DUY THỨC
TAM THẬP TỤNG LƯỢC GIẢI
Thích Trí Châu
Thanh Lương Thiền
Thất
Phật Lịch 2549,
2005
Đây
là bài nghiên cứu đầu tay, được bắt đầu soạn thảo từ năm 1995, nhưng vì
bận du phương tầm đạo nên bây giờ mới tạm hoàn chỉnh để giới thiệu đến
những ai hằng muốn bước vào ngưỡng cửa của Duy thức mà chưa có dịp tìm
hiểu.
Tập
Lược Giải về Duy Thức Tam Thập Tụng này được ra mắt quý vị là do công
sức đóng góp của rất nhiều bạn đồng đạo gồm cả tăng sĩ lẫn tục gia mà
danh tánh đều muốn để trong thầm lặng.
Đặc
biệt xin đa tạ giáo sư Nghiêm Xuân Hồng đã có hứng thú khi đọc các bản
sơ thảo khiến tác giả có được sự hăng say để viết tập sách đầu tay này.
Rất tiếc tập sách nhỏ này không kịp ra mắt khi giáo sư còn tại thế. Xin
lưu lại những ân tình sâu đậm ở đây với bài thơ Luân Vũ Xoay Tròn mà
giáo sư đã trao tặng vào giữa mùa xuân năm 1997:
Ta tìm ai
chiều nay qua mấy kiếp
Trong không hư nhìn lại mảnh hồn đau
Giấc liêu trai chiều nay ta vẫn thiếp
Cánh sông hồ bàng bạc chuyện xưa sau...
Xưa
hay sau? Ô hay kỳ lạ nhỉ!
Xưa
là xưa hay xưa lại là sau?
Thở
xưa ấy quanh co và kỳ ảo
Chìm vào không rồi lại nở ngàn sau...
Nên
kiếp sống là vòng tròn mộng huyễn
Sanh rồi không rồi lại nở ra hình
Cái
Không ấy là ông vua chú thuật
Hiện ra hình rồi lại biến vào Không.
Hình nộm ấy mang theo nhiều hệ lụy
Lụy
ăn uống, lụy nhớ tưởng, lụy tình duyên
Hồn
lắm lúc bồng bềnh như gió nhốt
Muốn hư vô mà chẳng hề có hư vô.
Tâm
với cảnh thiên thu dìu gót bước
Thấy như hai mà chẳng phải là hai
Nhịp luân vũ chập chùng và bất tuyệt
Ta
là ai mà chẳng phải là ai!
Vào
giữa mùa xuân năm 2000, cụ Hồng từ chối ở lại nhà thương để điều trị với
lý do muốn tịch tại nhà. Trên đường về nhà, cụ nhìn lên bầu trời và
than: "Ô hay! Bầu trời hôm nay đổi sắc". Thế rồi sau một buổi tối ngủ
vùi, cụ ra đi vào sáng sớm hôm sau.
Xin
đốt lên một nén hương lòng, và xin nguyện cùng nhau gặp gỡ lại, cùng đi
trên con đường giải thoát.
Nếu
tập sách này có giúp ích một chút gì cho những ai thì xin hồi hướng công
đức đến tất cả mọi loài. Còn nếu có những gì sơ sót thì riêng mình xin
nhận chịu.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Viết tại Thiền Thất Thanh Lương
Santa Ana,
California, USA
Mùa
Phật Đản, Phật Lịch 2547, 2003
Thích Trí Châu
PO
Box 1522
Westminster, CA 92684, USA.
Thầy Thích Trí Châu, pháp danh là Minh Trí, pháp hiệu là Trí Châu, là đệ
tử Việt nam duy nhất ở bên Mỹ được truyền thừa dòng thiền Vân Môn từ
Thiền Sư Phật Nguyên Diệu Tâm bên Trung Hoa.
Chuyên thực hành Thiền Tông Trung Hoa, trải nhiều thời gian tu tập tại
những thiền đường vắng vẻ, trong núi rừng như Tuyết Sơn Tự và tu viện
Long Beach thuộc hệ thống Vạn Phật Thành, tu viện Kim Sơn, thiền viện
của Thiền Sư Thánh Nghiêm ở Mỹ; trong rừng Thái Lan thuộc Tăng Đoàn
Thiền Lâm Quốc Tế (International Forest Sangha) của hệ thống Ajahn Cha,
Ajahn Chan và Ajahn Sumedho; trong thiền đường Mahasi Sayadaw ở Miến
Điện; trong các thiền viện Trung Hoa, Hồng Kông và Đài Loan.
Đã
từng tham vấn và tiếp cận rất nhiều thiền sư danh tiếng như Cố Đại Lão
Thiền Sư Dharmawara Mahathera (thọ 112 tuổi) người Cam Bốt và Thiền Sư
Thánh Nghiêm tại Mỹ Quốc; Cố Hòa Thượng Tâm Cẩn tại chùa Diên Hựu, Thiền
Sư Thanh Từ và Thiền Sư Thông Lạc tại Việt Nam; các Thiền Sư Trung Hoa
như Thiền Sư Đức Lâm tại Cao Mân Thiền Tự, Thiền Sư Như Thành tại Ngọa
Long Thiền Tự, Thiền Sư Nhất Thành tại Nam Hoa Thiền Tư, Thiền Sư Phật
Nguyên tại Vân Môn Thiền Tự; Thiền Sư Thánh Nhất tại Bảo Lâm Thiền Tự ở
Hồng Kông; Thiền Sư Truyền Bố và Cố Thiền Sư Trí Xuân ở Nam Đầu, Đài
Loan.
Tại
Đài Loan thầy Trí Châu đã từ chối tiếp nhận thiền viện của Lão Thiền Sư
Truyền Bố, một cao đồ của Cố Hòa Thượng Quảng Khâm, vì lý do còn muốn du
phương tầm đạo và chưa muốn dừng chân tại Đài Loan.
Đặc
biệt được truyền thừa tông phái Vân Môn từ Đại Hòa Thượng Diệu Tâm Phật
Nguyên tại Vân Môn Thiền Tự.
Thiền Sư Phật Nguyên khi xưa là thị giả của cố Thiền Sư Hư Vân, từng là
phương trượng của Nam Hoa Thiền Tự, hiện là phương trượng của Vân Môn
Thiền Tự ở Quảng Châu, Trung Hoa.
Cố
Thiền Sư Hư Vân (1840-1959) trụ thế 120 năm, là vị thiền sư Trung Hoa
danh tiếng cận đại, là người đã khôi phục lại 5 tông phái Thiền Tông
Trung Hoa gồm Lâm Tế, Tào Động, Quy Ngưỡng, Pháp Nhãn và Vân Môn.
Cố
Thiền Sư Hư Vân được coi là vị Tổ Sư Thiền thứ 12 của tông phái Vân Môn,
sau Tổ Vân Môn Văn Yển 11 đời. Thiền Sư Phật Nguyên thuộc đời thứ 13.
Thầy Trí Châu thuộc đời thứ 14 của tông phái Vân Môn, hiện đang hướng
dẫn khóa Thiền và Thư Giãn tại 12441B Magnolia St., Garden Grove,
California, USA.
E-mail liên lạc: vanmon_chan@yahoo.com.
Xin
kính lễ bậc Toàn Giác
Thế
Gian Giải, Thiên Nhơn Sư
Với
lòng tin bất thối chuyển
Nguyện cho bài lược giải này
Đạt
được nghĩa chân thật nhất
Đem
lợi lạc đến mọi người.
Giáo lý đạo Phật đặt căn bản trên hai hệ thống Nguyên Thủy
và Phát Triển mà khi xưa thường gọi là Tiểu Thừa và Đại Thừa.
Hệ
thống nguyên thủy dựa trên tư tưởng A tỳ đạt ma, còn hệ thống phát triển
dựa trên tư tưởng Duy thức học. Cả hai đều nghiên cứu về tâm thức của
con người. A tỳ đạt ma chia tâm thức ra làm 6 thức. Sáu thức đó là:
nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý thức. Duy thức học thì ngoài 6 thức trên
còn nói đến hai thức nữa là mạt na thức và a lại da thức. A tỳ đạt ma
chia tất cả các pháp ra làm 75 pháp, còn Duy thức học chia các pháp ra
làm 100 pháp, gọi là Bách pháp minh môn luận.
Duy
Thức Tam Thập Tụng là một tác phẩm Đại Thừa Phật Giáo gồm 30 bài kệ do
Bồ tát Thế Thân trước tác. Theo đó thì tất cả các hiện tượng và ý niệm
đều không thật có, chúng đều duyên khởi, do Chân Tâm bị vọng niệm quấy
động mà chuyển biến và biểu hiện ra. Tánh chất chân thực của tất cả các
hiện tượng và các ý niệm không thể do tri kiến thường tình mà giải thích
được mà phải là sự trực nhận do kết quả của sự tu tập thiền định khi đạt
được sự đột biến nội tại nơi tâm thức.
Phải có lòng tin vững chắc và sự phát tâm bất thối chuyển, nhất tâm kiên
cố tu trì theo giáo lý Phật Đà cho đến khi phá tan được tất cả những vô
minh vi tế nhất của phiền não chướng và sở tri chướng đã tích tập từ
thuở vô thủy thì Chân Tâm mới hiển lộ và hành giả mới thâm nhập và trực
nhận được thật tánh của các pháp.
Trước khi trước tác Duy Thức Tam Thập Tụng này, ngài Thế Thân đã viết A
Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận. Câu Xá Luận này cũng trình bầy về tâm thức nhưng
theo quan niệm của Phật Giáo Tiểu Thừa, theo đó tất cả các hiện tượng và
các ý niệm chỉ bao gồm trong 75 pháp.
Sau
khi được người anh là Vô Trước điểm hóa, Thế Thân chuyển hướng theo Đại
Thừa và trước tác nhiều tác phẩm đại thừa, chẳng hạn như: Đại Thừa Bách
Pháp Minh Môn Luận, Duy Thức Nhị Thập Tụng cùng chú giải và Duy Thức Tam
Thập Tụng, theo đó thì tất cả các hiện tượng và ý niệm của tam giới lục
đạo gom lại thành 100 pháp.
Tác
phẩm Duy Thức Nhị Thập Tụng khác với Duy Thức Tam Thập Tụng ở chỗ tác
phẩm thứ nhất chỉ nhằm mục đích phá vỡ các lập luận của các phái ngoại
đạo, còn tác phẩm thứ nhì thì trình bầy tất cả khía cạnh của tâm thức,
hiển bầy ra cái lý nhất thiết pháp duy tâm tạo, rồi đưa ra phương pháp
tu tập thiền định, nương vào hiện tướng của các pháp mà nhập được vào
thể tánh Chân Như. Vì thế mà phương pháp tu tập của Duy Thức còn được
gọi là tùng tướng nhập tánh.
Khi
ngài Thế Thân trước tác ra Duy Thức Tam Thập Tụng, ngài chưa viết lời
chú giải. Sau này có tới 10 luận sư chú giải, trong số này có các luận
sư Nan Đà (Nanda), An Huệ (Sthiramati) và Hộ Pháp (Dharmapala). Nhưng
hầu hết các bản chú giải này đều bị ngoại đạo ở Ấn Độ tiêu hủy. Hiện nay
chỉ có bản chú giải của ngài An Huệ bằng tiếng Phạn còn lưu truyền ở Tây
Tạng.
Vào
khoảng tiền bán thế kỷ thứ bẩy pháp sư Huyền Trang (599-664) từ Trung
Hoa sang Ấn Độ cầu pháp. Ngài đã được luận sư Giới Hiền (Silabhadra)
truyền dậy về Duy Thức tại học viện Na Lan Đà (Nalanda) trong khoảng
thời gian từ năm 633 đến năm 637. Ngài Giới Hiền khi xưa là đệ tử của
ngài Hộ Pháp, lúc ấy đã trên 100 tuổi và là một luận sư nổi tiếng về Duy
Thức.
Sau
khi tham học bên Ấn Độ được 16 năm (629-645) trở về Trung Hoa, ngài
Huyền Trang đã phiên dịch, chú giải và trước tác rất nhiều kinh luận Đại
Thừa, trong đó có Thành Duy Thức Luận, chú giải 30 bài tụng về Duy Thức
của bồ tát Thế Thân.
Các
chú giải của pháp sư Huyền Trang về Thành Duy Thức Luận là tập hợp những
chú giải của các luận sư nổi tiếng khi xưa nhưng phần chính là dựa trên
chú giải của ngài Hộ Pháp.
Vì
muốn làm hiển lộ thật tướng của Chân Tâm, một việc mà không có một ngôn
từ nào có thể diễn tả được, nên Duy Thức Học đã phải tạm đặt ra các danh
từ mới để đặt tên cho các hiện tượng, khái niệm cùng tánh chất của tất
cả các pháp, rồi từ đó lý giải ra cái chân lý rốt ráo của đạo Phật. Các
danh từ dùng trong Duy Thức đều rất trừu tượng và mới lạ. Các danh từ
nầy lại bắt nguồn từ tiếng Phạn, rồi lại được chuyển dịch ra tiếng Trung
Hoa nên môn Duy Thức Học càng trở nên khó khăn và rắc rối.
Cuốn Duy Thức Tam Thập Tụng Lược Giải nầy được trình bầy theo lối huân
tập nhằm cho những người mới nghiên cứu về Duy Thức làm quen được với
những danh từ và những lý luận mới lạ của Duy Thức.
Khi
nghiên cứu về Duy Thức, xin cứ thong thả để ý kỹ từng danh từ và những
giải thích về ý nghĩa của các danh từ đó. Nếu thấy vẫn còn chưa nắm vững
xin cứ tiếp tục đọc, các vấn đề đó sẽ được lập lại và từ từ sẽ được
thông suốt.
Cuốn lược giải này được viết dựa theo các tác phẩm về Duy Thức của Hòa
Thượng Thích Thiện Hoa, Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, Thiền Sư Nhất Hạnh.
Có nhiều đoạn đã được lấy ở tác phẩm Lăng Nghiêm Ảnh Hiện và Lăng Kính
Đại Thừa của Giáo Sư Nghiêm Xuân Hồng. Cũng có nhiều phần dựa vào các
băng giảng về các kinh Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm và Lăng Già Tâm Ấn của
Thiền Sư Thanh Từ cùng các băng giảng về Duy Biểu Học của Thiền Sư Nhất
Hạnh. Tuy nhiên không phải vì vậy mà kiến giải ở đây hoàn toàn giống
những kiến giải trong các tác phẩm và băng giảng nêu trên. Sự khác biệt
này không phải để bàn luận đúng và sai mà chỉ muốn được ghi lại những
kiến giải về Duy Thức Học của một cá nhân trong thời điểm này. Tuy nhiên
mọi sự phê bình và chỉ dẫn đều được hoan hỷ đón nhận.
Đặc
biệt xin đa tạ giáo sư Nghiêm Xuân Hồng đã hoan hỷ cho phép tùy nghi
trích dẫn và sao chép lại các đoạn văn trong các tác phẩm của giáo sư.
Mục
đích của cuốn Lược Giải này là muốn làm một chiếc bè nhỏ để tạm đưa quý
vị lênh đênh trên dòng sông Duy Thức. Nếu đã tắm mình trên dòng sông đó
rồi thì xin đừng để ý gì đến chiếc bè nhỏ này. Cũng xin đừng mê mẩn mãi
trong dòng sông đó mà quên đi sự tu trì hầu quay về được với Chân Tâm.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Viết tại tu viện Long Beach
Long Beach, CA, USA.
Mùa
thu năm 1995.
Thích Trí Châu
Bồ
tát Thế Thân sanh tại Bá Lộ Sa (Purusapura) còn gọi là Phú Lâu Sa Bổ La,
bây giờ là thành phố Peshawar thuộc vương quốc Kiền Đà La (Gandhara) ở
Bắc Ấn vào khoảng năm 316 Tây Lịch tức 860 năm sau khi đức Phật diệt độ.
Ngài là người con thứ hai của một gia đình Bà La Môn, cha là Kiều Thi Ca
(Kausika), mẹ là Tỷ Lân Trì (Virinci).
Khi
ngài mới ra đời thì anh ngài là Vô Trước (Asanga) đã là tu sĩ theo Phật
Giáo Đại Thừa. Ngài có người em là Tỷ Lân Trì Tử (Virincivatsa), theo
Phật Giáo Tiểu Thừa. Riêng ngài thì thuở ban đầu theo Phật Giáo Tiểu
Thừa, về sau được ngài Vô Trước điểm hóa nên chuyển theo Đại Thừa.
Tên
tiếng Phạn của ngài là Vasubandhu, dịch âm là Bà Tu Bàn Đầu, có nghĩa là
vị thân thuộc của trời nên dịch theo nghĩa là Thế Thân hoặc Thiên Thân.
Còn tên của anh ngài có nghĩa là không chấp chước tức không bị dính mắc
vào đâu cả. Tên của em ngài thì lấy theo tên mẹ, Tỷ Lân Trì (Virinci) là
tên mẹ, Tử (vatsa) là con.
Vô
Trước tu theo Đại thừa, vì muốn giác ngộ lý rốt ráo của các kinh điển
nên ngài bỏ vào rừng tu thiền định trong suốt 12 năm. Theo truyền thuyết
thì ngài đã nhập định lên cõi trời Đâu Xuất và được bồ tát Di Lặc đọc
cho năm bộ luận để truyền lại cho hậu thế. Năm bộ luận đó là:
1.
Du Già Sư Địa Luận
2.
Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận
3.
Thập Địa Kinh Luận
4.
Trung Biên Phân Biệt Luận
5.
Kim Cang Bát Nhã Luận
Ban
đầu Thế Thân theo học với phái Nhất Thiết Hữu Bộ thuộc Tiểu Thừa, lấy
Đại Tỳ Bà Sa Luận (Vaibhasika) làm căn bản. Khi nghiên cứu luận Đại Tỳ
Bà Sa, có nhiều điểm ngài còn nghi ngờ nên ngài hóa trang để đi đến Ca
Thấp Di La tức Kashmir bây giờ để điều nghiên thêm về Đại Tỳ Bà Sa vì Ca
Thấp Di La là nơi giảng giải luận chính thống Đại Tỳ Bà Sa.
Tại
Ca Thấp Di La, ngài nhập chúng và theo học với ngài Ngộ Nhập được 4 năm,
trong khoảng năm 342 đến 346 Tây Lịch.
Bị
phiền não vì Thế Thân hay đưa ra những ý kiến riêng để lập luận và bác
bỏ những phân tích quá giáo điều và chi li của các vị thầy, ngài Ngộ
Nhập bèn nhập định và biết được Thế Thân không thuộc hệ phái của Ca Thấp
Di La. Ngài liền khuyên Thế Thân nên trở về Kiền Đà La trước khi bị nguy
hiểm vì chân tướng bị phát giác.
Thế
Thân trở về Kiền Đà La, chuẩn bị thực hiện một dự án vĩ đại mà ngài có
trong đầu từ lâu. Để không bị bó buộc và thực hiện được dự án của mình,
Thế Thân ở tịnh xá riêng trong trung tâm của Bá Lộ Sa, tự túc sinh sống
bằng cách thuyết giảng giáo lý Phật Đà cho công chúng. Cứ sau mỗi buổi
thuyết giảng, ngài đúc kết những lời giảng thành những bài kệ, tất cả
tổng cộng đến hơn 600 bài kệ, giải nghĩa toàn thể hệ thống Đại Tỳ Bà Sa,
tạo thành bộ A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (Abhidharma-kosa), nói lên tất cả
những chỗ thiếu sót và không hợp lý của Đại Tỳ Bà Sa và trình bầy kiến
giải của mình. Bộ luận nầy cũng được gởi đến Ca Thấp Di La theo lời yêu
cầu của những học giả ngưỡng mộ ngài ở địa phương đó.
Chúng Hiền (Sanghabhadra) là một luận sư về chính thống Đại Tỳ Bà Sa, đã
từng cùng với Thế Thân tham học với ngài Ngộ Nhập ở Ca Thấp Di La, nghe
ngài Thế Thân sau khi tham học về đã làm luận Câu Xá bài phá nhiều điểm
cổ truyền của bản tông, liền viết ra hai bộ luận gọi là phá tà hiển
chánh, A Tỳ Đạt Ma Bảo Luận và A Tỳ Đạt Ma Hiển Tông Luận, để phản bác
lại luận cứ của ngài Thế Thân.
Tuy
nhiên vì hai bộ nầy chấp theo cựu thuyết nên nội dung còn nhiều chỗ lủng
củng không được thông suốt nên các học giả trong Hữu Bộ khi nghiên cứu
giáo lý bản phái chỉ tham cứu bộ A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận của ngài Thế
Thân mà thôi, còn hai bộ luận của ngài Chúng Hiền biên soạn thì bị coi
là phản bội với giáo nghĩa của Hữu Bộ. Câu Xá Luận sau này được gọi là
Tân Tỳ Bà Sa Luận, và ngài Thế Thân được coi là tân giáo chủ của phái
Hữu Bộ. Sau khi đúc kết xong bộ Câu Xá Luận, Thế Thân thường du phương
hoằng hóa. Cho tới bấy giờ ngài không những không thèm để ý đến những bộ
luận Du Già của người anh mà còn phỉ báng tất cả các kinh luận Đại Thừa,
cho đó chỉ là lý thuyết suông.
Biết được thái độ của nguời em như vậy, Vô Trước quyết đưa em mình vào
con đường Đại Thừa. Ngài phái hai đệ tử mang kinh luận Đại Thừa đến tìm
cách đọc cho Thế Thân nghe. Sau khi nghe hết các bộ kinh và luận Đại
Thừa đó, Thế Thân nhận ra Phật Giáo Đại Thừa thật ra rất thâm sâu cả về
lý thuyết lẫn thực hành, chứ không phải chỉ lý thuyết suông như ngài
hằng nghĩ trước kia. Hối hận vì xưa kia đã phỉ báng Đại Thừa, ngài muốn
cắt lưỡi tự tử. Các đệ tử của Vô Trước vội khuyên can và khẩn thiết yêu
cầu ngài tới thăm Vô Trước.
Thế
Thân trở về Bá Lộ Sa gặp Vô Trước và trong cuộc đàm luận với người anh
về Phật Giáo Đại Thừa, ngài đã nắm được các yếu chỉ của giáo lý Đại
Thừa. Vô Trước khuyên Thế Thân không nên tự tử mà nên dùng tài uyên bác
của mình để quảng bá giáo lý Đại Thừa hầu chuộc lại lỗi lầm phỉ báng Đại
Thừa khi xưa.
Cũng có thuyết cho rằng vì muốn thuyết phục em mình quay về với Đại
Thừa, Vô Trước đã viết thư cho Thế Thân báo rằng mình đang đau nặng và
chỉ có thể yên tâm nhắm mắt nếu Thế Thân hứa làm cho một việc, đó là đọc
tất cả các kinh Đại Thừa cho mình nghe. Dĩ nhiên là Thế Thân bằng lòng
thỏa mãn lời yêu cầu của người anh. Sau khi đọc hết các bộ kinh Đại Thừa
mà Vô Trước đưa cho, Thế Thân hoát nhiên ngộ nhập được ý nghĩa thâm sâu
của Đại Thừa. Ngài hối hận tỏ ý muốn cắt lưỡi tự tử để tạ cái tội đã phỉ
báng Đại Thừa, nhưng Vô Trước đã can ngăn và khuyên ngài hãy dùng cái
lưỡi đã phỉ báng Đại Thừa khi xưa để hoằng dương chánh pháp Đại Thừa.
Từ
đó về sau, Thế Thân chỉ chuyên tu trì, nghiên cứu, hoằng dương và trước
tác các luận giải thuộc Đại Thừa mà thôi. Ngài trước tác trên 500 luận
giải Đại Thừa, trong đó có các luận giải sau:
1.
Chú giải về Trung Biên Phân Biệt Luận
2.
Duy Thức Nhị Thập Tụng và chú giải
3.
Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận
4.
Duy Thức Tam Thập Tụng
5.
Tam Tự Tánh
6.
Phật Tánh Luận
Ngài tịch tại A Du Đà (Ayodhya) thuộc Trung Ấn năm 396 Tây Lịch tức Phật
Lịch 940, thọ 80 tuổi. Cũng có thuyết cho rằng ngài tịch tại xứ Nepal
thuộc Bắc Ấn.
(âm
hán)
1
Do
giả thuyết ngã pháp
Hữu
chủng chủng tướng chuyển
Bỉ
y thức sở biến
Thử
năng biến duy tam
2
Vị:
Dị thục, Tư lương
Cập
Liễu biệt cảnh thức
Sơ
A lại da thức
Dị
thục, Nhất thiết chủng
3
Bất
khả tri Chấp Thọ
Xứ Liễu.Thường dữ Xúc
Tác
ý, Thọ, Tưởng, Tư
Tương ưng duy Xả tho
4
Thị
vô phú vô ký
Xúc
đẳng diệc như thị
Hằng chuyển như bộc lưu
A
la hán vị xả
5
Thứ
đệ nhị năng biến
Thị
thức danh Mạt na
Y
bỉ chuyển duyên bỉ
Tư
lương vi tánh tướng
6
Tứ
phiền não thường câu
Vị:
ngã si, ngã kiến
Tinh ngã mạn, ngã ái
Cập
dữ xúc đẳng câu
7
Hữu
phú vô ký nhiếp
Tùy
sở sanh sở hệ
A
la hán, Diệt định
Xuất thế đạo vô hữu
8
Thứ
đệ tam năng biến
Sai
biệt hữu lục chủng
Liễu cảnh vi tánh tướng
Thiện, bất thiện câu phi
9
Thử
tâm sở biến hành
Biệt cảnh, thiện, phiền não
Tùy
phiền não, bất định
Giai tam thọ tương ưng
10
Sơ
biến hành xúc đẳng
Thứ
biệt cảnh vị: dục
Thắng giải, niệm, định, huệ
Sở
duyên sự bất đồng
11
Thiện vị: tín, tàm, quý
Vô
tham đẳng tam căn
Cần, an, bất phóng dật
Hành xả cập bất hại
12
Phiền não vị: tham, sân
Si,
mạn, nghi, ác kiến
Tùy
phiền não vị: phẫn
Hận, phú, não, tật, xan
13
Cuống, siễm dữ hại, kiêu
Vô
tàm cập vô quý
Trạo cử dữ hôn trầm
Bất
tín tinh giải đãi
14
Phóng dật cập thất niệm
Tán
loạn, bất chánh tri
Bất
định vị: hối, miên
Tầm, tứ, nhị các nhị
15
Y
chỉ căn bản thức
Ngũ
thức tùy duyên hiện
Hoặc câu hoặc bất câu
Như
đào ba y thủy
16
Ý
thức thường hiện khởi
Trừ
sanh vô tưởng thiên
Cập
vô tâm nhị định
Thùy miên dữ muộn tuyệt
17
Thị
chư thức chuyển biến
Phân biệt, sở phân biệt
Do
thử bỉ giai vô
Cố
nhất thiết duy thức
18
Do
nhất thiết chủng thức
Như
thị như thị biến
Dĩ
triển chuyển lực cố
Bỉ
bỉ phân biệt sanh
19
Do
chư nghiệp tập khí
Nhị
thủ tập khí câu
Tiền dị thục ký tận
Phục sanh dư dị thục
20
Do
bỉ bỉ biến kế
Biến kế chủng chủng vật
Thử
biến kế sở chấp
Tự
tánh vô sở hữu
21
Y
tha khởi tự tánh
Phân biệt duyên sở sanh
Viên thành thật ư bỉ
Thường viễn ly tiền tánh
22
Cố
thử dữ y tha
Phi
dị phi bất dị
Như
vô thường đẳng tánh
Phi
bất kiến thử bỉ
23
Tức
y thử tam tánh
Lập
bỉ tam vô tánh
Cố
Phật mật ý thuyết
Nhất thiết pháp vô tánh
24
Sơ
tức tướng vô tánh
Thứ
vô tự nhiên tánh
Hậu
do viễn ly tiền
Sở
chấp ngã pháp tánh
25
Thử
chư pháp thắng nghĩa
Diệc tức thị Chân Như
Thường như kỳ tánh cố
Tức
Duy Thức Thật Tánh
26
Nãi
chí vị khởi thức
Cầu
trụ duy thức tánh
Ư
nhị thủ tùy miên
Do
vị năng phục diệt
27
Hiện tiền lập thiểu vật
Vị
thị duy thức tánh
Dĩ
hữu sở đắc cố
Phi
thật trụ duy thức
28
Nhược thời ư sở duyên
Trí
đô vô sở đắc
Nhĩ
thời trụ duy thức
Ly
nhị thủ tương cố
29
Vô
đắc bất tư nghì
Thị
xuât thế gian trí
Xả
nhị thô trọng cố
Tiện chứng đắc chuyển y
30
Thử
tức vô lậu giới
Bất
tư nghì thiện thường
An
lạc giải thoát thân
Đại
Mâu Ni danh pháp
(phiên dịch)
1
Ngã
và pháp không thật
Các
chủng tướng chuyển hiện
Đều
là do thức biến
Thức năng biến có ba
2
Là
Dị thục, Tư lương
Và
thức Liễu biệt cảnh
Thứ
nhất A lại da
Dị
thục, Nhất thiết chủng
3
Không thể biết thọ thân
Xứ
nào. Thường cùng Xúc,
Tác
ý, Thọ, Tưởng, Tư
Chỉ
tương ưng Xả thọ
4
Tánh vô phú vô ký
Các
biến hành cũng vậy
Hằng chuyển như nước dốc
A
la hán thì xả
5
Thức năng biến thứ hai
Gọi
là thức Mạt na
Nương kia chuyển, duyên kia
Tư
lương làm tánh tướng
6
Tương ưng bốn phiền não
Là
ngã si, ngã kiến
Cùng ngã mạn, ngã ái
Và
tâm sở xúc thẩy
7
Tánh hữu phú vô ký
Sanh theo A lại da
Chứng La hán, Diệt định
Xuất thế đạo không còn
8
Thức năng biến thứ ba
Có
sáu loại khác nhau
Tánh tướng là biết cảnh
Thiện, bất thiện, vô ký.
9
Các
tâm sở biến hành
Biệt cảnh, thiện, phiền não
Tùy
phiền não, bất định
Đều
tương ưng ba thọ
10
Các
biến hành: xúc thẩy
Các
biệt cảnh gồm: dục
Thắng giải, niệm, định, huệ
Cảnh sở duyên không đồng.
11
Thiện gồm: tín, hổ, thẹn
Không tham thẩy ba thứ
Chăm, yên, không phóng dật
Xả
bỏ và không hại
12
Phiền não gồm: tham, sân
Si,
mạn, nghi, ác kiến.
Tùy
phiền não gồm: phẫn
Hận, phú, não, tật, xan
13
Dối, nịnh và hại, kiêu
Không hổ và không thẹn
Trạo cử với hôn trầm
Không tin cùng giải đãi
14
Phóng dật và mất niệm
Tán
loạn, không chánh tri
Bất
định gồm: hối, miên
Tầm, tứ, hai đều hai
15
Nương nơi thức căn bản
Năm
thức hiện theo duyên
Hoặc cùng hoặc chẳng cùng
Như
sóng nương nơi nước
16
Ý
thức thường hiện khởi
Trừ
sanh trời vô tưởng
Và
hai định vô tâm
Ngủ
say và chết giấc
17
Tất
cả thức chuyển biến
Phân biệt, bị phân biệt
Do
đây kia đều không
Nên
tất cả duy thức
18
Do
thức nhất thiết chủng
Biến như vậy, như vậy
Vì
năng lực triển chuyển
Kia
kia phân biệt sanh
19
Do
tập khí các nghiệp
Cùng tập khí hai thủ
Nên
dị thục trước hết
Lại
sanh dị thục sau
20
Do
kia kia biến kế
Biến kế chủng chủng vật
Biến kế sở chấp này
Tự
tánh vô sở hữu
21
Tự
tánh y tha khởi
Do
duyên phân biệt sanh
Viên thành thật nơi đó
Xa
lìa biến kế trên
22
Nên
nó cùng y tha
Chẳng khác không chẳng khác
Như
các tánh vô thuờng
Thấy đây mới thấy kia
23
Nương nơi ba tánh kia
Lập
ba không tánh này
Nên
Phật mật ý nói
Tất
cả pháp không tánh
24
Trước là tướng không tánh
Kế
không tự nhiên tánh
Sau
đó lìa tánh trước
Là
tánh chấp nghã pháp
25
Đây
thắng nghĩa các pháp
Cũng tức là Chân như
Vì
tánh thường như vậy
Tức
Thật Tánh Duy Thức
26
Khi
chưa khởi được thức
Cầu
trụ Duy Thức Tánh
Thì
hai thủ tiềm ẩn
Vẫn
chưa thể diệt trừ
27
Nếu
còn một chút gì
Cho
là Duy Thức Tánh
Là
còn có Sở Đắc
Chẳng thật trụ Duy Thức
28
Nếu
khi đối sở duyên
Trí
đều không sở đắc
Mới
thật trụ Duy Thức
Vì
đã lìa hai thủ
29
Không đắc chẳng nghĩ bàn
Là
trí xuất thế gian
Xả
hết hai trọng chướng
Nên
chứng quả chuyển y
30
Đấy
là cõi vô lậu
Thiện Thường chẳng nghĩ bàn
Thân giải thoát an vui
Gọi
là Đại Mâu Ni
Duy
thức học là một môn học nghiên cứu và khảo sát tất cả các tính chất của
tâm thức con người và các hiện tướng của vũ trụ vạn vật. Từ đó Duy Thức
Học chứng tỏ được rằng tất cả các pháp đều từ nơi Chân Tâm mà chuyển
hiện ra, được gọi là Pháp Tướng. Chân Tâm là nguồn gốc của tất cả các
pháp, là thể tánh chân như của các pháp, được gọi là Pháp Tánh.
Nguồn gốc của Duy Thức có thể tìm thấy trong các bài kinh, bài tụng hay
các bài luận giải của Phật giáo nguyên thủy và đại thừa như kinh A Hàm,
kinh Hoa Nghiêm, kinh Giải Thâm Mật, kinh Lăng Già Tâm Ấn, kinh Lăng
Nghiêm, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận, Du Già Sư Địa Luận, Bách Pháp Minh Môn
Luận, Duy Thức Nhị Thập Tụng, Duy Thức Tam Thập Tụng, Bát Thức Qui Củ
Tụng, v.v...
Bồ
tát Thế Thân đã trước tác ra bộ Bách Pháp Minh Môn Luận, theo đó thì tất
cả mọi hiện tượng, nhận thức, khái niệm và tư tưởng đều không ra ngoài
100 pháp. Tất cả Pháp Tướng đều nằm trong 100 pháp đó. Ngài cũng viết 30
bài tụng gọi là Duy Thức Tam Thập Tụng để giải thích mọi khía cạnh của
vũ trụ và vạn vật để sau đó chỉ ra được cái thật tánh của tất cả các
pháp. Thật tánh này chính là cái Pháp Tánh hay là cái Chân Tâm đã nói ở
trên. Do đó phương pháp của ngài được gọi là Tùng Tướng Nhập Tánh, nương
nơi hiện tướng mà nhập được thể tánh chân như.
Theo Duy Thức Học thì tất cả pháp đều không thật có, chúng chỉ là biểu
hiện của Tâm Thức, không có tự thể chân thật, luôn luôn sanh diệt và
biến chuyển không ngừng. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật bảo ông A Nan:
A Nan phải biết, diệu tánh vốn viên minh, rời các danh tướng, xưa nay
không có thế giới và chúng sanh. Nhơn vọng có sanh, nhơn sanh có diệt,
sanh diệt gọi là vọng, diệt vọng gọi là chơn.
Thật tánh của chúng sanh vốn trong sáng cùng khắp. Do cái tự tánh trong
sáng đó, chúng sanh lại vọng tưởng là có tánh sáng mà đem ra chiếu soi
nên chân tâm bị chuyển biến thành ra tâm thức. Tâm thức còn được gọi là
tâm hay là thức. Từ nơi chân như rốt ráo thanh tịnh lại khởi ra phân
biệt cái có và cái không. Cứ thế tâm vọng tưởng phân biệt cứ huân tập
tới lui không ngưng nghỉ trong tâm thức tạo ra các hình ảnh, các hiện
tướng mà Duy Thức gọi là chủng tử và hiện hành.
Các
chủng tử và hiện hành cứ chập chùng xoay vần, chiếu soi lẫn nhau. Các
chiếu soi này, lúc là năng, lúc là sở, lúc là chủ thể, lúc là đối tượng,
liên tục lập đi lập lại, huân tập, tăng thượng, sanh diệt chuyển biến
không ngưng nghỉ, tạo nên vô lượng các loại chủng tử và hiện hành mới.
Khi đầy đủ nhân duyên thì các chủng tử và hiện hành này chín mùi, chuyển
biến thành một chúng sanh chánh báo trong một thế giới y báo. Chánh
báo đó là cái thân xác ngũ uẩn của chúng ta, còn gọi là ngã; y
báo là thế giới và vạn vật nơi chúng ta nương tựa và sinh sống, còn
gọi là pháp. Chánh báo và y báo là cái nghiệp báo mà chúng ta nhận lãnh,
là quả báo của vô lượng các hành nghiệp mà chúng ta đã tạo ra trong vô
lượng kiếp quá khứ. Chánh báo hay ngã là nghiệp quả riêng của mỗi chúng