi phối bởi tam độc,
tùy theo nặng, trung bình, nhẹ, sẽ dẫn đến tái sinh nơi địa ngục, ngạ quỷ,
hoặc súc sinh. Ngược lại những hành động tốt lành, đạo đức, tùy theo làm
nhiều, vừa hay ít, sẽ dẫn đến tái sinh nơi cõi Vô Sắc, Sắc hoặc cõi trời
Dục Giới.
Do đó ta phải luôn luôn kiểm
soát (những hành động qua) ba nghiệp thân, khẩu, ý.
Theo luật nhân quả thì sự an
vui hạnh phúc là kết quả của những hành động thiện hay nghiệp "trắng"
(bạch nghiệp), và sự đau khổ là kết quả của những hành động xấu ác hay
nghiệp "đen" (hắc nghiệp). Do đó ta cần phải dứt bỏ những hành động xấu ác
và phát triển hạnh lành nếu ta muốn đem lại hạnh phúc cho chính ta và mọi
người.
Mười điều ác bao gồm ba điều
của thân, bốn của lời nói và ba của tâm ý. Ba điều về thân là: sát sinh,
trộm cắp, tà dâm. Bốn điều thuộc lời nói là: nói dối, nói lời chia rẽ, nói
lời dụ dỗ và mắng chửi. Ba điều thuộc tâm ý là: tham muốn những gì thuộc
sở hữu của kẻ khác, nuôi dưỡng lòng sân hận, và chấp chặt những tà kiến (ý
nghĩ sai lầm) như không tin luật nhân quả.
Không làm mười điều ác kể trên
có thể được xem là mười điều thiện. Song le, nếu có tâm nguyện Bồ Tát ta
có thể làm mười điều thiện hảo sau đây: cứu sống sinh vật; bố thí; giữ
giới và khuyên người khác giữ giới; nói lời chân thật; nói lời hoà giải;
đem lại tin yêu; nói lời êm dịu; ít muốn và biết đủ; nuôi dưỡng lòng từ
bi; giảng nói chánh kiến.
Từ bỏ sát sinh, cứu sống mạng
người sẽ được trường thọ; ngược lại, tiếp tục giết hại thì mạng căn ngắn
ngủi và đầy bệnh tật. Quảng đại bố thí sẽ đưa đến giàu có; trộm cắp dẫn
đến nghèo khổ, nạn nhân của bóc lột. Giữ giới thanh tịnh thân thể sẽ được
cường tráng, an vui hòa thuận vợ chồng; phá giới, tà dâm, thân thể sẽ bạc
nhược, gia đình tan rã. Nói lời chân thật sẽ được tin cậy; nói dối đem lại
bất tín. Nói lời hòa giải thì bạn bè luôn luôn thắm thiết; nói lời chia rẽ
gây nhiều kẻ thù và sự ganh ghét. Nói lời đứng đắn, không ỷ ngữ sẽ được
nghe lại nhiều điều hữu ích; nói xàm hay dụ dỗ sẽ bị nghe lại những điều
lẩm cẩm vô ích. Nói lời êm dịu sẽ được kính mến; nói lời hung dữ sẽ bị
mắng chửi.
Nếu biết tự mãn không tham lam,
đời sống sẽ cụ túc. Nếu luôn luôn dòm ngó, ham muốn vật sở hữu của người
thì muôn đời thiếu thốn. Có lòng từ bi sẽ được đối xử tử tế và kính trọng,
ngược lại, độc ác sẽ bị đối xử tệ bạc và nghi ngờ. Giảng nói điều chân
chính thì thông minh và trí huệ sẽ tăng trưởng, chấp chặt vào sự hiểu biết
sai lầm thì tâm trí sẽ nhỏ hẹp và ngu đần.
Trên đây kể sơ lược kết quả của
những hành động (nghiệp nhân). Có một cách khác đoán biết nghiệp quả tương
lai, đó là nhìn vào những động lực thúc đẩy sự tác nghiệp. Nếu hành động
tác nghiệp bị chi phối bởi kiêu mạn sẽ dẫn đến tái sinh trong loài trời;
loài A Tu La bởi sự ganh tỵ; loài người bởi sự ham dục; loài súc sinh bởi
sự u mê; loài quỷ đói bởi sự keo kiệt và loài địa ngục bởi sự ác
độc.
Sau khi nghiên cứu và học hỏi
kỹ lưỡng luật nhân quả và nghiệp báo, ta cố gắng làm nhiều và tăng trưởng
điều lành, ngăn chặn và dứt bỏ điều ác. Ðó là bài dự bị tu tập thứ
sáu.
Sự đau khổ
của luân hồi
Nếu muốn giải thoát khỏi luân
hồi, ta cần phải quán chiếu về đau khổ và sang tâm nhàm chán nó. Có thực
sự nhàm chán mới nôn nóng tìm cầu giải thoát. Còn không thì dù có học rộng
biết nhiều (kinh điển) cũng chỉ lần lựa qua ngày, tiếp tục trôi lăn trong
sanh tử.
Bây giờ hãy quán sơ về nỗi khổ
của chúng sanh trong lục đạo. Chúng sanh ở địa ngục bị hành hạ, thiêu đốt;
ngạ quỷ luôn luôn đói khát; súc sinh bị đánh đập, nuốt xé; loài người phải
sinh, già, bệnh, chết; A Tu La luôn luôn chiến tranh; loài trời thì đau
đớn và sợ hãi lúc mạng chung.
Tất cả những gì xảy đến với
chúng ta, dù đau khổ hay sung sướng cũng đều là đau khổ, vì nằm trong "khổ
khổ", "hành khổ" và "hoại khổ". Dù tái sanh làm Chuyển Luân Thánh Vương
(Cakravartin), Phạm Thiên (Brahma) hay Ðế thích (Indra), v.v..., cũng
không thể thoát khỏi ba cái khổ trên. Ý thức và tin chắc rằng sinh tử,
luân hồi chẳng khác chi ngục tù, hầm lửa, vực sâu, ta phải nhanh chân tìm
cầu ngay từ bây giờ một con đường giải thoát.
Có ba loại đau khổ: khổ khổ,
hành khổ và hoại khổ. Khổ khổ là sự đau khổ thông thường (khổ trong cái
khổ) như bịnh hoạn, già yếu, v.v... Có nhiều sự vật bên ngoài dường như
sung sướng, nhưng giây phút sau liền đem lại đau khổ: một bữa yến tiệc
linh đình có thể đem lại đau bụng hay bội thực, một phút khoái lạc nhục
dục có thể đem lại bệnh tật suốt đời. Ðây gọi là hành khổ, sự đau khổ của
biến chuyển bất thường.
Có một sự đau khổ luôn luôn
hiện hữu, tiềm tàng trong mọi vật mà người thường gần như không hay biết,
nhưng đối với các bậc Thánh (Aryas) đã có cái thấy thanh tịnh về tánh
Không thì lại thấy rõ ràng như ban ngày, đó là Hoại khổ. Tất cả sự vật
trên thế gian này đều do nhân duyên giả hợp mà có, đều đang bị tàn hoại
trong từng giây phút, từng sát na.
Sau khi quán chiếu như trên, ta
làm khởi lên sự nhàm chán đối với cuộc đời và phát tâm cầu giải thoát khỏi
đau khổ. Ðây là tâm nguyện của Tiểu thừa, và nếu phối hợp với sự thấu hiểu
về tánh Không (Vacuité) sẽ dẫn đến giải thoát hoàn toàn. Nếu muốn giải
thoát và cùng lúc đạt được nhất thiết trí (omniscience) thì ta phải tiến
xa hơn. Ngoài sự sanh tâm nhàm chán cuộc đời, ta cần phát khởi tâm Bồ Ðề.
Ý thức được tất cả chúng sinh trong luân hồi đều đang chịu đau khổ, mong
muốn được giải thoát, nên ta cần phải cố gắng đạt được Phật quả [1] để cứu
độ họ. Chính nhờ tâm nguyện này phối hợp với sự chứng ngộ Không tánh sẽ
dẫn đến Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Trên đây là bài dự bị tu tập
thứ bảy: quán chiếu về đau khổ của luân hồi và phát tâm Bồ
Ðề.
Chú thích:
[1] Các sách Âu Mỹ khi nói
đến sự chứng ngộ hay thành Phật thường dùng chữ Etat de Buddha, vì chứng
ngộ là một trạng thái tâm linh hơn là thể xác.
Ðược thân người là chuyện hy
hữu
Chúng ta tu hành, tụng kinh,
ngồi thiền được là nhờ có thân người quý báu. Tuy vậy đa số lại hờ hững
không để ý, thả trôi theo trụy lạc và lười biếng. Nếu ngày mai thần chết
đến, ta phải lìa bỏ xác thân ra đi với hai bàn tay trắng, lúc đó ta sẽ ra
sao? Phải biết, có được thân người là chuyện hy hữu, vì rất khó được mà
lại dễ mất. Do đó ta đừng phí phạm ngày giờ, hãy dành trọn cuộc đời vào sự
tu học và thiền quán. Quán chiếu như vậy thuộc bài dự bị tu tập thứ
tám.
Một thân người có đầy đủ lục
căn và nhân duyên để học và hành Phật pháp quả thật hiếm có và quý giá. Nó
là một dụng cụ dẫn ta đến giác ngộ và giải thoát, nhưng ngược lại, nếu
không cẩn thận, nó cũng có thể dẫn ta đầu thai ở những cảnh khổ. Tái sanh
được làm người như trên do nhờ đời trước đã tích tụ công đức và trí huệ,
nhất là giữ giới cũng như thành tâm cầu nguyện. Tôn giả Bình Thiên
(Santidéva) nói rằng: "Thân người rất khó được, chẳng khác chi việc một
con rùa mù sống dưới đáy biển, 100 năm mới trồi lên mặt nước một lần để
chui cổ vào một cái vòng vàng, mà gió thổi lênh đênh trên mặt biển". Trong
thí dụ trên, con rùa tượng trưng chúng sinh, mù là vô minh, ở dưới đáy
biển là sống trong ba đường khổ, trồi lên mặt biển là tái sinh, vòng vàng
tượng trưng cho thân người, gió thổi vòng trôi lênh đênh chính là gió
nghiệp.
Tính theo số lượng thì sự tái
sinh làm người cũng vô cùng khan hiếm. Trong Kinh sách thường nói số chúng
sinh ở địa ngục đông như số cát trong sa mạc, số ngạ quỷ như những hạt bụi
trong không khí, số thú vật như những ngôi sao trên trời ban đêm và số
loài người như những ngôi sao thấy được ban ngàỵ. Mặt khác, ta có thể kiểm
tra nhân số của một nước, nhưng không thể nào tính đếm được số thú vật,
côn trùng và vi trùng ở trong nước đó.
Ngoài ra, trong số dân chúng
trên địa cầu này, những người có lòng từ bi, quảng đại rất hiếm, và trong
số này những người có nhân duyên và khả năng tu tập Phật pháp lại ít hơn
một trăm ngàn lần. Do vậy, một khi đã có được thân người, đừng nên phí
phạm; cái chết luôn luôn đến quá sớm, quá bất ngờ. Ta đừng nên giống như
những người lái buôn ra biển tìm kho tàng, bảo vật mà lại trở về tay
không. Hãy từ bỏ những khoái lạc phù du, tinh tấn tu tập Phật pháp để sớm
đạt hạnh phúc tuyệt đối, vĩnh cửu.
Bốn điều
kiện cần thiết
Luôn luôn ghi nhớ trong tâm về
sự vô thường của cuộc đời và sanh tâm nhàm chán. Phải nương theo một vị Thầy giác ngộ. Ðây là điều
kiện chính yếu dẫn đến thành công. Dứt bỏ những thành kiến phân biệt về
tông phái. Tất cả giáo lý của các trường phái khác nhau chỉ là những
phương tiện thiện xảo, tùy theo căn cơ của chúng sinh, dẫn đến giác ngộ,
giải thoát. Do đó không nên khởi tâm nghi ngờ về pháp môn mình đang tu
tập.
Mặc dù thành tâm tinh tấn tu
tập nhưng không dính mắc vào hy vọng và lo âu như nghĩ rằng: "Nếu ta thiền
quán bây giờ, hoặc trong quá khứ hoặc tương lai, thì ta được phước, nếu
không thì thật xấu hổ, v.v...".
Chương II: Thiền định
Tư thế căn bản của thân và
tâm
Sự
tu tập chính yếu bao gồm hai phần: an trụ tâm hay Thiền Ðịnh (Samatha,
Shiné) và quán chiếu thâm sâu hay Thiền Quán (Vipasyana, Lhagtong).
Trước hết về Thiền Ðịnh, có nhiều phương thức tu tập để trụ tâm vào một
điểm (Samadhi, Ting Dzin). Nếu biết cách thì những chướng ngại và vọng
niệm sẽ không khởi lên nữa, nhờ đó ta có thể trực nghiệm được giòng tâm
thức nguyên thủy [1] và đi sâu vào Thiền Quán.
Hành giả ban đầu tu tập, ngồi xếp bằng theo tư thế kiết già (vajra) hoặc
bán già để tiết chế những nguồn nguyên lực [2] đi xuống. Ðể hướng dẫn
những luồng nguyên lực thuộc địa đại chảy vào sạn đạo trung ương [3] thì
phải giữ xương sống thẳng như cột trụ. Ðể đem những luồng nguyên lực thuộc
thủy đại trở về sạn đạo trung ương thì đ?t hai bàn tay phía dưới rún theo
ấn Ðại Ðịnh, và thả nhẹ hai vai về phía sau. Ðể điều khiển luồng thuộc hỏa
đại trở về trung ương thì giữ cổ thẳng và thu cằm vào như lưỡi câu. Ðể
hướng dẫn những luồng thuộc phong đại trở về trung ương thì giữ mắt khép
hờ một phần ba, chú vào một điểm dọc theo sống mũi. Môi và lưỡi để tự
nhiên, hoặc nếu được thì để lưỡi đụng ổ gà. Tư thế trên được gọi là tư thế
Vairocana.
Sự
định tâm hay an trụ tâm là một trạng thái an lạc phát khởi nhờ tâm an trụ
vào một điểm, sau khi hàng phục được 5 chướng ngại: tán loạn, hôn trầm,
nghi ngờ, mỏi mệt, mờ ám.
Có
nhiều cách tu tập: hoặc trú tâm vào một vật, một việc hoặc suy tư về giáo
lý như Tứ Diệu Ðế, nhưng vẫn không dính mắc vào "tà niệm". Tà niệm ở đây
là những ý nghĩ hoàn toàn không liên quan gì đến đề mục đang quán chiếu.
Không nên lầm nghĩ "vô niệm" là ngồi trơ không nghĩ gì hết, vô niệm có
nghĩa là vô tà niệm.
Theo giáo lý Mật tông (Tantra), tâm và những luồng nguyên lực liên quan
rất mật thiết. Nếu những luồng nguyên lực (prana, lung) trôi chảy đúng
đường thì tâm sẽ vắng lặng; nhưng nếu chúng chảy sai trệch thì vọng tưởng,
vọng niệm khởi lên loạn xạ. Những luồng này trôi chảy trong các ống dẫn
lực hay kinh lực (nadi, tsa); trong số đó có ba đường chính là đường kinh
giữa (sạn đạo trung ương), một ở bên phải và một ở bên trái, cả ba chạy
song song phía trước đường xương sống.
Thông thường, những luồng nguyên lực chỉ di chuyển trong hai đường kinh
phải và trái, do đó làm khơi dậy vọng niệm, ảo tưởng. Một khi những luồng
nguyên lực được điều khiển và hướng dẫn trở về sạn đạo trung ương thì mọi
vọng niệm tự dứt. Ngồi trong tư thế Vairocana không ngoài thực hiện mục
đích trên.
Có
nhiều cách phân loại sắp xếp các luồng nguyên lực. Theo sáu phép Du Già
của Naropa [4] thì có năm luồng nguyên lực: 1) luồng đi xuống, nhằm tống
khứ ra ngoài những uế trược qua hai đường đại tiểu tiện; 2) luồng đi lên,
điều khiển sự hấp thụ thức ăn, sự rung động của cổ họng và giọng nói; 3)
luồng tiếp giữ sức sống (sinh lực); 4) luồng điều hòa sự tiêu hóa; 5)
luồng chạy khắp châu thân, tàng ẩn trong mọi động tác.
Có
một cách phân loại khác được sắp xếp theo địa đại, thủy đại, hỏa đại,
phong đại và không đại.
Trong tập sách này, cả hai cách phân loại được phối hợp để chỉ dạy về tư
thế Vairocana và điều khiển những luồng nguyên lực.
Sau khi an trụ ở tư thế này, tâm bớt dính mắc vào giòng tư tưởng vọng
niệm, dần dần trạng thái vô khái niệm sẽ ảnh hiện. Ðể tránh sự căng thẳng
hay vận công quá mức, trước hết hãy thở ra vài hơi mạnh rồi sau đó chỉ cần
hít thở nhẹ nhàng tự nhiên.
Khi thở ra hãy quán tưởng như đang tống khứ tất cả phiền não và hắc nghiệp
ra ngoài. Sau đó, tập hít thở trong chánh niệm, và khi tâm trở lại vắng
lặng thì không cần chú tâm theo dõi hơi thở nữa.
Quán niệm hay nhớ lại sơ về các pháp dự bị tu tập, sau đó cắt đứt tất cả ý
niệm, không nghĩ gì về quá khứ, tương lai, không bám víu hoặc xua đuổi,
chỉ để tâm trong trạng thái trôi chảy tự nhiên, bây giờ và ở đây.
Trên đây là điểm thứ nhất: những tư thế căn bản của thân và tâm, nền tảng
quan trọng của Thiền Ðịnh, hành giả cần phải tinh tấn thực tập.
Chú thích:
[] Danh từ thông dụng
gọi là bổn tánh.
[2] Courants d’énergie: còn gọi là khí lực.
[3] Canal central d’énergie: kinh lực trung ương.
[4] Six Yogas de Naropa
Ðịnh tâm trên một hình sắc
Nếu không thể đem tâm trở về trạng thái tự nhiên và an trú trong đó thì
phải nương vào một vật bên ngoài để chú tâm như một khúc gỗ, hòn sỏi,
tượng Phật, ngọn lửa, v.v... những vật nào tự cảm thấy thích hợp. Không
cần suy nghĩ về màu sắc hay hình dáng của vật đó, chỉ cần chú ý giữ tâm an
trú vào vật trước mặt, không quá căng thẳng hay thả lỏng. Chặt đứt tất cả
tư tưởng ngoại biệt.
Nếu tâm quá căng thẳng sẽ cảm thấy lo âu và tức tối; nếu thả lỏng thì lại
bị hôn trầm và mờ ám. Ðiều tâm cũng giống như lên giây đàn, không căng mà
cũng không lỏng thì đàn mới kêu.
Cách thức chú tâm trên một hình sắc cũng tương tợ như việc quan sát một
hòn sỏi nằm dưới đáy ly nước đục. Hòn sỏi sẽ hiện rõ ràng sau khi tất cả
bùn nhơ lắng xuống đáy. Cũng vậy, khi những ý nghĩ không còn khởi lên
khuấy động, ta sẽ nhìn thấy rõ đối tượng hình sắc. Hãy tập nhìn hình sắc
như một đứa trẻ nhỏ, không bình luận hay suy nghĩ [1].
Nếu chú tâm mà không khởi ý nghĩ hay khái niệm thì tốt. Nhưng nếu chúng
khởi lên, chỉ cần nhận biết và không theo, vì chúng tự khởi tự diệt.
Khi một ý niệm khởi lên, nếu không sáng suốt nhận biết thì nó sẽ móc nối
làm khởi lên muôn vàn ý niệm khác gây chướng ngại cho sự tu tập. Những ý
niệm chỉ là trò chơi của tâm, tựa như những gợn sóng trên nước, chợt khởi
rồi tự tan biến.
Ta
có thể chú tâm vào những chủng tự OM màu trắng, AH đỏ và HUM xanh, viết để
trước mặt hoặc quán tưởng trong tâm. Ba chữ trên tượng trưng cho thân,
ngữ, ý của chư Phật.
Trong lúc tu tập, những ý niệm như "Ta đang thiền, ta không thiền, ta phải
làm cho tâm yên lặng, ...", đều phải dứt bỏ. Cần phải kiểm soát và điều
khiển tâm an trú vào đề mục. Hãy thực tập những khóa ngắn hạn nhưng thường
xuyên. Nhờ sự tập luyện này tâm sẽ trở về trạng thái sáng suốt, tĩnh lặng.
Ðây là điểm thứ hai của Thiền Ðịnh.
Chú thích:
[1] Bavardage ou commentaire mental: thông thường những vọng niệm trong
tâm thuộc 2 loại: suy nghĩ và ảo tưởng. Suy nghĩ còn được gọi là nói
chuyện trong tâm (bavardage mental). Ảo tưởng là những hình sắc tưởng
tượng hiện trong tâm (cinéma mental).
Những đối tượng
khác
Sau khi tập trung và định tâm được trên một đối tượng hình sắc, ta có thể
chuyển sang các đối tượng khác như: âm thanh, đối tượng của nhĩ thức; mùi
hương, đối tượng của tỷ thức; mùi vị, đối tượng của thiệt thức; sự xúc
chạm, đối tượng của thân thức. Bất cứ lúc nào tiếp xúc với trần cảnh, ta
cũng phải chú ý định tâm, ghi nhận một cách khách quan, không khởi phân
biệt khái niệm tốt, xấu, ưa, ghét, v.v...
Ở
trong hoàn cảnh nào ta cũng có thể tu tập được. Nếu nơi ngồi thiền bỗng có
người vặn nhạc, ta có thể trụ tâm vào sự nghe mà không cần khởi xét đoán
phân biệt xem đó là âm thanh gì. Về xúc chạm hay mùi vị cũng vậy.
Khi tâm đã được tập luyện thuần thục an trú vào đối tượng, ta nên ngưng
nghỉ buổi tập trong lúc tâm còn sáng suốt, như vậy sẽ tránh khỏi chán nản,
mệt mỏi. Trong thời gian ngưng tập ngoài các thời khóa ấn định, phải luôn
luôn giữ chánh niệm, dù đi đứng, nằm, ngồi hay nói, nín, động, tịnh; cắt
đứt những ý niệm suy tư, xì xào trong tâm. Ðây là điểm thứ ba của Thiền
Ðịnh.
Nếu muốn sự tu tập được dễ dàng, ta cần phải dứt bỏ việc đời. Nếu ôm nhiều
việc đời, tâm sẽ luôn luôn tính toán, rất khó điều trị, hoặc giả nếu ép
tâm thì nó sẽ chán nản, mệt mỏi và rơi vào hôn trầm.
Ðối trị hôn trầm và tán loạn
Muốn đối trị hôn trầm và tán loạn hãy quán tưởng ở ngay giữa trán một điểm
tròn nhỏ bằng hạt đậu, màu trắng, tỏa ánh sáng trong suốt và trụ tâm ở đó.
Ðôi khi quán tưởng một điểm nhỏ như trên màu đen, cũng tỏa ánh sáng nhưng
nằm phía dưới khoảng giữa hai đầu gối. Ðể đối trị hôn trầm, hãy chú tâm
vào điểm trắng, thân ngồi nơi thoáng khí, rộng rãi, lâu lâu có thể dùng
nước mát lau mặt. Nên mặt y phục nhẹ mỏng và ăn đồ dễ tiêu; không nên ngồi
chỗ nóng, gần lửa hoặc dưới mặt trời. Ngược lại nếu bị tán loạn, tâm dường
như chạy khắp nơi khắp chốn, thì phải quán tưởng và chú tâm vào điểm đen.
Thân nên ngồi chỗ nóng ấm, hay tập thể dục và ăn những đồ bổ, lâu tiêu.
Hôn trầm và tán loạn là những chướng ngại lớn nhất cho sự tu thiền. Hôn
trầm khiến cho hành giả không còn nhìn rõ đối tượng và trở nên đờ đẫn. Màu
trắng có công năng đối trị hôn trầm; ban đầu hành giả có thể dùng một
miếng vải trắng để trước mặt, và mỗi khi hôn trầm thì chú tâm vào đó. Mặt
khác, nếu ngồi dưới mặt trời hoặc nơi nóng bức sẽ dễ bị buồn ngủ, do đó
cần phải ngồi nơi mát mẻ và thoáng khí. Sự ảnh hưởng của thức ăn cũng quan
trọng không kém. Ăn những món nhẹ dễ tiêu sẽ giúp tâm trở nên nhẹ nhàng,
sáng suốt.
Tán loạn thì ngược lại, luôn luôn khích động và lôi kéo tâm ra khỏi đối
tượng quán chiếu. Chú tâm vào điểm đen phía dưới sẽ hãm tâm lại và màu đen
có công năng giảm sự kích thích của tâm. Bị tán loạn nhiều là do ảnh hưởng
của những luồng nguyên lực quá nhanh nhẹ, dùng thức ăn bổ và lâu tiêu sẽ
khiến những luồng này chảy chậm lại, nhờ đó tâm bớt phóng.
Muốn tu tập dễ dàng cần phải biết điều hòa cơ thể, vì giòng tâm thức nương
chảy trên những luồng nguyên lực qua các sạn đạo của thân vi tế [1]. Ðiều
hòa thân (thô kệch) cũng tức là điều hòa tâm.
Hãy nên ngừng nghỉ trong lúc tâm còn sáng suốt và sẽ tiếp tục lại sau. Nên
chia sự tu tập làm nhiều thời khóa ngắn nhưng đều đặn. Ðây là điểm thứ tư
của Thiền Ðịnh.
Chú thích:
[1] Corps subtil: theo Mật giáo, con người có 2 thân: thân thô kệch
(corps grossier) bằng thịt bằng xương, và thân vi tế (corps subtil) cấu
tạo bởi các kinh lực.
Thiền Ðịnh không sự tướng
Trong phần tu tập này hãy mở mắt nhìn thẳng vào khoảng trống hư không
trước mặt, không trụ tâm trên một đối tượng nào cả.
Hư
không cũng tương tợ như tánh của tâm, không lệ thuộc vào sự giả hợp của
nhân duyên. Quán chiếu hư không trước mặt là một phương pháp chuẩn bị để
quán chiếu thẳng vào tâm.
Pháp quán chiếu thẳng vào tâm không qua sự tướng rất thường trong Mật
tông, nó tập cho hành giả làm quen với trạng thái trung ấm (bardo) và trở
về với Pháp thân. Thiền quán không sự tướng không có nghĩa là làm cho tâm
trống rỗng, mơ mơ màng màng, như ngu như ngây. Ngược lại đó là một trạng
thái rất tỉnh thức, trong sáng và vắng lặng.
Không khởi tâm suy nghĩ về quá khứ, hiện tại hay vị lai. Hãy trụ trong
tĩnh lặng của "bây giờ và ở đây". Luôn tỉnh táo và chăm chú quán sát tâm
như đang xỏ một mũi kim nhỏ. Hảy xả bỏ mọi hy vọng và lo âu. Khi hoàn toàn
tỉnh thức vắng lặng thì những ý niệm cũng mất dạng. Thoảng như hơi thất
niệm xao lãng thì ý niệm sẽ tiếp nối nhau khởi lên tới tấp, gặp trường hợp
này hãy tập nhận diện và nhìn thẳng vào chúng khi chúng vừa khởi. Không
nên nghĩ "ta phải ngăn chặn chúng", hoặc "ta đã tiêu diệt chúng" v.v...
hãy ghi nhận chúng một cách khách quan không dính mắc và dùng ngay chúng
làm đối tượng quán sát. Cẩn thận giữ tâm không quá căng thẳng cung không
xao lãng. Ðây là điểm thứ năm.
Khi mới tu tập thiền, ta có cảm tưởng như các ý nghĩ khởi lên không ngớt.
Ðó chẳng qua vì ta bắt đầu quay trở vào trong, biết nhìn và ý thức được sự
hiện khởi của chúng.
Tâm và những ý niệm không phải là một cũng không phải hai. Nếu là một thì
không thể nào tu tập trở về bổn tâm và cùng lúc loại trừ ý niệm. Nếu là
hai (vật khác biệt) thì cái bàn, cái ghế cũng có thể khởi ý niệm được. Tâm
trong sáng ví như mặt gương, ý niệm ví như hình ảnh trong gương; hình ảnh
không phải là gương nhưng cũng không thể tách rời gương được.
Ý
niệm dấy khởi bắt nguồn từ sự lầm quên thực tánh của các pháp. Có nhiều
loại ý niệm hay vọng tưởng: thô và tế. Thí dụ, khi ta đang quán chiếu về
một cái ly, bỗng nhiên ý niệm "muốn uống trà" khởi lên thế rồi ta liền gọi
người đi pha trà cho ta. Ðó là ý niệm thô, vì nó dẫn ta hoàn toàn ra khỏi
đề mục. Những ý niệm như "đây là một cái ly, cái ly này bằng sành" hoặc
bất chợt chú ý đến một âm thanh thay vì định tâm vào cái ly; đây thuộc
loại vi tế. Phải luôn tỉnh thức nhận diện những ý niệm hiện khởi, ghi nhớ
chúng chỉ là trò huyễn (ảo đồ) của tâm như những hình ảnh trong gương,
không nên dính mắc, cứ để chúng tự khởi tự diệt.
Ðịnh tâm trên hơi thở
Còn một phương pháp khác, đó là trụ tâm vào hơi thở. Hãy điều phục hơi thở
theo cách "hít-thở-bình" (respiration-vase). Nếu không thể giử lâu cách
"hít-thở-bình" thì có thể "đếm-hơi-thở". Hít vào thở ra đếm một. Ban đầu
tập đếm tới 21 sau đó tăng dần đến 100. Cố gắng giữ chánh niệm trong suốt
thời gian hít thở.
Như đã nói ở phần trước, tâm liên hệ mật thiết với các luồng nguyên lực
hay khí lực. Hít thở một cách loạn động sẽ khiến ý niệm theo đó mà dấy
khởi. Hít thở một cách nhẹ nhàng đều đặn thì tâm cũng trở nên yên lặng.
Có
nhiều loại hít thở. Cách thông thường là hơi thở của một ngườI không bệnh
tật, không xúc động hay kích thích. Cách hít thở cỡ trung là hít vào, giữ
hơi lại một chút rồi thở ra. Cách hít-thở-bình là hít hơi vào, hóp những
cơ vòng (sphincter) và giữ hơi lại. Cách hít thở này cũng chia làm nhiều
loại: đại, tiểu, nội, ngoại. Ðại: giữ hơi giữa rún và cổ họng; tiểu: giữ
hơi ngay rún; nội: hít vào rồi giữ ở trong; ngoại: thở ra hết rồi nín hơi.
Thông thường cách hít-thở-bình có 4 đặc tính: 1) giữ hơi, 2) làm giản
những thớ gân ở bụng, 3) có thể khiến hơi khí thoát ra ngoài bằng những lỗ
chân lông hoặc trở vào sạn đạo trung ương, 4) sau khi giữ hơi thật lâu, có
thể tống luồng khí lực ra ngoài xuyên qua đường sạn đạo nơi đỉnh đầu.
Cách hít-thở-bình thuộc loại tu tập khó và nguy hiểm, chỉ được dạy sau khi
đã hoàn tất các pháp dự bị tu tập. Nếu không tu tập đứng đắn, những luồng
khí lực sẽ chạy loạn xạ, sanh ra tổn khí, tâm thần cáu kỉnh và có thể loạn
trí.
Khi hôn trầm và loạn tưởng kéo đến, hãy dùng phương pháp đối trị ở trên.
Nếu không thể định tâm được trên những đối tượng trình bày ở trước thì có
thể lựa một vật hay đề mục mà cảm thấy thích hợp. Vì căn cơ mỗi người
không đồng, có người sau khi nghe giảng hai, ba lần liền có thể an trụ
được tâm, có người lại không an trụ được tâm dù đã tu tập thiền định lâu
ngày. Ngoài ra cũng cần sự hướng dẫn của một vị Thầy từng trải kinh nghiệm
để giải tỏa những khúc mắc và chướng ngại khi tu tập. Tu tập đều đặn, ta
sẽ trải qua ba giai đoạn điều tâm. Giai đoạn thứ nhất, vọng tưởng hay ý
niệm thô khởi lên rất nhiều tựa như thác nước đổ. Giai đoạn thứ hai, vọng
niệm thô giảm dần, lâu lâu mới phát hiện nhưng ta nhận diện được ngay và
nó liền biến mất, ở đây tương tợ như giòng sông chảy mạnh. Giai đoạn sau
cùng, tất cả vọng niệm thô, tế đều tan biến và ta an trụ trong trạng thái
bất nhị, như sông nhập biển lớn. Ðến trạng thái này, tiếp tục gia công
không gián đoạn. Ðây là điểm thứ sáu.
Ðối trị bằng c
ăng
thẳng và
buông thả
Sau thời gian tu tập mà vẫn chưa đạt đến giai đoạn thứ ba, ta cần phải
dùng đến phương pháp làm cho tâm căng thẳng rồi thả lỏng và dung hòa cả
hai trạng thái. Ðể làm căng thẳng (khi tâm lơ là thất niệm) hãy ngồi thẳng
lưng, tư thế ngay ngắn, mở to mắt và nhìn hơi xa rồi chú tâm vào cảm giác
và tri giác. Tỉnh giác chăm chú như mèo rình chuột, không để cho tâm phóng
đi một giây phút. Hãy tập làm nhiều thời khóa ngắn. Nếu tâm quá căng
thẳng, hãy xả thiền, tập thể dục hay làm việc khác rồi sau đó tập trở lại.
Tiếp theo, không chú tâm vào vật gì nữa cả, hãy để nó tự nhiên thoải mái
trong trạng thái buông thả, không còn biết có một cái Ta hay những điều lo
âu. Cứ thế tự tâm sẽ trở về trạng thái vắng lặng của nó, không cần phải
làm gì thêm hay cố gắng cả. Hãy trụ trong bây giờ và ở đây. Ngoài việc này
ra chả còn gì để quán tưởng hay suy nghĩ cả. Nếu có thể hãy tăng thêm thời
gian tọa thiền.
Thoạt khi có những ý niệm hiện khởi, ta chỉ cần nhìn thẳng và nhận diện
chúng, không cần xua đuổi hay ghét bỏ. Dù tâm tĩnh lặng hay loạn niệm cũng
đừng khởi vui mừng hay chán nản.
Không thể đạt được trạng thái vô niệm bằng cách ngăn chặn hay đè nén ý
niệm. Chỉ cần chú ý nhận diện chúng, chúng sẽ tự diệt và trạng thái vô
niệm được hiển lộ. Ðây là điểm thứ bảy.
Chánh định
Sau đây là phần tăng trưởng trạng thái Ðịnh và nhận rõ bản tánh của tâm.
Theo định nghĩa, chánh định là một trạng thái trong đó tâm hoàn toàn vắng
lặng, không còn chút vọng động dù là ý nghĩ hay khái niệm, không còn hôn
trầm, tán loạn hay nghi ngờ. Trước đây phải khổ nhọc tu tập mới đạt đến,
nhưng nay trạng thái này được đạt đến một cách dễ dàng và ta cảm thấy an
nhiên tự tại tựa hồ không còn vướng bận vào gì nữa. Ngay cả lúc xả thiền,
dù đi hay đến trạng thái này vẫn thường trụ.
Tương tợ trường hợp của một con chim bồ câu, được thả tự do từ một chiếc
tàu trên biển cả, nó không làm gì khác hơn là, sau khi bay đảo nhiều vòng,
trở về đậu lại trên tàu. Cũng vậy, một khi đã đạt được chánh định, dù nói
năng hay hoạt động, tâm sẽ không làm gì khác hơn là trở về trạng thái vắng
lặng.
Dù
làm bất cứ việc gì đi nữa tâm vẫn luôn luôn vắng lặng, thoải mái, tỉnh
thức, chiếu soi và nhận diện tất cả các pháp nhưng hoàn toàn không dính
mắc vào chúng.
Luôn luôn giữ tâm vững chắc như núi Tu Di, trong sáng như mặt gương phản
chiếu mọi vật. Không nên nóng nảy hay tò mò vì sẽ làm khơi động các ý
niệm. Hãy tập tự chủ và để tư tưởng cùng các hình ảnh trôi chảy tự nhiên
mà không dính mắc vào chúng. Ngay cả khi đi trên đường, nếu có một vũ nữ
xuất hiện múa may ca hát, cũng không được hiếu kỳ để ý. Tự chủ và giữ được
tâm vắng lặng trong mọi hoàn cảnh, đó là biểu hiệu của chánh định.
Khi đạt đến trạng thái này, ta sẽ gặt hái được ba điều: sự an lạc, sáng
suốt và vô niệm. Từ đó có thể phát sanh nhiều loại thần thông như thiên
nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, v.v... Ðến trường hợp này cần phải đề cao cảnh
giác không được khởi tâm ưa thích tìm cầu hay dính mắc, vì chúng hoàn toàn
không có tự tánh. Dính mắc vào chúng sẽ là nhân trói buộc vào sinh tử luân
hồi.
Ba
kết quả: an lạc, sáng suốt và vô niệm là những trợ duyên cần thiết cho sự
Thiền Quán phát sanh trong toàn tánh Không của nó. Nếu dính mắc vào một
trong ba điều trên, không ý thức được sự giả hợp của chúng sẽ dẫn đến tái
sanh ở các cõi trời: Dục giới nếu ưa an lạc, Sắc giới nếu ưa sáng suốt, Vô
Sắc giới nếu ưa vô niệm.
Cần phải tu tập dưới sự hướng dẫn của một vị Thầy. Cả Thầy lẫn trò đều
không được lầm lẫn về phương pháp cũng như thành quả gặt hái trong tiến
trình tu tập Thiền Ðịnh. Ðiều quan trọng cần nhớ là không bao giờ để tâm
bị thu hút hay dính mắc vào dục vật, luôn luôn thành tâm biểu lộ sự tôn
trọng và kính mến vị Thầy của mình. Phát triển chí nguyện giác ngộ, cầu
giải thoát để cứu độ sáu loài chúng sinh. Trong mỗi thời đều tập trung tâm
ý không cho xao lãng.
Nguồn gốc của mọi thành tựu đều xuất phát từ sự tôn kính và lòng tin tưởng
vững chắc nơi vị Thầy (Lama) của mình. Phối hợp với chí nguyện tối thượng
của Bồ Ðề Tâm chắc chắn sẽ dẫn đến Phật quả. Vô thường có thể xảy đến bất
cứ giờ phút nào, không nên lập những dự án phù du như "năm tới ta sẽ mua
nhà, cưới vợ, sẽ có 3 con và sẽ dành cho chúng những phòng nhỏ, đẹp, và
... ", v.v... Hãy sống với hiện tại nhưng không rời mục đích giác ngộ. Nếu
dự định nhập thất 3 ngày hoặc 7 ngày hãy làm đến nơi đến chốn. Không nên
bỏ dở nửa chừng, vì đó chính là nguyên nhân của thất bại.
Không nên chạy theo những cám dỗ của cuộc đời, như nịnh hót bề trên để
được lợi dưỡng hoặc dựa uy thế để nhục mạ kẻ khác. Hãy noi gương Milarépa,
sống đời du phương, ẩn dật, không cần chủ tớ hầu hạ, xa lìa mọi dục lạc
thế gian.
Nếu tu tập tinh tấn đúng như pháp, chắc chắn sẽ gặt hái nhiều thành quả và
sự hiểu biết chân chánh. Ðây là điểm thứ tám (của sự tu tập chánh định).
Chương III: Thiền quán
Quán chiếu tâm an tịnh
Phần hai của sự tu tập (chính yếu) là Thiền Quán hay quán chiếu thâm sâu.
Cũng như trước, ta phải ngồi trong tư thế vững chắc (Kim Cang tọa), nhưng
lần này cách nhìn rất ư là quan trọng. Hai mắt không còn khép hờ, nửa nhắm
nửa mở, không được liếc ngó lung tung hay thay đổi điểm tựa. Ngược lại,
với sự tập trung sắc bén, mãnh liệt, ngó thẳng đằng trước, tầm mắt hướng
nhẹ lên khoảng trống hư không trước mặt.
Trong phần tu Thiền Ðịnh, tâm dần dần trở nên vắng lặng tựa như một tấm
gương sáng. Tiếp theo, với Thiền Quán, ta quán sát thể tánh của tấm gương
cùng những hình ảnh trên đó. Cách quán sát (tầm mắt) cũng thay đổi. Trong
lúc tu Thiền Ðịnh, hai mắt thả nhẹ và nhìn xuống phía trước. Nay tu Thiền
Quán, hai mắt chú ý nhìn kỹ hướng nhẹ lên trên phía trước mặt, điều này sẽ
khiến tâm tỉnh giác và bén nhạy.
Bây giờ hãy đặt tâm trong trạng thái yên tịnh, buông thả tự nhiên, không
khởi niệm hay ý thức về một cái "Ta", không lo nghĩ. Sau đó gia tăng từ từ
sự tập trung tâm ý khiến nó trở nên sáng suốt và bén nhạy.
Ðến đây bắt đầu quán sát kỹ lưỡng thể tánh của tâm trong lúc nó đang ở
trạng thái hoàn toàn vắng lặng. Thể tánh của tâm ra sao? Có hình tướng,
màu sắc hay kích thước không? Có khởi điểm, kết thúc hay tồn tại không? Nó
ở trong, ở ngoài hay ở đâu? Ngoài trạng thái an tịnh này ra, còn một ý
thức nào khác không? Chả còn gì khác hơn sự rỗng lặng không thể định nghĩa
chăng? Hoặc giả trong trạng thái an tịnh này, có một ý thức hay một "cái
biết" mặc dù không thể định nghĩa (là cái này hay cái kia) trong sáng,
thanh tịnh không thể diễn tả bằng lời (như một người câm không thể diễn tả
vị ngọt của đường)? Tánh của tâm an tịnh này phải chăng là một vùng u tối
vô tận? Hay một trạng thái sáng suốt bén nhạy?
Tất cả những nghi vấn quan trọng trên đều liên quan mật thiết đến cái mà
ta thường gọi là "bổn tánh" (nature primordiale) hay thực tánh của tâm.
Nhận ra được thực tánh của tâm (còn gọi là Phật tánh) đó là giác ngộ.
Ngược lại, nếu chìm đắm trong lầm lẫn, bao phủ bởi bóng tối và vô minh, đó
là luân hồi và tự tạo khổ đau.
Bởi vậy, khi vị Thầy (Lama) thăm hỏi về diễn tiến của sự tu tập, nếu ta
trả lời bằng khái niệm trí thức hoặc lập lại như một con vẹt những gì đã
được nghe như thuật ngữ Pháp thoại (kỳ quặc mà ta không hiểu nghĩa) hoặc
tệ hơn nữa, với tâm còn nô lệ tám tình đời [1] muốn làm cho Thầy mình kinh
ngạc, ta trả lời rằng đã chứng nghiệm được nhiều điều đặc biệt, kỳ bí mà
chính bản thân chưa hề đạt đến. Nếu trả lời như vậy, vô tình ta đã tự đắp
lên mắt một màn lưới đục và tự lừa dối mình mà thôi. Hơn nữa nếu đã thọ
giới thì ta lại phạm vào giới cố nói dối về sự chứng đắc (vọng ngôn). Do
đó, ta không nên bịa đặt hay tưởng tượng mà cần phải thành thật trình bày
những kinh nghiệm thực có trong lúc tu tập.
Không nên mắc cở hay ngại rằng kinh nghiệm của ta tồi tệ, không có gì đặc
sắc. Thí dụ sau khi quán sát tâm, nếu cảm thấy nó màu trắng, ta hãy thưa
thật như vậy. Có thể vị Thầy sẽ bảo ta nhìn kỹ lại xem nó có phải màu vàng
không? Sau một thời gian, nếu ta trở lại đáp rằng: "nó màu vàng", vị Thầy
sẽ trả lời ta: "Không, nó không vàng cũng không trắng". Qua sự thưa hỏi,
vấn đáp thành thật như trên, vị Thầy ấy sẽ hướng dẫn ta nhận ra thực Tánh
của tâm. Nếu tu tập hay quán chiếu một mình, nhiều khi bổn tánh có thể
hiện bày mà ta vẫn không hay biết. Do đó cần phải nương tựa một vị Thầy và
phải hết sức thành thật; nếu không, vị Thầy ấy cũng không thể giúp gì được
cho ta cả. Vấn đề quan trọng cần được ý thức ở đây là sự mong cầu giác
ngộ, giải thoát khổ đau của chính ta, chứ không phải là một trò giải trí.
Hãy chăm chú quán sát tâm. Sau đó ngưng một chút rồi trở lại quán sát
tiếp. Muốn cho sự quán sát được dễ dàng, ta cần để tâm an trụ trong trạng
thái tĩnh lặng, trong sáng tựa như bầu trời không một chút mây. Tiếp theo
chăm chú, dùng hết sức bình sinh nhìn kỹ xem tánh của tâm (nature de
l’esprit) ra sao? Ðây là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến sự nhận diện nó.
Thêm vào đó, vị Thầy cần phải thăm hỏi các đệ tử, hướng dẫn họ tùy theo cá
tính và trình độ. Nếu cần, vị Thầy có thể thúc giục hoặc lập lại nhiều lần
một câu hỏi để xem câu trả lời của đệ tử phải chăng do hiểu biết trí thức,
tưởng tưởng phù du hay trực nghiệm vững chắc. Về phần đệ tử, cũng phải
thành thật trình bày. Ðây là điểm thứ nhất của Thiền Quán: quán chiếu tâm
an tịnh.
Chú thích:
[1] Huit attitudes mondaines: Hán Việt thường dịch là "bát phong".
Quán chiếu tâm dao động
Muốn dứt tuyệt gốc rễ của vô minh, ta cần phải quán chiếu tiếp tâm dao
động hay giòng ý niệm (tư tưởng) và nhận ra thực tánh của nó. Bắt đầu
trong tư thế tĩnh tọa và hướng tầm mắt như ở phần trước. Sau đó điều khiển
tâm từ từ đến trạng thái an lạc, sáng suốt, vô niệm. Sau khi hoàn toàn an
trụ trong trạng thái này, hãy để cho một ý niệm tự khởi lên, nếu không có
thì cố ý khởi lên hoặc suy nghĩ về một vấn đề nào đó.
Khi một ý niệm bắt đầu khởi, hãy quán sát nó, xem nó có hình dáng màu sắc
không? Khởi lên từ đâu, tồn tại chỗ nào và tan biến ở đâu? Nó nằm ở trong
hay ở ngoài thân? Nếu ở trong thì phải chăng ở tim, gan, phổi hay đầu, óc,
v.v...? Dù ở trong hay ở ngoài, hãy quán sát xem nó tồn tại ra sao? Khởi
lên thế nào? Cứ thế mà quán chiếu.
Thể tánh của tâm dao động này ra sao? Có nguyên nhân hay không nguyên
nhân? Có khởi điểm, chấm dứt, màu sắc hay hình dáng không? Nếu có, nó ra
sao? Nếu ta cho rằng nó không thể được định nghĩa hay khái niệm như trên,
vậy làm sao hiểu được nó? Phải chăng nó là tri thức hay một tánh biết vô
thỉ vô chung? Khi quán chiếu về một ý niệm, ta có thấy rằng tất cả ý niệm
đều trống rỗng, không lệ thuộc vào hành uẫn, không đầu, không đuôi?
Sau khi một ý niệm tan biến, nó có để lại dấu vết nào không? Tất cả ý niệm
khởi lên, có thể nắm bắt và nhận định được không? Hãy quán chiếu. Nếu bảo
rằng không thể nhận định được, vậy khi tâm ý thức được một ý niệm đang
khởi, thử hỏi ý niệm đó có (hiện hữu) hay không?
Ta
có thể đặt vô số câu hỏi như trên. Thí dụ như: "Tôi gặp một người bạn hôm
qua". Ý niệm này từ đâu đến? Ðang ở đâu? Cấu tạo ra sao? Ý niệm này có
cùng một hình dáng với người bạn không? Hình dáng này có phải chính là bản
thân người bạn không? Khi ý niệm này trôi qua, nó có để lại dấu vết nào
không, hay giống như một chùm mây tan biến trên bầu trời? Nếu bảo rằng ý
niệm (về người bạn) vừa rồi không có thực chất và không thể tìm thấy, vậy
cái ý niệm vừa bảo (rằng ý niệm trước không có) đó có hay không có? Nếu
một người câm không thể diễn tả được ý nghĩ của họ, phải chăng họ không có
ý nghĩ?
Nếu đặt câu hỏi đối với một ý niệm như trên, ta có thể hỏi cho đến chết
cũng chưa hết. Khi bị quấy nhiễu bởi những tên ăn trộm, nếu ta bắt được
một tên và đem ra trừng phạt trước công chúng nhiều lần, chắc chắn những
tên còn lại sẽ không còn dám đến phá phách ta nữa. Ðối với ý niệm hay vọng
tưởng cũng vậy. Những câu hỏi kiên nhẫn và "hóc búa" [1] sẽ làm chúng giảm
sức mạnh, không dám bén mảng thường xuyên. Nếu có trở lại thì cũng yếu dần
và không còn làm phiền ta nhiều. Như thế dần dần ta mới có thể nhìn rõ
thực tánh của tâm và của các ý niệm.
Khi một ý niệm được khởi lên, tự nhiên hoặc cố ý, hãy quán sát nó một cách
khách quan, không ngăn cản cũng không dính mắc. Nếu có những cảm giác khổ
vui cùng phát sanh với nó, ta cũng quán sát như trên. Không cần đếm biết
có bao nhiêu ý niệm đã khởi, chỉ cần nhìn thẳng và quán sát chúng, không
tham dự hay gán thêm cho chúng những ý nghĩ tốt, xấu, v.v...
Khi thấy rằng tánh của những ý niệm là một cái biết trong sáng, lúc đó hãy
tìm lại và so sánh nó với cái biết trong sáng đạt được trong lúc tâm an
tịnh. Nếu không thấy khác biệt, lúc đó hãy ngưng mọi suy tư và trụ tâm vào
trạng thái sáng suốt, rỗng lặng. Ở trạng thái này, nếu bỗng nhiên có một ý
niệm khởi lên, hãy nhìn thẳng vào thực tánh của nó để thấy rằng nó không
có hiệu lực nào làm dao động cái tánh biết (sáng suốt, rỗng lặng) nguyên
thỉ.
Một ngọn sóng trồi lên, sụp xuống có làm rung chuyển đại dương không? Một
cụm mây có ngăn ngại được hư không chăng?
Hãy chăm chú quán chiếu để trực nghiệm thấy được những điều trên. Tóm lại,
khi vị Thầy và đệ tử cùng nhau đạt đến kết luận rút tỉa từ sự thấu hiểu
(sau khi quán chiếu) về các ý niệm hiện khởi nơi đệ tử, tức thì gốc rễ vô
minh bị cắt đứt và bổn tánh của tâm hiển lộ. Ðây là điểm thứ hai của Thiền
Quán.
Chú thích:
[1] Về ý niệm có thể chia làm hai loại:
1/ ngược dòng: đây là những ý niệm phân tách, tìm tòi nguyên nhân của
một việc, nó là một phần của trí huệ (thí dụ như những câu hỏi "hóc
búa") có công năng kéo tâm trở về gần bổn tánh hay thực tại.
2/ xuôi dòng (đời): đây là những ý niệm suy nghĩ tính toán chuyện thế
gian liên quan đến cái Ta (ngã) lôi dẫn hành giả ra khỏi đề mục quán
chiếu. Do đó được xem là vọng niệm.
Những ý niệm ngược dòng không hẳn là chánh niệm mà chỉ là phương tiện
thiện xảo đối trị vọng niệm, khai mở dần trí huệ, tương tựa như những công
án thiền.
Quán chiếu tâm chiếu soi cảnh
vật
Ðể
thấu hiểu tính bất khả phân chia giữa tâm và cảnh, ta phải tiếp tục quán
chiếu tâm khi nó chiếu soi cảnh vật (với một tri giác thuần túy). Ngồi
trong tư thế tĩnh tọa như ở phần trước, tập trung tâm ý hướng mắt về một
vật như: bình hoa, bức tranh hay bất cứ hình sắc nào đặt phía trước mặt.
Hãy nhìn một cách kỹ lưỡng, sau đó giảm dần cường độ, rồi lại gia tăng.
Tương tựa như thế, ta có thể chú tâm vào một tiếng động, một âm thanh đối
tượng của nhĩ thức, quán chiếu xem tánh của một âm thanh êm dịu và khó
chịu là một hay khác? Quán chiếu âm thanh giọng nói của chính mình và của
người khác, v.v... Cứ thế, quán chiếu đối tượng của 5 căn, tức 5 trần:
sắc, thanh, hương, vị, xúc.
Khi tâm tiếp xúc chiếu soi cảnh vật, tâm và cảnh là một hay hai thực thể
biệt lập? Cảnh vật đi từ bên ngoài vào tâm hay tâm (năng chiếu) phóng ra
đến cảnh vật và nghĩ rằng: "Ta sẽ chiếu soi chúng"? Thật ra tâm và cảnh
không thể tách rời (giống như mặt gương và hình ảnh trong gương).
Hãy quán sát tánh biết (nhận thức) khi nó tiếp xúc với 5 trần. Nhìn kỹ xem
có sự khác biệt nào giữa tánh biết (tâm) và 5 trần (cảnh) không? Khi nhìn
một vật, vật ấy phải hoàn toàn hiện hữu bên ngoài?
Khi ta nhắm mắt, vật kia có mất không? Khi ta lấy hai tay che mắt, cảnh
vật bên ngoài trở thành u tối chăng?
Nếu trả lời là không, tức đương nhiên công nhận tâm và vật là một, không
khác. Nếu bảo tâm và vật là hai và vật thực sự có (hiện hữu) bên ngoài,
vậy cái tâm hay biết (vật đó) ở đâu? Nó nằm ở trong hay ở ngoài vật? Hãy
cẩn thận, quán chiếu kỹ lưỡng.
Tiếp theo, ta quán chiếu về thân và tâm xem là một hay khác. Thân do tứ
đại giả hợp, vô thường sinh diệt, còn tâm thì tự tánh bất sinh bất diệt,
vô thỉ vô chung, làm sao có thể là một được? Nếu bảo là khác thì phải nhận
định và tách rời được đâu là thân, đâu là tâm. Nhưng tâm không phải một
vật mà ta có thể xác định được vị trí của nó. Nó không hẳn nằm ở phía trên
hay phía dưới thân thể, mà nó nằm ở khắp châu thân. Nếu không như vậy, làm
sao có thể biết được rằng ta đau nhức ở đâu?
Thân và tâm liên hệ nhau như năng và sở (như tách trà và trà được chứa).
Nếu bảo rằng thân ở ngoài, tâm ở trong như hai vật cách biệt, vậy khi xảy
đến một cảm giác thì cái nào hay biết? Nếu bảo thân hay biết thì xác chết
kia (không còn tâm) cũng phải hay biết chứ! Nếu bảo tâm hay biết tức thân
và tâm không thể là hai vật hoàn toàn khác biệt.
Mặt khác, tâm là vật vô hình tướng, không thể giết hại hay đánh đập, vậy
khi thân bị kim chích, sao tâm cũng biết đau? Phải chăng nếu chích vào
thân, ta cũng chích luôn tâm? Hãy quán chiếu kỹ lưỡng trước khi kết luận.
Cần biết rằng thân và tâm không phải là một cũng không phải khác. Trên
phương diện tương đối thì chúng tựa như đồ chứa và vật bị chứa, nhưng
tuyệt đối thì chúng không phải là hai thực thể hiện hữu riêng biệt.
Tương tựa như thế, ta cần hiểu rõ sự liên quan giữa cảm giác và tâm chẳng
khác gì sóng và nước. Tiếp tục quán chiếu như vậy cho đến khi nào thấu
hiểu hoàn toàn về bổn tánh của thực tại. Ðây là điểm thứ ba của Thiền
Quán.
Quán chiếu cùng lúc tâm an tịnh và tâm dao
động
Hãy đặt tâm trở lại trạng thái trong sáng, rỗng lặng, và quán sát tánh của
nó. Sau đó khởi lên một ý niệm và cũng quán sát tánh của nó. Nhìn kỹ xem
hai tánh này là một hay khác? Nếu bảo là khác thì khác chỗ nào? Tâm an
tịnh và tâm dao động xuất hiện cùng một lúc hay luân phiên nhau, cái này
trước, cái kia sau? Tâm an tịnh có giống như một cánh đồng trong đó tâm
dao động khởi lên như những cây lúa chăng? Hoặc giả cả hai đều giống nhau
tựa như một cuộn dây và những sợi chỉ dệt nên nó? Khi tâm an tịnh, không
mảy may vọng niệm, nó có di chuyển không? Khi tâm dao động (khởi niệm), nó
có cùng lúc an tịnh không? Chắc chắn phải có sự khác biệt giữa hai tâm, vì
tâm dao động hay suy nghĩ, khái niệm sự vật, trong khi đó tâm an tịnh lại
không mảy may vọng động, rỗng lặng như như. Nhưng nếu cho rằng hai tâm này
tánh khác nhau, vậy khác nhau ở màu sắc, hình dáng chăng? Khác nhau ở
sinh, trụ, diệt hoặc ở quá khứ, hiện tại, vị lai, hoặc ở thường, vô
thường? Hãy quán chiếu kỹ lưỡng xem sự khác biệt nằm ở đâu?
Kiên nhẫn tu tập, quán chiếu về sinh khởi của ý niệm, ta sẽ hiểu tánh của
tâm an tịnh và tâm dao động chỉ là một, nó thay phiên nhau hiện khởi. Khi
tâm đứng lặng thì không có gì di động; khi tâm di động thì không có gì
đứng yên cả, như nước và sóng. Hiểu rõ tánh không hai của tâm, đó là đã
giác ngộ được một phần nhỏ.
Tâm tựa như một tấm gương sáng, luôn luôn chiếu soi dù có hay không có
cảnh vật.
Từ
nay mỗi lần thiền quán, ta phải quán chiếu tiếp tục những ý niệm, xem nó
có phải là một phần của "tánh rỗng lặng" [1], hay nó tan biến rồi nhường
chỗ lại cho "tánh rỗng lặng"?
Nói một cách khác, phải chăng khi mặt trời ló rạng, ta mở cửa sổ, tức thì
bóng tối tan hoà vào ánh sáng? hay bóng tối chạy đi nơi khác nhường chỗ
lại cho ánh sáng?
Hoặc giả chính ý niệm tự thân nó cũng là rỗng lặng? Nếu cho rằng một trong
hai giả thuyết trên là đúng, ta phải thành khẩn tham vấn vị Thầy cầu gia
hộ, và sau đó trở về cố gắng quán chiếu một lần nữa để thấu hiểu thế nào
là thực tánh của các pháp.
Cách thức quán chiếu (thực) tánh của tâm có thể chia làm 3 loại tùy theo
căn tánh của hành giả:
1) Tu tập Thiền Quán trước rồi đến Thiền Ðịnh.
2) Tu tập cùng lúc Thiền Quán và Thiền Ðịnh.
3) Tu tập Thiền Ðịnh trước rồi đến Thiền Quán
Loại 1) và 2) thường thích hợp với người nghiệp nhẹ, căn tánh lanh lợi.
Người căn tánh trung bình nên tu tập theo loại 3) với sự chỉ dẫn thứ tự
mạch lạc như đã trình bày ở các chương trước.
Hãy tinh tấn tu tập, không nên giải đãi, tăng trưởng lòng tin và kính
trọng đối với vị Thầy. Củng cố sự tập trung tâm ý không để xao lãng, không
mong cầu cũng không lo sợ.
Nếu cố gắng tu tập quán chiếu tâm (cộng thêm chí nguyện Bồ Ðề), chắc chắn
sẽ trực ngộ nhanh chóng tánh giác nguyên thỉ (bổn tánh). Ðến đây, hãy dứt
bặt các ý niệm nghi vấn về tâm an tịnh và tâm dao động. Ðây là điểm thứ
tư.
Chú thích:
[1] Vacuité thường được dịch là tánh Không, nhưng ở đây tôi dịch là
"tánh rỗng lặng" vì tánh Không trừu tượng và hay gây nhiều hiểu lầm
Nhận ra tánh của tâm an tịnh
Thực ra vị Thầy không cần ra tay chỉ bày, nếu ta tinh tấn tu tập y theo
những lời chỉ dẫn ở trước, thì bổn tánh sẽ hiển lộ tự nhiên. Song le có
nhiều người dù tinh tấn vẫn không thể nhận ra. Lại có một số khác, chưa
bao giờ đạt được kinh nghiệm trực tiếp, nhưng nhờ đọc sách nghe Kinh, có
được sự hiểu biết khái niệm, lại bày đặt dùng những thuật ngữ, Pháp ngữ
diễn tả bổn tánh. Do đó vị Thầy cần phải có khả năng nhận định căn tánh
của đệ tử, và đệ tử cũng phải luôn thành thật với Thầy.
Sau khi xem xét quán chiếu tâm, ta sẽ thâu thập được nhiều kinh nghiệm
khác nhau, nhưng không biết đâu là phải hay trái. Ở trường hợp này, địa vị
của Thầy trở nên quan trọng, qua nhiều phản ứng cùng chất vấn, vị Thầy ấy
sẽ hướng ta đến gần bổn tánh bằng cách xác định những điều ta thấy là kinh
nghiệm trực ngộ hay chỉ là mường tượng. Ðây gọi là khai thị, hay đúng hơn
là giúp ta nhận ra.
Sau đây là cách thứ nhất giúp cho những người sơ cơ nhận ra bổn tánh (của
tâm):
Sau khi điều tâm trở về trạng thái an tịnh, hãy nhìn thẳng vào tánh của
nó. Ðó là một vầng ánh sáng (hào quang) trong suốt và linh động, không
phải là hư vô. Trong trạng thái này có một cái biết trong sáng, rộng tỏa,
êm dịu, thông suốt, không thể định nghĩa được. Không thể nói đó là cái này
hay cái kia, màu này hay dáng nọ, v.v... cũng không thể diễn tả bằng lời
được. Dù không thể định nghĩa hay diễn tả, cái biết nguyên thỉ, thanh tịnh
chiếu soi rõ ràng mọi vật không ngăn ngại, vẫn hiển lộ sờ sờ trước mặt.
Cái biết này không phải là một cái gì trước kia không thấy nay mới thấy,
trước kia không kinh nghiệm, nay mới kinh nghiệm, hoặc trước không biết
nay mới biết.
Nó
luôn luôn có mặt vì tánh của tâm là thường hằng.
Thêm nữa ta phải ý thức chắc chắn rằng nó không thể định nghĩa hay khái
niệm được. Nếu chỉ có một sự hiểu biết trí thức, văn tự, hào nhoáng cho
rằng bổn tánh là một trạng thái trong suốt, tĩnh lặng thì sẽ không bao giờ
đạt được tiến bộ nào cả. Ngược lại nếu thực sự đạt đến kinh nghiệm này qua
thiền tập, đó là ta đã thấy được tánh của tâm an tịnh. Ngoài sự tu tập
Thiền Quán, không còn cách nào khác để trực nhận được tánh này. Nếu vị
Thầy giảng nói quá sớm (trước khi ta thực sự chứng nghiệm), ta sẽ dính mắc
vào hiểu biết khái niệm chết cứng và dần dần sẽ chán nản. Dù cố gắng giảng
giải đi nữa, điều đó cũng chỉ làm hại cho ta mà thôi. Vì lý do này, vị
Thầy không nên giảng nói về tánh (của tâm) trước khi kinh nghiệm của đệ tử
chín mùi.
Nếu chưa cắt đứt được giòng tư tưởng, ý niệm, ta sẽ không thấy được tánh
(của tâm an tịnh). Nếu không thấy được, làm sao ta có thể biết nó ra sao?
Chưa nhận ra được nó thì vẫn chưa thực sự bước vào con đường giác ngộ.
Trong lúc Thiền Quán, nếu có những kinh nghiệm chán nản xảy đến thì phải
kiên nhẫn gia tăng sức quán chiếu.
Nói một cách khác, khi có cảm giác đau đớn, khó chịu, không nên than khóc,
phải nhìn thẳng vào cái tâm đang cảm thọ sự đau đớn. Nhờ sự gia tăng chú ý
này, các vọng niệm khác sẽ dứt bặt.
Giảng dạy những cách thức tu tập như trên gọi là truyền khẩu. Khi ta hiểu
được toàn bộ cách thức tu tập thì cuộc truyền khẩu được xem như chấm dứt.
Sau đó ta có thể tự tu tập dễ dàng, khai triển kinh nghiệm quán chiếu. Tuy
nhiên nếu muốn biết chắc đã trực ngộ đuợc tánh cùng xóa tan mọi nghi ngờ,
ta vẫn cần sự ấn chứng và chỉ đạo của vị Thầy.
Một cách tổng quát, tu thiền bao gồm hai điều thiết yếu: Thiền Ðịnh và
Thiền Quán. Thiền Ðịnh là đưa tâm trở về trụ trong trạng thái bổn nhiên,
êm dịu trong sáng, các ý niệm đều tiêu tan (ngay khi chúng vừa phát khởi).
Tâm không còn phóng chạy bừa bãi theo ý niệm vật chất thế gian nữa, nó
hoàn toàn an lạc, tất cả vọng tưởng dường như chìm vào giấc ngủ vùi. Lúc
này ta hoàn toàn tự chủ, có thể tùy ý kéo dài hay thâu ngắn trạng thái này
và nhiều khi có cảm giác như không còn hô hấp nữa. Ðây chính là dấu hiệu
thành tựu Thiền Ðịnh.
Những giây phút trực nghiệm về an lạc, sáng suốt và vô niệm này rất quan
trọng. Tuy không hẳn là thực tánh (vì chưa phối hợp với Thiền Quán) nhưng
thiếu chúng, ta không có thể tiếp tục được. Tinh tấn tu tập, khai triển an
trụ trong Thiền Ðịnh, không để rơi vào hôn trầm, tán loạn, dần dần ta sẽ
nhận ra được thế nào là tánh của tâm. Nó vừa rỗng lặng, vừa trong sáng,
vượt khỏi mọi khái niệm ý thức. Nó hiển lộ tự nhiên, như như, nguồn gốc
của tất cả pháp lành. Nếu chưa nhận được nó tức còn vô minh và trôi lăn
trong sanh tử. Nhận được nó thì gọi là trí huệ, Căn Bản trí, Niết Bàn,
tánh giác, bổn tánh, Thanh Quang [1], v.v...
Nhận ra thực tánh của tâm, đó là Niết bàn, nếu không thì trôi lăn trong
sanh tử. Thực ra tánh của sanh tử và Niết bàn là một, nhưng khác nhau ở
chỗ là ta đã giác ngộ hay chưa mà thôi.
Khi được vị Thầy khai thị thấy được tánh (của Tâm) rồi, ta sẽ có cảm tưởng
như gặp lại một người bạn thân đã quen biết từ lâu. Sự kiện này còn được
gọi là nhận ra (lại) tánh (của Tâm). Tánh của Tâm không phải là cái gì đạt
được do sự thông minh của người đệ tử hay tài diễn thuyết khéo léo của vị
Thầy.
Tâm có mặt từ đời vô thỉ, nhưng vì bất giác vọng niệm dấy khởi che lấp bổn
tánh làm ta quên hẳn nó. Ngày nay nhờ chặt đứt giòng ý niệm trở về nhìn
thẳng vào Tâm, nên ta nhận lại được bổn tánh. Sau khi nhận ra rồi, phải
tiếp tục tinh tấn tu tập không xao lãng. Quán chiếu thâm sâu tâm an tịnh
và nhận ra bổn tánh được xem là sự khai thị đầu tiên (của vị Thầy) . Hãy
ghi khắc vào tâm và tinh tấn thiền tập không ngơi nghỉ. Ðây là điểm thứ
năm (của Thiền Quán): nhận ra tánh (của tâm an tịnh).
Chú thích:
[1] Claire lumière. Trong Mật giáo Tây Tạng thường dùng những danh từ
như Thanh Quang (Claire lumière mère), Tử Quang (Claire lumière fille)
để nói về kiến tánh.
Nhận ra tánh của tâm dao động
Ðiểm thứ hai của Thiền Quán (tức quán chiếu tâm dao động) có công năng
chặt đứt gốc rễ của vô minh. Ở những chương trước đã trình bày hai cách
thức: 1) quán chiếu tâm vô niệm hay an tịnh, và 2) quán chiếu tâm dao động
hay suy nghĩ.
Về
cách thứ nhất, sau khi quán chiếu tâm an tịnh, trong sáng vô niệm, không
hôn trầm tán loạn, ta thấu triệt được tánh của nó không sanh, không diệt,
nhưng ta không hề khởi nghĩ (khái niệm) rằng: "tánh này không sanh, không
diệt, không hình, không sắc". Thực hiện như vậy gọi là quán chiếu thâm sâu
tâm vô niệm.
Dính mắc vào trạng thái vô niệm của tâm chính là mắc vào lỗi khái niệm hóa
tánh không sinh, vì đã biến nó thành một "vật" (pháp).
Về
cách thứ hai, tương tựa như trên, nếu bảo rằng tánh của tất cả ý niệm vọng
tưởng là Không, không sinh, không diệt, đó là đã ghép tánh Không vào văn
tự và rơi vào chấp đoạn, cho rằng các pháp không có (hiện hữu). Thực tế đó
là một sự linh động hằng chuyển, không lưu lại dấu vết; tánh của nó chưa
hề sanh, cũng không bao giờ diệt, vượt khỏi mọi định nghiã, khái niệm.
Hiểu rõ điều này, đó là đã có được một chút chánh kiến. Sau đó phải tiếp
tục quán chiếu để nhận ra điều trên một cách trực tiếp chứ không phải khởi
niệm suy nghĩ: "Tánh của nó bất sinh, bất diệt, v.v...". Không nên phân
biệt thủ xả giữa hai tánh rỗng lặng và linh động của những ý niệm, phải
trực ngộ rằng chúng sinh khởi và tiêu diệt cùng một lúc (giống như vẽ hình
trên nước). Thêm nữa, ta phải thấy rõ rằng không có một sự khác biệt nào
giữa tánh của tâm và vật, giữa tâm an tịnh và tâm dao động, giữa tâm quá
khứ và hiện tại, v.v... Tất cả đồng một tánh sáng suốt, rỗng lặng (rỗng
sáng).
Khi ta làm khởi lên một ý niệm (để quán chiếu) hoặc khi nó tan biến, đó
không phải là nó được khởi lên rồi lại trở về tánh rỗng sáng mà ngay khi
đang khởi, chính nó vẫn là tánh rỗng sáng. Hiểu và đích thân trực nghiệm
điều này, gọi là nhận ra tánh (của những ý niệm).
Tâm an tịnh, tâm dao động và ý niệm, cả ba đều sáng suốt, rỗng lặng, linh
động như nhau. Nếu bảo là khác biệt thì đó là suy luận của người chưa tập
quán chiếu.
Trước kia, chưa nhận ra được thực tánh của ý niệm nên ta rất khó chịu muốn
xua đuổi chúng trong lúc thiền tập. Ðó là vô minh. Nhưng nay đã nhận được
tánh rồi, ta có thể quán chiếu thẳng vào ý niệm (lấy đó làm đối tượng).
Trước kia, những ý niệm vẩn đục che lấp mất tự tánh. Nhưng từ nay chúng
trở thành sáng suốt: ta có thể nhìn rõ ràng xuyên qua chúng.
Quán chiếu về ý niệm sinh khởi được xem như cao hơn một bậc đối với sự
quán chiếu về trạng thái vô niệm. Bất cứ ý niệm nào khởi lên ta cũng ghi
nhận khách quan. Khi không còn vọng niệm, hãy an trụ trong vô niệm không
cần cố ý làm nó dấy khởi. Nếu bất chợt nó dấy khởi, ta cũng an trụ trong
trạng thái dao động, không cần xua đuổi hay dập tắt nó. Tất cả ý niệm
không là gì khác hơn là tâm. Cái tâm vắng lặng tự nhiên này chính là Pháp
thân tự tánh sáng suốt rỗng lặng, trong đó không có gì cần phải khởi hay
diệt. Ðạt đến cái thấy này, cái thấy thâm sâu về thực tánh của ý niệm, đó
là nhận ra được Pháp thân.
Ta
cần chứng nghiệm rằng tất cả ý niệm đều là tánh rỗng sáng, vừa khởi vừa
diệt cùng lúc, giống như in dấu tay trên mặt nước. Từ lúc khởi đến khi
diệt không có một sát na tồn tại nào, cũng không có một khoảng cách nào
giữa hai ý niệm khác nhau, đây chính là cái gọi là "vắng lặng tự nhiên",
còn có nghĩa là "tự tan biến lấy".
Tóm lại, ta phải nhận diện tất cả những ý niệm phát sanh, tập trung tâm ý
nhìn thẳng vào tánh của chúng và cứ thế tăng trưởng sức quán chiếu. Ðây là
điều khai thị thực sự thứ hai (của vị Thầy) về bổn tánh (của tâm). Trực
ngộ (nhận ra) được bổn tánh như vậy chưa phải là xong, ta phải tiếp tục tu
tập tinh tấn củng cố sự trực ngộ này. Ðây là điểm thứ sáu.
Nhận ra tánh của tâm chiếu soi cảnh vật và tâm liên hệ với thân
Ðiều khai thị thứ ba nhằm giúp ta nhận ra tánh của tâm năng chiếu, hay
đúng hơn là tánh bất nhị (không thể tách rời) giữa tâm và cảnh vật. Ở
những phần trước ta đã quán chiếu thấy rằng cảnh vật (5 trần) không hẳn là
những gì thực sự hiện hữu bên ngoài và tâm năng chiếu không phải là một
cũng không phải khác. Tuy nhiên ta không được khởi tâm suy nghĩ (khái
niệm) rằng chúng không phải một cũng không phải khác.
Cũng vậy thân và tâm không phải một cũng không phải hai. Không thể tách
rời được tánh sáng suốt ra khỏi tánh rỗng lặng, tánh năng khởi (diệu hữu)
ra khỏi tánh rỗng lặng (chơn không).
Tương tựa như bóng trăng dưới nước. Nếu bảo là một, vậy khi lấy tay che
nước, sao bóng trăng không còn. Nếu bảo là hai thì phải có thể tách rời
bóng trăng ra khỏi mặt nước chứ?
Ngoài ra tất cả cảm giác như nóng, lạnh, v.v... cũng đều là hình ảnh (ảo
tưởng); vì chưa giác ngộ được thể tánh chơn không, diệu hữu của chúng nên
ta dính mắc vào, cho rằng chúng có thực bên ngoài.
Trong giấc mơ ta thấy mình có thân, chung quanh có đầy cảnh vật, tất cả
đều hiện rõ ràng như có thật. Nhưng khi thức giấc, ta liền hiểu rõ chúng
chỉ là những hình ảnh phát xuất từ tâm và cùng lúc trở lại làm đối tượng
thấy của tâm. Không có một hiện hữu hay thực chất nào mà ta có thể chỉ
định rằng đây là "thân tôi", v.v... Cũng vậy, tất cả cảnh vật cùng kinh
nghiệm sống chết của cuộc đời, mà ta (do lầm tưởng) cho là hiện hữu cụ
thể, đều trống rỗng (không thực sự hiện hữu như vậy).
Tất cả hình ảnh, cảnh vật đều phát xuất từ tâm. Nếu nghĩ ma quỷ có thật,
chắc chắn ta sẽ thấy nó. Nếu không tin là có thì sẽ không bao giờ thấy.
Một ngày nọ, Milarépa [1] đang thiền định trong một hang động, bỗng nhiên
để ý thấy có lỗ nhỏ trên vách đá, liền tự hỏi không biết trong đó có hồn
ma nào ở không? Khi ý nghĩ nầy vừa khởi xong, tức thì một con quỷ cái
(ngáo ộp) hiện ra hỏi: "Tại sao ngài lại gọi tôi? Nếu muốn tôi đi thì hãy
lắng tâm ngài xuống". Tương tựa như thế, vì ta lầm lẫn nghĩ rằng cảnh vật
đều hiện hữu như những vật có thật, cụ thể "ở bên ngoài", nên ta "tin"
rằng chúng thực sự hiện hữu như vậy. Tất cả hình ảnh, cảnh vật đều là bóng
dáng ảnh chiếu của tâm, trống rỗng không có tự hữu, không phải là những
vật hữu chất có thật "ở bên ngoài". Có nhiều vị Thầy lớn (grands Lamas)
khi đến Bồ Ðề đạo tràng (Bodhgaya)_ bỗng nhiên thấy nơi đây chẳng khác gì
thiên đàng và dân chúng xung quanh như chư thiên. Nhưng cũng cùng nơi đây,
một người ăn xin đói khát lại thấy như đang ở địa ngục. Mỗi người cảm
nghiệm một thực tại khác nhau. Thí dụ khác, với một ly nước: chúng sanh ở
địa ngục thấy đó là nước đồng sôi, quỷ đói thấy là máu mủ, cá thấy là nhà
ở, người thấy là nước, chư thiên thấy là rượu tiên. Tất cả sự thấy ở trên
chỉ là hình ảnh phát xuất từ tâm và phản chiếu trở lại tâm, thế nhưng dưới
mắt ta, chúng lại ảnh hiện rõ ràng như thực có "ở bên ngoài" vậy.
Bất cứ hình ảnh nào xuất hiện trước mắt (ngón tay ta chẳng hạn), hãy tập
trung tâm ý quan sát nó vài phút. Sau đó nới lỏng sự chú ý. Ban đầu những
nét nhỏ còn hiện rõ nhưng sau một lát hình ảnh trước mắt mờ dần và ta cảm
thấy nhàm chán không muốn tiếp tục nhìn lâu hơn nữa, hoặc hai mắt mệt mỏi
bắt đầu chảy nước mắt. Nhưng nếu tập trung tâm ý nhìn trở lại thì hình ảnh
đó lại hiện rõ ràng. Ðến đây cần nhận thức rằng tâm (ta) và hình ảnh (đi,
đến từ tâm) không phải hai vật có thể tách rời. Những hình ảnh (đối tượng
của thức) sở kiến và thức năng kiến, cả hai đều là sự phát hiện của ảo
giác. Một khi phát hiện thì không thể nào tách rời được; hình ảnh xuất
hiện vì chúng là ảo giác của tâm, và như vậy tâm cũng chính là hình ảnh.
Ngoài điều này ra, không có một cảnh vật hay hình ảnh nào có thể được xem
là hiện hữu tự tánh, độc lập ngoài tâm cả.
Trước kia vì vô minh chấp trước cho rằng các pháp thực có nên không thể
thấy được đi?u này. Ngày nay nhờ chặt đứt giòng tâm thức hay khái niệm
chấp trước (biến kế chấp) nên nhận ra được tánh của tâm năng chiếu, năng
khởi, không còn bám víu vào cảnh vật vì thấy chúng trống rỗng và trong
sáng chẳng khác chi ánh sáng của Pháp thân.
Hãy an trụ trong thực tánh của hiện tại. Không cần tìm cầu an lạc, tánh
Không hay Bát Nhã. Không dính mắc quá khứ, không tưởng đến tương lai cũng
không suy nghĩ hiện tại. Không thiền quán bằng khái niệm ý thức. Hãy buông
thả tất cả, an trụ tâm trong trạng thái tự nhiên, ngay bây giờ và ở đây.
An trụ trong tánh bất nhị của chân không và diệu hữu, của an lạc và rỗng
lặng, của không và thức. Khi hiểu được tánh bất nhị giữa không và có -
cảnh vật tuy ảnh hiện rõ ràng nhưng không thể nắm bắt - đó là đạt được cái
thấy thâm sâu về tánh của tâm năng chiếu. Tiếp tục tu tập trưởng dưỡng
trạng thái này, chắc chắn sẽ gặt hái được kết quả bất khả tư nghì.
Nhận ra tánh của tâm năng chiếu (cảnh vật) là sự khai thị thứ ba (của vị
Thầy) và cũng là điểm thứ bảy của Thiền Quán.
Chú thích:
[1] Một đại hành giả Du Già Tây Tạng, cũng là nhị Tổ của phái áo vải
(Kagyupa) nổi tiếng là đã đạt được giác ngộ (hoàn toàn) ngay trong một
đời, nhờ sự tu hành khổ hạnh, tinh tấn trên vùng tuyết lạnh của Hy Mã
Lạp Sơn.
Nhận ra cùng lúc tánh của tâm an tịnh và tâm
n
ăng
khởi
Khi quán chiếu về tâm an tịnh và tâm dao động (ở những chương trước), ta
đã hiểu được sự xuất hiện, cấu tạo của những ý niệm và biết tâm an tịnh
với tâm dao động không phải là hai tâm (khác biệt). Khi tâm an tịnh thì nó
không dao động, và khi dao động thì nó không an tịnh. Tác nhân và tánh của
hai trạng thái trên chính là một tâm rỗng lặng, sáng suốt.
Không phải sự phát hiện của một ý niệm cho ra tánh rỗng sáng, cũng không
phải, khi ý niệm này diệt, nó trở về tánh rỗng sáng. Ngay khi đang khởi nó
vẫn là tánh rỗng sáng. Thấy được điều này tức là hiểu được tánh thường trụ
của tâm.
Khi biết tất cả hình ảnh, cảnh vật không gì khác hơn là những dấy động của
tâm, như sóng trên nước, không hiện hữu thực sự, gọi là nhận ra cảnh vật
chính là tâm (không khác).
Khi quán chiếu thấy rõ tánh của tâm không đến, không đi, không tồn tại
cũng không thể nắm bắt (như vật trong mơ) đây gọi là nhận ra tánh Không
(thực) rỗng lặng của tâm.
Tâm mà ta cần nhận ra, đó là "tánh biết", tác nhân ý niệm của các pháp
hiện hữu, năng giác và năng khởi, hợp thể của rỗng lặng và sáng suốt, còn
gọi là Ðại Lạc (grande béatitude) hay Ðại Thủ Ấn (Mahamudra) con ấn lớn
của Không tánh. Khi nhận ra được nó thì gọi là trí huệ của Ðại Thủ Ấn. Hãy
an trụ trong tánh biết rỗng sáng này, không xao lãng, mong cầu hay lo
lắng. Chính trong giờ phút này, bây giờ và ở đây, ta đang thưởng thức ngắm
nhìn Ðại Thủ Ấn.
Lúc này Thiền Quán được phối hợp (song tu) với Thiền Ðịnh, những kinh
nghiệm giác ngộ sẽ xảy đến một cách tự nhiên và đây mới thực sự bắt đầu
bước chân trên con đường giải thoát.
Hiện thể của tâm là rỗng lặng, đặc tính của tâm là sáng suốt, cả hai hợp
lại chính là bổn tánh của tâm. Có rất nhiều danh từ được dùng để gọi tánh
này như: tinh yếu của Ðại bổn thức, thường trụ tánh của các pháp, bạch
tịnh thức, pháp tánh, Niết Bàn, Phật tánh, Bát Nhã, nhất thiết trí, Không
tánh bất diệt, v.v...
Vì
các pháp không thể có ngoài tâm nên gọi là Duy Tâm (Cittamatra). Vì không
thuộc nhị biên nên gọi là Trung Quán (Madhyamika). Vì nó rất khó hiểu, khó
lãnh hội nên gọi là Mật giáo (Tantra). Vì nó phá tan mọi vọng tưởng nên
gọi là Kim Cang thừa (Vajrayana). Vì nó nhận ra Phật tánh nên gọi là Pháp
thân (Dharmakaya).
Hãy dùng chiếc bè kết bằng tin tưởng và thành kính (đối với vị Thầy) để
vượt qua biển sanh tử, luôn luôn cầu nguyện ơn trên gia hộ và không bao
giờ nghĩ rằng những gì ta đạt được là đầy đủ rồi tự mãn. Hãy tin chắc rằng
những ân huệ hay phước lành đến với ta đều bắt nguồn từ vị Thầy.
Khi tánh sáng suốt thanh tịnh được nhận ra, không còn bị ngăn che, hiển lộ
một cách tự nhiên, đó là đạt được Ðại Thủ Ấn căn (căn bản). Tiếp tục quán
chiếu thực tánh của tâm, gọi là Ðại Thủ Ấn đạo (con đường). Chứng đạt (trở
về) hoàn toàn bổn tánh một cách chắc chắn, gọi là Ðại Thủ Ấn quả. Với tâm
an vui tự tại, chúng ta hãy y theo mà tu tập.
Từ
nay sự có mặt của ta trở nên đầy ý nghĩa. Ta đã thực sự đặt chân trên con
đường giải thoát, xa lìa vĩnh viễn sinh tử. Do đó hãy vui mừng, tiếp tục
tinh tấn tu tập.
Sau khi quán chiếu tâm an tịnh và tâm dao động, sau khi được khai thị thấy
được thực tánh, nhận ra hình ảnh, cảnh vật chính là tâm (không khác), chợt
khởi chợt biến, không tánh (rỗng lặng). Ðây gọi là Ðại Thủ Ấn, khai lộ dẫn
đến Pháp thân. Hãy tinh tấn tu tập cho đến ngày thành tựu đạo quả, không
nên ngừng bước nửa đường để nó trở thành một sự hiểu biết trí thức (vô
bổ). Ðây là điểm thứ tám của Thiền Quán.
Vài lời về cách trình bày
Phần chính của tập sách này, nói về Thiền Ðịnh và Thiền Quán, đến đây coi
như chấm dứt. Ban đầu, tập trung tâm ý vào sự quán tìm bổn tánh, sau đó
dần dần sẽ nhận ra nó, tùy theo sự phát hiện thứ lớp của kinh nghiệm thiền
tập. Ðây là những điều kiện, nguyên nhân tương quan tương duyên không thể
tách rời. Có nhiều tập sách khác, trong sự khai thị được trình bày theo sự
hiểu biết của mỗi người. Riêng về tập sách này, tôi đã trình bày sự khai
thị theo bốn cách quán chiếu, rút tỉa từ những kinh nghiệm tu tập thực
chất. Mỗi hành giả cần phải thấu hiểu và áp dụng tùy theo sự tiến bộ cũng
như chứng đạt của mình. Nếu được khai thị ngay từ đầu về tánh của tâm
(trước khi chín muồi), ta sẽ sinh chán nản. Nếu chán nản thì kinh nghiệm
và chánh kiến rất khó phát triển, in sâu vào tâm khảm. Ðể tránh trường hợp
(nguy hiểm) này, tôi đã trình bày theo thứ lớp.
Chương IV: Kết luận
Lợi ích của Ðại Thủ Ấn
và Thập Ðịa Bồ Tát
Trước tiên nói về lợi ích của các pháp dự bị tu tập, nền tảng của con
đường giác ngộ và sự tái sanh trong nhàn cảnh.
Quán chiếu về sự may mắn có được thân người (đầy đủ lục căn) cũng như về
cái chết và vô thường sẽ kéo ta ra khỏi những cám dỗ của cuộc đời. Suy
nghĩ về nghiệp báo và luật nhân quả giúp ta thấy rõ đâu là thiện ác và như
vậy ta sẽ cố gắng giữ giới thanh tịnh. Quán sát về đau khổ luân hồi giúp
ta nhàm chán ba cõi. Có nhàm chán thì chí nguyện giải thoát mới kiên cố.
Thiền quán về tình thương, từ bi khiến Bồ Ðề Tâm tăng trưởng, cầu thành
Phật độ khắp chúng sanh.
Tu
tập Kim Cang quán, năng trì chú 100 chủng tự, sẽ gặt hái được nhiều điềm
báo ứng bên ngoài hoặc trong chiêm bao, chứng nhận rằng nghiệp chướng đã
tạo trong quá khứ được tiêu trừ. Cúng dường Mạn Ðà La, thân thể trở nên
nhẹ nhàng, tâm thần sáng suốt, muốn ít, biết đủ, tích tụ công đức không
thể tính đếm. Thiền quán Bổn Sư Du Già làm tăng trưởng lòng tin kính vị
Thầy (Lama), nhờ đó sẽ cảm nhận được sự gia hộ giúp ta khai triển kinh
nghiệm chánh kiến và Thiền Ðịnh. Sự tu tập có đứng đắn và tiến bộ hay
không đều tùy thuộc vào lòng tin kính đối với vị Thầy.
Về
phần tu tập chính yếu, lợi ích của Thiền Ðịnh giúp ta khai triển, chứng
đạt ba đặc tính: an lạc, sáng suốt và vô niệm. Lòng ham muốn về vật chất
(quần áo, thức ăn, v.v...) giảm dần. Có thể đắc nhiều loại thần thông và
ngũ nhãn.
Những ý niệm vi tế, tán loạn bị
mờ dần dưới ánh sáng của định lực, tựa như những ngôi sao dưới ánh sáng
mặt trời.
Ngũ nhãn gồm: 1) Nhục nhãn, thấy được cảnh vật ở xa trước mắt, 2) Thiên
nhãn, thấy được sự tái sinh trong quá khứ, vị lai, 3) Huệ nhãn, thấy rõ,
trực nhận được Không tánh, 4) Pháp nhãn, thấy được căn tánh của mỗi chúng
sanh cùng giáo pháp thích ứng để độ họ, 5) Phật nhãn, thấy rõ tất cả các
pháp, tức nhất thiết chủng trí.
Về
Thiền Quán, kết quả lợi ích thâu thập được tùy thuộc vào căn tánh của hành
giả. Với hàng thượng căn thì Thiền Quán giúp họ trực chỉ, trực đáo Bồ Ðề.
Hàng trung căn thì có lúc đi thẳng một mạch có lúc lại đi theo thứ tự.
Hàng hạ căn thì tiến bước từ từ theo thứ tự sơ phát tâm cho đến Thập Ðịa
Bồ Tát, tùy theo cách phát triển 12 (4 lần 3) phép quán Du Già (Yoga).
Năm con đường (ngũ đạo) [1] và mười cảnh giới (Thập Ðịa) của Bồ Tát dẫn
đến Chánh Giác (Phật quả) có thể được chia theo nhiều cách, hoặc chứng đạt
với nhiều phương thức khác nhau. Các phương thức tổng quát được tìm thấy ở
các trường phái Phật giáo cổ Ấn và Tạng mật. Theo ngài Gampopa trong "Ngọc
báu trang nghiêm giải thoát" thì hệ thống trên được chia làm 13 giai đoạn:
giai đoạn (sơ) phát tâm, giai đoạn thành khẩn mong cầu, 10 giai đoạn Thập
Ðịa Bồ Tát và Phật Ðịa. Trong trường phái "Ðại Thành Tựu" (Maha-Ati,
Dzogtchen) lại chia theo cách khác, nhưng ở đây theo Ðại Thủ Ấn, ngũ đạo
và Thập Ðịa được chia theo 12 pháp Du Già. Dù được phân chia khác nhau
nhưng nền tảng căn bản và kết quả chứng đắc vẫn là một.
(Thông thường, khi đắc định, tức đạt được trạng thái an tịnh tâm), ta có
thể tùy ý trụ trong trạng thái an lạc, sáng suốt, vô niệm bất cứ lúc nào.
Tuy vậy, có nhiều lúc 3 trạng thái trên không xảy đến trong khi Thiền Ðịnh
và ngược lại, khi không cố ý Thiền Ðịnh thì nó lại xảy đến. Ta chưa hoàn
toàn làm chủ được sự "tập trung vào một điểm". Ðây là trình độ sơ cấp của
Thiền Ðịnh. Nếu ta đạt được tâm an tịnh, không bị xao lãng bởi ngoại duyên
và bất cứ lúc nào Thiền Ðịnh, 3 trạng thái trên cũng đều hiện khởi. Làm
chủ được sự "tập trung vào một điểm", đây là trình độ trung cấp của Thiền
Ðịnh.
An
trú tập trung không gián đoạn, không xao lãng, ngay cả trong trường hợp
khẩn cấp, ý niệm vẫn bình lặng, trong tất cả các thời, hành vi, cử động và
ngay trong giấc ngủ, tâm vẫn an trú không rời trạng thái an lạc, sáng
suốt, vô niệm, đây là trình độ thượng cấp của Thiền Ðịnh.
Ðến đây ta có thể nghĩ rằng mình đã đạt được "Không-Thiền" [2] hoặc chứng
ngộ. Nhưng đây chỉ có nghĩa là ta đã chứng đạt Thiền Ðịnh mà thôi, chưa
phải thực sự thấu hiểu tánh Không (hay kiến tánh, nói theo danh từ Thiền
tông). Những trạng thái Thiền Ðịnh ở trên được xem như thuộc hai con đường
Tích Tụ và Chuẩn Bị. Vì chưa thấu hiểu hoàn toàn Tánh của tâm nên trạng
thái (trống rỗng) mà ta đạt được chỉ là một đặc tính của Thiền Ðịnh. Cần
phải tiếp tục tu tập lâu dài, xa lìa mọi bám víu thủ xả, dần dần những
trạng thái trên sẽ trở thành thanh tịnh. Tất cả khái niệm dư hưởng về an
lạc, sáng suốt, và vô niệm đều tan vỡ, tiêu hoại (vì trạng thái này hiện
khởi và tan biến cùng lúc trong từng sát na), nhờ đó ta thấy được thực tại
(tối hậu) của tánh Không. Nói theo cách khác, khi sự bám víu vào 3 trạng
thái trên (cho rằng chúng có thật) được hóa giải bằng vô-khái-niệm, đưa
tâm vào trạng thái Không-an-lạc, Không-sáng-suốt, Không-vô-niệm, thì lúc
đó thực tánh của tâm được hiển lộ một cách thanh tịnh, tựa như trái cây đã
được lột vỏ, kho tàng được mở nắp.
Ðang đói thấy được trái cây đã là mừng, nhưng chưa ăn được. Muốn ăn phải
lột vỏ. Vỏ ở đây chỉ sự bám víu vào 3 trạng thái an lạc cho rằng chúng
thực có. Khi vỏ được lột, thì thực chất bên trong trái cây mới hoàn toàn
hiển lộ, tức thực tánh rỗng lặng (vide) của tâm, thường được tạm khái niệm
hóa bằng sự an lạc, sáng suốt và vô niệm, tuy rỗng chất nhưng vẫn khởi
diệt từng sát na.
Ðến đây ta đã bước vào con đường thứ ba (kiến tánh), còn được gọi là trung
đạo bất nhị. Tuy nhiên nếu chưa hoàn toàn dứt bỏ thói quen hay khái niệm
(đóng khung) tánh Không, hoặc chỉ thấy vài lần bổn tánh thì ta mới ở trình
độ sơ cấp. Sau khi thanh lọc, tâm trở nên trong suốt, không còn quán chiếu
một cách khái niệm nữa, đây là trình độ trung cấp. Khi trạng thái này trở
nên vững chắc, không còn khái niệm về tâm và vật thì ta đạt được "Không
kiến" thấy tất cả các pháp đều rỗng lặng. Chặt đứt mọi phân biệt cân nhắc
về Không tánh của các pháp bên ngoài lẫn bên trong, đây là trình độ thượng
cấp. Trong thời gian này, mọi cảnh vật đều ảnh hiện như ảo ảnh, dương diệm
(mirage). Trên con đường (thứ 3) kiến tánh này, ta chứng ngộ được thực
tánh của Bồ Ðề Tâm và gột sạch 82 kiến hoặc; không còn tái sinh trong 3
cõi, trừ khi bởi nguyện lực (muốn trở lại hóa độ chúng sanh). Tới đây là
hoàn thành con đường kiến tánh hay Sơ Ðịa của Bồ Tát, "Hoan Hỷ Ðịa". Tiếp
tục tu tập, ta tiến đến giai đoạn "Ðộc vị" (một vị duy nhất).
Ở
bước đầu giai đoạn này, ta vẫn còn gặp vài khó khăn để trụ trong "bây giờ
và ở đây". Ðến khi những khó khăn này được vượt qua thì dù đã hay chưa
thoát khỏi sự chi phối của ý niệm hiện khởi [3], dù các pháp có hay không
có, chỉ cần nhớ và nhận lại tánh của (trạng thái) "bây giờ và ở đây". Thấu
hiểu được thực tánh các pháp, ta sẽ thấy tất cả đều cùng một vị (rỗng
lặng).
Trên đây là trình độ sơ cấp của "Ðộc vị", kinh nghiệm độc vị giữa cảnh vật
và Không tánh chưa hoàn toàn, vẫn còn một chút dính mắc vọng tưởng.
Vọng tưởng là: cho "bây giờ và ở đây" là một pháp.
Khi vọng tưởng này được thanh lọc, tánh của pháp đều tan hoà thành một vị
duy nhất, luân hồi và giải thoát, sinh tử và Niết Bàn cũng vậy. Ðây là
trình độ trung cấp của "Ðộc vị". Tiếp theo, cái vị duy nhất này luôn luôn
ảnh hiện xuyên qua mọi vật, đây là trình độ thượng cấp của "Ðộc vị".
Ðến đây ta đã chứng ngộ hoàn toàn sự hiện khởi không thực của các pháp.
Con đường này bắt đầu từ Nhị Ðịa cho đến Thất Ðịa (theo vài luận sư thì nó
bao gồm cả Bát Ðịa), thuộc con đường Thiền Quán.
Trong hệ thống của Ðại Thủ Ấn, có nhiều cách phân chia 12 phép Du Già.
Theo tài liệu, bút tích của Kontrul Rinpoché đệ III, cách định nghĩa có vẻ
đơn giản hơn:
Trong giai đoạn tập trung tâm ý của Thiền Ðịnh, ở sơ cấp, 3 trạng thái an
lạc xuất hiện lần lượt, lúc không lúc có. Ở trung cấp, 3 trạng thái này
xuất hiện tự nhiên và ở thượng cấp thì chúng tan hòa vào Thanh Quang, ngay
cả trong giấc ngủ.
Trong giai đoạn sơ cấp của Kiến Tánh, ta thấy được tâm không sanh, không
diệt, không trụ. Ở trung cấp, ta không còn bám víu vào tánh Không cùng
cảnh vật. Ở thượng cấp, ta hoàn toàn dứt lìa khái niệm phân biệt về các
pháp hiện hữu.
Trong giai đoạn Ðộc vị, ở sơ cấp những hiện tượng (trước đây được xem như
tự hữu) đều tan hòa vào tánh Không (rỗng lặng). Ở trung cấp, tâm và cảnh
tựa như nước hòa với nước. Ở thượng cấp, ta thoáng thấy được sự hiện khởi
của ngũ trí [4] (xuất phát từ Ðộc vị).
Những phân chia, định nghĩa ở trên không nên được xem là chống trái, vì nó
được thiết lập từ những kinh nghiệm thiền tập cá nhân của chư Tổ.
Trước đây ngoài thời gian thiền tập, trong tâm vẫn còn lưu lại vài vết
dính mắc vào tánh Không. Nhưng nay, trạng thái trong lúc thiền tập và
ngoài giờ thiền tập vẫn như như không khác, tất cả đều được bao trùm trong
một khối rỗng lặng, thanh tịnh, trong đó không còn gì để chứng đạt cũng
không còn ai chứng đắc, không còn một chút khác biệt giữa xao lãng hay
không xao lãng. Hoàn toàn thoát ly khỏi mọi đối đãi nhị nguyên giữa năng
quán và sở quán, đây là giai đoạn sơ cấp của Không Thiền, hay Bát Ðịa Bồ
Tát.
Ở
mức này, có thể lâu lâu trong giấc ngủ, vài dấu vết vi tế dính mắc (năng,
sở) vẫn còn hiện khởi. Khi những dấu vết trên được tẩy sạch và các pháp
hiển hiện như như trong trạng thái đại định của Căn Bản Trí [5], đó là
giai đoạn trung cấp của Không Thiền, hay Cửu Ðịa của Thập Ðịa Bồ Tát.
Tiếp theo, khi lưỡi kiếm của Phân Biệt Trí và Căn Bản Trí vung lên chặt
đứt tận gốc những lậu hoặc tột cùng vi tế (nguyên nhân của vô minh) thì
Mẫu Quang, toàn khối thanh tịnh rỗng lặng và Tử Quang, trí huệ nguyên thủy
trong như gương [6], tương hòa nhập một. Ðây là sự toàn giác của một đức
Phật, còn gọi là thượng cấp của Không Thiền hay Phật quả.
Tánh thanh tịnh tự nhiên của trạng thái nguyên thủy, kết quả của sự hợp
nhất (giữa toàn khối rỗng lặng và Ðại Viên Cảnh Trí) chính là Pháp thân
(Dharmakaya) mà ta đã làm hiển lộ trên hành trình từ Bát Ðịa đến Phật quả.
Thân của Phật có thể được nhìn duới 2 khía cạnh: Pháp thân và Sắc thân
[7]. Pháp thân là kết quả của sự toàn thắng phiền não vô minh, tự tánh nó
cụ túc. Sắc thân là kết quả của sự thành tựu tất cả hạnh lành và xuất phát
từ Bồ Ðề Tâm (Bodhicitta) để hóa độ chúng sinh. Pháp thân bất sinh, bất
diệt là tánh thường hằng bất biến, thanh tịnh của tâm và mọi hiện tượng.
Tánh thanh tịnh của những ý niệm chính là Báo thân (Sambhogakaya) mà ta đã
làm hiển lộ.
Có
nhiều định nghĩa về Báo thân, nhưng theo kinh tạng thì Báo thân có 5 đặc
tính sau:
Về
1) sắc tướng: luôn luôn đầy đủ 112 dấu hiệu chính [8] và phụ của một đức
Phật; 2) giáo lý: giảng dạy Ðại Thủ Ấn; 3) đệ tử: gồm chư Ðại Bồ Tát; 4)
địa vức: chỉ xuất hiện ở các cõi Tịnh Ðộ; 5) thời gian: trụ cho đến tận
cùng của luân hồi.
Ðại Bồ Tát là những người, nuôi dưỡng và thúc đẩy bởi Bồ Ðề Tâm, có được
sự chứng ngộ thanh tịnh, không khái niệm về Không tánh. Do đó cõi nước,
địa phương của các ngài trở thành tịnh độ, cảnh giới của chư Phật. Ngoài
chư Ðại Bồ Tát, không có chúng sinh nào khác có thể trực nhận được tánh
thanh tịnh của ý niệm.
Tánh thanh tịnh của cảnh vật chính là Hóa thân (Nirmanakaya) mà ta đã làm
hiển lộ.
Nếu mặt đất toàn bằng lưu ly mà không được lau chùi, bóng của vua Trời Ðế
Thích cũng không ảnh hiện được. Tương tựa như vậy, nếu tâm của chúng sanh
không trong sạch, dù đức Phật có hiện ra trước mặt, họ cũng không nhìn
thấy. Ðối với chúng sanh căn tánh thông thường, Hóa thân Phật xuất hiện
như một hiện tượng bị chi phối bởi luật nhân duyên và có thể sắp xếp thành
3 hạng. Hóa thân thượng, như Thích Ca Mâu Ni Phật, đầy đủ 32 tướng tốt, 80
vẻ đẹp, thực hiện 12 việc: xuống từ cung trời Ðấu Suất (Tushita), sinh
trong hoàng tộc, tinh thông võ nghệ, xuất gia, tu khổ hạnh, giác ngộ dưới
cây Bồ Ðề, chuyển pháp luân, v.v... Nếu không đầy đủ phước đức và tâm
thanh tịnh thì ta sẽ chỉ nhìn thấy nơi Thích Ca Mâu Ni Phật, một người to
lớn với đôi tai dài mà thôi. Nếu đầy đủ tâm thanh tịnh thì vị Thầy (Lama)
cũng chẳng khác chi đức Phật. Hóa thân trung thường xuất hiện dưới hình
thức nghệ sĩ, bác sĩ, nhạc sĩ, v.v... Hóa thân hạ xuất hiện dưới hình thức
thú vật như voi, khỉ, chim, v.v... để hóa độ chúng sanh.
Tất cả hạnh lành phát xuất từ tam thân Phật để hóa độ chúng sanh, vượt
ngoài sức tưởng tượng của phàm nhân. Chúng sanh vô biên thì sự hóa độ cũng
vô cùng như hư không, cho đến ngày không còn một ai trong luân hồi nữa.
Trên đây là những lợi ích của các pháp dự bị tu tập và của tất cả tiến
trình tu tập cho tới mức Không Thiền.
Chú thích:
[1] Ngũ đạo: 5 con đường. Mật giáo thường chia tiến trình tu tập thành 5
giai đoạn: Tích Tụ (accumulation), Chuẩn Bị (préparation), Kiến Tánh
(vision), Thiền Quán (méditation), Không Thiền (non-méditation).
[2] Non-méditation: dịch là Không Thiền. Trong tất cả các thời, đi,
đứng, nằm, ngồi, hành động tạo tác, tâm đều an trú trong Thiền Ðịnh,
không còn hạn cuộc vào các thời khóa công phu thiền tọa. Trong Thiền
tông gọi là không thiền mà thiền, thiền mà không thiền
[3] Tuy thấy Tánh nhưng chưa hoàn toàn thoát khỏi sự chi phối của những
ý niệm hiện khởi.
[4] Tây Tạng thường nói đến Ngũ Trí thay vì Tứ Trí. Theo Shamar Rinpoché
trong quyển "Les deux visages de l’esprit", Ngũ Trí gồm: Ðại Viên Cảnh
Trí (sagesse semblable au miroir), Bình Ðẳng Tánh Trí (sagesse de
l’identité), Diệu Quang Sát Trí (sagesse de la simultanéité), Thành Sở
Tác Trí (sagesse tout accomplissant), và Pháp Giới Trí (sagesse du
Dharmadhatu).
[5] Kinh sách Tây Tạng thường phân chia 2 loại trí huệ: 1) Phân Biệt
Trí, connaissance discriminante (shérab) là trí huệ của Không tánh, thấy
rõ đâu là chân đế, tục đế. Còn gọi là trí Bát Nhã. 2) Căn Bản Trí
(yéshé) là trí huệ của bất nhị tánh, dung thông nhị đế.
[6] Sagesse primordiale semblable au miroir
[7]Sắc thân bao gồm Báo thân và Hóa thân.
[8] 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp.
Ðịnh nghĩa cuối cùng
Tột cùng mà nói, mỗi người chúng ta, từ đời vô thỉ, đã có một tánh, thường
được gọi là bổn tánh (của tâm), thực tánh của các Pháp hay Ðại Thủ Ấn, và
tánh này không khác với cái tánh đạt được sau khi hoàn toàn giác ngộ.
Ðại Thủ Ấn căn là cái mà tất cả chúng sanh đều có, nó là nền tảng trên đó
hành giả bắt đầu mọi sự tu tập thiền quán. Sau khi nhận ra thực tánh của
tâm, tiếp tục cho đến Thập Ðịa Bồ Tát, gọi là Ðại Thủ Ấn đạo. Sau cùng,
khi hoàn toàn tỉnh thức thoát khỏi giấc ngủ triền miên của vô minh, tánh
thanh tịnh tối hậu của thực tại được chứng đạt, gọi là Ðại Thủ Ấn quả.
Ðại Thủ Ấn căn, đạo và quả tương quan tương duyên, không thể hiện hữu
riêng biệt, giống như trường hợp của một em bé, người lớn và ông lão. Ta
không thể nào là một ông lão nếu chưa bao giờ đã là một em bé hay người
lớn. Cũng vậy Ðại Thủ Ấn quả tự nhiên đến, sau khi trải qua Ðại Thủ Ấn căn
và đạo.
Thấy được tánh thanh tịnh bất diệt của thực tại, thoát khỏi mọi khái niệm
về vật sở quán và thức năng quán, gọi là Cái Thấy về Ðại Thủ Ấn. Suy nghĩ
quán chiếu về Cái Thấy này không xao lãng, gọi là Thiền Quán về Ðại Thủ
Ấn.
Tu
tập cần phải phối hợp đầy đủ Cái Thấy (chánh kiến) và thiền tập (chánh
định). Có thiền tập mà thiếu chánh kiến, chẳng khác người mù đi trên đồng
trống. Có chánh kiến mà không thiền tập, chẳng khác người bần tiện, sự
hiểu biết không đem lại ích lợi nào cho mình và cho người cả. Nếu đầy đủ
cả hai, sẽ giống như chim đủ hai cánh bay nhanh đến giác ngộ.
Sau đó, hành giả được khuyến khích khai triển một trong bốn công việc,
trong lúc làm không khởi khái niệm về việc được làm và người đang làm. Ðây
là Hoạt Ðộng về Ðại Thủ Ấn.
Bốn công việc này là: làm hạnh lành, mật hạnh, làm trong đám đông và đem
lại thành công trong mọi ngành.
Hãy thành tâm tin tưởng, kính mến các vị Thầy (Lamas). Dứt bỏ và xa lìa
những cám dỗ của cuộc đời. Luôn tập trung tâm ý không để xao lãng. Chặt
đứt sợi dây ích kỷ chỉ muốn hưởng lợi cá nhân. Bất cứ dấu hiệu nào xảy đến
trong thiền tập cũng không chán nản, phải tinh cần tiếp tục.
Hành giả cần nhận định rõ ràng sự khác biệt giữa kinh nghiệm nhất thời và
kinh nghiệm thâm nhập. Nếu còn thấy đây là một tâm năng chiếu và kia là
đối tượng quán chiếu, đó là kinh nghiệm nhất thời.
Những kinh nghiệm nhất thời và ba trạng thái an lạc vẫn còn đượm màu nhị
nguyên (dualité).
Trực nhận được tánh bất nhị, trong đó không có người đang thiền và đối
tượng thiền quán, đấy gọi là thâm nhập.
Tuy ba trạng thái (an lạc, sáng suốt, vô niệm) không phải là tối cao nhưng
chúng là nền tảng của Thiền Quán. Nếu gia tăng, trau giồi chúng một cách
không dính mắc, chắc chắn sự thâm nhập sẽ đến tự nhiên.
Trong bốn loại ấn, Hoạt Ðộng Ấn thích hợp cho hàng độn căn. Qua ấn này, ta
có thể chứng đạt những năng lực thần thông của Dục giới.
Có
nhiều trình độ giải nghĩa về bốn ấn. Ở đây, Hoạt Ðộng Ấn, Karmamudra,
chiếu theo sự tu tập về các: 1) hoạt động an bình để giải trừ bịnh tật và
trù ếm, 2) hoạt động làm gia tăng tuổi thọ, phẩm hạnh và phước đức, 3)
hoạt động nhằm chứng đạt quyền năng sai khiển đồ vật, 4) hoạt động dữ dằn
để giải trừ điều ác, chướng ngại.
Giới Ấn và Pháp Ấn là con đường thích hợp cho hàng trung căn. Với hai ấn
này, ta có thể chứng đạt những thành tựu cao nhất của cảnh giới luân hồi,
cõi trời Akanistha (Og-minn).
Giới Ấn, Samayamudra, là sự tôn trọng các giới luật đã thọ. Pháp Ấn,
Dharmamudra, là quán tưởng tự thân dưới hình tướng của một Thần Linh Quán.
Áp dụng hai ấn này, mà chưa thực hiện được Không tánh có thể dẫn tới đỉnh
của tam giới nhưng không đến giác ngộ.
Ðại Thủ Ấn (Mahamudra), con ấn lớn của Không tánh, là con đường của hàng
lợi căn, dẫn đến sự thành tựu tối thượng của giác ngộ.
Ðại Thủ Ấn là tánh bất nhị của cảnh vật và Không tánh, của an lạc và Không
tánh, của Thức và Không tánh, của sáng suốt và rỗng lặng, vượt khỏi mọi
đối đãi tâm linh về có và không. Nó không phải một vật có thể chỉ bày bởi
một vị Thầy, không thể hiểu được bằng trí khôn của người đệ tử, không thể
diễn tả được bằng lời. Nó cũng không phải cái này hay cái kia. Ðó là một
sự Ðại An Lạc, chỉ có thể tự chứng nghiệm chứ không thể định nghĩa. Không
có gì mà nó không thấu suốt, dù đó là cảnh vật, sinh tử hay Niết Bàn... Nó
vừa là tâm vừa là ý niệm, vừa là Pháp thân, và đã có mặt từ đời vô thỉ.
Sự
tan hòa, hợp nhất của tâm, ý niệm và Pháp thân không giống như trộn cát
lẫn với xi măng, mà giống như hòa nước với nước vậy. Tánh của ý niệm (hiện
khởi) chính là tánh của tâm: cả hai cùng là Pháp thân. Những ý niệm, mặc
dù không thực và mê hoặc nhưng ta không cần xả bỏ hay ngăn chặn chúng; khi
nhận ra được tánh thì tự chúng trở thành thanh tịnh.
Tâm, ý niệm và Pháp thân cả ba cùng có từ đời vô thỉ. Nếu đặt câu hỏi: "vô
minh có trước hay giác ngộ có trước?" chẳng khác chi hỏi: "gà (con) có
trước hay trứng có trước?". Không phải trước tiên có giác ngộ rồi sau đó
thành vô minh, cũng không phải vô minh trước rồi sau mới giác ngộ. Song
le, một đức Phật không còn vọng tưởng nữa, thế nghĩa là sao? Ý niệm (vọng
tưởng) thấm nhuần trong Pháp thân, do đó không thể nói là đức Phật đã trừ
bỏ ý niệm. Ðức Phật đã nhận ra ý niệm chính là Pháp thân nên tất cả hành
động tạo tác và hóa hiện của Phật hoàn toàn vô niệm, tự nhiên và lợi ích
cho tất cả chúng sanh.
Giòng truyền thừa của Ðại Thủ Ấn bắt nguồn từ đức Phật Vajradhara xuống
đến Tilopa, Naropa, Marpa, Milarépa, Gampopa và sau đó tỏa ra nhiều giòng
truyền từ các đệ tử của Gampopa gồm giòng truyền Ðại Thủ Ấn Shang, Barom,
Drikhung Kagyu, Pagmo Drupa. Từ Pagmo Drupa lại chia ra các giòng
Tag-Lung, Tchugna, Maryé, Shub-séoua, Tropu, Yazang và Drukpa Kagyu. Riêng
ở đây, giòng Karma Kamtsang Kagyu đã được truyền từ Gampopa, rồi Tusum
Khyenpa (Karmapa đệ I) xuống đến Bổn Sư của ta là Keuntchok Yenlag (Shamar
Rinpoché đệ V). Nếu tu tập đứng đắn, chắc chắn sẽ chứng đạt nhiều kinh
nghiệm và trí huệ.
Lời chú của tác giả
Trong tập sách này, tôi đã cố gắng giảng giải những cách thức nhận ra tánh
của tâm và nhấn mạnh về phần tu tập nên không trích dẫn nhiều từ Kinh
tạng. Dù bản thân chưa có được kinh nghiệm thâm sâu, tôi, Mipam Tcheu
Ouang, Vajreshvara (Karmapa Ouang Tchuk Dorjé đệ IX, 1556-1603) đã biên
soạn tập sách này, đúng theo lời của chư Tổ quá khứ, tại Tu viện của
Sho-Ka-Ouor, thể theo lời thỉnh cầu của Samdé Lama Rabjam Mawa Samten
Kunga.
Có
chút công đức nào, tôi xin hồi hướng cầu cho tất cả chúng sanh - cha mẹ
quá khứ nhiều đời - thảy đồng thoát ly khỏi mọi cám dỗ của dục lạc và trực
kiến bổn tánh.
Shoubhamastou sarouadjagatam
Nguyện cho thế giới được thanh bình an lạc.
Lời phụ kết của dịch giả
Trước khi tu tập Ðại Thủ Ấn, hành giả cần rõ ba điều: Yểm ly, Bồ Ðề Tâm và
Không tánh.
Yểm ly là chắc thực, thấy rõ sự vô thường đau khổ của cảnh đời, sanh tâm
nhàm lìa, cầu giác ngộ giải thoát. Bồ Ðề Tâm là chí nguyện thành Phật để
cứu độ chúng sanh là cha mẹ anh em từ nhiều đời. Không tánh (Vacuité,
Sunyata) tức tánh không thực của các pháp. Hãy cẩn thận, Không tánh ở đây
không phải là cái chơn không chứng đạt sau khi tu tập Ðại Thủ Ấn, mà là
một khái niệm ý thức về Không tánh, nó có thể giúp hành giả thoát khỏi
những khái niệm nhị biên. Ðể hiểu rõ Không tánh (trên phương diện ý thức),
đọc giả có thể nghiên cứu học hỏi theo luận lý của Trung Quán
(Madhyamika).
Về
các pháp dự bị tu tập, có 4 pháp thuộc Mật giáo và 4 thuộc Hiển giáo. Nếu
đọc giả chưa bao giờ thọ giáo với các vị Sư Lạt Ma Tây Tạng thì chỉ nên tu
tập 4 pháp thuộc Hiển giáo. Trọng tâm của 4 pháp: Quy lạy, Kim Cang quán,
cúng dường Mạn đà La, Bổn Sư Du Già, chính là vị Thầy Bổn Sư (Lama-racine,
Root-Guru). Nếu chưa gặp hoặc chưa hoàn toàn tin tưởng một vị Thầy thì
không nên tu tập 4 pháp này. Về phần tu tập chính yếu, tức Chỉ Quán
(Shiné-Lhaktong), đọc giả có thể nương theo sách mà tu tập, nhưng chắc đọc
giả cũng đã để ý, và trong nguyên bản cũng nhấn mạnh rằng sự chỉ đạo trực
tiếp của một vị Thầy rất quan trọng và cần thiết.
Tu
thiền không phải chỉ ngồi thiền không là đủ, cần phải đọc sách nghe Kinh,
tham vấn học hỏi bậc Thầy, thiện tri thức. Bồ Tát Sơ Ðịa còn phải học với
Bồ Tát Nhị Ðịa, Bồ Tát Thập Ðịa còn phải học với Ðẳng Giác. Ngày nào chưa
giác ngộ, ngày đó còn phải tìm Thầy học đạo cho khai ngộ, được khai ngộ
rồi cần phải tiếp tục nương tựa vị Thầy đó cho đến ngày chứng đạo. Ðược
vậy mới sớm giải thoát, sớm phá trừ ngã chấp cho là mình đã hiểu thiền rồi
tự mãn ngâm thơ vịnh khúc. Tuy nhiên, trong việc tìm Thầy cũng phải cẩn
thận, dùng trí huệ xét soi, không nên nghe nói ai hay, nổi tiếng, có thế
lực là vội vàng tin theo.
Vài lời nhắn nhủ bạn đạo, nếu không hợp xin vui lòng bỏ qua, tiếp tục sống
đời của mình. Dù có hận thù hay yêu thương, ưa thích hay chán ghét thì
nước kia vẫn chảy, mây kia vẫn trôi ...