Đạo Phật Siêu Khoa Học
Minh Giác Nguyễn Học Tài
Chùa Liên Hoa, California, USA
ấn hành 1997
---o0o---
TÌM CẦU VÀ
THỂ NGHIỆM
Các khoa học gia và triết gia đã suy tư,
tìm cầu, và thể nghiệm để tìm hiểu nguồn gốc của vũ trụ, của Thái dương
hệ, của các đại dương, các Thiên Thể; nhất là nguồn gốc của loài người nói
riêng và của những sinh vật nói chung.
Không ai phủ nhận công laocủa khoa học
trong việc cải thiện nhân sinh. Nhưng công việc tìm cầu thực tại
cuối cùng của sự vật thuộc lãnh vực khoa học hay tôn giáo, nhất là đạo
Phật. Nói một cách khác, liệu đến một này nào đó, các khoa học gia
có thể đạt đến mục tiêu cuối cùng của họ không?
Ðiều này, Phật đã dạy rõ rằng chúng ta
không bao giờ có thể tìm cầu được thực tại cuối cùng của sự vật.
Gần 500 năm qua, nhất là trong 100 năm gần
đây, trong đường hướng tìm cầu thực tại cuối cùng, một số trường phái khoa
học đã tranh luận ráo riết, và trường phái này lần lượt đánh đổ trường
phái kia.
Sir Isaac Newton (1642-1727), khi khảo cứu
về ánh sáng cho rằng ánh sáng không có lằn, nhưng có Hạt (Particle).
Max Planck lại cho rằng ánh sáng do Bức xạ (Radiation), là Quanta (Lượng
tử, Năng Tử).
Albert einstein vá Max Plack là những ngưòi
đầu tiên viết về Nguyên lượng Cơ học (Quantum mechanices). Nhưng sau
naỳ Einstein lại cho rằng những thuyết về lượng tử đều là những thuyết Bất
định (Incomplete theory).
"Neil Bohr (1885-1950), nhà bác học Ðan
Mạch, chủ trương rằng đối tượng của Vật lý lượng tử không thể giải thích
vừa là Sóng và là Hạt, vì chúng là hai dạng của một thực tại bổ túc cho
nhau. Nguyên lý ay được suy rộng ra cho mọi phạm vi tư tưởng triết
học điều mà Bohr chịu ảnh hưởng của Trung Hoa".
Rồi ngôi sao sáng Albert Einstein
(187-1955) ra đời. Ông là dân Ðức gốc Do Thái và trở thành công dân Mỹ năm
1940. Ông đã đề xướng thuyết vế Chuyển Ðộng Brown (Brownian Movement), áp
dụng thuyết này vào Thuyết Lượng tử với những Năng tử, và phát hiện các
Quang Tử (Photon).
Năm 1915, ông hoàn tất thuyết Tương Ðối
Chung (General Relativity Theory) và thuyết này đánh đổ Luật Hấp Dẫn Vũ Vụ
(Theories of Universal Graviation) của Newton.
Newton đã nâng khoa học vá nền văn minh Âu
Châu lên mức tuyệt đỉnh. Trong một thời gian lâu dài, thuyết Cơ học
(Newton mechanics) của ông được coi như có thể giải thích được mọi hiện
tượng thiên nhiên. Cho đến khi Ðiện khí và Ðiện từ lực được khám
phá, người ta thấy Cơ học của ông còn thiếu xót vì không nói đến sức cản
hay cọ sát của không khí, mà chỉ giải thích một cách hạn chế một số hiện
tượng thiên nhiên như việc di động của một số vật chất rắn khác.
Từ năm 1880 đến 1900, khoa Vật lý Nguyên tử
(Neuclear physics) đã khám phá ra nhieu hiện tượng rất lạ khiến thuyết Cơ
học của Newton không thể giải thích được. Ví dụ vấn đề vận tốc ánh
sáng không thay đổi.
Niel Bohr (1885-1962), một Vật lý gia Ðan
Mạch là khuôn mặt sáng giá trong việc đề xướng thuyết Nguyên tử, và thuyết
náy mở đầu cho Nguyên lượng Cơ học (Quantum mechanics).
Sau 50 năm trời (1900-1950), các Vật lý gia
đã giải thích và hieuu biết rất nhiều về Âm ÐiệnTử (Electron). Từ
đó, mới bắt đầu chuyển qua việc nghiên cứu Lỏi (Core) của hạt Nguyên tử
(Atom).
Thuyết Tương Ðối của Einstein được chia làm
hai giai đoạn:
1/- Năm 1905, ông công bố thuyết Tương Ðối
Hẹp (Special Relativity), và thuyết này dựa vào thuyết Tương Ðối của
Galileo để được triển khai từ phạm vi Cơ học sang Ðiện từ học. Ðiều khác
biệt là Nguyên tắc này quyết định mọi định luật của chuyển động, và được
giới hạn trong phạm vi những chuyển động chóng đều.
2/- Năm 1915, thuyết Tương Ðối Chung
(General Relativity) ra đời. "Với thuyết này, Einstein đã chấm dứt
thời đại Vật Lý học mà còn làm đảo lộn nền nếp suy tư của nhân loại trong
mọi phạm vi tư tưởng, và dẫn đến vũ trụ quan lượng tử hiện đại..."
Thuyết Cơ học cổ điển của Newton cho
rằng Không gian và Thời gianhoàn toàn độc lập, và không liên hệ gì
với nhau. Thuyết Tương đối của Einstein chủ trương rằng Không gian
va Thời gian Liên tục Tương Ðối với nhau. Việc khám phá này rất phù
hợp với lời giải thích về "Sự sự vô ngại pháp giới" ở trong kinh Hoa
Nghiêm rằng Không gian và Thời gian dung thông với nhau.
Ngoài ra, Vật lý gia Matt Visser thuộc Ðại
Học Hoa Thịnh Ðốn đã viết về thuyết Tương Ðoi Chung của Einstein như sau:
"Einstein đã biến đổi vật lý học bằng cách
chứng tỏ rằng Không gian và Thời gian thật ra chỉ là hai vẻ khác nhau của
cùng một môi trường có thể dãn dài, uốn cong, và vặn vẹo hình thái bởi
Trọng trường".
Năm 1980, Vật lý gia Murray GEll_mann quan
niệm rằng Dương điện tử (Proton) va Trung hòa tử (Neutron) nằm trong Lõi
của Nguyên tử lại được cấu tạo bằng những Hạt tử nhỏ nhiệm hơn mà ông đặt
tên la Quark (Cực vi, Hạt ảo). Ðộ lớn của nó chỉ bằng 10-33 cm, hay 1/1000
tỉ tỉ hạt Nhân.
Tháng 3 năm 1995, các Vật lý gia đã tìm
được Quark Ðỉnh (Top Quark) bằng cách bắn vỡ những Dương điện tử và Ðối
Dương điện tử (Antiproton) khiến chúng tiêu diệt lẫn nhau và phát sinh
Năng lượng, trong đó có nhiều Hạt tử và Quark Ðỉnh.
"Trên 20 năm qua, Geoffrey và Fritjof Capra
đã áp dụng thuyết Boostrap (Ðại Ủng) để khám phá ra chiều sâu của thế giới
hạt nhân."
Khoảng năm 1960 dến 1970, Salam và Weiberg
lập ra thuyết Ðại Tổng Hợp (Grand Unification Theory - GUT). Thuyết
này là bước đầu của Nguyên lượng Cơ học (Quantum mechanices) mà sau 50 năm
nghiên cứu, các Khoa học gia mới biết liên kết Lực yếu và Ðiện từ lực với
nhau. P.A.M. Dirac (1902-1970) viết về thuyết Phản Vật Chất
(Antimatter) và Chân Không Sinh Diệt (Vacuum Polarization). Thuyết
Phản Vật Chất là một khám phá quan trọng của Nguyên lượng Ðiện Ðộng học
(Electrodynamics - QED).
Chân Không Sinh Diệt là một hiện tượng phân
cực một phần hay toàn phần của Dương điện và Âm điện trong một hạt Nguyên
tử, Phân tử (Molecule) hay hệ thống hoá học.
Trong vũ trụ cũng có những hiện tượng tương
tự. Ðức Phật đã dạy rằng, "Hư không hay Chân không không phải là Ngoan
không (nghĩa là chẳng có gì cả) mà khắp nơi, khắp xứ, chỗ nào cũng có đủ
loại quang minh cùng những loài chúng sinh cư ngụ."
Trong Chân không có Tĩnh Ðộng, Sinh Diệt,
Sắc Không, Tạo dựng va Hủy hoại. Ngày nay, các Khoa học gia đã khám
phá trong Chân không có Vật thể (Matter) và Ðối Vật thể (Antimatter), có
Quarks và Dối Quarks (Antiquarks), có Positron đối nghịch với Electron.
Họ cũng khám phá rằng Vật thể và Ðối Vật thể tiêu diệt lẫn nhau.
Thuyết Chân Không sinh Diệt (Vacumm
Polarization) rất phù hợp với thuyết Tương Sinh Tương Duyên Trùng Trùng
Duyên Khởi, Sắc Không, và Sinh Diệt của đạo Phật.
Khoa học ngày nay cũng đã khám phá ra trên
200 Phân tử (Particle) trong vũ trụ mà cách đây trên 2,500 năm, các trường
phái ngoại đạo gọi là "vi trần", và luận cứ rằng những "vi trần" này nhảy
múa loạn xạ để tình cờ hay ngẫu nhiên tạo thành những chúng sinh thấp như
những con sâu kèn, và những chúng sinh cao như khỉ và loài người.
Luận cứ này đã bị Phật bác bỏ.
"Khoa học ngày nay cũng đã khám phá ra rằng
dòng họ Quark như Hadron có cùng độ Quay Tự Nội (Intergrated Spins) có thể
trao đổi cho nhau được."
Chúng thay hình, đổi dạng, tan hợp, hợp
tan. Quang phổ (Photon) chẳng hạn, sự cấu tạo và chuyển hoá của nó
cũng không kém mê đồ ảo phố.
Về lượng tử, đã có rất nhiều thuyết như
Einstein và Max Planck đã viết thuyết Cổ Nguyên lượng Cơ học (Old Quantum
mechanics). Neil Bohr (1885-1950), Weiner Heisenberg, Scrodinger, và
Max Born viết Tân Nguyên lượng Cơ học (New Quantum mechanics).
Richard Feynman, Tomonaga và Swinger viết Nguyên lượng Ðiện động học
(Electrodynamics - QED), và Murray Gellmann viết Nguyên lượng Sắc dộng học
(Quantum Chromodynamics-QCD).
Về ứng dụng, Nguyên lượng Cơ học va Nguyên
lượng Ðiện động đã rất thành công, nhưng về phương diện triết lý và lý
thuyết thì không mấy thích hợp. Niềm mơ ước của những Vật lý gia vào
những năm 1940-1950 là tìm ra một lý thuyết tổng hợp, nhưng họ đã gặp rất
nhiều trở ngại. Mãi đến năm 1970, thuyết Ðại Tổng Hợp (GUT) mới ra
đời, và từ đấy các khoa học gia mới thấy đỡ thắc mắc.
Tóm lại, gần 500 năm qua, nhất là trong 100
năm gần đây, các khoa học gia đã suy luận, tranh cãi, điều tra, nghiên
cứu, và thử nghiệm rất nhiều. Nhưng kết quả ra sao?
Cách đây gần 100 năm, họ đã tìm ra Nguyên
tử và cho rằng Nguyên tử là đơn vị cuối cùng cấu tạo vật chất. Ðường kính
của một hạt Nguyên tử bằng 10 -8 (1 phần trăm triệu của 1 cm) hay 1
Angtrom.
Khoa học khám phá rằng trong một hạt Nguyên
tử nhỏ bé có cả một khoảng hư không mênh mông vì Lõi của nó chỉ bằng
1/100,000 của khoảng hư không đó. Kinh ví Lõi như một con ruồi đậu ở
giữa một căn phòng rộng lớn. Trong Lõi lại có Quark va dòng họ, và
Quark chỉ bằng 10-33 cm (hay 1/1,000 tỉ tỉ) của cái Lõi.
Thế mà Quark vẫn chưa được công nhận là đơn
vị cuối cùng cấu tạo vật chất.
Năm 1980, thuyết Super String (Siêu Tơ Trời
- STT) được đề xướng. Thuyết này là do một trường phái của một số đệ
tử của Einstein chủ trương. Toán học áp dụng cho thuyết STT rất phức
tạp, nhưng loại bỏ được những xảo thuật trong việc Tái an Bài
(Renormalization)
Trường phái thuyết STT cho rằng chính STT
và Tachyon mới là những Lượng tử Căn bản (Elementary particle) cấu tạo Vật
chất.
Theo định nghĩa, Lượng tử Căn bản là những
Lượng tử không có cấu trúc nội tại. Chúng thuộc loại những Lượng tử
Dẫn lực (Force-carrying particle). Mỗi Phân tử cặp đôi với một Ðối
Phân tử.
Những Lượng tử (Hạt tử) phảng phất như
sương khói này chỉ tìm thấy ở trong những phương trình toán học mà thôi.
Toán học dùng trong thuyết STT rất khó, hiện nay chỉ có khoảng 50 Vật lý
gia và Khoa học gia hiểu rõ mà thôi.
Xin xem bài Thuyết siêu Tơ Trời và Tachyon
để biết thêm chi tiết.
Không biết Khoa học còn tìm thêm được những
Hạt ảo vi tế và nhỏ nhiệm đến đâu nữa? Dẫu sao mặc lòng, nếu các
Ngài cứ dấn thân mãi vào trong toà lâu đài huyền thoại của thế giới lượng
tử, các Ngài sẽ trở thành những Thiện Tài Ðồng Tử đi hoài đi mãi trong lỗ
chân lông của ngài Phổ Hiền mà không tìm được lối thoát. Lối thoát
độc nhất là con đuờng tìm về những bí ẩn và huyền nhiệm của đạo giáo Ðông
Phương, nhất là đạo Phật.
Steven Weinberg, tác gỉa cuốn, "The Three
Units" (Ba Ðơn Vị), nói khoa học hiện đại đã trở thành khoa học giả tưởng
hay Thần học. Một số Vật lý gia khác cho rằng Nguyên lượng Cơ học
(Quantum Mechanics) - vừa Triết Lý vừa Vật Lý - đang đi dần đến Siêu hình
và Phong thần.
Phật đã dạy rằng chúng ta không bao giờ có
thể tìm được những Cực vi (Hạt ảo) cuối cùng vì chúng vừa là Hạt vừa là
Sóng. Không có Hạt nào gọi là Hạt cơ bản cả. Chúng không phải
Vật (Matter), không phải tâm (Mind), mà chỉ là những ảo ảnh xuất hiện ở
biên giới giữa Vật và Tâm. Riêng tôi, tôi gọi chúng là loại Phi Vật
Phi Tâm.
***
Chúng ta hãy tìm hiểu tại sao khoa học
không thể tìm kiếm được những viên gạch cuối cùng cấu tạo vật chất?
Nói cách khác, tại sao khoa học không thành công trong việc đi tìm thực
tại cuối cùng?
Tại vì họ tin Vật có thật, và tất cả những
sum la vạn tượng trong vũ trụ này đều có thật hết. Sở dĩ tin tuởng
như vậy bởi vì họ nhìn sự vật bằng "đôi mắt thịt với mấy chiếc ống nhòm",
dẫu tối tân và đắt tiền như Viễn vọng kính Hubble.
Có người nói, "Ủa! Vạn vật xuất hiện
sờ sớ trước mắt mà sao đạo Phật nói không có hay như huyễn?". Thấy
có sự vật, trong kinh gọi là Kiến trược, nghĩa là cái nhìn đục ngầu, sai
lầm như thị quan ảo giác, thính quan ảo giác, khứu quan ảo giác v.v...
Trông gà hoá quốc, trông sợi dây thừng tưởng là con rắn là thị quan ảo
giác. Vì khúc xạ ánh sáng, ta thấy đồng tiền ở đáy lu nổi lên gần
mặt nước. Vậy đồng tiền đó có thật không hay chỉ là cái bóng đồng
tiền đang nằm dưới đáy lu? Nước rong sa mạc cũng là do khúc xạ ánh
sáng (Kinh Phật gôi là dương diệm). Những đoàn người đi trong sa mạc
thấy nước nhẩy xuống tắm thì lại nhẩy vào đống cát! Trong Lăng
Nghiêm, Phật dạy nếu trong đêm tối có người cầm cục than quay thành vòng
lửa. Vậy vòng lửa đó có thật hay không? Kinh Lăng Nghiêm có kể
dân chúng ở một nước nọ thấy hai mặt trời, mặt trăng. Tại sao chúng
ta thấy có một? Kinh khác cũng kể loài người thấy nước uống và tắm
được. Loái quỷ thấy nước toàn là lửa đỏ, loái rồng thấy nước là toàn
cung điện, và chư thiên thay nước toàn là ngọc bích. Kinh đã dạy
rằng nhãn lực là tuỳ theo nghiệp lực và đạo lực. Nghiệp lực hết và
đạo lực cao là cái thấy của những đấng giác ngộ. Ví dụ Phật thấy vi
trùng trong nước hay Cực vi trần (Hạt ảo). Cái thấy không phải do
những Phù trần căn (mắt, tai, mũi, lưỡ, thân, ý) mà do Tịnh sắc căn đã
dung thông với Diệu Tâm.
Lấy thí dụ khoa học. Các nhà Thiên
văn Vật Lý viết rằng Sao Bắc Ðẩu (Polaris) đã phóng ánh sáng của nó từ năm
1300. Ánh sáng này phải bay mất 696 năm mới đến được nhãn quang chúng ta.
Vậy thì chúng ta thấy Sao Bắc Ðẩu thật hay chỉ thấy ảnh tượng của nó?
Bây giờ đến lượt điểm báo để tìm những
tương đồng giữa khoa học và Phật Giáo:
1. "Theo các nhà khoa học hiện
nay, Chân không không phải là trống không, trống rỗng, không có gì cả.
Chân không thực ra là một khoảng trống, không trống rỗng, nhưng trong đó
vẫn có những hạt và phản hạt bỗng nhiên xuất hiện rồi tự hủy."
2. "Pagels jquan niệm về Hữu / Vô của
ông như sau: 'Cái gì không hiện hữu, Vô thể hay Chân không đều là
trò chơi bỡn cợt của Ðấng Phù Thủy muôn đời.' Những nhà Vật lý học
lý thuyết và thực nghiệm ngày nay đang nghiên cứu về Chân không - điều
chẳng có gì cả. Những cái ấy Vô ấy chứa tất cả cái Hữu."
3. Theo Lý thuyết Bổ sung
(Complimentary Theory), cái Hữu/Vô có thể là Hạt (Particle/Matter) hoặc là
Sóng (Wave/Mind).
4. Theo Nguyen tắc Bất Dịnh
(Uncertaincy Principle), không thể xác định dứt khoát vấn đề Hạt hay Sóng.
5. Ðệ tử của Neil Bohr không ngờ rằng ông
đã đề xướng ra Lý thuyết Bổ sung sau khi nghiên cứu và áp dụng triết lý
của Á Ðông."
Kinh Phật dạy rằng Hư không (hay là Chân
không) không phải là ngoan không, nghĩa là chẳng có gì cả, mà trong đó có
đủ loại quang minh cùng các loài chúng sinh cư ngụ. Kinh Lăng Nghiêm,
trang 221 Phật dạy, "A Nan! Như hột bụi trần gần như Hư không vì chia mà
thành ra hạt bụi gần Hư không, mà thành lại sắc tướng."
Kinh Duy Ma Cật, Phẩm
Quán Chúng sinh, trang 67, kể lại cuộc đối thoại giữa Bồ Tát Văn Thù và
Duy Ma Cật, theo đó cái Có là do ở cái 0 mà ra. (Xin xem thêm ở bài
Nguyên tử).
1. "Nếu trước đây, với cơ học lượng tử,
hạt được quan niệm là một Ðiểm thì khi chuyển động trong khônggian, nó
vạch thành đường mà ta có thể gọi là 'đường trời'. (World Line).
2. Theo M. Kaku va J. Trainer, ngoài
vấn đề giải thích các hạt cơ bản như các Tơ trời vi ba là từ thân xác ta
cho đến các vì tinh tú đều là hình thức tổ hợp của các Tơ trời..."
Kinh Ðịa Tạng, Kinh
Pháp Hoa, nhất là Kinh Hoa Nghiêm, khi đức Phật phóng quang thì
lúc đầu những quang minh chạy theo đường thẳng, rồi dần dần uốn tròn thành
hình trôn ốc mà lập thành Sắc tướng. Như vậy, thân căn của chúng sinh và
của muôn loài đều được dệt bằng quang minh. Vì được dệt bằng quang minh
nên vạn hữu cũng đều toả ra quang minh. Hiện nay, có máy chụp hình hào
quang tỏa ra từ trên đầu người ta. Chính tôi có một tấm hình một cụ tu từ
trên 30 năm, trên đầu cụ tỏa ra một vầng hào quang đủ màu rực sáng. (Xin
xem thêm bài Sáu Căn Hỗ Tương).
"1. Theo Nguyên lý
Bất định của Heisenberg, những hạt lượng tử có thể sinh từ Vô thể... Ðó là
một lượng tử ảo. Nó có thể trở thành một lượng tử thật, một hạt thật, nếu
hội đủ số năng lượng cần thiết...
2. Ngoài ra, tư tưởng về cấu trúc Hadron
với tính cách phi nền tảng, phi cục bộ đã thống nhất vũ trụ khoa học với
nhân sinh quan huyền nhiệm của truyền thống đông phương"
Phật dạy rằng, "Người ta muốn phân tích,
tìm cầu một Cực vi cuối cùng trọn không thể được. Cái cực vi đó
không phải là Vật mà chỉ là ánh biến hiện của quang minh thôi nó biến ảo
vô cùng. Thế mà khi những Cực vi đó ra ngoài giác quan của chúng ta,
khi nào chúng nó tụ hội, giả hợp với nhau, nó biến thành cái mà mình thấy
được.."
"Hiện nay, các nhà khoa học đua giả thuyết
coi ý thức tâm linh huyền nhiệm có thể là Lực cơ bản thứ năm của vũ trụ."
"Pháp giới như là một màn Thiên la võng
(Màn lưới báu) vừ của chung vừ của riêng."
Khi tu hành lọt vào Tàng thức thì tâm thức
của hành giả sẽ dung thông với pháp giới, tức là cái màn Thiên la võng của
vũ trụ. Tất cả những gì xẩy ra trong vũ trụ, hành giả đều biết hết (Bộ lạc
Kogi ở Nam Mỹ, tuy sống cách biệt thế giới loài người nhiều ngàn năm mà
những gì xẩy ra ở thế giới họ đều biết hết. Theo những tài liệu này,
những vị thành niên của Bộ lạc Kogi phải ngồi Thiền trong 7-8 năm trời,
cũng như Tổ sư Ðạt Ma đã quay vào vách đá ngồi Thiền trong số năm tương tự).
Nói chung, Khoa học dựa vào toán học, vật
lý học va thí nghiệm để tìm hiểu thiên nhiên. Triết lý và tôn giáo
từ nhiều ngàn năm đã dựa vào suy luận và sự huyền nhiệm dể liễu tri những
bí ẩn của vũ trụ.
Người Âu châu, với bộ óc thiên về vật chất
và khoa học đã có một nền văn minh khá cao, đạt được những tiến bộ đáng
kể, và khám phá được những điều đáng khích lệ.
Ngược lại, người Á châu thiên về đạo đức,
tâm linh, và huyền nhiệm nhiều hơn.
Một câu châm ngôn cổ của Trung Hoa nói rằng
huyền nhiệm hiểu biết được gốc rễ của Ðạo mà không biết được cành lá.
Khoa học biết cành lá mà không hiểu được gốc rễ.
Như đã kể trên, một số Khoa học va Vật lý
gia đã trở về nghiên cứu những tư tưởng huyền nhiệm của đạo lý Ðông phương
nhất là đạo Phật. Thomas Cleary với cuốn, "Entry into the
Inconceivable" (Bước vào Thế Giới Huyền Nhiệm), đã bừng tỉnh thoát khỏi
cái mê lâu của Khoa học bằng cách cổ võ việc ngộ nhập vào thế giới huyền
nhiệm của đạo lý Ðông phương. Ken Welber với "The Hollographic
Paradigm" (Khuôn Mẫu Toàn Ký), và Michael Talbot với "The Hollographic
Universe: (Pháp Giới Như Huyễn), đã giác ngộ cái lẽ Sắc Không của
đạo Phật.
Trong bài tự thuật, Albert Einstein, cha đẻ
của khoa học hiện đại, đã nói rằng ông là một người không tôn giáo, nhưng
nếu có tôn giáo thì ông phải là một Phật tử.
Ðiển hình nhất la Vật lý gia người Mỹ gốc
Áo Fritjof Capra đã làm chấn động giới khoa học Tây phương sau khi ông
xuất bản cuốn "The Tao of Physics" (Ðạo của Khoa Vật Lý) năm 1974.
Trong đó ông trình bày những sắc thái đặc biệt của đạo Lão, đạo Phật, đạo
Thiền. Trong nhiều năm trời, ông đi diễn thuyết ở nhiều nơi, nêu lên
những cái bất quân bình của xã hội Tây phương như trọng khoa học hơn tôn
giáo, và ưa thực nghiệm hơn huyền nhiệm... Ông kêu gọi giới khoa học và
dân chúng Tây phương cần tìm hiểu những tư tưởng siêu việt và huyền nhiệm
của đạo lý Ðông phương vì những đạo lý này có thể làm khuôn mau tốt đẹp và
thường hằng cho những lý thuyết tuyệt đỉnh nhất của giới Vật lý Tây
phương.
Jemery W. Hayward hăng hái cổ võ bằng đề
tài cuốn sách ông xuất bản năm 1987, "Shifting Worlds, Changing Minds,
Where the Sciences and Buddhism Meet" (Chuyển Hoá Thế Giới, Thay Ðổi Tư
Duy để Khoa Học và Phật Giáo Gặp Nhau).
Trong lời giới thiệu cuốn "Vật Lý học và
Phật Giáo" của Tiến sĩ Vật lý Vương Thủ Ích thuộc Ðại Học Michigan, Thượng
Tọa Thích Viên Lý đã viết:
"Khoa học chú tâm vào việc
khám phá chân lý để soi sáng ý nghĩa nhân sinh và vũ trụ, đồng thời để tạo
ích lợi cho con người. Phật học nỗ lực truyền thừa chân lý để được nghiệm
chứng để mang lại phúc lạc thật sự cho muôn loài. Một bên là thể nghiệm
một bên là tìm cầu. Lẽ tất nhiên, con đường tìm cầu đến lúc nào đó sẽ
trực diện với sự thể nghiệm, chứ không phải sự tìm cầu, mới có thể hội
chứng được chân lý..."
Xem như vậy, việc kêu gọi đổi mới tư duy và
tìm cầu chân lý trong đạo lý Ðông phương của một số khoa học gia tiền
phong Tây phương đã rất phù hợp với những nhận định của Thượng Tọa Thích
Viên Lý.
Tôi xin trình bày Sơ dồ Nguyên tử và dòng
họ như sau:
SƠ-DỒ NGUYÊN-TỬ CÁC HẠT VI-PHÂN TIỀM
NGUYÊN-TỬ
(Sketch of an Atom and its Subatomic
Particles)
Phân-tử
(Molecule)
Nguyên-tử
(Atom)
Dương điện-tử
Trung hòa-tử Âm điện-tử
(Proton)
(Neutron) (Electron)
(Nhẹ) (Nặng)
Lepton Quarks Hadron Gluon
Electron Trên
Meson Baryon Graviton
Muon Dưới Photon
Tauon
Kỳ lạGluon yếu
Electron
neutrino Ðẹp PionProton Gluon mạnh
Muon
neutrino Ðáy Kaon
Neutron
Tauon
neutrino Ðỉnh Eta
Lambda
Sigma
Siêu Tơ Trời
Cascade
(Super String) Omega
Tachyon
Chân-không Sinh Diệt
(Vacuum Polarization)
Càn
Khôn Dương (+) Âm
(-)
Sinh
Diệt
Sắc
Không
Quark
Antiquark
Positron Electron
Tôi để Chân không Sinh Diệt (Vacuum
Polarization) ở cuối cùng chỉ có tính cách tạm bợ vì tất cả những hạt nói
trên đều nằm trong Chân không, sinh sinh, diệt diệt.
Sơ dồ nhằm giúp quí vị có một ý niệm khái
quát về những hạt tử (Lượng tử, Hạt ảo, hay Cực vi) được khám phá gần đây
mà khoa học cho là những viên gạch cuối cùng cấu tạo vật chất.
Việc sắp xếp vị trí các Hạt cũng rất gượng
ép bởi vì những Hạt này đều được cấu tạo, chuyển hóa và biến đổi trong
khoảnh khắc. Tuy nhiên, chúng tôi cũng căn cứ vào theo thứ tự những
Hạt được khám phá cùng việc sắp xếp của các Vật lý gia dựa theo bốn Lực
của thiên nhiên cùng sự Tương Ðắc (Interaction) của chúng.
Ðể quý vị thấu đáo việc cấu tạo vạn vật
trong vũ trụ, tôi xin tóm lược việc so sánh rất hay của nhà bác học H.R.
Pagels (Group Theory) như sau:
1. Các Hạt tử như Quarks và dòng họ Hadron,
Lepton và Gluon là những mẫu tự.
2. Những mẫu tự nà chắp lại thành chữ, tức
là Nguyên tử.
3. Nhiều chữ chắp lại thành câu, tức la
những Phân tử.
4. Nhiều câu chắp lại thành cuốn sách, hay
nhiều Phân tử chắp lại thành thân căn của chúng ta hay của muôn loài.
5. Nhiều cuốn sách hay muôn loài đều nằm
trong thư viện tức là vũ trụ.
Theo loi sắp xếp như vậy, tôi để Phân tử
lên đầu. Kế đến là Nguyên tử và ba thành phần chính của nó là Dương
điện tử (Proton), Trung hòa tử(Neutron), và Âm điện tử (Electron).
Gần đây, Vật lý gia Murray Gell-Mann cho rằng dưới Proton và Neutron còn
có những hạt Vi phân Tiềm Nguyên tử vi tế hơn mà ông đặt tên la Quark (tôi
dịch là cực vi, cụ Mạc Ngọc Pha dịch là Hạt ảo). Ðể cho rõ ràng, tôi vẫn
giữ nguyên chữ Quark. Theo Nguyên lượng Sắc dộng học (Quantum
Chromodynamics - QCD), Quark có 3 màu: Ðỏ, Xanh dương và Xanh lá cây.
Quark cũng có 6 vẻ (Flavor): Trên (Up), Dưới (Down), Ðẹp (Charm), Kỳ
lạ (Strange), Ðỉnh (Top) và Ðáy (Bottom).
Dòng họ của Quark là Hadron, Lepton và
Gluon. Hadron được chia thành Meson và Baryon. Meson có Pion, Kaon và Eta.
Baryon có Proton, Electron, Neutron, Lambda va Omega. Lepton có Electron,
Muon, Tauon, Electron neutrino, Muon neutrino và Tauon neutrino. Gluon có
Graviton, Photon (Quang Tử), Gluon yếu va Gluon mạnh.
Sau đó là Siêu Tơ Trời (Super String do cụ
Mạc Ngọc Pha dịch), Tachyon và tận cùng bằng Chân Không Sinh Diệt.
Một trường phái gồm những đệ tử của
Einstein cho rằng Quark là dòng họ do Gell-Mann khám phá chưa phải là
những Phân tử căn bản mà những Phân tử căn bản phải là Siêu Tơ Trời và
Tachyon.
Tận cùng là Chân Không Sinh Diệt (Vacuum
Polarization), thuyết của P.A.M. Dirac. Thuyết này gần giống như đức
Phật đã dạy về Hư không (hay Chân không) rằng "Hư không không phải là
Ngoan không, nghĩa là chẳng có gì cả, mà trong đó có đủ loại quang minh
cùng các loài chúng sinh cư ngụ.
Trong Chân không là Càn (Dương +), Khôn (Âm
-), Sinh Diệt, Sắc Không, Tạo dựng và Hủy hoại. Gần đây, các Vật lý
gia đã khám phá ra rằng trong Chân không có Phân tử và Ðối Phân tử
(Particle and Anti-particle), có Quark và Dối Quark (Quark and AntiQuark),
có Vật thể và Ðối Vật thể (Matter and Antimatter), và có Positron đối
nghịch với Electron. Họ cũng khám phá ra rằng những Hạt tử này gặp
nhau thì tiêu diệt lẫn nhau. Ðó là cái nghĩa Sinh Diệt, Sắc Không của đạo
Phật.
Như vậy, trong Sơ đồ này tôi đã trình bày
đầy đủ sắc thái Tĩnh và Ðộng của các Hạt tử.
NGUYÊN TỬ
Nguyên tử là đơn vị nhỏ nhiệm cấu tạo
mọi vật trên thế giới này. Cái bàn, cái ghế, cái đinh, cái búa, cái kéo
và những vật chung quanh chúng ta đề được cấu tạo bằng Nguyên tử.
Một bức tường là do nhiều viên gạch xây
thành. Một trái núi là do vô vàn vô số những hạt bụi kết thành. Nếu phá
vỡ bức tường, người ta lấy lại được từng viên gạch. Viên gạch và hạt bụi
được tạm gọi là những đơn vị căn bản cấu tạo vật chất mà tiếng Pháp gọi là
Unité formant corps.
Ðể hiểu rõ Nguyên tử, chúng tôi xin định
nghĩa rõ ràng những danh từ căn bản như sau:
Vật thể, Vật chất, Thể chất (Matter)
(1): Là bất cứ vật gì choán một chỗ trong không gian và có phương hướng
như không khí, nước đá và con người. Ánh sáng và nhiệt không phải là Vật
thể vì không có Trọng lượng.
Phân tử (Molecule, Particle): Là
những mảnh nhỏ nhất có những đặc tính của chất nguyên thủy. Ví dụ một
Phân tử đường là một mảnh nhỏ nhất, nhưng vẫn có đặc tính của đường. Dùng
những dụng cụ đặc biệt, người ta có thể phân tách Phân tử thành những phần
nhỏ nhiệm hơn, đó là Nguyên tử.
Một Phân tử đường có thể chia thành 12
Nguyên tử than, 22 Nguyên tử khinh khí và 11 Nguyên tử Dưỡng khí. Và nếu
người ta kết hợp những Nguyên tử đó với nhau, những Nguyên tử này trở lại
thành một Phân tử đường như cũ.
Các Phân tử liên kết với nhau bằng Nạp điện
(Electrical charge). Chúng liên kết chặt chẽ với nhau trong những vật rắn
chắc, và di chuyển nhẹ nhàng trong không khí và nước.
Ngày
10-10-1996, báo chí Mỹ đã loan tải rằng giải thưởng Nobel Hoá chất đã được
trao cho ba khoa học gia có tên là Richard Smally và Robert F. Curl thuộc
Ðại học Rice ở Houston, Texas; và Harold W. Kroto thuộc Ðại học Sussex ở
Anh-Cát-Lợi. Họ đã có công khám phá một loại Phân tử than trong đó có 60
Nguyên tử than liên kết với nhau thành hình một trái banh.
Nguyên tố (Element) (1): Có tất cả
90 loại Nguyên tử và khoa học đã chế thêm 18 Nguyên tử nữa, cộng chung là
108. Những Nguyên tử naỳ có tên là Nguyên tố. Ví dụ Trung tâm Sưu tầm
Nguyên tử ở miền Nam Ðức Quốc đã tạo nên những Nguyên tố 107, 108, 109 và
110.
Nguyên tố nhẹ nhất được tìm thấy trong Thiên
nhiên là Khinh khí va Nguyên tố nặng nhất là Uranium. Tất cả những Vật
chất trên thế giới này được cấu tạo bằng khoảng 100 loại Nguyên tử khác
nhau.
Cấu tạo của một Nguyên tử
Dựa theo Cổ Nguyên lượng Cơ học
(Old Quantum mechanics), một hạt Nguyên tử cũng giống như một Thái Dương
Hệ nhỏ bé, ở giữa có một Nhân hay Lõi (Neucleur) và những Phân tử
(Particle) nhỏ nhiệm chạy chung quanh cái Nhân y những Hành tinh chạy
chung quanh Mặt trời.
Cái nhân gồm có hai Phân tử gắn
liền với nhau gọi là Dương Ðiện tử (Protons) và Trung Hoà tử (Neutrons).
Dương Ðiện tử va Trung Hòa tử có thể chia cắt thành những Phân tử nhỏ
nhiệm hơn nữa gọi là những hạt Vi phân Tiềm Nguyên tử (Subatomic
particles). Vì cả hai Phân tử này đều nằm trong Nhân của hạt Nguyên tử,
người ta gọi chúng là những Phân tử Nhân (Neucleons)
Nguyên tử nhỏ đến nỗi nguời ta
đặ 2 triệu rưỡi Nguyên tử sát nhau thì chỉ bằng đường kính của đầu kim.
Nguyên tử rất nhẹ. Ví dụ đem cân hơn một Sectillion (1+21
số 0) Nguyên tử Uranium, nó chỉ nặng bằng 1/28 gram. Nói rõ hơn, một hạt
Nguyên tử có đường kính bằng 10-8
(1 phần 100 triệu của một centimét, hay 1 Angstrom: A0).
Một hạt Nguyên tử rất lớn nếu
so với Nhân của nó. Trong một hạt Nguyên tử nhỏ bé c cả một khoảng hư
không mênh mông vì Nhân của nó chỉ bằng 1/100,000 khoảng hư không đó.
Nhân của nó bé tựa như người ta đặt một hòn bi trong một hình cầu rộng
lớn. Cái khoảng trống mênh mông đó, đức Phật gọi là Không đại.
Một hạt Nguyên tử được chia
thành ba thành phần chính: Dương điện tử, Trung hòa tử và Âm điện tử.
Dương điện tử (Proton).
Là một hạt Vi phân Tiềm Nguyên tử bền vững, nạp Dương điện (+), thuộc dòng
họ Baryon, có Trọng khối bằng 1,836 lần Trọng khối của một Âm điện tử.
Ðiện lượng không tùy thuộc lớn
nhỏ hay nặng nhẹ, mà điều quan hệ là nó nạp Dương điện. Ðiện lượng của
Dương điện tử và Âm điện tử không khác, chỉ khác nhau ở dấu hiệu. Rất khó
tách rời Dương điện tử ra khối hạt Nguyên tử vì nó nằm sâu trong Lõi của
hạt Nguyên tử mà người ta gọi là Proton Nhân.
Trung hoà tử (Neutron).
Là hạt Vi phân Tiềm Nguyên tử, trung tính điện, thuộc dòng họ Baryon, có
Trọng khối bằng 1,839 Trọng khối của một Âm điện tử. Rất bền vững, và có
đời sống kéo dài khoảng 16.6 phút. Trung hòa tử và Dương điện tử phối hợp
với nhau tạo thành Lõi của hạt Nguyên tử.
Dựa trên Tân Nguyên lượng Cơ
học (new Quantum mechanics) và Nguyên lượng Sắc động học (Quantum
Chromodynamics - QCD), gần một thế kỷ đã qua, các vật lý gia đã khám phá
ra rằng Nguyên tử lâu nay được coi là đơn vị nhỏ nhất của một Vật thể lại
được cấu tạo bằng những Hạt Vi Phân Tiềm Nguyên tử nhỏ nhiệm hơn mà Vật lý
gia Murray Gell-Mann đặt tên là Quark (Hạt ảo, Cực vi).
Âm điện tử (ELectron). Là một
Vi phân Tiềm Nguyên tử cùng dòng họ với Lepton, có Trọng khối bằng 9,1066
x 10-28
gram và một Ðiện lượng vào khoảng 1,062 x 10-8
Coulombs. Trong một hạt Nguyên tử có nhiều Âm điện tử. Người ta có thể
rời nó bằng cách va chạm nó với những hạt Nguyên tử với nhau. Ðiện tử này
tích Âm điện (-), và chỗ nào cũng có nó. Nó có đời sống riêng, và rất dễ
dàng tách rời khỏi một hạt Nguyên tử. Nhưng chung quanh Nguyên tử tuồng
như có hàng rào từ lực ngăn cản Âm điện tử thoát ra ngoài.
Âm điện tử rất nhẹ và chỉ nặng
bằng 1/1800 Trọng lượng của Dương điện tử và Trung hòa tử. Dương điện tử
và Âm điện tử có cùng số Tích điện, hay Nạp điện. Bởi vì một hạt Nguyên
tử thường có cùng một số lượng Dương điện tử hay Âm điện tử. Việc quân
bình này cho rằng Nguyên tử, chất căn bản cấu tạo Vật chất, thường Trung
tính điện. Nguyên tử được nhận diện khác nhau ở số lượng, chất Ðồng vị
(Isotope), và Nguyên tử trọng (Atomic wight). Tất cả những hạt Nguyên tử
đều được những Phân tử cùng loại tạo nên. Ví dụ Dưỡng khí co 8 Âm điện
tử, 8 Dương điện tử và 8 Trung hòa tử. Nhôm (Aluminium) có 13 Âm điện tử,
13 Dương điện tử và 14 Trung hoà tử. Sự khác nhau đó được biểu thị bằng
số Nguyên tử trọng.
Nguyên tử trọng (Atomic
weight) (1). Nguyên tử trọng của một nguyên tố (Element) là Trọng lượng
trung bình của những Nguyên tố của hạt Nguyên tử. Nguyên tử là trọng
lượng của hạt nhân được cấu tạo bằng Dương điện tử và Trung hoà tử. Mỗi
Dương điện tử đều nặng như nhau không kể đến số lượng Nguyên tố của nó.
Trung hòa tử cũng vậy. vì vậy, Nguyên lượng tử trọng có thể được biểu thị
bằng cách cộng chung số lương Dương điện tử và Trung hoà tử. Ví dụ một
Nguyên tử Sắt nặng gấp 4.63 lần Nguyên tử Than 12, và Nguyên tử trọng của
nó bằng 4.63 x 12 = 55.85 đơn vị.
Chất Ðồng vị (Isotope)
(1). Mỗi hạt nhân của một Nguyên tố đều có cùng một số Dương điện tử và
Âm điện tử. Những hạt nhân của một số Nguyên tố không phải luôn luôn có
cùng một số lượng Trung hòa tử. Những hạt nhân có số lượng Âm điện tử
khác đó gọi là Chất Ðồng vị. Phần lớn các Nguyên tố đều là sự hỗn hợp của
hai hay ba chất dồng vị. Ví dụ một cái bình bằng sắt được cấu tạo do sự
hỗn hợp của bốn chất Ðồng vị của Nguyên tố Sắt. Những chất Ðồng vị của
Nguyên tố Sắt. Những chất đồng vị xuất hiện trong Thiên nhiên, nhưng các
khoa học gia cũng đã tạo nên khoảng 1,000 chất Ðồng vị trong phòng thí
nghiệm.
Trở lại Nguyên tử, cách 25 thế
kỷ, người Hy Lạp quan niệm rằng Nguyên tử không thể chia cắt thành những
đơn vị nhỏ hơn nữ, và Nguyên tử là danh của họ để chỉ những vật gì không
thể chia cắt thành những pahn nhỏ bé hơn.
Các khoa học gia đã dùng những
phương tiện phá vỡ Hạt nhân (Atom smasher) như máy Gia tốc (Accelerator)
va máy Siêu dẫn và Siêu Va Chạm (Super Conductor Super Collider) để tìm
kiếm những Phân tử (Particles) vi tế hơn.
Trước khi Gell-Mann khám phá ra
Quark, các khoa học gia đã biết rằng trong Nhân của một hạt Nguyên tử có
những Phân tử vi tế hơn nữa gọi là những hạt Vi phân Tiềm Nguyên tử.
Nhưng vì chưa khám phá thêm được gì hơn nữa, người ta tạm cho rằng Nguyên
tử là những đơn vị căn bản cấu tạo Vật chất.
Khác với Dương điện tử, Trung
hoà tử và Âm điện tử; những hạt Vi phân Tiềm Nguyên tử chi xuất hiện trong
khoảnh khắc. Người ta khám phá ra chúng trong việc Phá vỡ Nguyên tử, hay
Oanh tạc Hạt nhân trong những phòng thí nghiệm, hay những lò Nguyên tử.
Những Phân tử này cũng được tìm thấy trong Tia Vũ trụ (Cosmic ray)
Quark và dòng họ: Lepton,
Hadron và Gluon.
"Quark là một loại hạt không
thể khám phá ra được hình tướng của nó mà đời sống hiện hữu của nó chỉ
được nhận ra trong những phương trình toán học hay hiệu lực của nó trong
các phép tính về Năng lượng. Hiện nay khoa học đã khám phá ra thêm 200
hạt mà đại đa số đều là Hạt ảo (Quark). Mạng lưới thế giới vô hình ngày
càng mở rộng..."
Lepton. Âm điện tử thuộc
một dòng họ khác với những hạt Vi phân tiềm Nguyên tử gọi là Lepton. Theo
từ ngữ Hy Lạp, Lepton có nghĩa là hạt nhỏ nhiệm. Dòng họ Lepton gồm có 6
phân tử được chia thành ba cặp: Electron Neutrino, Muon Neutrino và Tauon
Neutrino. Lepton là hạt nhẹ, có Nửa Ðộ Quay Tự Nội (Half-Intergrated
Spins) và có Trọng khối nhẹ hơn Trọng khối của Neutrino. (Một Neutrino có
Trọng khối bằng 1/1000 tỉ của một Proton. Cũng có một số Vật lý gia cho
rằng Neutrino không có Trọng khối. Thí nghiệm cho thấy cứ mỗi Lepton lại
có một Ðối Phân tử. Những Ðối Phân tử có cùng trọng khối với Phân tử,
nhưng có tích diện ngược lại. Ví dụ Ðối Phân tử của Âm điện tử không Tích
điện (-) là một Tích dương điện (+) có tên là Positron.
Xin quý vị lưu ý rằng có Dương
điện tử lại có Âm điện tử, và có Phân tử lại có Ðối Phân tử để giữ quân
bình hoạt động của tất cả vũ trụ. Nếu tất cả người và vật đều chỉ có
Dương điện tử (+) hết thì người nào hay vật nào có điện lượng mạnh hơn sẽ
đốt cháy người hay vật khác có Ðiện lượng yếu hơn.
Ở đây cũng vậy, có Positron (+)
để đối nghịch Âm điện tử (-).Ðó là cái nghĩa Càn (+) Khôn (-), Sinh Diệt,
Sắc Không, Hữu Vô, có tạo dựng lại có hủy diệt như đã nói trong Sơ đồ
Nguyên tử ở phần Vacuum Polarization (Chân Không Sinh Diệt).
Dưới Lepton có: Electron,
Muon, Tauon, Electron Neutrino, Muon Neutrino và Tauon Neutrino. Tôi chỉ
nói qua về Muon vì bài đã quá dài.
Muon. Muon có họ hàng
với Lepton. Trọng khối bằng 207 Trọng khối của Neutrino, là một Tích Âm
điện, và có đời sống bằng 2.2 x 10-6
(2 phần triệu của một giây đồng hồ). Trước kia, Muon có tên là "Mu
Meson".
Muon, được phát hiện khi các
khoa học gia việc Bức xạ (Radiation) của Tia Vũ Trụ (Cosmic ray) để tìm
kiếm Tia Gamma (Gamma ray). Thay vì Tia Gamma, họ bất ngờ phát hiện những
đám mưa rào đầy những hạt Vi phân Tiềm Nguyên tử gọi là Muon. Việc phát
hiện này khiến khoa học phải xét lại những ước đoán căn bản của họ về Thể
chất (Matter) và Năng lượng (Energy).
Hadron. "Thuộc loại
Tương tác của Lực mạnh (Strong force) đối ứng với các hạt Lepton thuộc
loaị Tương tác nhẹ. Mỗi hạt Hadron được cấu tạo từ 3 đến 27 hạt Quarks
hay nhiều hơn... Tất cả hạt Hadron cùng dòng họ đều có cùng một Ðộ Quay Tự
Nội (Intergrated Spins). Trong một Hadron, mỗi Phân tử vừa là thành phần
vừa là toàn thể. Các Hadon cùng dòng họ có thể trao đổi được với nhau..."
Dưới Hadron còn có Meson và
Baryon.
Meson. Hạt trung bình,
Tương tác mạnh, có Nửa Ðộ Quay Tự Nội, có Trọng khối, và thường liên kết
Lepton với Baryon. Meson có dòng họ là Pion, Kaon và Eta.
Baryon. Hạt nặng như
Neutron và Proton, có Ða Vạch Hyperdron (Hyperdron Multiplets), thuộc loại
Tương tác mạnh, có nửa Ðộ Quay Tự Nội (Half-Intergrated Spins) và nặng hơn
Meson. Họ hàng với Baryon, có hai loại: Nhân (Neucleon) gồm có Proton và
Neutron, và loại Ða Vạch gồm có Lambda, Cascade và Omega.
Gluon. Thuộc loại Tương
tác mạnh, không có Trọng khối, thường liên kết các hạt Quarks với nhau.
Gluon có họ hàng với Quang tử, Graviton, Gluon mạnh và Gluon yếu.
Có 4 lực trong Thiên nhiên:
Ðiện từ lực (Electromagnetic force), Lực Mạnh (Strong force), Hấp lực hay
Trọng tường (Gravity) và Lực yếu (Weak force).
Những lực này liên kết những
hạt căn bản với nhau để tạo thành Nguyên tử. Mỗi lực đều có hạt Boson
riêng biệt. Boson là những Phân tử căn bản truyền tải lực giữa các Phân
tử. Lực mà các hạt Bosons truyền tải đến những Phân tử khác gọi là Ðiện
từ lực. Hạt Boson truyền tải những từ lực được gọi là Quang tử (Photon).
Lực liên kết các Quarks với
nhau gọi là Lực mạnh. Hạt Boson truyền tải lực này gọi là Gluon.
Lực làm mọi vật rơi xuống đất
và giữ vững Trái đất quay chung quanh Mặt trời gọi là Hấp lực hay Trọng
trường. Lực liên kết với hạt Boson được gọi là Graviton.
Lực chịu trách nhiệm v phóng xạ
tuyến của những Nguyên tử bất ổn và tan rã phóng ra gọi là Lực yếu. Lực
này được truyền tải trong việc trao đổi giữa những Phân tử Y và Z.
Khoa học ngày nay đã khám phá
thêm Lực thứ 5 và thứ 6.
Lực thứ năm gọi là Ý thức Tâm
linh hay là lực căn bản của vũ trụ. "Trước kia, người ta cho rằng vũ trụ
là một bộ máy đồng hồ khổng lồ. Nhưng Eddington lại cho rằng vũ trụ không
phải là bộ máy đồng hồ khổng lồ mà là một Tâm tưởng lớn."
Tâm tưởng lớn trong kinh Phật
gọi là Diệu Tâm. Kinh dạy rằng Pháp giới (vũ trụ) là một màn Thiên
La Võng vừa của chung và vừa của riêng. Hành giả, qua nhiều A tăng kỳ
kiếp tu hành, từ Ý thức (Thức thứ sáu) vượt qua Mạn na thức (Thức thứ
bảy), lọt vào Không hải của Tàng thức (Thức thứ tám hay A lại da thức), và
tìm đường đến Diệu tâm mà nhà Thiền gọi là Bản lai diện mục, hay
Ông chủ.
Sau đây là Bảng ghi Trọng
lượng và Trọng khối của dòng họ Lepton:
Tên Trọng lượng
(Kg) Trọng khối (MeV)
Âm điện tử 9.11 x 100.511
Muon 1.88 x 10
105,700
Tauon 3.18 x
10 1,784,000 +/-3
Electron Neutrino 0* ?
Muon Neutrino 0* 0.250
Tauon Neutrino 0* ?
* Trích trong cuốn "The
Ultimate Theory of the Universe" của Pram Nguyen.
Bốn Lực của Thiên Nhiên
Lực Chiều dài Tầm Nhiệm vụ
tương điảnh hưởng trong
vũ trụ
Cường lực =1
Mạnh (Strong) 1 10
-13
cm Giữ vững hạt nhân,
tác dụng trên Baryon và
Meson (ngoại trừ Lepton)
gắn liền Quark với nhau
trong một Meson
hay
Baryon.
Ðiện từ001
Vô hạn Tác dụng trên
tất cả Phân
(Electro-magnetism) tử. Có
trách nhiệm về mọi
hiện tượng sinh điện cùng
những đặc tính hóa
học
của Phân tử (Molecule).
Yếu (Weak)
00001
10
-15 hay
Tác dụng trên tất cả
Phân
ít hơn tử. Chịu trách nhiệm
một
phần về việc giải tỏa
Năng lượng của các vì
sao và một vài loại
Phóng xa tuyến.
Trọng tường
10
-39
Vô hạn Giữ vững Hành
tinh,(Gravitional field)
Tinh tú, Thiên hà và
Chòm Thiên hà liên kết
với nhau..
Lượng tử Sắc động học hay
Nguyên lượng Sắc động học
(Quantum Chromo-dynamics)
Thuyết này nhằm cắt nghĩa đặc
tính của Quark. Nói một cách khác, thuyết này liên kết Quark với Sắc lực
(Color force) cùng ba màu của Quark.
Quantum (Nguyên lượng)
được căn cứ theo Nguyên lượng Cơ học (Quantum mechanics), và Chromo trong
Chromodynamics (Sắc động học) nói đến vai trò của Sắc lực (Color force).
Ðiện từ lực yếu
(Electroweak force)
Các yếu lực và Ðiện từ lực được
mô tả như là hai mặt của một Tương tác đơn thuần (Single interaction)
(Trích trong cuốn "The Ultimate Theory of the Universe" của Pram Nguyễn).
Chúng ta hãy tìm hiểu tại sao Nguyên tử và những hạt Vi
phân Tiềm Nguyên tử, nhất là Quark đã được một số khoa học gia xác định là
những viên gạch cuối cùng xây dựng vũ trụ chỉ xuất hiện chớp nhoáng, mờ ảo
như những bóng ma trơi khiến không thể nắm bắt được?
Trước hết, chúng ta cần phải thấm nhuần giáo lý của
Phật, trong pháp giới (vũ trụ) này không có gì gọi là Vật cả. Lục tổ Huệ
Năng nói, "Bản lai vô nhất vật". (Từ xưa đến nay không hề có Vật).
Ý kiến này cũng tương tự như trong bài kệ "Phá Ðịa
ngục" như sau:
"Nhược nhân dục liễu tri
Tam thế nhứt thiết Phật
Ưng quán pháp giới tính
Nhất thiết duy tâm tạo
Vạn pháp do Tâm sinh
Nhất Tâm sinh vạn pháp
Phật do Tâm thành
Ðạo do Tâm đắc
Phước do Tâm tích
Họa do Tâm di
Tâm năng tác Thiên đường
Tâm năng tạo Ðịa ngục
Tâm năng tác Phật
Tâm năng tác chúng sinh."
Nghĩa là:
"Nếu người nào muốn biết rõ
Tất cả Phật ba đời
Nên quán vũ trụ này
Tất cả đều do Tâm tạo nên
Một Tâm sinh vạn vật
Phật là do Tâm mà thành
Ðạo là do Tâm đạt được
Họa là do Tâm gây ra
Phước là do Tâm bồi đắp
Tâm tạo được Thiên đường
Tâm tạo được Ðịa ngục
Tâm có thể biến mình thành Phật
Tâm khiến mình chỉ là chúng sinh."
Phật quan sát sum la vạn tượng trong vũ trụ này tất cả
đều do Tâm sanh ra cả. Hai câu sau đây xác định nhãn quan nói trên của
nhà Phật đối với pháp giới:
"Vạn pháp do Tâm sanh
Nhất Tâm sanh vạn pháp."
Nói một cách khác, tất cả vạn pháp trong thế gian này
từ những côn trùng nhỏ bé cho đến sơn hà, đại địa to lớn đều do Thức biến
sanh ra cả.
Trong Kinh Kim Cang Giảng Giải của H.T. Thanh
Từ, đoạn 5, trang 38, đức Phật dạy rằng:
"Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng"
(Phàm chỗ có tướng đều là hư vọng)
Nói một cách khác, "Hữu hình hữu hoại", nghĩa là có
hình tướng là có hoại. Tất cả những hình tướng ở thế gian này đều không
thật, hư dối. Nói không có là không đúng vì chúng sờ sờ trước mắt. Nhưng
theo nhãn quan nhà Phật, tất cả chỉ là như huyễn mà thôi!
Cũng trong Kinh Kim Cang, đoạn 32, trang 211,
Phật lại dạy:
"Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng huyễn bào ảnh
Như lộ, diệc như điển
Ưng tác như thị quán"
(Tất cả các pháp hữu vi
Như mộng, huyễn, bọt bóng
Như sương, cũng như điện
Nên khởi quán như thế)
Pháp hữu vi, hay là những sự vật có hình tướng đều bị
định luật vô thường sinh sinh diệt diệt chi phối. Ngay đến cả những tư
tưởng, những cảm nghĩ của chúng ta đều thay đổi hằng ngày, hằng giờ, hằng
phút, từng giây.
Tất cả các cõi, các cảnh giới, các thân căn của chúng
ta đều như huyễn hóa, như giấc chiêm bao, như dương diệm (ảo ảnh nước
trong sa mạc), như tiếng vang, như hoa trong gương, như trăng đáy nước
....
Xét về trí tuệ Bát Nhã thì không có một Vật nào hết vì
phàm là một Vật phải có hai điều kiện là Tự tánh và Cố định. Những sự vật
ta thường thấy chung quanh chỉ là do duyên hợp, còn duyên thì còn , hết
duyên thì mất.
Lấy thí dụ một cái đồng hồ đeo tay hay treo tường đều
do một số bộ phận ráp lại mà thành như: mặt kính, vỏ bằng sắt, cây kim,
chuông reo và những bánh xe răng khế v.v.... Nếu vài bộ phận hư hoặc
thiếu, đồng hồ không chạy được.
Lấy những thí dụ khác như căn nhà, cái bàn, cái ghế,
hay bất cứ vật gì cũng vậy đều không có tự tánh và cố định. Tất cả chỉ đều
do duyên hợp mà thôi. Ðó là thuyết Tương sinh Tương duyên Trùng trùng
Duyên khởi của nhà Phật, nghĩa là làm một cái đồng hồ mà không biết bao
nhiêu người ở mọi ngành, mọi giới đều tham dự vào.
Xét cho kỹ, "pháp giới chỉ là do tự Tâm biến hiện, chỉ
là một trường biến hiện liên miên bất tuyệt, tương tợ tương tục của
Tâm chuyển thành Thức..."
Ðể giúp quí vị ý niệm được tính cách như huyễn của vạn
vật, xin quí vị đọc bài "Khuôn mẫu Toàn ký trong Khoa học Hiện đại" của
giáo sư Trần Chung Ngọc, đăng trong tập san "Phật Giáo Hải Ngoại" số 6,
xuất bản vào Mùa Vu Lan 2539. Tôi xin tóm lược như sau:
David Bohm, chuyên về ngành Vật lý Tiềm Nguyên tử
(Subatomic physics), và Kark Priban, một nhà Thần kinh Sinh lý học
(Neurophysiologist) đã dựa vào quan niệm toàn ký để giải thích một cách
hợp lý những kết quả khoa học của họ.
"Các khoa học gia chuyên ngành Vật lý hạt nhỏ
(Particle physics) đã đưa ra bằng chứng và đề nghị rằng thế giới của chúng
ta ngày nay và mọi thứ ở trong đó chẳng qua chỉ là những hình ảnh không
thực, là những dự phóng của một thực thể vượt ra ngoài không gian và thời
gian.."
Thế nào là khuôn mẫu Toàn ký? (Holographic paradigm)
"Toàn ký (Holography) là một kỹ thuật tạo hình ảnh bằng
một loại ánh sáng đặc biệt thường được biết tới tên quen thuộc là ánh sáng
LASER và hiện tượng giao thoa (Interference)."
Chắc quí vị đã từng thấy một loại giây chuyền đeo cổ có
hình tượng Phật. Nếu nhìn vào chẳng thấy gì cả, nhưng đưa qua ánh sáng
thì thấy hình tượng Phật nổi bật lên như thật vậy. Kỹ thuật này cũng áp
dụng cho những mặt đồng hồ có hình con cá sấu nổi. Chính tôi cũng đã được
phát một bằng lái xe, nhìn vào thấy những con dấu nổi lên rõ rệt, nhưng
lấy tay sờ mó hay nắm bắt thì không thể được vì nó như ảo ảnh vậy!
Trong kinh xưa, đức Phật đã dạy rằng thế giới vạn vật
này đều như Huyễn Hoá cả bởi vì, "... thế giới của sông núi, cây cỏ có
thể là không hiện hữu, ít ra là không hiện hữu như chúng ta thường tưởng
là hiện hữu. Phải chăng quan niệm về ảo tưởng (Maya) của những huyền
nhiệm gia cách đây nhiều thế kỷ là đúng, và những cảnh sum la vạn tướng
chẳng qua chỉ là vùng rộng lớn của các tần số (Vast Frequency domain) biến
đổi thành những sự vật sau khi nhập vào các giác quan của ta..."
Theo Bohm thì, "Toàn thể vũ trụ chỉ là một Toàn
ký đồ (Hologram)", hay nói một cách khác, tất cả vạn vật trong vũ trụ này
đều xuất hiện như những hình tượng Phật, hình cá sấu, và hình con dấu trên
mặt kính hay trên tấm plastic.
Giáo sư Ngọc tóm lược như sau:
"Nói một cách dễ hiểu thì mọi vật đều sinh ra từ một
căn bản chung, và căn bản chung này khi nhập vào giác quan của con người
thì sinh ra mọi sai biệt mà chúng ta thường thấy ở ngoài đời.." Theo cái
nhìn của đạo Phật thì đó là cái nhìn "Kiến trược", tức là cái nhìn lệch
lạc, sai lầm.
Giáo sư Ngọc tóm lược tư tưởng Hoa Nghiêm
như sau:
"Tư tưởng Hoa Nghiêm trình bày vạn pháp do tâm
sanh. Tâm là thực thể của vạn pháp. Tâm vọng thì vạn pháp hoạt hiện sai
biệt, hình hình sắc sắc, trùng trùng duyên khởi, cái này có cái kia và
ngược lại, như lưới đế châu, Tâm chơn thì giới tánh với tâm là một, vạn
vật đồng nhất thể..."
*
Ðức Phật gọi Nguyên tử là một "vi thể", tức là một Vật
thể rất nhỏ nhiệm, vi te. Bây giờ, tôi lấy một thí dụ: Ta hãy đập nát một
hạt bụi nhỏ như cái "vi thể" ấy. Ðập hết được không? Nếu đập hết thì còn
gì là hạt căn bản cấu tạo? Nếu còn thì đập đến bao giờ mới hết? Thí dụ
thứ hai: Con gà và quả trứng cái nào có trước? Thí dụ thứ ba: Có thể
truy cứu được cha mẹ đầu tiên của chúng ta không?
Trong Sơ đồ Nguyên tử và Dòng họ, tôi bắt đầu bằng Phân
tử (Particle) và Nguyên tử (Atom), và tận cùng bằng Chân Không Sinh Diệt
(Vacuum Polarization). Phân tử, Nguyên tử là cái Có, sao lại tận cùng
bằng Không? Ngược lại, từ Chân Không trở lên, sao lại đến chỗ Có là
Nguyên tử và Phân tử?
Ðến nay, đọc kinh Phật tôi mới biết rằng cái Có là do ở
cái Không mà ra. Cũng như Bát Nhã Tâm Kinh đã nói, "Sắc tức thị Không,
Không tức thị Sắc".
Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Quán Chúng Sinh, trang 67,
kể lại cuộc đối thoại hi hữu giữa Bồ Tát Văn Thù Lợi và Ngài Duy Ma Cật mà
tôi chỉ ghi lại vài dòng liên hệ:
"- Văn Thù Sư Lợi: Pháp thiện và pháp bất thiện lấy gì
làm gốc?
- Duy Ma Cật: Thân là gốc.
- Thân lấy gì làm gốc?
- Tham dục làm gốc.
- Tham dục lấy gì làm gốc?
- Hư vọng, phân biệt làm gốc.
- Hư vọng, phân biệt lấy gì làm gốc?
- Tư tưởng điên đảo làm gốc.
- Tư tưởng điên đảo lấy gì làm gốc?
- Không trụ làm gốc.
- Không trụ lấy gì làm gốc?
- Không trụ thì không gốc.
Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi, ở nơi gốc không trụ mà lập
nên tất các pháp".
Ðể làm sáng tỏ tinh thần của cuộc đối thoại, nhất là ý
nghĩa của hai chữ không trụ, xin mời quí vị xem lời giải
thích của Phẩm nói trên:
Không trụ là dịch nghĩa của danh từ vô trụ.
Các pháp toàn không có tự tánh nên không có trụ trước, chỉ tuỳ theo duyên
mà sanh khởi, nên gọi là vô trụ. Do vô trụ không có chỗ
trước nên chẳng phải Có chẳng phải Không, nên mới làm được cái gốc cho
hiện tướng Có, Không của vạn hữu. Theo ngài Duệ Công thì Vô trụ tức là
thật tướng, thật tướng tức là tánh không, chỉ khác tên mà thôi".
Xem như vậy thì Chân không với Vật thể
(Nguyên tử) cũng là một, chỉ khác nhau ở tên gọi thôi.
Kinh Phật cũng dạy rằng "... Mọi vật đều đến từ nơi
Chân không".
Kinh Hoa Nghiêm cũng dạy:
"Mọi vật đến từ đó
Ðột hiện rồi lại tan
Tương tự như bào ảnh
Chẳng khác gì một giấc mơ..."
Kinh Lăng Nghiêm, trang 221, Phật dạy, "A Nan!
Như hột bụi trần gần như Hư không vì chia mà thành ra Hư không, thì phải
biết Hư không cũng có thể sinh ra hạt bụi gần Hư không, mà thành lại Sắc
tướng..."
Trang 223, Phật dạy tiếp, "Vì chúng sanh trong phàm
giới, tâm có nhơ có sạch, lượng có lớn có nhỏ, nghiệp có thiện có ác, nên
diệu dụng của Sắc Không tùy theo tâm của chúng sanh, ứng theo lượng của
chúng sanh, tuân theo nghiệp của chúng sanh mà phát khởi ra các pháp..."
Dựa theo Nguyên lý Bổ sung (Complimentary principle),
của Niel Bohr, trong Lăng kinh Ðại Thừ, trang 183, cụ Nghiêm Xuân Hồng
viết, "Sở dĩ Cực vi (Hạt ảo) vừa là Hạt vừa là Sóng bởi
vì cái điểm kết tụ cô đọng thành Sắc tướng của nó thường được gọi là Hạt,
còn cái trường lực quang minh mờ ảo của nó thì gọi là Sóng."
Nói một cách khác, vạn hữu trong vũ trụ chẳng khác gì
những hình nổi của tượng Phật, hình cá sấu trên mặt đồng hồ, hoặc hình
những con dấu nổi trên tấm bằng lái xe mà thôi.
Ðể kết luận bài này, tôi xin nhắc lại một điều quan
trọng: Những gì khoa học ngày nay khám phá ra về Nguyên tử và những hạt
Vi phân Tiềm Nguyên Tử thì các đạo lý Ðông Phương nhất là đạo Phật đã nói
rõ rằng cách đây mấy ngàn năm rồi. Ðó là những hình bóng mờ ảo, chập chờn,
ảnh hiện, hư hư thực thực, khiến chúng ta không thể nắm bắt được chúng,
kiểm soát được chúng, và khẳng định chúng là những viên gạch cuối cùng xâ
dựng vũ trụ.
Nếu quí vị đồng ý với tôi thì quí vị có tin rằng đạo
Phật là một đạo Siêu khoa học không?
THỜI GIAN TIÊN CẢNH -
THỜI GIAN HẠ GIỚI
(TIME PARADOX)
Chắc
quí vị đã đọc những truyện nói về phàm phu nhập Tiên cảnh như Lưu Nguyễn
nhập Thiên Thai nên tôi chỉ xin kể vắn tắt vài truyện:
1. Cái rìu của người tiều phu
Một
người tiều phu vào rừng đốn củi. Nghỉ mệt ông để lại chiếc rìu dưới gốc
cây, đi tản bộ và dần dần đi sâu vào trong rừng. Ông bỗng thấy hai cụ gìa
đang ngồi đánh cờ dưới gốc cây, bên cạnh một túp lều nhỏ. Ông tiều phu
thích đánh cờ và đánh rất giỏi. Ông đứng bên cạnh xem hai ông gìa đánh cờ,
hai cụ mời ông ngồi xuống đánh. Tất nhiên ông nhận lời, ngồi xuống và bắt
đầu ra quân. Ðánh được một chập, chưa phân thắng bại, ông bỗng nhớ đến
gánh củi nên cần phải về sớm để bán kẻo trễ.
Khi ra đến bìa rừng, tìm lại gốc cây thì
thấy cái cán rìu đã mục nát. Về đến nhà, thấy cảnh vật đều đã thay đổi.
Sau một thời gian tìm kiếm tông tích gia đình, ông mới biết rằng ông bà
cha mẹ, và vợ con của ông đã chết cách đây cả trăm năm!
2. Tình Tiên duyên tục
Một
tiên nữ đang cùng một bầy tiên múa hát để hầu Vua Trời Ðế Thích.
Không rõ vì sao, cô bỗng lén bỏ bầy tiên, và
tìm đường bay xuống Hạ giới. Ở đây, cô gặp một chàng, và chẳng biết vì
duyên nợ ba sinh, cô bỗng thấy thương, và lấy chàng làm chồng. Hai nguời
sống trong hạnh phúc vào khoảng mười mấy năm, sinh được hai con.
Một hôm, Tiên nữ bỗng buồn rầu nhớ đến
Tiên cảnh, và lén chồng con bay về Trời.
Ðến nơi, Vua Trời Ðế Thích hỏi, "Sao nàng
đi đâu cả buổi khiến ta tìm kiếm quá trời?" Nàng bèn thú thật sự
tình.
3. Hai vị tu sĩ
"Sử
sách có ghi truyện hai ngài Vô Trước và Thế Thân cùng tu và cùng phát
nguyện vãng sanh lên cõi Trời Ðâu Suất để học đức Di Lặc về Duy Thức và
Bát Nhã. Và hẹn cùng nhau nếu ai chết và vãng sanh trước, thì phải về báo
mộng cho nguời kia biết.
Ngài Vô Trước chết trước về báo mộng, nói
rằng, "Ta được lên cung trời Ðâu Suất rồi. Vừa lên tới nơi, ta chỉ vào
nội điện đảnh lễ đức Di Lặc, rồi vội vàng xuống đây báo mộng cho em hay.
Ấy thế mà dưới này đã trải qua ba năm rồi..."*
Thời gian trên cõi Phật
Kinh
Pháp Hoa đã nói rất nhiều về thời gian trôi nhanh kinh khủng trên
các cõi Phật. Ví dụ Diệu Quang Bồ Tát nói kinh Ðại Thừa trong 60 tiểu
kiếp** thân tâm vẫn không lay động.
Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thọ Lượng,
nói rằng một kiếp ở cõi Ta Bà của Ðức Thích Ca bằng một ngày đêm ỏ cõi Cực
Lạc.
Không gian trên các cõi Phật
Cõi Ta Bà do đức Thích Ca làm giáo chủ có
một tỉ Thái dương hệ. Cõi Cực Lạc của đức Phật A Di Ðà cách đây mười vạn
ức đất Phật. Nếu đi bằng tốc độ ánh sáng, phải di mất 150 năm ánh sáng.
Kinh Duy Ma Cật nói ở cảnh giới phương trên cõi Ta Bà qua khỏi 42
số cát sông Hằng cõi Phật, có nước tên là Chúng Hương, đức Phật hiệu là
Hương Tích. Kinh Dược Sư nói rằng về phương Ðông cách đây xa nhiều vô số
Phật độ, nhiều bằng mười số cát sông Hằng; ở đây có một thế giới gọi là
cõi Tịnh Lưu Ly, đức Phật cõi ấy hiệu là Dược su Lưu Ly Quang Như Lai.
*
Ðọc
xong những chuyện nói trên, có người sẽ hỏi tại sao thời gian trên trời
lại trôi nhanh hơn thời gian ở dưới đất?
Ðể trả lời câu hỏi trên, tôi xin phép
trình bày một số vấn đề của khoa học hiện đại nói về thời gian: (1) Thời
gian và nguồn gốc của thời gian, (2) Thời gian co dãn (Time dilation), (3)
Ði ngược chiều thời gian (Time reversal), và (4) Thời gian trái ngược
(Time paradox):
1/- Thời gian và nguồn gốc của thời
gian. (2) Trước hết, hãy tìm hiểu thời gian là gì? Thời gian là một
chuỗi dài những khoảng cách đã đo hay có thể đo được và không có chiều
không gian. Thời gian là vấn đề suy tư của các triết gia và là đề tài của
những nhà Toán học và Khoa học. Thời gian thật khó định nghĩa và môt tả
rõ ràng. Có người hỏi thời gian và vũ trụ có liên hệ gì với nhau? Thời
gian có quan hệ gì với tri thức của con người? Xin trả lời câu đầu: Thời
gian giống như một bình chứa trong đó có vũ trụ cùng những sự đổi thay.
Thời gian độc lập với vũ trụ, và cứ tiếp tục trôi đi, không có bắt đầu mà
cũng không có chấm dứt. Có người lại hỏi thời gian có sự ắt đầu không?
Nhà bác học Stephen Hawking và một số khoa học gia đã luận cứ rằng thời
gian bắt đầu ngay sau những phân số của giây đồng hồ đầu tiên của cuộc
Bùng Nổ Lớn (The Big Bang).
Khi nghiên cứu về những đặc tính của thời
gian, các nhà sưu tầm cho rằng khoa Vật lý có thể biết được đặc tính và
cấu trúc của thời gian. Họ cho rằng thời gian gồm có những Phân tử bí ẩn
như Chronons, hoặc có thể là một chuỗi dài những hạt Nguyên tử nối tiếp
nhau theo đường thẳng hay vòng tròn.
Trước kia, người ta nghĩ rằng thời gian
không thể biệt lập với không gian. Vì vậy, các triết gia đã chú ý đến vấn
đề không-thời mà Einstein ch rằng là một sự nối tiếp không ngưng.
Thời gian có quan hệ gì với trí thức con
người? Thời gian phụ thuộc vào trí thức của con người bởi vì không có trí
thức của con nguời, thời gian sẽ không có quá khứ, hiện tại và tương lai.
Ngoài ra, trong những Tiến trình Vật lý,
người ta đã tìm được những bằng chứng về sự Ðối xứng của thời gian. Ví dụ
về phương diện Toán học, thuyết Tương Ðối Chung của Eisntein, là một sự
Ðối xứng của thời gian. Theo thuyết này, những tiến trình liên hệ diễn
tiến trong hai chiều hướng trái ngược cũng giống như một phim ảnh có thể
chạy xuôi hay chạy ngược. Ðiều này có nghĩa là trong khi những Hố đen bành
trướng và thâu hút Vật thể và Năng lượng, cũng có những Tinh tú cũng bùng
nổ cùng lúc và phóng ra Vật thể và năng lượng trong vũ trụ. Các Vật lý
gia gọi những Tinh Tú loại giả thuyết này là những Hố trắng.
a. Thời gian là Tinh Lực (Năng Lượng)
Nikolai Kozyrev, một khoa học gia Nga Sô cho rằng, "Thời gian là một thứ
tinh lực kỳ ảo và siêu xuất, nó khiến cho vũ trụ này có thể vận hành và
hiện hữu.
Thời gian là một tính chất quan hệ nhất và
kỳ bí nhất của thiên nhiên, nó không chuyển động chậm chạp như ánh sáng
đâu. Nó xuất hiện tức khắc, và chu biến khắp nơi chốn. Thời gian dính
mắc nối liền tất cả chúng ta, cũng như nối liền tất cả sự vật trong vũ
trụ....Nó là hình thái kỳ ảo của tinh lực, và chúng ta phải nhìn vào đó để
tìm cái cội nguồn của mọi sự sống trong vũ trụ"