Paris, đầu hạ năm 1997
Thích Trí Siêu
Khái Niệm Phật
Trước kia, khi nói đến Phật, tôi chỉ liên tưởng đến
hình ảnh của Phật Thích Ca. Và mỗi khi tôi mong hay nguyện thành Phật thì
tôi ao ước mình sẽ trở thành y hệt như Phật Thích Ca. Ðến khi tôi theo học
với các Lạt Ma Tây Tạng, họ dạy rằng các vị Lạt Ma cao cấp như Rinpoché,
Tulku đều là Phật. Những lúc đó tôi thường ấm ức trong lòng và nhiều lúc
tôi cãi, nói rằng đức Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, trái tai dài xuống
cổ, tay dài tới gối, v.v.... Sao các vị Lama Rinpoché (Phật) kia hình
tướng bình thường, chả có gì đặc sắc mà cứ gọi họ là Phật?
Cứ
thế tôi tranh luận, cãi lý với các bạn đồng tu. Gyalwa Karmapa thứ 16, tổ
của phái Kagyupa, trước khi mất đã ấn chứng rằng Lama Guendune Rinpoché là
người chứng được trạng thái Dorjé Chang, tức chứng ngộ hay đạt được phật
tánh và đệ tử của Lama Guendune thường gọi ngài là Phật (Boudhha). Ðến khi
tôi theo học với ngài ba năm thì hỡi ôi, tôi thấy ngài chả có gì là Phật
theo kinh sách Ðại thừa mà tôi đã học. Ngài cười giỡn như người thường và
có nhiều câu hỏi ngài trả lời là ngài không biết. Ðối với tôi, Phật là
nhất thiết trí, cái gì cũng biết hết, nhất là thấy được những ý nghĩ trong
đầu tôi (tha tâm thông), hay là thấy được những kiếp trước của tôi (túc
mạng thông). Vậy mà khi tôi hỏi những việc đó, ngài bảo không biết, làm
tôi chán nản thất vọng. Chỉ được một điều an ủi là ngài rất từ bi. Nhưng
có một lần chúng tôi thấy ngài nổi cơn thịnh nộ, la hét dữ tợn. Lần đó tôi
cũng hoang mang đặt câu hỏi, Rinpoché từ bi như vậy mà hãy còn sân, chắc
ngài chỉ là bồ tát thôi chứ chưa hẳn là Phật.
Cứ
thế mà tôi xét đoán, nghi ngờ ngài là Phật hay không là Phật. Mãi đến khi
tôi rời ngài và ba năm sau tôi mới hiểu được và công nhận ngài là người đã
giác ngộ.
Như tôi đã nói trong quyển 'Ðạo Gì', Phật của mỗi người mỗi khác, mỗi
người sẽ hình dung ông Phật của mình tùy theo phong tục tập quán, văn hóa
truyền thống của mình. Nhưng chính những quan niệm hay khái niệm về Phật
này sẽ khiến mình không bao giờ thấy được Phật. Vì ông Phật tự thân không
bao giờ giống như ông Phật mà ý thức mình đã từng mơ tưởng.
Càng cố gắng giảng giải, nói Phật là thế này, thế nọ, là tánh giác, là
chánh niệm hay là bất cứ cái gì đi nữa cũng không tránh khỏi đưa người vào
sự mắc kẹt. Chỉ khi nào những khái niệm về Phật bị sụp đổ thì may ra lúc
đó ta mới thấy được hay hiểu được Phật, và khi đó cái chữ Phật hay danh từ
Phật không còn là vấn đề, gọi nó là gì cũng được. Tôi nhắc lại, khái niệm
Phật cần phải sụp đổ, sụp đổ chứ không phải bỏ qua. Qua kinh nghiệm của
tôi, chữ sụp đổ rất quan trọng, vì phải trải qua một lần gây dựng, tôn
sùng, bám víu, nâng niu cái lâu đài bằng sắt của mình cho đến khi chính
mình trở thành tù nhân của lâu đài. Lúc đó bị rơi vào cơn khủng hoảng, ta
vùng vẫy đập phá tìm cách thoát thân, nhưng những bức tường khái niệm kia
do chính ta xây quá kiên cố, kiên cố để bảo đảm sự an toàn. Rồi nhờ một
nhân duyên nào đó, một hoàn cảnh nào đó, hay là trời xui đất khiến, cái
lâu đài kia sụp đổ, ta thấy lại bầu trời tự do, bao la bát ngát. Bầu trời
kia từ xưa đến nay vẫn thế, có bao giờ mất đi đâu. Tôi đã mải mê tìm Phật
trong những bộ luận như Ðại Trí Ðộ luận, Trung Quán luận, vì tác giả là tổ
Long Thọ, một vị tổ lớn, một Ðại luận sư, nếu không học những bộ luận như
vậy thì không xứng đáng là một thầy tu trí thức. Trong những bộ đại luận
như thế, đức Phật thường được miêu tả một cách thần thánh hóa và lý tưởng
hóa, đức Phật có những thần lực như thế này, như thế kia. Nhìn lại các
thầy tu khác, tôi thấy chả có ai xứng đáng là Phật cả, và đương nhiên tâm
ngã mạn của tôi nổi lên. Thật là nguy hiểm.
Trong Thiền tông, có một thiền sư nói: mỗi khi nói đến chữ Phật, ông ta
phải đi xúc miệng ba lần. Quý vị có thấy ông ta vô lễ với Phật không? Hay
vì ông ta là thiền sư nên muốn nói sao cũng được?
Quý vị có hiểu vị thiền sư này chăng? Nếu hiểu thì chả có gì đáng nói. Còn
không thì đừng nên bắt chước ông ta và cũng đừng phán xét hay chỉ trích.
Một người giác ngộ tự tánh của mình, không nhất thiết phải có một tư cách
gì đặc biệt, khắc thường cả.
Một người giác ngộ rồi có thể trở thành một đạo sư, một tổ sư, hay một gã
ăn mày, một người thợ mộc, một tướng lãnh vv... Việc làm của họ vượt ngoài
những khuôn khổ cố định cứng ngắc của ý thức bình thường. Việc làm của họ
có thể gọi là 'xứng tánh tác phật sự'. Một khi thuận theo tự tánh mà sống
thì làm việc gì cũng là phật sự hết, ngay cả những việc mà ta quen gọi là
bất tịnh như đánh răng, xúc miệng, đi tiêu, đi tiểu cũng đều là phật sự.
Một người giác ngộ rồi có thể đi đứng thong thả, chậm rãi, chánh niệm,
nhưng cũng có thể chạy hùng hục, vội vàng, hấp tấp. Có người luôn mỉm cười
từ bi, nhưng cũng có người cau có khó chịu. Lịch sử Thiền tông đã cho
chúng ta thấy đủ loại tư cách khác nhau của các Thiền sư giác ngộ.
Hỏi: Người mới tu có cần khái niệm không?
Ðáp: Người mới tu rất cần nương vào những khái niệm có sẵn
của truyền thống để tiến bước. Và đến một lúc nào đó thì phải vượt qua tất
cả những khái niệm. Ðiều này có vẻ mâu thuẫn nhưng cũng là lẽ đương nhiên.
Thiền sư Lâm Tế có nói: 'Nếu ông không có gậy, ta sẽ cho ông một cây gậy.
Nếu ông có gậy thì ta đoạt lấy của ông'. Khi bám víu vào một giáo lý, một
khái niệm nào đó, cho nó là chân lý thì ta không thể thấy chân lý được
nữa. Bởi vì không có một chân lý duy nhất mà có nhiều chân lý.
Thí dụ người tu Tịnh Ðộ thì cho giáo lý Tịnh Ðộ là hay nhất, đúng nhất.
Nhưng không có giáo lý hay nhất và đúng nhất. Vì hay nhất, đúng nhất đối
với Ai? Chỉ có giáo lý thích hợp với mình trong một thời gian và hoàn cảnh
nào đó.
Giống như việc uống thuốc và đi ăn nhà hàng. Người bị nhức đầu uống thuốc
Aspirine thì thấy dễ chịu rồi đi đâu cũng mang theo Aspirine trên mình,
gặp ai cũng khoe là thuốc Aspirine tốt, uống vào dễ chịu, bớt đau ngay.
Nhưng nếu gặp người đau bao tử mà đưa cho họ Aspirine thì hỏng bét, vì
Aspirine sẽ làm lở bao tử và làm họ đau hơn.
Ði
ăn nhà hàng cũng vậy, người thích ăn món này, người thích ăn món kia. Ngay
cả khi ăn cùng một món, người này bảo nên cho nhiều dấm vào mới ngon,
nhưng đối với người khác thì phải cho nhiều ớt vào mới ngon. Vậy thế nào
mới thật là ngon? Mà ngon là ngon đối với ai chứ? Chúng ta cần phải ý thức
điều này và không nên bắt ép người khác phải theo ý mình.
Ðối với các Ðạo sư và quý thầy cũng vậy. Không có thầy nào hay nhất, giỏi
nhất. Hay nhất, giỏi nhất là dựa trên tiêu chuẩn nào? Của ai?
Ðức Dalai Lama, mỗi lần ghé qua Pháp, trong những buổi giảng công cộng,
ngài đều nhấn mạnh: 'nền tảng của tất cả đạo giáo là tình thương và lòng
vị tha, sự khoan dung và tôn trọng kẻ khác. Bao nhiêu chiến tranh trên
thế giới đều bắt nguồn từ sự ích kỷ, cố chấp vào ý kiến của mình cho là
đúng và muốn kẻ khác phải tuân theo.
Bệnh
Hỏi: Khi nói về bệnh, đa số đổ tại nghiệp, như vậy có nên chữa hay không?
Ðáp:Trước khi nói nên chữa hay không, ta phải xét lại nguyên nhân nào đã
đưa đến bệnh. Nếu ta không giữ gìn sức khỏe, ăn chơi trác táng rồi bị
bệnh, như thế có đổ tại nghiệp được không? Không tắm rửa sạch sẽ, bị sinh
ghẻ, có đổ tại nghiệp được không? Ai cũng biết nếu tắm rửa sạch sẽ thì làm
sao có ghẻ. Nhưng nếu tắm rửa đều đặn mà vẫn bị ghẻ thì lúc đó có thể đổ
tại nghiệp được. Còn chính mình dí tay vào lửa cho cháy rồi đổ tại nghiệp
thì đâu có được.
Sống phải biết vệ sinh, chữ vệ sinh có nghĩa là bảo vệ giữ gìn sự sống,
phải hiểu thân của mình cũng như chiếc bè qua sông. Ðang đi trên sông, nếu
không cần biết là bè bắt đầu nứt, nước tràn vào rồi mà cứ mặc kệ làm ngơ
thì nửa chừng sẽ phải chết chìm trước khi tới bờ.
Ở
các tu-viện và chùa, quý thầy, cô, các ông cha, bà sơ thường bị bệnh rất
nhiều vì thiếu hiểu biết về y-lý và sinh lý con người.
Hỏi: Có nhiều thầy bịnh không chịu uống thuốc, nói rằng phải lo tu hành,
đâu có thì giờ lo trị bịnh.
Ðáp: Nếu vậy thì tu chưa xong mà đã chết trước rồi. Trở lại vấn đề qua
sông, có nhiều người không biết lượng sức mình, cho rằng mình có thể bơi
một mạch qua sông tới bờ bên kia. Nhưng bơi mới tới giữa dòng thì đuối
sức, không bám víu vào đâu được, phải bị chết chìm, chết đuối.
Có
người biết mình bơi không nổi, đi lấy một số cây kết lại thành bè để qua
sông. Nhưng vì quá hấp tấp, làm vội vàng cẩu thả, giây bè cột không chắc,
ra đến giữa dòng thì giây bè mục đứt, vỡ bè rồi cũng chết đuối.
Có
người cẩn thận, biết suy tính, thấy con sông dài, biết phải cần làm một
cái bè thật chắc với bao nhiêu gỗ, bao nhiêu giây. Trong lúc anh này hãy
còn cặm cụi kết bè thì hai người kia đã nhẩy xuống sông trước rồi. Nhìn
qua thấy anh thứ ba tuy chậm, đi sau nhưng đến bờ kia an toàn. Còn hai anh
kia tuy có vẻ tinh tấn, cương quyết nhưng không tới bến.
Người tu cũng vậy. Có nhiều người quá khích, muốn mau thành chánh quả, tu
ngày tu đêm, thức khuya dậy sớm, quên ăn bỏ ngủ. Làm như thế chỉ hại thân
mình, quả Phật đâu chưa thấy mà thấy phải vào nhà thương sớm, tự làm khổ
mình và khổ lây những người xung quanh phải lo săn sóc cho mình.
Ðức Phật có nói người tu cũng giống như người chơi đàn. Phải biết lên dây
đàn cho đúng thì đàn mới kêu. Nếu lên dây căng quá thì sẽ đứt, mà chùn quá
thì không lên tiếng.
Hỏi: Có nhiều nơi tu chỉ ngủ có
bốn, năm tiếng.
Ðáp: Nếu ngủ bốn, năm tiếng mà trong ngày chỉ ngồi thiền, đi kinh hành,
không làm việc gì cần đến sức lực thì bốn,năm giờ có thể đủ. Nhưng nếu
trong ngày phải làm bao nhiêu việc như người ngoài đời thì sẽ hao phí sinh
lực, ốm o gầy mòn và chết sớm.
Hỏi: Có người làm việc như người thường mà đêm chỉ ngủ có bốn, năm tiếng
mà vẫn không sao?
Ðáp: Việc ngủ nghỉ không thể tổng quát hóa (géné-raliser) được. Thí dụ như
bà Thatcher, cựu thủ tướng nước Anh, mỗi đêm chỉ ngủ bốn, năm tiếng mà vẫn
làm việc không ai bì kịp.
Mỗi người là một tiểu vũ trụ, không ai giống ai. Mỗi người có một tạng
riêng, có người béo, có người gầy, người cao, kẻ thấp. Tùy theo tạng người
mà có người cần ăn nhiều, ăn ít, ngủ nhiều, ngủ ít. Con người đâu phải là
cái máy, rô bô mà bắt ai nấy phải ăn ngủ như nhau được.
Nếu cho rằng ngủ ít là tu giỏi thì bà Thatcher kia xứng đáng là người tu
giỏi.
Theo Ðông-Y thì con người có ba phần: tinh, khí, thần. Ăn uống không đủ,
thiếu dinh dưỡng hoặc dâm dục quá độ thì hao tinh. Không vận động thể dục,
thể thao hoặc làm việc quá sức, nói năng quá nhiều thì hao hơi tổn khí.
Suy nghĩ, lo lắng quá nhiều, ngủ nghỉ không đủ thì hao thần.
Người tu mà ăn uống không đủ dinh dưỡng, lại không vận động thể dục thì
tinh khí yếu, bởi vậy cần ngủ nhiều để bồi bổ lại thần. Nhưng nếu nay lại
bắt ngủ ít hơn người thường nữa thì chỉ có nước đi vãns sanh sớm. Người
nào tinh khí đầy đủ thì tự nhiên không cần ngủ nhiều mà vẫn khỏe như
thường.
Phật pháp bất định pháp. Không thể nói Phật pháp nhất định là thế này hay
thế kia được. Ở hoàn cảnh này, trong trường hợp này, đối với người căn cơ
này thì phải nói pháp như thế này. Gặp trường hợp khác, với người căn cơ
khác thì nói pháp theo cách khác.
Hỏi: Con nghe nói người tu phải 'tam thường bất túc'?
Ðáp: Tôi không đồng ý. Câu 'tam thường bất túc' có nghĩa là ba việc: ăn,
mặc, ngủ phải không đủ, luôn luôn thiếu. Trong kinh Bát Ðại Nhân Giác có
dạy 'thiểu dục tri túc', có nghĩa là nhờ ít ham muốn nên lúc nào cũng thấy
dư đủ. Người tu nhờ có thiểu dục tri túc nên không ham ăn, ham mặc, ham
ngủ, không tích trữ đồ ăn, không mua sắm nhiều quần áo, không ưa ngủ
giường cao, nệm ấm. Vì thế ba việc: ăn, mặc, ngủ không cần quá đầy đủ như
người thường. Theo tôi câu 'tam thường bất túc' nên đổi lại là 'tam thường
tri túc'.
Hỏi: Nghe thầy nói không giống mấy thầy khác. Quý thầy đa số nói tu là
phải khổ hạnh, không được lo vấn đề vật chất..
Ðáp: Khi tôi nói người tu cần phải ăn uống, ngủ nghỉ vừa đủ không có nghĩa
là lo cho vật chất mà là lo cho chiếc bè đừng sớm hư hoại trước khi sang
đến bờ bên kia. Cho tới bây giờ, khi nói đến chữ tu, người ta chỉ nghĩ tu
là tu tâm mà thôi. Nhưng đối với tôi, tu là tu cả hai: tu thân lẫn tu tâm.
Hỏi: Nhiều thầy chủ trương khi có bệnh không chịu chữa, chỉ lo niệm Phật
cầu vãng sinh.
Ðáp: Ðó là vì mấy thầy đó muốn chết. Người tu Tịnh Ðộ muốn vãng sinh cực
lạc, họ nghĩ nếu chết sớm thì về cực lạc sớm.
Hỏi: Có những trường hợp, người bệnh nặng gần chết, chí tâm niệm Phật một
thời gian thì bỗng nhiên hết bệnh.
Ðáp: Bình thường con người chết là do mạng căn đã hết. Song le nếu người
đó còn nhiều phước đức thì có thể kéo dài thêm mạng sống qua sự cầu
nguyện, lễ bái. Nếu mạng căn hết mà phước đức cũng hết thì dù có cầu
nguyện cách mấy đi nữa cũng không thể kéo dài thêm mạng sống.
Hỏi: Vậy theo thầy, khi bệnh có nên chữa trị không hay là niệm Phật cầu
vãng sinh?
Ðáp: Khi bệnh thập tử nhất sinh thì nên niệm Phật cầu vãng sinh, vì lúc đó
mình hoàn toàn bất lực.
Nhưng khi mới bắt đầu bệnh thì phải lo chữa trị, không nên phó thác tại
nghiệp. Lúc đó mạng sống hãy còn nằm trong tay mình, còn nước còn tát,
phải làm hết sức mình. Nếu làm hết sức mà không tránh khỏi thì hãy đổ tại
nghiệp.
Nếu bệnh mới phát mà không lo chữa trị để nó nặng thêm thì đó là do mình
vô ý tạo nên chứ không nên đổ tại nghiệp. Nếu muốn nói tại nghiệp cũng
được, nhưng là nghiệp vô minh không biết chữa trị sớm.
Hỏi: Thầy nói như vậy có vẻ nghiêng về phần đời nhiều hơn?
Ðáp: Ðời là gì? Ðạo là gì?
Sống mà có trí huệ, mỗi hành động, suy nghĩ thuận theo ý trời (nếu nói
theo bình dân) hoặc thuận theo tự tánh (hay phật tánh) được an lạc hạnh
phúc thì đó là Ðạo. Sống dưới hình thức Ðạo, tu Ðạo, lo cho Ðạo mà không
có từ bi trí huệ hay sự thương yêu hiểu biết, ba nghiệp thân, khẩu, ý bị
thúc đẩy, điều khiển bởi dục vọng ích kỷ, làm khổ mình và người thì đó là
Ðời.
Ðối với tôi, tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền chưa hẳn là Ðạo, làm cơm nấu
ăn, giặt giũ không hẳn là Ðời.
Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp. Ðức Phật Thích Ca đâu phải chỉ là Phật
vào những khi ngài ngồi thiền, thuyết pháp, còn những lúc ăn uống, ngủ
nghỉ, tắm rửa thì ngài không còn là Phật nữa.
Lại Tưởng Nữa
Thế giới mà chúng ta đang sống trong đó là một thế
giới hiện tượng (monde manifesté) , tức là sự vật ảnh hiện trước mặt ta và
giác quan của ta cảm nhận được.
Trời mưa, trời nắng, mắt ta thấy được như vậy. Ðây gọi là sự nhận biết của
mắt, trong đạo Phật gọi là nhãn tưởng (cakkhu-sanna). Tiếng khen, tiếng
chê, tiếng nhạc, v.v... tai ta nghe thấy được. Ðây gọi là sự nhận biết của
tai, hay nhĩ tưởng (sota-sanna).
Trong đạo Phật dạy lục căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) tiếp xúc với
lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) phát sinh ra lục thức. Ðây gọi
là bộ ba căn, trần, thức hay 18 giới. Có một điều quan trọng cần được nói
đến mà ít ai để ý, đó là tưởng. Một lần trong quyển Vô Ngã
tôi đã bàn đến chữ tưởng, ở đây xin nói nữa.
Tưởng là một uẩn (khandha) trong năm uẩn. Con người được cấu tạo bởi năm
uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Con người đau khổ vì cái máy năm uẩn
làm việc không chính xác.
Cái máy năm uẩn được đặt trong thế giới hiện tượng, sự tiếp xúc qua lại
đầu tiên giữa hai cái là qua tưởng (uẩn). Tưởng, tiếng Pháp hay tiếng Anh
dịch là perception, tức là sự nhận thức, nhận biết (thức là biết) qua giác
quan, còn gọi cách khác là tri giác. Tưởng (uẩn) cũng giống như cặp mắt
kính ta đeo để nhìn sự vật. Nếu đeo mắt kính đỏ thì thấy cảnh vật toàn là
màu đỏ, đeo mắt kính đen thì thấy cảnh vật màu đen, u tối ảm đạm.
Chúng ta đau khổ hay hạnh phúc đều do sự nhận thức của mình. Ðối với sự
vật, nếu ta nhận thức sai lầm thì khổ đau liền đến, nếu nhận thức đúng thì
hết khổ. Vậy muốn chấm dứt khổ đau, ta phải biết sửa đổi cách nhận thức
của mình, tức là sửa lại cách tưởng của mình, tập bỏ dần
những cặp mắt kính màu để nhìn trực tiếp sự vật.
Trong ngôn ngữ thông dụng hằng ngày, chữ tưởng thường được hiểu là 'tưởng
lầm'. Tôi tưởng hôm nay trời đẹp, hóa ra trời xấu. Tôi tưởng
anh đến hôm qua, ai dè hôm nay anh mới tới. Tôi tưởng cô ấy yêu
anh, ai ngờ cô ta chỉ đóng kịch mà thôi. Tôi tưởng sự vật như thế
này, nhưng thực tế sự vật lại như thế khác. Tôi tưởng người ta như
thế này, nhưng thực ra người ta như thế khác. Cứ thế tưởng được dùng theo
nghĩa hiểu lầm, tưởng lầm. Như vậy vô tình nó cho thấy là sự nhận thức
(tưởng) của ta thường là một sự nhận thức sai lầm. Ta cần ý thức rằng sự
nhận thức (hay tưởng) của ta đã bị ảnh hưởng và điều kiện hóa rất nhiều
bởi sự giáo dục trong gia đình, bởi văn hóa phong tục tập quán xã hội, bởi
tín ngưỡng tôn giáo.
Từ
sự nhận thức (tưởng) sai lầm, nó dẫn đến suy nghĩ (hành) sai lầm, rồi đánh
giá, phán xét, phân biệt (thức) sai lầm. Từ những sự sai lầm như thế đương
nhiên sẽ đưa đến khổ đau (khổ thọ).
Một người tưởng rằng ai cũng ghét mình, rồi nghĩ rằng ai cũng nói xấu
mình, rồi kết luận rằng người đời ác độc. Thử hỏi làm sao người này có thể
vui sống hạnh phúc được?
Bình thường chúng ta hay dùng chung hai chữ nghĩ và tưởng, như nghĩ tưởng
hoặc tưởng nghĩ, và nhiều lúc ta cho hai chữ giống nhau. Tưởng
(perception) thuộc tưởng uẩn, còn nghĩ (penser) thuộc hành uẩn. Theo tiến
trình bình thường thì tưởng trước rồi nghĩ sau. Thí dụ: anh A đang làm
việc bận rộn, tôi đến hỏi anh ta vài câu làm anh nổi nóng, la mắng tôi.
Tôi nghi nhận là anh A mắng tôi (đó là tưởng) và từ đó tôi nghĩ là anh A
ghét tôi, giận tôi, v.v... rồi tôi buồn (khổ) giận anh ta. Về nhà ăn uống
không vô, cứ ôm ấp nghĩ rằng anh A ghét mình. Thật là khổ!
Nhưng nếu tôi biết cách chuyển cái tưởng và cái nghĩ của tôi thì tôi sẽ
hết khổ. Tôi ghi nhận (tưởng) là anh A có mắng tôi, nhưng tôi nghĩ rằng
anh không ghét tôi, giận tôi, chỉ vì anh ta đang quá bận rộn mà tôi vô ý
đến quấy nhiễu nên anh phát cáu, thế thôi. Qua chuyện, ngày hôm sau thế
nào anh ta cũng trở lại bình thường. Nhờ nghĩ như vậy tôi sẽ không buồn
giận anh A. Và như thế là không có khổ! Trên đây mới chỉ là chuyển cái
nghĩ thôi.
Nếu ta đã học và hiểu được lý vô ngã thì ta chuyển ngay cái tưởng
ban đầu. Tức là ghi nhận: anh A có nổi sùng lên, la mắng ỏm tỏi, nhưng anh
đâu có mắng tôi. Chỉ có một sự phát cáu mà thôi, không có ai chửi ai hết.
Chúng ta có thể nói đến phật tánh, chân tâm, bát nhã, tánh không, v.v...
nhưng nếu ta không rõ về tưởng uẩn thì phật tánh, chân tâm kia cũng có thể
là một loại vọng tưởng, tức là một sự nhận biết sai lầm.
Người tu thiền, học theo kinh băng của thầy Thanh Từ hay dùng đến chữ vọng
tưởng, khi ngồi thiền mà ý nghĩ khởi lên lôi kéo ta đi thì gọi đó là vọng
tưởng. Vọng tưởng còn được hiểu là sự suy nghĩ lung tung không cho tâm
vắng lặng. Nhưng vọng tưởng hay tưởng (đa số những cái tưởng của chúng ta
thường mang tính chất sai lầm nên thêm chữ vọng cũng không sai) cần được ý
thức để chuyển hóa ngay trong đời sống hằng ngày chứ không phải chỉ khi
ngồi thiền yên lặng mới chú ý đến nó.
Tưởng đã làm chúng ta đau khổ nhiều rồi. Ðừng đổ lỗi mãi cho vô minh, đừng
đổ lỗi mãi cho phiền não. Vì ta tưởng lầm nên mới sinh phiền não. Con ếch
ngồi đáy giếng nhìn lên trời, thấy bầu trời chỉ bằng cái vung, rồi than
sao trời nhỏ quá. Một tuần nay, ở sở nhiều việc anh A phải nán lại làm
thêm nên về trễ. Ở nhà vợ anh chờ lâu nóng lòng, tưởng chồng mình
đi với tình nhân, rồi buồn tủi ngồi khóc.
Nếu bàn rộng ra thì tất cả những tư tưởng, ý nghĩ, quan niệm, khái niệm
đều có thể gọi là tưởng. Ta quan niệm rằng Phật là người như thế này, như
thế nọ, đó chẳng qua là do ta đã đọc sách, xem kinh (tưởng) nói về Phật
rồi ta đúc kết một hình dáng ông Phật trong tâm ta (hành), và đinh ninh
yên chí (thức) ông Phật đó là Phật thứ thiệt. Khi bị nạn, ta cầu cứu thì
ngài sẽ hiện ra nguyên hình cứu vớt ta. Như bên đạo Chúa, nhiều người vẫn
tin tưởng rằng thượng đế là một người hình dáng giống như chúa Giê-Su vẽ
hoặc in trong sách vở.
Có
một anh chàng nọ rất ngoan đạo, hằng đêm thường cầu nguyện thượng đế. Rồi
một hôm vỡ đê, nước lụt tràn vào làng, cuốn trôi đi nhà cửa. Bà con hàng
xóm mạnh ai nấy lo thoát thân. Anh ta không chạy đi đâu hết, yên chí
thượng đế sẽ hiện xuống cứu anh. Một lúc sau nước ngập đầy nhà, anh phải
trèo ra cửa sổ ngồi. Có một chiếc xuồng chèo ngang, trên đó người ta gọi
hỏi anh có muốn đi với họ không. Anh ta từ chối, nói rằng anh chờ thượng
đế xuống cứu anh ta. Vài phút sau nước tiếp tục dâng cao, anh phải leo lên
nóc nhà ngồi. Có một chiếc trực thăng bay qua, trên đó người ta hỏi anh có
muốn đi với họ không. Anh cũng từ chối, nói rằng anh tin tưởng chờ thượng
đế hiện xuống cứu anh. Chiếc trực thăng bỏ đi và chỉ vài giây sau nước
tràn tới cuốn anh ta trôi mất. Nếu nói về lòng tin thì anh này quả thật là
người có nhiều đức tin, nhưng vì cố chấp muốn thấy thượng đế phải hiện
xuống dơ tay cứu vớt mình như anh đã từng tưởng tượng. Anh đâu ngờ là
thượng đế đã hiện xuống với chiếc xuồng và chiếc máy bay trực thăng để cứu
anh nhưng chính anh đã từ chối, vì anh cho đó không phải là thượng đế.
Trong đầu anh, thượng đế phải là người tóc dài có râu, mặc áo thụng theo
kiểu 2000 năm trước.
Trong đời sống hằng ngày, tiếp xúc, đối đãi với mọi người, không lúc nào
mà ta không tưởng. Vì tưởng người khác là thế này, thế nọ nên sinh ra ưa
ghét, buồn vui, giận hờn, ganh tỵ, v.v... Phần đông sự tưởng của chúng ta
thường mang tính chất sai lầm, Duy Thức Học gọi đó là phi lượng, tức sự
nhận thức không đúng sự thật. Ðương nhiên cũng có lúc chúng ta tưởng đúng
nhưng trường hợp này rất ít, và khi tưởng đúng thì ta không dùng chữ tưởng
mà dùng chữ tri là biết hay biết chắc. Nhưng ai dám nói là mình biết chắc
điều gì? Thế giới mình đang sống đây là một thế giới ảo tưởng, tiếng Phạn
là Maya. Thế giới tự thân của nó không phải là ảo tưởng (illusion), nhưng
chính vì lục căn hay giác quan của ta quá thô kệch và hạn hẹp nên ta nhận
thức thế giới một cách méo mó. Từ đó những hiện tượng (chose manifestée)
trở nên ảo ảnh không thực. Sự vật vô thường mà ta lại cảm thấy là thường,
sự vật vô ngã mà ta cho là có ngã. Mắt thịt (nhục nhãn) của ta đâu thấy
được vi trùng, đâu thấy được những màu sắc dưới infra-rouge hoặc trên
ultra-violet. Tai ta đâu nghe được siêu âm thanh (ultra-son). Những gì mà
lục căn hay giác quan của ta không nhận biết được thì ta cho là không có,
không hiện hữu. Nhưng chúng vẫn có, vẫn hiện hữu, tôi gọi đó là thế giới
ẩn tượng (monde non-manifesté).
Ðối với thế giới ẩn tượng thì ta mù tịt, không hay biết chút nào. Còn đối
với thế giới hiện tượng thì ta nhận thức méo mó qua ảo tưởng và như thế
làm sao ta dám tuyên bố là ta biết chắc điều gì?
Thế giới hiện tượng của một người mù hay một người điếc nó khác hẳn với
cái thế giới hiện tượng của những người bình thường như chúng ta. Một ngày
nào đó gặp duyên may được chữa hết mù, hết điếc, mắt thấy và tai nghe
được, họ sẽ nhận ra rằng cái thế giới trước kia của họ thật là hạn hẹp.
Ngày nay trước mặt họ thế giới hiện ra mầu nhiệm hơn với muôn vàn màu sắc
âm thanh đủ loại. Ở đây khỏi cần nói, ta cũng biết là đời sống của họ trở
thành ý nghĩa hơn. Những màu sắc âm thanh kia đâu phải là không có, nhưng
vì giác quan nhận thức (hay cái tưởng) của họ quá hạn hẹp nên chúng biến
thành ẩn tượng. Có những điều người giác ngộ thấy được, biết được mà chúng
ta không thấy, không biết. Và như vậy cái thế giới hiện tượng của người
giác ngộ lại trở thành thế giới ẩn tượng đối với chúng ta. Nếu so sánh với
người giác ngộ thì ta đâu có khác gì người mù và điếc. Quý vị có nhớ
chuyện người mù sờ voi không?
Tôi nói như thế không phải cố ý làm cho quý vị khủng hoảng tinh thần, mà
muốn quý vị khi biết điều gì thì phải cẩn thận đừng quả quyết 100% là mình
biết chắc. Cái mà mình cho là biết chắc, chẳng qua vẫn chỉ là một loại
tưởng mà thôi. Sợi dây tưởng là con rắn, ngón tay tưởng là mặt trăng,
người bạn tưởng là kẻ thù, kinh sách tưởng là chân lý.
Giáo lý nào mà ta quả quyết cho đó là chân lý 100% thì giáo lý đó không
còn là chân lý nữa. Vì thế Lão tử có nói: 'Ðạo khả đạo phi thường đạo'.
Mỗi khi ta cho rằng mình biết được chân lý, nắm bắt được chân lý thì chân
lý đã tuột khỏi tầm tay của ta rồi.
Quý vị hãy biết, nên biết, cần biết, nhưng đừng cho
là mình biết chắc, thế thôi!
Mỗi cái biết, mỗi lần biết là một nấc thang,
nhưng không phải là nấc thang cuối cùng.
Quý vị biết chuyện người đeo tro đứa con chứ! Một người đàn ông nọ, vợ
chết sớm để lại một đứa con trai, ông ta rất cưng quý. Một hôm ông đi
vắng, có bọn cướp đến cướp của đốt làng rối bắt cóc đứa con trai của ông.
Khi trở về, thấy nhà cửa cháy tan, trong nhà có một xác chết, vì cháy đen
không nhìn rõ mặt nên ông liền cho đó là con trai của mình. Ðau đớn gào
thét một hồi, buồn khổ ông ta đem cái xác kia thiêu ra tro rồi bỏ vào một
cái túi đeo trên người để tưởng nhớ luôn đến đứa con trai yêu quý. Một
ngày kia, con trai của ông trốn thoát bọn cướp trở về nhà gõ cửa. Ông hỏi:
ai đó? Nó trả lời: con đây! Ba hãy mở cửa cho con vào. Ông ta quát lên:
đừng có nói bậy, con tao chết rồi. Tao đã thiêu nó và tro của nó tao đang
mang trên người đây. Ngươi là đứa nào mà dám xưng là con tao? Ði chỗ khác
chơi, đừng có lải nhải.
Tội nghiệp thằng bé đứng ngoài cửa, kêu gọi hết hơi mà người cha nhất
quyết không mở. Cuối cùng nó đành lủi thủi bỏ đi. Mình còn sống nhăn răng
đây mà cha mình cứ nhất quyết bảo mình đã chết, không chịu mở cửa cho vào,
lại còn đuổi đi. Thật là oan ức, tức tưởi làm sao!
Quý vị nghe qua câu chuyện trên có thấy buồn cười không? Cười người đàn
ông kia sao mà ngu quá! Dù sao đi nữa ông ta cũng nên mở cửa xem mặt mũi
thằng bé ra sao chứ! Và biết đâu nhờ đó ông ta có thể nhận ra con mình.
Nhưng đàng này ông cứ khăng khăng nhất định từ chối. Vì sao? Bởi vì ông ta
biết chắc, tin chắc là con mình đã chết nên đâu cần ra mở cửa làm
chi cho mệt.
Quý vị đừng cười ông ta, vì đa số chúng ta cũng giống như ông ấy. Chúng ta
tin chắc là mình biết chắc đạo Phật như thế này. Nếu có người khác đến bảo
đạo Phật không phải như thế này mà là như thế kia, thì chúng ta sẽ dẫy nẩy
lên nói: xin mời ông đi chỗ khác chơi, vì đạo Phật của ông không đúng, là
tà giáo. Ðạo Phật của tôi mới đúng, vì tôi đã theo nó, đeo nó từ 10 năm
nay rồi.
Trong kinh Duy Ma Cật, phẩm thứ nhất 'Phật Quốc' ngài Xá lợi Phất thắc mắc
tâm tịnh thì Phật độ tịnh. Các cõi Phật khác đều thanh tịnh, sao cõi Ta Bà
của Phật Thích Ca không thanh tịnh với hầm hố, chông gai, sỏi sạn, đất đá
nhơ nhớp? Lúc đó đức Phật mới lấy ngón chân nhấn xuống đất, tức thì đại
chúng liền thấy cõi Ta Bà này hiện ra trang nghiêm rực rỡ như cõi Vô Lượng
Công Ðức của Phật Bảo Trang Nghiêm và mọi người đều thấy mình đang ngồi
trên toà sen báu. Lấy ngón chân nhấn xuống đất tức là thay đổi cái nhận
thức (tưởng) của đại chúng.
Trong đời sống hằng ngày, đối với một người hay một sự việc nào đó mà mình
có vấn đề bất an, buồn bực đau khổ thì phải biết kiểm lại cái tưởng của
mình đối với người đó hoặc sự việc đó. Từ trước đến giờ mình đinh ninh,
tin chắc và nghĩ rằng người đó là như vậy, nhưng có thể họ không phải vậy
thì sao? Ðinh ninh tin chắc sự việc là như thế nhưng thực tế sự việc có
thể và rất có thể không phải là như thế thì sao?
Tôi không muốn quý vị vứt bỏ, từ chối tất cả niềm tin, hiểu biết hay khái
niệm sẵn có của mình từ trước tới nay mà hãy hé mở cửa tâm để có thể tiếp
nhận những điều hữu ích cho chính mình, để mình bớt khổ.
Ngoài chữ tưởng (perception) liên quan đến tưởng uẩn của đạo Phật còn có
một chữ nữa khá quan trọng trong việc chuyển hóa khổ đau đó là phóng
chiếu (projection).
Trong đời sống hằng ngày, có những ý nghĩ tình cảm mà ta không nhận ra
chúng là của riêng ta, phát xuất từ ta và ta phóng chiếu chúng vào sự vật
và người khác, rồi ta tưởng hay đinh ninh sự vật và người khác là như thế.
Danh từ bình dân gọi là 'suy bụng ta ra bụng người'.
'Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ', cảnh vật tự nó đâu có vui buồn, vì
trong tâm ta buồn rồi ta phóng chiếu cái buồn của mình lên cảnh vật và
thấy (tưởng) cảnh vật buồn. Nhiều lúc ta còn đổ tại cảnh buồn nên làm ta
buồn.
Cô
Tám có một người bạn thân là cô Ba. Cô Ba sống độc thân còn cô Tám có
chồng và hai con. Mỗi lần gặp nhau, cô Tám than thở giùm cô Ba: 'Tội
nghiệp chị! Chị sống một mình như vậy chắc khổ lắm nhỉ. Lâu lâu chị có
thấy buồn không?'
Nhưng cô Ba là người thích sống một mình, thích tự do, cô sống rất thoải
mái, không Bao giờ ao ước lấy chồng có con cả.
Trong trường hợp này ta thấy cô Tám đã phóng chiếu những quan niệm, ước
muốn và sợ hãi của mình vào cô Ba, vì nếu cô phải sống một mình như cô Ba,
không có chồng con bên cạnh thì cô sẽ cảm thấy buồn khổ bơ vơ khó sống.
Nhiều lúc cô Tám thấy thương và tội nghiệp cho bạn, cô muốn làm mai mối
tìm bạn trai cho cô Ba và cô tưởng làm như vậy là tốt, là đúng. Nhưng cô
không ngờ càng làm như vậy thì cô Ba càng bực mình khó chịu. Cô Ba đã hết
lời giảng giải cho cô Tám biết là cô không thích có chồng, cô rất hạnh
phúc sống độc thân. Nhưng cô Tám đâu có chịu nghe cô Ba, cô chỉ nghe theo
sự phóng chiếu của mình. Cuối cùng cô Ba đành phải nghỉ chơi, không giao
thiệp với cô Tám nữa để khỏi bực mình. Oái ăm hơn nữa là cô Tám không hiểu
tại sao bạn mình lại không chơi với mình nữa, trong khi đó mình hết lòng
với bạn, hết lòng muốn giúp bạn, v.v... Vì quá tin tưởng vào
sự phóng chiếu của mình nên cô mờ mắt, không nhận
thức, không hiểu được sự vật đúng như thật. Cô cứ tưởng là mình đúng, là
mình tốt, nhưng cô đã làm bạn mình khó chịu và hậu quả là cô cũng không
vui sướng gì vì cô mất đi một người bạn.
Có
nhiều bậc cha mẹ phóng chiếu tình cảm, ao ước của mình vào con cái. Như
muốn con gái mình phải lấy chồng bác sĩ, kỹ sư, v.v... Vì chính họ xưa kia
đã từng ao ước như vậy và họ tin rằng có chồng bác sĩ, kỹ sư thì mới có
hạnh phúc. Họ làm như chính họ đi lấy chồng chứ đâu phải con gái họ. Trong
khi đó cô gái kia đang yêu một anh nghệ sĩ nghèo, và đối với cô nếu lấy
được anh ta thì cô sẽ có hạnh phúc nhất đời. Câu chuyện đi tới đâu thì để
cho quý vị đoán hoặc tìm cải lương mà xem. Nhưng trên thực tế đã có nhiều
gia đình tan nát, con cái bỏ nhà ra đi hoặc tự tử,v.v... Chỉ vì sự phóng
chiếu của mình mà cha mẹ làm khổ con và làm khổ chính mình.
Trên đây chỉ là hai thí dụ nhỏ. Sự phóng chiếu đầy dẫy trong gia đình, xảy
ra thường xuyên giữa cha mẹ vợ chồng con cái, và với tất cả mọi người.
Ngay cả người tu vẫn còn phóng chiếu. Ta có thể vô tình phóng chiếu nhưng
nhớ đừng quá tin vào cái tưởng của mình, nhờ đó có thể giảm
bớt thiệt hại cho mình và người.
Trong Bát Nhã Tâm Kinh có đoạn nói: 'Bồ Tát nương theo Bát Nhã Ba la Mật
nên tâm không quái ngại, không sợ hãi, xa lìa điên đảo mộng tưởng, đạt đến
Niết Bàn'. Tôi không biết quý vị tu tập Bát Nhã làm sao, nhưng trước tiên
là cần phải kiểm lại cái tưởng của mình xem nó có phải là
một loại mộng tưởng không? Một loại tưởng đảo ngược (thiện mà cho là ác),
một loại tưởng của những người điên (không thật mà cho là thật).
Tịnh Ðộ
Hỏi: Tu Tịnh Ðộ chết về Cực lạc, còn tu Thiền chết đi về đâu?
Ðáp: Câu này thầy Thanh Từ đã trả lời rồi. Tu thiền cốt đạt đến chỗ vô
sinh mà nay lại hỏi đi về đâu thì vô lý. Người tu thiền chưa giác ngộ thì
tùy nghiệp tái sinh.
Riêng tôi thì tôi thấy không nên hỏi tu thiền chết đi về đâu mà nên hỏi tu
thiền sống đi về đâu?
Tại sao chúng ta cứ có quan niệm tu để sau này chết đi về đâu? Hoặc tu để
sau này hết khổ. Bồ Tát sợ nhân, chúng sinh sợ quả. Tại sao không lo sống
trọn vẹn ngày hôm nay mà cứ lo ngày mai?
Có
một người đi làm nhiều tiền nhưng không dám ăn, không dám mặc. Anh ta nói:
tôi để dành tiền để ngày mai ăn mặc no nê sung sướng. Nhưng sang này mai
anh vẫn không dám ăn mặc và nói: tôi để dành tiền để ngày mai ăn mặc no nê
sung sướng. Và cứ thế anh ta không bao giờ ăn mặc đầy đủ, vì cái ngày ăn
mặc no nê đầy đủ kia luôn luôn là ngày mai. Anh ta có đầy đủ tiền bạc
nhưng sống chẳng khác kẻ nghèo đói.
Người tu Tịnh Ðộ yên chí sau khi chết mình sẽ về cực lạc nên họ ưa thắc
mắc không biết người tu Thiền chết đi về đâu? Nhưng đối với người tu
Thiền, hiểu được tánh bất sinh bất diệt của các pháp thì không có gì đi
hay về, sống hay chết. Bởi vậy câu hỏi kia vô nghĩa đối với người tu
thiền.
Theo tôi, người tu Tịnh Ðộ có hai hạng: lạc quan và yếm thế.
*
Hạng yếm thế y cứ vào ngôn cú của kinh văn. Cõi Ta Bà là cõi ô
trược, đau khổ (ngũ trược ác thế), cõi Cực Lạc là cõi cực kỳ sung sướng.
Chủ trương của họ là yểm Ta Bà, hân tịnh độ, tức là chán ghét cảnh Ta Bà
nơi đây và ưa thích cõi Cực lạc đàng kia.
Cuộc sống hiện tại ở đây không vừa ý, họ là những người thất chí, chồng
phụ bạc, con bất hiếu, bạn lường gạt, đời hất hủi,..., thật là bất hạnh
đau khổ. Ðời họ chỉ thấy một màu đen tối ảm đạm. Những người tu như vậy
nếu không phải chán đời thì là gì?
Càng chán đời bao nhiêu thì càng muốn về Cực lạc bấy nhiêu và nhờ đó sự tu
niệm tín, nguyện, hạnh được tinh tấn. Họ chỉ mong sao rời bỏ cõi này càng
sớm càng tốt. Tu như vậy có phải là muốn chết sớm hay không? Mà dù không
chết sớm đi nữa, ở lại cõi này có vui thú gì!
*
Hạng lạc quan: đây là những người hiểu được thế nào là tịnh độ, thế
nào là cực lạc. Tâm tịnh thì quốc độ tịnh, tâm lạc thì thế giới lạc. Tịnh
hay lạc ở ngay trong tâm mình chứ không phải ở bên ngoài. Họ vượt qua sự
đối đãi hai bên, bỏ đây tìm kia, ưa cái này ghét cái nọ. Họ không bỏ Ta
Bà, chạy theo tịnh độ mà tịnh độ hóa ngay Ta Bà, chuyển Ta Bà thành tịnh
độ. Nói cách khác là chuyển sự nhận thức của mình, nâng tâm thức của mình
lên một tầng số khác. Ðược vậy thì ngay ở đây đâu có thiếu gì bồ tát,
thiện tri thức. Ðề Bà Ðạt Ða cũng là thiện tri thức của Phật kia mà! Hoặc
nếu có cầu vãng sinh về Cực Lạc thì đó cũng là vì chí nguyện độ sanh, muốn
mau thành Phật để cứ độ chúng sinh, chứ không phải vì yếm thế.
Ðối với hạng người này thì cuộc đời đáng sống và mang nhiều ý nghĩa. Họ
hăng say phục vụ chúng sinh, đem lại an vui hạnh phúc cho mình và người.
Dù không được cực lạc, sung sướng 100% mà được an lạc 1 hay 2% họ cũng mãn
nguyện.
Các thiền sư thõng tay vào chợ, không sợ thị phi, đi vào cuộc đời cứu độ
kẻ khác, chính là hạng người này.
Ða
số người tu Tịnh Ðộ đều thuộc hạng thứ nhất. Tôi không nói đó là tốt hay
xấu, mà chỉ nhận xét như vậy thôi. Ai tu kiểu nào cũng được, miễn có tu là
tốt lắm rồi.
Hỏi: Thầy có nói trong băng Duy Thức là niệm Phật không nhất tâm thì không
vãng sinh được?
Ðáp: Niệm Phật không nhất tâm tức là những chủng tử Di Ðà quá ít, quá yếu,
không đủ sức khởi ra hiện hành thành y báo và chánh báo lúc lâm chung nên
khó vãng sinh được.
Hỏi: Nhưng có nhiều thầy dạy rằng trong ba điều: tín, nguyện, hạnh thì tín
và nguyện là quan trọng còn hạnh tức niệm Phật thì chỉ quyết định cho quả
vị cao thấp thôi. Nếu tín và nguyện mạnh thì dù có niệm Phật ít đi nữa
cũng được đới nghiệp vãng sinh, hoặc hạ phẩm hạ sinh. Thầy nghĩ sao?
Ðáp: Ðúng. Nếu tín và nguyện mạnh thì sẽ về Cực lạc .Nhưng làm sao cho
lòng tin và nguyện được mạnh? Ðâu phải tin một lần hay nguyện một lần là
đủ! Ta phải thường xuyên tin tưởng nơi sự tiếp độ của Phật Di Ðà, thường
phát nguyện hằng ngày cầu về cực lạc, như vậy tức là đang gieo những chủng
tử tịnh độ Di Ðà vào tàng thức.
Trường hợp hồi nãy là nói những người không có tín, không có nguyện mà lại
niệm Phật không nhất tâm thì không vãng sinh được.
Tu
Tịnh độ không nhất thiết chỉ căn cứ vào sự niệm Phật. Quý thầy giảng Tịnh
độ thường dựa vào kinh tiểu bổn Di Ðà, tức là kinh Phật thuyết A Di Ðà
thường được tụng trong các buổi lễ cầu siêu, trong đó đức Phật nói người
nào chấp trì danh hiệu Phật A Di Dà, từ một ngày cho đến bảy ngày, được
nhất tâm bất loạn thì khi lâm chung sẽ được Phật A Di Ðà và thánh chúng
hiện đến tiếp dẫn về cực lạc. Từ đó quý thầy dạy phải niệm Phật cho nhiều,
nhiều thật nhiều để chắc chắn vãng sinh. Chư tổ lại tùy phương tiện đặt ra
sổ công cứ để khuyến khích sách tấn người niệm Phật. Ðây là điều rất tốt,
nhưng ngoài phương pháp niệm Phật ra, còn nhiều cách tu khác để về cực
lạc!
Trong kinh Ðại Bổn Di Ðà tức Kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật Di Ðà khi còn là
Pháp Tạng tỳ kheo đã phát 48 lời nguyện, trong đó có ba lời nguyện
(18,19,20) liên quan đến việc vãng sinh:
* Lời nguyện thứ 18: Lúc tôi thành Phật, mười phương chúng sinh chí tâm
tín mộ muốn sinh về cõi nước tôi cho đến mười niệm, nếu chẳng được sinh,
thì tôi không ở ngôi chánh giác.
* Lời nguyện thứ 19: Lúc tôi thành Phật, mười phương chúng sinh phát bồ
đề tâm tu các công đức nguyện sinh về cõi nước tôi, đến lúc lâm chung,
nếu tôi chẳng cùng đại chúng hiện thân trước người đó, thì tôi không ở
ngôi chánh giác.
* Lời nguyện thứ 20: Lúc tôi thành Phật, mười phương chúng sinh nghe
danh hiệu tôi, chuyên nhớ cõi nước tôi và tu các công đức chí tâm hồi
hướng muốn sinh về cõi nước tôi, nếu chẳng được toại nguyện, thì tôi
không ở ngôi chánh giác.
Qua ba lời nguyện trên, ta thấy nguyện thứ 18 nhấn mạnh về lòng tin (tín),
nguyện thứ 19 nhấn mạnh về sự mong ước, phát nguyện, nguyện thứ 20 nhấn
mạnh về sự hồi hướng. Ngoài ra phải tu các công đức, nếu không có công đức
thì lấy gì hồi hướng! Nếu không có công đức mà phát nguyện thì đó chỉ là
nguyện suông, không có sức mạnh.
Tu
các công đức ở đây chính là hạnh, nó bao gồm tất cả: ngồi thiền, tụng
kinh,trì chú, niệm phật, bố thí, trì giới, ...và nhất là thương yêu cứu
giúp kẻ khác, tất cả những việc vị tha, đem lại lợi ích cho mình và
cho người đều là công đức.
Ta
có thể ngồi thiền hoặc trì chú rồi hồi hướng về cực lạc. Ði chợ thấy một
bà cụ xách giỏ nặng, ta đến xách hộ rồi hồi hướng về cực lạc. Làm như vậy
tức là tu theo lời nguyện thứ 20. Tu Tịnh độ kiểu này đâu có chán đời, đâu
cần phải nhập thất ngồi yên niệm phật.
Ở
Canada mùa đông trời tuyết giá băng, đi ra đường lạnh thấu xương, ta liền
quán niệm như sau: ở đây trời lạnh buốt xương, thật là khổ cực, chẳng bằng
ở cực lạc thời tiết ấm áp tùy theo ý mình. Ði chợ nghe người ta cãi nhau,
ồn ào nhức óc, ta liền nhớ tưởng đến cảnh cực lạc, ở đó toàn là thiện tri
thức nói năng hoà nhã, gió thổi cây reo đều phát ra tiếng nhạc êm dịu.
Quán tưởng như thế rồi liền phát nguyện sinh về cực lạc. Ðó là tu theo lời
nguyện thứ 19. Tu như vậy, đi vào bất cứ cảnh giới nào của Ta Bà, ta cũng
nhớ đến cực lạc. Luôn nhớ cõi cực lạc thì khi chết sẽ về cực lạc, đâu cần
phải vào chùa mua hình mua tượng phật Di Ðà đem về treo đầy nhà.
Ngoài hai kinh Di Ðà nói trên còn có kinh Quán Vô Lượng Thọ, trong đó đức
Phật dạy cho hoàng hậu Vi Ðề Hy 16 phép quán để vãng sinh về cực lạc. Thí
dụ phép quán thứ nhất: quán mặt trời lặn phương tây. Ở Montréal quý vị có
thể vào parc Mont-Royal mùa hè ngắm nhìn mặt trời lặn mà vẫn tu được, thấy
những hồ nước tĩnh lặng liền nhớ đến ao sen (liên trì) ở cực lạc, nghe
tiếng chim hót liền nhớ đến các loài chim quý của kinh Di Ðà...
Mùa hè mình nên cởi giầy đi chân không trên cỏ để tiếp xúc với mặt đất,
với thảm cỏ xanh mát và quán tưởng mình đang bước đi trên những hoa sen.
Ðâu ai cấm mình làm điều đó Quý vị không làm được vì cho rằng như thế là
tưởng tượng. Trong khi đó quý vị đâu có hay là mình vẫn thường đi trên
đường với những bước chân nặng trĩu lo âu, với hai vai gánh nặng cuộc đời.
Cái đó không ai bắt buộc mà sao quý vị vẫn cứ làm?
Thật đúng là 'thiên đàng hữu lộ vô nhân vấn, địa ngục vô môn hữu khách
tầm'.
Quý vị nhớ, tu tịnh độ có nhiều cách thức để tu, không nhất thiết phải lần
tràng niệm hạt mới gọi là tu. Nhiều người tu tịnh độ sinh ra cau có, bực
bội với chồng con vì phải lo cho chồng con nên không còn thì giờ niệm
Phật. Nếu quan niệm như vậy thì sẽ không bao giờ có thì giờ tu, mà dù có
ráng tu đi nữa thì tâm cũng khó được an.
Hỏi: Trong một cuốn băng, thầy có nói trẻ mà tu Tịnh độ thì uổng quá.
Ðáp: Trẻ mà tu Tịnh độ theo kiểu người già thì hơi uổng, vì không thích
hợp nên khó tu dài lâu. Người già, việc đời đã xong, không còn phải lo
sinh nhai kiếm sống, không còn phải lo cho con cái, chỉ cần ngồi yên niệm
phật, chờ ngày ra đi về hương quê cực lạc. Nếu tu chăm chỉ, một ngày qua
là một ngày sớm về cực lạc cho nên họ càng tin tưởng tinh tấn. Nếu trẻ mà
tu như vậy có khác gì cầu chết sớm. Càng tu như thế càng dễ chán đời, vì
trước sau gì cũng về tịnh độ, đi làm đi ăn làm chi, cuộc đời này đâu có
vui thú gì.
Nếu trẻ mà về cực lạc thì vợ con để lại ai nuôi? Người già đâu còn công nợ
gì nữa, trong khi đó người trẻ còn phải lo làm ăn sinh sống, lo trả tiền
nhà, tiền thuế, tiền xe,v.v...
Hỏi: Nhưng đời vô thường, vẫn
có nhiều người trẻ chết sớm.
Ðáp: Ðúng. Vẫn có nhiều người trẻ chết sớm, nhưng dù ngày mai có bị tai
nạn chết bất đắc kỳ tử đi nữa, ngày hôm nay vẫn còn phải đi làm nuôi vợ
con, nuôi gia đình,v.v... Chỉ trừ người trẻ nào bệnh nặng sắp chết như
sida hay cancer nằm liệt giường liệt chiếu thì nên tu theo mấy người già,
nằm yên hoặc ngồi yên nhắm mắt niệm Phật chờ về cực lạc. Chính tôi, lúc bị
bệnh nặng, thấy cái chết kề bên, cũng nằm yên nhắm mắt niệm Phật, vì lúc
đó kiệt sức quá không làm gì khác hơn được.
Hỏi: Như vậy thì người trẻ phải tu Tịnh độ theo kiểu nào?
Ðáp: Tu Tịnh độ theo kiểu yêu đời chứ không phải chán đời mà tu. Vui sống
để tu hành, tu hành để bớt khổ và hết khổ ngay tại nơi đây. Càng hết khổ
thì càng vui sống, càng vui sống thì càng thích tu vì thấy sự tu có hiệu
quả ngay trong hiện tại. Tu Tịnh Ðộ đúng như lời Phật dạy :
Chư ác mạc tác, chúng
thiện phụng hành,
Tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo.
Tu
Tịnh Ðộ bằng cách thanh lọc tâm ý của mình, sống từ bi hỷ xả, đem lại an
vui hạnh phúc cho mình và kẻ khác, biết thương yêu và tha thứ, không nuôi
duỡng hận thù. Và thường hồi hướng công đức cầu sinh Cực Lạc, để được gặp
Phật nghe Pháp, gần chư Bồ Tát tu hành, sớm thành đạo quả để trở lại cõi
Ta Bà này cứu độ cha mẹ anh em.
Hỏi: Thầy có nói đem Tịnh độ về Ta Bà là sao?
Ðáp: Ðó là một cách nói. Ta có thể sống theo thời khóa biểu của Tịnh độ,
theo nhịp sinh hoạt của dân Tịnh độ ngay tại Ta Bà này. Chúng ta tập sống
như người ở Tịnh độ. Thí dụ: ở thế giới Cực lạc ăn cơm trưa xong mọi người
đi kinh hành, thì ở đây ăn cơm xong mình cũng đi kinh hành niệm Phật. Nếu
đi làm ăn cơm ở sở, ăn xong mình cũng dành ra năm, mười phút đi kinh hành
niệm Phật. Buổi chiều ở Cực lạc, ai nấy đều trở về an trú nơi bông sen của
mình thì ở đây (Ta Bà) quý vị trở về nhà ngồi trên nệm của mình hít thở
lắng tâm rồi niệm Phật, quán tưởng mình đang ngồi trên một hoa sen, điều
này mình có thể làm được, đâu ai cấm, chỉ vì tâm mình lười biếng quen nghĩ
lung tung chyện đời, không quen quán tưởng hình phật, hoa sen, v.v... Quý
vị nên tập quán tưởng theo 16 phép quán của kinh Vô lượng Thọ rồi đem ra
áp dụng vào đời sống hằng ngày.
Sáng sớm thức dậy đi dạo công viên nghe chim hót, ta liền nhớ lại ở cực
lạc cũng có chim bạch hạc, anh vũ, ca lăng tần già, v.v... hót tiếng hòa
nhã nói pháp. Ở Ta Bà này cũng có chim sẻ, chim bồ câu, chim sáo,v.v... có
thể không đẹp bằng những loài chim kia, nhưng nếu nhìn kỹ chúng cũng dễ
thương, cũng hót líu lo chào mừng ngày mới, và nếu tâm ta không nặng trĩu
lo âu, buồn phiền thì ta cũng có thể hòa nhịp với vũ trụ và trong một
thoáng giây nào đó ta thoát khỏi cái ngã nhỏ bé sinh diệt này và ta có mặt
mọi nơi.
Người ngoài nhìn thấy ta ngồi trên cỏ hay trên ghế, nhưng trong tâm ta, ta
thấy mình đang ngồi trên hoa sen. Người ngoài nhìn thấy ta đang đi trên
đường tráng nhựa, nhưng trong tâm ta đang đi từng bước trên hoa sen đủ màu
tùy theo ý thích. Trên đường lái xe đến chùa nghe pháp, ta ý thức được
mình cũng giống như dân cực lạc bay đi mười phương nghe Phật thuyết pháp.
Thân tuy còn ở đây (Ta Bà) nhưng tâm thức mình đang sống cảnh Tịnh độ.
Tịnh độ hay Ta Bà hoàn toàn tùy ở sự nhận thức (perception). Người đời
nhìn đâu cũng thấy sầu bi, uế trược, chán đời, còn mình nhìn đâu cũng thấy
sự vật chẳng khác cực lạc. Nhờ quán tưởng và nhận thức như vậy, tâm thức
của ta được lên một tầng số rung động khác, tương ưng với nhịp rung của
dân cực lạc. Nếu được vậy, khi chết chắc chắn sẽ về cực lạc. Chết về cực
lạc mà ngay trong lúc sống cũng không rời Tịnh độ, tâm hồn an vui, thanh
thoát, không hệ lụy. Như thế có vui hơn không hay là lúc nào cũng phải
chán đời (yểm Ta Bà) mới về cực lạc được!
Hỏi: Thế nào là tâm tịnh thì Phật độ tịnh?
Ðáp: Khi tâm mình hoàn toàn thanh tịnh thì nơi mình đang ở sẽ trở thành
thanh tịnh như một cõi Phật. Ðây là một vấn đề chuyển hóa nhận thức. Nói
có vẻ dễ nghe, nhưng không dễ làm. Tâm tịnh của hàng A La Hán như Xá Lợi
Phất cũng còn thấy cõi Ta Bà này là bất tịnh, ít nhất phải như cỡ Bồ Tát
Duy Ma Cật, Văn Thù, Quan Âm thì mới thấy Ta Bà chẳng khác Tịnh Ðộ.
Hỏi: Về cực lạc rồi, có ra khỏi lục đạo chưa hay là sẽ phải trở lại lục
đạo nữa?
Ðáp: Về cực lạc rồi thì được xem như ra khỏi lục đạo nhưng sẽ phải trở lại
lục đạo. Cực lạc cũng tương đương như hóa thành của kinh Pháp Hoa. Về cực
lạc ta sẽ sống rất lâu (vô lượng thọ) nhưng không có nghĩa là không chết
(bất tử). Nhờ sống rất lâu và chung quanh có chư bồ tát, thanh văn, thiện
tri thức sách tấn tu hành nên chắc chắn sẽ chứng được quả vị bất thối bồ
tát. Trường sinh nhưng không bất tử, chính đức Phật Di Ðà cũng sẽ nhập
niết bàn, sau đó Quan thế Âm bồ tát sẽ thành Phật ở cõi cực lạc, kế tiếp
đến Ðại thế Chí bồ tát thành Phật.
Sau khi chứng được quả vị Sơ địa bồ tát hoặc bất thối bồ tát, ta sẽ tùy
nguyện thọ sinh hay hóa sinh. Có thể tái sinh lại ở cực lạc hoặc một cõi
tịnh độ nào khác, hoặc trở lại Ta Bà cứu độ chúng sinh và cứ thế tiếp tục
cho đến quả vị Nhất Sinh Bổ Xứ. Từ quả vị bồ tát cho đến khi thành Phật
đương nhiên phải trở lại lục đạo để hóa độ chúng sinh.
Thiền
Thiền hiện nay là một phong trào, người Âu Mỹ rất
thích thiền, vì thiền là một cái gì mới lạ hấp dẫn đối với họ. Thiền có đủ
loại và sách nói về thiền có rất nhiều. Trong Phật giáo Việt Nam có hai
thiền sư nổi tiếng đó là thầy Thanh Từ và thầy Nhất Hạnh. Những ai thích
tu thiền thì nên theo theo học với hai vị trên. Nếu đã theo học lâu năm mà
muốn thay đổi thì có một vị thiền sư khác nữa, đó là thầy Duy Lực. Tu
thiền biết vọng, thiền chánh niệm hay thiền công án mà vẫn chưa hài lòng
thì quý vị có thể chuyển sang thiền minh sát của Nam tông, nhưng ở đây các
vị thiền sư uy tín thường là người Miến Ðiện hay Thái Lan.
Ðối với tôi quý vị tu thiền nào cũng được, điều này không quan trọng. Quan
trọng ở chỗ quý vị tu thiền để làm gì? Hãy xét lại mục đích tu thiền của
mình.
Ở
đây tôi xin giới thiệu với quý vị một môn thiền, gọi là 'thiền chạy
trốn'.
Ở
nhà, ông chồng khó tính, khó chịu, khó thương, con cái sống riêng tư ích
kỷ lơ là với cha mẹ, ở sở thì đồng nghiệp cạnh tranh, ganh tỵ, thủ đoạn
làm ta căng thẳng, bực bội mỏi mệt nên ta tìm đến thiền đường tu thiền,
tọa thiền, ngồi yên lặng rũ bỏ phiền não, quên việc thế gian. Nhưng nếu là
sơ cơ mới tu, đâu dễ gì tâm được yên lặng ngay. Càng ngồi yên, ý tưởng
càng nổi lên ào ào. Ban đầu tu thiền cũng chật vật lắm chứ! Sau một thời
gian nhờ bạn đồng hành, đồng tu sách tấn nên công phu thiền tập cũng bắt
đầu gặt hái kết quả. Tâm ta dịu dần, vọng tưởng không còn khởi lên dồn dập
nữa. Từ từ ta cảm thấy một niềm an lạc thanh thoát và ta muốn ngồi hoài
như vậy. Khi xả thiền trở về nhà, với cuộc sống hằng ngày ta lại bị động,
thấy sao chồng con mình phàm phu quá và từ đó khoảng cách giữa ta (người
tu) và những người không tu càng lớn rộng. Ta không còn muốn dính líu đến
người đời nữa, dù đó là chồng con hay bè bạn. Ta chỉ muốn tìm chỗ vắng vẻ
ngồi thiền, trầm mình trong yên lặng. Danh từ phật giáo gọi đó là trầm
không thú tịch. Ðây chính là lúc vô tình ta chứng được 'thiền chạy trốn'.
Dần dần ta cắt đứt sự thông cảm với cuộc đời, với người đời. Mỗi lần ngồi
thiền là mỗi lần ta chạy trốn, đi vào một cõi yên lặng, trống rỗng. Ðạt
đến đây cũng là khá vì phải tốn nhiều công phu và coi như đạt được một
chút định.
Nhiều người tu thiền vô tình hay cố ý rơi vào 'thiền chạy trốn', vì mỗi
lần như vậy thân tâm ta được thư giãn, bớt căng thẳng, ta xạc lại bình
điện (recharger la batterie) để đối phó với đời sống hằng ngày.
Song song với 'thiền chạy trốn' có 'thiền gỗ đá'. Từ xưa đến nay
hoặc do ích kỷ hoặc không thích tiếp xúc với người đời, hoặc đã bị người
đời làm đau khổ nên ta tu thiền để chấm dứt với đời, tập cho tâm chai đá
vắng lặng, không còn biết cảm xúc, trơ trơ như gỗ đá.
Tâm chữ Hán còn có nghĩa là tim. Nếu tu thiền mà tâm như gỗ đá thì tim
cũng trở thành đá gỗ. Tu thiền như vậy để làm gì? Ðể từ một hữu tình trở
thành vô tình chăng? Ðể từ hữu tâm trở thành vô tâm chăng? Nhiều người tu
thiền chủ trương vô tâm, không cho tâm suy nghĩ gì hết, vì suy nghĩ là
móng niệm, là vọng động. Họ đâu biết bồ tát là người vẫn nhỏ giọt lệ từ
bi, biết vui lây với niềm vui của kẻ khác.
Người khác cho tu thiền là phải ngồi thiền suốt ngày, suốt đêm, ngồi càng
lâu càng tốt để mau thấy tánh thành phật. Xưa kia Mã tổ (thiền sư Ðạo
Nhất) hằng ngày mải mê ngồi thiền. Thấy thế, thiền sư Hoài Nhượng bèn lấy
một cục gạch đến trước cửa am của Ðạo Nhất ngồi mài. Ðạo Nhất thấy lạ
hỏi:- Thầy mài gạch để làm gì?
Tổ
Hoài Nhượng đáp:- Mài để làm gương.
-
Mài gạch làm sao thành gương được?
-
Ngồi thiền làm sao thành phật được?
-
Vậy làm thế nào mới phải?
-
Như trâu kéo xe, nếu xe không đi thì đánh xe hay đánh trâu là phải?
Ðạo Nhất lặng thinh không đáp được, thiền sư Hoài Nhượng nói tiếp: Ngươi
học ngồi thiền hay học ngồi Phật? Nếu học ngồi thiền, thiền không phải ở
nằm hay ngồi. Nếu học ngồi Phật, Phật không có tướng nhất định, đối pháp
không trụ, chẳng nên thủ xả. Ngươi nếu ngồi Phật tức là giết phật, nếu
chấp vào tướng ngồi tức chẳng đạt được ý kia.
[Trích "Trung Hoa Chư Thiền Ðức Hành Trạng",
Thích Thanh Từ].
Vì
thế tu thiền hay ngồi thiền để làm gì? Lý do nào, động lực nào đã thúc đẩy
ta tu thiền? Trong kinh Pháp Hoa đức Phật nói không có ba thừa mà chỉ có
một thừa, đó là Phật thừa. Tất cả pháp môn chỉ là phương tiện, nói tu
thiền, tu tịnh độ, tu mật, đó chỉ là một lối nói. Nếu nói cho đúng thì
phải nói: tôi tu theo pháp môn tịnh độ, pháp môn thiền hay pháp môn mật.
Nhưng mà tu theo những pháp môn đó để làm gì chứ? Hay nói gọn hơn một
chút, tu để làm gì? Và tại sao lại phải tu?
Nhiều người tu 10 năm, 20 năm, hỏi họ tu để làm gì thì họ nói tu để giải
thoát, hay tu để thành phật. Nghe qua thấy rất xuôi tai, nhưng nhiều khi
chính họ, họ cũng không biết là họ có những tật xấu nào. Một người ích kỷ
mà không biết mình ích kỷ, nên sau 10 năm tu hành ngồi thiền vẫn ích kỷ
như thường, bởi vì họ ngồi thiền để thành Phật chứ đâu phải để dẹp cái
tánh ích kỷ!
Một người tham, sân, si, ngã mạn mà không biết mình tham, sân, si, ngã mạn
thì dù có bế môn tỏa cảng, nhập thất tu thiền 10 năm, 20 năm đi nữa cũng
vẫn tham, sân, si, ngã mạn như thường. Vì họ tu thiền để tìm một cái gì
đó, một trạng thái tâm linh đặc biệt nào đó chứ đâu phải để trừ tham, sân,
si, v.v...
Nhiều người đọc sách nghe băng rồi ở nhà đóng cửa tu thiền, nghĩ rằng sau
một thời gian mình sẽ hiểu thiền, đắc thiền. Thiền là cái gì? Ðối với tôi
thiền bây giờ là một danh từ, một khái niệm làm mê hoặc người tu. Thay vì
lo tu, lo sửa mình, người ta lại lo 'tu thiền'. Quý vị thử tìm lại trong
các kinh Phật xem có chỗ nào đức Phật bảo phải 'tu thiền' không? Có hai
kinh mà thiền sư Nhất Hạnh nhấn mạnh, coi đó là hai kinh căn bản của thiền
tập: kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm (hay Tứ niệm Xứ) và kinh Quán Niệm Hơi
Thở, trong hai kinh này cũng đâu có nói gì đến chữ 'Thiền'.
Nói như vậy không có nghĩa là đả kích hay phủ nhận Thiền. Thiền có chứ sao
không! Trong lịch sử đã có biết bao thiền sư. Ở đây tôi không dám quả
quyết Thiền là gì vì tôi không phải thiền sư, nhưng tôi vẫn có thể đưa ra
ý kiến cá nhân. Trước hết Thiền hay Thiền Na (Dhyana) là một phương tiện
tu hành, sau nữa thiền là một lối sống, lối sống tỉnh thức, hay phong thái
sống của những người tỉnh thức. Giác ngộ rồi có gì khác lạ không? Các
thiền sư giác ngộ rồi vẫn sống như bao nhiêu người, ăn uống, ngủ nghỉ,
gánh nước, bửa củi, lặt rau, thậm chí có vị còn phải chăn trâu nữa (như
thiền sư Ngưỡng Sơn).
Quý vị muốn tu Như Lai Thiền, Tổ Sư Thiền, Tối Thượng Thừa Thiền, hay Minh
Sát Thiền, hay ngoại đạo Thiền, thiền nào cũng được. Nhưng nhớ trước đó
phải phát Bồ đề tâm (Bodhicitta), phát tâm cầu giác ngộ để cứu độ
tất cả chúng sinh (thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh). Nói cách khác
là ý thức thương mình và người đang lặn hụp trong biển mê, phát tâm tu
hành để cứu mình, cứu người, giống như câu trong bài sám Tịnh Ðộ: chúng
con khổ nguyền xin cứu khổ, chúng con khổ nguyền xin tự độ. Nếu tu thiền
mà thiếu Bồ đề tâm thì sau một thời gian ta dễ rơi vào 'Thiền chạy trốn'
hay 'Thiền gỗ đá'. Bồ đề tâm là một động lực gắn liền ta với hai điều:
giác ngộ và chúng sinh. Có lẽ vì thế mà quyển Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu
của thiền sư Ðộc Thể đã được chọn làm gối đầu giường cho các thiền sinh
mới nhập môn. Trong đó gồm hơn 50 bài kệ, cấu trúc của mỗi bài kệ được
chia làm hai hoặc ba phần. Phần đầu nhắc nhở ta ý thức công việc đang làm
(còn gọi là chánh niệm), phần hai là nhớ đến chúng sinh (đương nguyện
chúng sinh), phần ba là một câu chú ngắn kèm theo. Nhờ có Bồ đề tâm nên
sau khi giác ngộ, thiền sư lại thõng tay vào chợ, đi vào cuộc đời để cứu
nhân độ thế.
Sau khi phát và nuôi dưỡng thường xuyên Bồ đề tâm, người tu thiền cần nhớ
điều thứ hai là tu thiền không phải để chạy trốn. Chạy trốn ở đây là chạy
trốn mình, chạy trốn người, chạy trốn đời và chạy trốn sự sống.
Chạy trốn mình là sao? Là từ chối, phủ nhận những cảm thọ, cảm xúc và tư
tưởng của mình. Thí dụ trong một buổi họp mặt đàm luận, anh A nói trái ý
tôi và còn nặng lời chỉ trích tôi. Mặt tôi đỏ bừng lên, trong lòng muốn
mắng cho anh ta một trận. Chị B ngồi bên cạnh nhanh ý nhận ra điều này nên
hỏi tôi: bộ anh nổi giận hả? Tu thiền mà còn sân sao? Tôi vội vàng chối:
đâu có, tôi đâu có sân. Tôi nhờ tu thiền nên đâu còn sân. Ở đây, một là
tôi giận mà không biết mình giận (tức là bất giác không tỉnh thức), hai là
biết mình giận nhưng từ chối không nhận (tức là không biết nhìn sự vật
đúng như thật).
Thiền trước hết là phải tỉnh thức, biết được những gì đang xảy ra nơi mình
(cả thân và tâm) và sự vật xung quanh mình. Nhức đầu thì biết là mình nhức
đầu,đang buồn đang giận thì biết là mình đang buồn đang giận. Không từ
chối phủ nhận hay làm ngơ chạy trốn. Những sự vật sờ sờ trước mắt mà không
thấy không biết thì làm sao thấy được biết được những thứ vô hình vô
tướng, trừu tượng như Phật tánh, bổn tánh, bản lai diện mục, v.v...
Tỉnh thức rồi phải tập nhìn thẳng, nhìn sâu vào lòng thực tại, danh từ đạo
Phật gọi là quán chiếu thâm sâu. Nhìn thẳng và nhìn sâu chưa đủ, phải ý
thức xem lúc nhìn mình có đeo cặp mắt kính nào không? Nhìn với cặp mắt
vọng tưởng, vọng tình hay mắt kính phán xét chủ quan. Nhìn để hiểu để
thông cảm để thương yêu hay nhìn để tăng thêm phiền não oán ghét.
Bên trên đã giới thiệu quý vị 'thiền chạy trốn' và thiền gỗ đá', tiếp theo
chắc quý vị cũng đã nhận ra hai thiền khác, đó là 'thiền nhìn thẳng'
và 'thiền con người'. Dù tu bất cứ thiền nào, càng tu ta càng biết
nhìn thẳng vào thực tại, biết nhìn thẳng vào chính mình, đó là vô tình ta
đang đi vào 'thiền nhìn thẳng'. Nhờ nhìn thẳng, nhìn sâu nên ta hiểu được
mình và người, hiểu sự vật, tim (tâm) ta biết rung động, biết thương mình
và thương người hơn, biết thông cảm sự vật, biết thương yêu sự sống hơn,
đó là vô tình ta đang rơi vào 'thiền con người'.
Thiền đã có nhiều loại khác nhau, chưa đủ sao mà còn giới thiệu thêm mấy
thứ nữa? Rừng thiền có thêm nhiều cây mới thì cành lá sum sê và rừng càng
đẹp chứ sao!
Hỏi: Tu thiền có cần tụng kinh không?
Ðáp: Kinh là lời Phật dạy. Thuở xưa lúc Phật còn tại thế không có tụng
kinh vì các đệ tử áp dụng ngay những lời dạy của đức Phật. Sau khi Phật
nhập niết bàn mới có các kỳ kết tập kinh điển. Vì không có Phật trước mặt
giảng dạy trực tiếp nên ta phải nương vào kinh điển để biết Phật dạy những
gì. Kinh là để đọc, để hiểu và để hành, tức là đem ra áp dụng vào đời sống
hằng ngày. Kinh là phương tiện hướng dẫn ta đến cứu cánh tức sự giải
thoát. Nhiều người không hiểu như vậy mà cho kinh là chân lý, nên từ đó
mới có pháp môn 'tu tụng kinh', tụng càng nhiều càng tốt, nhiều khi không
hiểu cũng cứ tụng. Tụng nhiều để yên chí rằng mình tu nhiều, mau đắc quả.
Trở lại câu hỏi, đối với tôi người tu thiền cần học kinh để biết đường lối
tu hành. Ta có thể nghe băng kinh của quý thầy giảng để hiểu ý kinh. Một
khi nắm được đại ý của kinh rồi, lâu lâu ta đọc hay tụng lại để nhớ và
hiểu thêm.
Hỏi: Tu thiền có cần tu thêm phước huệ không?
Ðáp: Phước và huệ là hành trang của tất cả người tu, dù tu Tịnh Ðộ hay tu
Thiền. Tu hành thiếu phước thì hay gặp chướng ngại, gian nan, bệnh tật.
Tụng kinh niệm Phật thì lao phổi ho hen. Ngồi thiền thì nhức lưng, mỏi
gối, hôn trầm, tán loạn, v.v...
Hỏi: Người tu thiền thời nay hay bị chướng ngại gì?
Ðáp: Chướng ngại đa số thường vấp phải là bệnh ngã mạn, cho mình hiểu
thiền rồi coi thường kẻ khác, không giữ giới luật, oai nghi. Chính vì thế
mà trong Sa Di luật giải có nói: 'Ngũ hạ dĩ tiền chuyên tinh giới luật,
ngũ hạ dĩ hậu phương nãi thính giáo tham thiền', năm năm đầu phải học giới
luật, giữ gìn oai nghi tế hạnh cho thuần thục, trừ bỏ cái tánh kiêu căng
ngã mạn ngoài đời, năm năm sau mới được nghe kinh và học tham thiền. Ngày
nay giới trí thức như bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, v.v...
nghiên cứu thiền, học thiền, tu thiền, giảng thiền, nhưng họ không có
duyên được sống trong chùa vài năm để tập làm chú tiểu, làm sa di hầu
thầy, hầu bề trên nên khi học thiền, tu thiền họ vẫn là thiền sư bác sĩ,
thiền sư tiến sĩ, thiền sư kỹ sư, v.v... Một thiền sư bác sĩ làm sao cúi
lạy được một vị sư thường không có bằng cấp, không biết tiếng Anh, tiếng
Pháp! Nếu tìm thầy học thiền thì người ta đi tìm thiền sư bác sĩ, tiến sĩ
chứ ai dại gì đi tìm thiền sư ăn mày vô danh!
Hỏi: Như thầy nói thì 'thiền chạy trốn' và 'thiền gỗ đá' có ích lợi gì
không?
Ðáp: Nhiều khi khổ quá, khổ vì hoàn cảnh gia đình, xã hội, tình cảm,
v.v... Ðầu óc bối rối cùng quẩn, không tìm ra được lối thoát, người ta có
thể tu theo 'thiền chạy trốn' hay 'thiền gỗ đá' một thời gian cho tạm
nguôi ngoai quên đi niềm đau nỗi khổ. Ðây cũng giống như một thứ thuốc bôi
ngoài da để làm dịu cơn đau trong chốc lát.
Hỏi: Ngồi thiền có chữa bệnh
được không?
Ðáp: Mục đích của sự ngồi thiền không phải để chữa bệnh. Nếu muốn chữa
bệnh thì tốt hơn nên luyện nội công hay khí công. Tuy nhiên nếu ngồi thiền
ngay ngắn, sống lưng thẳng, hít thở điều hòa và nhất là biết hít sâu đưa
hơi xuống tận đan điền thì lâu ngày vô tình ta sẽ đả thông được một số
huyệt nằm trên hai mạch nhâm đốc, nhờ đó khí huyết lưu thông và bệnh tật
nếu có thì cũng thuyên giảm. Ngược lại, nếu ngồi thiền mà lưng không thẳng
thì lâu ngày sẽ sinh bệnh tật.
Hỏi:Thiền có chữa được bệnh mất
ngủ không?
Ðáp:Thiền không phải là một thứ thuốc trị bá bệnh. Chính vì thế mà tôi đã
nhắc và hỏi quý vị tu thiền để làm gì? Nếu muốn chữa bệnh mất ngủ, quý vị
có thể tu 'thiền thư giãn' (relaxation), tập chú ý vào từng bộ phận trong
cơ thể rồi buông thả chúng dần dần, hoặc chú ý theo dõi hơi thở, từ từ tâm
được trụ, theo khoa học điện sóng não thì lúc đó tâm đi vào trạng thái
alpha nên dễ rơi vào giấc ngủ. Loại thiền này cũng tương tựa như một thuốc
an thần. Ðiều trước nhất quý vị phải tỉnh thức, hỏi lại mình tại sao mất
ngủ? Nguyên nhân nào đã làm mình mất ngủ. Có tìm ra nguồn gốc căn bệnh thì
mới mong chữa hết bệnh. Nếu không thì thiền nào cũng chỉ là thuốc an thần
mà thôi.
Mật tông
Hỏi: Thưa thầy ý nghĩa của những buổi lễ quán đảnh (initiation) Tây Tạng
là sao?
[Những câu hỏi sau đây do một nhóm Phật tử đã theo học với các vị Lạt Ma
Tây Tạng nên có nhiều danh từ chuyên môn mà tôi miễn giải thích.]
Ðáp: Lễ quán đảnh, tiếng Phạn là abhisheka, Tạng ngữ là dbang (đọc là
wang), nói đúng hơn là truyền pháp hay điểm đạo, đó là những buổi lễ thuộc
Tantra, vị lama hướng dẫn người đệ tử đi vào mandala (mạn đà la) của vị
Yidam (thần linh, déité) Phật hay Bồ Tát, truyền câu thần chú của vị Yidam
và cho phép người đệ tử tự quán tưởng mình là Yidam đó.
Thọ lễ quán đảnh xong, về nhà không thực hành thì cũng giống như gieo
duyên được phước vậy thôi. Dân Tây Tạng và ngay cả người Âu Mỹ mới biết
đến Kim Cang Thừa (Vajrayana) rất thích đi dự lễ quán đảnh để có phước
nhiều.
Nếu thực sự muốn tu tập Tantra thì sau buổi lễ quán đảnh phải được vị lama
truyền thêm hai thứ nữa, đó là Lung (transmission orale) có nghĩa là sự
cho phép đọc saddhana và Tri (commentaire) tức là luận giảng về saddhana.
Sau khi nhận lãnh Lung và Tri rồi thì hằng ngày phải tu tập theo quyển
saddhana, một loại kinh của người tu theo Tantra, gọi là tantrika, trong
đó gồm những cách thức quán tưởng, trì chú, bắt ấn và cúng dường vị Yidam.
Hỏi: Con đã thọ nhiều lễ quán đảnh với các lama Tây Tạng, mỗi ngày phải
tụng nhiều câu chú khác nhau, cuối cùng con cũng không biết là mình tu
theo Yidam nào?
Ðáp: Mỗi Yidam (Bồ Tát hay Phật) tượng trưng hay biểu hiệu cho một đức
tánh. Ban đầu chưa biết gì thì mình có thể thọ nhiều lễ quán đảnh của các
Yidam khác nhau, cũng giống như nếm mỗi thứ một chút. Sau đó về kiểm lại
xem mình có cảm tình với Yidam nào nhiều nhất thì thực hành Yidam đó. Thí
dụ người nào thích trí huệ, hoặc nhìn hình Văn Thù Bồ Tát thấy đẹp thì lựa
Văn Thù làm Yidam chính và bỏ những Yidam khác. Người nào giàu tình
thương, ưa thương người thì lựa Yidam Quán Thế Âm. Người nào thấy mình
nhiều tội lỗi, muốn tẩy trừ nghiệp chướng thì lựa Yidam Kim Cang Tát Ðỏa
(Vajrasattva), v.v... Một khi lựa vị Yidam thích hợp rồi thì phải bỏ những
Yidam khác đi, nếu không thì thành tạp tu, tu mỗi thứ một chút cuối cùng
không đi tới kết quả.
Hỏi: Khi dự những buổi lễ quán đảnh lớn như Vajrayogini hoặc Yamantaka thì
thầy khuyên Phật tử phải làm sao?
Ðáp: Những buổi lễ quán đảnh lớn như Vajrayogini, Yamantaka hoặc
Kalachakra, tiếng Tây Tạng là Wang Chen, các lama phái Gélugpa thường cho
Samaya, Tạng ngữ là Damtsig, tiếng Anh là commitment, tiếng Pháp là
engagement, đó là những điều mà mình phải hứa là sẽ làm, nếu không làm thì
phạm tội. Những người chưa biết gì về Mật tông hay Tantra thì tôi khuyên
không nên thọ lãnh Samaya. Mình vẫn có thể tham dự buổi lễ quán đảnh như
mọi người nhưng đến phần truyền Samaya thì mình không nhận, không lập lại
sau lời của vị lama truyền giới. Như thế mình vẫn thọ được phước lực của
vị lama và gieo duyên với vị Yidam mà mình đang dự.
Ngoài những lễ quán đảnh lớn, còn có những lễ quán đảnh nhỏ gọi là Wang
hoặc Chénang như Amitabha, Amitayus, Avalokitesvara, Manjusri, Sangyé
menla, v.v... thường không có Samaya nên ai dự cũng được. Dự nhiều thì
được phước nhiều.
Hỏi: Vajrayogini hay Yamantaka có lợi lạc cho Phật tử Việt Nam không hay
là những lễ quán đảnh thường thì có lợi ích hơn?
Ðáp: Những lễ quán đảnh lớn kéo dài hai ba ngày và cách tu rất phức tạp,
tôi thấy tốt hơn là nên thỉnh các lama truyền cho mình những lễ quán đảnh
thường.
Hỏi: Tu cái gì cũng phải có sự và lý. Về Thiền và Tịnh Ðộ thì đã có nhiều
sách, nhưng về Mật Tông Tây Tạng thì lý chúng con chưa hiểu, về sự thì chỉ
thấy có lễ quán đảnh rồi về trì chú, như vậy cũng không khác gì niệm Phật.
Thầy có thể giảng nói về lý của Mật Tông Tây Tạng?
Ðáp: Mật Tông đứng về sự thì rất phiền phức, rườm rà. Pháp môn nào cũng có
nhiều tầng lớp, cho người bình dân, cho kẻ trí thức, người tu phước, kẻ tu
huệ. Khi nói đến Phật Giáo Tây Tạng, người ta liên tưởng đến đức Dalai
Lama, một vị nguyên thủ quốc gia và cũng là vị lãnh đạo tôn giáo. Ngài là
một người trí thức, được mời đàm luận về chính trị, tôn giáo, xã hội tại
các hội nghị, và hội trường lớn như Havard, Yale, UCLA, v.v... và thính
chúng là những người trí thức. Nhưng nếu chúng ta đi vào một tu viện Tây
Tạng thì sẽ thấy đủ loại sư. Tựu chung có thể chia ra hai loại sư: một
loại chuyên về học thức và một loại chuyên về nghi lễ cúng kiến. Và nghi
lễ cúng kiến thường ảnh hưởng nhiều đến đa số quần chúng hơn.
Ở
các tu viện mỗi khi có một buổi lễ lớn thì người ta đi dự rất đông, giống
như đi xem đại hội. Họ đến để xem các sư làm lễ, tụng kinh, thổi kèn, đánh
trống, v.v... tâm lý của những người này là hiếu kỳ hoặc thích được phước.
Nếu nhìn vào sự kiện này thì ta thấy Phật giáo Tây Tạng chả có gì đặc
biệt, cũng chỉ là tín ngưỡng với hình thức khác mà thôi.
Ngay trong Phật giáo Việt Nam cũng vậy, đọc sách về đạo thì thấy lời Phật
dạy cao siêu làm sao, nhưng nếu đi vào chùa, nơi đại diện cho đạo Phật thì
ta sẽ thấy gì? Cầu an, cầu siêu, cúng kiến, lễ lược, v.v... Không còn thấy
đạo lý cao siêu ở đâu nữa mà chỉ thấy một sự tín ngưỡng.
Mật tông Tây Tạng cũng vậy, những buổi lễ lớn (puja) người ta tham dự đông
đảo, vô tình hay cố ý là để cầu một cái gì đó, dù là cầu phước, cầu pháp,
cầu tiêu tai nghiệp chướng,v.v... Việt Nam mình có cầu an, cầu siêu, mông
sơn thí thực, chẩn tế cô hồn,... đó cũng là những hình thức ảnh hưởng của
mật tông.
Về
lý của Mật tông đương nhiên có nhiều trình độ cho những căn cơ khác nhau,
nhưng tôi thích nhất là lý 'chuyển hóa nhận thức'. Chúng ta sung sướng hay
khổ đau đều do sự nhận thức của mình. Ta khổ vì thấy cái thế giới mình
đang sống đây là Ta Bà ngũ trược ác thế, thấy cái thân này bất tịnh, người
này dễ thương, người kia dễ ghét, thấy cuộc đời ô uế nên phải tu Tịnh Ðộ
để cầu về một thế giới khác thanh tịnh, sung sướng hơn.
Người tu Mật tông chuyển ngay sự nhận thức của mình. Họ hiểu được cõi này
ô uế hay trong sạch là tùy sự nhận thức của mình. Bình thường ta thấy
người kia dễ ghét quá, hay chê bai chỉ trích, nói xấu mình, nhưng người tu
mật tông thì không nhìn thấy như vậy, vì họ đã đeo một cặp mắt kính khác.
Thí dụ người tu về Yidam Vajrayogini thì thấy tất cả người nữ đều là
dakini (tiên nữ), tất cả người nam là daka (tiên nam), tất cả những âm
thanh đều là thần chú và thấy cõi này (nơi mình đang ở) là cõi tịnh độ
Katcheu của Vajrayogini.
Một người khác tu về Yidam Văn Thù (Manjusri) thì luôn quán tưởng để thấy
mình là Văn Thù và tất cả chúng sinh cũng là Văn Thù. Khi ai nói gì mình,
dù đó là khen hay chê cũng thấy đó là âm thanh của câu thần chú. Như vậy
thì đâu còn đối đãi hơn thua nữa!
Người tu Tịnh độ cầu về Cực lạc vì ở đó mỗi khi gió thổi cây reo phát ra
tiếng nhạc nhắc mình tu hành, thì ở đây cũng vậy, mỗi khi gió thổi cây
reo, mình cũng lắng lòng nghe, nhớ lại giáo pháp mình tu.
Người nặng tánh chấp nhị biên (hai bên) tu Tịnh độ rất hợp. Thấy cõi này
khổ, cõi kia sướng, người ở đây xấu ác, người ở kia tốt lành, ở đây ô uế,
đàng kia thanh tịnh.
Người tu thiền hay theo Bát nhã thì vượt qua nhị biên, còn gọi là bất nhị
(không hai), thấy các pháp bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh. Thấy Ta Bà
không nhơ cũng không sạch, thấy người không thiện không ác, không xấu cũng
không đẹp.
Người tu Mật tông thì thấy toàn một bên. Thấy tất cả đều đẹp, đều thiện,
đều thanh tịnh. Thấy Ta Bà là Tịnh độ, phiền não tức bồ đề.
Người tu Tịnh độ thấy có bên này, có bên kia, bên kia hơn bên này.
Người tu thiền không thấy có bên này, bên kia. Không bên nào hơn bên nào.
Người tu Mật tông chỉ thấy một bên, thấy tất cả đều tốt. Thấy thế giới là
pháp giới, thân người là hóa thân phật, tiếng nói là pháp âm (thần chú).
Chữ 'thấy' mà tôi nói ở đây mang hai nghĩa: có người thấy thật và có người
đang tập thấy.
Những gì tôi vừa nói có thể làm người tu Tịnh độ không bằng lòng, nên tôi
lấy thí dụ khác.
Người còn chấp nhị biên thì nói thầy tu phải ăn mặc rách rưới, nghèo khổ,
không được mặc quần áo đẹp. Người không còn nhị biên thì nói ăn mặc làm
sao cũng được. Khi cần mặc áo rách thì mặc áo rách, khi cần mặc áo đẹp thì
mặc áo đẹp. Vô ngại!
Người chấp một bên của Mật tông thì thấy áo rách cũng đẹp, áo lụa cũng
đẹp, mặc áo nào cũng đẹp hết. Họ tập nhìn thấy ngay ở đây tất cả sự vật gì
có ở Tịnh độ. Ðây là lý chính yếu của Mật tông khi làm những buổi lễ
(puja) hay saddhana (nghi thức quán tưởng trì chú).
Thí dụ về saddhana Chenrézi (Quan Thế Âm). Ta ngồi nhiếp tâm quán tưởng
mình từ từ biến thành Chenrézi. Người ngoài nhìn vào đâu thấy gì khác
thường, nhưng trong tâm mình, mình không còn thấy mình là cái xác phàm phu
nữa mà là Quan Thế Âm. Ròi từ đó mình tập thể hiện những đức tính Quan Âm.
Thí dụ mình giận ai rồi muốn chửi người đó, sực nhớ lại Quan Âm đâu có
chửi, nói ra lời nào cũng là thần chú (mantra) nên mình liền niệm om mani
padme hum. Ðó là quán về mình, tiếp theo là quán về người khác. Khi nhìn
họ, mình không còn thấy họ dưới hình tướng bình thường nữa mà dưới hình
tướng Quan Âm, thấy ai cũng là Quan Âm hết. Như vậy làm sao ưa người này
ghét người kia được.
Nói về địa thế, nơi ở. Nơi ở của Quan Âm là Potala, Hán Việt phiên âm là
Phổ Ðà Lạc Giạ. Ðức Dalai Lama là hóa thân của Chenrézi (Quan Âm) nên cung
điện của ngài ở được đặt tên là Potala. Mình ở đây là Montréal, đàng kia
là Ottawa nên mình thích ở Montréal hơn. Nhưng nay nếu mình là Chenrézi
(Quan Âm) thì Montréal cũng là Potala, Ottawa cũng là Potala, đi đâu, đến
đâu cũng là Potala hết. Như vậy đâu còn vấn đề ưa đây, ghét kia.
Ở
Cực lạc gió thổi, cây reo, chim hót đều nhắc mình niệm Phật, niệm Pháp,
niệm Tăng. Ở đây nếu có người nào suốt ngày cứ theo sau mình nói niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, thì mình có
nhức đầu không? Ý kinh muốn nói là tất cả những âm thanh nào phát ra cũng
nhắc mình nhớ tu hành, thì nay ở đây cũng vậy, gặp người khen mình ghi
nhận: người này nhắc mình tu hành; gặp người chê, mình cũng ghi nhận:
người này nhắc mình tu hành. Như vậy gặp người khen kẻ chê đều nhắc mình
tu hành cả.
Trở lại cách tu mật tông, qua các saddhana, hành giả tập làm như mình đã
thành Phật rồi. Tập quán tưởng, suy nghĩ, hành động theo những đức tính
của Phật hoặc các Yidams. Cứ tập như vậy cho thuần thục, 10 năm, 20 năm,
30 năm, đến một ngày nào đó thì tự nhiên sự nhận thức của mình hoàn toàn
thay đổi. Và ngày đó Phật với mình là một, mình với Yidam của mình là một,
năng và sở nhập một, gọi là Yoga (hợp nhất). Bởi thế trong danh từ Mật
tông mới có Yoga-tantra và Anuttarayoga- tantra.
Hỏi: Nếu vậy thì người tu Tịnh Ðộ cũng có thể quán tưởng cảnh Cực lạc ngay
ở đây?
Ðáp: Ðúng, quán tưởng như vậy rất tốt. Chính đức Phật đã có giảng tron