******Trang tiếng Việt  ******Thư Mục Tổng Quát ******Trang tiếng Anh ******

 

 

 

 

Luận văn tốt nghiệp

 

 

HOẰNG PHÁP VÙNG SÂU VÙNG XA

Thích Tâm Hoa

 

PHẦN MỞ ĐẦU

 1. Vài nét lịch sử đề tài:

Hoằng pháp là nhiệm vụ quan trọng của người tu sĩ Phật giáo. Chư Phật cũng như chư Bồ tát đều có những hạnh nguyện cao cả như thế. Ngày xưa Tổ Bồ Đề Đạt Ma vượt ngàn dặm xa xôi từ Ấn Độ sang Trung Quốc truyền giáo. Trong lịch sử đã có biết bao vị Tổ đã không quản gian lao khó nhọc để đến với những đất nước xa xôi như Tây Tạng cao ngất hay nước Nga giá rét…

Nhận xét về nhiệm vụ hoằng pháp, hòa thượng Thiện Hoa đã nói: “Người hoằng pháp không sợ gian lao, không từ khó nhọc”. Hòa thượng Trí Quảng cũng dạy: “Hoằng pháp ở vùng sâu vùng xa, trình độ văn hóa người dân ở đó kém ta, chắc chắn họ dễ nghe, dễ chấp nhận ta nên ta dễ phát huy năng lực…”

Là người con Phật, ngoài mục đích tu tập giải thoát, chúng ta phải lập hạnh lợi tha. Tùy theo khả năng, trình độ, hoàn cảnh bản thân mà chọn cho mình những phương pháp phù hợp để làm Phật sự một cách hiệu quả nhất, hoàn thành trách nhiệm của một sứ giả Như Lai, xứng đáng với ngôi Tam Bảo.

2. Lý do chọn đề tài:

Là một tăng sinh xuất thân từ một làng quê nghèo khó, con may mắn hội đủ phước duyên được xuất gia tu học. Nhận được sự dạy dỗ của Thầy tổ và Chư tôn đức, con thấy mình phải có trách nhiệm tu học thật tốt nhằm báo đáp phần nào công ơn to lớn ấy; trước là tìm con đường đúng đắn để tu tập giải thoát cho chính mình, sau nữa có thể đem ánh sáng Phật đà sáng soi, cứu khổ cho những người dân ở các vùng quê xa xôi hẻo lánh.

Người dân ở nông thôn, vùng sâu vùng xa có một đời sống thuần phác, hiền lành, nhưng đa số lại rất nghèo khó. Đời sống văn hóa, tinh thần thiếu thốn đã đành, đời sống vật chất càng vất vả. Họ cực nhọc quanh năm mà vẫn thiếu thốn. Họ là những người làm ra lương thực, lúa gạo rau quả, nhưng những hạt gạo tinh khiết nhất, những rau quả tươi ngon nhất đều dành để bán cho người thành phố dùng, còn bản thân họ thì luôn kham khổ. Họ là những người Ỏũ hiền nhưng chưa gặp lành.

Cùng cộng nghiệp, sống trong những năm khó khăn chung của một đất nước đang phát triển, nhưng người dân ở nông thôn, vùng sâu vùng xa có lẽ là nơi chịu đựng vất vả, thiệt thòi nhiều nhất! Là người đệ tử Phật, chúng ta nên học theo hạnh của ngài Ca Diếp, luôn hết lòng đối với những người nghèo khổ, để phần nào giúp họ có được một đời sống tinh thần tốt đẹp; hiểu Đạo, biết tu để dần dần tích phước, hạn chế những nghiệp dữ mà có thể vì thiếu nhận thức có thể gây ra. Giúp họ cải thiện cuộc sống, bớt đi những gian khó, tiến đến an lạc hơn.

Nông thôn, vùng sâu vùng xa là nơi đang rất cần những ánh sáng tri thức, những sinh hoạt văn hóa, tinh thần bổ ích. Là người con Phật phải luôn nằm lòng câu phát nguyện: “Nơi nào Chánh pháp cần, con đến; nơi nào chúng sanh cần, con đi. Chẳng quản gian lao, chẳng từ khó nhọc…”

 Trong khi ở những vùng đô thị có rất đông Tăng Ni tập trung về tu học và làm việc, những ngôi chùa trong thành phố dày đặc những khóa tu, những lớp giáo lý thường xuyên v.v… thì ở những vùng nông thôn xa xôi rất thiếu vắng những bóng áo nâu, áo vàng của Tăng Ni. Những ngôi chùa rêu phong kín cổng; những lớp giáo lý, những buổi thuyết pháp càng hiếm hoi; người dân chỉ biết đến chùa vào những ngày rằm. Tăng Ni chỉ có vai trò trong việc cúng sám lễ bái khi hữu sự ma chay v.v… Người dân nông thôn rất cần có những tấm lòng đại Bi đại Trí, mang ánh sáng Phật Đà đến với vùng sâu vùng xa, cho những con người quanh năm cúi mặt vào bờ ao mảnh ruộng biết ngẩng lên tìm về nẻo sáng.

Tăng sinh xuất thân vùng nông thôn nên có sự thông cảm và hiểu sâu tình hình thực tế cũng như tâm hồn người dân nông thôn, do vậy có khả năng thực hiện đề tài này một cách tốt hơn những đề tài khác.

Một phần quan trọng nữa là từ năm 2001, con được tuyển vào Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, được nghe Hòa thượng Trưởng ban hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam triển khai bộ Kinh Pháp Hoa, qua thực tế Hòa thượng giáo hóa rất nhiều tín đồ ở vùng sâu vùng xa một cách thành công đó là Đạo tràng Pháp Hoa.

Đến khi gần mãn khóa, Ban Tổ chức cho phép mỗi tăng sinh phải viết luận văn tốt nghiệp trình bày sự ưu tư hiểu biết của mình qua quá trình học tập ở nhà trường, qua sự kiểm nghiệm tự thân trong cuộc sống tu tập. Với cảm nhận rằng mình có duyên với Kinh Pháp Hoa, nên chọn môn Kinh Pháp Hoa, chọn cách hoằng pháp theo Kinh Pháp Hoa, nối gót bật tiền bối gữi gìn Phật Pháp còn mãi ở đời, đem lại lợi lạc cho mọi loài, góp phần tô điểm ngôi nhà Tam bảo ngày càng xương minh hưng thạnh. Có được như thế mới khỏi phụ ân đức rộng sâu của Đấng Từ Tôn và đền đáp được phần nào trong vô lượng công ân của Chư Thiền Đức đã dày công giáo dưỡng, cũng làm kim chỉ nam cho mình trên bước đường hoằng pháp lợi sanh.

3. Phạm vi đề tài:

Khi nói đến chữ hoằng pháp phải kèm theo chữ lợi sanh, vì hoằng pháp là truyền bá giáo pháp, song giáo pháp có nhiều loại, có loại đem lại lợi lạc cho chúng sanh, như Phật giáo chủ trương từ bi, bình đẳng, bác ái vị tha…; có loại giáo pháp không làm cho chúng sanh an lạc mà làm cho con người quay cuồng điên đảo, như đạo Bà La môn ở Ấn Độ ngày xưa chủ trương “Tế lễ là vạn năng”, giết hàng trăm hàng ngàn loài cầm thú, cho đến loài người đem tế lễ Thần để phù hộ, ban phước, dứt tội cho dân. Nhưng cúng tế như thế không xoa diu được nổi thống khổ của con người mà còn gây sự đau thương cho vô số hàm linh thấp kém.

Thế nên ở đây dùng hai chữ lợi sanh kèm theo hai chữ hoằng pháp nhằm xác định mục tiêu hoằng pháp trong Kinh Pháp Hoa. Lấy lợi sanh làm căn bản tùy theo nhu cầu của thời đại, quốc độ, con người mà nói để người nghe hiểu được Phật Pháp, cảm nhận được an lạc giải thoát, phát tâm bồ đề kính tin Tam bảo, đem giáo pháp ứng dụng có lợi lạc an vui thực sự trong cuộc sống. Theo Phật quang đại tự điển thì không dùng từ hoằng pháp mà dùng từ bố giáo đồng với nghĩa hoằng pháp.

Bố giáo là hoằng dương giáo pháp đồng nghĩa với những từ hoằng pháp, tuyên giáo, truyền giáo… Nhật Bản gọi bố giáo là khai giáo lấy cái ý nghĩa là khai thác ruộng giáo lý… Song song theo sự bố giáo là phát triển học đường, giáo dục trẻ em làm việc từ thiện, giúp đỡ dân nghèo…

Hiểu được tầm quan trọng của công việc hoằng pháp, tuy nhiên sức mình có hạn, không thể bao quát tất cả, con chỉ xin gói gọn trong phạm vi hoằng pháp ở vùng sâu vùng xa, với những mục tiêu sau:

- Tìm hiểu thực tế đời sống sinh hoạt Phật giáo ở vùng nông thôn.

- Đề ra phương hướng có thể thực hiện tốt công việc hoằng pháp ở nông thôn.

- Nói lên những kiến nghị mong Giáo hội, các Bậc Tôn Đức, đội ngũ Tăng Ni trẻ, các tổ chức có liên quan v.v… có thể đóng góp tích cực cho công việc hoằng pháp ở nông thôn.

4. Ý nghĩa, nhiệm vụ đề tài:

Sau khi Phật niết bàn, kinh điển được truyền khẩu từ thế hệ này xuống thế hệ khác. Phương pháp truyền giáo song song sau đó là phương pháp truyền bằng văn tự được thực hiện để khai triển giáo lý của Ngài suốt 25 thế kỷ. Các nhà truyền giáo triển khai giáo lý Phật đà chỉ một mục đích tự giúp mình giải thoát và giúp con người giải thoát khỏi khổ đau, hướng đến hạnh phúc tuyệt đối.

Nói chung, ý nghĩa cơ bản của hoằng pháp là làm con người hướng nhận thức đúng đắn để đánh giá hành động và thực hành các giá trị hầu tiến tới sự an lạc và giải thoát trong hiện tại và tương lai.

Trăn trở với đề tài hoằng pháp, con chỉ mong tìm ra được vài biện pháp tối ưu nhằm đem giáo lý Phật đà đến được vùng sâu vùng xa, là ý kiến đóng góp cho Giáo hội, cho các tổ chức xã hội có sự lưu tâm hơn, có những biện pháp tốt hơn để giúp cho đời sống tinh thần người dân nông thôn được nâng cao, tốt đẹp hơn. Kêu gọi những Tăng Ni trẻ, hãy lập hạnh hoằng pháp ở nông thôn, hãy đến với vùng sâu vùng xa, nơi ấy đang rất cần những bậc Bi-Trí-Dũng vượt mọi gian khó, mang ánh sáng Chánh Pháp đến với mọi người.

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: TÌNH HÌNH THỰC TẾ

1.1. Cơ sở vật chất:

a. Một số ngôi chùa đã được sửa chửa, trùng tu, xây dựng:

Phải công nhận rằng nông thôn ngày nay cũng có một số nơi những ngôi chùa được trùng tu, sửa chữa hoặc xây cất mới khá khang trang nhờ sự phấn đấu của các vị trụ trì, Ban Trị sự các tỉnh và tấm lòng hảo tâm của Phật tử, mà chủ yếu là kiều bào ở nước ngoài. Nhưng đa số các ngôi chùa được xây dựng đều theo một mục đích tín ngưỡng thuần túy. Cách kiến trúc nhằm mục đích biến chùa thành nơi để lễ bái cúng kiến tham quan, du lịch hơn là nơi để chư Tăng Ni thực hiện công việc truyền bá đạo Pháp, Phật tử có thể tập trung tu học. Chánh điện được tô vẽ sặc sỡ, kỳ công với nhiều tượng, phù điêu, tranh đắp, bục thờ v.v… nhằm mục đích cúng kiến lễ bái cầu an cầu phước nhiều hơn. Hiếm có nơi nào chú trọng đến việc xây cất những giảng đường, nơi dành để thuyết giảng Phật Pháp cho đông đảo người nghe.

b. Không ít ngôi chùa không được quan tâm, xuống cấp và hư hại:

Bên cạnh một vài ngôi chùa “may mắn” thì đa số chùa ở nông thôn, mà nhất là vùng sâu vùng xa chưa được sửa chữa xây dựng. Chùa nghèo nhìn rất buồn! Những vị trụ trì chưa đủ khả năng vực dậy phong trào tu học, thu hút Phật tử đến chùa, không thiết lập được những mối quan hệ với các mạnh thường quân. Chùa tồn tại lẻ loi và dường như không dính dáng gì đến xã hội bên ngoài, vị trụ trì dần dần giống như ông Từ giữ đền chớ không còn là một vị sư trụ trì nữa. Có những ngôi chùa khá cổ, có lối kiến trúc khá đặc sắc, có giá trị nhưng không được quan tâm đúng mức, dần hư hại, rất uổng phí!

c. Những khu dân cư mới hầu như không có bóng dáng một ngôi chùa:

Điều này cũng dễ hiểu. Do nhiều điều kiện hoàn cảnh khách quan và chủ quan. Người dân ở những khu dân cư mới thường là dân từ nhiều nơi qui về nên tín ngưỡng, tập tục khá khác nhau. Họ lo việc định cư, mưu sinh là chính, ít quan tâm đến đời sống tâm linh; chính quyền địa phương cũng không tạo kiện, không ủng hộ sự có mặt của các tôn giáo vì e ngại những phần tử xấu lợi dụng gây rối. Do vậy, ở những khu dân cư mới hầu như không có bóng dáng của một ngôi chùa.

d. Một số ngôi chùa bị biến thể thành nơi thờ cúng nửa vời, lai tạp, mang tính cách cá nhân hoặc sử dụng vào việc khác:

Một số ít bị cá nhân sở hữu, xem chùa như của riêng một giòng tộc, gia đình, đôi khi biến thành giống như am miếu, nơi để cầu xin cúng kiến. Một số khác do không người quản lý nên địa phương đưa vào sử dụng cho những việc khác như phòng thuốc đông y, cơ sở từ thiện v.v…

1.2. Đội ngũ Tăng Ni:

a. Những Bậc Tôn Đức, quí Tăng Ni lớn tuổi:

Ở những vùng nông thôn xa xôi hiếm có những Bậc Tôn Đức trú ngụ hành đạo. Nếu có cũng là nơi ẩn tu của các vị chỉ chuyên tâm tu hành một cách lặng lẽ, không tham gia Phật sự. Quí Tăng Ni lớn tuổi thì đa số trình độ giáo lý và khả năng thuyết pháp có hạn, chỉ có thể làm công việc tụng kinh lễ bái, cúng sao giải hạn…

b. Lớp Tăng Ni trẻ:

Một số được đào tạo học hành ở thành phố về thì không có điều kiện thể hiện khả năng hoặc cũng… thực sự không có khả năng làm Phật sự. Một số vì sự lơi lỏng của bổn sư trở nên dễ dãi lôi thôi, làm mất đi vẻ đẹp hình ảnh tăng chúng trong lòng dân chúng. Chuyện phá giới nhậu nhẹt của những vị thầy ở nông thôn, vùng sâu vùng xa là chuyện thường xảy ra, không một người dân nông thôn nào không biết thực tế đáng buồn ấy! Đó là một thực trạng mà nếu Giáo hội, các Ban Trị sự các tỉnh không quan tâm sâu sát, có biện pháp giáo dục xử lý nghiêm khắc thì ảnh hưởng xấu đến uy tín của đạo Phật không thể lường được. Người dân mất lòng kính tin Tam Bảo, và cái nhìn ấy khắc sâu rồi truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, mang đến hậu quả rất nghiêm trọng.

1.3. Phật tử:

Đa số người dân ở những vùng sâu vùng xa, ai cũng nghĩ rằng mình theo đạo Phật, đến ngày rằm, mùng một thì đi chùa, ăn chay, nhưng nếu hỏi đến pháp danh và việc quy y thì hầu như đa số chưa biết quy y là gì! Đến chùa nghe kinh thì được chớ ngồi xuống tụng kinh thì việc ấy xa vời lắm!

Ở một số ngôi chùa vùng thị xã, thị trấn thì trình độ người Phật tử có khá hơn, thuần thành hơn nhưng chủ yếu vẫn chỉ là niềm tin thuần túy, chưa hiểu biết gì mấy đến giáo lý, thọ Ngũ giới rồi nhưng chủ yếu là sống theo những nguyên tắc đạo lý dân gian.

1.4. Sinh hoạt Phật sự:

a. Chủ yếu là hoạt động tín ngưỡng thờ cúng, cầu an cầu siêu, hành hương du lịch:

Đa số các chùa ở nông thôn chủ yếu là tổ chức lễ bái vào những ngày rằm, ngày vía, ngày kỵ, cúng sao v.v… chớ chưa quan tâm đưa việc truyền bá giáo lý bằng hình thức thuyết pháp cho dân chúng.

b. Những khóa tu tổ chức một cách thiếu chặt chẽ, khoa học:

Những chùa khá hơn, thỉnh thoảng có tổ chức những khóa tu niệm Phật, Bát quan trai… nhưng còn rất sơ khởi, chưa thu hút được nhiều Phật tử tham gia.

c. Những buổi thuyết pháp hiếm hoi mang tính chất ra mắt, giới thiệu nhiều hơn là thuyết giảng:

Thỉnh thoảng có vài Bậc Tôn Đức ở thành phố về thăm nhân dịp húy kỵ hoặc khánh thành công trình tự viện nào đó thì cũng có tổ chức những buổi thuyết pháp, nhưng đề tài cũng chỉ “cỡi ngựa xem hoa” chung chung, không thể đi sâu bởi lâu lâu mới có dịp gặp một lần và có thể cũng không còn lần trở lại thì làm sao mà có đề tài thuyết pháp cho sâu sắc, có hệ thống được.                                         

Trên đây chỉ là những nét cơ bản, khái quát tình hình thực tế về việc hoằng pháp ở nông thôn vùng sâu vùng xa hiện nay. Trước thực trạng như thế, một phương án hoằng pháp cho vùng nông thôn từ lâu đã được tăng sinh trăn trở, ấp ủ. Rất mong có ngày được trình bày, được áp dụng, ngõ hầu mang ánh sáng Phật Đà soi cùng mọi nẻo, đem lại chút lợi lạc cho những mảnh đời của người dân vùng nông thôn, được tiếp cận với Chánh pháp mà tu tập cải thiện đời sống tốt đẹp an lành hơn.

 

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG ÁN HOẰNG PHÁP  VÙNG SÂU VÙNG XA

2.1. SỰ CHUẨN BỊ

2.1.1. Tinh thần:

Xác định rõ mục đích hướng đến để chọn cho mình một phương pháp phù hợp và quyết tâm thực hiện một cách cương quyết, bền chí theo tinh thần Bi-Trí-Dũng của đạo Phật. Tinh thần là một yếu tố rất quan trọng đối với một hành giả muốn đem chánh pháp trở lại với lòng người, nếu yếu tố tinh thần không kiên quyết bền chí thì e rằng sự việc khó thành. Do đó khi đã chọn cho mình hướng đến, một phương pháp phù hợp thì phải quyết tâm và thành tựu, chớ không nên (đem con bỏ chợ) làm không đâu tới đâu.

Người có tâm nguyện về hoằng pháp thì sẽ không ngại khó, ngại khổ, không cân đo quyền lợi, không tính toán thùụ lao. Phải phát nguyện nghiêm túc, như một lời thề, như thế sẽ có thêm sức mạnh bản thân, đồng thời thêm lực gia hộ từ Chư Phật, Chư Thiên. Không phát nguyện đàng hoàng, chúng ta vui làm buồn bỏ, không cố gắng giữ uy tín. Từ tâm nguyện nhiệt tình này sẽ chiêu cảm những thứ khác; thí dụ chúng ta sẽ ham học hỏi, nghiên cứu giảng dạy cho sâu sắc, cố gắng giảng dạy sáng tạo hấp dẫn, dễ hiểu, tìm thêm các hoạt động khác lôi cuốn người học đến chùa... Nói chung nhiệt tình là cái gốc của sự dấn thân, khi dấn thân sẽ xoay sở để vượt qua mọi khó khăn. Có nhiệt tình rồi, có thêm năng khiếu nữa thì sẽ thành công. Thực tế, trong tăng đoàn chúng ta số người có năng khiếu giảng dạy không nhiều lắm. Tuy nhiên trong trường hợp ít năng khiếu mà có nhiệt tình thì việc hoằng pháp cũng được bù đắp ít nhiều, bù đắp từ việc nghiên cứu, học hỏi tài liệu, từ việc mày mò sáng tạo như chuẩn bị giáo án chu đáo, làm thêm những mô hình minh họa cho bài học, cắt dán tranh ảnh vui mắt dễ thuộc, khiến cho Phật tử thích thú, không buồn ngủ. Tóm lại, giảng sư không có năng khiếu cũng đừng sợ, cứ mạnh dạn vào cuộc dần dần thì cũng được thành công khả quan.

Rèn luyện học tập, cập nhật những thông tin mới, tiếp cận với những hơi thở cuộc sống và con người hôm nay, thì mới tìm cách thuyết phục thính chúng. Cho nên bên cạnh học nội điển, chúng ta còn ủng hộ việc học ngoại điển, chúng ta còn ủng hộ việc đọc báo, xem thời sự... Mục đích không tham luyến mà quan sát cuộc sống, tìm lối đi phù hợp cho việc hoằng pháp. Phước đức, đây mới chính là tiềm ẩn phía sau, gần như quyết định sự nghiệp giảng sư. Người có phước đức lớn, từ nhiều đời nhiều kiếp, nổi tiếng ngay thuận lợi đủ bề. Người kém phước, thì gặp nhiều nghiệp duyên, thậm chí muốn lên giảng cho người ta cũng không được vì không đủ hảo tướng, hoặc ngôn ngữ, hoặc ủng hộ… Tuy nhiên với tâm huyết mạnh mẽ thì chúng ta có thể chuyển nghiệp được. Có người cứ cần mẫn làm công tác chùa, cho huynh đệ, chuyện nhỏ lớn gì cũng không từ nan, tích lũy phước đức để sau nầy thực hiện hoài bão, vì có phước đức thì tự nhiên sanh năng khiếu, sanh sự sáng tạo, trí thông minh học hỏi, những thuận duyên khác nữa. Ngược lại chúng ta có sẵn phước đức mà không biết giữ gìn, lại còn làm hao tổn đi, như tính cù lao chê dùng khó khăn, ganh tỵ với đồng nghiệp, kêu căn mất oai nghi phẩm hạnh… thì việc hoằng pháp cũng bị gãy đỗ, vị ấy sẽ không đạt được tâm nguyện hoằng pháp.

Tóm lại, muốn cho công tác hoằng pháp vùng sâu vùng xa được thực thi, người phát nguyện phải chuẩn bị cho mình một tinh thần Bi-Trí-Dũng. Phải trang bị cho mình một hành trang kiến thức chu đáo, một tinh thần vững vàng. Phải xác định chấp nhận khó khăn, quyết tâm làm Phật sự, vì lòng bi mẫn với người dân nông thôn. Chuẩn bị một tinh thần như thế thì khi bước vào thực tế khó khăn, người mang trọng trách sứ giả Như Lai sẽ không chùn bước. Công cuộc hoằng dương Chánh Pháp mới có thể thành tựu.

2.1.2. Vật chất:

Phải chuẩn bị cho mình nguồn tài trợ, ủng hộ khi cần trong công việc hoằng pháp. “Có thực mới vực được Đạo”! Xã hội ngày nay không như ngày xưa, công việc hoằng pháp đòi hỏi nhiều điều kiện trợ duyên hơn ngày xưa nhiều. Ngoài tinh thần truyền dạy giáo lý triết lý nhà Phật đến với người, ta cần phải tạo dựng một nguồn tài chính để chủ động trong mọi hoàn cảnh. Bản thân mình không cơm ăn áo mặc, không có đủ những phương tiện cần thiết nhất thì khó mà làm việc một cách thuận lợi được.

Công tác hoằng pháp phải cần một số cơ sở vật chất làm phương tiện để hoạt động, thí dụ: phòng ốc, ampli, loa… Tuy nhiên, đừng quá quan trọng tiêu chuẩn này. Vấn đề là đem giáo pháp cho Phật tử, bất luận nhiều hay ít, đừng tham lam, làm rình rang mà quá sức mình. Tùy nhân duyên mà độ, miễn tâm nguyện chân thành là được. Tùy nhân duyên, nhân và duyên là hai yếu tố để hình thành một pháp. Nhân là yếu tố chính, duyên là yếu tố phụ thuộc, có nhân mà không có duyên hay có duyên mà không có nhân đều không đủ hình thành một pháp, cần có một vật “tướng như vậy, thể như vậy, dụng như vậy” thì đều thiết yếu phải có đủ “nhân như vậy, duyên như vậy” mới hình thành quả như vậy, nó không thể thiếu hay dư, vì thiếu hay dư nó không thể hình thành một pháp khác thích ứng với nhân duyên của nó. Thí dụ như muốn có được đĩa xôi thơm ngon phải có hạt nếp, nước, lửa, nồi… Trong đó hạt nếp là yếu tố chính (nhân), những yếu tố còn lại là phụ (duyên). Nếu có đủ nồi, nước, lửa, bếp (duyên) mà không có hạt nếp (nhân) thì không có đĩa xôi thơm ngon; ngược lại có hạt nếp (nhân) mà không có nước, lửa, nồi, bếp... (duyên) thì hạt nếp không thể thành đĩa xôi, khi có đủ những thứ trên cũng chưa trở thành đĩa xôi thơm ngon, vì nếu lửa dư thì nếp khét, lửa thiếu thì nếp sống, nước thiếu thì thành nếp rang, dư nước thì thành cháo… Thế nên muốn được đĩa xôi thơm ngon như ý muốn điều cần phải có đủ những yếu tố và liều lượng (nhân duyên) thích ứng với nó. Từ đó suy ra tất cả các pháp cũng như vậy, cho đến thân người phải có đủ yếu tố đất, nước, gió, lửa,… mới hình thành, cho nên việc hoằng pháp chúng ta hôm nay, muốn đạt được kết quả mỹ mãn như ý muốn cũng cần phải có đầy đủ yếu tố thích ứng.

Để chuẩn bị cho mình một nền tảng khá vững chắc về mặt vật chất, có lẽ ta nên có các mối quan hệ với các mạnh thường quân, tâm sự với họ phát nguyện của mình, trình bày lý tưởng, kế hoạch của mình một cách thuyết phục để vận động, khơi dậy lòng hảo tâm nhiệt tình đóng góp khi công tác Phật sự cần. Bởi nguồn tài trợ chính đó nó giúp chúng ta thuận lợi về mọi mặt khi hoằng pháp ở nông thôn.

2.1.3. Sự ủng hộ giúp đỡ của Giáo hội, các Bậc Tôn Đức và khả năng tự thân:

Ngoài sự chuẩn bị về tinh thần và vật chất, chúng ta cần có nguồn động viên và trợ lực của Giáo hội và các Bậc Tôn Đức. Phải có một nguồn động viên tinh thần và chỗ dựa vững chắc về mặt pháp lý và giáo lý. Nếu đơn phương độc mã thì việc hành đạo sẽ rất khó khăn. Nếu được sự giúp đỡ quan tâm của Giáo hội thì công việc hoằng pháp về mặt quản lý, pháp lý, xã hội sẽ an ổn, tạo nhiều thuận duyên cho ta. Nếu được sự nâng đỡ, trợ lực của các Bậc Tôn Đức thì công việc mới vững vàng, ta sẽ tự tin hơn.

 Ngoài sự ủng hộ của giáo hội và các Bậc Tôn Đức, người làm Phật sự phải luôn trao dồi giới luật, trao dồi đạo đức bản thân. Đức hạnh là đạo đức phẩm hạnh, là nếp sống hành vi có mực thước, khiến cho mọi người cung kính tôn trọng. Vị giảng sư là sứ giả của Như Lai, là bậc gương mẫu thay Phật chuyển pháp làm lợi lạc cho mọi người, là người dẫn đường sáng suốt biết căn tánh nhu cầu của chúng sanh hướng dẫn họ đến cứu cánh an lạc. Như trong Kinh Pháp Hoa phẩm thứ 12 Phật thọ ký Đề Bà Đạt Đa thành Phật [12,320]. Đó là cái đức sâu rộng của Phật khiến cho mọi người quy kính không cùng tận. Nhờ tài đức chiêu cảm khiến cho mọi người phát bồ đề tâm cầu đạo vô thượng chuyển thù thành người thân, hủy bán thành kính trọng. Như trong Kinh Pháp Hoa phẩm “Thường Bất Khinh Bồ Tát” thứ 20 ghi: “lúc ấy bốn chúng tăng thượng mạn khinh tiện, đánh nén thường bất khinh Bồ Tát thuở trước, thấy Ngài đặng sức thần thông lớn, sức đại nhạo thuyết, sức đại thiện tịch, nghe vị đó nói pháp đều tin phục tùy tùng” [12,466]. Cho nên tài đức giảng sư vô cùng quan trọng, có khả năng cảm hóa người khác, vì thế vị giảng sư không thể thiếu tài và đức. Tuy nhiên có những trường hợp vị giảng sư có đủ tài đức nhưng giáo hóa người khác không tin nhận, vì họ không có duyên lành với giảng sư như 5000 vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di bỏ pháp hội ra đi khi Phật sắp nói Kinh Pháp Hoa. Cho nên điều thứ hai đòi hỏi thính chúng phải có duyên lành với giảng sư...Vị giảng sư có tài đức là yếu tố quan trọng để cảm hóa người nhưng chưa đủ thành tựu một pháp hội mà cần phải thính chúng, đủ nhân duyên với giảng sư, nếu không có nhân duyên thì không thể nghe pháp mầu như trong Kinh Pháp Hoa phẩm phương tiện thứ 2 có ghi “khi Phật nhận thỉnh lời cầu của xá lợi phất thì trong chúng hội có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di cả thảy 5000 từ chỗ ngồi đứng dậy đến lễ Phật mà lui về” [12,62]. Đây là những chúng hội không có duyên lành với giảng sư, dù họ sắp được nghe mà không nghe được. Ngược lại có đủ duyên lành Tam bảo mới được nghe pháp mầu, như trong Kinh Pháp Hoa phẩm “Thường Bất Khinh Bồ Tát” thứ 20 Phật kể tiền thân Ngài là một Tỳ kheo tên Thường Bất Khinh, nhờ nhẫn nhục chịu đựng sự mắng nhiếc, đánh đập của tứ chúng tăng thượng mạn nên sớm thành tựu pháp mầu vi diệu và giáo hóa họ thành tựu thánh quả chính là 500 vị Bồ Tát, 500 vị Tỳ kheo, 500 Ưu bà tắc có trong hội chúng [12,468].

Từ trong những đoạn kinh trên, chúng ta có thể nói từ chúng đệ tử trong pháp hội của Phật đều là quyến thuộc đã gần gũi tu học với Ngài, theo Ngài làm quyến thuộc, ủng hộ và giáo hóa chúng sanh mà Ngài chỉ độ được những chúng sanh có duyên với Ngài mà thôi, còn lại nhưng người không có duyên thì Phật dùng phương tiện giáo hóa khiến họ tin và kết duyên lành với Tam bảo.

Vì vậy muốn thành tựu pháp hội phải có quyến thuộc đủ duyên lành với giảng sư. Tuy nhiên nếu có đủ hai duyên đó cũng chưa đủ để thành pháp hội, vì có giảng sư có thính chúng mà không có pháp thích ứng, khiến thính chúng không thu nhận được thâm ý cũng không kết quả. Căn tánh chúng sanh không đồng nhau, Phật tùy chúng sanh, dạy bày chúng sanh pháp thích ứng, phù hợp với hoàn cảnh căn cơ của chúng sanh, pháp Phật nói ra không pháp nào chẳng vi diệu, người thấy không vi diệu là do không đúng căn tánh, nhu cầu của người nghe như thuốc trị bệnh, thuốc nào cũng hay nhưng không phải bệnh nào cũng trị được bởi một thứ thuốc: Như nhâm sâm là thuốc qúy lại đem cho người đang đau bụng uống vào là chết. Cho nên cái nào thích ứng thì cái đó qúy, cái nào không thích ứng dầu nó qúy đến đâu cũng thành vô nghĩa, thậm chí có khi trở thành tai hại. Do đó Phật tùy thính chúng mà phương tiện nói pháp phù hợp tùy căn cơ của mỗi người, dẫn dắt họ đến cứu cánh an lạc, như trong Kinh Pháp Hoa phẩm Thí dụ thứ 3 Phật nói: “các đức Như Lai dùng sức phương tiện ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba” [12,119] để dẫn dắt chúng sanh đồng nhất thiết trí. Như ông trưởng giả muốn cứu con ra khỏi nhà lửa, bèn nói dối ngoài cửa cha có ba thứ xe, các con ra cha sẽ cho, các con đồng đua nhau chạy ra khỏi nhà lửa, trưởng giả mừng vui, đồng cho xe qúy nhất. Một giảng sư trong thời đại hiện nay cũng tùy theo nhân duyên, căn tánh và nhu cầu người nghe ở mỗi nơi mà dùng phương pháp thích ứng, khiến cho họ phát bồ đề tâm, thành tựu tất cả thiện pháp.

2.1.4. Năng lực:

Tuy nhiên, khi hoằng pháp không chỉ nhìn vào nhân duyên mà quên đi năng lực chính mình, phải thấy những ưu và khuyết để nhận lãnh việc thích ứng. Hay nói khác hơn đòi hỏi khả năng giảng sư phải ngang bằng hoàn cảnh mới đạt kết quả tốt. Trong khi hoằng pháp, không phải lúc nào vị giảng pháp bằng ngôn ngữ, mà có lúc thuyết pháp bằng êm lặng, hoặc dùng đạo đức, công đức mà cảm hóa. Ngôn ngữ: tất cả ngôn ngữ đều phát ra tâm lý người hiểu biết, suy nghĩ như thế nào khi nói biểu lộ như thế nấy, cho nên đồng câu nói có người nói nghe mát dạ, có người nói nghe buồn cười, người không tu nói nghe khác, người có tu nói nghe khác. Ngày xưa đức Phật hiện cỏi đời này tùy duyên mà thuyết pháp, ngôn ngữ ba thời đều lành, làm vui đẹp lòng chúng, ngày nay vị giảng sư muốn hoằng pháp phải có tâm hồn bình ổn, suy nghĩ đúng đắng, nhìn chính xác, lời nói phát ra nghe thâm trầm, thấm sâu vào lòng người. Từ một lời nói, một câu kệ làm cho người nghe phát tâm bồ đề kính tin Tam bảo. Như phẩm Phương tiện thứ 2 trong Kinh Pháp Hoa, Phật nói: “Như Lai hay dùng các món phân biệt, khéo nói các pháp, lời nói im diệu vui đẹp lòng chúng” [12,52].

Vị giảng sư nghiên cứu thâm nhập Tam tạng giáo điển của Phật, thông hiểu thấu suốt các pháp không chướng ngại, nhờ khả năng tu tập, thông đạt những nghĩa lý sâu mầu. Do sự tinh tấn trao dồi học tập, khéo chọn lựa lời nói, lâu ngày thành thông đạt, khi đến pháp tòa diễn thuyết lời lẻ êm dịu, sâu mầu, rõ ràng dễ hiểu làm thỏa mãn người nghe, khiến họ được điều chưa từng có, tự giác tự nguyện tu tập, đem khả năng của mình ra ủng hộ Phật Pháp.

Tuy nhiên theo quốc độ, nhu cầu căn tánh chúng sanh, ở mỗi thời kỳ không giống nhau, cho nên giảng sư không phải lúc nào cũng thuyết pháp bằng ngôn ngữ, mà có lúc êm lặng, không nói mà nói thật nhiều, thật sâu sắc.

Êm lặng: người nói nhiều chưa hẳn là nói hay, có nói hay mà không đúng nhu cầu người nghe, họ không chấp nhận, cũng trở thành dỡ. Nên người nói hay không phải nói nhiều mà nói đúng thời, đúng đối tượng, đúng nhu cầu thậm chí ít nói, không nói mà làm cho người tỏ ngộ. Như phẩm tựa thứ nhứt trong Kinh Pháp Hoa ghi: “đức Phật nhập định” [12,22] vô lượng nghĩa xứ thân và tâm không lai động, lúc đó trời rải hoa cúng dường, khắp cỏi nước Phật sáu diệu vang động. Bây giờ từ tướng bạch hào Phật phóng luồng hào quang soi sáng khắp mười phương thế giới, làm cho chúng ở cõi nầy thấy suốt các cõi khác. Việc nảy làm đại chúng ngơ ngác không hiểu ý gì. Di lặc liền đến hỏi Văn Thù, Văn Thù thực lại bản hạnh của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, đại chúng biết được việt làm của Chư Phật, Chư Bồ Tát, Chư Hiền Thánh Tăng thời quá khứ, lòng mừng phấn khởi việc chưa từng có và mong cầu hôm nay được nghe pháp hy hữu chính nơi Phật. Đức Phật nhập định, lặng lẽ không một lời, khi đó một tia sáng nhỏ từ tướng bạch hào khiến đại chúng thấu suốt khắp pháp giới, trời rải hoa cúng dường, khắp cõi Phật sáu diệu vang động. Đức Phật không cần nói mà bao nhiêu người lắng nghe, lòng suy nghĩ miên mang: Phật sẽ nói gì?… Họ khao khát được biết, khi đó một cử chỉ nhỏ của Ngài, hoa trời cũng rơi rụng, chẳng khác nào:

“Đại hạn phùng cam vũ

  Tha phương ngộ cố tri”

Nghĩa là, đương cơn nắng hạn được đám mưa rào, xứ lạ xa quê gặp người tri kỷ. Cho nên Phật êm lặng để lòng chúng chấn động, soi xét tất cả những gì từ xưa đến nay Phật đã làm, đã nói, đã nghĩ bằng cuộc đời cao thượng vượt khỏi cấu trược thế gian. Như hoa sen vượt khỏi bùn lầy hiến dâng cho người cành hoa tươi thắm, hương vị đậm đà, tròn đầy những hạt, họ thích thú được điều chưa từng có. Trên đường hoằng pháp cũng thế, thính chúng chưa thuần thục, chưa muốn nghe vì chưa đủ duyên, đủ niềm tin nơi chúng ta, khi đó không nên nói mà phải êm lặng thực hành vì tự an ổn, được lợi lành lớn, làm cho đủ niềm tin, thích thú tìm hiểu nơi chúng ta, càng tìm hiểu họ mới thấy có giá trị, khi đó nhất cử nhất động đều là một bài pháp để họ học, cũng như chỉ một tia sáng bạch hào của Phật mà họ thấy khắp tất cả pháp giới những hạnh nghiệp của Tứ Thánh, Lục Phàm, họ tìm cho mình con đường giải thoát. Họ lắng nghe những gì nơi giảng sư, từ đó mà họ nhận được chân lý trên cuộc đời. Cho nên trong lúc giảng pháp có khi chúng ta êm lặng mà đạt kết quả không thể nghĩ bàn. Như cái êm lặng của Duy Ma làm đại chúng được lợi ích, sự êm lặng của Bồ Đề Đạt Ma mà Huệ Khả làm Tổ thứ 29, Tu Bồ Đề êm lặng Chư Thiên lại cúng dường... những thứ êm lặng đó đã nói đến chỗ tột cùng của chân ý, làm cho ai ai cũng nhắm vào đó mà tu tập. Các Bậc Cổ Đức êm lặng, cả cuộc đời đạo hạnh thanh cao trí tuệ siêu phàm của các Ngài đi sâu vào lòng mọi người, họ kính tin, tuân phục. Chúng ta ngày nay muốn được như thế trước tiên phải làm cái gì đó để đời học hỏi, ghi nhớ. Có phải chăng đó là nếp sống đạo đức thật đẹp. Đạo đức: đạo đức nói cho đủ là đạo lý và đức hạnh là nếp sống thánh thiện có lợi ích cho người, có tác động sâu sắc làm cho người kính phục và công nhận. Người có đạo đức mới giáo hóa được người, họ mến người tức là mến đạo, người thuyết pháp truyền đạo là truyền dạy cái đạo đức, cái an lạc giải thoát cho đời, nếu giảng sư không có đạo đức, không có cái gì để người suy nghĩ, thì thuyết pháp chẳng ai nghe. Vì giáo lý của Phật không phải là giáo lý suông, mà là nguyên tắc đưa đến cứu cánh an lạc giải thoát, người học đạo là học để tu, để đưa lợi lạc giải thoát, chớ không phải học để nói suông, cho nên vị giảng sư nói được phải làm được để chứng minh pháp của Phật là châu báu, là vô giá, lời nói của mình thật đưa đến cứu cánh an lạc chứ không phải lời viễn vong vô ích dùng để lý luận suông, nên pháp của Phật nói ra có học có hành là kết quả an lạc giải thoát:

“Như cành hoa tươi đẹp, có sắc lại thêm hương

  Cũng thế lời nói hay, có làm có kết quả” (PC)

Quan niệm đạo đức của người tu là người chơn chất, thật thà, chuyên tu khổ hạnh... Vị giảng sư làm đạo, đến nơi nào phải phương tiện tùy thuận nơi đó, như xứ kia qúy trọng người trí thức thì phải đóng vai người trí thức, xứ nọ qúy trọng người bảo hộ quần chúng thì vị đó phải đóng vai bảo hộ quần chúng, xứ đó người nghèo đói thì cần sự ăn mặc thì vị giảng sư đem cơm áo đến cho người, xứ kia qúy trọng người tu hành khổ hạnh thì vị giảng sư đến đó phải tu hành khổ hạnh... có như thế họ cảm phục và kính tin. Chừng đó giảng sư mới giáo hóa được họ. Như trong Kinh Pháp Hoa phẩm An lạc hạnh thứ 14 Phật dạy: “nếu vị Bồ Tát ở đời ác sau muốn nói kinh này phải an trụ bốn pháp”, đó là: 1- Hành xứ và thân cận xứ, 2- Nhứt thiết pháp không như thật tướng, 3- An lạc hạnh, 4- Đại từ bi tâm [12,346].

Đạo đức là nguồn an lạc vững chãi cho chính mình, cho mọi người. Đạo đức cũng từng theo gốc độ, thời gian nhu cầu của con người thời đại. Vị giảng sư dùng đủ mọi phương tiện bước chân vào đời, xây dựng cuộc đời tốt đẹp an vui hơn. Các Bậc Tiền Bối đạo cao đức trọng, đời sống các Ngài trầm mặc đẹp đẽ đã tác động đến muôn loài, khiến chúng sanh bỏ ác làm lành, bỏ tà về chánh. Các Ngài đối diện với cuộc đời, hiện thân trong các ngành nghề, dùng trí tuệ xoa dịu khổ đau cho họ, nung đúc nghị lực cho họ, họ cần vật chất các Ngài dùng vật chất để đối trị, tạo cho họ có cuộc sống vật chất đầy đủ. Các Ngài góp phần xây dựng cuộc đời tốt đẹp hơn, tạo thành thế giới cực lạc tại cõi Ta bà đau khổ này.

Sự thị hiện của đức Phật Thích Ca ở thế giới Ta bà, cả cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng. Ngài luôn nghĩ nói hành động phù hợp với nhu cầu của mọi người, không chỉ đời này mà nhiều đời trước cũng thế. Ngài đã từng làm như vậy, trong Kinh Tiền Thân Đức Phật ghi rõ, khi hiện thân làm người, Ngài có cuộc sống tốt đẹp vượt loài người, đem an lạc cho mọi người. Cho nên đạo đức cũng phải tùy nơi, tùy thời, tùy đối tượng. Chúng sanh nơi nào, cần gì vị giảng sư đến đó, phải làm như vậy, họ nghĩ người này tốt, người này hay, người này thông thái tài giỏi có đầy đủ đạo đức thì vị đó mới giáo hóa được họ.

Chư Phật Chư Bồ Tát thị hiện trên cuộc đời này, nếp sống đạo hạnh của các Ngài đã gắn sâu vào lòng muôn loài, các Ngài luôn sống vì lợi ích chúng sanh. Các Ngài không nghĩ mình là ân nhân của muôn loài, chính cái không chấp đó mà mọi người tôn các Ngài là bậc Minh Sư, bậc Đại Từ Phụ, lời nói của các Ngài được coi là kim ngôn đáng để lưu truyền nhân gian, làm khuôn vàng thước ngọc cho mọi người noi theo. Khi các Ngài là bậc Người mẫu mực, công đức và phước trí mới giáo hóa chúng sanh được như vậy. Công đức: Công đức ở đây là nói đến công lao và ân đức, nghĩa là có công lao với đời, có ân đức với mọi người tạm gọi là công đức. Công đức là hai yếu tố không thể thiếu đối với một vị tu sĩ. Người xuất gia tu tập sống với đời dùng chúng sanh làm đối tượng để tu, các vị Bồ Tát khi làm đạo thì hòa nhập vào đời, dùng Tứ nhiếp pháp để hóa độ họ. Có chúng sanh Bồ tát mới thành tựu các công đức rồi lại dùng công đức mà cảm hóa người, dẫn họ đến con đường giải thoát giác ngộ. Ngược lại nếu người không có công đức, giáo hóa chẳng ai nghe mà còn phỉ báng, người thuyết pháp giảng kinh mà làm cho người phỉ báng là vị đó phá pháp, tạo cơ hội cho bọn ma chống phá, họ phá hạ Phật Pháp. Cho nên trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Phương tiện thứ 2, Phật nói: “Nếu nói ra việc đó thì tất cả trong đời, trời, người, A Tu La, đều kinh nghi, Tỳ kheo tăng thượng mạn, sẽ phải sa vào hầm lớn” [12,60]. Nên khi 5000 vị tăng thượng mạn gốc tội sâu nặng ra đi. Ngài không ngăn cản, họ đi xong, Phật bảo Xá Lợi Phất: “Trong chúng ta đây không còn cành lá, rặt có hột chắc. Xá Lợi Phất! Những gã tăng thượng mạn như vậy lui về cũng là tốt” [12,62]. Phật nói cho Xá Lợi Phất nghe những pháp vi diệu khó tin, khó hiểu thứ nhất. Đó là pháp Nhất thừa, những người có đủ niềm tin nơi Phật, sâu trồng căn lành mới có thể nghe nhận được.

Đức Phật là người có đầy đủ công đức, lời người nói ra ai cũng đều tin nhận. Trọn cuộc đời Ngài đã thể hiện rõ những gì Ngài nói, Ngài dạy cho người chỗ Phật tu, Phật chứng, là nếp sống mà Ngài đã sống. Đối với đời Ngài là vị thái tử giàu sang quyền thế mà không bao giờ ỷ lại. Luôn thương tưởng đến mọi loài, vui lòng bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con thơ, chịu đói chịu khổ, dấn thân vào chốn rừng thiên nước độc để tìm ra con đường đem đến an lạc cho chúng sanh. Đối với đạo, Ngài là vị giáo chủ sáng suốt, biết tùy thuận chúng sanh, dùng phương tiện dẫn dắt mọi người đến chỗ cứu cánh an lạc.

Đức độ của Ngài ảnh hưởng sâu sắc cho mọi loại, cho đến ngày nay có người chỉ giả bộ như Phật cũng được mọi người ưu đãi, như thế đều do cái công đức quá sâu dày của Phật cho nên thời Kinh Pháp Hoa mọi người mới có thể tin tưởng. Cho đến các bậc đạo cao đức trọng sau này, các Ngài ẩn trong rừng, trong núùi để tu tập mà mọi người cũng lần mò tìm đến để được thấy, nghe, học những gì từ các Ngài. Như Ngài Linh Hựu khi đến núi Qui, xung quanh toàn là thú dữ, Ngài dùng đức độ cảm hóa chúng trở thành thuần thiện. Ròng rã 8 năm không một bóng người, thế mà lần hồi ngọn núi Qui đã trở thành một đại tòng lâm danh vang sử sách. Hay như trong hạ thứ 10 của Phật, trong chúng có hai nhóm Tùy kheo kình chống nhau, không tin lời Phật, Ngài lặng lẽ vào rừng sống một mình dưới gốc cây thủy chúa, voi chúa kính phục ôm bát đi hái trái trên cây, lội xuống suối múc nước đem về dâng Phật. Công đức của Phật cảm hóa được tất cả mọi loài trên từ trời, người, dưới đến loài thú dữ đều kính mộ. Lần hồi hai nhóm kình chống giải hòa đến sám hối và thỉnh Phật trở về, cho nên người có đủ công đức đến đâu cũng được mọi loài kính phục che chở và cảm hóa được người ngang ngược trở thành hiền hòa.

Chúng ta ngày nay có công đức với đạo thì đạo che chở, có đức với dân thì dân ủng hộ. Nó là chất liệu ẩn chứa bên trong người không thể thấy, chỉ thấy nó bộc phát ra ngoài qua hành động. Lời nói làm cho người thấy nghe cảm phục.Vị giảng sư phải có cái này mới làm đạo đức, nếu chỉ nói suông không có đạo lý gì để người suy nghĩ cảm phục thì làm sao họ mến phục được. Cho nên vị giảng sư nói được phải làm được cũng để chứng tỏ rằng lời của Phật không phải là những lời lý luận suông không có kết quả. Mà đó là phương pháp chất liệu, nếu thực hành sẽ được cuộc sống hoàn toàn an lạc, giải thoát đem lại lợi ích cho mình và mọi người, từ đó mọi người mới tin và học tập theo.

Tóm lại, một vị giảng sư muốn hoằng pháp phải trao dồi ngôn ngữ, học rộng hiểu sâu, sống nếp sống đạo hạnh, dùng đức mà cảm hóa người. Khi cần nói thì nói, khi không cần thì im lặng, biết tùy theo từng nơi, từng thời, từng đối tượng mà sử dụng phương tiện thích ứng, đáp ứng đúng nhu cầu của thính chúng, từ đó họ mới phát tâm, nghe theo áp dụng tu hành và ủng hộ đạo pháp. Trong thời hiện đại, nhu cầu dân chúng ngày càng nhiều, càng đa dạng, vị giảng sư cũng phải có khả năng ngang bằng nhu cầu xã hội mới có thể hoằng pháp lợi sanh được; bằng ngược lại nên tự tu để dùng đức hạnh mà trang nghiêm Tam bảo, tạo niềm tin cho người. Người tu Phật là tượng trưng cho trí, đức. Nếu trí không có cũng phải có đức để người qúy kính. Nếu trí đã không có mà đức cũng không thì không còn xứng đạo huống chi làm giảng sư. Cho nên vị giảng sư đòi hỏi phải có đức lẫn trí. Không có trí thì khác nào:

“Người mù dẫn lũ đui theo dõi,  

Sa lửa hầm còn hỏi chi chi”

            Cho nên giảng sư đòi hỏi phải có trí hơn người, nếu không có trí hơn người thì phải làm hưng long Tam bảo, cũng phải có đức hơn người để gieo duyên lành cho chúng sanh và trang nghiêm cho Tam bảo. Như thế mới khỏi phụ lòng của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni và Chư Tôn Đức đã dày công giáo dưỡng.

2.1.5. Hiểu rõ đối tượng:

Người nông dân ở nông thôn rất hiền lành chất phác, tất nhiên họ thích nói giải dị, dễ hiểu hơn là dùng chữ nghĩa văn hoa. Đôi khi giảng sư phải học được những phương ngữ nơi vùng đất ấy, sẽ tạo thêm thiện cảm với họ, hoặc tìm hiểu hoàn cảnh vài người, rồi dẫn chứng họ rất cảm động, nghĩ rằng giảng sư quan tâm đến họ. Người nông dân học chậm nhưng tâm hồn lại thuần khiết, nên giảng sư dạy cái gì họ tiếp thu trọn vẹn cái đó. Không cần dạy nhiều, chỉ xoáy vào trọng tâm cuộc sống là đủ giúp họ có cái nhìn đúng đắn với đạo.

Người dân ở nông thôn dễ thuyết phục, vốn đã sẳn có đức tin mạnh mẽ và thuần khiết. Đây là một trong những thuận lợi lớn dành cho chúng ta khi về hoằng pháp ở nông thôn. Người bình thường có đức trí mới hiểu được điều thiện ác. Có đức tin mới dẫn chúng ta đến với con đường giác ngộ giải thoát. Có đức tin mạnh mẽ và thuần khiết mới dứt được khổ đau.

Đạo Phật vốn đã bắt rễ sâu xa vào đời sống đa số người dân Việt Nam. Giáo lý đạo Phật phù hợp với tâm thế của con người Việt Nam, ảnh hưởng sâu xa đến đạo đức, cách sống của người dân nông thôn thuần phác, do đó, gieo hạt giống nhà Phật đến vùng nông thôn, chúng ta đã có một mảnh đất màu mỡ, hứa hẹn nhiều bội thu tốt đẹp.

Vùng nông thôn rất ít có những sinh họat văn hóa giải trí, người dân rất nhàn rỗi thời gian, nếu chùa có những sinh hoạt tinh thần bổ ích thì rất dễ thu hút mọi người đến chùa.

Người dân nông thôn hạn chế về mặt kiến thức. Đạo Phật là đạo giác ngộ nên rất coi trọng trí tuệ. Tin và hiểu là hai vấn đề có liên quan mật thiết với nhau. Niềm tin thiếu hiểu biết, đó là mê tín; niềm tin đặt trên sự hiểu biết sai lạc đó là mê lầm, thậm chí đi đến cuồng tín! cho nên Luận Đại Từ Sa nói: “Niềm tin không có trí tuệ chỉ tăng thêm ngu si”.

Con người là con người trong một cộng đồng mang tính xã hội, chịu ảnh hưởng của xã hội, dự phần tác động vào xã hội và có quan hệ mật thiết với môi trường hoàn cảnh chung quanh, Tâm hay Thức được Phật giáo định nghĩa là sự tổng hợp của bên trong và bên ngoài tức là chủ thể của đối tượng, thiếu đối tượng thì chủ thể không còn là chủ thể. Lý duyên khởi cũng xác định hiện hữu là hiện hữu của tổng thể. A có mặt thì B có mặt. A không có mặt thì B không có mặt, cho nên nhược điểm của người dân nông thôn là dễ sa vào mê tín, tinh thần cầu học không cao, chỉ nương tựa vào thần quyền bùa chú, hoặc nghĩ thần linh là chỗ dựa trên hết của họ có thể đem quyết định hên xui cho cuộc đời họ trong cuộc sống hằng ngày, với sự mền lòng khả tin ấy đã đánh mất đức tin chân thành của họ đối với một tôn giáo lớn, họ chỉ biết cúng tế lễ lạy, mà không hiểu được nghĩa của nó. Cho nên đây cũng là trách nhiệm chung mà những người hoằng pháp chân chánh phải ân cần và quyết định cho họ cuộc đời mới trong tương lai.

2.1.6. Thuận lợi và khó khăn:

a. Thuận lợi:

Vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh, rất hiếm những sinh hoạt văn hóa, tinh thần. Người dân rất nhiệt tình tham gia các tổ chức sinh hoạt. Nếu ở vùng đô thị có rất nhiều phương tiện giải trí tha hồ cho mọi người lựa chọn, thì ngược lại người dân nông thôn rất “đói” những nón ăn tinh thần. Chùa chiền, Đình làng… nếu tổ chức những sinh hoạt, lễ hội thì rất dễ qui tụ người dân đến tham gia.

Người dân quê chơn thiện, tâm tánh người nông thôn thuần hậu, chất phác, rất tin vào đời sống tâm linh, tâm hồn họ là mãnh đất mầu mỡ, trống trãi, chưa bị tạp nhiễm, chỉ cần hạt giống tốt là bám rễ, nảy mầm. Giáo lý nhà Phật lại gần gũi truyền thống, đạo lý nhân nghĩa, tín ngưỡng dân gian của người nông thôn, nên rất dễ được chấp nhận, một khi đã tin thì tin rất mãnh liệt, bền chắc. Đặc biệt, chúng ta cần chú ý đến đội ngũ tri thức nông thôn như các thầy cô giáo, một số công chức, những nông dân trẻ có trình độ,… bộ phận này tuy không nhiều lắm nhưng họ lại có uy tín trong địa phương, hoằng pháp được cho họ là có hiệu quả, bởi họ sẽ có những tiếng nói hỗ trợ chúng ta sau này. Trí thức nông thôn vừa mang tín chất nông dân hồn hậu, lại vừa mang tính tiến bộ của thời đại, tiếp xúc với họ thì khá dễ dàng và thú vị.

Sinh hoạt văn hóa dễ thu hút người dân: nếu ở thành thị có quá nhiều phương tiện giải trí như sách báo, phim ảnh, sân khấu ca nhạc, công viên, lễ hội,… diễn ra hằng ngày, hằng tuần, thì đối với đời sống nông thôn lại thiếu thốn hơn, hiện nay nhiều nhà có ti vi, đầu máy, nhưng nón ăn tinh thần cũng chưa gọi đủ. Chính vì vậy việc hoằng pháp nên tổ chức sinh hoạt lễ hội, đánh thức nông thôn, cũng là đánh thức ngôi chùa và ngôi chùa trở thành một trung tâm văn hóa làng xã. Không phải chúng ta phá bỏ nếp sống tu hành yên tĩnh của người xuất gia, khi nào cần tĩnh thì tĩnh, khi nào cần động thì động, miễn sao tĩnh động phải đúng lúc, với mục đích hoằng pháp.

Làng quê không có trung tâm văn hóa cho người dân, nên chùa chiền cần được tận dụng, nhờ thế ngôi chùa trở nên gần gũi, và có gần gũi thì chúng ta mới dễ hoằng pháp. Chỉ cần chúng ta biết kiên nhẫn chịu khó thêm một chút sáng tạo ra những hoạt động văn hóa cho cộng đồng, thì chùa sẽ thu hút mọi người: như tổ chức học giáo lý theo mô hình đố vui hoặc hái hoa dân chủ thì phù hợp với nông dân hơn; soạn những giáo án, tài liệu, gồm những câu hỏi đáp ngắn gọn, theo kiểu đề cương thi, không nên tham soạn bài nhiều, và bài cao, thà đi chậm mà chắc, học cái nào ra cái đó, học thiết thực, lợi ích cho cuộc đời của họ. Nhưng tùy theo từng địa phương mà chúng ta phải thay đổi mô hình tổ chức sao cho phù hợp: như địa phương Phật tử trí thức tham gia khá đông đặc biệt lứa tuổi từ 20 tới 40 tuổi, vừa có kiến thức tốt, vừa có sự chững chạc tự tin, đạo tràng như thế khá lý tưởng, nên soạn bài cao hơn; còn địa phương toàn là thanh thiếu niên thì công tác hoằng pháp của chúng ta phải tích cực hơn, chính chúng ta phải chủ động tìm cách tiếp cận các em chớ không thể thụ động chờ các em tự đến với mình. Cần thay đổi quan niệm mà hiện nay nhiều vị đang chấp chặt, đó là ai cầu pháp thì mới thuyết giảng cho họ, giáo pháp là qúy báu, không phải năn nỉ người ta học, sẽ giảm giá trị. Chúng ta nhớ lại, lúc đức Phật thành đạo dưới cội cây bồ đề, tại sao Ngài không ngồi tại chỗ đó mà chờ người ta đến cầu pháp, mà Ngài phải lặn lội trở về vườn Lộc Uyển tìm gặp năm anh em Kiều Trần Như thuyết giảng cho họ? Người tự giác đi cầu pháp là người căn tánh đã thuần nhiều đời nhiều kiếp, chúng ta khỏi lo lắng, còn người căn tánh chưa thuần thì chúng ta mới sợ họ đi vào con đường xấu, càng nỗ lực giúp họ chứ đừng câu nệ ai đi tìm ai. Chúng sanh mang tâm bệnh chúng ta cần dỗ dành cho họ thuốc giáo pháp, vì thương họ mà chịu khó. Tuy nhiên, vấn đề không đến nổi khó khăn như chúng ta tưởng. Thực tế tiếp cận với các em dễ hơn người lớn tuổi. Thứ nhất các em rất mau thân thiện, ít rụt dè cảnh giác, đôi khi chỉ nụ cười là đủ lôi kéo các em đến gần. Thứ hai, rất dễ sử dụng các trò chơi, quà bánh thu hút các em, trẻ em nào cũng thích vui vẻ nô đùa, ăn uống, một bữa liên hoan nhẹ với bánh kẹo và ca hát là tiếp cận được các em, làm sao cho các em thấy đến chùa còn nhiều thứ vui khác chứ không đặc vấn đề học pháp quá khô khan, nặng nề. Dĩ nhiên mục đích của chúng ta là học pháp, nhưng nó lồng vào những chuyện vui vẻ khác, không nên thiết lập giảng đường, pháp tòa quá trang trọng, căng thẳng khiến các em sợ. Hiện nay, chương trình học trong nhà trường đã rất nặng nề rồi, đừng gây cho các em ấn tượng về chữ học nữa phải biến buổi học thành một buổi ngoại khóa sinh động, cứ như vừa chơi vừa học thì các em tham gia ngay. Ngược lại, chính người dạy pháp cũng sẽ cảm nhận không khí nhẹ nhàng từ lớp học, bản thân thấy trẻ trung, sinh động hơn. Hoằng pháp không còn là công việc nặng nề, mà trở thành công việc yêu thích, thư giãn lạ lùng. Hoằng pháp nông thôn không dễ, nhưng không quá khó, vấn đề biết tổ chức ra sao và đừng mơ những gì quá to tác vượt khỏi khả năng của mình, của địa phương, cứ kiên nhẫn đi từ nấc thấp nhất mà lên cao dần. Thà hóa độ được một người còn hơn xuôi tay đổ thừa cho hoàn cảnh.

Trên đây là những thuận lợi và khó khăn từ phía đối tượng hoằng pháp. Còn những thuận lợi và khó khăn từ những phía người đi hoằng pháp nữa (ở đây xin nói riêng một chút năng lực về Tăng Ni trẻ) ví dụ như: Tăng Ni trẻ, chúng ta có thuận lợi là sức khỏe, lòng nhiệt tình, sức sáng tạo, có thể “bám trụ lâu dài”, đủ sức đủ khả năng… làm cách mạng. Tuy nhiên tuổi trẻ cũng là điểm thuận lợi, cũng là điều khó khăn. Trong tôn giáo, sự tín ngưỡng rất là quan trọng, truyền thống phương Đông, bắt người già k&