Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Truyện Tích Phật Giáo


......... .

 

 

Hội Giáo Dục Từ Thiện Sariputtra

Xuất bản năm 2006

 

 

Giai nhân và hòa thượng

Thích Như Điển

 

Chương 1. Ngôi chùa Trên núi

 

Ngôi chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự nằm trên một triền đồi thoai thoải, mặt chùa quay ra hướng đông nam hướng về phía biển đông. Lưng chùa tựa sát vào vách núi. Chung quanh là những điện đường ngang dọc, xây theo lối cổ tự ngày xưa. Đây là một chùa bề thế được bao đời chúa Nguyễn sắc phong cho các vị trụ trì tiền nhiệm tại đó. Nên trong lòng ai cũng cung kính nể vì. Lý do là chùa xây dựng rất đúng với thuật phong thuỷ. Do vậy mà đời đời truyền nối ngọn đèn Thiền gần mấy trăm năm mà chưa có một vấn đề gì sơ hở xảy ra.

Sở dĩ được như vậy là từ Hoà Thượng khai sơn cho đến những vị Tăng Cang qua nhiều chặng đường của lịch sử là những bậc tu hành đắc đạo và đạo đức thật trác tuyệt, cho nên trên từ Vua chúa, quan lại dưới đến thứ dân ai ai cũng đều một lòng ngưỡng mộ cung kính. Cũng có nhiều người không thích lắm về cách cư xử của triều đình là dành cho chùa quá nhiều đất đai và nhiều quyền lợi khác nữa. Do vậy mà thỉnh thoảng vẫn có những chuyện thị phi nho nhỏ.

Một hôm dân làng đi lễ và ngày ấy cũng là ngày Hoàng Thân Quốc Thích lên chùa lễ bái nguyện cầu. Trong đám người đi lễ ấy có hai nho sinh áo quần nhu nhã và họ là những người trí thức đương thời, nên cách đối đáp của họ có phần liên quan đến lịch sử. Một người bảo:

- Theo tiện sinh thì vua quan hà tất phải vào chùa lễ Phật. Hoặc giả nên làm chùa tại cung nội hay lập đền thờ riêng tại nhà có lẽ hay hơn.

Người kia đáp:

- Ngay cả chúng ta cũng phải lên đây lễ. Vì chùa đây thiêng; có Sư Cụ trụ trì đạo cao đức trọng, là một bậc tu hành chân chánh nên chúng ta mới đến lễ bái nguyện cầu. Nếu chùa mà nhiều vị trụ trì chỉ lo bái sám, nhiều khi còn bói toán, coi quẻ, xem giò nữa, thì ta đến đó để làm gì chứ đừng nói đến vua quan của triều đình!

- Đại huynh nói phải và chí lý lắm. Sở dĩ chúng ta đi chùa nầy vì cảnh trí đẹp và cũng có cảnh nam thanh nữ tú đi cùng, nên tiện sinh rất hân hoan chờ đón được những ngày như thế nầy. Nhưng tiện sinh có điều không hiểu, kính nhờ đại huynh phân giải dùm.

- Nếu là chữ của Thánh Hiền, thì chắc là đệ hơn huynh; nhưng có điều gì khác thì cứ xin tỏ bày tự sự.

- Nguyên là tiểu đệ nầy hay nhìn thấy vua chúa lễ Phật mà chư tăng ni không theo phong tục nước mình lễ Vua chúa, mà đôi khi vua chúa còn lạy cả chư tăng nữa. Ví dụ như vị Sư Cụ trụ trì chùa Hưng Phước nầy là một?

- Việc ấy đã có sự sắp xếp rõ ràng rồi, thiết nghĩ đệ quên rồi chứ. Đây là nguyên nhân của đầu đuôi câu chuyện:

Khi đức Phật thành đạo dưới cây Bồ Đề tại Ấn Độ, thì kể từ lúc đó mọi người mới biết đến danh từ Phật và vì Phật cũng là người Hoàng Tộc, do vậy các vua quan thuở bấy giờ đến đảnh lễ Phật cũng là việc tự nhiên. Vả lại ở Ấn Độ, họ chia con người trong xã hội ra làm bốn giai cấp, mà giai cấp đứng đầu vẫn là giai cấp giáo sĩ, giai cấp thứ hai mới là giai cấp vua chúa, giai cấp thứ ba là thương nhân, thứ tư là giai cấp bình dân. Lại cũng còn có thêm một giai cấp nữa, đó là giai cấp hạ tiện; chỉ chuyên đi làm đầy tớ cho người, trong khi đó Phật giáo được du nhập vào Trung Quốc và Việt Nam chúng ta đầu tiên chẳng thích hợp mấy vì lẽ đạo Phật chủ trương không bái lễ Quân Vương, khác với đạo Nho của chúng ta, xem vua chúa là cha mẹ của thần dân. Trên vua chúa không có ai nữa cả. Ngoại trừ thiên tử ở trên trời.

- Sao mà đại huynh rành quá! Và còn nữa, - Thế thì tại sao các vị sư lại không lạy vua chúa ở Trung Hoa và nước ta?

- Theo quan điểm và lập luận của Hoàng Huyền thì Sa Môn tức các vị tăng sĩ phải lễ kính Vua; ông ta xuất thân là con của quan Nam Quận Công Hoàng Ôn, thông minh có tài và rất tự hào. Tiếp nối chức tước của cha, Hoàng Huyền cũng thâm hiểu về Phật giáo và sau khi gặp gỡ tổ Huệ Viễn tại Lô Sơn, lúc đầu rất kiêu ngạo; song lúc gặp mặt Tổ đã chí tâm cung kính, sau đó chỉ một câu đối đáp thôi là hoàn toàn kính trọng Tổ. Tuy vậy, cái chất Nho Giáo ăn sâu trong dòng máu Trung Hoa; nên năm 402 sau khi nắm quyền bính trong tay, Hoàng Huyền ra lịnh sa thải Tăng Ni, cho rằng Tăng Ni hư hỏng và làm phát sinh nhiều tệ trạng cần phải thanh lọc, chỉ giữ lại ba dạng Tăng Ni như sau: Một là người có thể giảng giải về kinh điển, xướng nói lên nghĩa lý; hai là người tu hành nghiêm ngặt, giữ giới trọn đủ, thường ở nơi chùa viện; ba là người tu dưỡng trên núi; không làm các chuyện thế gian. Để trả lời cho quan điểm và lập luận của Hoàng Huyền, Ngài Huệ Viễn bảo rằng Sa Môn không cần phải lễ kính Vua như sau: “Những gì trong kinh Phật nói, thường phân làm hai khoa; một là ở trong thế tục mà hoằng pháp; hai là xuất gia tu đạo. Ở trong thế tục thì cái lễ với bề trên, cái kính với tôn thân, cái nghĩa của trung hiếu. Kinh văn đều có nói đến. Ba giáo huấn ấy Thánh Điển dạy rất rõ, sự giáo huấn ấy đồng với luật chế của Vua, là điều phải làm, dường như hoàn toàn khế hợp với nhau về phương diện nầy hoàn toàn không có gì khác, nghĩa là các Phật tử tại gia phải lễ kính Vua, song còn xuất gia vốn như người khách ngoài thế gian nầy hành tích không dính bám vào bất cứ gì. Giáo Pháp mà họ tuân theo là thấu rõ bao tai hoạ luỵ phiền cũng do nơi có thân thể nên chẳng cầu giữ thân nầy là nhằm để dứt hoạ hoạn; biết rành đời đời phải sinh sinh là do nơi thuận theo lẽ biến hoá của đất trời. Thế nên không thuận theo lẽ hoá ấy là cốt để cầu được tông yếu. Cầu tông như thế không thể do thuận hoá mà có được; người xuất gia không coi trọng sự ban ân cho được sống hanh thông khoái lạc; diệt các hoạ hoạn không do nơi bám giữ thân nầy mà thành được; thế nên người xuất gia chẳng vì các lợi lạc được sống ấm no đầy đủ. Lý nầy hoàn toàn ngược lại với thế tục. Đạo và thế tục khác nhau như thế ấy”. Tuy vậy, mặc dù đế triều của Hoàng Huyền chỉ kéo dài đến năm 404 là chấm dứt. Vì Lư Dụ khởi binh công phạt và giết chết Hoàng Huyền. Năm 403, Hoàng Huyền đã chính thức ban chiếu, chính thức chấp nhận cho Sa Môn không cần lễ kính vương giả nữa, vì biết rằng những nhà Nho sau nầy đa phần vua chúa nghe theo; nên Tổ Huệ Viễn đã cho soạn luận “Sa Môn Bất Kính Vương Giả”. Và kể từ đó về sau Trung Hoa cũng như Việt Nam chúng ta, Sa Môn không cần lễ vua chúa mà ngược lại đôi khi vua chúa phải lễ Sa Môn. Ví dụ những ông vua đó là học trò, đệ tử của các vị Tăng Cang, Hoà Thượng[1].

- Quả thật đại huynh là người tinh thông Hán Sử, nhưng còn Huệ Viễn là ai thế?

- Đó là Ngài Huệ Viễn ở chùa Đông Lâm, núi Lư Sơn bên Trung Quốc. Ngài họ Dã, người làng Nhạn Môn, thoạt đầu sư học Nho, năm 21 tuổi xuất gia, thờ Ngài Đạo An làm thầy. Sư thông hiểu giáo lý sâu sắc của Đại Thừa. Bấy giờ ở Tương Dương xảy ra giặc giã loạn lạc, Đạo An phải phân tán học trò. Sư từ biệt Thầy về Kinh Châu qua La Phù, Tầm Dương thấy đỉnh Lư Sơn, cảnh trí thanh tịnh. Sư bèn trụ trì ở mé bắc ngọn núi nầy. Sư đã cùng với Tăng Tục 123 người lập thành Bạch Liên Xã, chuyên tu Tịnh Nghiệp, trước tượng Phật Vô Lượng Thọ. Sư soạn cuốn Pháp Tín Luận, để xướng thuyết Niết Bàn thường trụ, nêu ra luận điểm Sa Môn không cần phải kính trọng hạng vương giả. Sư ở núi Lư Sơn hơn 30 năm, không hề ra khỏi núi, chỉ tiễn khách tới núi Hổ Khê thì thôi. Sư viên tịch vào tháng 8 năm Nghĩa Hy 12 đời nhà Tấn, thọ 83 tuổi.

- Xứng mặt là một đại huynh thuộc hàng Nho Gia của Việt Nam chúng ta đấy chứ! Như vậy ở đầu thế kỷ thứ 5 sau tây lịch, năm 403 cho đến nay, các vị sư đều như thế. Còn riêng Việt Nam chúng ta thì sao đại huynh?

- Như đệ biết đấy, thời ấy Việt Nam chúng ta vẫn còn bị nhà Hán, rồi nhà Tấn, rồi nhà Đường cai trị. Tất cả văn học chữ nghĩa, lễ nghi gì gì đi nữa, đều phải rập khuôn theo Trung Hoa. Do vậy, Trung Hoa sao thì Việt Nam vậy. Thời sau đó, đầu thế kỷ thứ 6, ông Lý Nam Đế khởi nghĩa chống Trung Hoa và chính ông cũng là người đã ở chùa cho nên việc không lạy Vua, ông ta chấp nhận được. Rồi đến đời Đinh, Lê, Lý, Trần v.v….những ông Vua Việt Nam của chúng ta cũng xuất thân từ cửa chùa như Lý Công Uẩn, tức là Lý Thái Tổ đấy, sáng nghiệp ra triều Lý (1010 đến 1222) và đã ăn cơm chùa mòn cả răng; không lẽ ông Vua nầy bắt Thầy mình là Vạn Hạnh Thiền Sư và Lý Khánh Vân lạy mình sao?. Điều ấy chắc hẳn không có. Vì lẽ nội cái đạo Nho cũng đã sai rồi, làm sao nói đến đạo Phật được. Đó là chưa kể những ông Vua cuối đời nhà Lý như Lý Huệ Tông đã bỏ ngôi đi tu, thành đạo hiệu là Huệ Quang. Và đã nhường ngôi cho con là Lý Chiêu Hoàng, trị vì thiên hạ. Sang đến nhà Trần, ông Vua Trần Thái Tông đã chán mùi tục luỵ, cung cấm và vị quân sư Trần Thủ Độ nên nhà Vua mới nói rằng: “Trẫm xem ngai vàng như đôi dép bỏ”. Điều ấy chắc hẳn chẳng phải vì giận hờn mà vì lẽ thấy đời là ảo mộng, cho nên mới vào núi Yên Tử để xuất gia theo Phật, nhưng Quốc Sư Phù Vân thửơ ấy đâu có chấp nhận. Vả lại Trần Thủ Độ đâu có để cho Vua yên. Thượng Hoàng không tu được thì cháu nội của Thượng Hoàng đi xuất gia đó là Vua Trần Nhân Tông. Tức là Điều Ngự Giác Hoàng đấy. Ngài đã nhường ngôi cho con là Anh Tông để đi xuất gia. Và vẫn còn làm lợi cho Tổ Quốc là đem Huyền Trân Công Chúa gả cho Chế Mân và Chế Mân đã dâng hai châu: Châu Ô và Châu Rí đó. Nếu không có Huyền Trân Công Chúa đời Trần, thì nước Việt Nam đâu có Huế và Quảng Nam của chúng ta ngày nay, để rồi mai nầy các Vua triều Lý, nhà Mạc, nhà Hồ, nhà Hậu Lê, có cơ hội vùng vẫy cho đến tận mũi Cà Mau đến ngày nay. Chưa hết khi Nguyễn Ánh Gia Long thua Nguyễn Huệ Quang Trung phải chạy sang Xiêm La tức Thái Lan ngày nay cầu viện. Nếu không nhờ chư Tăng và Vua Chúa Thái Lan cho ẩn náu vào cuối thế kỷ thứ 18, thì làm sao trở về khôi phục lại quê hương, mà lên ngôi năm 1802 để dựng nghiệp đế. Vì vậy cho nên sau khi lên ngôi, Vua Gia Long Hoàng Đế đã sắc phong dựng chùa Phổ Phước, chùa Khánh Vân, Chùa Cảnh Phước ở Bangkok để cảm cái ân, cái nghĩa cứu giá của Vua Chúa cũng như quân thần trong khi sống loạn ly mà vẫn còn cái hồn gửi về nơi cố quốc.

- Còn Sắc Tứ Hưng Phước Tự là sao đại huynh nhỉ?

- Cái tiểu sinh nầy, ta là Nho sinh, chứ đâu phải tiểu tăng mà cái gì cũng hỏi vậy kìa, làm như Ta là Tiểu Hoà Thượng không bằng. Nhưng thôi nể lời đệ ta trả lời luôn đây. Nhưng nhớ rằng lần sau không được hỏi thêm gì nữa đấy. Chúng ta phải lên ngoạn cảnh chùa và lễ Phật nữa chứ! Chữ Sắc có nghĩa là lệnh. Chữ Tứ có nghĩa là ân phước. Có nghĩa là có lệnh ban ân phước cho chùa nầy. Nhưng ban cho cái gì – Đó là chức Tăng Cang hay Hoà Thượng của các vị Tổ tại đây. Vì vua nể đạo cao đức trọng của chư vị, mà sắc phong như thế, đệ nên nhớ rằng thời quân chủ chỉ có vua là trên, không còn ai trên Vua nữa hết. Còn tên chùa Hưng Phước có lẽ do Hoà Thượng Khai Sơn đặt cho. Còn chùa nầy như đệ biết đấy đã tồn tại nơi nầy qua mấy trăm năm rồi đó. Thôi chúng ta hãy cùng vào chùa đi.

Chùa có năm gian, ở giữa là gian thờ Phật Tổ, A Nan, Ca Diếp đứng hầu hai bên. Phía bên trên cùng thờ tam thế Phật, gồm A Di Đà, Thích Ca, Di Lặc, và tầng dưới thờ Hoa Nghiêm Tam Thánh Thích Ca Văn Thù và Phổ Hiền. Gian bên mặt từ ngoài nhìn vào thờ Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, và kế bên thờ Hộ Pháp Vi Đà. Gian bên trái đối diện thờ Thế Chí, gian kế tiếp thờ Địa Tạng. Chung quanh tường thờ các vị Bồ Tát và các vị A La Hán. Phía sau thờ Tổ và chư vị Thánh Tăng. Phía trước cửa chánh điện thờ Tiêu Diện Đại Sĩ và Quan Thánh Đế Quân.

- Cả chừng đó Phật và Bồ Tát, đệ muốn cầu gì thì cứ cầu, muốn xin gì cứ xin.

- Nhưng ai nấy cũng đều trầm ngâm cả làm sao biết ai gật đầu chấp nhận mà xin?

- Thì đệ cứ khấn đi, thế nào cũng có sự linh hiển nếu đệ nhất tâm. Nhưng đệ muốn xin gì?

- Làm sao mà đại huynh hỏi điều thầm kín ấy được. Chỉ có Phật Bồ Tát mới biết được lòng của Tiểu Đệ nầy thôi

- Chẳng có gì bí mật cả. Thôi đệ hãy khấn đi

- Nam mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Tầm Thanh Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát, Nam mô Tồi Tà Phụ Chánh Quan Thế Âm Bồ Tát.

- Cái gì mà nhiều Bồ Tát thế! Chẳng thấy khấn nội dung gì cả?

- Từ từ đã đại huynh. Nhưng điều nầy bí mật

- Đoạn khấn thầm Nam mô ….cho con…., như vậy …. Kính mong Ngài…Nếu thành tựu….con sẽ không bao giờ quên.

- Nghe chẳng rõ gì hết

- Thôi thì cứ cho là bí mật đi. Nhưng đại huynh muốn hiểu làm gì. Đây là chuyện riêng của tiểu đệ mà. Thế đại huynh có cầu nguyện gì chưa?

- Sao đại huynh thấy mắc cỡ quá. Người đi lễ quá chừng mà tự nhiên mình là nho sinh cứ vái lạy như thế này xem ra các ả tín nữ phía sau họ cười cho.

- Nếu thế thì đừng đi chùa vẫn hơn.

- Nhưng chùa là chỗ Thiện của làng mà, tại sao mà không đi?

- Thôi chúng ta ra bên ngoài để xem phong cảnh một tý đã

- Người xưa thật có mắt. Vì lẽ gì chùa được gọi là “Tự”? Vì sao có chữ nầy đệ có biết không?

- Đến đây thì đệ cũng bí lối. Kính nhờ đại huynh đã thương thì thương cho trót xin giải nghĩa dùm

- Thôi được nghe đây! Ngày xưa Vua Trung Hoa tiếp các vị sứ thần và các nước chư hầu ở một nơi gọi là “Tự”. Sau nầy cơ ngơi đồ sộ, mới tiếp nơi những dinh cơ khác, chứ ngày xưa tiếp ở chỗ nhỏ thôi, chữ Tự nầy viết gồm hai bộ. Đó là bộ Thổ và bộ Thốn. Bộ Thổ là tượng trưng cho đất, mà đất thì trong nhà Phật cho là vô thường, vì cái gì có hình tướng đều hư vọng cả. Ngay cả thân tứ đại nầy của chúng ta, cũng được cấu tạo bằng bốn chất lớn ấy, theo như lời Phật dạy; đó là: Đất, Nước, Gió và Lửa. Còn một bộ nữa gọi là bộ Thốn mới thành chữ Tự được. Bộ thốn ngoài nghĩa là một tất gồm 10 phân, hoặc sự nhỏ bé; nhưng cũng còn một nghĩa nữa là tất bóng quang âm khá tiếc. Cả hai chữ nầy diễn tả sự vô thường hết; mà ngôi Vua ai chẳng muốn bền vững lâu dài; Nếu dùng mãi chữ Tự thì không lâu phải thay đổi triều đại. Do đó từ đời Nhà Hán trở đi ở bên Trung Hoa, chữ Tự chỉ để cho chùa dùng và còn thêm vào bên sau chữ Miếu nữa, để trở thành một danh từ mà nơi đó chỉ thờ Phật chứ không phải của Vua.

- Còn Việt Nam thì sao?

- Các đời Vua hậu Lê của chúng ta cũng tiếp các sứ thần ngoại quốc tại chùa. Vì lẽ chư Tăng là những người hay chữ, có thể giúp cho Vua Chúa và các quan, bút đàm bằng chữ Hán dễ dàng hơn. Do vậy mà tiếp ở chùa. Nhưng chùa ở đây là chùa Quán Sứ. Chữ Quán Sứ nghĩa là nơi các sứ thần ở lại. Chữ quán được viết chung hai bộ là bộ quan và chữ xá. Như vậy đúng ý của các Vua hơn; nên chữ Quán dùng từ ấy đến nay. Sau nầy khi kinh đô triều Nguyễn dời vào Thuận Hoá, rồi thì chùa Quán Sứ tại Hà Nội do chư Tăng ở, chứ Sứ của các nước khác, không còn đến để trú tại đó, để được Vua tiếp nữa.

- Quả thật Việt Nam cũng hay đấy chứ đại huynh nhỉ!

- Coi chừng cái đuôi của Nho sĩ bị loài ra, và người đời xem thấy chướng lắm đấy! Làm sao cho bằng Phật giáo thuở bấy giờ. Đệ thấy không! Chùa nào cũng lầu ngang dãy dọc, điện trước, đền sau còn hơn cung Vua nữa. Còn Vua chúa gì mà cho phải đạo chứ. Có ông như Vua Thành Thái, còn phải vượt thành vào chùa để hỏi ý Hoà Thượng Hải Thiệu nữa đấy. Tuy rằng các vua ấy đều học Nho Học để tiến thân, giữ nghiệp đế cũng như chăn dân trị nước, chứ có ai nhờ Phật học mà thành đâu?.

- Sao mà đệ ganh tỵ với những bậc xuất thế làm gì. Họ suốt đời chỉ tu theo hai chữ “không tướng” trong kinh Kim Cang mà thôi. Có gì đâu mà phải tiếng to tiếng nhỏ. Vả lại từ xưa đến nay trong lịch sử nước nhà, cũng như của Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn và Ấn Độ, đã có rất nhiều ông Vua bỏ ngai vàng điện ngọc để đi tu, chứ chưa thấy một ông Vua nào từ nhà tu, bỏ sự tu hành để đi làm Vua cả.

- Nếu đại huynh nói vậy thì Chu Nguyên Chương triều nhà Minh bên Trung Hoa và Vua Lý Công Uẩn của Việt Nam ta, không phải là những ông Vua xuất thân từ cửa chùa sao?

- Đúng là vậy! Nhưng trường hợp của Vua Lý Công Uẩn là vì triều đình Lê Long Đĩnh quá tồi bại. Nào hoang dâm vô đạo, nào chẻ mía trên đầu sư. Đâu có ai nở lòng nào, nhất là thiền sư Vạn Hạnh “chấn tích trụ vương kỳ”. Nghĩa là chống gậy giữ nghiệp đế cho Vua. Vì lòng dân, vì thời thế, vì vận nước v.v…Vả lại Lý Công Uẩn ở chùa lúc ấy là một việc chẳng đặng đừng. Thế ấy chẳng phải Công Uẩn tự chủ, là vì con rơi nơi cửa Phật, còn ông đâu phải là người có ý xuất gia rồi bỏ việc tu hành để đi làm Vua đâu. Còn Chu Nguyên Chương sáng Tổ của nhà Minh bên Trung Hoa vào thế kỷ thứ 13 cũng thế. Những người bình nam dẹp bắc xưa nay đâu phải lúc nào cũng thắng, mà lúc nguy khốn đâu có ai phò. Chỉ có cửa chùa là nơi che chở. Cho nên người xưa nói rằng: Người ta phù thạnh, chớ đâu có ai phù suy. Khi ân Vua lộc nước tròn đầy, thì kẻ hầu người hạ, nhưng lúc quốc sự nhiễu nhương, lúc ấy mới biết ai trung ai nịnh. Huống nữa là quê ta cũng như Trung Hoa hoặc Tây Tạng, có những người đáng lãnh đạo đất nước, thì việc ấy há có hại gì đâu. Triều Minh bên Trung Hoa, cũng đã 300 năm lịch sử từ thế kỷ thứ 13 đến đầu thế kỷ 17 (1640) chứ đâu có ít và triều Lý Việt Nam của ta cũng vậy thôi. Tuy là ông Vua xuất thân từ ca chùa, nhưng hết lòng chăn dân trị nước, xây chùa, dựng tháp khắp nơi, từ Hoa Lư đến Thăng Long, đâu đâu cũng thể hiện lòng từ bi cao độ ấy. Vậy thì đạo Phật có hại gì cho nước nhà. Còn đạo Nho của chúng ta thì sao, đệ hãy giở sử lại xem?

- Quả thật là đệ nầy chẳng địch nổi lại đại huynh. Chắc là sau lần nầy đệ phải vào chùa để tương chao kinh kệ, mới có thể hiểu được những điều của đại huynh nói và từ đó cái nhìn của đệ mới có thể khác với ngày hôm nay chăng?

Thế rồi, cả hai đều ra vườn chùa để ngoạn cảnh. Đây là hoa Hải Đường; nọ là Bạch Liên; Hồng Liên đang nở nhụy. Ở bên đồi kia là hoa Thung và hoa Huyên. Đây là hoa Vạn Thọ, hoa Thược Dược. Lại có cả hoa Lan và hoa Điệp. Bấy giờ họ mới thảo luận cùng nhau.

- Hoa Vạn Thọ và Hoa Sen đệ đã biết rồi, còn hoa Thung và hoa Huyên, nghe nói hai hoa nầy tượng trưng cho cha và mẹ; nhưng Nho sinh như tụi nầy chưa hiểu rõ nghĩa lắm. Kính xin đại huynh vì tiểu đệ mà giải bày.

- Chữ Thung viết bằng Hán Văn gồm hai chữ ghép lại. Một bên là bộ Mộc, tức thuộc về cây cối, một bên là chữ Xuân tức là mùa xuân. Ý nói mùa Xuân thì hoa nầy nở.

- Hoa nào chẳng nở vào mùa Xuân?

- Đệ nói như thế là sai rồi. Hoa Cúc nở vào mùa Thu, hoa Mai nở vào mùa Đông.

- Xin đại huynh tiếp đi.

- Chữ Thung cũng có nghĩa là đánh đập nữa. Ý nói người cha còn mạnh khoẻ hay dạy dỗ con bằng roi cây. Do vậy mà chữ Thung dùng để chỉ cho người cha là vậy. Ở Việt Nam mình, tại chùa Hưng Phước nầy như đệ thấy đó có hai loại hoa Thung màu trắng và màu đỏ, đệ thấy đẹp không?

- Đẹp thì có đẹp; nhưng sao nghe đến đánh đập đệ ớn quá! Còn hoa Huyên thì sao?

- Chữ Huyên viết bên trên có bộ Thảo; tức thuộc về cỏ, mà cỏ thì mềm mại phải không đệ? cỏ cũng nở hoa phải không đệ? Bên dưới viết chữ Tuyên có nhiều nghĩa. Nhưng ở đây phải hiểu là bao la to lớn. Vì sao vậy? Vì lòng của mẹ bao giờ cũng bao la như biển cả. Cây nầy tuy là cỏ; nhưng như đệ thấy đó, Hoa lá đều ăn được cả. Trong kinh thi đệ không nhớ rằng, “Uyên đắc Huyên thảo, ngôn thụ chi bối” sao? Nghĩa là sao được cỏ Huyên, tức cây nầy vậy. Cây mọc ở sau nhà phía bắc, tức dùng để chỉ hoa nầy. Nhà phía bắc là chỗ để cho đàn bà ở. Vì thế nên gọi mẹ là Huyên Đường.

- Nhưng ở đây là chùa Hưng Phước chứ đâu phải nhà?

- Đúng là vậy. Ngày xưa ý nói tượng trưng như thế thôi chứ ai mà biết hết được chữ nghĩa của Thánh Hiền. Tuy nhiên, sau khi giải thích rồi, đệ thấy hữu lý không?

- Đúng là đại huynh trí óc thông minh trác tuyệt, mà còn đẹp trai như vậy. Biết đâu hôm nay đi lễ chùa nầy lại chẳng gặp được ý trung nhân!

- Ấy, ấy, đệ đừng nói thế, ta đâu có đi cầu duyên. Trước tiên ta phải cầu cho con đường công danh thông suốt đã, sau đó mới đại đăng khoa chứ.

- Thế còn hoa Lan và hoa Điệp?

- Chữ Lan thuộc bộ Mộc thuộc về cỏ cây, bộ Môn thuộc về nhà cửa và chữ Đông nằm bên trong cánh cửa. Nghĩa là hoa ấy nở ở hướng đông trước cửa nhà. Hoa nầy có nhiều loại. Vì hoa lan thơm lắm, nên dầu thơm gọi là “Lan Du”; còn thứ gọi là Chạch Lan, tức cây nầy trừ được mọt sách. Cho nên nhà để sách gọi là “Lan Tĩnh Vân Các”. Ngoài ra, mùi thơm của Lan, sực nức nên lại dùng để ví dụ với các chỗ tình ý hợp nhau như Lan Giao, ý nói tình bè bạn chơi với nhau rất quý mến cũng có nghĩa là Lan Ngọc, dùng để khen ngợi các con em nhà của bạn. Cũng có cây mộc Lan cao lớn người ta có thể làm nhà nữa.

- Đúng là đại huynh không khác gì quyển tự điển, nhưng chùa tại sao trồng Lan làm gì nhỉ?

- Ở đâu lại chẳng trồng được. Thấy sắc không tham, thấy hương không đắm ấy mới là kẻ tu hành chứ!

- Vậy còn đại huynh thì sao?

- Ta là người trần mắt thịt, chứ đâu phải kẻ xuất thế tìm phương giải thoát cho đời đâu?

- Còn Điệp là thế nào. Theo đệ nghĩ không phải là một loài hoa, nhưng sao người ta vẫn gọi là hoa Điệp.

- Đúng đó! Đệ cũng giỏi chữ nghĩa. Thế mà khiêm nhường. Chữ Điệp gồm có ba chữ ghép lại. Đó là bộ trùng. thuộc loại động vật. Bên trên là chữ Thế, tức ở giữa cuộc đời nầy; Phía dưới là chữ Mộc, tức thuộc về cây cối, ba chữ nầy ghép lại thành chữ điệp nghĩa là con bướm.

- Mà con bướm và hoa khác nhau chứ bộ

- Thì bướm ấy vờn hút nhuỵ, nên mới có bộ Mộc bên cạnh đó, đúng chữ nghĩa phải nói là Hồ Điệp, tên thật hay, nhưng cũng để chỉ cho loài bướm mà thôi. Ở Việt Nam mình từ xưa đến nay, người ta dùng chữ Điệp nầy để gọi bông hoa phượng loại nhỏ hay nở vào mùa hè. Nhất là mùa có ve sầu kêu inh tai nhứt óc đó.

- Nhưng đệ cũng lạ, chùa nầy cũng trồng hoa trà mi nữa. Đệ có nghe người xưa nói rằng:

“Tiếc thay một đoá trà mi,

Con ong con bướm tiếc gì cái hương...”

- Là ý gì vậy, đại huynh?

- À chuyện ấy là chuyện Kiều, nguyên tác được viết tại Trung Hoa, lấy tên là Thanh Tâm Tài Tử truyện, hay Đoạn Trường Tân Thanh, tức là tiếng kêu xé lòng đấy. Truyện nầy được viết vào thời nhà Minh, thế kỷ thứ 14 -15 bên Trung Hoa. Sau nầy cụ Nguyễn Du là một đại văn hào ở nước ta đã làm quan trong ba triều gồm Lê Mạc, Nguyễn Tây Sơn, Gia Long Nguyễn Ánh vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19. Tiếp đó cụ đi sứ sang Trung Hoa và đọc được chuyện nầy bằng Hán Văn, đoạn đem về Việt Nam và cải biên lại bằng văn vần, dễ thuộc lắm. Truyện Kim Vân Kiều và hai câu thơ ấy ý nói rằng: thân phận nàng Kiều cũng giống như một đoá hoa thơm. Hoa đẹp, hoa trà mi, nhưng con ong con bướm khi hút nhuỵ hoa đâu để ý đến hoa làm gì. Quả thật cuộc đời của người con gái “hồng nhan đa truân” “hồng nhan bạc mệnh” là thế ấy.

- Xin cảm ơn đại huynh và bây giờ chúng ta nên đi qua bên kia để hứng gió. Hình như xa xa có một dòng suối! Nào chúng ta cùng đi.

Cả hai người như là bạn tri âm, tri kỷ. Họ đã tung tăng hết nơi nầy đến chốn nọ trong vườn chùa Hưng Phước hôm nay, vì là ngày lễ nên ít có người để ý đến. Tuy nhiên, những hành tung của họ cũng chẳng ai để ý đến làm gì. Trong chùa ai cũng nghĩ họ là những Nho sinh, đi vãn cảnh chùa thế thôi. Và họ là những người đang say cảnh đẹp của chùa. Biết đâu cảnh thiền môn yên tịnh nơi núi đồi hoang dã nầy sẽ gây cho họ có nhiều ấn tượng tốt về đạo Phật và biết đâu sau nầy họ thi cử đỗ đạt ra làm quan, họ sẽ là những ông quan thanh liêm và nếu chùa chiền có cần gì, thì các ông cũng có một chút cảm tình, chứ không phải đợi đến chết mới hồi đầu quy Phật. Dĩ nhiên tuy họ học Nho; nhưng Phật học họ cũng có nghiên tầm đấy chứ. Nhưng vì lẽ họ chưa nhập thế vào đời, trên con đường công danh thì họ làm sao tu xuất thế được.

- Cảnh ở đây đẹp quá phải không đệ?

- Vậy là đại huynh đã mến cảnh chùa rồi!

- Dĩ nhiên, chùa là cái Thiện của làng ta mà, nhưng kìa đệ xem, nước kia trong quá.

- Không phải đâu đại huynh, vì nước chảy trên đá, và ở đây không có bùn, chỉ toàn là cát nên đại huynh gọi nước trong. Thế khi nước chảy đến bùn thì gọi là nước gì?

- Dĩ nhiên là nước đục.

- Thật ra bản thể của nước, nó không trong mà cũng chẳng đục, vì nó chảy qua chỗ sạch ta gọi nó là trong, khi chảy qua chỗ bùn ta gọi là đục. Nhưng bản thể của nước vốn không đục mà cũng chẳng trong. Đại huynh chắc rõ điều đó?

- Cha chả! Ta không ngờ tiểu đệ thâm hậu! bỏ xa ta rồi đấy.

- Đại huynh quá khen, thật ra tiểu đệ nầy chỉ học lóm trong sách vở và thỉnh thoảng có đi chùa nghe Sư Cụ ở đây giảng như vậy. Nên mới dám lạm bàn với đại huynh như thế. Thật ra bản thể của nước chỉ có một. Đó là tánh ướt, tánh lạnh, tánh dịu dàng dễ nhập thế mà cũng dễ xuất thế, tuỳ theo hoàn cảnh nước sẽ xuôi dòng. Khi nước ở trên núi đồi nầy đại huynh gọi trong, khi giao thoa giữa ao hồ và biển cả, chắc rằng đại huynh nói đục, nhưng nước nào cuối cùng rồi cũng xuôi về biển cả, để hoà nhập với đại dương. Lúc ấy biển cả mênh mông, bầu trời lai láng. Đâu có còn gì là trong đục nữa đại huynh?.

- Sao mà hôm nay, tiểu đệ của ta giỏi quá, hiểu lẽ vô thường và sắc không bất nhị. Thì quả là đáng làm anh ta, chứ không phải ta là anh ngươi

- Xin đại huynh chớ quá lời vì lẽ tiểu đệ xúc động mà nói thế thôi. Chứ thật ra tuổi đời cũng như học vấn của đệ còn thua xa đại huynh. Xin đại huynh nhận cho một lạy để tạ tội.

- Tiểu đệ không nên làm thế, chúng ta chỉ là bạn bè mà thôi. Thôi chúng ta hãy đứng lên mà đi tiếp đi.

Họ đi sâu vào rừng thiền chung quanh chùa Hưng Phước. Đến đâu họ cũng trầm trồ khen ngợi về cảnh trí thiên nhiên nơi ngôi chùa trên núi nầy và lại hỏi nhau.

- Đại huynh có biết tại sao chùa lại xây trên núi không?

- Cái nầy khó đấy, theo đệ thì sao?

- Đây là chỗ hiểu của đệ nhé. Ngày xưa khi Phật còn tại thế, Ngài cho chư tăng ni xuất gia, hay ở nơi rừng núi chứ không phải ở chốn thị thành. Vì đời sống xuất gia là đời sống độc cư ở nơi A Lan Nhã tức là sống một mình trong núi đồi hiu quạnh để thúc liễm thân tâm mình. Khi nào gạn lọc tâm cho thanh tịnh. Nghĩa là ngộ được ý đạo rồi, lúc ấy mới xuống núi. Do vậy, mà chùa đa phần xây trên núi vậy. Có lẽ ý nầy đúng nhất, nên chúng ta thấy đời sống của những nhà tu, thật là ung dung tự tại.

- Cây kia là cây gì và đại huynh hãy xem bầy kiến đó!

- À cây cối vốn vô tình, nhưng hay lắm đấy đệ ạ. Cây từ lòng đất mọc lên, cung cấp cho đời biết bao nhiêu là dưỡng khí, chúng ta nhờ đó mà sống được trong đời nầy. Khi thân cây lớn, người ta có thể chặt đốn đem về làm nhà, làm bàn ghế. Tuỳ theo loại tốt xấu mà tạo thành những sản phẩm khác nhau, để làm đẹp cho người và cuộc đời. Chẳng có cây nào vô dụng cả. Dỡ lắm, xấu lắm cũng làm củi để nấu cơm và cuối cùng cũng làm phân để bón lại cho đất. Chứ còn như chúng ta, thật ra, nếu chẳng làm lợi gì cho đời, người ta thường quở là “Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm” Đúng là khi còn nhỏ chỉ bố khổ cha mẹ, còn khi lớn lên đi vào đời chỉ làm nhọc vợ, nhọc con chứ có ích gì đâu. Cây đây là cây bạch đàn, cây kia gọi là cây dương liễu. Cây nọ là cây sầu đông và đây là cây trắc bá diệp…Cây nào cũng có tên riêng của nó và cây nào cũng hữu ích cho đời. Có cây dùng cả thân lẫn lá và rễ, như cây bạch đàn, nghe đâu người ta nấu làm dầu để trị bệnh khi đau đầu nóng lạnh đó. Còn đàn kiến kia đệ có biết không, chúng họp đoàn lắm đó! Kìa hãy xem chúng đang tụ họp lại để khiêng một vật gì to lắm về tổ. Nếu là con người chắc chẳng được vậy. Khi có miếng mồi lớn hay bả công danh to nơi chốn quan trường thì mạnh được yếu thua phải không đệ. Lúc ấy chẳng ai nể ai cả và chốn quan trường trở thành chốn đấu đá nhau. Cho nên nhiều người đã chán cảnh ấy nên từ quan về vườn. Kẻ làm nghề gõ đầu trẻ. Người đi xuất gia đầu Phật; người thì hưởng nhàn với túi thơ bầu rượu như nhiều nhà Nho đi trước chúng mình đó. Đệ có biết không, tuy là kiến thuộc về loại động vật nhiều chân, nhưng chúng tinh khôn lắm đấy, nhất là khi trời mưa hay lụt, chúng biết trước cả loài người. Tuy là loài người tinh khôn, nhưng những thính giác và cảm giác thiên nhiên không bằng loài kiến đâu. Đệ thử tưởng tượng rằng mỗi khi có gió lớn, thì ta mới biết sắp có mưa bão, nhưng chúng thì biết từ lâu cho nên chúng xây miệng tổ lên thật cao để ngăn mưa và đôi khi còn che tổ lại bằng cây lá nữa, để gió khỏi lay; khi mưa đến chúng ở sâu vào lòng đất không bị nước chảy vào. Đó là ở trên núi nầy; chứ ở đồng bằng chúng sợ ngập lụt thì chúng dời tổ lên vùng cao trên trần nhà. Nếu không vậy thì chúng sẽ bị chết ngập mất như đệ thấy đó. Từ cây cỏ cho đến các động vật, chúng ta cho là loài vô tình; nhưng rất hữu dụng trong cuộc sống nầy. Chúng nó sống hay chết tất cả đều làm lợi cho đời. Còn con người chắc chưa hẳn thế. Con người được xem là một động vật tinh khôn nhất, lo đi chinh phục hết nơi nầy đến chốn nọ. Nhưng ít ai tự chinh phục trong một hoàn cảnh như thế nầy đây. Quả thật con người còn phải chịu ơn và học hỏi thêm ở những loài vô tình nữa. Chứ đừng có ỷ thế làm người mà đi chinh phục thiên nhiên. Rồi một ngày nào đó thiên nhiên sẽ phẩn nộ khiến cho con người sẽ bị hoạ diệt vong mà ngày ấy chắc chẳng xa đâu! Từ lòng đất thiên nhiên đã cho ta đủ loại hoa màu cây cỏ, rau trái, côn trùng, sâu bọ v.v…Loài nào cũng có ích và nhiều loài tuy vô ích; nhưng không có chúng thì thế giới nầy sẽ sớm bị huỷ diệt. Ví dụ như hổ báo, hùm beo, sư tử. Tuy dữ với loài người, mà thiên nhiên cần phải có chúng để cân bằng lực lượng.

- Chắc là cũng giống như ông Thiện và ông Ác đang thờ trong chùa nầy chăng thưa đại huynh?

- Đúng vậy! Ở đâu có thiện thì ở đó có ác, nhất là thế giới chúng ta đang ở, thiện và ác lẫn lộn nhau. Cho nên những thế giới ở cõi trên chỉ toàn là thiện, và những thế giới ở cõi dưới chỉ toàn là ác. Kẻ ác thì có người ác trị, kẻ Thiện thì có người Thiện hộ trì. Quả thật nhân nào quả nấy là như thế đó. Vì vậy cho nên chúng ta gọi là đời. Tại sao gọi là đời, vì lẽ nó vừa có cái nầy, mà cũng vừa lại có cái kia. Ông ác ấy không phải để hù doạ con người, mà ông ác ấy phát nguyện sanh ra làm ông hộ pháp tướng ác để độ cho người ác. Còn ông Thiện kia với dáng điệu hiền lành ai cũng muốn gần, do vậy ở trong chùa có thờ cả ông Thiện lẫn ông Ác là thế.

Từ sáng đến giờ cả hai người sau khi lễ Phật cầu nguyện, họ đã dong dũi khắp cả vườn chùa và bây giờ mặt trời đã gần đứng ngọ, họ chuẩn bị ra về, và dời bước đến cổng Tam Quan thì gặp ngay Hoà Thượng Trụ Trì, họ tự giới thiệu:

- Nam mô A Di Đà Phật, bẩm Ngài tiểu sinh đây là Ngọc Minh và tiểu đệ đây là Vạn Tâm. Cả hai đều là nho sinh của bản làng nầy và hôm nay nhân trước kỳ thi cùng lên đây lễ Phật và cầu nguyện, kính mong Ngài đại xá cho sự đường đột và quấy rầy nơi an tịnh của chốn thiền môn, nơi sơn tự từ sáng đến giờ

- Mô Phật, cửa Phật là cửa từ bi, vốn sẵn sàng mở rộng cho bao nhiêu khách trần ai lạc bước hoặc kẻ hữu duyên với đạo, không nệ hà gì mà khách sáo như thế, xin cứ tự nhiên, và đã đến giờ ngọ trai rồi, xin mời nhị vị vào trong dùng trà và có thể cùng dùng trai cho tiện.

- Xin cảm tạ tấm lòng tốt của Ngài, đã mở lượng từ bi cho sự đường đột dại khờ, đã không bắt lỗi mà còn không khách sáo cho tiểu sinh có cơ hội làm quen với cửa chùa, nhưng xin khất cho lần khác, vì lần nầy đã không dự định, phải rời khỏi gia trang và học đường một thời gian quá lâu như thế, khiến cho phụ mẫu và thầy dạy ngồi chờ tại nhà, ngưỡng mong Hoà Thượng hoan hỷ.

- A Di Đà Phật cửa Phật từ bi không chấp trước không tạo khó khăn cho khách thập phương mà cũng chẳng phải khách sáo. Xin quý khách cứ tùy tiện!

Thế rồi cả hai cùng xuống núi và mỗi người đi vào một ngã rẽ của đường làng cũng là ngã rẽ của cuộc đời. Đường đời vạn nẻo đạo lý chỉ có một chứ không hai. Do vậy mà sau khi gặp được Hoà Thượng Trụ Trì Hưng Phước Tự họ thấy Ngài đạo mạo, ngoại tướng trang nghiêm, khiến ai mới gặp cũng sanh tâm kính ngưỡng. Đó là kết quả của bao tháng ngày ngồi Thiền, trì chú, niệm Phật nơi chùa nầy. Vì thế trên từ vua quan, dưới đến thứ dân ai ai cũng một lòng cung kính trọng vọng. Thế mới biết phép Phật nhiệm mầu.

Trên đường về mỗi người mang một tâm sự khác nhau. Kẻ thì khen chùa đẹp trang nghiêm, người thì cảm được mùi Thiền, nên có nhiều tính toán cho tương lai. Mà tương lai thì còn xa thẳm; cho nên chẳng ai thổ lộ cho ai điều gì. Chỉ có một điều chắc chắn là họ đã là bạn thân và bây giờ lại thân nhau hơn. Những gì khó khăn họ trao đổi học hỏi luận bàn với nhau, những gì cao siêu quá họ hỏi thầy dạy của họ và những gì mà sách Thánh Hiền không đề cập đến thì cả hai đều lên chùa Hưng Phước để gặp Hoà Thượng Trụ Trì và mong Ngài giảng cho đạo lý nhiệm mầu của đạo Phật, trong cuộc sống vốn thanh bình nhưng đều có những cam go thử thách của cuộc đời nầy.

 

Chương 2. Tình Thầy Trò

Người mẹ rất đau khổ đặt đứa con mới sinh được mấy ngày trước cửa chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự rồi thì thầm khấn:

Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm! Con là người mẹ bạc phước vô duyên, sinh con mà không dám nuôi. Vì lỗi lầm tự tạo và vì miệng đời chanh chua, dèm pha muôn nẻo. Nên con đã cắt núm ruột của con để lại nơi cửa Thiền, mong Ngài từ bi độ trì cho đứa trẻ. Xin ngài đoái thương và cứu vớt cho một người mẹ đã lỗi lầm.

Sương mù vẫn còn dày đặc, giăng tận xuống cổng tam quan. Sư Cụ Trụ Trì khoan thai từng bước một xuống thềm chánh điện và tiến ra phía trước cổng chùa để mở cửa. Bỗng nhiên, Sư Cụ nghe tiếng khóc của trẻ sơ sinh và nhìn chiếc nôi, trong ấy có một tờ giấy ghi mấy chữ ngoạch ngoạc như thế nầy:

“Kính lạy Ngài hoan hỷ nuôi dùm đứa bé. Vì lý do gì thì xin Ngài đừng tra hỏi, xin hẹn lại một ngày sau. Nếu nhân duyên hội ngộ xin bày tỏ hết các ngọn ngành - người mẹ đau khổ ký tên”

Cửa chùa Hưng Phước bây giờ ngoài hồi chuông triêu mộ sớm chiều của các Tịnh Hạnh Nhơn hô canh ngày hai buổi, còn thêm tiếng khóc của trẻ thơ nữa. Đứa bé ấy thay vì nghe lời mẹ ru với võng đưa kẻo kẹt hằng ngày thì được Hoà Thượng và các Tịnh Hạnh Nhơn cho bé nghe lời kinh tiếng kệ cùng mõ sớm chuông mai như thế nầy.

    “Nam mô A Di Đà Phật

    Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”

    Nguyện tiếng chuông nầy vượt ngoài pháp giới

    Núi thiết vi u ám thảy đều nghe

    Nghe chuông lòng thanh tịnh chứng viên thông

    Hết thảy chúng sanh đạt thành Chánh Giác

    Nghe chuông ngân lòng nhẹ lâng

    Trí huệ phát Bồ Đề Tâm

    Lìa địa ngục thoát hầm lửa

    Nguyện thành Phật, độ chúng sanh

    Phá Địa Ngục chân ngôn:

    Án Dà Ra Đế Da Ta Bà Ha

    Chuông gióng lên đợt đầu

    Niệm kệ báu nâng cao

    Trên thông vào thiên đường

    Dưới thấu trường địa ngục

    Nam mô Bồ Tát Địa Tạng Vương

    Giáo chủ cõi U minh,

    Cứu bạt khổ chúng sinh

    Đại nguyện Ngài rộng thênh

    Chuông gióng lên đợt hai

    Niệm kệ báu nâng cao

    Trên thông vào thiên đường

    Dưới thấu trường địa ngục

    Nam mô Bồ Tát Địa Tạng Vương

    Giáo chủ cõi U minh,

    Cứu bạt khổ chúng sinh

    Đại nguyện Ngài rộng thênh

    Chuông gióng lên đợt ba

    Niệm kệ báu nâng cao

    Trên thông vào thiên đường

    Dưới thấu trường địa ngục

    Nam mô Bồ Tát Địa Tạng Vương

    Giáo chủ cõi U minh,

    Cứu bạt khổ chúng sinh

    Đại nguyện Ngài viên thành.

    Ngưỡng chúc Phật pháp mãi rạng ngời

    Bánh xe pháp đời đời chuyển vận

    Gió hòa, mưa thuận thấm nhuần

    Dân an, nước thịnh, khắp cùng nơi nơi. O

    Trong ba cõi, bốn loài

    Mỗi mỗi thoát luân hồi

    Trong mười loại hữu tình

    Ắt lìa khổ ngục hình. O

    Năm tháng thuận gió mưa

    Khỏi gặp năm đói khát

    Đông nam sống hòa lạc

    Thời Nghiêu Thuấn thái bình. O

    Thôi chấm dứt chiến tranh.

    Tử nạn những thương vong

    Đều siêu sanh tịnh độ

    Đất lành, người hoàn hảo. O

    Loài chim bay, thú chạy

    Không bị lưới, bẩy giăng

    Kẻ lưu lãng cô thân

    Sớm quay về hương quán O

    Vô biên thế giới

    Đất rộng trời cao

    Tín thí gần xa

    Phước thọ dồi dào O

    Thiền môn hưng thịnh

    Phật pháp phát huy

    Thổ địa long thần

    Hộ Tăng an tịnh O

    Cha mẹ cùng thầy học

    Còn, mất đều lợi lạc

    Tổ tiên bao đời trước

    Cùng nhau được siêu thoát. O

    Nam mô Đức Phật Tỳ Lô Giá Na O

    Nam mô Đức Phật Tỳ Lô Xá Na O

    Nam mô Đức Phật Thích Ca Mâu Ni O

    Nam mô Đức Phật Di Lặc Từ Tôn O

    Nam mô Đức Phật A Di Đà cõi Cực Lạc O

    Nam mô mười phương ba đời các Đức Phật O

    Nam mô Đức Bồ tát Đại Trí Văn Thù O

    Nam mô ĐứcBồ tát Đại Hạnh Phổ Hiền O

    Nam Mô Đức Bồ tát Đại Bi Quán Thế Âm O

    Nam mô Đức Bồ tát Đại thế Chí. O

    Nam mô Đức Bồ tát Già Lam Thánh Chúng O

    Mười Phương ba đời bảy đức Như Lai

    Cùng tám mươi tám Phật trên liên đài

    Chúng sanh sáu đường mong thoát khổ

    Chín cõi mười loài khỏi trần ai O

    Chuông ngân dồn dập lại gióng lên

    Chùa viện chúng Tăng hãy nhớ ghi

    Tu tập bốn thời tuân qui chế

    Xuống giường cất bước giữ oai nghi. O

Tụng: Đại Bi, Kinh Di Đà, Bát Nhã, Niệm Phật, Hồi hướng, Phục Nguyện, Tự quy y và cuối cùng là đọc bài Kệ dứt chuông:

    Trăm tám tiếng chuông hướng Phật tiền O

    Trên thông dưới thấu thảy an nhiên O

    Sáu đường chúng sanh mong thoát khổ O

    Chín cõi  mười loài hết lụy phiền. O

    Nam mô siêu lạc độ Bồ Tát Ma Ha Tát O-OO-O.[2]

Sư Cụ Hoà Thượng Từ Tâm, Phương Trượng Chùa Sắc Tứ Hưng Phước là một bậc thâm nho kỳ cựu, Trước khi đi xuất gia, Ngài đã là một vị quan văn tại chốn triều đình, xuất thân từ một gia đình vọng tộc. Tuy không giàu có, do của bất chánh nhưng ruộng đất cha mẹ để lại cũng như bằng cấp và chỗ đứng trong xã hội, đã làm cho vị quan văn ấy không hổ phận khi xuất hiện trước bàng dân thiên hạ hay ở chốn quan trường đối với các quan trên dưới. Tuy nhiên đứng trên bàng dân để xử kiện hay giao dịch với các nước lân bang và những lần đi kinh lý, vị quan ấy thấy dẫy đầy những kịch tính mà mình phải đóng như trong phim trường, cốt cho xong một bổn phận là “cha mẹ của dân”. Cứ mỗi lần xét xử một vụ kiện như thế, vị quan nầy chẳng yên tâm chút nào, dẫu cho luật pháp đương thời của triều đình có nghiêm minh bao nhiêu đi chăng nữa, thì đa phần kẻ thắng vẫn là kẻ có tiền, và có quyền do vậy mà Ngài đã chán ngấy cảnh nầy nên đã giũ áo từ quan, tìm vào chốn am thiền để tìm lại con người chân thật của mình, đôi khi Ngài tự nhủ. Không biết trong đời này có ai nói thật những thói hư tật xấu của mình cho người khác biết để tránh không? Hay cũng chỉ là tốt khoe xấu che. Có ai sợ sám hối ăn năn những lỗi lầm của mình khi vấp phải hay cũng chỉ là vá víu tạm thời.

Chỉ chừng đó câu hỏi, và chỉ chừng đó suy tư cũng đã làm cho vị quan văn nầy tỉnh ngộ và chỉ có chốn thiền môn, mới có thể giải quyết được những thắc mắc nầy. Nhất là giáo lý thậm thâm vi diệu của Hoa Nghiêm, của Bát Nhã, của Tánh Không, của Duy Thức, giúp Ngài tỉnh giấc mộng Nam Kha, mà chốn quan trường cũng giống như:

“Xá chi một quả chuối xanh

Ba bảy người dành cho mũ dính tay”

Ngài đọc tiểu sử của Thiền Sư Huyền Quang đời Trần tức Lý Đạo Tái, vị nầy cũng xuất thân từ chốn quan trường, đã đổ bằng tiến sĩ, ra làm quan một thời gian nhưng lại về hưu non và quyết chí tu hành cho đến ngày đắc đạo. Hai câu thơ mà Huyền Quang để lại vào thời ấy nay vẫn còn có ý nghĩa như thường. Đó là:

“Khó khăn thì chẳng ai nhìn

Đến khi đổ trạng tám nghìn nhân duyên”

Thói đời vốn đen bạc, lòng người thay trắng đổi đen, nhưng khi vào chùa cũng chưa phải là hết nợ. Ví như hôm nay đó, tự dưng thằng bé kháu khỉnh lại bị bỏ trước chùa. Ta lại phải cưu mang. Có lẽ họ nghĩ rằng: “Cửa chùa là cửa từ bi và vị thầy cưu mang đứa trẻ chắc cũng là chuyện bình thường như của Vua Lý Công Uẩn năm xưa chăng?”

Con ai đem bỏ chùa nầy

A Di Đà Phật con thầy thầy nuôi

Chưa hẳn là vậy. Đã là người xuất gia thì làm gì có con riêng, trừ phi vị ấy lập gia đình, có con cái rồi mới đi tu. Còn đây ta vốn trinh nguyên từ chốn quan trường cho đến khi được sắc phong Hoà Thượng, biết đâu ta nuôi đứa bé nầy để ngày sau nó sẽ giống như Công Uẩn là:

“Nửa đêm chẳng dám dang chân duỗi

Chỉ sợ sơn hà xã tắc xiêu”

Biết đâu nhưng trong dáng điệu đứa bé nầy sao ta thấy nó kháu khỉnh quá, chắc rằng nghiệp lực của nó, còn nặng nợ trần duyên lắm; chứ chưa hẳn đã là một đứa bé “xuất trần thượng sĩ” đâu.

Hòa Thượng Từ Tâm nhìn đứa bé một cách chăm chú và nó cũng đáp lại Hoà Thượng bằng tiếng khóc o oe...và đôi khi lại càng khóc to hơn nữa, khiến cho các vị Tịnh Hạnh Nhân trong chùa phải lo đi khuấy cháo sữa cho nó. Quả thật chùa đã bận rộn, lại càng thêm bận rộn hơn nữa.

Ngày lại tháng qua đứa trẻ ấy lớn lên như thổi, được Sư Cụ Từ Tâm đặt cho Pháp Danh là Ngộ Đạo, lấy họ của mình làm chỗ dựa cho bé, kể từ đó, chùa như rạng rỡ hơn, vì có tiếng khóc của trẻ thơ. Có người hiểu chuyện giúp Sư Cụ việc nầy việc nọ, như thay tả khuấy sữa cho bé, hoặc ru cho bé ngủ, nhưng cũng thật là lạ. Bé chỉ thích nghe chuông, ít thích những lời ru ngọt ngào, vì thế cho nên nhiều người nói rằng: “Bé đúng là có căn tu nên mới gặp được Hoà Thượng.”

Cũng có nhiều người không hiểu chuyện, buộc miệng bảo rằng: “thấy đứa bé giống Hoà Thượng như đúc”

- Thế ấy đừng có nói đùa, Ngài là người quan lại Mỹ nhân chỗ quyền quý còn không thích, thích gì những chuyện vụng trộm như thế nầy. Chẳng qua vì mối từ tâm, đúng như đạo hiệu của Ngài cho nên Ngài chỉ muốn nuôi đứa bé nầy thôi.

Ai nói gì, Ngài cũng chẳng phân trần, mà cũng chẳng giải thích. Chỉ có điều lúc nào Ngài cũng hoan hỷ mĩm cười và bảo rằng như thị, như thị…như thế đó, như thế đó.

Cái tên Ngộ Đạo, hay Đạo Ngộ nghe cũng hay hay, vì đọc theo kiểu nào cũng đều xuôi tai cả. Vì đạo mà gặp Ngài hay gặp được đạo qua Ngài cũng hay thôi. Cha mẹ chắc gì đặt được cái tên hay như thế.

- Quả thật người mẹ ấy khôn đấy chứ! một vị Tịnh Hạnh Nhân nói thế. Trong khi đó người khác chen vào:

- Khôn gì mà khôn. Niềm vui ai hưởng chứ sự cực nhọc thì khiến cho những già nầy mang, mà còn làm liên luỵ, phiền đến Hoà Thượng nữa.

- Vậy thì chữ từ bi nơi cửa Phật để ở đâu?

- Để ở đâu cũng được, nhưng cũng nhiều lúc cần phải đóng cửa từ bi lại, chứ như trường hợp nầy, thì Sư Cụ quá từ bi.

- Vậy thì phải giải quyết sao đây?

- Đã phát nguyện làm và tu theo hạnh Bồ Tát thì chấp nhận thôi. Cái gì mình bỏ chạy, trốn tránh việc ấy cứ theo hoài. Việc gì mình sẵn sàng đối diện thì mình sẽ vượt qua.

- Già không thấy trong luận Bảo Vương Tam Muội nói sao

- Nói như thế nào?

- Oan trái không cần biện bạch, vì còn biện bạch thì nhân quả chưa xả.

- Nhưng thầy mình đâu có mắc nợ ai đâu? Suốt đời từ khi làm quan cho đến khi tu hành cũng đều làm việc “thi ân chẳng cầu báo” Sao hôm nay chùa mình lại phải cưu mang thêm thằng bé nầy nữa?

- Biết đâu là Lý Công Uẩn tái sinh, hay Chu Nguyên Chương nhập thế chăng?

- Việc ấy xin miễn bàn.

Lời qua tiếng lại đối đáp với nhau của hai vị Tịnh Hạnh Nhân trong chùa, khiến Sư Cụ nghe được và từ tốn bảo rằng:

- Phàm làm người chúng ta phải có lượng từ bi, ngay cả khi chúng ta, những người tu theo Bồ Tát Hạnh bị oan ức, bị xẻ thịt phanh thây còn không giận người, trách đời, huống gì đây mới chỉ là một thử thách nhỏ. Các vị nghĩ như thế, vì họ đem bỏ con trước chùa. Nếu đem ba ký lô gram vàng ròng và hột xoàn, kim cương bỏ đó, chắc quý vị không trách cứ. Nhưng chắc gì hột xoàn kim cương, đã là một điềm lành. Thôi hãy chấp nhận vậy. Vả lại “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”xưa nay việc ấy vẫn thường, chúng sanh gây ra bao nhiêu tội lỗi chẳng cần biết, chỉ khi nghiệp đến rồi mới sợ mới lo. Còn Bồ Tát phải biết ngay từ lúc gây nhân thì quả ấy đã nắm chắc trong tay rồi. Cũng ví như nếu ta nhặt được quả cam non đem dùng thì chắc rằng đắng lắm chẳng ăn được; nhưng qua thời gian năm tháng quả cam ấy chín, ta hái để ăn. Lúc ấy ta thấy ngọt. Vậy vị ngọt nầy từ đâu đến. Nếu chẳng phải từ cái chua kia mà có, vì thế mà Phật dạy rằng: “Phiền não tức Bồ Đề là vậy” Sự giải thoát giác ngộ quyết không ngoài những phiền não khổ đau trong đời nầy mà có được. Trong cái nhân đắng ấy đã hàm chứa chất ngọt rồi, chỉ vì chúng ta không biết chuyển hoá khổ đau tục luỵ thành Niết Bàn An Lạc đấy thôi, chứ nếu chúng ta biết áp dụng, đúng tinh thần Bồ Tát Đạo, thì làm sao chúng ta có thể tìm niềm vui riêng biêt, khi chúng sanh còn đau khổ nơi chốn hồng trần nầy. Vả lại đứa bé nầy biết đâu sẽ tốt về sau, mà cũng có thể sẽ xấu về sau. Như trong kinh Kim Cang Phật dạy rằng: “Tất cả các pháp đều không có tính nhất định. Cái đúng của ngày hôm qua, cũng có thể là cái sai của ngày hôm nay, và cái sai của ngày hôm nay, có thể vẫn là cái đúng của ngày mai, vì tất cả pháp đều là Phật Pháp cả. Dầu cho pháp ấy là pháp của thế gian hay xuất thế gian. Biết đâu người mẹ đau khổ của đứa bé nầy đang hối hận mà cũng đang hạnh phúc. Hạnh Phúc vì được nhà chùa nuôi nấng tử tế và được huấn luyện học hỏi hằng ngày nơi chốn thiền môn; nên người mẹ rất an lòng. Có người mẹ nào mà chẳng thương con. Biết đâu bà ta mỗi ngày đang dõi mắt trông vào chùa để xem hành hoạt của con mình vì thế mà hạnh phúc. Nhưng cũng biết đâu người mẹ đau khổ ấy rất khổ tâm, vì muốn chuộc lại con mình, nhưng sợ miệng đời đen bạc dèm pha. Do vậy mà vẫn âm thầm chịu đựng khổ đau và biết đâu Bồ Tát Quan Thế Âm thử lòng những kẻ tu hành như chúng ta có thật sự cứu khổ khi kẻ lâm nguy đến kêu cầu với mình chăng. Vả thật có nhiều lý do để mà suy đoán; nhưng nghĩ suy làm gì cho mệt trí. Hãy xem đây là một niềm vui là hạnh phúc rồi. Vì ta đã làm an lòng cho một người mẹ khổ đau như thế”

Mới đó mà đã tròn ba tuổi, bé Ngộ Đạo lúc nào cũng quấn quít bên Sư Cụ như thầy trò, như cha con và cũng như ông cháu. Người ngoài nhìn vào một già một trẻ lúc nào cũng bên cạnh nhau ra điều tâm đắc lắm.

Một hôm Sư Cụ Từ Tâm bảo rằng:

- Ngày mai là mồng một, chiều nay chúng ta sám hối

- Sám hối là gì vậy ông?

- Sám hối là sám hối. Bây giờ con còn nhỏ chưa hiểu đâu. Lớn thêm một chút nữa ông sẽ giải thích cho.

Bé vâng lời lên chánh điện vào giờ lễ sám hối. Bây giờ ai trông thấy bé cũng muốn gần. Kẻ xoa đầu, người vuốt tóc, trên ba cái chỏm trái đào còn lại. Hiện lên trên đôi má ửng hồng, giống như một hoa sen đang kỳ nở hương thơm ngát. Có người thì trêu cháu hỏi mẹ cha ở đâu. Người thì kín đáo hơn cho bé trái đào, trái ổi để được bồng ẵm và nâng niu bé. Ai làm cách nào bé cũng thuận theo và vì thế Hoà Thượng được khen là người mát tay nuôi dạy trẻ. Có người bảo:

- Từ nhỏ đến giờ Sư Cụ đâu có bao giờ chăm sóc tuổi thơ đâu mà Ngài tài tình quá nhỉ.

- Thì chăm lo cho chốn quan trường cũng là một hình thức chăm sóc không phải sao? Ấy là người lớn. Còn ở đây là trẻ thơ, khó dạy khó bảo lắm. Có người lại tò mò muốn biết mẹ cháu là ai, biết đâu trong những người đi lễ chùa vào những lễ sám hối hay những ngày lễ lớn trong năm lại chẳng có mẹ cháu. Hãy để ý xem hành động của một người mẹ thật và một người bàng quan thì sẽ rõ.

- Đâu có ai dại gì mà nhận con lại trong lúc nầy. Vì Sư Cụ chăm sóc kỹ quá mà! Một người đàn bà nói thế.

- Đã là con thì hùm dữ chẳng ăn thịt con. Sao người mẹ nào lại đành đoạn thế?

Một bà khác nói:

- Theo tôi cứ để yên như thế là xong, lớn lên biết đâu tiểu sẽ đi tu. Vì ngày xưa người ta vẫn thường ví:

“Con vua thì lại làm vua

Con sãi ở chùa phải quét lá đa”

- Nhưng sư phụ mình đâu phải là người thường. Đó là bậc quan lại của triều đình. Đã bỏ chốn quan trường vào cửa Phật xuất gia, thì chắc rằng Ngài cũng phải cho tiểu nầy học đến nơi đến chốn chứ.

- Ừ tuỳ theo thằng bé nếu nó thông minh.

- Trông dáng nó kìa vừa xinh vừa hồng hào, trông như quả đào chín mộng ấy!

- Ấy đừng khen con trẻ ở tuổi nầy

Sau lễ sám hối hôm đó, bé Ngộ Đạo được vào liêu phòng của Hoà Thượng Phương Trượng và bé cất tiếng hỏi “Bạch sư ông, mẹ cha của con sao chẳng thấy đến chùa lễ Phật?

Câu hỏi của bé khiến sư ông suy nghĩ hồi lâu mới trả lời.

- Chắc là bận lắm!

- Nhưng con chưa bao giờ gặp

- À! chuyện nầy thì dài dòng lắm, làm sao con hiểu hết được đây. Nếu ông có nói cho con nghe bây giờ, thì sau nầy chắc gì con còn nhớ. Vì con còn quá nhỏ, thôi để từ từ khi con lớn lên năm, bảy tuổi ông sẽ kể cho con nghe. Lúc ấy, con sẽ có được sự nhận định rõ ràng hơn. Còn bây giờ thì …

- …. con muốn nghe

- Nhưng ở tuổi này con nghe đâu có ích gì. Con hãy trở lại phòng mình đi ngủ sớm, ngày mai còn phải cùng ông ra vườn tưới cây kiểng và xem bướm hay hoa nở nữa.

Con nít khi bị dụ vào mục tiêu khác, nhất là mục tiêu nào chúng thích thì chúng sẽ sớm quên ngay những gì chúng đang đòi hỏi. Dầu cho việc đòi hỏi ấy, có quan trọng đi nữa cũng sẽ dễ quên đi. Sáng hôm sau cả hai ông cháu đều ra vườn và họ thủ thỉ với nhau ra chiều tâm đắc lắm.

Đây là bụi hoa mai, đây là giàn hoa thiên lý, đây là hoa cẩm chướng, đây là hoa anh đào.

- Nhưng tại sao gọi là Hoa, thưa ông?

- Thì tại nó là hoa. Nhưng sau nầy con lớn khôn lên, con học chữ Hán để biết thì ý nghĩa kỳ diệu lắm! Chữ Hán là một loại chữ tượng hình, từ đời ông Bành Tổ bên Tàu đã hơn năm ngàn năm nay, họ dùng chữ tượng hình để viết và gọi tên con người, con vật, cây cỏ v.v..Ví dụ như chữ Hoa viết bên trên là bộ Thảo có nghĩa là loài cây cỏ. Bên dưới là chữ Hoá có nghĩa là sự biến đổi của đất trời vạn vật. Nếu chiết tự thêm ra nữa thì một bên có bộ nhân đứng tức là người, còn bên kia là bộ Trĩ ví như cuộc đời nầy yên lặng. Mọi việc đều vô sự mà có đầy đủ việc ăn uống an lành. Như thế cả ba bộ ghép lại thành chữ Hoa. Hoa là kết tinh của cuộc đời, của con người và của sự vật. Hoa mang hương sắc đến cho đời, điểm tô cho đời thêm lộng lẫy nên thơ và chính hoa cũng làm cho đời khổ lụy. …

- Tại sao vậy ông?

- Thì cũng như trường hợp của mẹ con đó. Người ta khi nghĩ đến một người đàn bà còn trẻ mà bạc phước thì người ta nói uổng một đời hoa,

- Vậy mẹ con đã chết hay còn sống?

- Chắc rằng …..

- Mẹ con đã chết hả ông?

- Điều đó không chắc lắm, vì con là đứa con rơi, mẹ con đem bỏ trước cửa chùa vào một ngày mùa đông mưa gió, mới đó mà cũng bốn, năm năm rồi. Quả thật thời gian trôi nhanh thật, đâu có ai ngờ….

- Ngờ gì thưa ông?

- Biết đâu mẹ con đã vào chùa tu niệm

- Mà cũng chưa chắc; hay là mẹ con đã lấy chồng khác.

- Hoặc giả mẹ con đã biệt xứ ra đi, mà cũng chưa chắc nữa. Biết đâu mẹ con đang ở gần đây để xem sự trưởng thành của con nữa. Đâu có người mẹ nào mà chẳng thương con….

- Nhưng còn ba của con…?

- Đó là điều bí hiểm nữa, chỉ có mẹ con là người biết rõ thôi.

- Thôi! Con đừng hỏi nữa, hãy lo học và cầu nguyện, biết đâu một ngày nào đó, sẽ có ngày hội ngộ, và lúc trùng phùng con sẽ rõ biết hơn. Còn ông, ông chỉ biết đến đó và ông cũng biết cuộc đời của con người vốn gốc của nó là Khổ đau tục luỵ mà thôi

- Đây là cây Uất Kim Hương nầy

- Uất Kim Hương là gì vậy ông?

- Là cây nghệ đó

- Cây nầy nên thuốc lắm. Nếu bị thương mà không có thuốc gì đắp lên vết thương thì cứ giả nhỏ Uất Kim Hương rồi đắp lên vết thương và ràn lại cho kỹ, trước sau vết thương cũng sẽ lành.

- Vậy con lấy lá đắp lên chân con nghe?

- Không phải vậy. Vả lại con có bị thương đâu. Lại nữa củ của Uất Kim Hương mới có tác dụng, chứ lá thì chẳng công hiệu gì đâu.

- Đây là trà hoa nữ, đó là hoa Tý Ngọ, hoa Phù Dung,

- Tại sao gọi là trà hoa nữa, Tý Ngọ cũng như Phù Dung thưa ông?

- Thì loại nào sớm nở chiều tàn người ta gọi là Phù Dung. Vì nó đẹp, nhưng nó phù du lắm. Có đó rồi mất đó. Đẹp đó rồi xấu đó. Tất cả chỉ là phù du mộng ảo, như chốn quan trường vậy thôi.

- Ông nói gì con không hiểu?

-