Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Kinh Điển


 

 

 

 

NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO

PL. 2550 – DL. 2006

 

 

ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG VIÊN GIÁC KINH

 

Lược giải

Dịch giả: HT. THÍCH GIẢI NĂNG

ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG VIÊN GIÁC TU ĐA LA LIỄU NGHĨA

 

DỊCH NGHĨA

B. PHẦN CHÁNH THUYẾT

I. CHỈ BÀY CẢNH VÀ HẠNH

 

BÀI THỨ TƯ

 

 

 

 

DỊCH NGHĨA

3- CHƯƠNG PHỔ NHÃN

a2- Nói về bậc Địa tiền vào hạnh Địa thượng

b1- Lời thỉnh

Khi ấy, ở trong đại chúng ngài Phổ Nhãn Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, đi quanh bên hữu ba vòng, quỳ dài chắp tay mà bạch Phật rằng: “Đại bi Thế Tôn ! Mong Phật vì những chúng Bồ-tát ở trong hội này và vì tất cả chúng sanh đời mạt, giảng nói thứ lớp tu hành của Bồ-tát là: Làm sao tư duy? Làm sao trụ trì? Chúng sanh chưa ngộ làm phương tiện gì khiến cho hết thảy đều được khai ngộ?

Thưa Đức Thế Tôn ! Nếu chúng sanh kia không Chánh phương tiện và Chánh tư duy, nghe Phật Như Lai nói Tam muội này, tâm sanh mê muộn thì đối với Viên Giác không thể ngộ nhập. Mong Phật khởi lòng từ bi vì bọn chúng con và chúng sanh đời mạt, giả nói những pháp phương tiện”. Nói lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, lập đi lập lại như vậy ba lần.

b2- Lời hứa

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo ngài Phổ Nhãn Bồ-tát rằng: “Quý thay ! Quý thay ! Này Thiện nam tử ! Như các ông mới có thể vì các Bồ-tát và chúng sanh đời mạt, hỏi về thứ lớp tu hành, tư duy, trụ trì, cho đến giả nói các pháp phương tiện ở nơi Như Lai. Ông nay lắng nghe, Ta sẽ vì ông mà nói”. Khi ấy, ngài Phổ Nhãn Bồ-tát vui mừng vâng lời dạy bảo cùng các đại chúng yên lặng mà nghe.

b3- Lời đáp

c1- Xa lìa Sự tướng vô minh

Này Thiện nam tử ! Những tân học Bồ-tát kia và chúng sanh đời mạt, muốn cầu tâm Viên giác thanh tịnh của Như Lai phải nên chánh niệm xa lìa các huyễn, trước y theo hạnh Xa-ma-tha của Như Lai, giữ kỹ cấm giới, xử an đồ chúng, yên ngồi nơi tịnh thất; rồi hằng phải suy nghĩ như vầy: “Thân ta ngày nay đây, đều do bốn đại hòa hiệp, ấy là: Lông, tóc, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, não, cũng là chất bẩn đều thuộc về ĐẤT; nước miếng, nước mũi, máu, mủ, nước dãi, nước bọt, đờm, nước mắt, tinh khí, và vật tiểu tiện đều thuộc về NƯỚC; hơi ấm thuộc về LỬA; chuyển động thuộc về GIÓ; khi bốn đại chia lìa, thân hư giả ngày nay đây hiện ở chỗ nào? Như vậy liền biết: Thân này rốt ráo không có tự thể, hòa hiệp làm tướng, thật đồng huyễn hóa.

Bốn duyên giả hiệp vọng có sáu căn; sáu căn bốn đại, trong ngoài hiệp thành, vọng có duyên khí; trong ấy tích tụ như có duyên tướng giả gọi là Tâm.

Này Thiện nam tử ! Tâm hư vọng này, nếu không sáu trần thì không thể có. Bốn duyên rời rã, không một mảy trần có thể tìm được. Trong đây trần, duyên khi đều tan mất, rốt ráo không có duyên tâm có thể thấy được.

Này Thiện nam tử ! Vì huyễn thân của các chúng sanh kia diệt, nên huyễn tâm cũng diệt. Vì huyễn tâm diệt, nên huyễn trần cũng diệt. Vì huyễn trần diệt, nên huyễn diệt cũng diệt. Vì huyễn diệt cũng diệt, nên cái phi huyễn chẳng diệt. Thí như lau gương, bụi hết sáng hiện.

Này Thiện nam tử ! Phải biết thân tâm đều là cấu huyễn, tướng cấu hằng dứt, mười phương thanh tịnh.

Này Thiện nam tử ! Thí như Ma-ni bảo châu trong sáng, tùy phương đều hiện, ánh ra năm sắc. Những người mê muội cho ngọc Ma-ni thật có năm sắc.

Này Thiện nam tử ! Cũng thế, tánh thanh tịnh của Viên giác tùy mỗi loài mà ứng, hiện ra thân tâm, những người ngu si kia cho tánh Viên giác thanh tịnh thật có tự tướng thân tâm như thế. Do đây, họ không thể xa lìa được huyễn hóa, thế nên Ta nói là thân tâm cấu huyễn; đối với người xa lìa cấu huyễn, Ta gọi tên là Bồ-tát. Cấu hết đối trừ, tức không còn có đối cấu và gọi tên.

c2- Công năng tùy thuận Viên giác

d1- Nhờ Lý thành Sự

Này Thiện nam tử ! Những Bồ-tát đây và chúng sanh đời mạt, vì chứng được “Ảnh tượng các huyễn tận diệt”, nên lúc bấy giờ liền được sự thanh tịnh vô ngần, tánh giác rộng lớn như hư không được hiển phát. Vì tánh giác tròn sáng, nên hiển tâm được thanh tịnh; vì hiển tâm thanh tịnh, nên thấy trần được thanh tịnh; vì thấy trần thanh tịnh, nên Nhãn căn được thanh tịnh; Vì Nhãn căn thanh tịnh, nên Nhãn thức được thanh tịnh. Vì Thức thanh tịnh, nên nghe tiếng được thanh tịnh; vì nghe tiếng thanh tịnh, nên Nhĩ căn được thanh tịnh; vì Nhĩ căn thanh tịnh, nên Nhĩ thức được thanh tịnh. Vì Thức thanh tịnh, nên Giác trần được thanh tịnh; như thế, cho đến: Tỷ, Thiệt, Thân, Ý lại cũng như vậy.

Này Thiện nam tử ! Vì Căn thanh tịnh, nên Sắc trần được thanh tịnh; vì Sắc trần thanh tịnh, nên Thinh trần được thanh tịnh; Hương, Vị, Xúc, Pháp lại cũng như vậy.

Này Thiện nam tử ! Vì Sáu trần thanh tịnh, nên Địa đại được thanh tịnh; vì Địa đại thanh tịnh, nên Thủy đại được thanh tịnh; Hỏa đại, Phong đại lại cũng như vậy.

Này Thiện nam tử ! Vì Bốn đại thanh tịnh, nên Mười hai xứ, Mười tám giới, Hai mươi lăm hữu đều được thanh tịnh.

Vì những pháp kia thanh tịnh, nên Thập lực, Tứ vô sở úy, Tứ vô ngại trí, Mười tám pháp bất cộng của Phật và Ba mươi bảy phẩm trợ đạo đều được thanh tịnh; như thế cho đến tám muôn bốn ngàn môn Đà-la-ni tất cả đều được thanh tịnh.

Này Thiện nam tử ! Vì tánh của tất cả Thật tướng đều thanh tịnh, nên một thân thanh tịnh, vì một thân thanh tịnh nên nhiều thân thanh tịnh; vì nhiều thân thanh tịnh, như thế cho đến tánh Viên giác của chúng sanh trong mười phương đều được thanh tịnh.

Này Thiện nam tử ! Vì một thế giới thanh tịnh, nên nhiều thế giới được thanh tịnh; vì nhiều thế giới thanh tịnh; như thế, cho đến khắp cõi hư không, gồm hết ba đời, tất cả đều bình đẳng, thanh tịnh không động.

d2- Sự được Lý dung thông

Này Thiện nam tử ! Hư không bình đẳng không động như thế, nên biết Giác tánh bình đẳng không động. Vì bốn đại không động, nên biết Giác tánh bình đẳng không động. Như thế cho đến tám muôn bốn ngàn môn Đà-la-ni bình đẳng không động, nên biết Giác tánh bình đẳng không động.

Này Thiện nam tử ! Vì Giác tánh cùng khắp thanh tịnh không động, viên mãn không ngằn mé, nên biết Sáu căn cùng khắp pháp giới; vì Căn cùng khắp, nên biết Sáu trần cùng khắp pháp giới; vì Trần cùng khắp, nên biết Bốn đại cùng khắp pháp giới; như thế cho đến môn Đà-la-ni cùng khắp pháp giới.

Này Thiện nam tử ! Do vì tánh Diệu giác kia cùng khắp, nên Căn tánh, Trần tánh không hoại không tạp, vì Căn Trần không hoại, như thế cho đến môn Đà-la-ni không hoại không tạp. Ví như trăm ngàn ngọn đèn chiếu sáng trong một căn nhà, ánh sáng của nó cùng khắp không hoại không tạp.

c3- Tướng Giác tâm thành tựu

Này Thiện nam tử ! Vì Giác thành tựu nên biết Bồ-tát chẳng cùng pháp trói buộc, chẳng cầu pháp cởi mở, chẳng chán sanh tử, chẳng ưa Niết-bàn, chẳng kỉnh người trì giới, chẳng ghét người phá giới, chẳng trọng kẻ quen lâu, chẳng khinh người mới học.

- Vì cớ sao?

- Vì tất cả đều là Giác tánh. Thí như ánh mắt (nhãn quan) nhận rõ cảnh trước, ánh sáng kia viên mãn không có ưa, ghét. Vì sao? Vì thể sáng không hai, nên không có sự ưa, ghét.

Này Thiện nam tử ! Những Bồ-tát đây và chúng sanh đời mạt tu tập tâm này được thành tựu, ở đây, không tu cũng không thành tựu, tánh Viên giác chiếu khắp, lặng dứt không hai; ở trong đó trăm ngàn muôn ức A-tăng-kỳ thế giới của Phật như cát sông Hằng không thể đếm hết, cũng như không hoa loạn khởi loạn diệt, chẳng tức chẳng ly, không trói không mở, mới biết chúng sanh bản lai thành Phật, sanh tử, Niết-bàn cũng như giấc mộng đêm qua.

Này Thiện nam tử ! Vì như giấc mộng đêm qua, nên biết sanh tử cùng với Niết-bàn không khởi không diệt, không đến không đi. Nơi cảnh sở chứng, không được không mất, không lấy không bỏ; nơi người năng chứng, không Tác không Chỉ, không Nhậm không Diệt. Trong cảnh Chứng ấy, không năng không sở; rốt ráo không có cảnh chứng cũng không người chứng, tất cả pháp tánh bình đẳng không hoại.

b4- Lời kết

Này Thiện nam tử ! Những Bồ-tát kia tu hành như thế, thứ lớp như thế, tư duy như thế, trụ trì như thế, phương tiện như thế, khai ngộ như thế, cầu pháp như thế cũng chẳng mê muộn.

Bây giờ, Đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa này, nên nói kệ rằng:

Phổ Nhãn ông nên biết !

Tất cả các chúng sanh,

Thân tâm đều như huyễn.

Thân tướng thuộc bốn đại,

Tâm tánh thuộc sáu trần,

Thể bốn đại đều lìa.

Cái gì là hòa hiệp?

Thứ lớp tu như vậy,

Tất cả đều thanh tịnh,

Khắp pháp giới không động,

Không: Tác, Chỉ, Nhậm, Diệt,

Cũng không người năng chứng,

Hết thảy thế giới Phật

Cũng như hoa hư không,

Ba đời đều bình đẳng,

Rốt ráo không lai khứ

Bồ-tát mới phát tâm,

Cùng chúng sanh đời mạt,

Muốn cầu vào Phật đạo,

Phải như thế tu tập.

CHÚ THÍCH

Khai ngộ: Khai Trí ngộ Lý, tức khai phá vô minh làm cho trí huệ phát sinh mới có thể hiểu biết được Chơn lý.

Chánh phương tiện: Phương tiện chơn chánh, tức không lạc vào Vô vi.

Chánh tư duy: (Sainkalpa, Pali: Saipapa): Suy nghĩ chơn chánh, tức là một trong tám thứ Thánh đạo. Khi đã thấy được chơn lý rồi còn cần phải suy nghĩ để cho chơn lý được tăng trưởng, dùng tâm vô lậu làm thể. Theo trong Kinh này thì: Không lạc vào vô vi là CHÁNH PHƯƠNG TIỆN, nhờ chánh phương tiện đoạn các vọng tưởng là CHÁNH TƯ DUY.

Mê muộn: Mê lầm. Phàm phu thì mê, Nhị thừa thì lầm. Phàm phu vì mê mà chấp có NGÃ, Nhị thừa vì lầm mà chấp có PHÁP. Vì chấp có ngã nên bị ngã tướng làm loạn, vì chấp có pháp (Niết-bàn) nên bị pháp tướng ngăn che, do đó không thể ngộ nhập được Viên giác. Cũng có chỗ nói: Mê thì bất giác, Muộn thì bất thông.

Tân học Bồ tát: Bồ-tát mới phát tâm học tập Phật đạo.

Xa-ma-tha (Samatha): Trung Hoa dịch là CHỈ, TỊCH TỊNH hay NĂNG DIỆT. Chỉ tức là ĐỊNH, có nghĩa là dứt hết các vọng tưởng.

Duyên khí: Duyên là Phan duyên hay Duyên lự; Khí là Khí phần (thuộc về vô hình) tức là cái khí phần hay duyên lự của tâm. Tâm này là do một phần khí chất từ trên Chơn tâm phát hiện.

Cũng có chỗ giải thích như sau: Duyên là các duyên, Khí là tập khí (vô hình), vọng tưởng. Duyên khí là sắc tâm hư vọng từ các duyên mà hiện.

Duyên tướng: Hành tướng Phan duyên, tức là chỉ cho cái tướng Duyên lự. Khi Căn, Trần, và Thức hòa hiệp thì ở trung gian vẫn sanh ra vọng tâm phân biệt, gọi đó là Duyên tướng.

Duyên tâm: Cái tâm Phan duyên sự vật (đeo theo cảnh vật mà phân biệt).

Ma-ni (Mani): Là một thứ ngọc báu. Trung Hoa dịch là Châu hay Như ý. Như ý tức là Như ý châu. Tiếng Phạn cũng viết là Cinta(mani. Thứ châu này sản sanh từ nơi Long vương hoặc từ bộ óc của một loài cá rất lớn dài đến hai mươi tám vạn dặm (lối 161.280.000m) có tên là Ma-kiệt. Ngọc này cũng do xá lợi của Phật biến thành. Vì ai được ngọc báu này thì muốn gì được nấy, nên gọi là Như ý châu.

Hiển phát: Phát hiện rõ ra.

Hiển tâm: Cái tâm biểu hiện ra bên ngoài.

Sắc trần: Trần cảnh thuộc về sắc tướng có thể thấy được. Trần có nghĩa là nhiễm ô, nên cái gì làm nhiễm ô chơn tánh đều gọi là Trần.

Thinh trần: Trần cảnh thuộc về âm thanh có thể nghe được.

Mười hai xứ: Là một trong Tam khoa (Tam khoa cũng gọi là Tam môn. Tam khoa là 5 ấm, 12 xứ và 18 giới). Tức là Sáu căn và Sáu trần.

Sáu căn: Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỹ căn, Thiệt căn, Thân căn và Ý căn.

Sáu trần: Sắc trần, Thinh trần, Hương trần, Vị trần, Xúc trần và Pháp trần.

Mười tám giới: Mười tám giới gồm có Sáu căn, Sáu trần và Sáu thức. Sáu căn và Sáu trần như trên đã biết rồi; còn Sáu thức là: Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức.

Đức Phật vì hàng phàm phu chấp có thật ngã mà thành lập ra Tam khoa. Đối với hạng người mê tâm nhiều, mê sắc ít thì nói Ngũ uẩn để “Hiệp sắc khai tâm” mà đối trị. Đối với hạng người mê sắc nhiều mê tâm ít thì Đức Phật nói Thập nhị xứ để “Khai sắc hiệp tâm” mà đối trị. Còn đối với hạng người tâm sắc đều mê thì Đức Phật lại nói Thập bát giới để khai cả tâm sắc mà đối trị.

 


 

 Hai mươi lăm hữu: Riêng chữ Hữu có 4 nghĩa:

1- HỮU đối với KHÔNG mà nói. Chữ Hữu ở trường hợp này có nghĩa là: Thật hữu, Giả hữu, và Diệu hữu. Ba đời thật có là Thật hữu; các pháp nhân duyên Y Tha là Giả hữu; Viên Thành thật tánh là Diệu hữu.

2- HỮU là một trong mười hai nhân duyên, HỮU ở đây có nghĩa là tạo nghiệp để dẫn dắt đến cái quả Vị lai. Do đó có tên là HỮU.

3- HỮU là tên của Quả, có nghĩa là nhân quả không mất. Như: Tam hữu (dị danh của Tam giới), Nhị thập ngũ hữu.

4- Do ngoại đạo chấp Thiền định và Thân Sở y của cõi Sắc và Vô sắc cho là giải thoát, vì muốn ngăn phá lối chấp này, nên gọi đó là HỮU, có ý nói cảnh giới ấy là cảnh giới sanh tử, có nhân có quả, chứ không phải là cảnh giới Chơn diệt (Niết-bàn chơn thật).

Hai mươi lăm hữu; người ta có thể tóm tắt trong bài tụng như dưới đây:

Tứ châu, Tứ ác thú : Có 8

Lục dục tinh Phạm thiên : Có 7

Tứ thiền, Tứ không xứ : Có 8

Vô tưởng cập Bất hoàn : Có 2

Tổng cộng :    25 hữu.

Lục dục có 14 Hữu:

- Bốn châu:

                             1-      Nam Thiệm bộ châu

                             2-      Đông Thắng thần châu.

                             3-      Tây Ngưu hóa châu.

                             4-      Bắc Cu lô châu.

- Bốn ác thú:

                             5-      Địa ngục.

                             6-      Ngạ quỷ.

                             7-      Súc sanh.

                             8-      A-tu-la.

- Sáu cõi dục:

                             9-      Tứ Thiên vương thiên.

                         10-      Đao Lợi thiên.

                         11-      Dạ Ma thiên.

                         12-      Đâu Suất đà thiên.

                         13-      Hóa Lạc thiên (Lạc biến hóa thiên)

                         14-      Tha Hóa tự tại thiên.

- Sắc giới có 7 Hữu:

                         15-      Đại Phạm thiên (thuộc Sơ thiền)

                         16-      Sơ thiền thiên.

                         17-      Nhị thiền thiên.

                         18-      Tam thiền thiên.

                         19-      Tứ thiền thiên.

                         20-      Tịnh Cư thiên (Bất Hoàn thiên)

                         21-      Vô Tưởng thiên (thuộc Tứ thiền).

- Vô sắc giới có bốn Hữu:

                         22-      Không vô biên xứ

                         23-      Thức vô biên xứ.

                         24-      Vô sở hữu xứ.

                         25-      Phi tưởng phi tưởng xứ.

Thập lực: Là mười thứ Trí lực của Phật.

1- Tri giác xứ phi xứ trí lực: Xứ có nghĩa là Đạo lý. Trí lực biết được đạo lý và phi đạo lý của sự việc. Như: Làm thiện nghiệp thì được quả vui, ấy là thị xứ; còn làm ác nghiệp mà muốn được quả vui ấy là phi xứ.

2- Tri tam thế nghiệp báo trí lực: Trí lực biết được nhân quả, nghiệp báo trong ba đời của tất cả chúng sanh.

3- Tri chư thiền định giải thoát Tam muội trí lực: Trí lực biết được các thứ Thiền định, Bát giải thoát, Tam tam muội.

4- Tri chư căn thắng liệt trí lực: Trí lực đối với căn tánh cao, thấp của tất cả chúng sanh, được quả báo lớn, nhỏ đều biết một cách tường tận.

5- Tri chưởng chưởng giải trí lực: Trí lực biết được bao nhiêu trí giải của tất cả chúng sanh.

6- Tri chưởng chưởng giới trí lực: Trí lực biết được bao nhiêu cảnh giới của tất cả chúng sanh trong thế gian không đồng.

7- Tri nhứt thiết chí sở đạo trí lực: Trí lực biết tướng nơi đến của tất cả đạo. Như: Thực hành Ngũ giới, Thập thiện thì đến được cõi người và cõi trời; còn tu pháp Vô lậu của hàng Tam thừa thì sẽ đến được Niết-bàn.

8- Tri Thiên nhãn vô ngại trí lực: Trí lực dùng Thiên nhãn thấy chúng sanh sanh tử và thiện ác nghiệp duyên không bị chướng ngại.

9- Tri Túc mạng vô lậu trí lực: Trí lực biết mạng sống nhiều kiếp của tất cả chúng sanh và Niết-bàn vô lậu.

10- Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực: Trí lực biết đúng như thật đối với tất cả vọng hoặc, dư khí, dứt hẳn không còn sanh nữa.

Tứ Vô sở úy: Cũng gọi là Tứ vô úy, tức là bốn thứ tâm hóa tha không e sợ. Tứ vô sở úy có chia làm hai loại: Một của Phật và một của Bồ-tát.

Tứ vô sở úy của Phật:

1- Nhứt thiết trí vô sở úy: Đức Thế Tôn đối trong đại chúng, Ngài dùng lời lẽ như tiếng Sư tử nói: Ta là người Nhứt thiết chánh trí mà tâm không một chút sợ sệt.

2- Lậu tận vô sở úy: Đức Thế Tôn đối trong đại chúng, Ngài dùng lời lẽ như tiếng Sư tử nói: Ta đã đoạn hết tất cả phiền não mà tâm không một chút sợ sệt.

3- Thuyết chướng đạo vô sở úy: Đức Thế Tôn đối trong đại chúng, Ngài dùng lời lẽ như tiếng Sư tử, nói cái pháp đó chướng ngại đạo Niết-bàn mà tâm không một chút sợ sệt.

4- Thuyết lậu tận vô sở úy: Đức Thế Tôn ở trong đại chúng. Ngài dùng lời lẽ như tiếng Sư tử, nói Đạo hết khổ mà tâm không một chút sợ sệt.

Bốn tâm vô úy trên đây là y theo Trí Độ Luận mà giải thích; còn như trong Câu Xá Luận, quyển 27 thì nói rằng: Tứ vô sở úy của Phật như các Kinh rộng nói như sau:

1- Chánh đẳng giác vô úy.

2- Lậu vĩnh tận vô úy.

3- Thuyết chướng pháp vô úy.

4- Thuyết xuất đạo vô úy.

Tứ vô sở úy của Bồ-tát:

1- Tổng trì không quên nên nói pháp không sợ: Bồ-tát nghe và giữ gìn giáo pháp, ghi nhớ các nghĩa không hề quên sót, nên đối trong đại chúng nói pháp mà không chút sợ sệt.

2- Biết hết pháp dược, căn, dục, tâm, tánh của chúng sanh nên nói pháp không sợ: Pháp dược có hai nghĩa: Một là pháp dược thế gian, hai là pháp dược xuất thế gian. Căn, dục, tâm, tánh của chúng sanh có rất nhiều, Bồ-tát có thể biết rõ tất cả, nên ở trong đại chúng nói pháp mà không chút sợ sệt.

3- Khéo léo hỏi đáp và nói pháp không sợ: Bồ-tát đối với tất cả những kiến chấp khác nhau đều có thể đốn phá, tất cả Chánh pháp đều có thể thành lập, và dù cho vô lượng chúng sanh nhứt thời vấn nạn, Bồ-tát cũng có thể nhứt thời đối đáp, nên ở trong đại chúng nói pháp mà không chút sợ sệt.

4- Đầy đủ khả năng dứt các nghi ngờ cho người nên nói pháp không sợ: Chúng sanh vấn nạn Bồ-tát tùy ý hiểu biết mà nói pháp có thể khéo léo dứt các sự nghi ngờ của chúng sanh đúng như pháp. Nhờ tài năng này, nên ở trong đại chúng nói pháp mà không chút sợ sệt.

Tứ Vô ngại trí: Tứ Vô ngại trí còn gọi là Tứ vô ngại biện hay Tứ vô ngại giải, đây là Trí biện thuyết pháp của các bậc Bồ-tát. Nếu đứng về Ý nghiệp thì gọi là GIẢI; còn như đứng về Khẩu nghiệp thì gọi là BIỆN.

1- Pháp vô ngại: Danh, Cú, Văn thuộc về giáo pháp năng thuyên, gọi là Pháp. Bồ-tát đối với giáo pháp này không bị ngăn trệ, gọi là Pháp vô ngại.

2- Nghĩa vô ngại: Biết nghĩa lý của giáo pháp sở thuyên một cách thông suốt, gọi là Nghĩa vô ngại.

3- Từ vô ngại: Đối với lời nói, từ ngữ của từng địa phương, thảy đều thông suốt, gọi là Từ vô ngại.

4- Lạc thuyết vô ngại: Lạc thuyết vô ngại còn gọi là Biện thuyết vô ngại. Nhờ ba thứ trí ở trên vì chúng sanh vui vẻ thuyết pháp một cách tự tại, gọi là Lạc thuyết vô ngại.

Lại vì khế hợp với Chánh lý phát khởi lời nói không bị ngăn trệ, gọi là Biện vô ngại (Biện tức là lời nói không bị bế tắc).

Mười tám pháp Bất cộng: Mười tám pháp công đức này chỉ giới hạn trong vòng Phật vị không cùng chung với hàng Nhị thừa, Bồ-tát, nên gọi là pháp Bất cộng. Mười tám pháp Bất cộng là:

1- Thân vô thất: Vì Đức Phật từ vô lượng kiếp đến nay, thường dùng Giới, Định, Huệ và Từ bi để tu thân tướng của Ngài, công đức ấy được đầy đủ; tất cả phiền não đều dứt sạch, nên gọi là Thân vô thất.

2- Khẩu vô thất: Phật đủ vô lượng trí huệ, biện tài, nên pháp của Ngài nói ra đều tùy cơ nghi của chúng sanh mà làm cho được chứng ngộ, nên gọi là Khẩu vô thất.

3- Niệm vô thất: Đức Phật tu các pháp Thiền định đến chỗ vi diệu, đối với các pháp tâm không nhiễm trước, được sự an ổn của Đệ nhứt nghĩa, nên gọi là Niệm vô thất.

4- Vô dị tưởng: Đức Phật đối với tất cả chúng sanh bình đẳng độ hết, tâm không lựa chọn, không có một ý tưởng khác, nên gọi là Vô dị tưởng.

5- Vô bất định tâm: Bốn oai nghi của Đức Phật là Hành, Trụ, Tọa, Ngọa, luôn luôn không rời thắng định sâu nhiệm, nên gọi là Vô bất định tâm.

6- Vô bất tri dĩ xả: Đức Phật đối với tất cả pháp thảy đều hiểu biết tường tận, nhưng sau liền xả, không hề chấp trước một pháp nào, nên gọi là Vô bất tri dĩ xả.

7- Dục vô diệt: Đức Phật đầy đủ các pháp lành, thường muốn độ các chúng sanh mà tâm không bao giờ nhàm chán và cho là đủ, nên gọi là Dục vô diệt.

8- Tinh tấn vô diệt: Thân tâm của Phật đầy đủ tinh tấn thường độ tất cả chúng sanh không lúc nào ngừng nghỉ, nên gọi là Tinh tấn vô diệt.

9- Niệm vô diệt: Phật hòa hợp đầy đủ, không hề thối chuyển đối với pháp của chư Phật trong ba đời và tất cả trí huệ, nên gọi là Niệm vô diệt.

10- Huệ vô diệt: Phật đầy đủ trí huệ, không giới hạn, không cùng tận, nên gọi là Huệ vô diệt.

11- Giải thoát vô diệt: Đức Phật xa lìa tất cả chấp trước, đầy đủ hai thứ giải thoát: Một là Hữu vi giải thoát; hai là Vô vi giải thoát. Hữu vi giải thoát là sự giải thoát tương ứng với trí huệ vô lậu. Vô vi giải thoát là sạch hết tất cả phiền não, nên gọi là Giải thoát vô diệt.

12- Giải thoát tri kiến vô diệt: Phật đối với tất cả pháp giải thoát thấy biết rõ ràng, phân biệt không ngại, nên gọi là Giải thoát tri kiến vô diệt.

13- Nhứt thiết thân nghiệp tùy trí huệ hành: Đức Phật hiện ra các tướng thù thắng để hàng phục chúng sanh xứng với trí huệ mà diễn nói tất cả các pháp khiến cho hết thảy đều được giải thoát chứng nhập, nên gọi là Nhứt thiết thân nghiệp tùy trí huệ hành.

14- Nhứt thiết khẩu nghiệp tùy trí huệ hành: Đức Phật dùng lời lẽ thanh tịnh vi diệu theo trí huệ mà vận chuyển hóa đạo lợi ích cho tất cả chúng sanh, nên gọi là Nhứt thiết khẩu nghiệp tùy trí huệ hành.

15- Nhứt thiết ý nghiệp tùy trí huệ hành: Phật dùng ý nghiệp thanh tịnh tùy theo trí huệ mà vận chuyển vào trong tâm của chúng sanh, vì họ thuyết pháp để phá trừ màn vô minh si hoặc, nên gọi là Nhứt thiết ý nghiệp tùy trí huệ hành.

16- Trí huệ tri quá khứ thế vô ngại: Phật dùng trí huệ chiếu biết tất cả bao nhiêu đời quá khứ, hoặc pháp chúng sanh, hoặc pháp phi chúng sanh cùng khắp không bị chướng ngại, nên gọi là Trí huệ tri quá khứ thế vô ngại.

17- Trí huệ tri vị lai thế vô ngại: Phật dùng trí huệ chiếu biết tất cả bao nhiêu đời vị lai hoặc pháp chúng sanh, hoặc pháp phi chúng sanh cùng khắp mà không bị chướng ngại, nên gọi là Trí huệ tri vị lai thế vô ngại.

18- Trí huệ tri hiện tại thế vô ngại: Phật dùng trí huệ chiếu biết tất cả bao nhiêu pháp chúng sanh hoặc pháp phi chúng sanh đời hiện tại, cùng khắp mà không bị chướng ngại, nên gọi là Trí huệ tri hiện tại thế vô ngại.

Ba mươi bảy phẩm trợ đạo: Cũng gọi là Ba mươi bảy phần Bồ-đề. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là:

                         Tứ niệm xứ                              có 4

                         Tứ chánh cần               có 4

                         Tứ như ý túc                có 4

                         Ngũ căn                                  có 5

                         Ngũ lực                                   có 5

                         Thất giác chi                có 7

                         Bát chánh đạo             có 8

                                                Tổng cộng:         37 phẩm.

I- TỨ NIỆM XỨ: Bốn pháp quán sát nhớ nghĩ. Cựu dịch là Tứ niệm xứ, Tân dịch là Tứ niệm trụ. Về Tiểu thừa sau khi tu Ngũ đình tâm quán thì tu Tứ niệm xứ quán. Y nơi Ngũ đình tâm quán để dứt loạn tâm của hành nhơn, ấy là Xa-ma-tha (chỉ) ; y nơi Tứ niệm xứ để phát huy quán huệ của hành nhơn, ấy là Tỳ-bà-xá-na (quán). Bốn pháp Niệm xứ là:

1- Thân niệm xứ: Quán Thân là bất tịnh. Thân là do thân huyết nhục của cha mẹ sanh ra, trong và ngoài thân đầy dẫy ô uế, không một chỗ nào là sạch sẽ, nên phải quán Thân bất tịnh.

2- Thọ niệm xứ: Quán Thọ là khổ. Thọ là cảm thọ khổ và vui. Vui từ nơi nhân duyên khổ mà sanh rồi lại sanh ra khổ và vui. Ở thế gian này không có cái vui chơn thật, nên phải quán Thọ là khổ.

3- Tâm niệm xứ: Quán Tâm là vô thường. Tâm là Tâm thức, tức là Nhãn thức v.v… niệm niệm sanh diệt không có lúc nào thường trụ, nên quán Tâm là vô thường.

4- Pháp niệm xứ: Quán Pháp là vô ngã. Pháp đây là trừ pháp ở trên là Thân, Thọ và Tâm, ngoài ra đều bao gồm hết thảy. Pháp không có tánh tự chủ tự tại, nên quán Pháp là vô ngã.

Ở đây là y cứ trên một Khổ đế mà tu Tứ niệm xứ. Khổ đế y nơi thân của chúng ta có bốn nghĩa: Thân, Thọ, Tâm, Pháp nên phải y cứ trên Thân, Thọ, Tâm, Pháp mà quán Bất tịnh, Khổ, Vô thường, Vô ngã, để thứ lớp phá bốn thứ điên đảo là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, nên chỉ có bốn xứ mà không thêm không bớt. Bốn xứ này dùng Huệ làm thể; sức của Huệ có thể khiến cho ghi nhớ nơi pháp sở quán Thân, Thọ, Tâm, Pháp, nên gọi là Niệm xứ. Lại: Sức của Huệ có thể khiến cho Niệm trụ ở nơi pháp sở quán, nên gọi là Niệm trụ.

II- TỨ CHÁNH CẦN: Cũng còn có những tên như sau: Tứ ý đoạn, Tứ chánh đoạn, Tứ chánh thắng. Một lòng siêng năng thực hành bốn pháp này, nên gọi là Tứ chánh cần; có thể dứt tâm biếng nhác, nên gọi Tứ chánh đoạn; đối với việc sách tấn Thân, Ngữ, Ý trong đường chơn chánh, bốn pháp này rất là thù thắng, nên gọi là Tứ chánh thắng. Bốn pháp siêng năng chơn chánh này là pháp được tu hành kế sau Tứ niệm xứ. Bốn pháp siêng năng chơn chánh là:

1- Đối với việc ác đã sanh, phải siêng năng trừ diệt.

2- Đối với việc ác chưa sanh, phải siêng năng khiến cho không sanh.

3- Đối với việc thiện chưa sanh, phải siêng năng làm cho sanh.

4- Đối với việc thiện đã sanh, phải siêng năng làm cho tăng trưởng.

III- TỨ NHƯ Ý TÚC: Đây là hạnh phẩm tu tập kế sau Tứ chánh cần, tức là bốn thứ Thiền định. Ở trước, trong Tứ niệm xứ là tu về Thật trí huệ, trong Tứ chánh cần là tu về Chánh tinh tấn. Như vậy, Tinh tấn và Trí huệ được tăng nhiều mà định lực thì yếu kém. Nay được bốn thứ định để nhiếp tâm thì Định và Huệ bằng nhau, việc mong muốn đều được, nên gọi là Như ý túc, lại cũng gọi là Thần túc.

 Như ý là tùy ý muốn mà được, tức Thân như ý thông trong Lục thông. Lục thông là cái quả của định sanh ra. Chữ TÚC nghĩa là chỗ nương; chữ THAÀN là đức linh diệu. Cái QUẢ như ý của Lục thông là nương nơi bốn thứ định này mà phát khởi, nên gọi bốn thứ định này là TÚC. Lại vì bốn thứ định này là chỗ nương sanh ra Quả đức linh diệu, nên cũng gọi là TÚC.

Danh mục của bốn thứ Như ý túc này có nhiều thuyết khác nhau:

Theo trong Trí Độ Luận và Pháp Giới Thứ Đệ thì: Dục, Tinh tấn, Tâm, Tư duy.

Trong Phụ Hành quyển bảy thì: Dục, Tinh tấn, Nhứt tâm, Tư duy. Hai thuyết này đồng nhứt. Còn trong Câu Xá thì: Dục, Cần, Tâm, Quán và trong Tứ Giáo Nghi thì: Dục, Niệm, Tâm và Huệ.

Nay đây, căn cứ theo sự giải thích của Câu Xá Quang Ký (quyển 25) để giải thích bốn thứ định này. Theo trong đây thì y cứ trên Gia hạnh mà lập danh:

1- Dục thần túc: Dục (mong muốn) ở nơi vị Gia hạnh mà khởi ra định, nương nhờ sức của Dục, nên Định dẫn phát mà khởi ra Dục thần túc.

2- Cần thần túc: Ở nơi Gia hạnh vị siêng năng tu tập định này, nhờ sức siêng năng, nên Định được dẫn phát mà khởi ra Cần thần lúc.

3- Tâm thần túc: Ở nơi Gia hạnh vị, nhứt tâm chuyên trụ, nhờ sức của Tâm nên Định dẫn phát mà khởi ra Tâm thần túc.

4- Quán thần túc: Ở nơi Gia hạnh vị quán sát Chơn lý, nhờ nơi sức Quán dẫn phát mà khởi ra Quán thần túc.

Trong Vị gia hạnh tuy có nhiều pháp, nhưng bốn pháp này rất là thù thắng, nên phải từ nơi bốn pháp này mà đặt tên.

IV- NGŨ CĂN: Căn có nghĩa là Năng sanh và Tăng thượng. Nhân Nhãn căn của mắt mà có sức mạnh sanh ra Nhãn thức thì gọi là Nhãn căn. Nhân nơi Tín có sức sanh ra thiện pháp khác thì gọi là Tín căn. Tánh của con người có sức sanh ra thiện, ác, tác nghiệp (phi thiện phi ác) thì gọi là Căn tánh.

Ngũ căn có hai loại: Một là Căn của Ngũ thức, hai là Căn của Tín v.v… Ngũ căn trong Ba mươi bảy phẩm Trợ đạo thuộc loại thứ hai.

1- Tín căn: Tín về Tam bảo và Tứ đế.

2- Tấn căn: Tấn căn còn gọi là Cần căn. Là dũng mãnh tu Thiện pháp.

3- Niệm caên: Ghi nhớ Chánh pháp.

4- Định căn: Khiến cho tâm chuyên chú ở một cảnh mà không bị tán động.

5- Huệ căn: Tư duy chơn lý.

Năm pháp này là nguồn gốc sanh ra tất cả thiện pháp khác, nên gọi là Ngũ căn. Năm căn này, chúng ta thấy nói ở Trí Độ Luận quyển 19, Pháp Giới Thứ Đệ quyển trung, Đại Thừa Nghĩa Chương quyển 4.

Theo trong Câu Xá Luận nói, thì: “Trong tất cả pháp thanh tịnh Tín v.v… Năm căn có cái dụng tăng thượng, nhờ thế lực này mà hàng phục được các phiền não, dẫn sanh Thánh đạo”.

V- NGŨ LỰC: Là do Ngũ căn tăng trưởng tạo thành năng lực đối trị Ngũ chướng, nên gọi là Ngũ lực.

Nếu đứng về phương diện tu tập thì gọi là Ngũ căn, còn đứng về phương diện đối trị thì gọi là Ngũ lực.

1- Tín lực: Tín căn tăng trưởng có năng lực diệt trừ được các Tà tín.

2- Tấn lực: Tấn căn tăng trưởng có năng lực diệt trừ được sự giải đãi của thân.

3- Niệm lực: Niệm căn tăng trưởng có năng lực phá trừ được các Tà niệm.

4- Định lực: Định căn tăng trưởng có năng lực phá trừ được các loạn tưởng.

5- Huệ lực: Huệ căn tăng trưởng có năng lực phá trừ được Hoặc trong Tam giới.

VI- THẤT GIÁC CHI (Saptabodhyanga): Thất giác chi cũng gọi là Thất giác phần hay Thất Bồ-đề phần. Chữ Giác có nghĩa là Giác liễu hay Giác sát (rõ biết hay xét biết). Những pháp này làm cho Trí và Huệ được quân bình, nên gọi là Đẳng giác. Giác pháp này có chia ra làm bảy thứ, nên gọi đó là Chi hay là Phần. Bảy Giác chi là:

1- Trạch pháp giác chi: Dùng Trí huệ để lựa chọn các pháp chơn thật và hư giả.

2- Tinh tấn giác chi: Dùng tâm dũng mãnh xa lìa hạnh tà, tu các pháp chơn.

3- Hỷ giác chi: Tâm được pháp lành sanh ra vui mừng.

4- Khinh an giác chi: Chi này theo trong Chỉ Quán và Pháp Giới Thứ Đệ còn gọi là TRỪ GIÁC CHI, nghĩa là đoạn trừ sự nặng nề ray rứt của thân, tâm; làm cho thân, tâm được nhẹ nhàng, nhanh nhẹn, an ổn và thư thái.

5- Niệm giác chi: Thường ghi nhớ rõ ràng ở nơi Định và Huệ không để quên mất, làm cho Định, Huệ được quân bình.

6- Định giác chi: Làm cho tâm trụ ở một cảnh không bị tán loạn.

7- Hành xả giác chi: Buông bỏ những điều lầm lộn và tất cả pháp, giữ tâm bình thản, không nhớ lại cảnh đã qua. Đây chính là tâm sở thuộc về Hành uẩn, nên gọi là Hành xả.

Bảy pháp này, nếu khi tâm của hành giả bị xao động thì có thể dùng ba Giác chi: Trừ (khinh an), Xả và Định mà nhiếp phục nó, còn như khi tâm bị hôn trầm (buồn ngủ, tâm thần mờ ám) thì nên dùng ba chi: Trạch pháp, Tinh tấn, và Hỷ phát khởi nó. Riêng Niệm giác chi thì luôn luôn ghi nhớ về Định và Huệ, nên không thể phế bỏ một giây phút nào. Vì vậy, trừ Niệm giác chi ra, sáu chi kia theo sự cần thiết, Hành giả tùy nghi chọn dùng. Nhờ bảy pháp này mà Hành giả chứng được quả Vô học.

VII- BÁT CHÁNH ĐẠO ((ryama(rga, Pali: Ariyamagga): Bát chánh đạo cũng gọi là Bát chánh đạo phần. Câu Xá Luận thì gọi là Bát Thánh đạo chi. Chữ THÁNH nghĩa là CHÁNH. Nếu ai đi theo con đường này sẽ xa lánh được những thiên chấp, tà vạy, nên gọi là CHÁNH ĐẠO. Lại vì đây là Đạo của bậc Thánh, nên cũng gọi là THÁNH ĐẠO.

Theo trong Huyền Ứng Âm Nghĩa, Bát Thánh đạo còn gọi là: Bát du hành, Bát đạo hành, Bát trực hành, Bát trực đạo, danh từ tuy khác nhưng chỉ là một. Bát chánh đạo tức là tám con đường chơn chánh. Tám con đường chơn chánh là:

1- Chánh kiến (Smyak Drsti, Pali: Samma( Ditthi. Chữ: Samyak và Samma( có nghĩa là CHÁNH): Thấy biết chơn chánh, tức là thấy rõ được lý Tứ đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Dùng Huệ vô lậu làm Thể. Huệ là cột trụ của tám thứ Thánh đạo này.

2- Chánh tư duy (Samyak Samkalpa, Pali: Samma( Samkappa): Suy nghĩ chơn chánh. Đã thấy được lý Tứ đế rồi, còn phải tư duy để cho chơn trí được tăng trưởng. Dùng Tâm vô lậu làm Thể.

3- Chánh ngữ (Samyak Va(c, Pali: Samma( Va(ca(, Sama(-Va(ca(): Lời nói đúng Chánh pháp, tức là dùng Chơn trí tu Khẩu nghiệp, không nói tất cả những lời phi lý. Dùng Giới vô lậu làm Thể.

4- Chánh nghiệp (Samyak Karma(nta, Pali: Samma( Kammanta): Nghề nghiệp chơn chánh, tức là dùng Chơn trí trừ tất cả những nghề nghiệp không chánh đáng, an trụ nơi thân nghiệp thanh tịnh. Dùng Giới vô lậu làm Thể.

5- Chánh mạng (Samyak (jiva, Pali: Samma( (jiva): Đem thân mạng sống theo Chánh pháp, tức là giữ Thân, Khẩu, Ý cho được thanh tịnh, thuận với Chánh pháp mà sống, xa lìa năm pháp tà mạng. Dùng Giới vô lậu làm Thể.

6- Chánh tinh tấn (Samyak Vya(ya(ma, Pali: Samma( Va(ya(ma): Siêng năng chơn chánh, tức là phát cái dụng Chơn trí tu đạo Niết-bàn. Dùng Cần vô lậu làm Thể.

7- Chánh niệm (Samyak smrti, Pali: Samma( Sati): Ghi nhớ chơn chánh. Dùng Chơn trí ghi nhớ Chánh đạo, không cho Tà niệm xen vào. Dùng Niệm vô lậu làm Thể.

8- Chánh định (Samyak Sama(dhi, Pali: Samma( sama(dhi): Thiền định chơn chánh. Dùng chơn trí để nhập Thiền định vô lậu. Dùng Định vô lậu làm Thể.

Tu tám pháp này dứt hết tà phi, nên gọi là CHÁNH; đến được Niết-bàn, nên gọi là ĐẠO.

Trong đây, tám pháp đều nói là Vô lậu, tức là không thể do theo Hữu lậu mà tu đến kết quả viên mãn được.

Thất giác chi là pháp hạnh của bậc Tu đạo, còn Bát chánh đạo là pháp hạnh của bậc Kiến đạo.

Tám muôn bốn ngàn môn Đà la ni: Vì có tám muôn bốn ngàn phiền não trần lao, nên đối lại có tám muôn bốn ngàn (84.000) pháp môn: Vì tám muôn bốn ngàn trần lao mỗi mỗi đều thanh tịnh, nên có tám muôn bốn ngàn môn Đà-la-ni thanh tịnh.

Số tám muôn bốn ngàn chỉ là con số tổng quát để chỉ cho số lượng rất nhiều của người Ấn Độ, cũng như người Việt Nam, khi muốn nói đến con số quá nhiều thì thường nói là: Ba vạn, cả ngàn hay trăm ngàn vậy. Người Ấn Độ khi chỉ số lượng quá nhiều của sự vật thì họ thường dùng con số “Bát vạn”. Như muốn nói đến số nhiều của phiền não thì nói là:  “Tám muôn bốn ngàn trần lao”; pháp môn nhiều thì nói: “Tám muôn bốn ngàn pháp môn”; Núi Tu-di quá cao thì nói: “Tám muôn bốn ngàn do-tuần”. Sự thọ mạng lâu dài của người ở cõi trời Phi phi tưởng thì nói: “Tám muôn bốn ngàn tuổi…”

Tánh Diệu giác: Là một trong sáu chủng tánh, tức là Diệu cực giác mãn, chính là Phật quả. Có nghĩa là Giác hạnh viên mãn một cách cùng cực vi diệu.

Căn tánh: Tánh của căn. Nguồn gốc phát sanh ra khí lực gọi là Căn; tập quán của thiện ác gọi là Tánh. Theo trong Phụ Hành quyển hai thì giải thích rằng: “Năng sanh là CĂN; Tập quán là TÁNH”.

Trần tánh: Tánh của trần. Tất cả pháp và mọi việc trong thế gian là TRẦN, bản chất nhiễm ô gọi là TÁNH.

ĐẠI Ý

Chương này, ngài Phổ Nhãn muốn Đức Phật mở bày môn phương tiện để khai ngộ cho hàng Tân học Bồ-tát và chúng sanh trong đời mạt pháp, nên đứng lên thưa hỏi về thứ lớp tu hành, Tư duy và Trụ trì của Bồ-tát để cho chúng sanh có thể từ bậc Địa tiền tiến tu vào bậc Địa thượng.

LƯỢC GIẢI

Chương Văn Thù là đứng về hàng căn cơ tối thượng, đốn ngộ, đốn siêu tức là không sanh tử lưu chuyển. Chương Phổ Hiền lại cũng nêu người tu Đại thừa: Biết huyễn tức là ly huyễn chẳng cần đến phương tiện, tiệm thứ, cho thấy ý của Kinh này là độ cơ tại đốn. Và Như huyễn Tam muội ở chương trước nói cũng là Hạnh của bậc Địa thượng Bồ-tát, hàng sơ tâm khó mà theo kịp. Biết được như thế, ngài Phổ Nhãn khéo léo quán sát căn tánh của chúng sanh, thương xót kẻ Tân học nên mở lời thưa hỏi ở chương này để cho những Bồ-tát Địa tiền có thể vào hạnh Địa thượng.

Đoạn b1, từ câu: “Khi ấy ở trong… đến …bạch Phật rằng” là tỏ bày nghi thức thưa hỏi.

Từ: “Đại bi Thế Tôn… đến …đều được khai ngộ” là lời thưa hỏi của ngài Phổ Nhãn thỉnh Phật mở bày cái hạnh tiệm thứ, để giải thích cái nghĩa “Giác tướng thanh tịnh viên chiếu” Nguyên vì chương Văn Thù ở trước nói thẳng rằng: “Biết là Không hoa thì không luân chuyển cũng không thân tâm thọ sanh tử kia”. Chương Phổ Hiền nói: “Biết huyễn tức Ly, không làm phương tiện, ly huyễn tức Giác cũng không tiệm thứ”. Đó là Đốn ngộ nhứt tâm, tức thời Đốn chứng chẳng theo lộ trình, chẳng cần tu hành chỉ có một chữ BIẾT mà thôi. Như vậy, chỉ có người thượng thượng căn mới có thể theo kịp, nhưng chúng sanh trong thời mạt pháp thượng căn thì ít; trung, hạ lại nhiều, nếu không tu hành thì trường lưu sanh tử, nếu tu hành mà không Chánh phương tiện thì không có cửa ngõ để vào, nếu không có thứ lớp thật khó mà thành công. Hỏi về Tư duy chính là hỏi về công phu hạ thủ tu tập Chỉ quán của hàng sơ tâm; Trụ trì là phép tắc an tâm, cả hai đều là phương tiện khai ngộ.

Trong câu hỏi, ngài Phổ Nhãn chỉ nêu lên: “Những chúng Bồ-tát và những chúng sanh đời mạt” mà không nói đến người tu Đại thừa là ý muốn chỉ cho kẻ sơ tâm, cốt để hỏi về thứ lớp tu hành, tư duy, trụ trì và giả nói phương tiện. Ý ngài Phổ Nhãn muốn hỏi rằng: “Những Tân học Bồ-tát khi nghe  nói đến cảnh giới Viên giác này tư duy quan sát như thế nào mới được thuần thục? An trụ, thọ trì như thế nào mà chẳng bị lay chuyển?”.

Theo ý hỏi trên, ta có thể tóm tắt như sau: “Nếu những người đối với c