BẢY YẾU TỐ KHIẾN TĂNG ĐOÀN HƯNG THỊNH
Thích Nữ Liên
Hoa
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài :
Âm hưởng của cung đàn có
thể dư ba mãi trong lòng thính giả bởi người
nghệ sĩ tài ba. Tương tự, Phật giáo có thể
trường tồn cùng lịch sử chính do Tăng già hoằng
hóa.
Ngay từ những ngày tháng
đầu tiên sau khi chứng ngộ, Đức Thế Tôn đã thiết
lập Tăng đoàn, mở đầu bằng sự quy ngưỡng Phật
pháp của năm anh em tôn giả Konỉdỉanõnõa (Kiều
Trần Như). Nhóm bạn đồng tu khổ hạnh này đã trở
thành những thành viên đầu tiên của Tăng đoàn
Phật giáo. Từ đó Tăng đoàn phát triển dần thành
một hội chúng đông đảo. Khoảng mấy năm sau, Thế
Tôn chấp thuận việc nữ giới xuất gia và giao cho
Tỳ kheo Ni Mahàpajàpati Gotamì trông coi hội
chúng Ni giới. Có thể nói, một trong những đóng
góp lớn lao nhất của đức Phật là việc thành lập
Tăng đoàn. Sự xuất hiện của Tăng đoàn Phật giáo
gây tiếng vang rất lớn trong xã hội, làm thay
đổi hệ thống tư tưởng triết học Ấn Độ đương
thời, mở ra một cái nhìn mới mẻ cho nhân loại về
con người và cuộc đời. Sự xuất hiện của mọi giai
tầng xã hội trong Tăng đoàn Phật giáo đồng nghĩa
với việc Đức Thế Tôn thực hiện một cuộc cách
mạng xã hội: xóa bỏ quan niệm phân biệt giai cấp
và giới tính, quan niệm hẹp hòi sai lầm đã ngự
trị lâu đời trong xã hội Ấn Độ khiến con người
đau khổ không lối thoát.
Về mặt giáo hội, Tăng
già là rường cột của Phật pháp. Vì thế, Đức Thế
Tôn đặc biệt chú trọng đến việc hoàn thiện từng
cá nhân trong Tăng đoàn. Ngài sẽ chưa vào
Niết-bàn khi chúng Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni chưa
thành tựu Giới-Định-Tuệ, chưa đủ khả năng truyền
bá chánh pháp ở đời. Đó là lời Thế Tôn tuyên bố
với Ác ma. [1,601] Điều này nói lên rằng, Đức
Thế Tôn đã xác nhận Tăng đoàn là những người
thay thế Ngài nối truyền ngọn đèn Chánh pháp ở
thế gian. Hẳn nhiên, đó là Tăng đoàn thanh tịnh
gồm những thành viên đã và đang nỗ lực trên con
đường phạm hạnh. Chỉ có sự hưng thịnh của Tăng
đoàn thì Phật giáo mới thăng hoa theo chiều lịch
sử. Sự tồn tại của Tăng đoàn là sự tồn tại của
Chánh pháp.
Sự phát triển của Tăng
đoàn là mạch nước ngầm ngấm sâu vào lòng đất để
nuôi sống vạn vật cỏ cây. Điều này cũng có nghĩa
là nếp sống Giới-Định-Tuệ của những thành viên
trong Tăng đoàn đã thực sự len lỏi trong từng
nhịp sống của con người và xã hội. Lịch sử đã
chứng minh điều ấy. Hạnh phúc thay khi được dự
vào hàng ngũ của Tăng đoàn. Người viết thực sự
hạnh phúc khi nghĩ về điều này và luôn tự hỏi
làm thế nào để xứng đáng được nương tựa vào ba
ngôi báu? Có lẽ, nỗ lực tự thân là chính. Thế
nhưng, cuộc sống là dòng chảy với muôn mối duyên
sinh nên không thể có một cá nhân nào tồn tại
độc lập mà không liên hệ với cộng đồng. Vì thế,
mặc dù con đường giải thoát là phải tự mình cất
bước – những bước đi của tâm linh âm thầm, đơn
độc… nhưng chúng ta luôn có mối quan hệ mật
thiết với Tăng đoàn. Sinh hoạt với Tăng đoàn là
nét nổi bật của vị tỳ kheo đệ tử Phật. Làm sao
để Tăng đoàn hưng thịnh, luôn luôn là chỗ dựa
tinh thần cho mọi người, mọi giới, cũng như lòng
mong mỏi thiết tha Chánh pháp được trường tồn,
người viết chọn đề tài “Bảy yếu tố khiến Tăng
đoàn hưng thịnh” để thực hiện tiểu luận này.
2. Giới hạn đề tài:
Đề tài nói về bảy yếu tố
khiến Tăng đoàn hưng thịnh nên giới hạn của nó
đã khá rõ ràng. Vì vậy, ngoài chương dẫn khởi
phát họa đôi nét về sự hình thành và một vài đặc
điểm của Tăng đoàn, toàn bộ các phần khác của
tiểu luận sẽ tập trung xem xét và thảo luận về
bảy yếu tố căn bản của chủ đề.
Trong bốn mươi lăm năm
thuyết pháp, Đức Thế Tôn đã đưa ra rất nhiều yếu
tố để xây dựng Tăng đoàn hưng thịnh. Những yếu
tố ấy được ghi lại bàn bạc trong Luật tạng và
Kinh tạng Pàli, nhưng tựu trung không ngoài việc
phát huy Giới-Định-Tuệ. Bảy yếu tố được nói đến
trong kinh Đại bát Niết Bàn, Trường bộ, gồm: 1.
có Tín tâm, 2. có Tàm, 3. có Quý, 4. Đa văn, 5.
Tinh tấn, 6. Chánh niệm, 7. Trí tuệ có thể được
xem là những yếu tố căn bản cho sự phát huy sức
mạnh của Tăng đoàn mà người viết sẽ trình bày
trong tiểu luận này.
3. Phương pháp nghiên
cứu:
Thiết nghĩ, vấn đề này
đối với những nhà học giả nghiên cứu Phật học
thì không còn mới mẻ nữa. Thế nhưng, nó cũng sẽ
không bao giờ cũ đối với những hành giả đang tu
tập như chúng ta. Bởi cho đến bao lâu, chúng ta
còn chưa thể nhập được nếp sống thanh tịnh của
Tăng đoàn thì vấn đề này luôn là đề tài còn phải
quan tâm. Trong khi thực hiện đề tài này, người
viết dùng phương pháp phân tích tổng hợp và
chứng minh để trình bày một vài khía cạnh nhỏ về
những yếu tố xây dựng con người của tập thể phạm
hạnh, đồng thời nêu lên những tính chất và đặc
điểm nổi bật của Tăng già. Ở đây, không liên hệ
sâu rộng đến cơ cấu tổ chức mang tính hành chánh
và cũng không lạm bàn đến đường hướng phát triển
gồm nhiều lĩnh vực của sinh hoạt Tăng đoàn.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 :
TĂNG ĐOÀN
Như biển cả mênh mông
sẵn sàng đón nhận mọi con sông xuôi dòng đổ vào;
cũng vậy, Tăng đoàn Phật giáo sẵn sàng mở rộng
cánh cửa chào đón tất cả mọi người. Đức Phật ra
đời thuyết pháp vì hạnh phúc an lạc cho số đông
và ngài thành lập Tăng đoàn cũng nhằm mục tiêu
phụng sự hạnh phúc an lạc cho mọi người. Những
ai muốn gia nhập Tăng đoàn để theo đuổi nếp sống
phạm hạnh đều được chấp nhận, được sống an ổn,
không hề có sự phân biệt về mọi phương diện: địa
vị, giai cấp, giới tính… Bởi vì, Tăng đoàn Phật
giáo không phải là một tổ chức tôn giáo mang hệ
thống đẳng cấp, không phải là một tổ chức theo
chế độ trung ương tập quyền, đơn giản nó là một
tổ chức dành cho những người muốn sống đời sống
thanh tịnh xả ly, với một số quy định về đạo đức
làm tôn chỉ cho mọi thành viên dựa theo đó mà
sống và hành. Vai trò lãnh đạo tối cao hay độc
tôn không hề hiện hữu ở Tăng đoàn Phật giáo, vì
kinh điển ghi lại rằng, đức Phật không hề di
chúc cho bất cứ ai lãnh đạo Tăng già trước ngày
nhập diệt. Thế Tôn cũng không hề tuyên bố Ngài
là vị lãnh đạo của chúng tỳ kheo. Trước giờ thị
tịch, Ngài chỉ khuyên các đệ tử hãy nương tựa
mình và nương tựa pháp.
Tăng già (Sangha) là
danh từ thường dùng để chỉ hội chúng những người
xuất gia, gồm: Bhikkhu (Tỳ kheo), Bhikkhuni (Tỳ
kheo Ni), Sikhamànà (Thức xoa ma na), Samanera
(Sa di), Samaneri (Sa di Ni). Trong số này, hội
chúng Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni đã thọ Cụ túc giới,
đầy đủ giới hạnh của người xuất gia, đúng danh
xưng là Tăng già; ba chúng còn lại thì ở vào
giai đoạn sửa soạn, tu tập các phần căn bản để
thực sự trở thành thành viên của Tăng già.
1.1. Khởi nguyên của
Tăng đoàn:
1.1.1. Sự thành lập Tăng
đoàn:
Theo tài liệu Mahàvagga
thuộc luật tạng Pàli thì sau khi thành đạo và
trải qua bảy tuần hưởng pháp lạc ở Bodhagàya
(Bồ-đề đạo tràng), Đức Thế Tôn quyết định đi đến
Isipatana (vùng Chư Tiên đọa xứ ), tức Sarnath,
thuộc thị trấn Banares (Ba-la-nại) để thuyết
giảng Tứ Diệu Đế cho năm người bạn cùng tu khổ
hạnh (năm anh em tôn giả Konỉdỉanõnõa). Nhóm sa
môn khổ hạnh này sau khi liễu tri được Chánh
pháp đã trở thành đệ tử xuất gia đầu tiên của
Đức Thế Tôn. Từ đó Tăng đoàn được hình thành.
Như vậy, Tăng đoàn Phật
giáo được thiết lập ngay vào năm thứ nhất, kể từ
lúc đức Phật thành đạo (vào thế kỷ thứ sáu TCN).
Sau đó, Đức Thế Tôn hóa độ và thâu nhận nhiều
thành viên khác vào Tăng đoàn như tôn giả Yasa
cùng năm mươi bốn người khác tại thành phố
Banares. Bấy giờ, Tăng đoàn lên đến sáu mươi mốt
vị đều chứng A-la-hán quả, rồi chia nhau đi khắp
nơi để giáo hóa làm lợi ích cho mọi người, theo
lời khuyên của đức Phật. Tại Uruvela
(Ưu-lâu-tần-loa), Thế Tôn độ ba Tôn giả Kassapa
(Ca-diếp) và ngót một ngàn đệ tử của ba vị này,
khiến tất cả đều đắc quả A-la-hán. Hai tháng sau
mùa an cư đầu tiên, Thế Tôn đến Vương Xá
(Ràjagaha) độ Tôn giả Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên
và hai trăm năm mươi môn đệ của ngoại đạo sư
Sanõjaya. Kể từ đây, luôn luôn có mặt một ngàn
hai trăm năm mươi đệ tử A-la-hán theo sau Thế
Tôn trên đường hoằng hóa.
Một điều đặc biệt của
Tăng đoàn Phật giáo ở buổi ban sơ là mọi nghi
thức về xuất gia hay truyền giới đều rất đơn
giản. Ấy chỉ là lời mời gọi và hoan nghênh của
đức Phật đối với những ai muốn gia nhập Tăng
đoàn: “Đến đây, này Tỳ kheo” (Ehi bhikkhu- Thiện
lai Tỳ kheo). Nhưng khi Tăng đoàn trở nên đông
đảo, Thế tôn cho phép các vị Tỳ kheo làm lễ thế
phát và truyền giới cho ai muốn gia nhập đời
sống Tỳ kheo. Thủ tục lúc này đã có một vài thay
đổi. Theo tập Mahàvagga (Đại phẩm), trước tiên,
người muốn xuất gia phải cạo bỏ râu tóc, khoác y
vàng, tiếp đến vị ấy phải đảnh lễ chúng tỳ kheo,
chấp tay ngang ngực và lập lại nghi thức quy y
Tam bảo :
Con thành tâm quy y Phật
bảo (Buddham saranam gacchàmi).
Con thành tâm quy y Pháp
bảo (Dhammam saranam gacchàmi).
Con thành tâm quy y Tăng
bảo (Sangham saranam gacchàmi).
Tiếp theo, vị ấy được
trao truyền 10 giới và được gọi là sàmanena (Sa
di) . Đây là nghi thức Pabajjà (xuất gia). Khi
đủ 20 tuổi, các Sa di được trao truyền giới tỳ
kheo. Đây gọi là lễ Upasampadà hay thọ Cụ túc
giới. Đó là những gì có liên quan đến sự thành
lập hội chúng tỳ kheo vào buổi ban sơ .
1.1.2. Thành lập Ni
đoàn:
Theo học giả E. J .
Thomas, vào năm thứ năm sau ngày thành đạo, Thế
Tôn trở về cung thành Kapilavatthu để thăm vua
Suddhodana đang lâm bịnh và thuyết pháp giúp vua
cha chứng đắc A-la-hán quả trước giờ lâm chung .
Vào dịp này, di mẫu Mahàpajapàti đến công viên
Nirodha, nơi đức Phật đang tạm trú, cầu xin Ngài
cho phái nữ được gia nhập Tăng đoàn, sống đời
sống không gia đình, Sau ba lần từ chối lời
thỉnh nguyện, đức Phật trở về Vesàli, di mẫu
Pajapàti cùng với nhiều phụ nữ dòng Sàkya tự
xuống tóc khoác cà sa vàng, bộ hành đến Vesàli
để gặp đức Phật. Xúc động trước sự kiên định và
lòng tha thiết xuất gia tu hành của số phụ nữ
Sàkya này, tôn giả Ànanda đồng ý chuyển lời
thỉnh cầu của họ đến Thế Tôn. Ba lần Ànanda thay
mặt họ cầu xin đức Phật cho phép nữ giới xuất
gia, Thế Tôn lại ba lần từ chối. Tôn giả Ànanda
hỏi: “Bạch Thế Tôn sự kiện một phụ nữ xuất gia,
sống đời sống không gia đình, sống trong Pháp và
Luật được Như Lai thuyết giảng có thể có khả
năng chứng được Tứ quả Sa môn hay không?”Đức
Phật trả lời: “Này Ànanda, người nữ có khả năng
chứng Tứ quả Sa môn”. Sau đó, Tôn giả Ànanda
thưa, nếu như vậy, di mẫu là người có ơn nuôi
dưỡng ẳm bồng Như Lai lúc ấu thơ…, Người xứng
đáng được Thế Tôn cho phép xuất gia, gia nhập
Tăng đoàn. Cuối cùng, Đức Thế Tôn đồng ý cho nữ
giới xuất gia và chế Bát kỉnh pháp, tức tám điều
cung kính đối với chư Tăng mà chư Ni phải trọn
đời vâng giữ. Di mẫu Pajapàti và nữ giới dòng
Sàkya đều hoan hỷ tuân hành. Giáo hội Tỳ kheo Ni
ra đời từ đó .
Tăng già là một tập thể
mở rộng, được thành lập và sinh hoạt trên căn
bản tinh thần thanh tịnh, hòa hợp, bình đẳng,
dân chủ không kỳ thị màu da sắc tộc… . Đây là
tập thể cấp tiến ra đời sớm nhất trong lịch sử
nhân loại. Do vậy, tập thể này mang ý nghĩa đặc
biệt và có những đặc điểm mới mẻ mà sự tồn tại
hơn 25 thế kỷ qua của nó đáng để suy ngẫm.
1.2. Ý nghĩa (tính chất)
:
Tăng già là dịch âm từ
chữ Sangha (của Pàli, Sanskrit), có nghĩa là một
nhóm người sinh hoạt trong cùng một mục đích và
lý tưởng chung. Thuật ngữ Sangha không phải dùng
riêng cho tăng đoàn Phật giáo, mà dùng để chỉ
chung các tổ chức tôn giáo thuộc phong trào
Sràmana (Sa môn), vì vào thời đức Phật có nhiều
đoàn thể tôn giáo cũng gọi là Sangha. Thế nhưng,
Sangha của Phật giáo mang hai yếu tố đặc trưng
nhất để phân biệt với các tổ chức tôn giáo khác,
đó là: tính chất hòa hợp và thanh tịnh.
Hòa hợp là thái độ hiền
hòa dung thông với mọi người. Mục đích xuất gia
của mỗi tỳ kheo là sống cuộc sống không gia đình
trong giáo đoàn Phật giáo, để giúp đỡ tương trợ
nhau nhằm chứng ngộ chân lý, rồi chia sẻ những
kinh nghiệm về tri thức cũng như tâm linh đã đạt
được cho hạnh phúc tha nhân. Do vậy, các thành
viên trong Tăng đoàn đều có khả năng chung sống
hòa hợp. Tất cả tổ chức sinh hoạt như An cư, Tự
tứ, Bố tát, những cơ sở giới luật, lễ lạc …đều
thể hiện tính hòa hợp trong tổ chức và thực
hiện.
Thanh tịnh là sự trong
sạch thuần khiết của tâm hồn do việc hành trì
giới bổn liên hệ đến việc phát triển tuệ giác
đưa đến giải thoát tối hậu. Ý nghĩa này được ví
với tám đặc tính sau:
Như biển mỗi ngày trở
nên sâu thẳm, cũng vậy, sự học tập trong Tăng
già dần dần phát triển .
Như nước trong biển
không bao giờ vượt ra khỏi bờ, cũng thế, đệ tử
đức Phật không bao giờ phá giới .
Như biển không bao giờ
chứa xác chết, và luôn quăng chúng lên bờ, cũng
thế, Tăng già luôn buộc tội và trục xuất những
người phạm đại giới.
Như nước các con sông
không còn mang tên gọi riêng khi đổ về biển,
cũng vậy khi gia nhập Tăng đoàn, người ta sẽ từ
bỏ tên tuổi, dòng họ của mình và chỉ được gọi là
các tỷ kheo đệ tử Phật .
Như vị mặn tồn tại khắp
biển cả, cũng vậy, vị giải thoát sẽ thẩm thấu
khắp thành viên Tăng già .
Như nước trăm sông đổ
vào biển cũng không làm biển tăng lên hay giảm
xuống, cũng thế dù có bao nhiêu thành viên nhập
Niết-bàn, Tăng già cũng không tăng giảm .
Như vô số kho tàng được
cất chứa trong biển, cũng vậy, giáo pháp vi diệu
được tìm thấy trong Tăng già .
Như các con cá lớn chỉ
sống trong đại dương, cũng vậy, những vị đệ tử
nổi tiếng, ưu việt sống trong Tăng già.
[6,557-565]
Như vậy dù thời đại nào,
Tăng già vẫn phát triển trong tinh thần hòa hợp
và thanh tịnh để xứng đáng là ngôi báu, xứng
đáng ở vị trí lãnh đạo tinh thần của đoàn thể cư
sĩ, và khi Tăng già giữ đúng vị trí của mình thì
chánh pháp luôn hiện hữu ở đời. Ý nghĩa này chỉ
được thể hiện một cách sinh động trong nếp sống
tu học chung. Do vậy, Đức Thế Tôn thành lập Tăng
đoàn hẳn đã mang mục đích cao thượng và cần
thiết nhất cho những người dấn thân vào con
đường thoát khổ.
1.3. Mục đích thành lập
Tăng đoàn:
Mục đích tối thượng của
đạo Phật là tự mình thoát khổ và thuyết giảng
con đường thoát khổ cho đời . “Này các tỳ kheo,
xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và diệt
khổ”. Lời dạy này được ghi lại nhiều lần trong
các kinh điển. Do vậy, mọi việc làm của đức
Phật, kể cả việc thành lập Tăng đoàn, cũng không
ngoài mục đích ấy.
Trước hết, Tăng đoàn
được thành lập nhằm tập hợp những người có ước
muốn sống đời phạm hạnh theo lời Phật dạy để
thực hiện hai mục tiêu: Thứ nhất, hổ trợ nhau
để tất cả các thành viên đều chứng đắc đạo quả
thanh tịnh và thứ hai, mở rộng chánh pháp,
thuyết giảng con đường thoát khổ khiến mọi người
ra khỏi khổ đau. Để yên tâm thực hiện hai mục
tiêu vừa có tính cách cá nhân vừa mang tính xã
hội ấy, Tăng đoàn chính là môi trường lý tưởng
nhất có thể giúp cho các tỳ kheo thực hiện lý
tưởng đó.
Như thế, Tăng đoàn được
thành lập không phải vì củng cố thế lực, danh
tiếng hay uy tín…mà đức Phật thành lập Tăng đoàn
vì sự an ổn và thuận lợi cho chúng đệ tử tu tập
Giới - Định - Tuệ, làm lợi ích cho đời .
Ngoài ra, Tăng đoàn có
vai trò gìn giữ Chánh pháp và phổ biến Chánh
pháp rộng rải khắp nhân gian, giúp mọi người
thông hiểu Phật pháp và sống đúng Chánh pháp, vì
chỉ có Chánh pháp mới có đầy đủ năng lực cảm hóa
và cải thiện con người trở về chân thiện mỹ.
Chúng ta cần lưu ý rằng,
đức Phật đến cuộc đời này để tìm con đường giải
thoát cho chúng sanh, chứ không phải để thành
lập đoàn thể, nếu cần có đoàn thể giáo đoàn thì
đó chỉ là phương tiện truyền bá Chánh pháp. Cho
nên, đức Phật chấp nhận thế gian pháp để hiển
bày xuất thế gian pháp. Nói cách khác, phương
pháp truyền bá Chánh pháp của đức Phật là chuyển
hóa, là thay đổi chứ không phải đạp đổ, xóa bỏ.
Làm sao xóa bỏ được một truyền thống, một niềm
tin đã ăn sâu vào tâm thức của cả một dân tộc
qua bao thế hệ? Cho dù có xóa bỏ, đạp đổ được
chăng nữa, công cuộc xây dựng lại cũng không đơn
giản. Vì thế, đức Phật chấp nhận niềm tin truyền
thống, nền tảng có sẳn, chỉ cần chuyển đổi cho
phù hợp với Phật pháp để truyền bá giáo lý đến
cuộc đời. Đó không chỉ là phương pháp, nghệ
thuật sống mà còn là nghệ thuật làm cho Phật
giáo sống còn. Đây là tinh thần tùy duyên rất
diệu dụng để đạt được mục đích cứu khổ của đạo
Phật.
Với ý nghĩa và mục đích
chân chính như thế, Tăng đoàn Phật giáo nhanh
chóng thoát khỏi cái nhìn hệ lụy của xã hội và
khoác lên cho mình một tinh thần sinh hoạt mới
mẻ đầy nhân bản .
Chính vì thế, Đức Thế
Tôn đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng nếp sống
Tăng đoàn. Xây dựng nếp sống Tăng đoàn chính là
bồi dưỡng phẩm chất cho từng tỳ kheo. Vì phẩm
chất của mỗi tỳ kheo quyết định sự hưng suy của
Tăng đoàn, quyết định sự tồn tại của Phật pháp.
Cho nên, những lời giáo huấn về hành vi thái độ
của từng tỳ kheo luôn được Thế Tôn nhắc nhở.
Những lời ấy xuyên suốt Luật tạng và Kinh tạng
Pàli. Ngay những ngày tháng cuối cùng, Đức Thế
Tôn cũng không ngừng quan tâm, huấn luyện chư Tỳ
kheo và Tỳ kheo Ni nỗ lực đoạn trừ tham ái. Đồng
thời, Ngài đúc kết lại những điều cốt lõi nhất
trong giáo pháp và tha thiết dặn dò các đệ tử
phải ghi nhớ thực hành nhằm xây dựng và củng cố
nếp sống thanh tịnh của Tăng đoàn. Bảy yếu tố
sắp trình bày dưới đây là một trong những yếu tố
tiêu biểu mà mỗi vị tỳ kheo phải hành trì để làm
cho Tăng đoàn trở nên hưng thịnh .
CHƯƠNG 2 :
BẢY YẾU TỐ KHIẾN TĂNG ĐOÀN HƯNG THỊNH
Mọi tổ chức xã hội đều
do con người dựng nên và số phận thịnh suy của
nó tùy thuộc vào con người. Dĩ nhiên có rất
nhiều yếu tố đóng vai trò quyết định sự thịnh
suy của một tổ chức, nhưng con người vẫn là yếu
tố then chốt. Con người có tốt thì tổ chức mới
tốt. Trong ý nghĩa như vậy, đức Phật đã thành
lập Tăng đoàn, lấy trí tuệ làm nền tảng, dùng
đức hạnh làm thăng hoa tổ chức. Trong chương
này, chúng ta sẽ xem xét đặc điểm này của tổ
chức Tăng đoàn Phật giáo thông qua sự nhấn mạnh
của đức Phật về bảy yếu tố phát huy đức hạnh và
trí tuệ của con người.
Bảy yếu tố khiến Tăng
đoàn hưng thịnh hay còn gọi là bảy pháp bất thối
được đề cập trong bài kinh Đại bát Niết bàn,
gồm: Có Tín tâm, có Tàm, có Quý, Đa văn, Tinh
tấn, Chánh niệm và Trí tuệ. Đây là những yếu tố
quan trọng được đức Phật đặc biệt nhấn mạnh như
là nền tảng cho sự hưng thịnh của Tăng đoàn do
ngài thành lập. Bài kinh là một tài liệu lịch sử
quý giá, ghi lại cuộc hành trình cuối cùng của
Đức Thế Tôn khởi sự từ Vương xá và kết thúc tại
Kusinarà – nơi Ngài quyết định vào Niết-bàn.
Trong những ngày tháng cuối cùng này, Đức Thế
Tôn ân cần nhắc nhở các đệ tử những điểm giáo lý
quan trọng, những điều cốt lõi trong giáo pháp.
Dừng chân mỗi trú xứ, Thế Tôn khuyên nhắc những
vấn đề khác nhau đầy ý nghĩa và súc tích. Đó là
những gì tâm huyết nhất của bậc Đạo sư dành cho
chúng đệ tử. Đặc biệt khi ở Vương xá thành, vì
sự hưng suy của Tăng đoàn, vì sự tồn vong của
Phật pháp, Đức Thế Tôn nêu ra những điều cần
thiết để xây dựng một hội chúng hưng thịnh. Bảy
yếu tố đã nêu trên như tóm thâu tất cả tinh hoa
của giáo pháp và được xem là kim chỉ nam áp dụng
vào nếp sống phạm hạnh của mỗi thành viên trong
Tăng đoàn ở mọi thời đại.
2.1. Có Tín tâm :
Niềm tin là cửa ngõ bước
vào đạo. Người học Phật muốn thể nhập chân lý
với trí tuệ thì trước hết phải có lòng tin chân
chánh. Bởi vì, Saddhà (Đức tin, lòng tin) là tâm
sở đi đầu trong các tâm sở thiện. Nó khởi sự cho
mọi việc tiếp theo đều tốt đẹp. Đó là đức tính
cần thiết làm nền tảng cho người mới bước vào
đạo. Kinh Tiểu địa quán có câu “Vào biển Phật
pháp lấy niềm tin làm gốc, qua sông sanh tử lấy
giới pháp làm thuyền”. Do vậy, người có lòng tin
chân chánh thì tất cả thiện pháp đều thành tựu.
Vị ấy không đi quá xa, không đi ra ngoài pháp
luật cuả Đức Thế Tôn thuyết giảng.
Saddhàụ (Tín) xuất phát
từ ngữ căn Sam (tốt, khéo) + dah (đặt xuống, để
xuống) nghĩa là đặt lòng tin tưởng hoàn toàn đối
với Tam bảo (Phật-Pháp-Tăng), tin nghiệp nhân,
nghiệp quả, tin khả năng giác ngộ của chính
mình.
Saddhà có khả năng làm
các phiền não nghi ngờ tiêu sạch như viên ngọc
của vua chuyển luân làm nước lóng sạch cáu bẩn.
[13,38] Nhiệm vụ của nó là đi vào, như sự khởi
hành vượt qua bộc lưu (xem Kinh Tập, tr. 184).
Nó được biểu hiện bằng sự không mù mờ hay sự
quyết định. Saddhà nên xem như một bàn tay, vì
nó nắm giữ thiện pháp được xem như là tài sản và
như hạt giống (kinh Tập, tr. 182). Như vậy, lòng
tin là điểm khởi sự cần thiết cho việc thực hành
giáo pháp. Nó là bước đi đầu tiên trong những
bước đi hướng về giải thoát, nếu chúng ta làm
sụp đổ hay đánh mất ngay bước đi đầu tiên thì
những bước đi kế tiếp không thể nào thực hiện
được. Cho nên, hành giả phải hết sức cân nhắc về
vấn đề này, để khỏi lầm đường lạc lối, khổ lụy
muôn đời.
Trước hết, hành giả phải
có lòng tin nơi Đức Thế Tôn. Thế Tôn là bậc đạo
sư, từ địa vị con người, Ngài đã tự mình tu tập
chứng đạt chân lý tối thượng và trở thành bậc
Giác ngộ vĩ đại. Tin vào Pháp của Thế Tôn thuyết
giảng có khả năng giúp con người ra khỏi khổ
đau: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, tự
chứng ngay hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến
để mà thấy, có hiệu năng hướng thượng, được
người trí chứng biết”. [5-II,286] Tin vào Tăng
đoàn là những người đã và đang nỗ lực trên con
đường diệt khổ, là những người thay Phật thuyết
giảng con đường cứu khổ cho đời, “Chúng đệ tử
của Thế Tôn đã đi vào thiện đạo, trực đạo, chân
đạo, chánh đạo nghĩa là bốn đôi tám vị. Chúng đệ
tử này của Thế Tôn đáng được cúng dường, cung
kính chấp tay chào, là phước điền vô thượng của
thế gian”. [5II,286] Người có niềm tin vững chắc
đối với Tam Bảo như vậy thì sẽ cố gắng tu tập
theo Chánh pháp, dù gặp trở ngại gì cũng không
thối chuyển.
Tuy nhiên, đức Phật dạy
chúng ta nên tìm chân lý, chớ không nên nghe qua
vội tin liền, dù người nói có nhiều uy tín đi
nữa. Ngài dạy:“Chớ có tin vì nghe truyền thuyết;
vì truyền thống; vì nghe người ta nói; vì kinh
tạng truyền tụng; vì nhân lý luận; chớ có tin
sau khi suy tư một vài dữ kiện; chớ có tin theo
thiên kiến định kiến; chớ có tin vì vị Sa môn là
bậc đạo sư của mình”. [5-II,212] Đức Phật bác bỏ
những trường hợp đáng tin như vậy, rốt cuộc,
chúng ta biết tin ai và tin cái gì ? Nhưng đến
đây, Thế Tôn khuyên dạy thật nhẹ nhàng: Hãy tin
chính mình, tin ở nơi lý trí phán xét của mình.
Đức Phật dạy khi nào tự mình biết rõ các pháp
này là bất thiện, có lỗi lầm, bị người trí chỉ
trích, nếu thực hành và chấp nhận các pháp ấy sẽ
đưa đến bất hạnh đau khổ thì chúng ta phải từ
bỏ. Ngược lại, nếu biết rằng các pháp này là
thiện, không lỗi lầm, được người trí tán thán,
nếu thực hành và chấp nhận sẽ đưa đến an lạc và
hạnh phúc thì phải chứng đạt và an trú. Như vậy,
đức Phật luôn đứng ở vị trí con người để giáo
hóa chúng sanh và đặt lòng tin vào khả năng của
con người có thể phân biệt thiện ác, chánh tà.
Con người có khả năng tự giải thoát, tự giác ngộ
như ngài đã tự mình giác ngộ giải thoát.
[12,32-33]
Dù ở góc độ nào, niềm
tin luôn được Đức Thế Tôn đặt lên vị trí dẫn
đầu. Trong kinh Cankì – Trung bộ II, số 95, đức
Phật phân biệt ba trình độ tiếp cận chân lý: Hộ
trì chân lý, giác ngộ chân lý và chứng đạt chân
lý. Tất cả đều bắt đầu từ lòng tin, nhưng tin
như thế nào mới là điều quan trọng.
Người hộ trì chân lý
(tôn trọng sự thật) khi tin tưởng một điều gì
thì cứ tin, nhưng không nên xác quyết rằng chỉ
có điều ta tin mới thật đúng, ngoài ra đều sai
lầm. Vì rằng, chấp trước là một xiềng xích nên
tốt nhất ta cứ tin nhưng đừng cực đoan ôm chặt
nó. Đây là thái độ buông xả khéo léo của người
học pháp.
Giác ngộ chân lý cũng
thế, niềm tin trước tiên là đối với bậc thầy.
Một người khi xem xét một vị thầy, biết rõ vị
thầy ấy không có tham, sân, si… và khéo thuyết
giảng pháp đưa đến vô tham, vô sân, vô si…thì
người ấy khởi lòng tin. Nhờ có lòng tin, vị ấy
đến gần rồi thân cận thường xuyên để được chỉ
dạy về Phật pháp. Khi được chỉ dạy, vị ấy biết
lắng nghe, nghe xong phải thọ trì, khi thọ trì
phải tìm hiểu ý nghĩa của pháp. Nhờ hiểu rõ ý
nghĩa, vị ấy hân hoan chấp nhận và phát sanh ý
muốn nỗ lực tu tập, cân nhắc pháp môn nào thích
hợp với mình, vị ấy tinh cần tu tập một thời
gian dài cho đến khi tự thân chứng đạt chân lý
và thể nhập chân lý với trí tuệ. Như vậy từ lòng
tin chân chánh, hành giả nỗ lực tu tập để bước
vào ngôi nhà trí tuệ là cả một con đường dài cam
go, mỗi chặng đường mở ra một khúc quanh mới,
nếu hành giả thiếu thiện xảo có thể bỏ cuộc hoặc
lạc đường.
Trong việc chứng đạt
chân lý, mặc dù, tinh cần là yếu tố xuyên suốt
trong lộ trình tu tập, nhưng muốn tinh cần phải
cân nhắc, muốn cân nhắc phải cố gắng, muốn cố
gắng phải có ước muốn, để có ước muốn cần phải
hoan hỷ chấp nhận, muốn hoan hỷ chấp nhận phải
tìm hiểu ý nghĩa, muốn tìm hiểu ý nghĩa phải thọ
trì pháp, muốn thọ trì pháp phải nghe pháp, muốn
nghe pháp phải lóng tai, muốn lóng tai phải thân
cận giao thiệp, muốn thân cận giao thiệp phải
đến gần, muốn đến gần phải có lòng tin. Đến đây,
chúng ta thấy niềm tin luôn khởi đầu trong tiến
trình tu tập, nó giúp hành giả dứt bỏ sự nghi
ngờ hay sự mù mờ đối với các pháp. Nghi ngờ là
một trong năm triền cái làm chướng ngại việc
hành thiền.
Cho nên, mỗi hành giả
phải có niềm tin chân chánh. Đó là niềm tin của
vị tỳ kheo Thánh đệ tử – niềm tin của người đã
thấy pháp bằng chính kinh nghiệm cá nhân, đã
đoạn diệt hoài nghi pháp. Đây là nền tảng vững
chắc của Thánh tín, bất động không thể lung lay,
không thể biến hoại, cho dù trôi lăn trong sanh
tử.
2.2. Có Tàm :
2.3. Có Quý :
Tàm và Quý là hai tâm sở
thiện thường đi chung với nhau. Do vậy, chúng ta
có thể trình bày xen lẫn nhau để làm nổi lên
tính chất ưu việt của hai tâm sở này.
Trong kinh Tăng chi, đức
Phật gọi Tàm và Quý là những vị “hộ trì thế
gian”, vì đấy là nền tảng của giới, nền tảng của
đạo đức. Cho nên, mỗi hành giả phải tự soi rọi
lại chính mình và làm cho hai đức tính này luôn
hiện hữu trong tâm để thăng hoa nếp sống phạm
hạnh - nếp sống của giới luật không có lỗi lầm.
Tàm (Hirì) có đặc tính
là chán ghét, ghê tởm trước điều ác, do một ý
thức về tính tự trọng. Nó được thể hiện là sự tự
trách mình. Quý (Ottappa) có đặc tính là sợ hãi
điều quấy, quan tâm đến dư luận. Hay nói cách
khác, Tàm có nhiệm vụ không làm ác dưới hình
thức khiêm cung, Quý có nhiệm vụ không làm ác
dưới hình thức sợ hãi.
Sở dĩ, chúng là nền tảng
của giới vì: người học Phật tự giác hành trì
giới luật xuất phát từ cái tâm ghê sợ tội lỗi,
sợ quả báo đau khổ nên cố gắng giữ gìn thân,
khẩu, ý không cho dễ duôi phóng túng. Người ấy
luôn khép mình trong giới luật để tịnh hóa thân
tâm, giữ gìn chánh pháp làm cho Phật pháp hưng
thịnh, “ Nếu người xuất gia có tín tâm, thường
sanh Tàm Quý, siêng học giới luật thì Phật pháp
sẽ tồn tại”. [20,54]
Xét về mặt bản chất,
Hirì (hổ thẹn) phát sinh từ bên trong và Ottappa
từ bên ngoài do ngoại cảnh. Ví như thanh sắt,
một đầu đốt nóng lên, đầu kia thoa đồ dơ thúi
vào. Ta không sờ tay vào đầu dơ thúi của thanh
sắt vì ghê tởm, gớm , và không sờ tay vào đầu
nóng vì sợ. Những điểm ghi nhận sau đây của bà
Rhys David về Tàm và Quý mô tả rành rẽ sự khác
biệt giữa hai tâm sở có liên quan mật thiết này
:
“Hirì và Ottappa, như
đức Buddhaghosa phân tích cho thấy nhiều điểm vô
cùng hứng thú về phương diện đạo đức. Gom chung
lại, hai danh từ này là sắc thái “cảm xúc” và
“quyết ý” của ý niệm về tâm thức của thời hiện
đại, cũng như Sati (Niệm) tiêu biểu cho phần trí
thức. Hirì có nghĩa tương đương với hổ thẹn
(lajjà), Ottappa tương đương với nỗi ưu phiền
đau khổ (ubbego) về hành động bất thiện. Hirì
bắt nguồn từ bên trong, tình trạng nguy hiểm và
ghê sợ lỗi lầm. Nguồn gốc chủ quan của Hirì có
bốn: ý niệm có liên quan đến sự sanh trưởng, đến
tuổi tác, đến giá trị và đến giáo dục của ta. Do
đó, người có tâm hổ thẹn trước hành động bất
thiện, Hirì sẽ suy tư: “ chỉ có con cái của
hạng người tầm thường, như dân chài chẳng hạn,
những người nghèo khó, đói rách, những người mù
dốt mới làm điều này” và vì nghĩ vậy người ấy tự
chế, nhịn không làm. Nguồn gốc của Ottappa, Quý
ghê sợ hậu quả của hành động bất thiện nằm ở bên
ngoài ta. Đó là ý niệm: “ hạng người chân thật
sẽ khiển trách ta, và vì lẽ ấy không làm điều
bất thiện”. Đức Phật dạy người ấy là vị chủ nhân
tốt nhất của chính mình. Đối với người có nhiều
nhạy cảm hơn với Otaappa, ghê tởm hậu quả của
hành động bất thiện, thì các ông chủ của niềm
tin là hướng dẫn tốt nhất”.
Chính vì thế, Tàm và Quý
là hai yếu tố chi phối thế gian rất quan trọng.
Thiếu hai yếu tố này không có xã hội văn minh
nào có thể tồn tại. Những điều Phật dạy cách đây
hai mươi sáu thế kỷ sao mà luôn mới mẻ và thiết
thực đến thế !
Trong nếp sống phạm
hạnh, đức Phật luôn khích lệ tinh thần tự giác
đối với các Tỳ kheo, mỗi người tự hành trì giới
pháp để chứng đạt chân lý. Ngài không đặt để quy
luật hà khắc hay trừng phạt nặng nề, chỉ có Tàm
và Quý như là tòa án lương tâm chân thành nhất
của mỗi người: Trong Ottappa ta cảm nghe ghê sợ
trước phiền hà của chính ta; sự khiển trách của
người khác; và quả báo trong một kiếp sống khác.
Do vậy, Tàm và Quý là hai đức tính vô cùng cần
thiết, mỗi chúng ta phải luôn phát huy để nâng
cao phẩm hạnh của mình. Đồng thời nhờ có Tàm
Quý, hành giả mới xa lìa ác pháp và phát triển
thiện pháp, sống an vui không áy náy hay hối hận
vì lỗi lầm. Ngược lại, người không có tàm quý
thì quá trình chuyển hóa tâm thức không bao giờ
xảy ra và cũng không bao giờ thăng tiến đời sống
đạo đức tâm linh.
Đức Phật dạy, Tỳ kheo
biết tàm, biết quý thì thường có ái và kỉnh; nếu
có ái và kỉnh thì thường có tín; nếu có tín thì
thường có chánh tư duy; nếu có chánh tư duy thì
thường có chánh niệm, chánh trí; nếu có chánh
niệm, chánh trí thì thường giữ gìn các căn, giữ
giới, không hối hận, hoan duyệt, hoan hỷ, tịnh
chỉ, lạc, định, tri kiến như thật, nhàm chán, vô
dục, giải thoát; nếu đã giải thoát liền đắc
Niết- bàn. Giống như một cây nào mà vỏ ngoài
không bị hư thì vỏ trong không bị hư, vỏ trong
không hư nên thân, lõi, nhánh, cành, hoa, lá
chắc chắn thảy đều thành tựu. [11,528-529]
Cho nên, đức Phật nhấn
mạnh một vị tỳ kheo khi đã tự xưng và được người
ta gọi là Sa môn thì phải tu tập và thành tựu
các hạnh Sa môn, trong đó có Tàm Quý. Vị tỳ kheo
đã thành tựu Tàm Quý thì thân, khẩu, ý được
thanh tịnh, các căn được hộ trì , ăn uống có
tiết độ và sống trong chánh niệm tỉnh giác. [2,
600] Vị ấy sống có Tàm Quý nhưng không khen mình
chê người, không kiêu căng hay chỉ trích các bạn
đồng phạm hạnh. Ngược lại, vị ấy sống khiêm
nhường, tế nhị, có từ tâm , biết cảm thông và
tha thứ…. Vị ấy sống an lạc trong giáo pháp.
Tàm và Quý là nền tảng
của giới, nền tảng của đạo đức. Đạo đức thì
thường mang giá trị tương đối, thế nhưng, đạo
đức Phật giáo cho đến nay vẫn không có gì lỗi
thời, và phẩm chất đạo đức hay giới luật của Tỳ
kheo đệ tử Phật hẳn là rất cao vời khiến cho nó
tiếp tục tồn tại trải qua hai mươi sáu thế kỷ
nay.
2.4. Đa văn (Văn huệ):
Đa văn là nghe nhiều. Ở
đây chỉ cho nghe giáo pháp của Phật. Nghe giảng,
đọc sách, thảo luận với thiện hữu tri thức để
hiểu thấu đáo lời Phật dạy đều gọi là Văn huệ.
Trong Tam huệ học (Văn huệ, Tư huệ và Tu huệ),
Văn huệ là giai đoạn đầu tiên trên bước đường tu
tập tiến đến trí tuệ.
Giai đoạn đầu, chúng ta
thường thân cận bậc trí để lắng nghe diệu pháp,
nhưng nghe xong phải khéo tư duy quan sát (Tư
huệ) để áp dụng thiền tập trên những đề mục đã
tư duy ấy. Nói cách khác, người học Phật không
nên có thái độ học pháp, đón nhận pháp như người
sưu tập chìa khóa mà không sử dụng, chất đầy nhà
chỉ thêm choáng chỗ. Thái độ chân chánh khi học
pháp là phải biết lắng nghe, nghe xong áp dụng
tu tập trong nếp sống hằng ngày thì mới có lợi
ích. Đó là người biết từ cửa Văn huệ bước vào
ngôi nhà Phật pháp.
Nghe pháp mà không hành
trì thì trọn đời cũng không nếm được pháp vị :
“Người ngu dẫu trọn đời
Thân cận bậc hiền trí
Vẫn không biết chân lý
Như cái muỗng múc canh.
Người trí dầu một khắc
Thân cận với bậc hiền
Cũng thấy ngay chân lý
Như lưỡi nếm vị canh”
[ PC.64-65]
Do vậy, người nghe pháp
cần tránh ba lỗi: Lỗi thứ nhất, tâm trí bưng
bít, không hân hoan, không nồng nhiệt đón nhận
pháp, giống như cái bình đóng kín không thể đổ
sữa vào; lỗi thứ hai, tâm buông trôi không chú ý
lắng nghe, nghe tai này chạy sang tai kia, như
cái bình lũng đáy đổ sữa vào sẽ chảy hết; lỗi
thứ ba, nghe pháp với một tâm trí và thái độ bất
tịnh như ham muốn vinh dự hay tiếng tăm nào đó,
hoặc vị kỷ hay tham dục…, giống như cái bình bị
ô uế. Chúng ta đừng để các điều này ngự trị
trong tâm và hãy đón nhận pháp với tâm trạng hân
hoan, cởi mở và trong sáng như cái bình trống,
cái bình không lũng đáy, cái bình được súc sạch
để diệu pháp thấm nhuần thân tâm. Đồng thời,
chúng ta vui mừng đón nhận pháp như một bịnh
nhân lắng nghe sự hướng dẫn của người thầy thuốc
để uống thuốc cho đúng và hết bịnh. Cũng vậy,
chúng ta lắng nghe diệu pháp, hành trì pháp để
trị bịnh tham, sân, si và căn bịnh đau khổ triền
miên do ôm giữ cái ta nhỏ bé này.
Đức Phật dạy: “ Vị Thánh
đệ tử nghe nhiều, không bị trói buộc bởi sanh,
già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói người
ấy không bị trói buộc bởi đau khổ”. [9,214-215]
Hay nói cách khác, con
đường giải thoát là con đường không có bóng tối
của vô minh, con đường đoạn tận ái theo một quá
trình thân cận bậc trí để nghe diệu pháp đi đến
đoạn tận năm triền cái: Do thân cận bậc chân
nhân nên nghe được diệu pháp, nhờ nghe diệu pháp
nên khởi tín tâm, nhờ có tín tâm nên như lý tác
ý, nhờ có như lý tác ý nên được chánh niệm tỉnh
giác, nhờ có chánh niệm tỉnh giác mà các căn
được chế ngự, nhờ các căn được chế ngự nên có
thân, khẩu, ý thiện hành, nhờ có thân, khẩu, ý
thiện hành mà năm triền cái đựoc đoạn diệt. Năm
triền cái là thức ăn nuôi dưỡng vô minh, khi năm
triền cái diệt thì vô minh không có nhân duyên
để tồn tại. [8,9-26]
Như thế, con đường đoạn
tận vô minh để trí tuệ có mặt cũng bắt đầu từ
việc lắng nghe diệu pháp (Văn huệ). Chịu khó
lắng nghe, suy gẫm và thực hành phải được vận
dụng khéo léo và cùng lúc, để việc tu tập có
hiệu quả hơn. Và vì vậy, nói đến Văn huệ là nói
đến Tư huệ và Tu huệ, chúng không thể tách rời
nhau. Nếu dừng lại ở giai đoạn đầu (Văn huệ),
hành giả trở thành những người học rộng, nghe
nhiều, giàu có kiến thức, nhưng đời sống tâm
linh thì nghèo nàn nhỏ bé. Chúng ta nên tránh
lối học pháp và nghe pháp theo kiểu tầm chương
trích cú, lối tư duy mang màu sắc hữu ngã….Vì
như thế, nó sẽ làm tăng thêm ngã mạn, tạo nhiều
chướng duyên, ngăn cản bước đi tâm linh của
chính mình.
Chính vì thế, Đức Thế
Tôn luôn khuyến khích chư đệ tử phải siêng năng
học pháp, nghe nhiều để mở mang tri thức. Từ
cánh cửa tri thức này, và bằng con đường thiền
quán, hành giả sẽ bước vào lĩnh vực của trí tuệ,
lĩnh vực chứng đạt tâm linh – nó bao la rộng lớn
và thông suốt mọi ngọn ngành của vạn vật, vượt
xa cái tri thức nhỏ bé hữu hạn mà con người tìm
kiếm qua sách vở. Đây là tác dụng tích cực của
người học rộng nghe nhiều.
Trong nếp sống tu học,
lắng nghe là một nghệ thuật sống rất tuyệt vời
và sống động. Nghe nhiều, nói ít là đức tính
khiêm nhường cần thiết cho vị tỳ kheo. Nhờ biết
lắng nghe, chúng ta sẽ học hỏi và được chỉ dạy
từ nhiều phía, thầy tổ, bạn bè…. Hơn nữa, Đức
Phật dạy, tỳ kheo đệ tử Phật khi ngồi lại với
nhau, nếu có thảo luận thì nên thảo luận về Phật
pháp, bằng không thì giữ im lặng của bậc Thánh.
Im lặng ở đây là nếp sống thiền định. Vì thế để
hội chúng được thanh tịnh, ngoài việc nghe pháp,
học pháp, trau giồi phạm hạnh, vị tỳ kheo phải
nỗ lực hành thiền để chứng đạt chân lý, không
nên tranh luận việc thế sự làm dấy khởi tạp
niệm, tạp tưởng trong tâm, lãng phí thời gian tu
tập của mình và các bạn đồng phạm hạnh.
2.5. Tinh tấn(Viriya):
Tinh tấn là yếu tố xuyên
suốt và không thể thiếu đối với việc tu tập của
một hành giả. Nó là căn nguyên của mọi thành tựu
mỹ mãn. Có thể nói, tiến trình tu tập từ phàm
đến thánh như một xâu chuỗi ngọc bích mà tinh
tấn như là sợi chỉ đỏ xuyên suốt xâu chuỗi đó.
Hành giả muốn tu tập để đạt mục tiêu phạm hạnh
thì phải nỗ lực thường xuyên trong suốt lộ trình
tu học của mình.
Viriya xuất nguyên từ
ngữ căn Vaj nghĩa là đi + ir “ vì” thay cho
“aj” . Vìra là người chuyên cần nỗ lực hoàn
thành công việc của mình một cách liên tục.
Viriya được định nghĩa là trạng thái hay hành
động của người cương quyết. Danh từ này cũng có
nghĩa là cái gì được thực hiện hay hoàn tất đúng
phương pháp.
Viriya có đặc tính nâng
đỡ, giữ vững, chống đỡ, như một ngôi nhà hư cũ,
nhờ những cây cột mới chống đỡ. Cũng vậy, Viriya
hỗ trợ và nâng đỡ các tâm sở thiện khác đồng
phát sanh.
Viriya được xem là một
trong năm khả năng kiểm soát-Ngũ căn (Indriya),
vì nó khắc phục trạng thái lười biếng. Viriya
cũng được xem là một trong năm năng lực kiểm
soát- Ngũ lực (Bala), vì nó không thể bị trạng
thái lười biếng làm lay chuyển. Viriya là một
trong bốn phương tiện để thành tựu mục tiêu cứu
cánh (Iddhipàda – Tứ thần túc). Viriya là một
trong bảy yếu tố cần thiết của sự giác ngộ
(Bojjhanga- Thất giác chi). Cuối cùng, Viriya
đạt đến mức trở thành Chánh tinh tấn, một trong
tám chi của con đường cao quý (Atthangika Magga-
Bát chánh đạo). Chuyên cần, cố gắng, tận lực,
tinh tấn được xem là những từ sát nghĩa với
Viriya.
Một cách bao quát, Chánh
tinh tấn hay nỗ lực chân chánh là các cố gắng
nhằm chấm dứt các quan niệm sai lầm, tư duy sai
lầm, lời nói bất thiện, hành vi sai trái, nghề
nghiệp xấu ác, ý thức sai lệch, thiền định tà
vạy. Một cách cụ thể, nỗ lực chân chánh có thể
được chia thành bốn nhóm, tùy theo chức năng và
bản chất của chúng. Đó là nỗ lực ngăn ngừa, nỗ
lực từ bỏ, nỗ lực phát huy và nỗ lực duy trì.
[8, 15] Nói chung, nó bao gồm những nỗ lực hướng
đến và hoàn thiện đời sống đạo đức, đời sống
thánh thiện hay đời sống không còn đau khổ.
Nỗ lực ngăn ngừa là cố
gắng ngăn chặn sự phát sanh của các động cơ và
hành vi bất thiện và không có lợi ích. Đó thực
ra là sự hộ trì các căn : Khi mắt thấy sắc, tai
nghe âm thanh, mũi ngữi các mùi, lưỡi nếm các
vị, thân xúc chạm vật thể và tâm nhận thức các
hình ảnh hay khái niệm nội tại, chúng ta không
nên vướng mắc vào các đặc điểm chung và riêng
của chúng. Do không chấp mắc, chúng ta sẽ làm
chủ các giác quan trong việc ngăn ngừa không cho
các động cơ và hành vi bất thiện phát sanh.
Nỗ lực từ bỏ là năng lực
hay ý chí triệt tiêu, hủy bỏ, chấm dứt sự hiện
hữu như tư duy về khoái lạc giác quan, tư duy
đầy dẫy sân hận và hiềm thù, tư duy bạo động và
sát hại.
Nỗ lực phát triển là
năng lực hay ý chí vun bồi các động cơ thiện
chưa được phát khởi từ bảy yếu tố giác ngộ. Đó
là chánh niệm, phân biệt chánh tà, nỗ lực, hỷ,
khinh an thân tâm, định và xả trước các biến cố
trong đời. Trọng tâm của những nỗ lực này được
dựa trên ly tham, hướng đến sự chấm dứt và kết
thúc ở thiện ích .
Nỗ lực duy trì là năng
lực hay ý chí lưu giữ một đề mục thiền định nào
đó. Đồng thời, vị tỳ kheo duy trì các thiện pháp
đã sanh, không có mù mờ, được quảng đại, được tu
tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn cố gắng phát
triển nghị lực và củng cố tâm mình. Tóm lại, như
Đức Thế Tôn dạy:
“Ngăn ngừa, đoạn tận, tu
tập và hộ trì
Là bốn tinh tấn mà bậc
Đạo Sư,
Bà con của mặt trời đã
tuyên bố
Ở đây, vị Tỳ khưu với
tinh tấn nỗ lực
Sẽ đạt đến mục đích đoạn
tận khổ đau”. [8,15]
Với tác dụng tích cực
như thế, Đức Thế Tôn luôn luôn nhắc nhở chúng đệ
tử hãy tinh tấn lên để giải thoát. Ngài chỉ là
người dẫn đường, đi tới đích hay không là do mỗi
người tự cất bước. Chúng ta hãy nhìn lại hạnh
tinh tấn của bậc Đạo Sư. Từ khi thành đạo cho
đến lúc nhập diệt, Đức Phật đã nỗ lực không
ngừng để làm lợi ích cho đời. Ngài du hóa khắp
nơi, từ dòng sông lạnh cho đến bãi cát nóng, từ
những ngọn đồi khô trọc cho đến cánh đồng xanh…
không nơi nào không lưu dấu chân của Bậc giải
thoát. Ngoài việc khích lệ chư Tỳ kheo nỗ lực
hành thiền để đoạn trừ tham ái – nguyên nhân của
đau khổ, Thế Tôn thường khuyên chư vị hãy siêng
năng thuyết giảng con đường thoát khổ cho đời.
Ngài dạy: “Này các Tỳ kheo, hãy du hành vì hạnh
phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng,
vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì
hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài
người”. [7,128] Mặc dù, tấm thân tứ đại có đôi
lúc mõi mệt nhưng tinh thần của Ngài thì luôn
tỉnh táo và mạnh mẽ. Bằng thân giáo và ngôn
giáo, Đức Thế Tôn đã dạy cho đời một lối sống
tích cực.
Chánh tinh tấn nằm trong
nhóm định của Bát chánh đạo chia theo Giới- Định
–Tuệ. Nó vận hành đồng thời với chánh niệm và
chánh định. Không có chánh tinh tấn thực khó có
thể vượt qua được các triền cái ngăn che tiến bộ
tâm linh. Chánh tinh tấn loại bỏ các tư duy ác
và không lành mạnh tác động như một rào cản đối
với sự định tâm, đồng thời thúc đẫy và duy trì
những tâm sở tốt đẹp trợ giúp cho sự phát triển
tâm định. Khi ngồi thiền, nhiều chướng ngại vây
quanh như lười biếng, hôn trầm dã dượi là lúc ta
áp dụng chánh tinh tấn, nếu như:
Khi cần không nỗ lực,
Dù trẻ khỏe nhưng lười
Buông thả tâm thụ động
Tụê đâu mà thấy đạo.
[PC.280]
Tuy nhiên, thanh lọc
chuyển hóa tâm không phải việc dễ thành công
trong một sớm một chiều. Nó cần có thời gian và
phải thực hành thường xuyên. Ví như, người lực
sĩ muốn cơ thể cường tráng phải bỏ nhiều thì giờ
luyện tập theo chương trình nhất định. Cũng vậy,
công việc tu tâm đòi hỏi cố gắng liên tục, đều
đặn và kiên nhẫn. Nhưng khi thực hành, hành giả
không nên quá căng thẳng, hãy để mọi việc tự
nhiên, hãy ghi nhận tư tưởng mỗi khi nó phát
sanh rồi để nó trôi qua. Hành giả càng cố ép,
muốn gạt bỏ tư tưởng ác thì sẽ càng vướng mắc
vào nó hơn. Như trường hợp giấc ngủ, ta càng cố
ép giấc ngủ, càng khó ngủ hơn. Cho nên, ta không
cần gắng sức để ngủ, giấc ngủ sẽ đến một cách tự
nhiên và chúng ta chỉ thư giản những căng thẳng
là đủ.
Vả lại, tự hành hạ mình
là một trong những cực đoan mà đức Phật dạy
người muốn hành thiền phải tránh. Ngài dạy nên
đi theo con đường trung đạo: không buông trôi,
không căng thẳng. Trong việc thực hành chánh
tinh tấn cũng vậy, hành giả phải theo pháp trung
dung không để rơi vào một cực đoan nào cả.
Ở đây, cần lưu ý một
điều, tinh tấn không phải chỉ áp dụng để kiểm
soát tâm trong lúc ngồi thiền, mà trong sinh
hoạt hàng ngày, hành giả nên cố gắng để ý kiểm
soát tư tưởng lời nói, mọi hành động và cách cư
xử của mình, tránh xa tam độc tham, sân, si…. Đó
là cố gắng chân chính. Hơn nữa, để chế ngự tư
duy tham lam, sân hận, ganh tỵ và hàng loạt
những tư tưởng ác khác mà con người phải đối
mặt, hành giả cần phải có nghị lực, siêng năng
và tỉnh giác để vượt qua. Cho nên, tham thiền
hay tu tập đều là sự trợ lực lớn lao giúp chúng
ta điềm tĩnh khi đối diện với cuộc sống. Đồng
thời, với sự nỗ lực không ngừng, hành giả cảm
thấy mạnh mẽ hơn và cảm nhận được những niềm vui
trong nội tâm, vì biết rằng mình đã dốc sức lực
vào việc tìm kiếm giác ngộ giải thoát, không có
gì so sánh được với chúng trong đời này. Tất cả
những thứ khác chỉ vì mục đích sinh tồn, dầu có
cần thiết nhưng không đem lại niềm vui chân
thật.
Qua sự trình bày trên
cho thấy, chánh tinh tấn luôn có mặt trong từng
bước đi của ta. Dù tu tập pháp môn nào, hành giả
cũng phải nỗ lực không ngừng mới có thể thành
tựu viên mãn. Cũng như nhiều giọt nước sẽ làm
đầy hồ, sự nỗ lực của hành giả cũng giống như
những giọt nước kia, rất nhỏ nhoi nhưng mỗi ngày
lại hơn hôm qua một ít, dần dần hồ nước sẽ đầy.
Sẽ có ngày với sự nỗ lực cuối cùng, hành giả
hoàn toàn buông bỏ các ảo tưởng về ngã. Tâm trở
nên nhẹ nhàng đối với tất cả các pháp. Cho nên,
mỗi chúng ta phải nỗ lực tinh cần trong giáo
pháp thì hội chúng sẽ có nhiều sinh lực, sẽ
hướng đến sự hòa hợp và thanh tịnh.
2.6. Chánh niệm (
Sammasati):
Chánh niệm là con đường