NIÊN BIỂU
PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Trần Tri
Khách
---o0o---
Mục Lục
Thành tâm ghi ơn Thượng Tọa Thích Vân Ðàm, Viện Chủ Tu Viện Pháp Vương, đã
tạo duyên đưa tác giả đi vào đề tài này.
Lời nói đầu
Một hiện tượng đặc biệt của Phật Giáo Việt Nam
hiện đại, trong nước cũng như ngoài nước, là các thiền sư ưa dẫn chứng
những điển tích Phật Giáo Trung Quốc khi giảng pháp. Ðiều đáng nói là điển
tích Phật Giáo Việt Nam tuy không kém phần phong phú nhưng hầu như bị các
ngài lãng quên. Chẳng hạn hiếu hạnh của đại sư Chân Dung Tông Diễn (1640-
1709), Liễu Quán (1670- 1742), Nhất Ðịnh (1784- 1847) ... là những gương
sáng vằng vặc ngay cả so với Phật Giáo Trung Quốc mà hầu như không được
nhắc nhở tới trong dịp Vu Lan Báo Hiếu. Trong bài Lễ Tháng 7 Cho Những Oan
Hồn Phiêu Bạt được phổ biến trên nhiều trang nhà Internet vào dịp Vu Lan
vừa qua, TT Tuệ Sỹ nêu nhận xét: Các thầy vì sính chữ Hán nên ít chịu nghe
khoa nghi tiếng Việt. Cho nên tuy Văn Thỉnh Thập Loại chữ Hán văn từ phần
nhiều sáo rỗng, nhiều điển tích vô hồn mà được cho là hay vì thói quen và
cũng do trình độ thưởng thức văn chương của người nghe. Sính chữ Hán tới
mức ít chịu nghiên cứu về lịch sử Phật Giáo Việt Nam phải được xem là trở
lực lớn cho việc điều hành các đạo tràng theo sứ mạng: Mái chùa che chở
hồn dân tộc, Nếp sống muôn đời của tổ tông (HT Mãn Giác, Nhớ Chùa).
Phật Giáo Việt
Nam trong suốt chiều dài lịch sử của nó luôn luôn gắn liền với dòng sinh
mệnh của dân tộc. Nó không nổi trôi một cách thụ động theo sự thăng trầm
của mệnh nước mà luôn luôn tích cực đóng góp vào những nỗ lực nhằm chận
đứng sự bập bềnh này, tạo ổn định và an lạc cho đất nước. Tinh thần Bồ Tát
nêu trong Lục Ðộ Tập Kinh (bản kinh xuất hiện sớm nhất tại nước ta) “ Bồ
tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt lệ xông vào nơi hà khắc cứu dân khỏi lầm
than” đã được giới xuất gia thực hành ngay từ thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa
chống lại chế độ đô hộ tàn bạo của thái thú Tô Ðịnh, và xuyên suốt trong
mọi thời nhân dân lầm than vì sự cai trị hà khắc. Thời đô hộ của nhà Hán,
nhà Ðường, nhà Minh, thời Pháp đô hộ, luôn luôn có sự tham dự dưới nhiều
hình thức sinh động khác nhau của giới tăng sĩ để vận động Phật tử dấn
mình vào công cuộc vận động dành độc lập cho dân tộc.
Phật Giáo Việt
Nam do đó từ căn bản là Phật Giáo dấn thân; cho nên không có gì đáng ngạc
nhiên khi các HT Huyền Quang và Quảng Ðộ kiên trì trước mọi áp bức để
tranh đấu cho tự do tôn giáo và hạnh phúc của nhân dân Việt Nam. HT Huyền
Quang (năm 1981) và Quảng Ðộ (năm 2000 và 2001) đã được nhiều trí thức và
yếu nhân trên thế giới đề nghị làm ứng viên giải Nobel Hòa Bình vì cảm
phục nỗ lực tranh đấu bất bạo động của các ngài.
Bài viết này
nhằm giới thiệu một số sự kiện quan trọng trong hành trình dấn thân của
Phật Giáo Việt Nam vào dòng sinh mệnh của dân tộc. Nó chỉ là một sơ thảo,
thiếu sót là điều chắc chắn có và sai lầm là điều không thể tránh khỏi ở
một số chỗ. Tác giả chân thành biết ơn sự chỉ bảo của chư thiện tri thức
về những sai sót để có thể bổ túc cho ấn bản sau hoàn chỉnh hơn.
T.T.KH.
( Các chữ viết tắt: BC :
trước Thiên Chúa Giáng Sinh .ÐÐ, TT, HT: Ðại Ðức, Thượng Tọa, Hòa Thượng.
VN: Việt Nam. Những chữ tắt trong ngoặc là tên tác phẩm tham khảo. Những
tên trong ngoặc đơn là thế danh hoặc pháp hiệu)
---o0o---
Mục Lục -
1 - 2
- 3 - 4
---o0o---
Trình
bày : Nhị Tường
Cập
nhật : 01-02-2002