Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Kinh Điển


 

 

 

 

NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO

PL. 2550 – DL. 2006

 

 

ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG VIÊN GIÁC KINH

 

Lược giải

Dịch giả: HT. THÍCH GIẢI NĂNG

ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG VIÊN GIÁC TU ĐA LA LIỄU NGHĨA

 

II. QUYẾT TRẠCH SÂU XA

 

BÀI THỨ CHÍN

 

DỊCH NGHĨA

8- CHƯƠNG BIỆN ÂM

b2- Pháp môn phức tạp

c1- Lời thỉnh

Khi ấy, ở trong đại chúng, ngài Biện Âm Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, đi quanh bên hữu ba vòng, quỳ dài chắp tay mà bạch Phật rằng: “Đại bi Thế Tôn ! Pháp môn như thế, thật là hy hữu ! Nhưng thưa Thế Tôn ! Các phương tiện này, tất cả Bồ-tát đối với Quán môn Viên giác, có mấy loại tu tập? Mong Phật vì các đại chúng và chúng sanh đời mạt, phương tiện khai thị, khiến ngộ thật tướng”.

Hỏi lời ấy rồi năm vóc gieo xuống đất, lập đi lập lại như vậy ba lần.

c2- Lời hứa

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo ngài Biện Âm Bồ-tát rằng: “Quý thay ! Quý thay ! Này Thiện nam tử ! Như các ông mới có thể vì các đại chúng và chúng sanh đời mạt hỏi việc tu tập như vậy ở nơi Như Lai. Ông nay nghe kỹ, Ta sẽ vì ông mà nói”.

Khi ấy, ngài Biện Âm Bồ-tát vui mừng vâng lời dạy bảo cùng các đại chúng yên lặng mà nghe.

c3- Lời đáp

d1- Nêu chung

Này Thiện nam tử ! Viên giác thanh tịnh của tất cả Như Lai, vốn không tu tập và người tu tập, tất cả Bồ-tát và chúng sanh đời mạt, y nơi sức huyễn chưa giác tu tập, bây giờ lại có hai mươi lăm thứ định luân thanh tịnh:

d2- Nói riêng

e1- Tu riêng

1- Nếu các Bồ-tát duy thủ cực tịnh (vắng lặng cùng cực), do vì sức tịnh, phiền não dứt hẳn, rốt ráo thành tựu, chẳng rời chỗ ngồi, liền vào Niết-bàn. Vị Bồ-tát này gọi là RIÊNG TU XA MA THA.

2- Nếu các Bồ-tát duy quán như huyễn, vì nhờ Phật lực, biến hóa thế giới, các thứ tác dụng, làm đủ diệu hạnh thanh tịnh Bồ-tát, đối với Đà-la-ni chẳng mất Tịch niệm và các Tịnh huệ. Vị Bồ-tát này gọi là RIÊNG TU TAM MA BÁT ĐEÀ.

3- Nếu các Bồ-tát duy diệt các huyễn, chẳng thủ tác dụng, riêng đoạn phiền não, phiền não đoạn hết, lần chứng thật tướng. Vị Bồ-tát này gọi là RIÊNG TU THIỀN NA.

e2- Tu xen

f1- Tu xen dùng CHỈ làm đầu

4- Nếu các Bồ-tát, trước giữ chí tịnh (rất vắng) dùng tâm tịnh huệ chiếu các pháp huyễn, liền ở trong ấy khởi hạnh Bồ-tát. Vị Bồ-tát này gọi là TRƯỚC TU XA MA THA SAU TU TAM MA BÁT ĐỀ.

5- Nếu các Bồ-tát, vì dùng tịnh huệ chứng tánh chí tịnh, bèn đoạn phiền não, ra hẳn sanh tử. Vị Bồ-tát này gọi là TRƯỚC TU XA MA THA SAU TU THIỀN NA.

6- Nếu các Bồ-tát, dùng huệ tịch tịnh (vắng lặng) lại hiện sức huyễn, các thứ biến hóa, độ các chúng sanh, sau đoạn phiền não mà vào tịch diệt. Vị Bồ-tát này gọi là TRƯỚC TU XA MA THA GIỮA TU TAM MA BÁT ĐỀ SAU TU THIỀN NA.

7- Nếu các Bồ-tát, dùng sức chí tịnh (rất vắng) đoạn phiền não rồi, sau khởi Diệu hạnh thanh tịnh Bồ-tát độ các chúng sanh. Vị Bồ-tát này gọi là TRƯỚC TU XA MA THA GIỮA TU THIỀN NA SAU TU TAM MA BÁT ĐỀ.

8- Nếu các Bồ-tát dùng sức chí tịnh (rất vắng) tâm đoạn phiền não, lại độ chúng sanh, kiến lập thế giới. Vị Bồ-tát này gọi là TRƯỚC TU XA MA THA ĐỒNG TU TAM MA BÁT ĐỀ VÀ THIỀN NA.

9- Nếu các Bồ-tát, dùng sức chí tịnh (rất vắng) giúp phát biến hóa, sau đoạn phiền não. Vị Bồ-tát này gọi là ĐỒNG TU XA MA THA VÀ TAM MA BÁT ĐỀ SAU TU THIỀN NA.

10- Nếu các Bồ-tát, dùng sức chí tịnh (rất vắng) giúp cho lặng dứt, sau khởi tác dụng, biến hóa thế giới. Vị Bồ-tát này gọi là ĐỒNG TU XA MA THA VÀ THIỀN NA SAU TU TAM MA BÁT ĐỀ.

f2- Tu xen dùng QUÁN làm đầu

11- Nếu các Bồ-tát, dùng sức biến hóa mỗi mỗi tùy thuận, mà thủ chí tịnh (rất vắng). Vị Bồ-tát này gọi là TRƯỚC TU TAM MA BÁT ĐỀ SAU TU XA MA THA.

12- Nếu các Bồ-tát, dùng sức biến hóa các thứ cảnh giới mà thủ lặng dứt (Tịch diệt). Vị Bồ-tát này gọi là TRƯỚC TU TAM MA BÁT ĐỀ SAU TU THIỀN NA.

13- Nếu các Bồ-tát, dùng sức biến hóa mà làm Phật sự, an trụ tịch tịnh (vắng lặng) mà dứt phiền não. Vị Bồ-tát này gọi là TRƯỚC TU TAM MA BÁT ĐỀ GIỮA TU XA MA THA SAU TU THIỀN NA.

14- Nếu các Bồ-tát, dùng sức biến hóa, vì khởi được tác dụng vô ngại đoạn các phiền não, rồi lại an trụ trong cảnh chí tịnh (vắng lặng). Vị Bồ-tát này gọi là TRƯỚC TU TAM MA BÁT ĐỀ GIỮA TU THIỀN NA SAU TU XA MA THA.

15- Nếu các Bồ-tát, dùng tác dụng phương tiện của sức biến hóa; tùy thuận cả hai: Chí tịnh và tịch diệt. Vị Bồ-tát này gọi là TRƯỚC TU TAM MA BÁT ĐỀ ĐỒNG TU XA MA THA, THIỀN NA.

16- Nếu các Bồ-tát, dùng các thứ khởi dụng của sức biến hóa, giúp cho chí tịnh, sau đoạn phiền não. Vị Bồ-tát này gọi là ĐỒNG TU TAM MA BÁT ĐỀ VÀ XA MA THA SAU TU THIỀN NA.

17- Nếu các Bồ-tát, dùng sức biến hóa, giúp cho lặng dứt, sau trụ Tịnh lự Vô tác thanh tịnh. Vị Bồ-tát này gọi là ĐỒNG TU TAM MA BÁT ĐỀ, THIỀN NA SAU TU XA MA THA.

f3- Tu xen dùng Thiền-na làm đầu

18- Nếu các Bồ-tát, dùng sức lặng dứt mà khởi chí tịnh (rất vắng), trụ nơi thanh tịnh. Vị Bồ-tát này gọi là TRƯỚC TU THIỀN NA SAU TU XA MA THA.

19- Nếu các Bồ-tát, dùng sức lặng dứt mà khởi tác dụng. Ở tất cả cảnh vẫn có công dụng lặng dứt tùy thuận. Vị Bồ-tát này gọi là TRƯỚC TU THIỀN NA SAU TU TAM MA BÁT ĐEÀ.

20- Nếu các Bồ-tát, dùng các thứ tự tánh của sức lặng dứt, an nơi Tịnh lự mà khởi biến hóa. Vị Bồ-tát này gọi là TRƯỚC TU THIỀN NA GIỮA TU XA MA THA SAU TU TAM MA BÁT ĐỀ.

21- Nếu các Bồ-tát, dùng tự tánh vô tác của lặng dứt, khởi ra tác dụng cảnh giới thanh tịnh, trở về Tịnh lự. Vị Bồ-tát này gọi là TRƯỚC TU THIỀN NA GIỮA TU TAM MA BÁT ĐỀ SAU TU XA MA THA.

22- Nếu các Bồ-tát, dùng các thứ thanh tịnh của sức lặng dứt, rồi trụ Tịnh lự khởi ra biến hóa. Vị Bồ-tát này gọi là TRƯỚC TU THIỀN NA, ĐỒNG TU XA MA THA VÀ TAM MA BÁT ĐỀ.

23- Nếu các Bồ-tát, dùng sức lặng dứt giúp cho chí tịnh, rồi khởi biến hóa. Vị Bồ-tát này gọi là ĐỒNG TU THIỀN NA VÀ XA MA THA SAU TU TAM MA BÁT ĐỀ.

24- Nếu các Bồ-tát, dùng sức lặng dứt giúp cho biến hóa rồi khởi chí tịnh, cảnh huệ trong sáng. Vị Bồ-tát này gọi là ĐỒNG TU THIỀN NA VÀ TAM MA BÁT ĐỀ, SAU TU XA THA MA.

e3- Tu trọn

25- Nếu các Bồ-tát, dùng huệ Viên giác, viên hiệp tất cả, đối với các pháp TÁNH TƯỚNG không rời giác tánh. Vị Bồ-tát này gọi là TU TRỌN BA THỨ TỰ TÁNH, TÙY THUẬN MỘT CÁCH THANH TỊNH.

d3- Kết chỉ phương pháp y luân tu tập

Này Thiện nam tử ! Đây là hai mươi lăm luân của Bồ-tát, tất cả Bồ-tát đều phải tu hành như vậy. Nếu các Bồ-tát và chúng sanh đời mạt, y theo luân này, phải trì phạm hạnh, vắng lặng tư duy, ai cầu sám hối qua hai mươi mốt ngày (21 ngày), đối với hai mươi lăm luân thảy đều ghi rõ tên ra, hết lòng ai cầu, tùy tay gói lấy; y gói mở xem, liền biết ĐỐÂN, TIỆM. Còn chút nghi hối thì không thành tựu.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa này, nên nói kệ rằng:

Biện Âm ông nên biết !

Tất cả các Bồ-tát,

Huệ thanh tịnh không ngại,

Đều y Thiền định sanh:

Ấy là: Xa-ma-tha,

Tam-ma-đề, Thiền-na,

Đốn, Tiệm tu ba pháp,

Có hai mươi lăm loại,

Mười phương các Như Lai.

Người ba đời tu tập,

Đâu chẳng nhân pháp này,

Mà được thành Giác đạo,

Duy trừ người Đốn giác,

Với pháp không tùy thuận,

Tất cả các Bồ-tát,

Và chúng sanh đời mạt,

Thường phải theo luân này,

Tùy thuận siêng tu tập,

Nhờ sức Đại bi Phật,

Mau chứng được Niết-bàn.

CHÚ THÍCH

Định luân: Luân là bánh xe lăn, có ý nghĩa nghiền nát. Do vì tu định mà tâm được thanh tịnh, Giác tánh được hiển bày. Vì Giác tánh vốn không tạp nhiễm, nên có thể chuyển được vạn pháp và tiêu trừ các huyễn. Nói một cách khác: ĐỊNH là bánh xe nghiền nát vọng hoặc phiền não, làm cho tâm thể vắng lặng, nên gọi là Định luân.

Tu riêng: Tu riêng từng pháp một: Hoặc chỉ tu Xa-ma-tha, hoặc chỉ tu Tam-ma-bát-đề, hoặc chỉ tu Thiền-na.

Tịch niệm: Ý niệm tịch diệt của Thiền-na.

Tịnh huệ: Trí huệ yên lặng của Xa-ma-tha.

Tu xen: Tu xen lộn cả ba pháp: Hoặc trước, hoặc giữa, hoặc sau, hoặc đồng.

An trụ: Ở yên tại một chỗ.

Tu trọn: Đồng thời tu trọn cả ba pháp.

ĐẠI Ý

Chương này là nói về các pháp tu tập, có chia làm hai mươi lăm thứ định luân, hai mươi lăm thứ này là do từ nơi ba pháp: Xa-ma-tha, Tam-ma-bát-đề và Thiền-na, hoặc riêng, hoặc xen mà thành lập.

LƯỢC GIẢI

Chương trước đã thâu gọn các pháp tu hành đem về ba thứ pháp môn tên là: CHỈ, QUÁN THIỀN NA, còn chương này chỉ tiếp theo ý trước nói: “Các thứ phương tiện tất cả dị đồng ([1]) đều y nơi ba thứ sự nghiệp như thế” để thuyết minh 25 thứ ĐỊNH LUÂN. Mặc dù gồm nói tất cả các sự tu tập RIÊNG CHUNG mà kỳ thật chính là nói đến sự “biến hóa, ly hiệp” ở nơi ba pháp.

Ngài Biện Âm vì có khả năng khéo léo phân biệt sự sai khác về pháp âm, nên liền nương ý này mà phát lời thưa hỏi.

Phần c1, câu: “Các phương tiện này” là chỉ cho ba thứ pháp môn. Câu: “Có mấy loại tu tập” là muốn hỏi rõ y nơi ba thứ pháp môn mà rốt lại mọi người phải tu một môn hay tu cả ba môn? Hoặc tu có trước sau hay phải tu đồng thời? “Thật tướng” là tướng chơn thật của tất cả các pháp bản lai như thế.

Tóm lại: Ý ở lời hỏi là chuyên về phương thức tu tập.

Trong lời đáp, đoạn d1 ý nói rằng: Tất cả phương tiện tu tập tiệm thứ, đều đứng trên lập trường “huyễn chưa dứt hẳn, chướng chưa đoạn hết” mà nói, chứ không phải y cứ trên “căn bản tâm Viên giác thanh tịnh” mà có sự tu tập. Đây là điểm cốt yếu cần phải hiểu rõ để khỏi sai lệch bản ý của Kinh.

Vì thế, nên trong đoạn này, trước nói rằng: “Viên giác thanh tịnh của tất cả Như Lai vốn không tu tập và người tu tập”. Tức là Viên giác thanh tịnh, đứng trên cương vị căn bản, không có người Năng tu và pháp Sở tu. Chúng ta trước phải rõ được nghĩa ấy, sau mới nói đến sự tu tập y nơi dụng công huyễn hóa của Bồ-tát và chúng sanh. Nếu Viên giác đã viên mãn thì không có sức huyễn tu tập nào đáng nói.

Chữ “BẤY GIỜ” ở đoạn này là chỉ cho khi chưa giác. Những thứ huyễn lực dùng để tu tập gồm có 25 phương thức.

Nói: “Thanh tịnh định luân” ngoài những ý nghĩa thông thường: ĐỊNH là chỉ cho ba thứ định, LUÂN là biến hóa ly hiệp thay nhau luân chuyển để tu tập, lại còn có một ý nghĩa nữa: ĐỊNH là quyết định; LUÂN là nghiền nát. Nghĩa là 25 thứ pháp môn này đều quyết định nghiền nát hết HAI CHƯỚNG, đưa đến quả vị Bồ-đề, Niết-bàn, nên gọi là “ĐỊNH LUÂN THANH TỊNH”.

Trong đoạn e2 là riêng nói 25 thứ Định luân thanh tịnh. Hai mươi lăm thứ Định luân này y cứ trên ba thứ pháp môn ở chương trước mà chỉ bày phương thức tu tập RIÊNGCHUNG. Trong đoạn c2 là nói về phương thức tu RIÊNG.

1- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát riêng thủ cực tịnh… đến …riêng tu Xa-ma-tha” là nói về riêng tu CHỈ.

Người tu CHỈ, lấy sự yên lặng làm hạnh, nên nói rằng: “Duy thủ cực tịnh” tức là TỊNH QUÁN. Nói: “Duy thủ cực tịnh” chính là hiển bày cái nghĩa RIÊNG TU CHỈ (Xa-ma-tha). “Duy thủ” có nghĩa là RIÊNG TU, tức là không y nơi các pháp khác: Tam-ma-bát-đề và Thiền-na, cũng không y nơi: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, và Địa, Thủy Hỏa, Phong. CỰC TỊNH là yên lặng đến cùng cực, tức là phải DỨT TƯỞNG, NGƯNG THẦN làm cho yên lặng đến cùng mức thì phiền não không do đâu mà phát sanh. Đây chỉ dùng sức yên lặng cực mạnh để làm cho phiền não dứt hẳn, nên nói rằng: “DO VÌ SỨC TỊNH PHIỀN NÃO DỨT HẲN”. Vì phiền não dứt hẳn, liền được giác thể viên minh, tức chướng hết giác tròn, nên nói rằng: “RỐT RÁO THÀNH TỰU”. Nhờ đó thẳng vượt Phật quả, nên nói rằng “CHẲNG RỜI CHỖ NGỒI LIỀN VÀO NIẾT BÀN”.

Đây chỉ là một môn thâm nhập mà đến được chỗ cứu cánh. Môn này nếu thành tựu, thì hai môn kia cũng thành tựu, tức là một đoạn tất cả đoạn, một chứng tất cả chứng. Nhưng vì căn tánh chúng sanh ưa muốn khác nhau, chỗ gọi là “sức huyễn chưa giác”, nên phải có sự dị đồng y nơi ba pháp mà biến hóa ly hiệp đấy thôi.

Pháp tu này, ngài Duy Thác đời Đường gọi là: Trừng hồn tức dụng quán.

2- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát duy quán như huyễn… đến …riêng tu Tam-ma-bát-đề” là nói về riêng tu QUÁN.

Người tu quán này dùng sự khởi huyễn làm hạnh, tức là không thủ Tịch diệt (Thiền-na) cũng không thủ Chí định (Xa-ma-tha), nên nói rằng: “DUY QUÁN NHƯ HUYỄN”, tức là Huyễn quán vậy. Trong khi tu quán, Bồ-tát quán thế giới, chúng sanh v.v… đều như huyễn hóa. Chẳng khác nào người huyễn thuật biến hóa ra người và vật…

Phải biết pháp quán như huyễn này, chư Phật đã tu hành thành tựu, này Bồ-tát y theo pháp của chư Phật đã tu hành mà tu thành đó, nên nói rằng “vì nhờ Phật lực”. Bấy giờ Bồ-tát muốn độ chúng sanh như huyễn kia, lại phải quay về pháp HUYỄN QUÁN “vì nhờ Phật lực” này, mới có thể tùy thuận chúng sanh như huyễn, biến hóa thế giới như huyễn cho đến khởi ra các thứ tác dụng như huyễn, nên nói rằng: “BIẾN HÓA THẾ GIỚI, KHỞI CÁC TÁC DỤNG”. “Biến hóa thế giới”, như Ta-bà biến làm Tịnh độ, địa ngục biến làm thiên cung; “khởi các tác dụng” là tùy cơ hóa đạo. Bồ-tát tuy quán tất cả thế giới đều đồng huyễn hóa, rõ không thật tánh, mà vẫn thường làm Phật sự như huyễn, độ chúng sanh như huyễn, nên nói rằng: “Làm đủ Diệu hạnh Bồ-tát”. “HẠNH” ở đây được gọi là “DIỆU”, vì nó không bị trở ngại, như riêng tu “Quán hạnh” mà đối với Đà-la-ni không mất TỊCH NIỆM (Xa-ma-tha) và các TỊNH HUỆ (Thiền-na).

Trong đây, từ ngữ “Đà-la-ni” chuyển chỉ cho Viên giác, chính là ở chương Văn Thù nói: “CÓ MÔN ĐÀ LA NI GỌI LÀ VIÊN GIÁC”.

Bởi vì 25 loại Quán luân đều y nơi sức huyễn chưa chứng Viên giác để tu tập, nay nhân huyễn quán công phu thành tựu mà Diệu tánh Viên giác toàn thể hiển bày, nên nói rằng “Đối với ĐÀ LA NI”. Nói: “ĐỐI VỚI ĐÀ LA NI” chính là hiển bày cái nghĩa của “Diệu tâm Viên giác, tổng trì tất cả pháp và lại Viên cai (bao gồm) Tam quán” vậy. Đã Viên cai Tam quán thì dầu không tu Xa-ma-tha (chỉ) cũng không mất TỊCH NIỆM, không tu Thiền-na cũng không mất TỊNH HUỆ.

Chương này hỏi: “Đối với Viên giác có mấy loại tu tập”, nên Phật đáp: “Có 25 luân đều là tu tập ở nơi Viên giác”. Nay đây đối với “Đà-la-ni” tức là đối với “Viên giác” chỉ là TỪ khác mà NGHĨA đồng.

TỊNH HUỆ là công phu tu Thiền-na, TỊCH NIỆM là công phu tu Chỉ (Xa-ma-tha). Bồ-tát tuy quán Như huyễn, làm đủ Diệu hạnh, mà đối với Viên giác chẳng mất công phu của hai pháp tu kia, cho thấy: Chỉ một môn thâm nhập mà vẫn trọn đủ ba pháp. Do đó ta có thể biết Tam quán chẳng rời nhứt tâm.

Pháp tu này ngài Duy Thác đời Đường gọi là: Bào đinh tứ nhẫn quán.

3- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát duy diệt các huyễn… đến …riêng tu Thiền-na” là nói riêng tu “CHỈ QUÁN BẤT NHỊ”.

Người tu Thiền-na dùng sự “chẳng thủ” làm công phu (Tịnh Huyễn song vong). TƯỚNG LẶNG (Tịnh quán) và “Huyễn hóa” (huyễn quán) cả hai đều không thủ, tức không có sở y. Không có sở y chính là y nơi VÔ TƯỚNG CHƠN NHƯ (Tịch diệt = Lặng dứt) mà thôi. Người tu pháp này đã y nơi TƯỚNG CHƠN NHƯ (tịch diệt) là cốt ở chỗ chỉ diệt trừ huyễn pháp vô minh tức là chỉ dùng sức lặng dứt (Tịch diệt) để diệt trừ các huyễn pháp, nên nói rằng “Duy diệt các huyễn” và cũng không thủ các thứ tác dụng biến hóa của Huyễn quán (Tam-ma-bát-đề), nên nói rằng: “Chẳng thủ tác dụng”. Vì vậy Bồ-tát chỉ dùng tánh Tịch diệt (lặng dứt) để tự đoạn phiền não, nên nói rằng: “Riêng đoạn phiền não”. Đến chừng phiền não đoạn hết, chơn lý mới hiện, chơn lý đã hiện, Thật tướng hiển bày. Ấy là Viên giác chơn tâm khế hợp, nên nói rằng: “Phiền não đoạn hết, liền chứng THẬT TƯỚNG”. Thật tướng ở đây chính là Viên giác chơn tâm vậy.

Pháp tu này, ngài Đường Duy Thác gọi là Trình âm xuất ngại quán.

Tóm tắt ba loại định trên như sau:

1- XA MA THA: Dịch là TÁC CHỈ, thuộc về TỊNH HẠNH. Tịnh hạnh an tâm nơi VÔ VI thuộc về TỊNH QUÁN.

2- TAM MA BÁT ĐỀ: Dịch là TÁC QUÁN thuộc về HUYỄN HẠNH. Huyễn hạnh tu về HỮU VI, thuộc về HUYỄN QUÁN.

3- THIỀN NA: Dịch là TÁC TƯ DUY, thuộc về TỊCH HẠNH. Tịch hạnh thì TỊNH HUYỄN SONG VONG, tức là CHỈ QUÁN BẤT NHỊ, thuộc về TỊCH QUÁN.

Đoạn e2 là nói về pháp tu xen, trong đoạn này có chia làm ba phần:

- Dùng CHỈ làm đầu.

- Dùng QUÁN làm đầu.

- Dùng THIỀN NA làm đầu.

Đoạn f1 là nói về pháp tu xen dùng CHỈ làm đầu.

4- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát, trước thủ chí tịnh… đến …trước tu Xa-ma-tha sau tu Tam-ma-bát-đề” là nói trước tu CHỈ sau tu QUÁN.

Người tu pháp này dùng tâm Tịnh giác, trước thủ CHÍ TỊNH, lấy TỊNH làm hạnh, tức là tu CHỈ. TỊNH đến cùng tột thì HUỆ được phát sanh; do nơi Tịnh huệ này (TỊNH HUỆ: Trí huệ do tu CHỈ, tâm được yên lặng mà phát sanh ra huệ), lại khởi ra QUÁN HẠNH NHƯ HUYỄN, chiếu các thế giới và chúng sanh thảy đều như huyễn, ấy là tu về Huyễn quán, nên nói rằng: “CHIẾU CÁC PHÁP HUYỄN”. Theo đó liền khởi ra các Hạnh: “Biến hiện thế giới, khởi các tác dụng”, thượng cầu hạ hóa để cho tròn đầy Diệu hạnh thanh tịnh của Bồ-tát, nên nói rằng: “LIỀN Ở TRONG ẤY KHỞI HẠNH BỒ TÁT”.

Pháp tu này, ngài Đường Duy Thác gọi là: Vận chu kiêm tế quán

5- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát, vì dùng Tịnh huệ… đến …trước tu Xa-ma-tha sau tu Thiền-na” là nói trước tu CHỈ sau tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ.

Theo như đoạn này thì cũng phải y như các đoạn trước thêm một câu: “Tiên thủ chí tịnh” để nêu lên ý nghĩa tu CHỈ, nhưng vì người kiết tập ngại phiền, nên bớt, chỉ dùng hai chữ “TỊNH HUỆ” để nêu lên cái kết quả của sự tu CHỈ. “Sức chí tịnh” là biểu thị công phu tu CHỈ. “Tánh chí tịnh” là kết quả của việc tu CHỈ. Tu CHỈ thì dùng TỊNH TỊNH đến cùng cực thì thành TỊCH. Vậy TÁNH CHÍ TỊNH là biểu thị cho công phu THIỀN NA.

Tịnh huệ tức là Trí huệ do giữ sự yên lặng trong tâm để tu CHỈ mà phát ra, rồi dùng sức TỊNH HUỆ này thẳng chứng TÁNH CHÍ TỊNH, tức là do thủ Tướng lặng trên GIÁC TÂM mà phát sanh ra sức Tịnh huệ (công phu tu CHỈ) để chứng Tánh lặng trên TÂM VIÊN GIÁC (công phu Thiền-na).

Phiền não là nhân sanh tử, phiền não dứt thì sanh tử có thể ra khỏi. Người tu pháp này khi chứng GIÁC TÁNH rồi, liền từ đó đoạn phiền não, ra hẳn sanh tử để khế hợp với tánh VÔ SANH TỊCH DIỆT.

Pháp tu này, ngài Đường Duy Thác gọi là Trạm hải trừng không quán.

6- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát, dùng huệ Tịch tịnh… đến …giữa tu Tam-ma-bát-đề sau tu Thiền-na” là nói trước tu CHỈ giữa tu QUÁN sau tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ.

Huệ tịch tịnh (vắng lặng) là công phu tu CHỈ (Xa-ma-tha). Đã TỊNH (vắng) mà còn TỊCH (lặng) là ý nói cùng cực của TỊNH. TỊNH có cùng cực mới sanh ra HUỆ, đó chính là cái nghĩa trước tu Xa-ma-tha (CHỈ), vì Huệ này từ Xa-ma-tha (CHỈ) mà được. Sức huyễn là công phu tu QUÁN (Tam-ma-bát-đề). Khi được Huệ tịch tịnh (vắng lặng) rồi, lại dùng nó chiếu các pháp huyễn và từ trên tánh Giác tâm hiện khởi ra sức biến hóa độ các chúng sanh, nên nói rằng: “LẠI HIỆN SỨC HUYỄN, CÁC THỨ BIẾN HÓA ĐỘ CÁC CHÚNG SANH”, để hiển bày cái nghĩa “Giữa tu QUÁN” (Tam-ma-bát-đề). Vì “Các thứ biến hóa” từ trong Tam-ma-bát-đề mà được. Nhưng đã làm “Các thứ biến hóa” thì chưa khỏi đem thân dấn vào trần tục, vẫn còn sợ chúng sanh làm lụy, nên sau lại phải nhứt quyết đoạn phiền não để vào Tịch diệt (lặng dứt).

Tịch diệt (lặng dứt) là công phu Thiền-na. Tu Thiền-na là cốt đoạn phiền não, nên nói rằng: “SAU ĐOẠN PHIỀN NÃO MÀ VÀO TỊCH DIỆT”, chính là tu Thiền-na vậy.

Tóm lại “dùng huệ tịch tịnh lại hiện ra sức huyễn” là từ sức tu CHỈ mà tiến lên tu QUÁN, rồi hiện ra sức QUÁN NHƯ HUYỄN, nên có thể khởi ra tác dụng biến hóa độ sanh, cuối cùng vì e chúng sanh làm lụy, nên phải đoạn phiền não mà vào Tịch diệt (lặng dứt).

Pháp tu này, ngài Đường Duy Thác gọi là Thủ la tam mục quán.

7- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát dùng sức chí tịnh… đến …trước tu Xa-ma-tha, giữa tu Thiền-na, sau tu Tam-ma-bát-đề” là nói trước tu CHỈ, giữa tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ, sau tu QUÁN.

Nói: “Dùng sức chí tịnh (rất vắng)” tức là trước tu CHỈ (Xa-ma-tha). Do vì tu TỊNH QUÁN (CHỈ) thành tựu mới được sức CHÍ TỊNH, nhưng vẫn còn dùng sức CHÍ TỊNH này để khởi tâm đoạn phiền não, tức là TỊNH LỰ, nghĩa là trong TỊNH chuyển khởi ra Huệ TƯ LỰ, đó là “Giữa tu THIỀN NA”. Khi đoạn phiền não rồi, tức là TỊCH QUÁN thành tựu, TỊCH QUÁN thành tựu mới có thể dự phần thành Phật, bấy giờ không nỡ bỏ chúng sanh trôi lăn sanh tử, lại phải trẩy chiếc từ chu, hiện ra các thứ thần biến, tu tập “Diệu hạnh thanh tịnh Bồ-tát, độ các chúng sanh như huyễn”, ấy là sau tu QUÁN (Tam-ma-bát-đề).

Tóm lại “Dùng sức CHÍ TỊNH của CHỈ để tiến lên tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ mà đoạn phiền não, phiền não đã đoạn, thì buông tay nhập trần vẫn được tự tại vô ngại, không còn phải sợ bị nhiễm trước. Vì thế sau khởi ra Diệu hạnh độ các chúng sanh”.

Pháp tu này, ngài Đường Duy Thác gọi là Tam điểm tề tu quán.

8- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát, dùng sức chí tịnh… đến …trước tu Xa-ma-tha đồng tu Tam-ma-bát-đề và Thiền-na” là nói trước tu CHỈ đồng tu QUÁN CHỈ QUÁN BẤT NHỊ.

“Dùng sức CHÍ TỊNH” tức là trước tu Xa-ma-tha (CHỈ) để tự lợi, nhưng vì phiền não chưa đoạn, nếu chỉ lo hóa độ chúng sanh, thì sợ bị chúng sanh đồng hóa, nên phải tu Thiền-na để đoạn phiền não hầu đi rốt con đường tự lợi, đồng thời cũng ra hóa độ chúng sanh, kiến lập thế giới để hoàn tất công hạnh lợi tha, thực hành đạo Bồ-tát. Nói “TÂM ĐOẠN PHIỀN NÃO” đã chứng tỏ: Người có chí quyết đoạn và cũng chính là đương đoạn mà chưa đoạn hết.

Tóm lại: Trước tu CHỈ lo tự lợi sau tu QUÁN THIỀN NA để vừa tự lợi lại vừa lợi tha, tức là vừa đoạn phiền não vừa hóa độ chúng sanh, kiến lập thế giới, thực hành đạo Bồ-tát.

Pháp tu này ngài Đường Duy Thác gọi là Phẩm tự đơn song quán.

9- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát dùng sức chí tịnh giúp phát biến hóa… đến …đồng tu Xa-ma-tha và Tam-ma-bát-đề sau tu Thiền-na” là nói đồng tu CHỈ QUÁN sau tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ.

Người tu pháp này, trong khi tu CHỈ đồng thời dùng sức CHÍ TỊNH của CHỈ giúp cho sức biến hóa của QUÁN phát khởi để hóa độ chúng sanh tức là TỊNH HUYỄN SONG CHIẾU, NHỊ LỢI TỀ VẬN, nên nói rằng: “Dùng sức chí tịnh giúp phát biến hóa”. Ấy là vừa tu CHỈ (Xa-ma-tha) để lo phần tự lợi lại vừa tu QUÁN (Tam-ma-bát-đề) để khởi hạnh lợi tha, cuối cùng tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ (Thiền-na) để đoạn phiền não làm cho hai hạnh được viên mãn, ngõ hầu khế hợp trung đạo thành tựu Vô thượng Bồ-đề, nên nói rằng: “SAU ĐOẠN PHIỀN NÃO”.

Tóm lại: Trước dùng sức TỊNH của CHỈ làm động cơ thúc đẩy phát khởi tác dụng của QUÁN, ấy là CHỈ QUÁN song hành, TỰ THA kiêm lợi, sau đó tiến tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ để hoàn thành hai hạnh ở trước.

Pháp tu này, ngài Đường Duy Thác gọi là Song đầu độc túc quán.

10- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát dùng sức chí tịnh… đến …đồng tu Xa-ma-tha và thiền-na sau tu Tam-ma-bát-đề” là nói trước tu CHỈ CHỈ QUÁN BẤT NHỊ sau tu QUÁN.

Pháp tu này trước tự lợi, sau mới lợi tha. Người khởi tu bắt nguồn từ CHỈ (Xa-ma-tha) làm nhân rồi dùng sức CHÍ TỊNH của CHỈ để giúp cho quả TỊCH DIỆT của THIỀN NA được thành tựu. Nghĩa là đồng thời tu TỊNH mà cũng đồng thời DIỆT phiền não, khi TỊNH đến cùng cực thì phiền não cũng theo đó mà dứt. Vì TỊNH cực tức TỊCH, thiên trọng về ĐỊNH, phiền não dứt hết tức là DIỆT. Đã TỊCH mà còn DIỆT đó là THIỀN NA, thiên trọng về HUỆ. Chính là CHÍ TỊNH rồi đến TỊCH, đó là ĐỊNH LỰC giúp sanh HUỆ LỰC, bấy giờ TỊNH TỊCH chẳng còn, trong khi ấy hành giả đã tự chứng rồi vậy. Nhưng chưa khởi dụng độ sanh, bây giờ muốn ra hóa độ chúng sanh để làm cho công hạnh tự lợi lợi tha được đầy đủ, khiến cho không còn ân hận điều gì, nên khởi tác dụng biến hóa thế giới.

Tóm lại: Sức TỊNH đã được rồi, tiếp theo dùng nó để đoạn phiền não, nhưng vẫn giữ tánh lặng dứt, tức CHỈ THIỀN NA gồm tu, nên nói rằng: “DÙNG SỨC CHÍ TỊNH, GIÚP CHO LẶNG DỨT”. Sau đó tiến lên tu QUÁN, khởi ra Diệu hạnh Bồ-tát, nên nói rằng: “SAU KHỞI TÁC DỤNG BIẾN HÓA THẾ GIỚI”.

Pháp tu này ngài Đường Duy Thác gọi là Quả lạc hoa phu quán.

Đến đây là hết phần tu xen dùng CHỈ làm đầu, tiếp theo là phần f2 nói về pháp tu xen dùng QUÁN làm đầu.

11- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát dùng sức biến hóa, các thứ tùy thuận… đến …trước tu Tam-ma-bát-đề sau tu Xa-ma-tha” là nói trước tu QUÁN sau tu CHỈ.

Người tu pháp này, trước dùng sức biến hóa của HUYỄN QUÁN để theo căn tánh ưa muốn của mỗi mỗi chúng sanh mà tùy thuận hóa độ. Đó là trước tu QUÁN, nên nói rằng: “DÙNG SỨC BIẾN HÓA, MỖI MỖI TÙY THUẬN”. Nói “mỗi mỗi” là vì từng loại chúng sanh ưa muốn mỗi loại, mỗi loại không đồng, Bồ-tát vẫn theo sự ưa muốn đó mà “tùy thuận”. Mặc dù Bồ-tát tùy thuận chúng sanh để hóa độ, nhưng quán biết chúng sanh như huyễn, như hóa, nhờ vậy nên chẳng bị động tâm, đó là “tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên”, nên nói rằng: “MÀ THỦ CHÍ TỊNH”, tức là tiếp theo HUYỄN QUÁN mà nhập TỊNH QUÁN.

Tóm lại: Sức biến hóa là do tu QUÁN mà được thành tựu, khi thành tựu thì có thể khởi ra Diệu hạnh, rồi tùy thuận các thứ Diệu hạnh mà tiến lên giữ lấy CHÍ TỊNH của sự tu CHỈ, chính là trọn ngày độ sanh mà không thấy tướng độ sanh.

Pháp tu này, ngài Đường Duy Thác gọi là Tiên võ hậu văn quán.

12- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát dùng sức biến hóa các thứ cảnh giới… đến …trước tu Tam-ma-bát-đề, sau tu Thiền-na” là nói trước tu QUÁN sau tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ.

Nói: “DÙNG SỨC BIẾN HÓA, LÀM CÁC THỨ CẢNH GIỚI, GIÁO HÓA CHÚNG SANH”. Đó là hiển bày cái nghĩa trước tu QUÁN đã thành tựu. Tu QUÁN thành tựu liền khởi ra Đại bi và Khinh an, hằng chẳng lạc vào “Trầm không trệ tịch”, vì sợ nhập trong cảnh giới Nhị thừa, nên liền tiến lên tu Thiền-na để đoạn phiền não, chứng thủ lấy tánh thể lặng dứt, nên nói rằng: “SAU TU CHỈ QUÁN BẤT NHỊ”.

Tóm lại: Sức biến hóa là do tu QUÁN mà được thành tựu, khi đã thành tựu thì khởi ra các thứ cảnh giới Như huyễn, rồi dùng nó tựu thành công hạnh độ sanh; kế đó tiến lên mà đoạn phiền não để thủ lấy tánh thể lặng dứt của Thiền-na.

Pháp tu này, ngài Đường Duy Thác gọi là Công thành thối chức quán.

13- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát dùng sức biến hóa, làm các Phật sự… đến …trước tu Tam-ma-bát-đề giữa tu Xa-ma-tha sau tu Thiền-na” là nói trước tu QUÁN kế tu CHỈ sau tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ.

Dùng sức BIẾN HÓA, độ các chúng sanh, làm tất cả Phật sự là do tu QUÁN thành tựu. Tuy làm tất cả Phật sự mà tánh tự như như, an trụ trong cảnh vắng lặng (Tịch tịnh) đó là do tu CHỈ mà được BẤT ĐỘNG. Dù được BẤT ĐỘNG của CHỈ, nhưng vẫn nhậm vận đoạn các phiền não để khế nhập Trung đạo, đó là tiến tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ. Tức là từ trên sức BIẾN HÓA, an trụ trong cảnh vắng lặng, tiến lên mà đoạn phiền não.

Pháp tu này, ngài Đường Duy Thác gọi là Huyễn sư giải thuật quán.

14- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát dùng sức biến hóa, khởi được tác dụng vô ngại… đến …trước tu Tam-ma-bát-đề giữa tu Thiền-na và sau tu Xa-ma-tha” là nói trước tu QUÁN giữa tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ sau tu CHỈ.

Bồ-tát tùy thuận chúng sanh hiện ra tác dụng vô ngại, đó là do tu QUÁN mà được thành tựu. Khi hiện ra tác dụng vô ngại hóa độ chúng sanh mà chẳng bị chúng sanh làm hệ lụy, lại tiến tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ, tất cả phiền não nhậm vận tự đoạn. Bấy giờ, dù công tựu mà chẳng muốn tựu, đạo thành mà chẳng muốn thành, lại quay về an tâm trong cảnh vô vi của CHỈ, nên nói rằng: Rồi lại an trụ trong cảnh CHÍ TỊNH, đó là tu CHỈ.

Tóm lại: Sức biến hóa là do tu QUÁN mà được thành tựu, khi thành tựu rồi khởi ra tác dụng vô ngại, kế đó tiến tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ tự đoạn phiền não, rồi lại tu CHỈ để an trụ trong cảnh CHÍ TỊNH.

Pháp tu này, ngài Đường Duy Thác gọi là Thần long ẩn hải quán.

15- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát dùng tác dụng phương tiện của sức Biến hóa… đến… trước tu Tam-ma-bát-đề đồng tu Xa-ma-tha và Thiền-na” là nói trước tu QUÁN gồm tu CHỈ CHỈ QUÁN BẤT NHỊ.

Tu QUÁN thành tựu, nên có thể dùng tác dụng phương tiện của sức BIẾN HÓA độ các chúng sanh, nhưng chưa đoạn phiền não vì thế sau lại phải đồng thời tu tập ở nơi Chí tịnh của CHỈ để được an tâm và lặng dứt của THIỀN NA để đoạn phiền não hầu lên Thánh vị, nên nói rằng: “Tùy thuận cả hai: CHÍ TỊNH (rất vắng) và TỊCH DIỆT (lặng dứt)”.

Pháp tu này, ngài Đường Duy Thác gọi là Long thọ thông chơn quán

16- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát dùng các thứ khởi dụng của sức biến hóa… đến …đồng tu Tam-ma-bát-đề và Xa-ma-tha sau tu Thiền-na” là nói gồm tu QUÁN CHỈ sau tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ.

Dùng sức biến hóa tùy mỗi loại chúng sanh mà khởi ra tác dụng sai biệt để hóa độ, ấy là công phu tu QUÁN đã thành tựu. Dù ra hóa độ chúng sanh mà vẫn an trụ trong cảnh vắng lặng, vì trong ĐỘNG mà có thể TỊNH mới là CHÍ TỊNH, nên nói rằng: “Giúp cho CHÍ TỊNH”. Vậy tánh CHÍ TỊNH của CHỈ này sanh ra từ trong pháp tu QUÁN, chứ không phải tách rời ra để tu CHỈ, nghĩa là trong khi tu QUÁN tánh CHÍ TỊNH của CHỈ tự nhiên thành tựu, nên nói rằng: “ĐỒNG TU QUÁN VÀ CHỈ”. Nhưng vì khi ra khởi dụng, mãi lo độ sanh, lại e cho tánh CHÍ TỊNH bị rơi vào “THÚ TỊCH” phải trệ lạc THIÊN KHÔNG, nên cuối cùng thâm tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ để đoạn phiền não, thành tựu Bồ-đề, ly khai sanh tử chứng nhập Niết-bàn làm cho tự lợi, lợi tha đều được cứu cánh.

Tóm lại: Sức biến hóa do tu QUÁN mà được thành tựu, rồi khởi ra các thứ tác dụng trợ giúp cho tánh CHÍ TỊNH của CHỈ tự nhiên thành tựu, ấy là CHỈ QUÁN GỒM TU, sau tu CHỈ QUÁN BẤT NHỊ để đoạn phiền não, ly sanh tử, chứng nhập Bồ-đề, Niết-bàn.

Pháp tu này, ngài Đường Duy Thác gọi là Thương na thị tướng quán.

17- Từ câu: “Nếu các Bồ-tát dùng sức biến hóa giúp cho lặng dứt… đến …đồng tu Tam-ma-bát-đề và Thiền-na sau tu Xa-ma-tha” là nói gồm tu QUÁN CHỈ QUÁN BẤT NHỊ sau tu CHỈ.

Dùng sức biến hóa giúp cho lặng dứt (Tịch diệt) chính là Bồ-tát dùng sức biến hóa của QUÁN giúp cho công phu lặng dứt của Thiền-na khiến cho cả hai lẫn nhau được thành tựu. Bởi vì các thứ biến hóa đều đồng huyễn cảnh, đương thể không thật, chỉ là một thể Lặng dứt (Tịch diệt), đã là một thể lặng dứt thì không cần dụng công để dứt vọng, tức là công phu Thiền-na tự nó thành tựu. Công phu của Thiền-na đã thành tựu, thì công phu của QUÁN cũng thành tựu, từ đây về sau an trụ ở nơi “TỊNH LỰ THANH T