Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo và Thời Đại


...... ... .

 

Đạo Phật Siêu Khoa Học

Minh Giác Nguyễn Học Tài
Chùa Liên Hoa, California, USA ấn hành 1997

---o0o---
 

CHƯƠNG V

PHẦN 1: QUANG MINH

Khắp nơi, khắp xứ, chỗ nào cũng có đầy quang minh

Lời kinh xưa.

Vậy chúng ta hãy tìm hiểu xem lời kinh xưa nói có đúng hay không?

Trước hết là từ ngữ. Theo thiển ý, hai chữ quang minhBức xạ quang minh (Radiation), Bức xạ quang tuyến, hay Bức xạ ánh sáng.

Theo định nghĩa, Bức xạ (Radiation) là (1) Việc phát và truyền sóng hay Phân tử, và (2) Việc truyền sóng hay Phân tử như ánh sáng, âm thanh, nhiệt hoặc những Phân tử do Phóng xạ tuyến (Radioactivity) phát ra.

Phóng xạ tuyến được định nghĩa là việc phát quang tuyến trực tiếp từ Lõi Nguyên tử, hay là do hậu quả của một phản ứng Nguyên tử (Nuclear reation). Nói rộng ra, Phóng xạ tuyến là việc phát ra những phân tử Alpha, Dương điện tử (Proton), Âm điện tử (Electron, và Tia Gamma (Gamma ray).

Kinh Phật chỉ dạy có hai chữ quang minh trong vũ trụ. Nhưng qua những sự nghiên cứu của khoa học, quang minh được chia thành nhiều loại và được xếp thành hai hạng như dưới đây:

Quang minh thiên nhiên, hay quang minh tuyên nguyên

 Trong vũ trụ có Tia vũ trụ (Cosmic ray), Tia Gamma, Tia Laser (Natural Laser), Tia cực tím (Ultraviolet:UV), Hồng ngoại tuyến (Infrared). Ngoài ra, vũ trụ còn có Ðiện từ (Electromagnetism), khí Hélium, và Gió Mặt trời (Solar wind) ...

Quang minh nhân tạo

Tia Laser, Radar, Quang tuyến X, Vi sóng (Microwave), Siêu âm (Ultra sound), và Phóng xạ tuyến.

Những khám phá mới của khoa Thiên văn Vật lý cho biết rằng có một số Tinh tú đã tạo nên những Phóng xạ Ðiện từ dưới dạng những Sóng vô tuyến, Sóng nhẹ, và Quang tuyến X. Trong những vùng Liên tinh tú và trong những khoảng cách giữa những Thiên hà đầy rẫy những Bức xạ Ðiện từ với những tần số khác nhau.

Ngoài ra, Phóng xạ Vũ trụ (Cosmic radiation) còn có những Quang tử (Photon) và một số lượng khổng lồ những Hạt tử đủ loại mà nguồn gốc của chúng chưa được biết. Phần lớn những Hạt tử này là Dương điện tử, trong đó có một số có Năng lượng cao tột bực, còn cao hơn Năng lượng ở trong những Máy Gia tốc Hạt lớn (Particle Accelerator) mạnh nhất.

Bây giờ, tôi xin nói đến những quang minh thiên nhiên, trước hết là Tia Vũ trụ.

Tia Vũ trụ (Cosmic ray) (44)

Tia Vũ trụ là những Phân tử có Năng lượng rất cao từ ngoại tầng không gian tới. Khi vào khí quyển của Trái đất và đụng phải Nhân của hạt Nguyên tử, Năng lượng của Tia Vũ trụ tạo nên những Ðám mưa rào Vi phân Tiềm Nguyên tử (Shower of subatomic particle).

Các khoa học gia thấy các Nguyên tử Nitrogen cháy sáng khi được các Tia Vũ trụ khích động. Các khoa học gia cho rằng Tia Vũ trụ có năng lượng rất cao từ những Sao Ðôi (Binary stars) phóng đi. Một trong hai vì sao này là Sao Neutron. Sao neutron là tàn tích của một ngôi sao đã cháy hết Nhiên liệu nguyên tử (Nuclear fuel), nổ tung ra, và tan rã (ví dụ sao Neutron PSR 224-65 Plus).

Hầu hết việc bức xạ của TIa Vũ trụ gồm có những Phân tử có Dương điện và chạy theo đường cong khi gặp phải Trọng trường trong không gian.

Tia Vũ trụ chỉ là những Dương điện tử nằm trong Lõi của Nguyên tử khinh khí, đến Trái đất từ mọi hướng nên không biết hướng nào nhất định, và cũng không biết hiện diện dưới những dạng thức gì?

Tia Vũ trụ được quán sát từ Sao Ðôi Cygnus X-3 ở trong Chòm Sao Cygnus, và Sao Ðôi Hercule X-1 ở trong Chòm Sao Hercule.

Tia Gamma (Gamma ray) (45)

Tia Gamma cũng giống như Tia Vũ trụ từ Sao Neutron bắn tới, nhưng chỉ bằng 1% của Tia Vũ trụ. Vì tích điện nên Tia Gamma phóng theo đường thẳng.

Khi bức xạ, Tia Gamma là những sóng có Năng lượng cao. Khi vào khí quyển và chạm phải những Nguyên tử khinh khí, Tia Gamm tạo nên những Âm điện tử (Electron) có năng lượng cao và Positron tích điện. Khi xuống đất, những Phân tử này chạm phải những Nguyên tử khinh khí khác, và tạo thêm nhiều Tia Gamma khác. Rồi Tia này lại chạm phải những Nguyên tử khác nữa để tạo nên nhiều Âm điện tử (Electron) và Positron.

Việc tái tạo cứ tiếp diễn cho đến khi Ðám mưa rào Tia Gamma (Shower of Gamma ray) xuống đến mặt đất lúc đó có hàng ngàn Âm điện tử và Positron.

Các Thiên văn gia ước đoán Tia Gamma bùng cháy ở những khoảng cách xa Trái đất hàng trăm ngàn đến hàng tỉ quang niên. Tia Gamma bùng cháy là do những tia chớp của những Bức xạ điện từ có Năng lượng cao, kéo dài từ vài giây đến vài giờ.

Tia Gamma là những sóng ngắn thấy được và giống như ánh sáng.

Về xuất xứ, các Thiên văn gia cho rằng nó từ Giải Ngân Hà tới hoặc có thể do những tia sáng từ Sao Neutron gần Giải Ngân Hà tạo nên sự Bùng cháy (Burst).

Những sự Bùng cháy mờ của Tia Gamma có thể là bằng chứng của Thời gian co dãn (Time dilitation). Phân tích việc bùng cháy cho biết khi sự bùng cháy càng ngắn ngủi và mờ tối, thời gian bùng cháy càng kéo dài, một hiện tượng chứng tỏ tác dụng của thời gian như Einstein đã tiên đoán trong Thuyết Tương đối của ông. Theo đó, thời hạn của sự bùng nổ ở các vùng khác nhau sẽ dãn ra khi tia bức xạ được phóng đi trong không gian trong khi không gian đang bành trướng.

Tiến sĩ Norris thuộc đại học George Madison ở Fairfax, Virginia; nói rằng sự bùng cháy này không hẳn từ Giải Ngân Hà tới mà có thể do những biến động đã xảy ra cách Trái đất từ năm đến mười quang niên.

Các lý thuyết gia cho rằng sự bùng cháy của Tia Gamma là do việc Ðụng độ (Collision) giữa Hố đen (Black hole) và Sao Neutron.

Tia Laser thiên nhiên (Natural Laser)

Các khoa học gia loan báo đã tìm thấy Tia laser thiên nhiên phát ra từ một ngôi sao trẻ và nóng có lớp khí nóng bao bọc chung quanh, ở trong Chòm Sao Cygnus cách xa Trái đất 4,000 quang niên.

Vật lý gia Vldimir Strelnitski thuộc Viện Bảo tàng Không khí và Không gian ở Hoa Thịnh Ðốn, đã dùng Thiên văn đài Kuiper ở Mountain View, và khám phá ra Tia Laser thiên nhiên đó.

Charles Townes thuộc đại học California nói “Nếu biết trước, chúng ta đã khám phá ra nó từ năm 1930”. Charles là khoa học gia đã lãnh giải thưởng Nobel năm 1951 nhờ việc khám phá ra Maser đóng vai trò tiền phong của Tia Laser.

MASER: Microwve Amplification by Stimulated Emission of Radiation: Khuếc đại vi sóng bằng cách khích động việc truyền bức xạ.

Ðiện từ trường (Electromagnetic field) (46)

Ðiện trường (Electric field) được tạo nên khi Ðiện lượng (Electic charge) được máy phát điện “bơm” vào những dây điện.

Khác với Quang tuyến X (X ray) hay Vi sóng (Microwave), Ðiện từ trường không làm hư hại hay nung đốt tế bào. Tuy nhiên, Ðiện từ trường có tần số thấp có thể gây nên những đáp ứng Hóa sinh (Bio-chemical) quá mạnh đối với những tế bào hoạt động qua những Tiến trình Ðiện hóa Phức tạp (Complex electro-chemical processes).

Theo báo cáo của Quốc hội, cần nghiên cứu những tác hại của Ðiện từ trường những đường dây điện gây nên, nhất là những tác hại đối với thần kinh hệ và việc gây bệnh ung thư. Cũng theo báo cáo này, dân chúng không những lưu ý đến những đường dây cao thế mà còn phải chú ý đến những từ trường do dây điện và đồ điện trong nhà gây nên.

Bộ óc và trung tâm thần kinh hệ là mục tiêu của những Tương tác với Ðiện từ trường bởi vì cơ quan thường dùng Ðiện từ trường có tần số thấp để hoạt động và truyền thông. Các nhà sư tầm kết luận rằng:

- Chưa biết rõ những Từ trường có tần số cực thấp có tác hại gì đến Dây Nhiễm Sắc (Chromosome) không? Mỗi tế bào của dây này đều có những Di tử (Gene) riêng nên không chắc gây ra bệnh ung thư.

- Một vài thí nghiệm cho thấy Màng tế bào là nơi Tương tác giữa những từ trường có tần số thấp với tế bào đó.

Tuy nhiên, Ðiện từ trường thường có trong thiên nhiên và trong cơ thể của sinh vật. Ðiện từ trường liên kết những Nguyên tử với nhau, tạo nên sét, và giúp địa bàn hàng hải sử dụng được. Máy truyền hình, Vô tuyến, và Máy Vi sóng (Microwave) cần có Ðiện từ trường mới chạy được.

Trọng trường (Gravity, hay G) (47)

Các Vật lý gia chưa nắm chắc được con số tượng trưng lực của Trọng trường.

Cách đây 300 năm. Newton đã khám phá ra Luật Trọng trường (The law of Gravity), và các Vật lý gia đã dùng mẫu tự G như là một Hằng số để tượng trưng Trọng trường lực. Nhưng họ khó lòng xác định giá trị thật sự của Trọng trường. Hiện nay, Hằng số này chỉ chính xác vào khoảng 1/1000 trong khi Hằng số của các Vật lý gia khác 1,000 lần chính xác hơn. Vì vầy, những thí nghiệm gần đây đã phủ nhận giá trị chính thức của Trọng trường.

Luật Trọng trường trong vũ trụ của Newton là một công thức giản dị và dễ tính Trọng trường lực giữa hai vật.

Lực (F) bằng Hằng số Trọng trường (G) nhân với thành số của Trọng khối của hai vật chia cho khoảng cách của hai vật bình phương (r2):                  

                              F = G x m1 x m2

                                          r2   

Chỉ số của tia cực tím (Understanding the Ultraviolet Index) (48)

Tắmm nắng Mặt trời đôi khi cũng thú vị, nhưng phơi mình nhiều quá sẽ bị ung thư da và cườm mắt (Cataract).

Cơ quan Môi sinh và Thời Tiết Quốc gia đã phát minh ra những chỉ số của tia Cực tím (UV) để đoán trước mức độ của tia này trong ngày tới. Chỉ số này bắt đầu từ 0 đến 10+ là nguy hiểm ít và 10+ là nguy hiểm nhiều.

Mây lọc những tia Cực tím và làm giảm bớt nguy hiểm. Trái lại, nước, cát, và tuyết đều phản chiếu tia Cực tím nên tăng thêm nguy hiểm.

0-2 Tối thiểu: Tốt nhất là khi đi nắng nên đội mũ.

3-4 Thấp: Ðeo kính ngăn tia Cực tím và dùng kem SPF 15.

5-6 Trung bình: Khi ra ngoài nên tìm nơi bóng mát càng lâu càng tốt.

7-9 Cao: Tránh phơi nắng từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều.

10 Rất cao: Ở trong nhà càng lâu càng tốt.

Những điều cần biết về sấm, sét.

1. Sét là do Ðiện từ trường gây nên.

2. Tia sét dài chừng 3 dậm.

3. Sét có nhiều màu: Ðỏ, vàng, xanh, và xanh lá cây.

4. Sét có nhiều hình: Quả ban, cái niễng, và chuỗi ngọc.

5. Một tia sét có đủ Năng lượng để thắp sáng một căn nhà trong hai tuần

6. Một tia sét nóng đến khoảng 50,000 độ Farenheit, nghĩa là nóng gấp 5 lần Mặt trời.

7. Tia sét rất nhỏ hẹp, thường không lớn quá nón tay, nhưng rất nguy hiểm.

8. Tia sét được truyền đi 270,000 dặm trong một giây đồng hồ. Nếu bay nhanh được như thế, quí vị có thể bay quanh Trái đất 11 lần trong một giây đồng hồ.

9, Cứ mỗi phút có khoảng 2,000 lần mưa, bão, sấm, chớp; và mỗi lần tạo nên 100 tia sét.

Quang minh nhân tạo: Tia Laser

Tia Laser được phát minh năm 1960, có nhiều tác dụng đối với đời sống của chúng ta.

Laser là chữ viết tắt của:

Light (Ánh sáng)

Amplification (Khuyếch đại)

Simulated (Khích động)

Emission (Truyền)

Radiation (Bức xạ)

Tạm dịch là Khuyếch đại ánh sáng bằng cách khích động việc truyền bức xạ.

Có những loại Laser khác như: Ống đầy hơi khí, ống đầy chất nhuộm, hay bán dẫn điện được dùng thay cây hồng ngọc.

Cây hồng ngọc làm việc ra sao? (49)

Ống đèn nháy (Flash tube) được cuộn chung quanh một cây hồng ngọc. Một đầu được gắn một tấm gương, và đầu kia được gắn một phần gương.

1. Ánh sáng trong bóng đèn nháy nâng cao Năng lượng của những Nguyên tử ở trong cây hồng ngọc khiến các Hạt này phát ra Quang tử (Proton).

2. Một số Quang tử thoát ra từ hai bên bóng đèn nháy. Một số khác từ bề mặt hai tấm gương dội lại. Những Quang tử bị dội lại va chạm với những hạt Nguyên tử khiến tạo thêm nhiều Quang tử, rồi tất cả đều truyền theo cùng một hướng.

3. Quang tử thâu góp đủ Năng lượng dần dần xuyên qua đầu gắn một phần tấm gương của cây hồng ngọc để trở thành tia Laser.

Công dụng của tia Laser (50)

Truyền thông

- Truyền đi những cuộc điện đàm và những tín hiệu truyền hình.

- Chạy dĩa cứng và dĩa video.

- Chạy nhanh bản in điện toán và bản sao.

Kỹ nghệ

- Cắt những cơ phận của máy móc mỏng đến 1/10,000 của một inch (2cm 54).

- Hướng dẫn những thiết bị nặng.

- Quan sát và cắt vải.

- Hàn những bộ phận nhỏ tí trong những dụng cụ điện và những cơ phận lớn trong việc chế tạo những thiết bị nặng.

- Ðo các chiều dài để vẽ bản đồ.

Khoa học

- Dùng Uranium chế Nhiên liệu Nguyên tử (Nuclear fuel).

- Tạo nên khí nóng để nghiên cứu Nhiệt hợp hạt nhân (Nuclear fusion).

- Theo dõi khoảng cách trong không gian như khoảng cách từ Trái đất đến Mặt trăng.

Quân sự

- Xác định tầm bắn và tốc độ viên đạn để bắn trúng mục tiêu.

- Hướng dẫn bom và hỏa tiễn.

- Kiểm soát Ðịa bàn hàng hải (Gyroscope).

Các lãnh vực khác

- Ðọc mã số để tính tiền tại các siêu thị.

- Lau sạch những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo.

- Ghi nhận những sự Ðổi dời (Shifts) trong vỏ Ðịa cầu.

- Phát hiện những dấu tay được ngụy trang.

- Tạo nên những hình ảnh ba chiều (Hologram).

Y học

Mắt

Tia laser chữa được những bệnh như:

- Áp huyết cao vì quá nhiều nước nhờn trong mắt. Tia laser soi những lỗ nhỏ trong Ðồng Tử (Iris) cho nước nhờn chảy ra.

- Hàn gắn Võng mô bị rách (Torn retina).

- Cắt và hàn những tia máu mọc quá nhiều trên mắt.

- Tia Laser Excimer nắn hình Giác mô (Cornea) để chữa bịnh cận thị mà không cần đeo kính.

- Tia Laser Excimer lột những Phân tử (Molecule) ra khỏi tế bào.

Bướu

- Tia Laser rọi qua nhọt bọc làm bịnh nhân bớt đau, hoặc đốt nhọc bọc để khai thông các đường hô hấp và tiêu hóa; và chữa bịnh nhọt bọc trong Thanh quản (Laryngeal papilloma) làm ngộp thở.

Ðiếc

Xương cuốn (Stape) ở gần cái Ðe (Incus hay anvil) bị liệt. Tia Laser đục lỗ để cấy Xương cuốn nhân tạo.

Cổ họng

- Tia laser loại trừ Hạch cổ họng (Tonsil) và Mô mềm trong họng làm người ta ngáy.

Nhiếp hộ tuyến

- Khi hạch này sưng lên làm Niệu đạo (Urethra) thu hẹp khiến đái rát. Tia Laser đốt cháy Mô và khai thông Niệu đạo.

Sạn Bàng quang

Tia Laser gây nên một tia sáng nóng đến 100,000 độ Celsius (*) tạo nên Sóng chấn động (Shockwave) làm bể tan những hạt sạn.

(*) Viết tắt là C. Nhiệt độ của nước dưới áp suất trung bình, từ 0 độ lạnh (O độ C) đến 100 độ nóng (100 độ C), do Thiên văn gia Thụy Ðiển Anders Celcius (1701-1744) phát minh.

Nghẽn động mạch tim

 Tia Laser Excimer làm bớt chất béo Cholesterol trong động mạch và khai thông động mạch bằng bong bóng.

Lột những vết nám

Tia Laser lột những vết nám trên da ngay từ lúc lọt lòng.

Lột những hình khác chàm (Tatoo)

Tia Laser với Năng lượng cao có thể làm mất những màu sắc chàm ở dưới da, nhưng thường để lại một vết xám.

Cấy tóc

Các chuyên viên về da lấy lông ở những vùng rậm trên cơ thể và cấy vào đỉnh đầu hói.

Radar (51)

Radar là chữ viết tắt của: Radio Detecting And Ranging.

Radar là một phương pháp để phát hiện những Vật thể (Object) ở xa, và xác định vị trí, tốc độ, và những đặc tính khác bằng cách phân tích những sóng vô tuyến có tần số cao từ bề mặt những Vật thể đó dội lại. Radar cũng có nghĩa là những dụng cụ được dùng cho mục đích nói trên.

Radar và môi sinh

Phi thuyền con thoi Endeavour đem một hệ thống Radar tối tân chưa từng có lên không gian, một do NASA và một do Ðức và Ý để giúp các khoa học gia tìm hiểu những thay đổi môi sinh trên thế giới, và có thể phát giác mấu chốt của những nền văn minh đã mất.

Sáu phi hành gia trên Phi thuyền sẽ chụp hình những khu vực đã được Radar rà kỹ. Khoảng 2,000 người ở dưới đất sẽ thám sát những địa điểm đã chọn để các sưu tầm gia xác định sự chính xác của Radar.

Radar hoạt động ra sao?

1. Dụng cụ Radar phát Sóng điện từ về Trái đất.

2. Sóng này dội trở lại những dụng cụ trên Phi thuyền.

3. Dụng cụ đo đạc Ðộ dài và thời gian sóng trở lại.

4. Những hình ảnh Radar thâu được mô tả những điều kiện ở mặt đất. Những vùng đất khác nhau có hình ảnh sáng rõ hơn là những vùng đơn thuần bởi vì một vùng có nhiều Bình diện (Surface) khác nhau (như đồi, cây, và đá) phản chiếu nhiều Năng lượng hơn là những vùng không gồ ghề như sa mạc.

Những vấn đề cần nghiên cứu

- Ảnh hưởng của lửa, lụt, và việc đốn rừng.

- Ảnh hưởng việc mất rừng đối với thú vật.

- Ðộ dài của những đỉnh núi tuyết và khu vực đầm lầy.

- Các loại đá trong những vùng núi lửa đang hoạt động.

- Vị trí của những hệ thống sông ngòi cũ ở trong sa mạc.

Quang tuyến X (X ray) (52)

Quang tuyến X là một loại Năng lượng điện từ có sóng ngắn hơn ánh sáng.

Quang tuyến X được Wilhelm Roentgen khám phá ra năm 1895, và được ứng dụng trong nhiều lãnh vực bởi vì Quang tuyến X xuyên qua những vật cứng.

Sau đây là những ứng dụng của Quang tuyến X:

Quan sát hành lý tại phi trường

- Dây truyền đưa hành lý chạy qua một Ống Quang tuyến X khi Ống này phóng xuống một chùm tia mỏng.

- Quang tuyến X từ một hàng Máy dò (Sensor) xuyên qua hành lý.

- Máy điện toán thâu thập tín hiệu của những Máy dò tạo nên hình ảnh của hành lý. Nhân viên an ninh quan sát hình ảnh hiện trên mặt máy truyền hình.

Những công dụng khác của Quang tuyến X:

Thanh tra kỹ nghệ: Quang tuyến X có thể nhìn xuyên qua những sản phẩm mà không cần phá vỡ.

Thiên văn:  Những máy phát hiện bằng Quang tuyến X quan sát những vùng quá xa của Giải Ngân Hà.

Quang tuyến X được dùng trong Y học

Ðiện cực Tungsten được gắn ở hai đầu của một bóng Chân không (Vaccum tube) được nút kín và bọc bằng một lớp chì. Dòng điện làm Âm cực nóng, cháy sáng và nhả ra Âm điện tử (Electron). Khi va chạm nhau, Quang tuyến X và nhiệt thoát ra. Một tia Quang tuyến X thoát ra từ lỗ nhỏ của lớp chì, và chiếu vào nơi đã định.

Vị trí của Quang tuyến X trên Ðiện từ Quang phổ (Electromagnetic spectrum).

Máy truyền hình và Vô tuyến có Ðộ dài sóng 1,000 bộ (feet) thuộc loại sóng dài không thể xuyên qua Vật thể.

Ðộ dài của sóng

Những loại Bức xạ (Radiation) sau đây truyền đi giống nhau bằng tốc độ ánh sáng:

Tia Gamma: 1 phần triệu triệu của một inch

Ánh sáng: 1 phần triệu của một inch

Tia Gamma, Quang tuyến X, và ánh sáng có sóng ngắn nên xuyên qua được Vật thể. Máy Radar và Vi sóng  (Microwave) có sóng dài 1 bộ (foot); và máy Truyền hình, Vô tuyến, và những tần số có sóng cực thấp đều có sóng dài 1,000 feet không xuyên qua Vật thể được.

Sơ đồ phóng xạ

Rad: Rad là số đo phóng xạ tương đương với 12 lần rọi Quang tuyến X.

Phóng xạ: Nguy hiểm và định nghĩa (53)

Một vài Nguyên tố (Element) như Uranium không bền vững, khi hư hoại, những Nguyên tử của nó mất hết Phân tử (Particle). Một số gây nên tia Gamma. Và cả hai trường hợp đều gây nên phóng xạ nguy hiểm.

Hư hoại: Mất phóng xạ

Thường sau khi bị hư hoại vài lần, những vật nhiễm phóng xạ trở thành những Nguyên tố an toàn, ví dụ Uranium trở thành chì. Vài Nguyên tố khác thay đổi rất nhanh, trở thành vô nhiễm xạ trong vài phút. Những Nguyên tố khác phải mất nhiều năm hay nhiều thế kỷ mới trở nên an toàn.

Bán thời: Do mức hư hoại

Bán thời là thời gian cần thiết để một nửa Vật chất hư hoại trở thành một chất khác.

Vật chất tại Chelybink

Một số lượng lớn Strontium-90, Cesium-137, và Plutonium được những vật bị nhiễm xạ ở Chelybink nhả ra.

Strontium-90

Bán thời: 29 năm.

Phát ra Phân tử Beta (beta particle), có thể dùng lớp sắt mỏng hay xấp giấy dầy ngăn chận. Nếu chạm da, có thể gây nên ung thư. Nếu vào trong cơ thể, Phóng xạ Strontium hoạt động như chất vôi và tập trung trong xương, rồi gây nên bệnh Bạch huyết (Leukiamia) hay ung thư xương.

Cesium-137

Bán thời: 30 năm

Phát ra Phân tử beta và tia Gamma tương tự như Quang tuyến X. Có thể dùng lớp chì đầy hay xi măng để ngăn chận. Gây nên nhiều loại ung thư. Vào cơ thể, Phóng xạ này đọng lại thành mỡ.

Plutonium

Bán thời: 24,000 năm

Phát ra Phân tử Alpha (Alpha particle), dùng một ờ giấy có thể ngăn chặn được. Vào trong người, Phân tử Alpha rất nguy hiểm, có thể làm hư hại tế bào và gây ung thư rất dễ dàng.

Phóng xạ trong các thức ăn

Bơi lội trong một con sông nhiều phóng xạ còn an toàn hơn uống sữa bò được nuôi gần nơi có phóng xạ. Chất phóng xạ tập trung ở những vùng có cây cối và súc vật tùy theo điều kiện khác nhau như số lượng và các loại dụng cụ sử dụng. Vì vậy, những ví dụ sau đây chỉ là ước đoán. Nhưng có điều chắc chắn là chất phóng xạ tập trung rất nhiều trong đồ ăn của chúng ta.

- Sông: Một đơn vị phóng xạ trong một gram nước.

- Cỏ: Hút nước ô nhiễm, chất phóng xạ tạp trung đến 3 đơn vị cho mỗi gram.

- Bò: Ăn cỏ, chất phóng xạ tập trung trong cơ thể nó. Một vài chất như Strontium giống vôi tập trung thật nhiều trong sữa. Lúc này, 10 đơn vị phóng xạ cho mỗi gram sữa.

- Người: Khi uống sữa, chất Strontium vào xương và tập trung đến 20 đơn vị cho mỗi gram sữa, và còn cao hơn nữa đối với trẻ con vì xương của chúng đang tăng trưởng.

Những bệnh tật do phóng xạ gây nên

Nhọt bọc (Cancerous growth)

- Chất phóng xạ thâm nhập tế bào, khi hư hoại, một số phát ra phóng xa.

- Chất phóng xạ làm hư hại những tế bào cận khiến chúng tăng trưởng khác nhau và bừa bãi.

- Tế bào tiếp tục tăng trưởng và trở thành một hay nhiều nhọt bọc.

Bệnh bạch huyết (Leukiamia)          

- Strontium hay những vật nhiễm xạ giống chất vôi vào trong xương, nơi sản xuất Bạch huyết cầu.

- Phóng xạ tỏa ra làm hại Tế bào Bạch huyết.

- Những Tế bào bạch huyết bị hư hại gia tăng nhanh chóng, và gây nên mệt mỏi, ăn mất ngon, và cơ thể suy nhược.

- Phóng xạ điện từ (Electromagnetic radiation) xáo trộn việc sản xuất Hormone Melatomin là chất điều hòa giấc ngủ và ngăn chặn sự thoái hóa của bịnh tim và bịnh lãng trí (Alzheimer’s disease).

Khoảng cách an toàn được đề nghị là 0.2 Microteslas. Một người đứng cách một máy hút bụi một foot có nguy cơ nhận lĩnh từ 2 đến 20 Microteslas).

Hoán chuyển của Di tử (Gene)

- Phóng xạ vào trong cơ thể làm hại dây DNA trong những tinh trùng của đàn ông và trứng của đàn bà. DNA là sơ đồ chỉ dẫn cơ thể được tăng trưởng như thế nào?

-Dây DNA bị hư hại được di truyền cho con cái. Ðến thế hệ này, nó có thể gây nên chứng Ðần độn (Mental retardation) và tật nguyền.

Những đơn vị phóng xạ

Roentgen: Ðơn vị đo số lượng phóng xạ tỏa ra trong không khí khi những Nguyên tử bị tan vỡ. Một vùng có nhiều phóng xạ là vùng có nhiều Nguyên tử tan vỡ khiến số đo Roentgen càng cao.

(Roengent là Vật lý gia người Ðức [1845 – 1923] có tên là Wilhem Conrad, đã khám phá và nghiên cứu Quang tuyến X).

Rem: Ðơn vị đo số lượng phóng xạ trong không khí hoặc những chất tác hại đến thân thể con người. một Mili Rem bằng 1/1,000 Rem, và một Micro Rem bằng 1/1,000,000 Rem.

Curie: Một Curie bằng 37 tỉ lần phát phóng xạ trong một giây đồng hồ. Thời gian một đơn vị Curie tan biến tùy thuộc các loại Vật chất bị nhiễm xa. Curie được dùng để đo lường những tác hại của phóng xạ trên thân thể con người. Càng nhiều Curie tạo ra trong một vùng, con người phải chịu nhiều tác hại độc địa hơn. (Về Curie, xin xem thêm ở phần Ðịnh nghĩa).

Tôi đã trình bày mười loại quang minh vừa thiên nhiên vùa nhân tạo. Vì bài này đã khá dài, tôi không thể nói hết những loại khác như: Gió Mặt trời (Solar wind), khí Helium, Vi sóng (Microwace), Máy Tạo Hình Ba Chiều (Magnetic Resonance Imaging – MRI) v.v...

Những trang kinh xưa đã nói “khắp nơi, khắp xứ, chỗ nào cũng có đủ loại quang minh cùng những loài chúng sanh cư ngụ”.

Những khám phá của khoa học về quang minh thiên nhiên, và việc chế tạo những quang minh nhân tạo đã chứng minh hùng hồn rằng lời kinh xưa đã nói đúng sự thật.

Ví dụ Vật lý gia nổi tiếng Fritjof Capra, trong cuốn “The Tao of Physics” (Ðạo của Khoa Vật Lý) của ông, trang 219, đã viết “Trong ngoại tầng không gian, một số lớn Lượng tử xuất hiện ở tâm điểm của những Tinh tú trong những cuộc đụng độ liên miên cũng giống như những cuộc đụng độ được thí nghiệm trong các Máy Gia Tốc. Trong một số Tinh tú, những cuộc đụng độ đó tạo nên những Phát xạ Ðiện từ rất mạnh dưới dạng những Sóng Vô tuyến, hay Quang tuyến X khiến các Vật lý gia biết thêm về vũ trụ.

Vì vậy, những khoảng không gian liên Tinh tú và những khoảng không gian ở giữa những Thiên hà đầy rẫy những Phát xạ Ðiện từ với mọi tần số, ví dụ Quang tử có Năng lượng cao. Trong việc Phóng xạ của Tia Vũ trụ, không những có Quang tử mà còn có những Lượng tử lớn đủ loại mà nguồn gốc chưa được biết”.

Như vậy, qúi vị có tin rằng đạo Phật là một đạo Siêu Khoa học hay không

 

PHẦN 2: SÁU CĂN HỔ TƯƠNG

Trong kinh Lăng Nghiêm, trang 509, Phật dạy về Sáu căn thanh tịnh và trang 307, Phật dạy về Sáu căn hổ tương.

Về sáu căn thanh tịnh, Phật dạy “Nếu tu pháp Tam ma địa được nhãn căn thanh tịnh thì chẳng cần có Thiên nhãn, chỉ với cái thân cha mẹ sinh ra tự nhiên nhìn thấy thế giới trong mười phương, thấy Phật, nghe pháp, được phép đại thần thông, chơi khắp mười phương quốc độ, được túc mạng thông, nghĩa là hiểu thấu quá khứ, vị lai v.v..."

Thế nào là Sáu căn thanh tịnh? Nghĩa là quí vị tu đến mức độ tâm quí vị ra khỏi sáu căn đó khiến không dính mắc và đeo đuổi sáu trần, và trở về Tàng thức. Vào Tàng thức, quí vị sẽ mở tâm nhãn thấy được chư Phật và chư Bồ tát mười phương cùng những cảnh giới mà quí vị chưa thấy bao giờ.

Trang 306, Phật dạy về tu Sáu căn hổ tương như sau:

“A Nan! Tánh sáng suốt của sáu dụng tất phải tùy nơi sáu căn rồi sau mới phát ra được. Ngươi hãy trông coi trong hội này, ông A Na Luật Ðà không mắt mà thấy, ông Bạc Nan Ðà không tai mà nghe, nàng Cang Ðà thần nữ không mũi mà biết mùi hương, ông Kiều Phạm Ba Ðề không lưỡi mà biết vị, thần Thuấn Nhã Ða không thân mà biết xúc, ông Ðại Ca Diếp Ý căn diệt đã lâu chẳng hề dùng đến tâm niệm để suy xét mà cũng sáng tỏ”.

Cách đây 25 thế kỷ, các vị trên đây không có sáu giác quan mà không gặp trở ngại gì. Tại sao vậy? Tại vì tu hành nên đạt đến sáu căn hổ tương, nghĩa là căn nọ hư thì căn kia thế vào. Còn nhân loại bây giờ thì sao? Khoa học đã giúp họ được những gì?

Xin mời quí vị đọc một loại bài sau đây nói về những cố gắng đáng kể của Khoa học trong việc phụng sự nhân loại:

Mắt nhân tạo

Các nhà sưu tầm đang nghiên cứu một Hệ thống tí hon tạo hình ảnh bằng số để giúp người mù thấy được.

Họ hy vọng sẽ chế tạo được một con mắt nhân tạo mẫu vào năm 2010.

Phục hồi thị giác (54)

1. Máy ảnh bằng tia Laser thâu nhận hình ảnh và biến đổi thành những Dữ kiện số.

2. Linh kiện (*) cấy trên Võng mô phát hiện tia sáng Laser.

(*) Chip.

3. Sợi dây kim khí truyền tín hiệu đến những dây thần kinh của Võng mô.

Thị cụ giúp người không có Trung tâm Thị giác Thần kinh thấy được (54)

Một máy ảnh tí hon và tối tân được gắn vào một cặp kính đặc biệt khiến người mang kính thấy được vật y như người có thị giác vậy.

1. Máy ảnh tí hon phát hiện hoạt động của tròng mắt khi nhìn xuống, nhìn lên, và nhìn sang phải hay sang trái.

2. Một máy ảnh tí hon thứ hai, được nối liền với máy Vi tính (*), xoay tròn để theo dõi hoạt động của tròng mắt.

(*) Computer.

Cùng lúc, máy này ghi nhận bất cứ hình ảnh nào đang nhắm tới.

3. Tia hồng ngoại truyền hình ảnh từ phía sau của Máy ảnh đến một Phiến bắt ánh sáng được gắn trên Võng mô. Phiến này được nối với dây thần kinh chạy tới bộ não.

4. Thị giác Thần kinh được nối với máy Vi tính để được tiếp diện.

Ông A Na Luật không mắt mà thấy

Có cách làm hết mù (55)

Trong một cuộc hội thảo của một nhóm chuyên nghiên cứu về việc ngăn ngừa bệnh mù, Bác sĩ Carl Kupler, Giám đốc Viện Nhãn thị Quốc gia, tuyên bố rằng “Chỉ còn là vấn đề thời gian, chúng ta sẽ khám phá được cái bí ẩn của bệnh mù”.

Cuộc hội thảo nhắm vào những chứng bệnh làm hư Võng mô (Retina) – là những lớp Tế bào hình roi, hình nón, cùng những tế bào khác ở trong phần sau của con mắt - biến đổi các hình ảnh thành những Xung động (Impulse) và đưa lên óc.

Kupler tiên đoán rằng cuối thập niên này, các nhà sưu tầm có thể thí nghiệm ghép Tế bào Võng mô (Retina – cell transplant) vào loài người để trị bệnh Hư Tâm điểm Võng mô vì lão hóa (Mascular degeneration – AMD), và bịnh Hư Cảm quang Tế bào (Retinitis pigmentosa).

Bệnh Hư thị giác thần kinh do di truyền khiến Võng mô hư dần và đưa đến mù lòa.

Bác sĩ Eugene de Juan Jt. thuộc đại học Johns Hopkins ở Baltimore, hu vọng sẽ phát minh một Thị cụ nhân tạo (Artificial vision device) để phục hồi thị lực bị hạn chế bằng cách kích thích Tế bào Võng mô (Retina cells).

Nếu Dụng cụ bắt ánh sáng (Light – sensing device) được cấy vào Võng mô, có thể giúp một số người mù thấy những đồ vật hay những cử động, và có thể đọc được sách.

Cấy linh kiện (Computer chip) vào Võng mô khiến người mù thấy được (56)

Một hệ thống thị giác gồm có những máy chụp hình nhỏ xíu và một Linh kiện  khiến người mù thấy được.

Máy chụp hình nhỏ xíu được gắn ở cặp kính (Eyeglasses) để truyền những tín hiệu bằng tia sáng Laser vô hình đến Phiến điện toán nhỏ bằng đồng xu đã cấy vào Võng mô. Phiến này có những cục pin chạy bằng ánh sáng mặt trời (Solar cells) và được tia sáng laser phát động.

Linh kiện đổi Tín hiệu thị giác thành những Xung điện (Electrical impulse) và truyền đến bộ não.

Linh kiện có hai ngăn: Ngăn trên chứa pin chạy bàn ánh sáng mặt trời, và ngăn dưới là mạch điện của máy điện toán.

Bác sĩ nhãn khoa Jean Bennett nói “Sáng chế này có ích lợi cho trường hợp này nhưng không ích lợi cho trường hợp khác”.

Bác sĩ Rizzer nói “Trợ cụ đầu tiên lớn giá $500,000 nhưng sau này nhờ sản xuất dây chuyền, giá này xuống còn $50.

Các nhà sưu tầm còn phải thí nghiệm nhiều năm nữa mới cấy được Linh kiện vào con người.

Sang năm, họ dự định cấy Linh kiện này vào mắt một con thỏ.

Thiên lý nhãn

Các phi hành gia trong một loạt phim Star Strek đều đeo một cặp kính đen che cả hai mắt. Ðiều đó chứng tỏ mắt không phải là cơ quan tuyệt đối của thị giác vì người ta có thể nhìn sự vật bằng cách khác. Ðó là câu truyện khoa học giả tưởng. Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy Tánh thấy là do ở Tịnh sắc căn mà Phù trần căn (Ngũ quan) chỉ để làm mai mối. Thực tế, gần đây, một khoa học gia chuyên về máy Vi tính đã chế ra một Thị cụ Vi tính chụp lên đầu khiến ông thấy được người và mọi vật trong đêm tối rất rõ ràng. Thị cụ này còn tối tân hơn loại kính nhìn trong đêm tối của Quân lực Hoa Kỳ. Với Thị cụ Vi tính này, ông ta có thể đọc đưọc những hàng chữ và đếm được những con ốc trên những bánh xe của một chiếc xe hơi đang chạy với tốc khá nhanh.

Ngoài ra, khoa Thiên văn gần đây đã khám phá ra một lối ghép nhiều Lăng kính gọi là Optical Interferometry khiến các Thiên văn gia thấy được hai Sao Capella ở cách xa nhau khoảng chừng một triệu dặm mà ngay Viễn vọng kính Hubble cũng không thấy được lằn ranh của chúng. Hai Sao này ở cách Trái đất 40 quang niên.

Trong tương lai, cũng nhờ lối ghép kính này, người đứng ở Trái đất có thể thấy được một cái bút chì để trên Mặt trăng.

Dần dần, nhờ những tiến bộ của khoa học, những truyện thiên lý nhãn, thiên lý nhĩ, thiên lý cước v.v... sẽ trở thành sự thật.

Kinh Pháp Hoa, Phẩm Pháp Sư Công Ðức thứ mười chín, trang 431 nói “Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân thụ trì kinh Pháp Hoa, người đó nhục nhãn thanh tịnh của cha mẹ sinh ra, thấy khắp cõi tam thiên đại thiên, trong ngoài có những núi, rừng, sông biển, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến cõi trời Hữu đỉnh ...”

 Ðó là thiên lý nhãn của người tu được sáu căn thanh tịnh, nghĩa là sáu căn không dính mắc với sáu trần.

Khoa học ngày nay cũng có thể giúp con người có thiên lý nhãn. Như vậy, lời kinh không hề nói những điều hư vọng.

Bây giờ đến ông Bạc Nan Ðà không tai mà nghe:

Nghe là thế nào? (57)

Khi đứa trẻ nghe tiếng nói, bộ óc của nó ghi nhớ và sắp xếp các Tế bào óc thành một hệ thống cần thiết để phát ra ngôn ngữ. Ðứa trẻ khi lên 10 tuổi mà không nghe được tiếng nói tức là những Tế bào thần kinh đã làm công việc khác, và đứa trẻ không bao giờ biết nói. Việc cấy Con Sên (Cochlear implant) là một Trợ thính cụ giúp các trẻ điếc bẩm sinh phát triển các đường dây thần kinh để tạo thành ngôn ngữ.

Chúng ta thường nghe tiếng động ra sao?

Các làn sóng âm thanh vào tai làm cho Màng Nhĩ rung động. Những rung động này chạy dọc theo xương của tai giữa đến con Sên làm cho Tế bào hình tóc (Hail cell) dẹp xuống và kích thích những Dây Thần kinh cảm thọ (Sensory nerve fibers).

Những dây thần kinh này hoán chuyển những Xung động thành những Xung động điện (Electrical impulse) và đứa đến khu Thính giác của Bộ não (Auditory cortex).

Con Sên được cấy tạo âm thanh như thế nào?

(1) Âm thanh được máy vi âm thâu.

(2) Âm thanh được đưa đến máy Chuyển âm (Speech processor).

(3) Máy Chuyển âm chọn lựa và mã số (Encode) những tiếng động hữu ích.

(4) Mã số được truyền đến một Máy Phát (Tranmitter)

(5) Máy phát truyền mã số đến Máy thu (Receptor) đã cấy dưới da.

(6) Máy thâu/kích thích (Receiver/Stimulator) đổi mã số thành những Ðiện tín hiệu (Electrical signals).

(7) Ðiện tín hiệu được truyền đến những Ðiện cực (Electrodes) đã cấy trong Con Sên để kích thích các sợi dây thần kinh.

(8) Ðiện tín hiệu được truyền đến khu Thính giác của não xám (Auditory cortex).

Nghe và nói như thế nào?

(1) Khu Thính giác của Não xám nhận biết những tiếng nói.

(2) Khu Wernicke (Wernicke’s area) thông dịch ý nghĩa của tiếng nói và nhập kho danh từ để trả lời.

(3) Khu Broca (Broca’s area) tiếp thu những tin tức trả lời, và điều hòa cử động trong khi nói.

(4) Khu phát động Não xám (Motor cortex) truyền chỉ thị cho những bắp thịt phát tiếng nói.

Những thành phần được cấy (Transplant components) gồm có:

(1) Máy phát. Ðược uốn vòng và đặt trên vành tai.

(2) Máy Vi âm. Làm khuôn cho vừa lỗ tai từng người.

(3) Máy thu/kích thích. Cấy dưới da và ở trên vai.

(4) Máy Phát âm (Speech processor). Cỡ bằng cái beeper có thể dắt vào túi áo.

Nghe là thế nào?

(hình vẽ với chú thích)

Khứu giác (58)

Khứu giác có thể phân biệt hàng ngàn mùi khác nhau. Sau dây là cơ hành của khứu giác:

(a) Khi hít vào, không khí được hít vào mũi và được đưa đến những Lông bắt mùi (Hair-like receptor) nằm trong màng nhầy ở trên đầu hai lỗ mũi. Những Phân tử tạo mùi kích thích những Tế bào bắt mùi (Receptor cells).

(b) Những Dây Thần kinh (Nerve fibers) nối liền với những Tế bào này truyền tín hiệu qua những lỗ nhỏ của xuơng sọ đến Núm Bắt mùi (Olfactory bulb) là đoạn cuối hình tròn của những Dây Thần kinh bắt mùi.

(c) Những Dây Thần kinh này truyền tín hiệu đến những phần của Hệ thống Limbic (Limbic system) và Trấy óc trước (Frontal lobe of the brain) để nhận biết mùi.

Nàng Ca Ðà Thần Nữ không mũi mà biết mùi hương

Ngửi là thế nào? (59)

Chúng ta có một vũ trụ bao la trên mũi của chúng ta. Loài người và loài có vú có 1,000 Di tử bắt mùi (Smell gene) ở trong mũi.

Các khoa học gia đã khám phá ra một số Di tử khác nhau được tạo ra để đáp ứng vói một số mùi hương khác nhau. Những Di tử này hợp với những Di tử cảm thọ (Sensory gene) có thể nhận biết trên dưới 10,000 mùi hương khác nhau khiến các loài có vú có thể ngửi được.

Các Di tử này truyền những tín hiệu của các mùi từ các Tế bào thần kinh trong mũi đến một vùng của bộ não tên là Núm bắt mùi (Olfactory bulb).

Sau khi đã khám phá ra được một số Di tử bắt mùi, các khoa học tự hỏi làm sao phát giác đưọc mùi, và bộ óc phiên dịch mùi đó như thế nào?

Nhờ một số Thần kinh thu mùi (Receptor), mũi và óc có thể phân biệt mùi chua của nước chanh, mùi ngọt của mật, và mùi hăng của con chồn thối (shunk).

Các khoa học gia rất ngạc nhiên sau khi khám phá những Dây thần kinh thu hình (Photoreceptor) đáp ứng với màu đỏ, xanh dương, và xanh lá cây. Khi thấy một vật, ba loại Dây thu hình này truyền những tín hiệu với cường độ khác nhau vào óc, và óc sẽ phối hợp và phân biệt những tín hiệu đó.

Ðược cấu tạo khác biệt, Hệ thống bắt mùi Olfactory system), có một số Dây thần kinh bắt mùi khác nhau ở trong những Tế bào mũi để nhận biết một số lớn các mùi khác nhau.

Bây giờ đến ông Kiều Phạm Ba Ðề không lưỡi mà biết vị.

Vị giác (60)

Ông Tổ chế rượu Martini gọi lưỡi là “Phòng thí nghiệm ướt của miệng”. Những Tế bào Vị giác (Taste cells) ở trong lưỡi có thể nhận biết bốn vị căn bản là mặn, ngọt, chua, và đắng.

Trên mặt lưỡi có một lớp Gai thịt (Papilliae) gồm có 2,250 Búp nếm (Taste bud), được chia làm bốn loại:

1. Loại giống cây nấm (Fungiform). Nằm ở một phía ngoài lưỡi.

2. Loại giống sợi chỉ (Filiform). Nằm ở một nửa lưỡi phía ngoài. Có nhiều hơn loại hình nấm.

3. Loại giống lá cây (Foliate). Nằm ở phía sau lưỡi.

4. Loại giống hình bánh Ðo nất (Doughnut shaped). Tạo thành hình chữ V ở phía sau lưỡi.

Chúng ta nếm thử gia vị của món Sốt tôm (Shrimp marinate) ra sao:

1. Muối: Chảy qua những hệ thống nằm trong màng của Tế bào Vị giác (Taste cell).

2. Nước chanh: Ðóng kín hệ thống cho Potassium chảy ra khỏi Tế bào.

3. Ớt: Kích thích những Dây thần kinh Cảm thọ trong mũi và lưỡi.

4. Mật ong: Những Dây thần kinh trên mặt Tế bào Vị giác (Cell surface receptor) truyền vị giác đến ngưỡng cửa của màng Tế bào.

5. Vỏ cam: Vị đắng đóng kín hệ thống Potassium, có thể tiếp nối với những Dây Thần kinh Vị giác, và gây nên một phản ứng để nhả chất vôi ra khỏi Tế bào.

Nếm là thế nào?

(hình vẽ với chú thích)

Bây giờ đến ông Ðại Ca Diếp, ý căn đã diệt mà còn suy xét rành rẽ.

Nói bằng Ðiện não (61)

Bộ não người ta trung bình có 15 tỉ tỉ (tỉ tỉ: 1,000 tỉ) Ðường dây Ðiện thoại Sinh học (Biological telephone line).

Kỹ thuật dùng điện não có thể giúp một người hoàn toàn tàn phế - nghĩa là không nói, không làm bắp thịt cử động, hay liếc mắt được - có thể truyền thông với người khác bằng cách phát ra những Ðiện tín hiệu từ óc.

Kỹ thuật này một ngày kia có thể giúp phi công dùng óc để xử dụng một số nút bấm. Căn cứ Không quân ở Dayton, Ohio; đã chứng tỏ rằng dùng điện não để bấm nút là một bước tiến đáng kể, không phải là khoa học giả tưởng.

Gần đây, các khoa học gia đã trình bày rằng một người chỉ cần điều khiển não bộ có thể khiến Con thoi (Cursor) di chuyển trên màn ảnh. Những điện cực, khi được gắn vào da đầu, có thể phát giác được điện từ lực yếu từ bộ não phát ra.

Sau này, nhờ những cải tiến mới, một người tàn phế hoàn toàn có thể di chuyển Con thoi để bày tỏ ý tưởng, thay đổi băng tần Truyền hình, hoặc làm những việc giản dị mà hiện nay những người khuyết tật chưa làm được.

Từ đầu năm 1930, các nhà tâm lý học đã biết bộ não phát ra những làn sóng điện từ, và nếu gắn những điện cực vào da dầu, người ta có thể phát giác và đo đạc những làn sóng đó.

Nhiều nhà sưu tầm đã nghiên cứu mẫu mực nhịp nhàng của việc phát sóng này, và nghĩ rằng đó là công việc riêng của bộ não. Một trở ngại là mỗi mẫu mực đáng kể của Sóng não (Brain wave) bị “tiếng động” hay nhiễu âm (Interference) của bộ não làm yếu đi một phần.

Dẫu sao, các Phòng thí nghiệm ở Hoa Kỳ và Âu Châu đã chứng tỏ rằng một người chuyên tâm có thể kiểm soát được một số Phát sóng của bộ não (Brain emission).

Bởi vì bán cầu não phải và trái làm hai công việc khác nhau, các khoa học gia đang tìm hiểu sự khác biệt đó để giúp người tàn phế liên lạc với thế giới bên ngoài mà không hề cử động.

Hệ thống này quan sát việc phát sóng não tự nhiên ở nhịp độ từ 8 đến 12 lần trong một giây đồng hồ.

Sau khi lọc những tín hiệu cần thiết, máy Vi tính áp dụng phương pháp cộng vào Biên độ (Amplitude) của những tín hiệu đã chọn do hai Bán cầu não phát ra, và dùng tổng số đó để di chuyển Con thoi lên xuống. Ðồng thời, máy Vi tính tính hiệu số của những tín hiệu giữa Bán cầu não phải và trái, và dùng thành số này để di chuyển Con thoi sang phải hay trái ...

Nhân bịnh mù của ông A Na Luật, tôi xin kể qua truyện của ông:

Trong kinh A Hàm, Phật gọi Mục Kiều Liên là “Trưởng lão thùy miên”, nghĩa là ông Trưởng lão ngủ gật.

Còn ông A Na Luật thì cứ mỗi lần Phật nói pháp, ông đều ngủ một giấc ngon lành. Một hôm, bị Phật quở nhẹ, ông thề từ nay không ngủ gật nữa. Rồi ông đọc sách ngày đêm khiến mắt sưng to, và dần dần lòa đi. Ngự y coi mạch nói ông cần phải ngưng đọc sách một thời gian sẽ khỏi bệnh. Ông cứ tiếp tục đọc, Phật cản ngăn, ông cũng không nghe. Ông cương quyết học tập ngày đêm không ngủ khiến mù luôn hai mắt.

Bài kệ trong “Trưởng lão tăng kệ” có ghi rằng trong suốt thời gian 55 năm trong cuộc đời của ông, ông không bao giờ nằm, và 25 năm đoạn nhất ngủ nghỉ.

Có điều lạ lùng là những vật ở gần ông không thấy, nhưng những cảnh giới ở trong Tam thiên Ðại thiên thế giới ông đều thấy rõ mồn một.

Nói đến ngủ gật, nếu không sợ lạc đề, xin quí vị cho phép tôi kể một truyện gần đây rất hi hữu:

Có một số tướng tá và sĩ quan các nước đến học quân sự ở Hoa Kỳ. Có một ông tướng Tàu, ngày nào cũng ngủ gật. Một hôm, thuyết trình viên đánh thức ông và hỏi “Xin Thiếu tướng nhắc lại bài giảng”. Ông Tướng mở mắt nói “Ai tống nầu” (I don’t know), rồi lại tiếp tục ngủ.

Về truyện ông Ma Ha Ca Diếp, xin nhắc lại quí vị khi thần thức hành giả đến cõi Trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ và đạt đến cái định gọi là Diệt thọ tưởng định, sẽ đắc quả A La Hán, vượt qua Tam giới, tức là không phải chịu sinh, tử, luân hồi. Ðắc quả A La Hán có nhiều thần thông và diệu dụng. Lúc đó, đâu có cần giác quan.

* * *

Ðọc qua những tài liệu nói trên, quí vị thấy khoa học ngày nay mới đạt được vài tiến bộ trong việc chữa bệnh mù và bệnh điếc. Còn mũi, lưỡi thân và ý, chưa nói gì đến. Ý căn hay bộ não là một vũ trụ vô biên khiến khoa học còn lâu mới khám phá ra được.

Về mắt, các khoa học gia hy vọng đến cuối thập niên này sẽ phát minh được dụng cụ trợ thị cho người mù. Bây giờ, đang thí nghiệm trên Võng mô của con thỏ. Về tai, khoa học mới cấy được Con Sên (Cochlear) cho người điếc, và kết quả chưa có bao nhiêu.

Về việc Phật kể có sáu vị mất hết giác quan mà vẫn hoạt động như thường, có nhiều người nói rằng khoa học tuy tiến chậm, nhưng chắc chắn vì có những thí nghiệm cụ thể và những chứng minh đàng hoàng. Còn kinh sách nói mơ hồ như vậy thì làm sao mà tin được?

Câu trả lời là những vị nói trên nhờ tu hành đắc đạo nên đã đạt đến trình độ sáu căn hổ tương.

Thế nào là sáu căn hổ tương? Sáu căn hổ tương cũng gọi là sáu căn dung thông, nghĩa là căn nọ hư thì căn kia làm giúp. Ví dụ Mắt mù thì Tai trông dùm, Tai điếc thì Mắt nghe dùm, Mũi thúi Lưỡi ngửi dùm, và Lưỡi mất Thân nếm dùm v.v...

Ðối với phàm phu chúng ta thì căn nào làm việc riêng của căn đó chứ các căn khác không giúp dùm. Lý do là trong các căn của chúng ta toàn là cột, là gút cả nên phân cách căn nọ với căn kia. Khi tu hành đắc đạo, các cột gút biến hết khiến các căn dung thông với nhau.

Trong kinh Lăng Nghiêm, trang 319-324, Phật đã dạy về pháp mở gút lục căn như sau:

Phật lấy khăn Kiếp ba của Ngài làm ví dụ. Lúc đầu cái khăn bằng phẳng không có cột, có gút. Phật bèn thắt sáu cái nút tượng trưng cho sáu căn bị ngăn cách với nhau. Rồi Phật mở một gút, hai nút, ba nút đến sáu nút, và trải thẳng cái khăn ra. Bấy giờ, cái khăn trở lại như lúc ban đầu, nghĩa là không còn bị những cột, gút ngăn cách nữa. Tu hành cũng tương tự như vậy, nghĩa là mở cột, gút.

Có sáu cột gút là trường hợp của phàm phu, và có sáu căn dung thông là trường hợp của những vị đắc dạo, của các vị Thánh.

Trang 121, Phật dạy chúng sanh trầm luân trong biển khổ, bến mê cũng vì những cột, những gút đó. Chư Phật mười phương khác miệng, đồng tiếng, đều bảo với ông A Nan rằng sáu căn của ông là nguồn gốc của sinh, tử luân hồi.

Cũng nằm trong ý nghĩa sáu căn là nguồn gốc của sinh, tử luân hồi; tôi xin phép kể qua truyện một trong hai con khỉ mà Hòa thượng Thanh Từ đã kể trong băng giảng:

Một chú khỉ con đã bỏ đoàn đi kiếm ăn một mình để có nhiều mồi mà khỏi phải chia chác. Nó thấy một con mồi bị người thợ săn trói vào một cái bẫy nhựa. Mừng quá, nó vồ lấy con mồi thì tay phải của nó bị nhựa cứng giữ lại. Nó bèn lấy tay trái gỡ ra. Tay trái lại bị kẹt cứng. Nó lấy chân phải đạp cho hai tay văng ra, Nhưng chân này cũng dính luôn. Rồi tới chân trái cũng bị tương tự như vậy. Nó bèn lấy đầu xô vào để gỡ tứ chi. Nhưng đầu cũng dính luôn. Chỉ còn cái đuôi, không có cách nào khác nó lấy đuôi quật mạnh vào chỗ đầu và tứ chi bị kẹt dính. Rồi cái đuôi cũng bị kẹt dính luôn.

Bấy giờ, người thợ săn mỉm cười, trói con khỉ lại và đeo nó lên vai.

Bốn chân tay, đầu và đuôi con khỉ tượng trưng cho sáu căn. Sáu căn dính mắc không gỡ được mà phải mạng vong cũng chỉ vì con khỉ tham lam. Theo đó, con khỉ với con người đâu có khác!

Trở lại vấn đề sáu căn hổ tương, xin quí vị đọc thêm Tính thấy và Tính nghe mà Phật đã dạy trong kinh Lăng Nghiêm.

Tất cả cái Thấy Nghe Hay Biết của mình nhờ ở sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý mà kinh Phật dạy khác hẳn với lối giải thích của khoa học.

Năm căn đầu: Mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân gõi là Tiền ngũ thúc là những căn ở bên ngoài làm mai mối đưa những hình ảnh, âm thanh, mùi vị, và xúc chạm v.v... vào trong Ý thức (Thức thứ 6) của chúng ta. Tiền ngũ thức chỉ là những Phù trần căn (căn thô phù) ở ngoài, Tịnh sắc căn mới là Tứ đại thanh tịnh. Cái đó mới thật là cái Thấy Nghe Hay Biết của mình. Tính thấy, tính nghe và các tính khác đều nằm trong Tịnh sắc căn, và Tịnh sắc căn này đi sâu vào Diệu tâm. Phù trần căn của Thức thú 6 là Ý căn, của Thức thứ 7 là bộ óc, của Thức thứ 8 có thể là tướng Bạch Hào (năm chòm lông. Xin xem kinh A Di Ðà: “Bạch Hào uyển chuyển năm Tu di”).

Một khi tu lọt được vào Tàng thức, lúc bấy giờ những Phù trần căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, không cần thiết nữa vì nhờ Tịnh sắc căn mình vẫn Thấy Nghe Hay Biết được.

Vì vậy, Phật đã dạy “Ông A Na Luật Ðà không mắt mà thấy, ông Bạc Nan Ðà không tai mà nghe, nàng Cang Ðà Thần Nữ không mũi mà biết mùi hương ...”.

Ðó là những truyện cách đây trên 25 thế kỷ. Gần đây, có một cô bé người Nga bị mù từ lúc lên một. Ðến năm 20 tuổi, cô bỏ nhiều năm học cách nhìn bằng mười ngón tay. Rồi nhờ “phép lạ” hay “thần thông” gì đấy, cô đã thấy sự vật bàng mười ngón tay.

Cách đây hơn 20 năm, một bác sĩ tên là Vincent ở Montréal, Canada đã dùng hai điện cực tiếp xúc với não bộ của một người để làm thí nghiệm. Ông ta giải phẩu da đầu của một người đàn bà để hai cây kim có dẫn theo dòng điện có thể tiếp xúc được não bộ của bà này. Khi hai cây kim chạm vào một chỗ nào của óc bà này, bà ấy liền nói rằng bà đang nghe một tiếng hát quen thuộc nào đó. Thực ra, lúc bấy giờ chẳng có ai đang hát cả. Khi hai cây kim được rút ra, bà ta lại nói tiếng hát đã chấm dứt; và cứ thế mỗi khi cây kim điện chạm vào là bà ta nghe thấy tiếng hát, khi cây kim được rút ra thì tiếng hát lại chấm dứt. Thí nghiệm kể trên cho chúng ta thấy rằng bà ấy chỉ sử dụng não bộ mà vẫn nghe thấy âm thanh. Chúng ta gọi cái đó là: Văn” (sự nghe thấy: Audial conciousness). Lúc nằm chiêm bao, chúng ta nghe người khác kể chuyện, đó cũng là sự nghe thấy, chứ không phải là Nghe (hearing)”.*

* Trích trong cuốn “Phương pháp và Quá trình tu chứng của Bồ Tát Quán Thế Âm” của Giáo sư Trầm Gia Trinh.

Thí nghiệm này cũng tương tự như việc những phi hành gia trong phim Star Strek đeo cặp kính đen che hết hai mắt. Như vậy, họ đâu cần đến hai mắt? Tuy là khoa học giả tưởng, nhưng giả tưởng này phù hợp với lời dạy của Ðức Phật.

Như trên đã nói, khoa học giúp người mù thấy được bằng cách ghép Linh kiện vào Võng mô, giúp người điếc nghe được bằng cách cấy Thính cụ vào tai, và giúp người tàn phế hoàn toàn dùng điện não để nói chuyện bằng cách di chuyển Con Thoi của máy Vi tính.

Ðúng như Phật đã dạy trong kinh Lăng Nghiêm về Tính Thấy và Tính Nghe. Năm căn ngoài, gọi là Phù trần căn, chỉ làm mai mối đưa Sắc trần hay Thanh trần vào Thức thứ sáu (Ý thức). Khi hai Phù trần căn này hư rồi, không có nghĩa là mất hết Tính nghe, Tính thấy. Tính nghe, Tính thấy ăn sâu và Tịnh sắc căn, và Tịnh sắc căn dung thông với Diệu Tâm, mà Diệu Tâm là cái màn Thiên la võng, là Pháp giới bao la.

Như vậy, khi tìm hiểu những thí nghiệm khoa học hiện nay và đọc lại những lời Phật dạy về Sáu căn hổ tương, chúng ta thấy Phật đâu có nói những điều hư vọng?

Có những bí mật lạ lùng khác mà chúng ta không thể hiểu nổi. Ví dụ gần đây, chó của cảnh sát Mỹ có thể đánh hơi một phần tỉ của một gram ma túy. Mắt con chó chỉ thấy hai màu đen trắng, nhưng nó thấy được bóng dáng của ma quỷ nên người ta gọi là “chó cắn ma”. Có một loại bướm nhỏ phát những siêu âm để gọi đồng bạn ở cách xa hàng mấy cây số. Nghe nói, ngựa cũng bắt được siêu âm mà tai người không bắt được, vì siêu âm có những Âm tần (Acoustic frequencies) cao hơn Âm giai khả thính (Audible range) của tai người, hay trên 20,000 chu kỳ trong một giây đồng hồ.

Như vậy, quí vị thấy cách đây 2 thế kỷ, Phật đã dạy rất rõ ràng về Phù trần căn và Tịnh sắc căn, điển hình là Sáu căn hỗ tương mà khoa học ngày nay đang tìm cầu, thí nghiệm.

Như vậy, quí vị có đồng ý với tôi rằng đạo Phật là một đạo Siêu khoa học không

 

PHẦN 3: TAM TAI - TẬN THẾ

Sinh tử của các vì sao (62)

Trong một bài viết ngắn của báo The Knight Tribune, số ra ngày 10-3-95, dưới tiêu đề “Sinh tử của các vì sao”, ở phần nói về Mặt trời như sau:

Mặt trời ca chúng ta đã cháy trên 4 tỉ rưỡi năm và còn đủ nhiên liệu để cháy trong 5 tỉ năm nữa. Lúc bấy giờ, Mặt trời sẽ trở thành một Sao đỏ khổng lồ, và bề mặt của nó sẽ bành trướng đến tận qũi đạo của Trái đất và đốt cháy Trái đất thành tro bụi”.

Ngày tận thế còn xa lắm! (63)

Theo bài tường trình của James Kasting và Caldeira đăng trong báo Thiên Nhiên, Trái đất của chúng ta còn tồn tại trong một tỉ năm nữa, nghĩa là 10 lâu hơn thời gian các khoa học gia đã tiên đoán trên một thập niên qua. Họ công nhận đời sống của sinh vật trên Trái đất không thể tồn tại mãi mãi. Lý do là Mặt trời sẽ bành trướng, và vỏ ngoài của nó sẽ nướng Trái đất cùng sinh vật trên đó thành tro bụi.

Một số khoa học gia lại cho rằng ngày tận thế sẽ đến sớm hơn. Công thức toán học do Caldeira và Kasting triển khai phù hợp với những tiên đoán cho rằng Trái đất sẽ bị tận diệt sớm hơn vì chất Carbon dioxide đang biến mất nhanh chóng. Vì vậy, cây cỏ sẽ thiếu hụt hóa chất chính xây dựng đời sống, và việc sản xuất thực phẩm dây chuyền sẽ bị phá hoại.

Caldeira và Kasting nói thế giới sẽ tận thế khi cây cỏ sản xuất thực phẩm và nhả dưỡng khí cần thiết cho đời sống loài người chấm dứt.

Tuy nhiên, thế giới chúng ta còn cả tỉ năm nữa mới bị tiêu diệt.

Việc đốt cháy này trong Câu Xá Luận Cương Yếu, bản dịch của Hòa thượng Thích Ðức Niệm, trang 100-107, và Nhị Khóa Hiệp Giải của Hòa thượng Khánh Anh, trang 320-323; gọi là đại nạn Hỏa tai, một trong đại Tam tai là Thủy tai, Hỏa tai, và Phong tai.

Thủy tai tương tự như nạn Hồng thủy đã ghi trong quyển Cựu Ước của Kinh Thánh như sau:

“Sau bảy ngày, nước lụt xảy trên mặt đất. Nhằm năm 600 của đời Nô Ê, tháng 2, ngày 17, chính ngày đó, các nguồn của vực lớn nổ ra và các đập trên trời mở xuống; mưa sa trên mặt đất trong 40 ngày và 40 đêm ... Nước lụt phủ trên mặt đất ... hết thảy những ngọn núi cao ở dưới trời đều bị ngập ... Nước dâng trên mặt đất trong 150 ngày. Ðức Chúa Trời nhớ lại Nô Ê cùng các loài thú và súc vật ở trong tàu với người, bèn khiến một trận gió thổi ngang qua trên đất, thì nước dừng lại ... trong 150 ngày, nước mới bớt xuống. Ðến tháng 7, ngày 17, chiếc tàu tấp trên núi A Ra Rát. Nước cứ lần lần hạ cho đến tháng 10, ngày mồng 1 ..., mấy đỉnh núi mới lộ ra ... Nhằm năm 601 đời Nô Ê, ngày mồng một tháng giêng, nước đã giựt bày mặt đất khô!”.

Theo kinh Phật, khi có nạn Thủy tai, nước dâng lên từ trời Sơ Thiền đến trời Nhị Thiền sau khi làm ngập lụt bốn châu: Ðông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Bắc Câu Lư Châu, và Nam Thiệm Bộ Châu * cùng một tỉ Hành tinh trong cõi Ta Bà.

* Quả Ðịa cầu thuộc Nam Thiệm Bộ Châu.

Từ trời Tam Thiền trỏ lên không bị ngập lụt.

 Kế đến là đại nạn Hỏa tai: Lửa sẽ đốt cháy từ Trái đất lên đến trời Sơ Thiền, đốt Trái đất cháy tiêu như đốt một quả bóng vậy.

Rồi đến nạn Phong tai: Gió thổi bay hết các cõi từ Trái đất lên đến trời Tam Thiền. Phong tai Thổi Trái đất bấy giờ đã cháy đen thành tro bụi.

Tóm lại chỉ có trời Tứ Thiền trở lên là không bị Tam Tai tàn phá.

Vạn vật trong vũ trụ đều phải trải qua bốn giai đoạn:

 Thành, Trụ, Hoại, Diệt (hay Thành, Trụ, Hoại, Không). Từ những cái cực tiểu như những con vi khuẩn cho đến những cái cực đại như sơn hà, đại địa ... đều không tránh khỏi quy luật này. Ngay đến bản thân ta cũng vậy. Sau khi cha mẹ sinh ra (Thành), ta sống ở thế giới này được vài chục năm (Trụ), rồi bịnh tật và già yếu (Hoại), cuối cùng là cái chết (Diệt).

Trở lại bài báo nói vào khoảng 5 tỉ năm nữa, Mặt trời sẽ bành trướng đến quĩ đạo của Trái đất và đốt cháy Trái đất thành tro bụi.

Quí vị thấy không? Kinh Phật đã nói rõ về Hỏa tai, một trong Tam tai, cách đây trên 25 thế kỷ mà bây giờ khoa học mới đề cập đến, và sự khác biệt chỉ là vấn đề thời gian

 

PHẦN 4: HÓA SANH VÀ THẤP SANH

Trong kinh Lăng Nghiêm, trang 256, Phật đã chia chúng sanh làm 12 loài: Loài sinh từ trứng (Noãn sinh), loài sinh bằng thai (Thai sinh), loài sinh ở dưới đất do ẩm ướt như côn trùng (Thấp sinh), loại bỏ bản chất cũ mà sinh ra hình chất mới như bông lúa hóa sâu, gạo hóa mọt, cỏ mục hóa đom đóm (Hóa sinh), loài có sắc (hình tướng), loài không sắc (ma, quỷ, thần, phi nhân, chư thiên), loài có tưởng (người), loài không có tưởng (gỗ, đá, kim loại), loài chẳng phải có sắc, loài chẳng phải không sắc, loài chẳng phải có tưởng, và loài chẳng phải không tưởng.

Kinh Ðại Niết Bàn, trang 341-342, Sư Tử Hống Bồ Tát bạch Phật rằng trong bốn loài Noãn, Thai, thấp, Hóa; loài người đều có đủ. Do đấy, trong loài người cũng có Noãn sanh, Thấp sanh; và thuở kiếp sơ, tất cả chúng sanh đều là Hóa sinh.

Thấp sinh là loài sinh ở dưới đất do ẩm ướt như côn trùng. Hóa sinh là loài bỏ bản chất cũ mà sinh ra hình chất mới như bông lúa hóa sâu, cỏ mục hóa đom đóm.

Bây giờ, xin mời quí vị cùng chúng tôi đi tìm những chứng liệu của Sinh vật học, Khảo cổ học, Nhân chủng học, Ðịa chất học, và Hải dương học để xem lời dạy của Sư Tử Hống Bồ Tát và của Ðức Phật có đúng không?

Lịch trình tiến hóa của sinh vật và thảo mộc

Theo tài liệu của những nhà Cổ Nhân chủng học (Paleanthropology), sự sống bắt đầu cách đây 4 tỉ năm, thảo mộc xuất hiện đầu tiên cách đây 425 triệu năm, những loài có vú đầu tiên cách đây 50 triệu năm, và chủng loại Ramapithecus cách đây 12 triệu năm.

Tài liệu thứ hai cho rằng loài vật đã xuất hiện cách đây khoảng một tỉ năm; và những vi sinh vật sống trong bùn, trải qua nhiều thời kỳ tiến hóa, đã ngẫu nhiên trở thành giống người, chim bồ nông, voi, giun đất, và hàng ngàn chủng loại khác nhau mà ta thấy trong thế giới loài vật bây giờ.

Tất cả những loài vật xuất hiện cách đây trên một tỉ năm đã sống trong các đại dương, có lúc nổi lên, có lúc chìm xuống như những vi sinh vật mà chúng ta thường thấy trong nước ngọt hay nước mặn.

Tài liệu thứ ba cho rằng những vi sinh vật đó thuộc loại Ðơn bào (một Tế bào). Theo những tài liệu khảo cổ, những hóa thạch đầu tiên xuất hiện vào Kỷ nguyên Ðột xuất Cambrian (Cambrian Explosion) * là thời kỳ các chủng loại khác nhau đã xuất hiện bất ngờ.

* Thời kỳ các lớp đá, địa tầng và hóa thạch đã được khám phá, tức là thời kỳ địa chất đầu tiên cách đây 500 triệu năm.

Chỉ trong vòng 20 triệu năm những sinh vật Ðơn bào sống trong các đại dương đã trở nên đa dạng, đột nhiên tạo điều kiện phát sinh những loài vật có thống thuộc với những giống côn trùng, tôm hùm, sứa, hải sâm, cá, và con người ...

Tài liệu thứ tư nói rằng trong việc sưu tầm sự sống, các khoa học gia đã khám phá trong lớp địa tầng cổ xuất hiện ở Phần Lan cách đây 3 tỉ 850 triệu năm những hạt khoáng chất do những vi sinh vật (có thể là những loài Ðơn bào) tạo nên.

Những vi sinh vật sống dưới đáy đại dương đã để lại những dấu vết thật sự của sự sống.

Tài liệu thứ năm nói rằng một hòn Ðá trời cỡ bằng củ khoai từ trên Sao Hỏa rớt xuống Trái đất đã đem theo những vi sinh vật. Ðiều đó chứng tỏ có sự sống ở trên Sao Hỏa.

Qua những tài liệu nói trên, chúng ta nhận thấy rằng các loài Ðơn bào, qua nhiều quá trình tiến hóa, nhất là trong Kỷ nguyên Ðột xuất Cambrian, đã trở thành những loài đa bào, đa dạng trong đó có loài người.

Vậy loài ngưòi đã từ những Ðơn bào tức là những vi sinh vật đã tạo nên qua nhiều quá trình tiến hóa.

Như thế, Sư Tử Hống Bồ Tát và Ðức Phật đã nói đúng là loài người cũng đã sinh ra từ những loài Thấp sinh và Hóa sinh như côn trùng và vi sinh vật. Ðức Phật biết chúng xuất hiện cách đây khoảng một tỉ năm.

Như vậy quí vị có đồng ý vói tôi rằng đạo Phật là đạo siêu khoa học hay không

 

PHẦN 5: HOẢ QUANG TAM MUỘI

Tiến sĩ Peter D. Santina, tác giả cuốn Fundamentals of Buddism, đã nói trong trang 30 và 32 rằng lời kinh xưa đã đề cập đến sự liên hệ giữa Vật chất và Năng lượng, và không có sự phân chia cơ bản nào giữa Tâm và Vật.*

* Nền tảng Ðạo Phật, bản dịch của Ðại Ðức Thích Tâm Quang.

“Similary, the relative of matter and energy is mentioned. There is no radical division between mind and matter”.

Cách đây khoảng 75 năm, Albert Einstein đã khẳng định rằng Vật chất và Năng lượng mà công thức E = mc2 là bằng chứng. Con người là một Vật thể mà Vật thể tức là Năng lượng. Ai cũng biết trong người có nhiệt lượng, và nhiệt lượng được gọi là thân nhiệt. Nhiệt lượng là do sự Hô hấp (Combustion lente) và thúc ăn có calories tạo nên.

Năng lượng được hai cơ quan vi tế và tinh xảo nhất trong các Tế bào của con người tạo ra. Cơ quan thứ nhất là Mitochondrion mà tôi tạm dịch là Vi Năng Tử, tức là những nhà máy vi ti phát sinh Năng lượng và Phân tử Protein F1-ATPase, hay là Cánh quạt máy thiên nhiên và vi ti nhất.

 

Vi Năng Tử (MITOCHONDRION)

Trong cơ thể người ta có 100 tỉ tỉ Tế bào. Trong Tế bào có nhiều Nhân (Neucleus). Mỗi Nhân chứa 46 Dây Nhiễm Sắc (Chromosome) được chia làm 23 đôi. Một Dây Nhiễm Sắc trong mỗi đôi thuộc cha hoặc thuộc mẹ. Những Dây Nhiẽm Sắc có đầy những đoạn DNA uốn vòng. Di tử là những đoạn DNA (deoxyibonucleic acid) hàm chứa chỉ thị tạo tác Protein là chất căn bản cấu tạo sự sống.

Vi năng tử được gọi là những nhà máy vi ti nằm trong Tế bào của những cơ quan sống. Vi năng tử chứa chất Hoạt toan (Enzyme) (1) là chất có chức năng biến đổi thức ăn thành Năng lượng. Vi năng tử, nơi hô hấp của Tế bào, có chức năng bảo vệ năng lượng thoát ra trong việc Ốc xít hóa của những hợp chất hữu cơ do sự phân tán thức ăn tạo nên.

Tế bào động vật và thực vật chứa từ vài trăm đến một ngàn Vi năng tử. Nhưng cũng có những Tế bào chỉ chứa một hay 100,000 Vi năng tử. Vi năng tử hình dạng giống như một miếng dồi có đưòng kính từ 0.5 đến 100 micrometers (2), và chiều dài từ một đến 10 micrometers tùy theo loại Tế bào.

Mỗi Vi năng tử có hai màng: Màng trong và màng ngoài có những chức năng chuyên biệt. Màng ngoài có sức thẩm thấu tương đối, đối với những Phân tử nhỏ hơn 10,000 Ðơn vị Dalton (3). Ngược lại, Màng trong, với đặc tính thẩm thấu rất cao, cơ chức năng bảo tồn Năng lượng. Màng này gồm có khoảng 30% chất Lipid (4) và 70 % chất Protein.

Phần lớn những Tế bào nhận được Năng lượng từ sự Ốc xít hóa trong việc biến chế thức ăn ở trong các Vi năng tử. Chỉ một phân số rất nhỏ của tổng số Protein của Vi năng tử được tổng hợp trong các Vi năng tử. Cho đến nay chưa ai biết Protein được đưa vào những Vi năng tử như thế nào mà chỉ giả thuyết rằng có thể những Lông hút (Receptor) nằm ở mặt ngoài của Vi năng tử hút vào.

(1) Là những chất protein đa hợp có thể khả năng thay đổi hóa chất trong các chất mà không bị thay đổi. Hoạt toan hiện diện trong nước tiêu hóa, tác động trên thức ăn và phân tán thức ăn thành những phần nhỏ. Ngoài ra, Hoạt toan còn có thể gia tăng tốc độ tương tác của các hóa chất.

(2) 1 microm = 1mu hay 1/1,000,000 của một thước.

(3) Tên nhà Vật lý/Hóa học người Anh John Dalton (1766-1844) đã phát minh thuyết nguyên tử đầu tiên và thiết lập bảng Nguyên tử trọng.

(4) Chất béo tan trong nước nhưng không tan trong những dung dịch hữu cơ thông thường. Chất này hợp với chất Carbonhydrate và Protein tạo thành cấu trúc vật chất chính của những Tế bào sống.

 

Phân tử protein F1-ATPASE, hay Cánh quạt máy thiên nhiên vi ti

Các khoa học gia Nhật Bản loan báo khi nghiên cứu chiều sâu của Tế bào, họ đã khám phá ra những Cánh quạt máy thiên nhiên vi ti nhất. Họ nói rằng những cánh quạt này quay với một lực rất mạnh, và họ có thể quay phim hoạt động này.

Trong một bài đăng trong báo Thiên Nhiên, các khoa học gia tại Viện Kỹ Thuật Ðông Kinh đã tuyên bố rằng bằng cách quan sát trực tiếp sự chuyển động, họ đã nhận thấy một Phân tử Protein F1-ATPase hoạt động như một Cánh quạt máy vi ti nhất. Ðường kính của nó chỉ bằng một Namometer (1 phần tỉ của một thước) đang quay trong một cái “thùng” có đường kính 10 Nanometer.

Tôi không phải là một khoa học gia nên không thể đưa ra một giả thuyết với đủ dữ kiện khoa học mà chỉ ước đoán như sau:

Những Vi năng tử nằm trong Tế bào phát sinh Năng lượng do sự Ốc xít hóa trong việc chế biến thức ăn tạo nên. Phân tử Protein F1-ATPase, hay những Cánh quạt máy thiên nhiên vi ti quay với một lực rất mạnh để phân phối Năng lượng xuất phát từ những Vi năng tử đến các cơ quan trong cơ thể của người ta.

Trong khoa học, Năng lượng này gọi là Ðiện từ (Electromagnetic). Bộ óc và Trung tâm Thần kinh hệ là nơi tương tác với Ðiện từ trường bởi vì các cơ quan thường dùng Ðiện từ có tần số thấp để hoạt động và truyền thông. Những thí nghiệm cho biết Màng Tế bào là nơi tương tác giữa những từ trường có tần số thấp với Tế bào. Ðiện từ trưòng có trong thiên nhiên và trong cơ thể của sinh vật

Các khoa học gia gọi Năng lượng và Ðiện từ trong khi những nhà huyền nhiệm hay đồng cốt gọi là Nhân điện. Những việc thôi miên, thần giao cách cảm, thiên lý nhãn, dùng điện não bẻ cong cái thìa, và đọc tư tưởng của người khác v.v... đều là do tác dụng của Nhân điện, Năng lượng, hay Ðiện từ trong người.

Có những người sanh đắc thông, nghĩa là bẩm sanh đã có thần thông. Ví dụ có những người bay lên cây cao hay lên trần nhà, đi qua tường vách, đi trên than hồng, hoặc trong người phát ra lửa ... Nhiều lắm! (Xin xem Người Có Năng Lực Siêu Phàm của Ðặng Văn Thông). Trái lại, có những người có năng lực siêu phàm là do sự tu luyện gian khổ trong nhiều năm. Ví dụ những đạo sĩ Ấn Ðộ hay Tây Tạng tu luyện trong hang đá, rừng sâu, hay trên những chóp đỉnh lạnh buốt của dãy Hy Mã Lạp Sơn.

Ngoài ra, công phu Thiền định đã nâng trí tuệ của phàm phu lên đến mức tột đỉnh khiến họ trở thành những bậc Thánh nhân. Chư Phật ba đời đã nhờ Thiền định mà thành Phật, và Ðức Thích Ca đã thành Phật qua con đường Thiền quán.

Kinh nói rằng thần thông của những đạo sĩ nói trên là do tu luyện mà có nhưng còn lệ thuộc thời gian, không gian và số lượng. Ðó là thần thông của ngoại đạo, nghĩa là không phải của đạo Phật. Thần thông của đạo Phật là phải do tu luyện mà có và là do ở Tự tánh, nghĩa là đắc đạo tự nhiên có thần thông. Tu hành đạt đến quả vị A La Hán đã có nhiều thần thông. Bây giờ tôi xin phép giở lại những trang kinh xưa.

 

Hỏa Quang Tam Muội

Trong băng giảng về “Chết”, Sư cô Như Thủy kể rằng sau khi Phật nhập diệt, bà Kiều Ðàm di mẫu (dì của Phật) và bà Da Du Ðà LA cùng 500 ni tăng đã dùng một thứ lửa gọi là Hỏa Quang Tam Muội để tự thiêu. Sư cô nói thêm rằng trong thế gian này có một số người tự phát ra lửa để đốt cháy thân thể của họ. Ví dụ một bác sĩ đang ngồi làm việc, bỗng trong người ông phát ra một thứ lửa đốt cháy cơ thể của ông ra tro trong khi bàn làm việc, giày dép và quần áo vẫn y nguyên.

Trong Lăng Kính Ðại Thừa, cụ Nghiêm Xuân Hồng kể rằng Ngài Mã Minh Bồ Tát lúc thị hiện tịch diệt, Ngài nhập Long Phân Tán Tam Muội, thân bay lên hư không, bay luôn và chói sáng như mặt trời trong một hồi lâu rồi là là đáp xuống mặt đất, ngồi kiết già mà thị tịch.

Trong cuốn Người Có Năng Lực Siêu Phàm, tác giả Ðoàn Văn Thông kể chuyện một cậu bé nằm xuống giường, giường bốc cháy, đứng gần tấm màn, màn gió bốc cháy ...

Hai chuyện nữa của hai người tự nhiên thân thể phát ra lửa. Tác giả nói hiện tượng thân phát ra lửa đã xảy ra rất nhiều trên thế giới. Ðiều này phù hợp với lời kể của Sư cô Như Thủy.

Theo tác giả, các đạo sĩ đã khổ luyện để tập trung lửa nội thân gọi là thân nhiệt. Khi thân nhiệt được đánh thức dậy, đó là Tam Muội.

Qua những câu chuy