THIỀN ĐỊNH CON ĐƯỜNG HƯỚNG ĐẾN
BÌNH AN VÀ TRÍ TUỆ
Thích Nữ Huệ Thiện
DẪN NHẬP
Chuyện kể rằng: Có một người phụ nữ ôm xác con
đến tìm Phật, mong người cứu sống. Phật bảo: Bà
hãy đi xin một hạt cải của nhà nào không có
người chết đến đây ta sẽ giúp bà. (Điều dĩ nhiên
mà ai cũng hiểu đã có sinh ắt có tử, thì gia
đình nào mà không có người đã chết hoặc già,
hoặc trẻ). Nhưng vì lòng thương con, người mẹ ấy
vẫn ôm xác con đi cố kiếm tìm mong xin được hạt
cải của nhà không có người chết. Và người mẹ đã
bắt đầu từ những bước chân đi khập khiễng khổ
đau, tiếp giáp với thực tế nghiệt ngã của cuộc
đời. Đến lúc hơi tàn lực kiệt bà mới hiểu được
rằng: bản chất của muôn vàn hiện hữu là như thế…
mãi mãi không ra ngoài vòng sanh, trụ, dị, diệt.
Qua câu chuyện đó cho chúng ta thấy phương pháp
của Phật đã dạy cho đồ chúng thật là thiên biến
vạn hóa, tùy theo trường hợp ngữ cảnh mà Ngài có
sự khai thị khác nhau. Đồng thời cũng cho chúng
ta phút giây trầm ngâm suy nghĩ lại có phải:
Hình bóng người phụ nữ ấy cũng chính là bản sao
tâm trạng của mình? Bởi trong cuộc sống với muôn
ngàn thành bại, đắc thất có lúc mình cũng tự
lừa dối mình như thế để mong cầu hạnh phúc… mà
hạnh phúc vẫn xa thật là xa!
Cho nên, xác định một hướng đi một lối nhìn, một
cách sống thiết thực vẫn là điều cấp thiết cho
những ai khát khao hạnh phúc. Vì bởi bước khởi
động có tầm quan trọng và nền tảng cho cuộc sống
tiếp tới, nhưng bắt đầu như thế nào. Đó mới là
điều tiên quyết, để quyết định một cuộc sống
hạnh phúc thật sự.
Để cuộc đời bớt cơn sóng dậy, để mọi chúng sinh
được an lạc từ mỗi bước chân đi, Đức Phật đã dạy
rằng:
“Quá khứ không truy tìm,
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến.
Chỉ có phép hiện tại,
Tuệ quán chính là đây”. [5, 44]
Bằng sự bình an của cõi lòng, con mắt tuệ nhẹ
nhàng như người thi sĩ dạo chơi giữa vườn hoa
trăm sắc… Ở đó, thời gian dù trước, dù sau không
hề chi phối, chỉ có lúc này, phút giây hiện tại
là hoa nở bướm bay sắc màu trang hoàng lộng lẫy.
Hạnh phúc tìm trong mỗi bước chân đi với sự thể
nhập hiểu biết tự thân theo từng phút giây đương
niệm.
Và đó, trong kinh còn ghi lại lời Phật đã dạy:
“Này các Thầy tỳ kheo, con đường độc nhất đưa
đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt qua mọi sầu
não khổ ưu, thành tựu chính trí, hiện chứng Niết
bàn là con đường này: Đó là bốn niệm xứ”. [3, 9]
Bốn niệm xứ là lời Phật đã dạy cho đồ chúng
trong những buổi hàn huyên tâm sự, thấm đẫm tình
đạo vị. Những lời dạy chân tình, gần gũi thiêng
liêng ấy với tấm lòng từ bi muốn chuyển tải
những gì mình thấy được,hiểu được đến kẻ hậu
lai. Để từ đó tiếp nối mỗi khi mở lại trang kinh
vẫn cảm nhận được lời Người – bậc thầy của nhân
thiên, đẫm đầy tính nhân văn, nhân bản và tính
cách mạng mà Đức Phật muốn trao lại cho mình với
tư cách là người tự hoàn thiện đến với con
người.
Mới hay rằng, những khát khao hướng về chân lý,
tìm cầu giải thoát không ở đâu xa, trên trời cao
hay dưới lòng sâu biển cả. (mà ngay trong phút
giây này tự tìm về trong mỗi người để thấy được
hai phần Danh và Sắc là những hợp chất kết hợp
với nhau tạo thành một tiểu vũ trụ đầy đủ tánh
sanh diệt, sớm đổi chiều thay đang thôi thúc con
người đi về hướng chông gai, góc cạnh khổ sầu).
Cho nên con đường tu tập Tứ niệm xứ là hướng đi
đầy đủ chất an toàn mà mỗi người đều tự có khả
năng hành trì, thực tập và chắc rằng sẽ mạnh mẽ
đầy đủ nghị lực vượt qua bao trầm luân cuộn chảy
của dòng nhân thế.
Đã hơn hai ngàn năm trăm năm trôi qua, lời Phật
dạy đã xưa mà không cũ. Vì bởi, thế giới hôm nay
với nền khoa học kỷ thuật phát triển cao, đời
sống hiện đại đem lại cho người ta hai nỗi niềm
hoan hỉ vì tiện nghi và lo sợ vì bệnh tật ô
nhiễm mỗi trường và những hội chứng trầm cảm. Có
phải chăng đây là một thành tựu chứa hai hương
vị ngọt ngào và cay đắng để khẳng định rằng:
Hướng đi nào bằng sự mê mờ, khao khát kiếm tìm,
chinh phục thế giới ngoài tâm thức, thiếu cái
nhìn của trí tuệ thì hạnh phúc chẳng bao giờ
trọn vẹn.
Hôm nay, với trí thiển tài sơ, hành chưa cùng
hiểu chưa tân người viết đã mạo muội trình bày
đề tài “THIỀN ĐỊNH – CON ĐƯỜNG HƯỚNG ĐẾN BÌNH
AN, TRÍ TUỆ” thật có khác gì cá nhìn dưới nước
kể chuyện trên bờ. Thế nhưng, sau bao năm mang
nặng nghĩa tình của ân sư và những thâm tình của
bao người dày công nuôi dạy, người viết xin được
tập làm học giả góp nhặt tri kiến của những bậc
trưởng lão – người đi trước mà thực hiện một
tiểu luận nhỏ nhoi. Trước là nói lên cảm nhận
của mình nguyện lòng ghi nhớ hành trì, sau là có
một chút gì nho nhỏ mong được tâm sự, sẽ chia
cùng bạn đồng tu và những người có duyên trùng
ngộ.
Thiền – là một phương pháp, là lối sống được mọi
người quan tâm. Đồng thời phương pháp Thiền cũng
rất đa dạng phong phú đòi hỏi người học, người
hành trì phải có cái nhìn rộng rãi, bao quát và
sự nhận định sáng suốt. Hơn nữa, trãi qua chiều
dài lịch sử Thiền đã được phát triển, xiển dương
thành nhiều nhánh. Tuy nhiên, trong phạm vi đề
tài này, người viết chỉ xin được giới hạn về
Thiền tứ niệm xứ với dàn bài nội dung như sau:
1. Khái niệm về Thiền
2. Phương pháp thực hành Thiền tứ niệm xứ.
3. Lợi ích của việc thực hành Thiền.
NỘI DUNG
Chương I: KHÁI NIỆM VỀ THIỀN
1. ĐỊNH NGHĨA:
1.1. Thiền là gì?
Thiền, cách nói tắt của “Thiền na”, phiên âm
theo Hán Việt của chữ Phạn Jhana hay Dhyana
trong Sanskirt.
Theo từ điển Phật học Huệ Quang, Dhỳana hay
Jhāna ngoài tiếng phiên âm là Thiền-na , còn
được phiên âm là Đà-diễn-na,, Trì-a-na, dịch là
tĩnh lự, tư duy tu tập, nghĩa là tư duy trong sự
vắng lặng.
Tiến sĩ Muller, một học giả Bắc tông, tác giả
quyển Tự điển thuật ngữ Phật học Đông Á
(Dictionary của East Buddhist Terms), Thiền định
là tiếng ghép đôi, từ chữ Phạn là “Định” có
nghĩa là quay nhìn vào bên trong với trạng thái
tĩnh lặng.
Trong quyển Phật học tự điển, cư sĩ học giả Bắc
tông Đoàn Trung còn viết rằng: Thiền là chữ
“Thiền na” âm tiếng Phạn “Jhana, Dhyana”. “Thiền
định” dùng để dịch chữ “samādhi” phiên âm là
Tam-ma-địa, Tam muội. Có khi dịch là “Tĩnh lự”,
nghĩa là làm cho an tĩnh để suy xét.
Thiền còn được dùng để dịch chữ Bhāvana có thể
hiểu như là một sự tiến triển, phát triển tâm
linh, sự tu tập tâm, sự luyện tâm. Mà tiếng Anh
thường dịch là Metal development. Samadhi thường
dịch là Định, Thiền định, tâm định. Tiếng Anh
thường dịch là concentration, Meditation.
1.2. Thiền vipassana được hiểu như thế
nào?
Thiền na, trong Kinh điển Nguyên thủy dùng để
chỉ mức độ an định đặc biệt khi luyện tâm. Còn
gọi là Thiền Tứ niệm xứ, Thiền quán hay Thiền
vipassana. Thiền vipassana là một phương pháp
duy nhất để giúp cho chúng ta có được một đời
sống nội tâm lành mạnh, an lạc – vì phương pháp
này tẩy sạch, thâm sân si bằng chính khả năng
của chính mình. Thiền vipassana là gì? Đây là
phương pháp xóa tan mọi niềm tin mù quán; sự
nương tựa vào các bậc thần thánh hay thượng đế,
cũng không phải là một sự giải trí về trí óc hay
triết học. Vipassana có nghĩa là: “vi” là một
cách đặc biệt, “passa” là nhìn, là quan sát,
vipassana nghĩa là quan sát theo dõi danh pháp
và sắc pháp một cách đặc biệt. Song Thiền
vipassana có tầm đặc biệt như thế nào thì cũng
như người uống nước nóng lạnh tự biết, chỉ có
người thực hành Thiền này mới cảm nhận được sự
vi diệu một cách sâu sắc.
Thiền vipassana dựa trên bốn đề tài: thân, thọ,
tâm và pháp, đưa đến chứng đắc bốn ĐẠO QUẢ GIẢI
THOÁT và phiền não cũng được đoạn trừ theo từng
cấp bậc tu chứng.
2. GIỚI THIỆU VÀI NÉT CƠ BẢN VỀ THIỀN TRONG
KINH TẠNG PĀLI:
Kinh tạng Pāli là một trong những tạng Kinh chủ
yếu kết tập lần thứ ba vào thế kỷ thứ ba TCN,
được con của vua A Dục là Ma-sái-đà đem truyền
vào Srilanka và phát triển ở đó rất mạnh. Tại
Việt Nam tạng kinh Pāli được hòa thượng Minh
Châu phiên dịch ra tiếng Việt. Trong tạng kinh
này tựu trung là những kinh nghiệm thực tiễn quý
báu mà Đức Phật đã dạy cho hàng đồ chúng tu
tập. Và có thể xem như là kim chỉ nam đưa đường
cho những chúng sanh tìm về miền bình an hạnh
phúc.
Mỗi khi lật lại trang kinh, và có thêm sự hiểu
biết về chân lý nhiệm màu, chúng ta có quyền cho
mình niềm hạnh phúc về con đường mình đã chọn.
Vì con đường ấy có một bóng hình lồng lộng như
ngọn hải đăng soi đường cho ta giữa đêm dài mịt
mù sanh tử. Bóng hình ấy là Ngài – Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni, một người dù sống giữa quyền uy
nhung lụa nhưng nhìn thấy được cảnh đời tang
thương dâu bể mà lòng không thôi quay quắt về
chân trời mới, với lối thoát khỏi nỗi khổ sầu về
kiếp người sanh, lão, bệnh, tử. Những nỗi niềm
ấy cứ xoáy vào lòng người theo ngày xuống đêm
về. Từ đó, dòng Noma dẫu có dài và rộng cũng
không ngăn nỗi bước chân của Người đang sôi sục
ý chí tìm đường giải thoát cho nhân loại.
Trên hành trình tìm chân lí, Ngài đã khéo gạn
đục khơi trong, chắc lọc những điều tuyệt diệu
mà giữa bối cảnh xã hội với biết bao nhiêue quan
điểm, triết lý để thực hành, chứng đắc bằng sự
nỗ lực, kiểm nghiệm bằng chính bản thân.
Kinh nghiệm đầu tiên phải kể đến đó là Ngài đã
học, hành và chứng đắc từ đạo sư Alarakalama về
pháp môn vô sở hữu xứ, nghĩa là Ngài đã được
thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, quân bình và đạo
sư Uddaka Ramaputta về pháp môn phi tưởng phi
phi tưởng xứ dứt trừ hết phiền não do tâm tưởng
thô lậu gây ra ở các cấp sống thấp, nhưng không
dứt được phiền não vi tế do tâm tưởng vi tế nhỏ
nhiệm gây ra. Nói chung trạng thái Thiền này vẫn
chưa thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử vì thế mà
sau khi học hành, chứng đắc dù cho cả hai vị đạo
sư đều phải công nhận rằng “Pháp mà tôi tự tri,
tự chứng, tự đạt và tuyên bố, chính pháp ấy hiền
giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú. Pháp mà
hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an trú,
chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và
tuyên bố. Pháp mà tôi biết, chính pháp ấy hiền
giả biết, pháp mà mà hiền giả biết, chính pháp
ấy tôi biết, tôi như thế nào hiền như vậy. Nay
hãy đến đây, hiền giả! Hai chúng ta hãy chăm sóc
hội chúng này “Lúc ấy, trong thâm tâm Ngài chợt
nghĩ rằng “Pháp này không đưa đến yểm ly, không
hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt,
không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng
trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến
Niết bàn mà chỉ đưa đến chứng đạt vô sở hữu xứ,
phi phi tưởng xư(. Như vậy, này các Tỳ kheo, ta
không tôn kính pháp này, từ không khước pháp ấy
ta bỏ đi”. [4,146]
Và ngài tiếp tục dấn thân vào hành trình mới để
đưa đến kinh nghiệm thứ hai rằng: Muốn đoạn trừ,
tham, sân, si thì phải xả bỏ xa lìa mọi dục
vọng, mọi thèm muốn vị ngọt giả tạm của thế gian
và xả bỏ xa lìa những niệm, những hành động xấu
ác. Lúc ấy với tầm nhìn đúng đắn (chánh kiến)
Đức Đạo sư đã xác định một điều như thế. Tuy
nhiên, chỉ với cách nhìn vẫn chưa đủ mà đòi hỏi
bản thân mỗi hành giả phải có sự tu tập để đoạn
trừ tham, sân, si đến tận gốc rễ. Ngài đã nói
rằng: “Này Mahānama, thuở xưa khi ta còn là Bồ
tát, chưa chứng được Bồ đề, chưa thành chánh
đẳng giác, ta với chánh kiến, khéo thấy như
thật; các dục vui ít khổ nhiều, não nhiều, sự
nguy hiểm ở đây càng nhiều hơn. Dầu ta khéo thấy
với như thật chánh kiến, nhưng ta chưa chứng
được hỷ lạc do ly dục, ly bất thiện pháp sanh
hay một pháp nào khác cao thượng hơn và như vậy
ta biết rằng ta chưa bị các dục chi phối. Này
Mahānama, khi ta khéo thấy với như thật chính
quán; các dục vui ít khổ nhiều, não nhiều, sự
nguy hiểm ở đây càng nhiều hơn và ta chứng được
hỷ lạc do ly dục, ly bất thiện pháp sanh hay một
pháp nào khác cao thượng hơn. Như vậy, ta biết
rằng ta không bị các dục chi phối”. [4, 924]
Từ kinh nghiệm này, sau này Đức Phật đã thiết
lập thành ba pháp học căn bản đó là Giới, Định,
Tuệ.
Trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ thì các nghi lễ
và những hình thức khổ hạnh rất được mọi người
trung thành, kính ngưỡng tôn thờ. Những hình
thức khổ hạnh mà theo họ – những người Ấn Độ
đương đại, cho đó là tiêu chí để đạt được giải
thoát. Cho nên, sau hai kinh nghiệm trước Đức
Phật cũng tự bản thân bước vào sự tu tập khổ
hạnh này.
Ngài đã thực hành phép khổ hạnh đứng một chân
giữa nắng, ăn một ngày một hạt cơm và đến cả
việc thực hành pháp tuyệt thực. Thời gian sáu
năm trôi qua, dáng vẻ oai hùng, đẹp đẽ của chàng
thái tử năm nào không còn nữa, mà đến cả mạng
sống tưởng chừng như không còn giữ được. Chính
lúc ấy, Ngài lại ngộ ra một điều rằng: pháp khổ
hạnh chưa phải là cứu cánh giải thoát. Ngài lại
quyết định thay đổi phương pháp, Ngài đã ăn uống
điều độ để tiếp tục cuộc kiếm tìm chân lý.
Chính lúc Ngài có quyết định trọng đại cũng là
lúc Ngài lại mất đi sự khổ hạnh của các bạn đồng
tu trong sáu năm qua. Nhưng quyết không ngã lòng
Ngài đã đi vào cuộc thực nghiệm tìm cầu chân lý
trong trạng thái cô đơn, độc hành và cuối cùng
đã đạt được chân lý thâm diệu mở ra chân trời
hạnh phúc cho bao thế hệ con người. Từ đó, chúng
ta thấy một điều rằng: con người của Phật là một
con người đầy nỗ lực, đã dấn thân bôn ba khắp
mọi nẻo đường bằng tất cả sự kiên trì không mệt
mỏi để tìm cầu chân lý. Một người thật vĩ đại đã
bỏ cả sự giàu sang, bỏ cả thâm tình thân hữu đem
tuổi thanh xuân của mình để khám phá tìm tòi con
đường hạnh phúc cho đời. Chính vì sự nổ lực ấy,
ta có thể hiểu đượng lòng Người mong mỏi ở chúng
ta là sự nổ lực tự thân, tìm đến Ngài để thực
hành và sẽ hạnh phúc chứ không phải tìm đến Ngài
để ước vọng, cầu xin:
“Nếu có người làm mười ác hạnh, rồi một quần
chúng đông đảo đến cầu xin, cầu khẩn chắp tay,
mong rằng người ấy sẽ sanh thiện thú, thiện giới
sự cầu như vậy vô ích, vì người ấy làm mười ác
hạnh sẽ rơi vào địa ngục ví như một người quăng
một tảng đá vào hồ nước, rồi một số đông đảo
quần chúng đến cầu xin, cầu khẩn, chắp tay mong
cầu rằng: tảng đá ấy sẽ được nổi lên, sự cầu
khẩn như vậy là vô ích, vì tảng đá ấy với sức
mạnh của nó, không thể nổi lên, không thể trôi
vào bờ như lời cầu xin của quần chúng ấy”. [8,
313]
Đó cũng là hành trang căn bản giành cho những ai
khát khao hướng tìm chân lý. Hơn nữa, Đức Phật
cũng đã dạy rằng:
“Tự mình điều ác làm,
Tự mình làm nhiễm ô,
Tự mình không ác làm,
Tự mình làm thanh tịnh,
Không ai thanh tịnh ai” [9, 165]
Những lời dạy ấy cho mọi hành giả sự nhận biết
sáng suốt về khả năng vi diệu mà ngay trong dòng
tương tục của đời sống thì mình là chủ nhân của
chính nghiệp lực của mình. Vì thế, nên mỗi hành
giả có thể tự điều khiển cuộc sống tâm linh cũng
như đời sống vật chất của tự thân. Cho nên, với
bước khởi đầu là cái nhìn sáng suốt, rõ ràng và
chân lý thật (chánh kiến – samma dithi) về tự
ngã để điều chỉnh nếp sống, trừ bỏ mọi căn
nguyên, cội rễ của trầm luân, sanh tử. Lúc ấy,
cửa Niết bàn với mọi điều hạnh phúc chân thật sẽ
mở ra chào đón những người có tâm hồn hướng
thiện, bằng sự tự nguyện cải thiện mình, làm mới
mình, xa lìa con người cũ kỹ đầy tham lam, sân
hận, si mê thành sáng suốt, an tịnh.
Hành trình tìm về chân lý được Đức Phật dạy rõ
trong Tạng Kinh Nikàya và mỗi bài kinh phù hợp
theo từng căn cơ trình độ của đối tượng mà Đức
Phật thuyết pháp. Cho nên, nói vể bảy giai đoạn
thanh tịnh hóa tâm thức Đức Phật cũng đã dạy rất
rõ ràng qua bài Kinh Trạm Xe, trong Kinh Trung
Bộ, bài số 26 theo tiến trình sau “Giới thanh
tịnh, tâm thanh tịnh, kiến thanh tịnh, đoạn nghi
thanh tịnh, Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, đạo
tri kiến thanh tịnh và tri kiến thanh tịnh”.
1. Giới thanh tịnh: Tức là tuân giữ nghiêm túc
những giới đã được thọ bằng sự nỗ lực, tự giác.
2. Tâm thanh tịnh: Là nhiếp phục năm triền cái,
đưa tâm an trú vào các thiền na.
3. Kiến thanh tịnh: Là phân biệt rõ danh – sắc,
sự thấy đúng về danh và sắc được an lập trên nền
tảng sáng suốt và vượt qua những ảo tưởng về tự
ngã.
4. Đoạn nghi thanh tịnh: Thấy rõ sự hiển bày của
tâm lý và vật lý qua sự thật duyên khởi, sự tồn
tại và sự tan rã của các cảm thọ, các tưởng nên
không còn nghi ngờ gì nữa.
5. Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh: Với sự tỉnh
giác mà hiểu biết rằng trên con đường phát triển
trí huệ rộng lớn thì cảm thọ hỷ lạc đều là
chướng ngại. Nên rõ biết cái gì là Đạo và cái gì
là chướng Đạo, và tự biết chắc rằng: giờ đây đã
có hạnh phúc thật sự.
6. Đạo tri kiến thanh tịnh: Giai đoạn này người
tu tập thấy rõ hiện tượng tan rã của các quá
trình thân và tâm, thấy không có cái gì hiện hữu
nữa, các đối tượng chú tâm tan rã. Hành giả thấy
rõ ba pháp Ấn: Khổ (Dukkhàt), vô thường
(Aniccatà), vô ngã (Anattatà).
7. Tri khiến thanh tịnh: nghĩa là tâm hoàn toàn
thanh tịnh do thấy và biết. Trong giai đoạn này
hành giả đi vào các tầng thánh đạo quả (Dự lựu,
nhất lai, bất lai và A la hán) sau khi thành tựu
Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi và Bát chánh
đạo.
Từ bảy giai đoạn tu tập đó đã cho ta thấy rằng
những lời Phật dạy để đạt được giải thoát không
ngoài sự tự nỗ lực để khám phá chính bản thân
mình. Đó là sự tiếp xúc nội tại, là cái nhìn
hướng vào trong bằng con mắt Chánh kiến. Từ đó
hiểu mình đang có những gì, cần những gì và cái
gì đang hiện hữu và mất đi. Con người này, tấm
thân hằng ngày đi, đứng, nói, cười, buồn, vui,
thương, ghét thật ra chỉ là hợp chất được cấu
tạo bởi sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Chính sự
hợp tác giữa hai phần Danh và Sắc ấy lại luôn
luôn ẩn chứa bao nhiêu là sự xung đột và dần đưa
đến sự tan hoại. Càng tiếp xúc với mình để tránh
lạc lõng, lo sợ vì mất phương hướng và hành giả
hiểu rõ sự tu tập Thiền định theo lộ trình Giới
– Định – Tuệ, hiểu rõ 12 duyên khởi và Tam Pháp
Ấn.
Bên cạnh đó, bài Kinh Trung bộ 107 cũng tóm tắt
con đường tu tập Tứ Niệm xứ như sau:
Giữ gìn giới hạnh
Hộ trì các căn
Tiết độ ăn uống
Chú tâm cảnh giác
Thành tựu chánh niệm tỉnh giác
Tìm nơi thanh vắng để hành thiền
Loại trừ năm triền cái
An trú vào bốn tầng thiền na.
Nghĩa là hành giả cần phải có sự sáng suốt tinh
tấn, cẩn trọng trong từng việc nhỏ nhiệm nhất.
Đó chính là con đường giữ giới thu thúc sáu căn
bằng đầu từ miệng không nói dối, nói hai lưỡi,
nói lời hung ác… Thân không trộm cắp, tà hạnh
trong các dục… ý không khởi tham, sân, si. Nói
chung là giữ cho ba nghiệp thanh tịnh, không bị
các vọng tưởng vọng niệm dấy khởi, thấy biết rõ
ràng từng hành vi, cử chỉ… Khi ăn biết ăn, khi
nói biết đang nói gì, khi đi biết rõ từng bước
chân, co tay, duỗi tay đều rõ biết… Bên cạnh sự
tu tập ba nghiệp thân, khẩu, ý được thể hiện qua
tứ oai nghi, Đức Phật còn dạy hành giả nên tìm
những chỗ yên lặng không ồn náo. Từ đó dần dần
đoạn trừ năm triền cái và an trú vào các tầng
thiền na.
Những bước tu tập này áp dung cho tất cả mọi
người không có sự khu biệt giữa người trí kém
hay các bậc thượng căn.
Sau đó Đức Phật cũng đã dạy rằng: “Sau khi an
trú trong tứ thiền, với tâm định tĩnh, thuần
tịnh không cấu nhiễm, không phiền não, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc bình thản như vậy,
vị ấy dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí, vị ấy
biết như thật; Đây là khổ; biết như thật; Đây là
nguyên nhân của khổ, biết như thật; Đây là khổ
diệt, biết như thật; Đây là những lậu hoặc, biết
như thật; Đây là nguyên nhân của các lậu hoặc
được đoạn trừ, biết như thật; Đây là con đường
đưa đến các lậu hoặc được diệt trừ”. [4, 318 –
348B]
Trong suốt 45 năm thuyết pháp, lời giảng dạy của
ngài luôn là thực hành Thiền vị hành thiền là
phương pháp tối thắng vi diệu đưa chúng sanh
thoát khỏi triền phược khổ đau được giải thoát
an lạc ngay trong hiện tại. Cho đến hôm nay,
giữa cuộc đời biến đổi khôn lường, chúng ta cũng
có nỗi niềm khao khác hạnh phúc và bước vào sự
tìm hiểu khám phá hạnh phúc theo lộ trình Giới –
Định – Tuệ bắt đầu từ câu hỏi “Thiền là gì, hành
tuớng của Thiền như thế nào?” [7]
Thực hành Thiền – có thể khẳng định một lần nữa
rằng: Đây là phương pháp tối cần, như cốt tủy và
gần gũi như máy chảy khắp châu thân”.
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH THIỀN
1. THỰC HÀNH THIỀN TỨ NIỆM XỨ
1.1. Sửa soạn hành Thiền
1.1.1. Phân biệt Thiền
Xung quanh mỗi một cá thể với thân phận làm
người, không những chỉ có những nhu cầu về ăn,
mặc, ở mà còn những ham muốn, khát khao về danh
vọng, địa vị và những mối tương giao ruột thịt
tình tâm bạn bè thân hữu. Trong mối quan hệ đa
phương được đặt trên nền tảng của sự ham muốn,
dao động nên đã xảy ra lắm điều phiền não, khổ
đau.
Cho nên, để thiết lập một cuộc sống thanh bình,
an lạc giữa hiện đời, Đức Phật đã dạy phương
pháp thực hành Thiền. Nhưng theo phương pháp
Thiền do Đức Phật dạy lại khác hẳn phương pháp
Thiền của ngoại đạo. Đó chính là cân bằng giữa
trăm ngàn mối quan hệ qua sự xác định giá trị tự
thân, lấy mình làm điểm then chốt để chế ngự,
thanh lọc trở về bằng con đường của Giới: hộ trì
các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh
giác, chánh niệm tỉnh giác. Đồng thời, muốn duy
trì và phát triển tuệ giác hành giả nên theo như
lời Phật dạy: “lựa chỗ thanh vắng, tịch mịch như
khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma,
lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi khất thực
và ăn xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng, an
trú niệm trước mặt”. [4, 274B]
Nhưng trước khi bắt đầu thực hành Thiền Quán,
hành giả cũng cần nên có sự hiểu biết về kinh
nghiệm của Thiền chỉ – một phương Thiền khác
cũng do chính Đức Phật đã dạy.
- Mười đề mục kasina: Dùng vật để tưởng niệm
như: đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng,
hư không, ánh sáng.
- Mười đề mục tử thi (Àsubha)
Tử thi sình nổi lên, có sắc anh nhiều chỗ, có mủ
chảy ra, bị chặt đứt nửa thân, bị thú ăn nhiều
chỗ, bị cắt từng đoạn, bị bằm nhiều chỗ, bị phạm
khí giới máu chảy tràn trề, có dòi đục chín lỗ,
chỉ còn xương rời ra.
- Mười đề về Niệm Anusati:
Tưởng nhớ ân Phật, tưởng nhớ ân Pháp, tưởng nhớ
ân Tăng, tưởng nhớ ân Giời, sự bố thí, chư thiên
và mình, tưởng nhớ đến sự chết, tưởng nhớ đến
thân thể, tưởng nhớ đến hơi thở vô ra, tưởng nhớ
đến Niết bàn.
- Bốn đề pháp của bậc đại nhân: từ, bi, hỷ,
xả.
- Bốn đề vô sắc: không vô biên xứ, thức vô
biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng
xứ.
- Một đề tưởng: Quán thực vật uế trược.
- Một đề phân biệt: Quán tứ đại.
Phương pháp Thiền này cũng rất sâu sắc, có khả
năng điều trị các tham dục đạt đến tầng trời Sắc
giới và Vô sắc giới; khi tinh tấn tu tập quang
tướng hiện ra, gương mặt rất sáng, có tuổi thọ
cao. Nhưng năm triền cái không mất hẳn, chỉ bị
đè nén, chưa dứt hết phiền não, còn sanh tử luân
hồi. Thiền chỉ theo dõi hơi thở bằng cách đếm số
và gom tâm vào bốn mươi đề mục, phải tập trung
rất mạnh mới không bị lộn.
Tóm lại, theo dõi về sự có mặt của thân, các cảm
thọ, tâm thức và các pháp, đây gọi là Thiền chỉ.
Đi sâu vào quán tánh sanh diệt để thấy được bản
chất của chúng gọi là Thiền Quán. Hành giả phải
khéo léo thiện xảo, vận dụng thực tập nếu không
dễ dẫn đến tình trạng nhàm chán nơi hành giả và
có thể đưa đến hủy diệt đau đớn vì đã có nhiều
vị Tỳ kheo trong khi quán bất tịnh đã sanh tâm
ghê sợ nhàm chán nên kết liễu mạng sống của
mình. Khi biết được Phật liền khiển trách và dạy
pháp môn Quán niệm hơi thở vô, ra này.
“Này các Tỷ kheo, định niệm hơi thở vô, hơi thở
ra này được tu tập làm cho sung mãn, là tịch
tĩnh, thù diệu thuần nhất, lạc trú làm cho các
ác bất thiện pháp đã sanh hay chưa sanh, làm cho
chúng biến mất, tịnh chỉ ngay lập tức. Ví như,
này các Tỳ kheo, trong cuối tháng mùa hạ, bụi và
nhớp bay lên, là đám mưa lớn trái mùa làm cho
chúng biến mất, chỉ tịnh. Cũng vậy, này các Tỷ
kheo, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra được tu
tập, được làm cho sung mãn, là tịch tĩnh thù
diệu, thuần nhất, lạc trú, làm cho các ác bất
thiện phép đã sanh biến mất, tịnh chỉ lập tức.”
[8, 324]
Phật đã dạy hành giả phải khéo chuyển qua thiền
quán sẽ khiến cho hành giả cảm thấy mát mẻ, khỏe
khoắn, trầm tỉnh, không dao động. Ngay cả lúc
mới thực tập cũng có được vị bình an, tĩnh lặng,
xua tan phiền não vọng động và đến cuối cùng là
chứng đạt an lành trọn vẹn của Niết bàn. Thiền
quán tức là Thiền Tứ Niệm Xứ dựa trên bốn lãnh
vực: Thân, Thọ, Tâm và Pháp để tu tập quán sát
hơi thở điều khiển bốn oai nghi đi, đứng, nằm,
ngồi trong chánh niệm.
1.1.2. Cách ngồi thiền
Muốn tránh tình trạng ngồi Thiền dễ gây mỏi
lưng, tê chân, hành giả cần điều chỉnh cách ngồi
cho đúng phương pháp. Có hai cách ngồi:
Ngồi kiết già: Kéo chân trái đặt lên
chân vế chân mặt và sau lại kéo chân mặt lên vế
chân trái (hoặc làm ngược lại).
Ngồi bán già: để chân mặt lên vế chân trái hoặc
ngược lại.
Hành giả phải ngồi đúng tư thế kiết già còn ngồi
bán già tuy dễ nhưng lâu dài tâm trở nên lỏng
lẻo vì thân không được khóa chặt. Lưng phải
thẳng, giữ sóng mũi, cổ và lỗ rún thẳng một
đường, tay mặt để lên tay trái, hai ngón tay cái
giao sát vào nhau, ép hai khuỷu tay vào hông,
đầu cúi vừa tầm, mắt khép nhẹ.
1.2. Đối tượng quán niệm
Bốn niệm xứ được Phật dạy trong hai bản kinh
quan trọng: kinh số 10 thuộc Trung Bộ và kinh số
22 thuộc Trường Bộ. Kinh thứ hai có tên là Đại
Niệm Xứ dài hơn kinh thứ nhất vì có thêm bốn
phần chân lý vi diệu, dài 15 trang. Đồng thời,
bài kinh Đại Niệm xứ cũng là bài tâm kinh quan
trọng được đọc tụng thường xuyên và cũng để nhằm
khai ngộ tâm thức cho người sắp lâm chung. Bốn
niệm xứ là gì?
Niệm thân trong thân
Niệm thọ trong thọ
Niệm tâm trong tâm
Niệm pháp trong pháp.
Thiền tứ niệm xứ đã được Đức Phật chỉ dạy rõ
ràng phương pháp tu tập. Đặc biệt là bài Kinh
Thân Hành Niệm, Trung Bộ Kinh III đề cập đến bốn
đối tượng quán niệm, đó là: thân (kāya), thọ
(vedenā), tâm thức (citta), pháp (dhamma). Bốn
đối tượng này là chỗ để ta an trú tâm. Phương
pháp Thiền Quán Niệm gồm 16 chủ đề, chia đều
thành bốn phần. Người thực tập Thiền cần phải
thuộc lòng 16 chủ đề này và quán tưởng theo dõi
hơi thở vào, ra. Trong đó, bốn chủ đề đầu thuộc
về thân cũng là phần mở đầu của Thiền Quán, phần
này rất quan trọng và căn bản cho việc thực hành
Thiền. Mười hai chủ đề tiếp theo thuộc về cảm
thọ, tâm thức và pháp nhằm phát triển tuệ giác.
Chuẩn bị bước vào thực tập, hành gải chuẩn bị
hành trang thật đơn giản và tìm chỗ thích hợp,
dụng cụ và tư thế ngồi thiền một cách đúng đắn.
1.2.1. Bốn đề mục thuộc về thân
* Thở vô dài, vị ấy rõ biết tôi thở vô
dài,
Thở ra dài, vị ấy rõ biết tôi thở ra
dài.
* Thở vô ngắn, vị ấy rõ biết tôi thở vô
ngắn,
Thở ra ngắn, vị ấy rõ biết tôi thở
ra ngắn.
* Cảm xúc toàn thân tôi sẽ thở vô,
Cảm xúc toàn thân tôi sẽ thở ra.
* An tịnh thân hành tôi sẽ thở vô,
An tịnh thân hành tôi sẽ thở ra.
1.2.2. Bốn đề mục thuộc về Thọ
* Cảm giác hỷ thọ tôi sẽ thở vô,
Cảm giác hỷ thọ tôi sẽ thở ra.
* Cảm giác lạc thọ tôi sẽ thở vô,
Cảm giác lạc thọ tôi sẽ thở ra.
* Cảm giác tâm hành tôi sẽ thở vô,
Cảm giác tâm hành tôi sẽ thở ra.
* An tịnh tâm hành tôi sẽ thở vô,
An tịnh tâm hành tôi sẽ thở ra.
1.2.3. Bốn đề mục thuộc về Tâm
* Cảm giác về tâm tôi sẽ thở vô,
Cảm giác về tâm tôi sẽ thở ra.
* Với tâm hân hoan tôi sẽ thở vô,
Với tâm hân hoan tôi sẽ thở ra.
* Với tâm định tĩnh tôi sẽ thở vô,
Với tâm định tĩnh tôi sẽ thở ra.
* Với tâm giải thoát tôi sẽ thở ra,
Với tâm giải thoát tôi sẽ thở ra.
1.2.4. Bốn đề mục thuộc về Pháp
* Quán vô thường tôi sẽ thở vô,
Quán vô thường tôi sẽ thở ra.
* Quán ly tham tôi sẽ thở vô,
Quán ly tham tôi sẽ thở ra.
* Quán đoạn diệt tôi sẽ thở vô,
Quán đoạn diệt tôi sẽ thở ra.
* Quán từ bi tôi sẽ thở ra,
Quán từ bi tôi sẽ thở ra.
1.3. Nội dung bốn đề mục quán niệm
1.3.1. Quán niệm về thân
Là sự thực hành Quán niệm về thân để ý thức được
về sự bình an, thanh thản trong cuộc sống hiện
tại, để thực hành nếp sống oai nghi và quan
trọng nhất là thấy được mặt trái của bản thân
mình.
1.3.2. Quán thân thông qua hơi thở
Trong cuộc sống thường nhật của chúng ta ai cũng
hít ra, thở vào nhưng mấy ai ý thức được điều
ấy. Cho nên quán thân thông qua hơi thở tức là
hình thức quán sổ tức, đếm hơi thở, theo dõi hơi
thở rõ biết hơi thở vô, ra dài ngắn như thế nào.
Đó chính là lúc mình dần dần tiếp xúc với chính
mình để hiểu được và điều chỉnh cách sống cho
phù hợp với giá trị tự thân đối với cuộc đời vì
bởi
“Ta chả là gì giữa bốn bề bất trắc
Chỉ tích tắc khôn lường ta đã hóa người xưa”
(Viếng nghĩa trang Văn Điển – Trần Đăng Khoa)
Mạng sống vốn thật ngắn ngủi càng mong manh hơn
giữa muôn trùng thay đổi. Chính vì sự mong manh
ấy người ta lại càng trân trọng giữ gìn, thế
nhưng lại không được quan tâm đúng mực. Người ta
chỉ quen trau chuốt cho cái ăn cái mặc nên
thường để cho cơn giận nổi lên dồn dập, tim đập
nhanh, hơi thở mất sự điều hòa sự sống co ngắn
lại. Thế nên, có lần Phật đã hỏi rằng: “Mạng
người sống được bao lâu?” Vị thứ nhất trả lời
trong vài ngày. Vị thứ hai trả lời trong một bữa
an. Phật bảo hai vị ấy chưa hiểu đạo. Vị thứ ba
trả lời mạng sống trong chừng hơi thở. Phật khen
nguời ấy hiểu đạo”. [Tứ thập nhị chương]
Qua lời dạy của Đức Phật như tiếng chuông thức
tỉnh bao tâm hồn đang chìm trong đêm tối mịt mờ.
Lời dạy ấy nhằm cảnh tỉnh mọi người nên ý thức
về hơi thở nhằm giữ được sự bình tĩnh điều hòa
trạng thái an tịnh của thân.
Sự chú ý trong việc hít thở nơi thân sâu cạn
đồng nghĩa với sự sáng suốt và tỉnh táo. Và đó
là tiền đề để khơi mở tâm thức mà thấy biết rõ
ràng tường tận sự hoạt động của mình trong cuộc
sống thường nhật.
1.3.3. Quán thân thông qua các cử chỉ hoạt
động
Đây là bước thực tập kế tiếp của sự quán niệm về
thân thông qua bốn oai nghi: đi, đứng, nằm,
ngồi. Mà trong sự quán sát ấy chánh niệm là yếu
tố mang tính chất căn bản nhằm điều chỉnh cách
sống của mỗi người.
Người hành thiền phải ý thức rõ ràng sự hoạt
động của ba nghiệp thân, khẩu, ý... Khi nói biết
đang nói gì, chính sự có mặt có niệm trong lời
nói là phương pháp làm cho sự cảm thông thêm sâu
sắc từ mình đối với những người xung quanh. Lúc
ấy, ta ứng xử không thất thố, lỡ lời, không cố ý
gây chia rẽ bằng lời đưa đẩy đôi chiều khiến
người buồn vui theo lời nói của mình. Và điều
quan trọng nhất là mình có sự an ổn, bình an
thật sự khi chiều xuống đêm về. Thân không làm
những điều tà hạnh, không trộm cướp, xâm chiếm
hạnh phúc của người. Ý là cửa ngõ quan trọng
nhất phải cẩn trọng. Ai khi khởi tham, sân, si
biết mình đang khởi tham, sân, si. Đó là những
yếu tố khiến người ở bên cạnh lúc nào cũng có
niềm tin tưởng vì sự chiêu cảm nơi tâm thức rất
bất khả tư nghì mà mỗi người chúng ta khi đối
trước một người nào đó chỉ có thể cảm nhận bằng
tâm không thể nói hết bằng lời. Tuy nhiên, yếu
tố quan trọng nhất là đời sống của mình an
nhiên, tiêu sái, bước chân thong dong trên nền
cỏ xanh, mắt ngắm mây trời trong biêng biếc cũng
giống như lòng mình êm đềm, trong trẻo. Mỗi bước
chân đi là mỗi bước bước giao hòa sự trong sáng,
thanh lương của tâm mình với đất trời muôn vật
bao la, trải rộng.
Nếu tâm mình đầy rẫy cấu uế nhiễm ô thì làm sao
hưởng được sự bình trong khi ăn, khi nói, khi
suy nghĩ? Nên có lắm khi ta quay quắt về quá khứ
với bao nhiêu nhớ thương, hối tiếc, đau đáu về
tương lai với bao ước mơ hão huyền. Vì bởi quá
khứ là những gì đã chết, tương lai là ảo vọng vì
chưa bước đến. Chỉ có phút giây hiện tại cần
mình sống thật trọn vẹn. Khi ngồi nghe pháp biết
rõ những điều giảng sư truyền đạt. Kh đối diện
với những điều ưa thích biết lòng mình đang nổi
sóng khát khao và ngược lại với những điều không
ưa thích biết mình đang chán ngán, chẳng ưa. Nên
cổ nhân thường nói: “chỉ cần biết vọng không cầu
tìm chơn” là thế.
1.3.4. Quán thân bất tịnh qua các bộ phận
sai biệt cấu thành:
Ta thương thân quý thân ta luôn muốn vui bồi cho
thân khỏe mạnh. Ta hãnh diện khi đường đường
tướng hảo, ta mất khả năng tự tin khi trên thân
có điều khiếm khuyết. Ta trang hoàng cho thân
bằng son bằng phấn, dấu đi vết nhăn già nua do
năm tháng tô màu. Nhưng có hay đâu khi càng
thương thân, vun quén cho thân ta thường sanh
tâm không chấp nhận sự thật rằng: Để hình thành
một con người phải có đủ năm hợp chất sắc, thọ,
tưởng, hành và thức nương tựa vào nhau. Nên dù
xấu, tốt, đẹp xinh như thế nào cũng không ngoài
vòng duyên sinh, vô thường, vô ngã.
“Thế kỷ hai mươi trót có mình
Đời hai mươi triệu cõi ly minh
Cười vay khóc mướn dăm hàng chữ
Đất rộng, trời một khối tình”
(Trần Tuấn Khải)
Mỗi người được bắt đầu sự sống bằng tiếng khóc
của mình và kết thúc bằng tiếng khóc của người
khác. Trong khoảng giữa của hai lần khóc ấy của
hàng triệu con người thật ra cũng chỉ là “cười
vay, khóc mướn” với cõi đời lẫn lộn với bao dằn
vặt suy tư, hay an ổn sum vầy. Và mãi mãi như
thế, bao nhiêu kiếp người cứ tuần tự luân lưu
trong mê mờ, đấu tranh khát khao, níu kéo hình
bóng của hạnh phúc có khác gì: gươm rơi đáy
nước, dấu đánh mạn thuyền?
Lại thêm, sự thành tựu của thân được bắt đầu từ
sự hấp thụ tinh cha, huyết mẹ, như câu đầu tiên
trong Quy sơn cảnh sách “Phù nghiệp hệ thọ thân
vị miễn hình lụy, bẩm thọ phụ mẫu chi di thể,
nãi chí duyên nhi cộng thành tuy nãi tứ đại phù
trì thường tương vi bối” biết thân là những hợp
chất cùng nương vào nhau nhưng lại có những điều
xung khắc nên tự thân phải luôn sẵn sàng chấp
nhận sự tan rã của thân.
Chung quy lại hi quán niệm về thân để hiểu được
cả hai mặt của thân; mặt thô qua hiện tướng đi,
đứng, nằm, ngồi; mặt tế thân được cấu thành bởi
các vật bất tịnh.
1.3.4.1. Quán niệm về thọ
Thọ là cảm giác, là thành quả, sản phẩm của sự
tiếp xúc giữa sáu giác quan (mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý) với sáu đối tượng (sắc, thanh,
hương, vị, xúc và pháp). Cảm thọ có ba loại: vui
thích (tham), không thích (sân) và trung tính
(si). Trong Kinh Phật dạy rằng: “Phàm thọ gì quá
khứ, hiện tại hay vị lai, nội hay ngoại, thô hay
tế, liệt hay thắng, xa hay gần như vậy là thọ
uẩn”.
Từ đó cho ta thấy rằng “địa bàn” hoạt động của
cảm thọ cũng rất rộng rãi, không có cương giới
lãnh thổ, nó chi phối khắp từ thân vật lý đến
đời sống tâm lý của con người. Cảm thọ như một
dòng sông cứ mãi trôi chảy theo dòng duyên sinh,
duyên diệt. Khi thọ có mặt tức song cùng niềm
vui mong manh và nỗi khổ chập chùng.
Tuy nhiên cảm thọ khổ đau hay hạnh tùy thuộc vào
cách sống và sự thực tập của mỗi người. Nếu tâm
tràn đầy cấu uế tức đang đợi chờ một hệ quả của
xung đột khổ đau. Bằng ngược lại, tâm an nhàn
thanh thản là ta đang hướng về vùng hạnh phúc.
Vì cuộc sống không tách rời khỏi những cảm thọ,
nhưng phải sống như thế nào mà lạc thọ không làm
hệ lụy lòng ta, sống trong khổ thọ mà không khổ
đau cùng cực? Đó là sự khéo léo thiện xảo trong
sự tích cực tu tập chỉ có người hành trì phải tự
nỗ lực để được rõ biết.
1.3.4.2. Quán niệm về tâm
Tâm của chúng ta không cố định một chỗ nào cả,
nó thường xuyên biến đổi từ trạng thái này sang
trạng thái khác. Mỗi sát na tâm lần lượt theo
dòng sanh, trụ, dị, diệt rồi lại sanh, trụ, dị,
diệt,... tiến trình ấy cũng như cơn sóng chập
chùng nối tiếp nhau cứ thế qua đi... Ngạn ngữ
phương Tây cũng có câu “không ai tắm hai lần
trên một dòng sông” vì thế, chỉ nên cảm nhận
ngay trong phút giây hiện tại, nếu không giữ
niệm Tâm sẽ qua đi không cảm nhận được nữa, bằng
như ta nghĩ lại thì đã thuộc về quá khứ. Niệm
trước như vậy niệm sau đã khác, sanh diệt liên
tục như thác đổ tuôn trào. Từ trên cơ sở đổi
thay đó, Tâm cũng không có một cái ngã độc lập
mà Tâm sanh là do sắc thọ, tưởng, hành và thức.
Bản thân các yếu tố này cũng do duyên sinh nên
đẩm đầy chất vô thường, vô ngã. Đức Phật cũng đã
dạy “Này các Tỳ kheo, chấp tâm thức là thường
còn, còn sai lầm về tệ hai hơn là chấp thân xác
là còn. Vì thân xác con người có thể là tồn tại
vài chục năm cho tới một trăm năm, còn tâm thức
của người thì sanh diệt đổi thay trong từng giây
phút”. [10, 11]
Vì thế, chấp tâm thường còn là một trạng thái
khác đối với chấp thân thường còn mà nó mang
tính biên kiến dung chứa nhiều nỗi sầu đau.
Vì thế, Quán niệm về Tâm thông qua những cảm
giác vui buồn, là nhằm cởi mở sự ràng buộc mà
ngay trong bậc Thiền thứ nhất hành giả cởi mở
được những triền cái ngăn che.
1.3.4.3. Quán niệm về pháp
Pháp được dịch từ chữ Dhamma, là một trong những
danh từ trong tiếng Pali rất khó dịch qua các
ngôn ngữ khác một cách khúc chiết, rõ ràng. Vì
chữ “Pháp” không có nghĩa giới hạn ở những sự
vật cụ thể thuộc về thế giới vật chất, không tri
giác. Chữ Pháp theo quan niệm nhà Phật được hiểu
theo nghĩa rộng rãi là bao hàm cả thân vật lí và
tâm lí. Pháp được chia làm hai nhóm, sắc pháp
tức là những sự vật tồn tại không có tri giác;
như bàn ghế, cây cối núi sông và tâm pháp là
những pháp không có hình tướng, không thể nhìn
thấy được nhưng có tri giác.
Trên cơ sở đó, thì con người là hợp thể có đầy
đủ có hai phần sắc pháp và tâm pháp. Cho nên,
hành giả có thể từ thân ngủ uẩn mà quán chiếu để
thấy biết một cách rõ ràng mối quan hệ giữa bản
thân và vũ trụ. Chính mối dây liên hệ trùng
trùng giữa tâm pháp và sắc pháp, giữa vũ trụ và
con người chúng ta cần phải sáng suốt, định tĩnh
để nhìn nhận được sự có mặt của mình như thế
nào, có ý nghĩa gì giữa vòng tương duyên khép
kín ấy. Không gì hơn là người hành Thiền cần
phải quán xả ly, không chỉ từ bỏ những trì níu
ham muốn, khát khao về danh lợi phù du trong cõi
trần ai, khổ lụy mà còn không trụ vào những quả
vị chứng đắc để từ đó hướng đến mục đích cao
hơn. Đó là cảnh giới Niết bàn tịch tịnh.
Qua sự thực tập Thiền Tứ Niệm Xứ ta có thể hiểu
về thân ngủ uẩn và muôn vàn mối tương quan vây
quanh nó. Cũng như thế gian thường nói “ngã từ
nơi nào thì đứng lên nơi ấy” thì cũng thế, thân
ngủ uẩn bắt đầu của cội rễ khổ đau, cũng từ đó
ta đổi hướng xoay chiều để được bình an, trí
tuệ. Kết quả của sự tu tập pháp môn Thiền Quán
không thể diễn tả được bằng lời vì bản chất của
Thiền là vô ngôn. Chỉ khi hành trì mới cảm nhận,
thểâ nhập rõ. Tuy vậy, qua lời kinh đã dạy ta
cũng có khái niệm về sự lợi ích của pháp môn này
“Niệm hơi thở vô và hơi thở ra, được tu tập như
vậy; này các Tỷ kheo, được làm cho sung mãn như
vậy, được chờ đợi một trong hai quả sau: “Ngay
trong đời hiện tại được chứng quả chánh trí. Nếu
có dư y được chứng quả Bât lai”. [8, 313]
Đây là pháp môn thiết thực không có sự tác hại,
không qua con đường phù phép, mà là phương pháp
giáo dục, là con đường kỷ luật tâm linh rất lành
mạnh trong sáng. Từ đó, mỗi người có sự sáng
suốt.
“Đường này đến thế gian
Đường kia đến Niết bàn
Tỳ kheo đệ tử Phật
Phải ý thức rõ ràng”. [9, 16]
Đây là phương pháp tu tập mang tính thực tiễn mà
Đức Phật đã tự thân thể nghiệm và chứng ngộ.
Đồng thời, phương pháp tu tập Thiền Tứ Niệm Xứ
cũng là một đặc trưng của giáo lý Đạo Phật không
thể tách rời cuộc sống mà luôn phải gắn liền với
sự sống.
2. VAI TRÒ CỦA CHÁNH NIỆM TRONG THIỀN QUÁN:
2.1. Định nghĩa?
Từ chữ Pàli, sati được dịch là chánh niệm, nghĩa
đen của sati là nhớ. Tuy nhiên, theo nguồn gốc
ngôn ngữ thì “sati” có nhiều nghĩa thông dụng
hơn là “nhớ”, mà “sati” còn hàm chứa nghĩa hay
biết hoàn toàn đối tượng, hay biết thấu triệt
đối tượng. Nghĩa là “sati” không chỉ với nghĩa
nhớ thông thường mà là sự hay biết sâu rộng,
thấu đáo về đối tượng danh pháp và sắc pháp.
Trong nghĩa này, danh pháp và sắc pháp (thân
và tâm) chánh niệm, là chi phần thứ 7 của Bát
chánh Đạo, dưới cái tên “sammàsati”.
2.2. Vai trò của chánh niệm
Chúng ta đã biết Thiền Quán có quan hệ với năm
lực rất chặt chẽ. Ở đây, niệm vị như thân xe,
tới – định và tấn – tuệ giống như 2 cặp xe song
mà.
Niệm có tín nhiều sẽ nhanh phát sinh định, nhưng
Định nhiều sẽ sanh hôn trầm.
Niệm có tinh tấn nhiều, quán sát nhiều sẽ sinh
ra trạo cử,