******Trang tiếng Việt  ******Thư Mục Tổng Quát ******Trang tiếng Anh ******

 

 

 

 

Luận văn tốt nghiệp

 

 

TÍNH GIÁO DỤC QUA NHỮNG ẢNH DỤ
TRONG KINH PHÁP HOA
 

Thích Hạnh Chơn

1. DẪN NHẬP

 1.1. Mục đích nghiên cứu và lý do chọn đề tài:

Từ khi con người xuất hiện trên trái đất, họ đã biết cách tìm thức ăn để sinh sống. Từ việc hái lượm đơn giản dần dần đến việc săn bắn, rồi biết tạo ra các công cụ để phục vụ cho việc sản xuất. Đó là một quá trình tiến bộ do có sự học hỏi từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bên cạnh đó, họ cũng có những sáng tạo để dạy cho nhau cách đối phó với những ác thú, thiên tai, thời tiết…

Như vậy, con người từ ngàn xưa đã biết cách thích nghi để sinh tồn. Mặc dù bằng những cử chỉ hành động đơn giản nhưng nó cũng cho thấy được việc giáo dục đã xuất hiện đồng thời với loài người. Mục đích của họ không gì khác hơn là làm sao kiếm được nhiều thức ăn để hưởng thụ nhất là những khi khan hiếm. Chính vì mục đích đó họ luôn cải tiến công cụ để hổ trợ cho họ trong lao động sản xuất.

Cuộc sống cứ thế phát triển trải qua bao thời kỳ cho đến thời đại ngày nay với bao nhiêu là khoa học kỹ thuật tân tiến. Tuy nhiên, nhìn chung ta thấy tất cả sự phát triển ấy đều nhằm mục đích phục vụ cho cuộc sống loài người được tốt hơn. Nếu như trước đây khi gặp những thiên tai, con người chỉ biết cúng tế, van xin để được bình yên, thì ngày nay người ta biết tìm cách lý giải các hiện tượng thiên nhiên ảnh hưởng đến cuộc sống nhằm khắc phục chúng. Sự hiểu biết càng cao con người càng ít bị lệ thuộc vào những điều thần bí mê tín. Họ biết tạo ra cuộc sống phong phú hơn và sung túc hơn.

Có thể nói về mặt đời sống vật chất con người đã thành công vượt bậc. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn có rất nhiều điều mà con người cần phải quan tâm. Bởi vì ngoài đời sống vật chất, con người còn có đời sống tinh thần được biểu hiện qua nhân cách sống của mỗi người. Cái nhân cách ấy rất cần được uốn nắn để cho nó hoàn thiện. Để làm được điều đó chúng ta  phải có phương pháp giáo dục phù hợp. Xã hội ngày càng văn minh tân tiến thì việc giáo dục càng phải được chú trọng nhiều hơn. Bởi thực tế cho thấy cùng với sự phát triển xã hội là những hạn chế mà nó mang lại gây khổ đau cho nhân sinh. Để điều chỉnh và làm cho xã hội được tốt và cân bằng thì không có cách nào khác hơn là phải giáo dục nhân cách con người. Đó là đặc điểm mà giáo dục tồn tại và không thể thiếu trong bất cứ thời đại nào.

Như trên đã nói việc giáo dục là để hoàn thiện nhân cách con người. Từ nhu cầu đó đã xuất hiện rất nhiều triết học hay tôn giáo nhằm góp phần đưa ra những phương pháp giáo dục hữu hiệu nhất. Mỗi triết phái đều có cái hay riêng của nó nhưng để đạt đến mục đích hoàn thiện thì hầu như hiếm thấy. May thay trong số những hệ thống ấy nhân loại lại được thừa hưởng một nền giáo dục thật hoàn hảo về mặt giáo dục nhân cách. Đó là giáo dục Phật giáo.

Đạo Phật ra đời trong bối cảnh lịch sử đặc biệt với mục đích là giáo dục con người đến chỗ an vui hạnh phúc chân thật. Đạo Phật dạy cho mọi người thấy được nỗi khổ của nhân sinh bắt nguồn từ tham, sân, si tức từ tâm chứ không phải từ vật chất bên ngoài. Do đó, để đạt được hạnh phúc chân thật phải giáo dục tâm cho thuần thục, thoát khỏi những ràng buộc trên. Nói như thế không phải đạo Phật xa rời cuộc sống vật chất, bởi đạo Phật vẫn dạy con người những phương thức sống như thế nào là đúng, là tốt và những tín đồ theo đạo Phật vẫn đạt được những thành tựu trong cuộc sống của họ. Điều này được Phật dạy rất rõ trong kinh A-hàm mà Kinh Thiện Sanh là một điển hình.

Từ mục đích dạy cho con người đạt được hạnh phúc an lạc, đức Phật bằng trí tuệ siêu việt của mình đã tuỳ chúng sanh giảng dạy rất nhiều pháp môn khác nhau từ sơ cơ thiểu trí cho đến bậc đại căn đại trí. Do đó, khi các kinh điển được lưu truyền, chư tổ cũng tuỳ theo căn tánh chúng sanh mà phân ra đại thừa và tiểu thừa để dễ dàng trong việc giáo hoá. Việc làm ấy không phải tự ý mà hoàn toàn dựa vào những lời Phật dạy được ghi lại trong các kinh văn.

Theo tư tưởng Phật giáo, trong khi tu theo Tiểu thừa cốt để giải thoát cho tự thân và sự giải thoát ấy còn hạn cuộc, thì Đại thừa tu là để hoá độ chúng sanh và do công hạnh ấy được viên mãn sẽ đạt đến sự giải thoát rốt ráo. Chính vì thế mà giáo lý Đại thừa phong phú hơn và khó hiểu hơn. Tuy nhiên, nhờ tinh thần tuỳ duyên của Đại thừa đã làm cho Phật giáo có thể thích ứng trong mọi hoàn cảnh xã hội. Đại thừa lấy yếu chỉ là cứu độ chúng sanh nên không câu nệ hình thức. Đó là điểm đặc biệt của Đại thừa và cũng chính điều đó đã gây nhiều tranh cãi trong công chúng. Dù gì đó cũng là một quy luật phát triển tất yếu trong những bối cảnh xã hội vậy. Chúng ta không thể hành xử theo chủ quan được.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là một trong những bộ kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi nhất và được nhiều người trì tụng nhất. Toàn bộ những lời dạy trong kinh nhằm chỉ cho chúng sanh thấy được Tri Kiến Phật của mình. Đó là trí giác ngộ mà mỗi chúng sanh đều có. Đặc biệt, trong bộ kinh này Phật xác định chủ đích của Ngài ra đời là chỉ nói một Phật thừa chứ không có thừa nào khác, ngoại trừ phương tiện.

Với bộ kinh Đại thừa được phổ biến rộng như thế ắt nhiều người sẽ cần được hiểu biết nhiều hơn về bộ kinh này. Vả lại, bộ kinh bao gồm nhiều phẩm và nghĩa lý lại cao thâm nên không phải ai cũng có thể đọc trọn bộ huống chi là hiểu hết ý nghĩa của kinh. Một sự thú vị nữa có thể tìm thấy trong kinh văn là những hình ảnh ẩn dụ mà đức Phật sử dụng trong khi thuyết pháp. Đây là một trong những phương pháp quen thuộc nhưng nó vẫn hấp dẫn thính chúng và đặc biệt là ý nghĩa giáo dục của nó rất cao. Người nghe thông qua cái ví dụ ấy có thể hiểu ngay và hiểu một cách chính xác ý kinh. Xuất phát từ ý nghĩa đó người viết chọn một số ảnh dụ trong kinh để phân tích và nêu ra thâm ý giáo dục mà đức Phật gởi gắm. Đó là lý do chọn đề tài.

1.2. Phạm vi nghiên cứu:

Kinh Pháp Hoa là một bộ kinh dài lại rất cao thâm. Trong phạm vi luận văn ngắn này người viết chỉ chọn một vài ảnh dụ để trình bày. Qua đó nói lên phương pháp giáo dục của đức Phật được ghi chép trong kinh. Để thực hiện đề tài này, người viết sưu tập những tài liệu có liên quan đến Kinh Pháp Hoa và vấn đề giáo dục. Do vì số tài liệu khiêm tốn nên bài viết có lẽ không được phong phú và hấp dẫn nhiều đối với độc giả.

 1.3.Phương pháp nghiên cứu:

Đối với đề tài này, người viết trình bày ý tưởng bằng sự tổng hợp, chọn lọc, trích dẫn, phân tích những ý kinh được chư Tôn Đức giảng giải thông qua học trực tiếp và từ kinh sách. Trên cơ sở đó, bài viết sẽ được thêm những phần gọi là cái hiểu biết của học Tăng để làm cho độc giả phần nào tiếp nhận dễ dàng hơn.

Cuộc sống nhân sinh chừng nào còn khổ đau thì nhu cầu về học Phật chừng ấy cần được diễn giải để phổ biến. Bộ Kinh Pháp Hoa ngày càng được công chúng ở mọi tầng lớp nghiên cứu và tu tập nên có thêm những tài liệu tham khảo sẽ không thừa nếu không muốn nói là cần thiết. Đó là tính thiết thực của đề tài luận văn.

Có thể nói đây mà một việc làm liều lĩnh bởi bộ kinh cao thâm mà sức học của học Tăng thì quá ư là thô thiển. Tuy nhiên, nhớ lại câu “bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ” của tổ Quy Sơn, người viết cũng mạo muội trình bày sự hiểu biết của mình được đút kết qua những gì học được từ chư Tôn Đức. Tất nhiên, đứng giữa những đại pháp vương với bề dày kinh nghiệm nghiên cứu giảng dạy và chú giải kinh này thì học Tăng như con làm sao có thể tránh những lỗi thiếu sót khi trình bày ý kinh. Nhưng với lòng thương tưởng, con tin rằng quý ngài sẽ hoan hỷ và chỉ giáo nhiều hơn bởi có biết khiếm khuyết mới có thể bổ sung được.

Đề tài này có lẽ không có gì mới mẻ đối với những người từng học Phật. Nhưng đa số Phật tử ít có thời gian học Phật nên hy vọng công việc này có thể đem đến cho họ một chút ích lợi nào đó. Xét tưởng cũng không phải là phí công sức nên người viết quyết định thực hiện.

 

Luận văn chỉ là kết quả bước đầu của quá trình nghiên cứu nên không thể tránh những điều thiếu sót. Rất mong được sự chỉ giáo của chư Tôn Đức và các bậc cao minh.

 

2. NỘI DUNG

2.1.Giới Thiệu Sơ Lược Kinh Pháp Hoa:

2.1.1 Xuất Xứ:

Sau khi đức Phật Niết-bàn khoảng 100 năm, Phật giáo phân ra thành hai phái là Thượng toạ bộ và Đại chúng bộ. Phái Thượng toạ bộ đại diện cho tư tưởng nguyên thuỷ hay Phật giáo Tiểu thừa còn phái Đại chúng bộ đại diện cho tư tưởng phát triển hay Phật giáo Đại thừa. Theo các tư liệu lịch sử Phật giáo của Nguyễn Lang, tài liệu trích dẫn của Walpola Ruhula trong “Theraveda and Mahayana” giảng tại Kuala Lumpur, và một số tài liệu phổ biến đương thời, thì Phật giáo Đại thừa có mặt tại Ấn Độ vào khoảng giữa thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch đến thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch.ể 

Vào thế kỷ 19, nhiều phái đoàn Anh, Pháp, Đức và Nga đã đi đến vùng Trung Á và tìm được nhiều bản Kinh Pháp Hoa viết bằng tiếng Phạn. Từ đó, có thể suy tính  được niên đại xuất hiện kinh này. Lại nữa, Ngài Long Thọ Bồ Tát - một đại luận sư Đại thừa đã soạn Luận Đại Trí Độ dùng Kinh Pháp Hoa để chứng minh thuyết Trung Đạo. Đến Ngài Thế Thân Bồ Tát, chẳng những dẫn dụng Kinh Pháp Hoa trong bộ Nhiếp Đại Thừa Luận mà còn soạn ra bộ Pháp Hoa Luận. Với những chứng cứ trên, có thể xác định Kinh Pháp Hoa ra đời sớm nhất là vào thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch.

Pháp Hoa là một trong những bôỉ kinh Đại thừa được đánh giá cao. Ngài Thế Thân Bồ Tát cho kinh này là tối thượng thừa vì nó vượt trên các kinh và là mục tiêu của Tam thừa…. Ngài Trí Giả đại sư cho kinh này là một pháp mầu nhiệm có thể thống nhiếp tất cả các pháp. Ngài Nhật Liên Thánh Nhân cho kinh này là môn đại đà la ni, người tu hành chỉ niệm đề kinh là tiêu trừ được tất cả tội chướng và thành Vô thượng Bồ đề. ểể

Với sự phát triển của Phật giáo Đại thừa và với sự mầu nhiệm của bộ kinh nên từ Ấn Độ Kinh Pháp Hoa được truyền bá sang các nước Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam …. Từ đó đến nay trải qua bao thăng trầm của lịch sử, kinh này vẫn tồn tại, phát triển, được dịch sang nhiều thứ tiếng và được nhiều dân tộc tán ngưỡng, phụng trì.

Ở Trung Hoa, hiện có 5 bản dịch là Pháp Hoa Tam-muội, Tát-đàm-phân-đà-lị Kinh, Chánh Pháp Hoa Kinh, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Trong 5 bản dịch ấy thì bản Diệu Pháp Liên Hoa Kinh 7 cuốn, 28 phẩm do Ngài Cưu-ma-la-thập dịch được lưu hành và diễn giải nhiều nhất.

Ở Việt Nam, có các bản kinh như Pháp Hoa Tông Chỉ Đệ Thường bằng chữ Hán của Tỳ kheo Thanh Đàm và Thiền sư Giác Đạo Minh Chánh, Pháp Hoa Quốc Ngữ Kinh của Pháp Liên Đà giải âm bản dịch của Ngài Cưu-ma-la-thập, Kinh Pháp Hoa của Hoà thượng Trí Tịnh dịch, Pháp Hoa Huyền Nghĩa của đạo hữu Chánh Trí Mai Thọ Truyền dịch, Pháp Hoa Chính Văn và Lược Giải của Hoà thượng Trí Quang, Lược Giải Kinh Pháp Hoa của Hoà thượng Thanh Từ, Lược Giảng Kinh Pháp Hoa của Hoà thượng Thiện Siêu, Đại Ý Kinh Pháp Hoa của Hoà thượng Thanh Kiểm, Lược Giải Kinh Pháp Hoa của Hoà thượng Trí Quảng, Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa của Hoà thượng Chơn Thiện, Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương của Hoà thượng Từ Thông, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải của Thượng toạ Thiện Trí…. Từ đó cho thấy sự phổ biến của kinh này rất rộng rải và là bộ kinh được giảng giải cũng như trì tụng nhiều nhất.

2.1.2. Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa:

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói gọn là Kinh Pháp Hoa rút trong “Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”.

Diệu pháp là pháp khó nghĩ khó bàn, pháp vi diệu ấy khi nghe đến thì “Bản Giác Diệu Tâm” được hiển bày.

Bản giác diệu tâm chính là Tri Kiến Phật. Tri kiến ấy xưa nay vẫn thế nên Phật và chúng sanh đồng một thể. Thể tánh vốn đồng nhưng còn mê thì chúng sanh, ngộ là Phật.

Trong kinh có câu: “Các đức Phật chỉ vì một việc trọng đại duy nhất mà ra đời, đó là vì khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Tri Kiến Phật”. Với mục đích ấy, trong suốt 45 năm đức Phật giáo hoá không ngừng nghỉ. Các kinh của Phật thuyết trong khoảng thời gian ấy được Ngài Trí Giả đại sư phân thành 5 thời và Kinh Pháp Hoa thuộc thời cuối cùng. Pháp này đưa chúng sanh đến Tri Kiến Phật nên thật là pháp vi diệu. Bậc đại tâm nghe Diệu Pháp liền ngộ tự tâm liễu giải tự tánh. Hạng trung, hạ căn chưa lãnh hội ngay nên phải mượn Liên Hoa mà tỉ dụ.

Liên Hoa tiếng Việt gọi là Hoa Sen, một loài hoa từ vũng bùn nhơ vươn lên, không nở trong bùn, trong nước, trên mặt nước mà nở giữa hư không, nở khi ánh bình minh xuất hiện, không một loài ong bướm nào ve vãn xung quanh, không mang mùi tanh của bùn.

Sen nở trong bùn đỏ trắng phơi

Bùn nhơ không nhiễm sắc thêm tươi

Thân ngay ngó rỗng gương đầy hột

Ấy lý tu hành cũng thế thôi.

Cánh nhị gương hột đồng thời hiển lộ, ý đó đã tượng trưng cho nhân quả đồng thời. Nhân quả đồng hiển lộ đã cho ta cảm nhận được rằng: mặc dù chúng sanh đang dong ruổi theo trần lao nhơ nhiễm, nhưng Tri Kiến Phật kia đã tự viên mãn từ vô thỉ vô chung.

Dùng những đặc tính đặc biệt của Hoa Sen để nói về pháp là một nét độc đáo của Kinh Pháp Hoa. Pháp ấy chỉ cho chúng sanh thấy được mình cũng như những Hoa Sen kia. Tuy vẫn còn trôi lăn trong sanh tử, còn bị phiền não chi phối nhưng khi gặp được mặt trời Diệu Pháp của Phật soi thì đều thanh tịnh, trong xanh thơm tho như loài Sen kia vậy. Như Thiền sư Chân Nguyên nói:

Trần trần sát sát Như Lai

Chúng sanh mỗi người mỗi có Hoa Sen

Hoa là bản tánh trạm viên

Bao hàm trời đất dưới trên cùng bằng

Hậu học đã biết hay chăng

Tâm hoa ứng hiện miệng nói năng mọi lời.

Lai nữa, với mục đích như trên đã nói, Phật chỉ dạy cho chúng sanh thấy được Tri Kiến Phật. Tuy nhiên, do căn tánh chúng sanh khác nhau nên các thời pháp trước Phật phương tiện phân ra Tam thừa. Đến thời Pháp Hoa, Phật mới nói rõ sự thật mà trước đây chưa ai biết được. Đó là:

Vì bậc trung, hạ căn muốn đạt lý chân thường mà phải lập Tam thừa để dẫn dụ.

Vì bậc thượng căn muốn đạt lý chân thường mà phải khai quyền hiển thật

Vì bậc thượng thượng căn muốn đạt vô thượng bồ đề nên phế quyền tồn thật.

Với nghĩa ý nghĩa trên mà kinh này có tên là Diệu Pháp Liên Hoa

Về phần nội dung có nhiều cách phân chia, trong bài này sẽ trình bày theo Tông Thiên Thai, gồm hai phần là Tích môn và Bổn môn.

Phần Tích môn: đây là phần hoá độ của Phật Thích Ca biểu hiện qua lịch sử: tu tập, thành đạo và giáo hoá, gồm 14 phẩm đầu.

Phẩm tựa giới thiệu tổng quát về Tri Kiến Phật

Phẩm 2 gọi là “Pháp Thuyết Châu”, cũng chỉ bày Tri Kiến Phật, nhưng chỉ có bậc đệ tử thượng trí như Tôn giả Xá-lợi-phất mới lãnh hội được.

Phẩm 3-6 gọi là “Dụ Thuyết Châu”, ở đây Thế Tôn phải dùng nhân duyên thí dụ để chỉ bày Tri Kiến Phật, nhờ thế, các bậc căn trí sau Ngài Xá-lợi-phất một bậc mới lãnh hội được.

Phẩm 7-9 gọi là “Nhân Duyên Thuyết Châu”, tại đây Thế Tôn mở tâm cho các đệ tử căn trí thấp hơn thấy rõ nhân tu hành quá khứ của tự thân để phát khởi tâm đại thừa, hầu thấy rõ Phật Tri Kiến. Phần này dạy các bậc Thanh Văn hữu học.

Phẩm 10-14 là phần trình bày bổ sung các phần trên, nói lên khả năng thành Phật của mọi chúng sanh, nói lên Phật tính và điều kiện để hiểu và thuyết giảng Pháp Hoa.

Phần Bổn môn: phẩm 15-16 là phần chính của Bổn môn, nói lên Phật tính thường có, không sinh diệt. Thế Tôn vốn đã thành Phật từ vô lượng kiếp ở Ta Bà, không phải mới ra đời và thành đạo trong hiện kiếp. Đây là phần giáo lý đặc biệt của Pháp Hoa giải thích lý do tại sao có thể thành Phật.

Phẩm 17-22 tiếp tục giới thiệu tư tưởng của Bổn môn, vừa khích lệ các đệ tử học hiểu, tu tập và phổ biến kinh.

Phẩm 23-28 trình bày con đường đi vào Tri Kiến Phật của Bồ tát.

2.2.Tính Giáo Dục Theo Kinh Điển Đại Thừa

2.2.1.Khái niệm giáo dục:

Khái niệm giáo dục xuất hiện ở Pháp vào đầu thế kỷ 16 và đến giữa thế kỷ 17, Viện Hàn Lâm Pháp mới đưa ra định nghĩa đầu tiên như sau: “Giáo dục là sự dạy dỗ trẻ em hoặc về phương diện trí tuệ hoặc về phương diện thể chất”.

Ở phương Đông, khái niệm giáo dục về sau mới được dùng. Từ giáo dục đựơc dùng ở Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam… khá chậm, khoảng thế kỷ 19 hay đầu thế kỷ 20, nhằm dịch từ “Education” của Tây phương. Education có gốc La tinh là Éducatus, động từ Educacere, nghĩa là nuôi nấng dạy dỗ, dẫn đi tới…

Từ đó, các nhà giáo dục đã đưa ra một số khái niệm để làm sáng tỏ hơn và phù hợp với mục đích vốn có của nó. Ta có thể đọc các khái niệm sau:

Giáo dục là sự truyền thọ kiến thức, đạo đức và kỷ năng cho người khác, khiến người ta thích nghi với cuộc sống, với thiên nhiên và xã hội.

Giáo dục còn có nghĩa là khiến cho người ta có khả năng sáng tạo, tự nhận biết mình và phát huy cái tốt vốn có của mình.

Giáo dục là nhằm cho con người vươn lên, tiến bộ hơn, phát triển theo chiều hướng tốt hơn và từ đó cộng đồng xã hội được cải tiến.

2.2.2. Tính giáo dục theo kinh điển Đại thừa

Trước khi nói về giáo dục, thiết tưởng cũng nên tìm hiểu đôi nét về Đại thừa. Theo định nghĩa thông thường của các nhà chú giải kinh điển Bắc tạng thì Đại thừa được hiểu như là một cổ xe lớn. Cổ xe đó có khả năng đưa chúng sanh từ chốn khổ đau đến nơi an lạc, từ chỗ ác đến chỗ lành, từ bến mê lầm đến bờ giác ngộ. Giáo pháp đó vừa lợi mình vừa lợi người. Người tu theo giáo pháp này cũng không khác nào vừa độ được mình và vừa độ người khác cùng thoát khổ để đến an vui. Đó là pháp Đại thừa.

Lại nữa, gọi là Đại thừa vì Giáo, Lý, Hạnh, Quả đều đại. Giáo đại là các Kinh Hoa Nghiêm, Bát Nhã…, Lý đại là như lý Bát Nhã Chơn Không, Chơn Như…, Hạnh đại là hạnh lợi tha của Bồ tát…, Quả đại là Tam hiền, Thập địa…. Theo Đại Trang Nghiêm Kinh Luận có nêu 7 ý nghĩa đại: duyên đại, hạnh đại, trí đại, cần đại, xảo đại, uý đại và sự đại.

Với ý đó nên nội dung kinh điển Đại thừa đều thể hiện những lời khuyến bảo, răn dạy cho chúng sanh mở rộng lòng từ bi, mở rộng trí tuệ để nhìn thấy sự khổ của mình, của mọi người mà phát tâm rộng lớn, nguyện độ mình độ người. Như vậy, giáo dục theo kinh điển Đại thừa phải phù hợp với ý kinh đã nêu. Nghĩa là lấy tinh thần tự lợi lợi tha làm mục tiêu giáo dục. Đại thừa không quá chú trọng hình thức Tăng tục, mà chú trọng vào phẩm chất những cá nhân và bất cứ ai thoả mãn tiêu chí đó đều có thể hành Bồ tát được. Đại thừa vì thế có phạm vi ảnh hưởng rất lớn trên mọi lãnh vực cuộc sống và câu nói biểu hiện ý trên hầu như ai cũng biết là: “Nhất thiết pháp vi Phật pháp”.

Giáo dục do đó phải khuyến khích mọi cá nhân phát tâm rộng lớn để thực hiện hoài bão, như phát bốn lời nguyện:

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Hành giả tu tập Đại thừa cũng thực hành sáu pháp Ba-la-mật là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ nhằm thực hiện hạnh nguyện độ sanh viên mãn.

Nền giáo dục như trên là một nền giáo dục lý tưởng, nó không phải mơ hồ không tưởng mà ngược lại nó rất thiết thực và mang tính tích cực. Thiết thực bởi trong xã hội có biết bao người đang rất cần sự quan tâm săn sóc, rất cần sự chia sẻ về mọi mặt vật chất cũng như tinh thần. Tích cực vì nó mang tính hiện thực và đem lại lợi ích trước mắt ngay trên cõi đời này chứ không phải ở thế giới xa xôi nào khác. Điều cần thiết nhất là những hành giả thật sự tu tập đại thừa để đem lại lợi ích cho nhân sinh.

2.3. Tính Giáo Dục Qua Những Ảnh Dụ Trong Kinh Pháp Hoa

2.3.1.Ảnh Dụ Về Nhà Lửa

2.3.1.1 Ý nghĩa ảnh dụ Nhà Lửa

Sau khi đức Phật nói phẩm Phương Tiện, trong hàng đại chúng chỉ có những bậc thượng căn thượng trí như Ngài Xá-lợi-phất mới có thể hiểu được thâm ý của Phật. Còn những bậc trung và hạ căn vẫn chưa phát khởi lòng tin nên đức Thế Tôn đã thuỳ từ lân mẫn dùng thí dụ để thuyết, khiến cho họ khởi lòng tin, thâm nhập Phật trí. Đức Phật dùng hình ảnh ngôi nhà rộng lớn nhưng lại mục nát và nhiều thú độc, lại thêm đang bị lửa cháy bốn bề mà cửa ra vào thì chỉ có một cái lại chật hẹp, làm ví dụ để diễn tả một thực trạng khủng khiếp mà chúng sanh đang sống. Mặc dù nhà đang cháy nguy hiểm nhưng các con của Trưởng giả vẫn chơi giỡn, không sợ sệt và cũng không muốn chạy ra. Chúng không biết lửa là gì, thiêu đốt là gì, nhà cháy là gì. Ông Trưởng giả có thể dùng sức mạnh và trí tuệ của mình để đưa các con ra ngoài một cách an ổn nhưng vì các con ham chơi, không có lòng muốn ra và cửa ra vào thì chỉ có một cái lại chật hẹp. Cho nên, ông đã dùng phương tiện, theo những điều chúng mong ước mà dụ dỗ các con ra ngoài. Cuối cùng các con ông đã ra ngoài một cách an ổn.

Ông Trưởng giả là dụ cho Ứng Thân Phật, tức là đức Thế Tôn đang thuyết pháp tại núi Kỳ-xà-quật.

Căn nhà là chỉ cho ba cõi: dục giới, sắc giới, và vô sắc giới, và cũng là chỉ cho thân ngũ uẩn này.

Nhà mục nát và nhiều thú độc chỉ cho sự tan hoại vô thường mà chúng sanh đang chìm đắm trong đó.

Lửa đang bốc cháy bốn bề là những ngọn lửa vô thường, lửa tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não đang đốt cháy thân ngũ ấm trong từng niệm niệm.

Chỉ có một cửa ra vào là chỉ cho “Giáo môn nhất thừa”, là cửa “Tam giải thoát môn”, là “Đoạn trừ vô minh ngã tưởng”.

Các người con là chỉ cho chúng sanh đang lặn hụp trong tam giới.

2.3.1.2. Tính giáo dục qua ảnh dụ Nhà Lửa

Giáo dục là một quá trình lâu dài và tuỳ theo đối tượng để đưa ra những phương pháp thích hợp. Có như thế thì kết quả mới mỹ mãn, còn ngược lại, không những không có lợi ích mà còn phản tác dụng dẫn đến nguy hại cho xã hội. Chính vì thế mà từ khi chuyển bánh xe pháp cho đến khi nhập Niết bàn, đức Phật chưa từng lập lại bài pháp của mình một cách rập khuôn dù bất cứ đối tượng là ai. Đó là điểm đặc biệt của đức Phật mà bất cứ ai làm giáo dục cũng nên học hỏi. Trong quá trình truyền đạo, đức Thế Tôn đã dùng rất nhiều pháp môn khác nhau với những cách thức khác nhau. Như trong phẩm Phương Tiện, Phật không trực tiếp dạy Phật thừa, mà lại phương tiện nói Tam thừa vì căn cơ của hộỉi chúng lúc này chưa thể lãnh hội được. Thế nhưng, cũng chỉ có những bậc thượng căn lãnh hội được. Do đó, để cho những bậc trung và hạ căn thấu hiểu, Phật dùng thí dụ để minh hoạ.

Hình ảnh Nhà Lửa được đức Phật dùng để ví cho tam giới nơi mà chúng sanh đang lặn hụp nhưng vẫn an nhiên là một thí dụ thật độc đáo và sống động. Ngôi nhà là hình ảnh quen thuộc mà tất cả mọi người đều biết. Nơi ấy họ sống và sinh hoạt hằng ngày hằng giờ. Khi ngôi nhà bị cháy tất cả mọi người đều hốt hoảng vì sợ lửa đốt cháy thân, đốt cháy hết tài sản do khổ nhọc tạo nên. Đối với những người bình thường tỉnh táo thì khi thấy lửa cháy chắc chắn họ sẽ ít nhất là tìm cách thoát thân. Còn những người say sưa tham đắm thì họ không hề biết nên bị chết thiêu.

Ở đây, đức Phật đã dùng hình ảnh quen thuộc “Nhà Lửa” để làm ví dụ khiến cho chúng sanh dễ hiểu, dễ nhận ra sự nguy hiểm. Khi họ nhận thức được sự nguy hiểm ắt hẳn họ sẽ tự thoát ra ngoài một cách an toàn. Tuy nhiên, chúng sanh vì còn ngã tưởng vô minh phiền não, vì tham đắm nơi ngũ dục, vì nghiệp chướng sâu dày nên không nhận thấy sự nguy hiểm của lửa vô thường, không cảm thấy sợ hãi trước sự thiêu đốt của nó. Họ chưa lãnh hội được ý Phật dạy qua thí dụ “Nhà Lửa”. Họ giống như những người đang ngủ say trong đêm trường mộng mị, không nhận thức được những gì đang xảy ra xung quanh.

Đức Phật vì lòng thương tưởng không thể an nhiên khi nhìn thấy chúng sanh bị thiêu đốt, như vị Trưởng giả không thể an tâm nhìn thấy con bị chết thiêu, nên đức Phật dùng phương tiện để dìu dắt chúng. Như những đứa con ưa những đồ chơi trân báu đẹp lạ, Trưởng giả bèn khuyến dụ chúng ra ngoài để lấy mà chơi thoả thích. Nhờ biết sở thích của chúng và do lòng thương các con nên Trưởng giả đã cứu các con của mình ra ngoài an toàn nơi đất trống. Như Lai cũng biết chúng sanh vốn chưa lãnh hội được Nhất thừa giáo nên tuỳ theo tâm niệm của chúng mà nói Tam thừa để đưa chúng thoát khỏi tam giới, đạt đến Niết bàn. Như vậy, qua ảnh dụ này ta thấy mục đích của đức Phật ra đời là nhằm đưa chúng sanh thoát khỏi Nhà Lửa tam giới đang bị thiêu cháy. Để làm được điều đó Phật phải vận dụng phương tiện thiện xảo để trước hết cho chúng sanh nhận thức được sự nguy hại, sự khổ đau, rồi từ đó chúng tự thoát ra ngoài. Cũng như một nhà giáo ưu tú chỉ học trò phương pháp giải một bài toán khó để sau đó chúng tự giải lấy vậy.

2.3.2. Ảnh Dụ Về Ba Xe:

2.3.2.1. Ý nghĩa ảnh dụ Ba Xe:

Trong phẩm Thí Dụ, ông Trưởng giả nhiều phen giảng giải nhưng các con ông vẫn cứ mãi đông tây chạy giỡn, không hiểu gì là nhà, gì là lửa, thế nào là hại. Bằng trí tuệ, ông biết các con thích các thứ đồ chơi nên gọi các con ra ngoài lấy tuỳ theo sở thích. Nhờ vậy mà ông đã cứu được các con ra khỏi Nhà Lửa một cách an ổn. Lúc ấy, tâm ông thơ thới vui mừng hớn hở và rồi ông đồng ban cho các con một thứ xe báu tốt đẹp. Dù ban đầu ông hứa cho ba thứ xe nhưng ông chỉ cho một thứ xe báu lớn. Việc làm ấy không những không làm các con ông buồn mà trái lại còn làm cho chúng mừng và ngạc nhiên nữa vì nó vượt quá sức tưởng tượng của chúng. Nếu như ông Trưởng giả không tâm lý, không tuỳ theo sở thích của các con để dẫn dụ chúng ra thì ông không thể nào cứu chúng được.

Ba thứ xe mà ông Trưởng giả nói cho các con là xe dê, xe hươu, xe trâu.

Xe dê là chỉ cho hàng Thanh Văn Tiểu Quả chỉ cầu tự thân thoát ly tham, sân, si, khổ đau của sinh tử, nhờ sự chỉ đạo của đạo sư.

Xe hươu là chỉ cho bậc Duyên Giác Trung thừa, những vị tự giải thoát khỏi tam giới do nỗ lực của tự thân, có trí tuệ giải thoát mạnh hơn hàng Thanh Văn.

Xe trâu là chỉ cho hàng Bồ Tát, những bậc có khả năng tự đi ra khỏi tam giới, ngoài ra còn có khả năng và hạnh nguyện giúp cho các chúng sanh khác đi ra khỏi tam giới không mệt mỏi. Hàng đệ tử này đang đi vào Phật trí.

Mặc dù ông Trưởng giả hứa cho các con ba thứ xe nhưng khi chúng ra ngoài an ổn ông chỉ ban cho một thứ xe lớn. Xe đó cao rộng, chưng dọn bằng các món báu, lan can bao quanh, bốn phía treo linh, lại dùng màn lọng giăng che ở trên, cũng dùng đồ báu đẹp tốt lạ mà trau dồi đó, dây bằng báu kết thắt các dãi hoa rũ xuống, nệm chiếu mềm mại trải chồng, gối đỏ để trên, dùng trâu trắng kéo, sắc da mập sạch, thân hình mập đẹp, có sức rất mạnh, bước đi ngay thẳng mau lẹ như gió, lại có đông tôi tớ hầu hạ đó.

Xe lớn là dụ cho Đại thừa giáo pháp, không bị thời gian và không gian chi phối nên gọi là cao rộng.

Chưng dọn bằng các món báu là chỉ cho muôn hạnh muôn đức trang nghiêm.

Giữ thiện bên trong, ngăn ác bên ngoài, gọi là lan can bao quanh.

Dùng biện tài vô ngại để giáo hoá chúng sanh nên gọi là bốn phía treo linh.

Dùng tứ vô lượng tâm để hàng phục muôn loài gọi là màn lọng giăng che.

Dùng thiền định để thâu nhiếp các căn, nên gọi là nệm chiếu mềm mại, gối đỏ để trên.

Tâm thể rỗng rang, trí tuệ tuyệt vời, các pháp đều biến thành “vô lậu công đức”, nên gọi là trâu trắng kéo, sắc da mập sạch, thân hình mập đẹp.

Dùng “vô phân biệt trí” làm “sức mạnh kéo đi” đè bẹp các phiền não bằng “nhị không chân trí” nên gọi là bước đi ngay thẳng.

Dùng “chánh trí đốn viên” vào nơi Phật đạo, nên gọi là mau lẹ như gió.

Chuyển tất cả phiền não thành công đức vô lượng vô biên, gọi là có đông tôi tớ để hầu hạ.

Với cổ xe như vậy đã vượt ra khỏi suy lường của các người con ông Trưởng giả.

2.3.2.2. Tính giáo dục qua ảnh dụ Ba Xe:

Khi đức Phật đã dùng thí dụ Nhà Lửa để chỉ cho chúng sanh thấy sự nguy hiểm, và nỗi khổ đau bị đốt cháy nhưng chúng vẫn chưa hiểu và vẫn cứ an nhiên như không có gì xảy ra. Biết tâm niệm chúng sanh còn thấp kém chưa thể nói ngay Nhất thừa nên Phật phương tiện nói Tam thừa. Cũng như ông Trưởng giả dụ các con ra ngoài lấy ba thứ xe. Ta thấy giáo dục muốn thành tựu thì phải nói đúng chỗ người nghe cần chứ không phải nói những cái chúng ta thích nói. Ở đây chúng sanh có ý mong cầu quả vị nhỏ mà nói cao lớn thì chúng sẽ chán và bỏ đi. Cũng giống như học sinh mới học cấp hai mà ta dạy chương trình cấp ba thì chúng sẽ không hiểu và tự động chúng bỏ đi hết. Tuy nhiên, nếu ta đào tạo chúng hết cấp hai rồi, sau đó ta dạy chương trình cấp ba thì chúng tiếp thu ngay.

Đức Phật thấy chúng đệ tử chỉ ham quả vị nhỏ, chưa có ý mong muốn Niết bàn rốt ráo nên mới thuận theo họ nói những pháp họ ưa thích. Sau đó, Phật chỉ nói Nhất thừa mà không nói theo chỗ đã hứa vì Phật thấy được trong hội chúng đã có sự chuyển đổi và có thể lãnh hội được.

Ba Xe của Trưởng giả hay Tam thừa của đức Phật là những phương tiện nhằm đối trị tâm niệm chúng sanh trong một giai đoạn nhất định nào đó. Khi đã đạt được rồi thì không thể giữ mãi pháp ấy. Ví như một người khi qua sông rồi phải bỏ chiếc bè lại, hành giả khi đạt được mục đích cứu cánh phải bỏ phương tiện (Kinh Xà Dụ). Ở đây, ông Trưởng giả không cho ba thứ xe mà chỉ cho một thứ xe lớn, hay đức Phật không nói Tam thừa mà chỉ nói Nhất thừa cũng đồng với ý nghĩa trên.

Khi hành giả tu tập Pháp Hoa có thể nhận thấy giáo lý chung cho Tam thừa là pháp Tứ đế. Pháp ấy có thể đoạn trừ tham ái và chấp thủ. Từ đó, tuỳ theo sự tu tập sẽ đạt được quả vị khác nhau. Như trong kinh Pháp Hoa định nghĩa về Tam thừa như sau : “Những ai có trí sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, rồi tin nhận, những vị ấy nỗ lực cầu Niết bàn để thoát ly tam giới thì gọi là Thanh Văn…. Những ai sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, rồi tin nhận, nỗ lực cầu trí tuệ tự nhiên, ưa thích thiền định, độc cư, hoàn toàn hiểu rõ nguyên nhân tất cả pháp, thì gọi là Bích Chi…. Những ai sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, rồi tin nhận, nỗ lực cầu nhất thiết trí, cầu Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí, cầu các tuệ, lực và các vô uý của Như Lai, với lòng từ bi đem lại an lạc cho vô lượng chúng sanh, làm lợi ích cho chư thiên và loài người, cứu độ tất cả chúng sanh, thì gọi là vị đạt căn cơ đại thừa. Chư Bồ Tát do vì cầu đắc thừa này nên gọi là Đại Bồ Tát…”.

Ảnh dụ Ba Xe và định nghĩa trên đã mở ra cho hành giả tu tập một sự nhìn nhận về phương pháp giáo dục của đức Phật. Chỉ vì lòng mong ước của chúng sanh như thế nào mà đức Phật nói những quả vị khác nhau với pháp hành khác nhau. Tuy nhiên, khi hiểu thấu về chân nghĩa giáo lý Tứ đế thì hành giả vẫn thấy được sự xuyên suốt của của giáo lý này trong tất cả quả vị nói trên. Điều đó được thể hiện qua cách dùng từ trong kinh. Kinh nói Tam thừa là phương tiện còn Nhất thừa là cứu cánh. Nói Nhất thừa là đã bao hàm cả Nhị thừa và Đại thừa. Như vậy, Nhị thừa chỉ là phương tiện đi đến Nhất thừa, nó không phải là pháp vô dụng và thường bị hiểu hạn hẹp như thói quen của nhiều người.

2.3.3 Ảnh dụ về Cùng Tử:

2.3.3.1. Ý nghĩa ảnh dụ Cùng Tử:

Sau khi nghe Thế Tôn xác nhận Tôn giả Xá-lợi-phất sẽ thành Phật, các Tôn giả trí tuệ như Đại Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp, Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên, vui mừng hớn hở phát khởi lòng tin kiên cố về Nhất thừa và trình bày đức Thế Tôn sự tin hiểu Phật thừa của mình qua ví dụ về Gã Cùng Tử.

Có một người, lúc nhỏ bé đã bỏ cha trốn đi qua mấy mươi năm phiêu bạt rày đây mai đó, nghèo khổ đói khát. Trong khi đó, người cha giàu có, tiền của đầy kho, tôi tớ đầy nhà. Ông thường mong được gặp lại con để giao phó gia tài sự nghiệp. Một hôm, đứa con lạc loài tình cờ đến trước nhà cha mà không hay biết. Nhìn thấy Trưởng giả quá sang trọng như thể vua chúa, anh ta hoảng sợ liền bỏ chạy trốn. Nhưng Trưởng giả đã nhận ra Gã Cùng Tử ấy là con mình nên sai hai người rượt bắt. Gã Cùng Tử bị bắt, sợ quá ngã xuống ngất xỉu. Ông Trưởng giả thấy vậy ra lệnh: lấy nước rưới trên mặt cho nó tỉnh rồi thả đi. Sau đó, ông sai hai người tiều tuỵ, mắt chột chân què đến chỗ gã ở để rủ làm thuê hốt phân. Anh ta nghe trả giá gấp đôi, liền nhận hốt phân ở phía sau nhà ông Trưởng giả.

Nhìn thấy con cực khổ, ông thương xót vô cùng, bèn thay quần áo sang trọng, mặc đồ thô rách, tay cầm đồ hốt phân để đến gần với con. Một hôm, ông bảo cùng tử: con nên tiếp tục làm việc ở đây, ta trả thêm tiền, có cần thứ gì thì ta sẽ cấp cho và cứ xem ta như là cha. Lòng gã rất vui mừng nhưng vẫn nghĩ mình là hạ tiện làm thuê.

Ít lâu sau, Trưởng giả có bệnh, cho gọi gã đến, giao cho việc quản lý gia tài và được quyền thu xuất đồ đạc trong nhà. Gã lo chu toàn bổn phận, nhưng vẫn tiếp tục ở chỗ cũ. Trải qua một thời gian, ông Trưởng giả biết mình sắp chết, liền họp thân tộc và tuyên bố trước mọi người rằng: Gã Cùng Tử này là con ta, đã bỏ ta đi từ lúc thơ bé. Nay cha con gặp lại, ta giao tất cả gia tài cho nó. Người con nghe vậy quá vui mừng, cho là việc chưa từng có và tự nghĩ: “Ta vốn không mong cầu mà được kho tàng châu báu”.

Kể xong, Đại Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp, Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên bạch Phật: ông Trưởng giả ví như đức Như Lai, còn chúng con giống như Gã Cùng Tử thất lạc. Chúng con vì ba món khổ mà ở trong cảnh sanh, già, bệnh, chết, khổ não, sầu lo, chịu các sự mê lầm, cho nên ưa thích giáo pháp Tiểu thừa làm công việc hốt phân tầm thường mà tự cho là thỏa mãn với cái giá trả công “Niết bàn”.

Đức Như Lai không hề nói chúng con có kho tàng tri kiến, vì biết ý chí chúng con thấp hèn. Chúng con không biết mình là con của Như Lai nên không dám mong hưởng cái gia tài vĩ đại của cha là Phật mà chỉ cam phận với số tiền làm thuê “Nhị thừa”. Đức Như Lai vì thế phải dùng phương tiện thuận theo chúng con mà chỉ dạy. Nay kho tàng vô giá không cầu mà tự đến.

Hình ảnh Gã Cùng Tử bỏ cha trốn đi, bị khổ sở, đói khát nói lên tâm trạng các vị Thánh chúng rơi vào trần ai, sống với huyễn vọng, trôi lăn trong ngũ thú, thay hình đổi trạng không biết bao lần. Tuy nhiên, nhờ căn lành đời trước, họ vẫn có chí hướng thượng đi tìm đạo. Bỏ cha trốn đi còn có nghĩa là rời bỏ bản tâm Thanh tịnh viên giác. Vì xa lìa tánh giác nên bị nghiệp lực, phiền não lôi kéo làm cho khổ sở xoay vần trong ngũ thú, lục đạo.

Người cha nhớ con là thể hiện tấm lòng từ bi của đức Phật luôn vì chúng sanh trao truyền cái Tri Kiến Phật vốn có của chúng. Cái tri kiến ấy chính là gia tài vô giá mà Phật muốn trao.

Gã Cùng Tử thấy sự uy nguy, sang trọng của cha, sợ hãi chạy trốn nói lên tâm trạng của chư vị Thánh chúng do trụ chấp nơi tiểu quả, cho đó là rốt ráo ở trong cảnh tịch tịnh vô vi, chẳng mong cầu Nhất thừa, nên không dám nghĩ sẽ được quả lớn ấy.

Hai người hầu cận rượt đuổi theo bắt, Gã Cùng Tử ngất xỉu là ý nói nỗi sợ hãi đến ngất xỉu của hàng Thanh Văn, vì ý chí hạ liệt chưa thể tiếp nhận Đại thừa quá cao siêu.

Rưới nước cho gã tỉnh lại là để cho Thanh Văn trở về an trú với cảnh giới thiền định an ổn của họ.

Trưởng giả sai hai người chột mắt, què chân dụ dẫn Gã Cùng Tử về là diễn tả pháp tu của Thanh Văn, Duyên Giác được Phật dạy để tương ứng với tâm trạng và khả năng của hàng Nhị thừa. Đó là pháp Tứ đế và 12 nhân duyên.

Hốt phân nghĩa là tẩy trừ phiền não, tẩy trừ những ô nhiễm đang làm mờ tối trí tuệ của chúng sanh

Ông Trưởng giả thay đồ sang trọng, mặc đồ nhơ để gần Cùng Tử là dụ cho đức Phật gần gũi chúng sanh qua sự hoá thân, ứng thân, là thân mang đồ nhơ nhớp và chịu sanh lão bệnh tử như mọi chúng sanh khác.

Trưởng giả khuyến khích con cũng như Phật nhắc nhở chúng sanh tinh tấn tu hành.

Cha giao gia tài cho con cũng như Phật đem Tri Kiến Phật chỉ dạy cho chúng sanh tu tập.

2.3.3.2 Tính giáo dục qua ảnh dụ Cùng Tử

Các bậc Tôn giả trí tuệ như Đại Mục-kiền -liên, Đại-Ca-diếp, Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên nghe đức Phật nói thí dụ Nhà Lửa và Ba Xe, đã liễu ngộ nên rất vui mừng và sanh lòng tin kiên cố. Từ đó các Ngài trình lên Thế Tôn nỗi vui mừng của mình qua ví dụ Gã Cùng Tử trong phẩm Tín Giải.

Tín giải là nấc thang rất quan trọng đầu tiên để hành giả tu tập bước vào đạo. Người tu hành nếu không tin thì không bao giờ nghe lời Phật dạy. Nhưng dù có nghe lời Phật dạy mà không tin thì chắc họ cũng không tìm hiểu làm gì. Cho nên, đối với Phật giáo, đức tin là điều căn bản trước tiên phải có. Từ lòng tin đó mà nghe và hiểu rồi suy nghĩ thì mới có giải. Từ sự giải đó mà biết có hành. Có hành thì mới có chứng. Cho nên tín, giải, hạnh, chứng là bốn tầng thứ bậc của sự tu hành đối với giáo lý hạnh quả. Chữ tín rất quan trọng nên Luận Đại Trí Độ nói: “Phật pháp như biển cả, có tin mới vào được, có trí mới qua được”. Sách Nho cũng nói: “Người không có lòng tin không lập được” (vô nhân vô tín bất lập). Nhưng tín mà không có tuệ là tin mù quáng trở nên cuồng tín, còn có tuệ mà không có tín thì tuệ đó là thế trí biện thông, dễ đi vào tà kiến. Cho nên, hành giả phải có đầy đủ tín giải mới đi vào Phật pháp được.ểể  

Mục đích của chư Phật ra đời là: “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật Tri Kiến”. Cho nên, giáo pháp của Phật nói ra chỉ có Nhất thừa hay Phật thừa mà thôi. Tuy nhiên, vì căn cơ của chúng sanh chưa hiểu thấu, chưa rốt ráo nên phương tiện nói Tam thừa và Tam thừa ấy cuối cùng rồi cũng đi đến Nhất thừa. Tam thừa ví như hành giả đang đi được nửa đường tới Nhất thừa chứ không phải đến nơi nào khác. Tới đây các Ngài hiểu vì sao Phật “Khai quyền hiển thật” nên đã tín giải.

Từ trước đến giờ, các Ngài chỉ niệm tưởng đến ba môn giải thoát là không, vô tướng, vô tác, không có ý mong cầu quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cũng như Gã Cùng Tử thoả mãn với tiền lương ít ỏi chứ không có ý mong cầu tài sản to lớn của cha. Vì lòng thương tưởng, Phật theo ý của các Ngài mà nói pháp Nhị thừa. Sau đó, Thế Tôn hướng dẫn họ vào Phật trí, điều mà họ chưa từng nghĩ đến. Như người cha từ từ dạy con làm quen với công việc quản lý, rồi sau đó giao gia tài cho nó.

Qua đó, ta thấy giáo pháp của Phật luôn dựa trên khế lý và khế cơ. Ở phần phương tiện này Phật đặt nặng khế cơ hơn khế lý, và từ khế cơ đưa đến khế lý. Từ đó, ta rút ra kinh nghiệm trong việc giáo dục là để đạt mục đích bao giờ cũng phải biết vận dụng phương pháp khôn khéo, phối hợp giữa lý và sự sao cho phù hợp với nhu cầu cần thiết của đối tượng giáo dục thì sẽ đạt kết quả. Khi đã làm cho họ tin và hiểu rồi thì việc kế tiếp rất dễ dàng.

Ở đây tại sao các Ngài là những bậc trí tuệ mà vẫn chưa nhận ra Phật trí của mình và còn sợ sệt. Có lẽ chỉ vì ngã tưởng đã hằn sâu vào tư duy con người qua nhiều kiếp luân hồi lăn lóc, khiến cho họ chối bỏ Phật trí hay trí tuệ vô ngã. Tuy nhiên, trí tuệ ấy vẫn luôn tồn tại trong mỗi chúng ta dù ta có chối bỏ hay không, như Gã Cùng Tử vẫn là con của người cha bất luận là đã nhận hay chưa. Từ đó mở ra cho mọi người niềm tin chân chánh vào bản thân mình, để một ngày nào đó khi màn vô minh được vén xuống thì lập tức trí tuệ viên minh hiển hiện tròn đầy.

Các Ngài tự ví mình như những Cùng Tử để nói lên nỗi khổ bần cùng cơ cực khi bỏ cha trốn đi. Hình ảnh ấy cũng chính là hình ảnh của chúng ta, những người còn đang mê muội, dẫu vẫn học từ Thế Tôn những phương pháp đưa đến Nhất thừa nhưng vì còn bị vô minh che lấp nên vẫn đau khổ triền miên và chưa thể nhận ra Phật trí của mình. Cho nên, nhận thức được vị trí hiện tại của mình để nỗ lực tiếp tục hốt phân nhơ phiền não là một việc làm rất cần thiết trên bước đường giải thoát.

Chúng ta cũng không phải mặc cảm vì thân phận hèn mọn của mình vì rằng mỗi chúng ta đều có một kho báu vô giá. Kho báu ấy Như Lai sẵn lòng chờ đợi để trao cho khi mà chúng ta có đủ “tư cách” để tiếp nhận. “Tư cách” ấy đạt được khi vô minh phiền não không còn.

Qua hình ảnh Gã Cùng Tử hành giả có thể thấy được bóng dáng của mình để từ đó học hỏi noi gương hầu mong được như vị ấy. Đồng thời, chúng ta cũng thấy được sự linh động của đức Phật như thế nào trong khi giáo hóa chúng sanh. Có khi ngồi một chỗ nói pháp, có khi phải ứng hoá khắp nơi để tuỳ chúng sanh mà cứu độ.

2.3.4. Ảnh dụ về Dược Thảo

2.3.4.1 Ý nghĩa ảnh dụ Dược Thảo

Nghe Ngài Đại Ca-diếp và các đại đệ tử nói về công đức chân thật, và nói lên sự thấu hiểu về việc phương tiện thuyết pháp của Như Lai, Phật tán thán và khẳng định lại cho các Ngài biết được công đức của các đức Như Lai nhiều vô lượng vô biên, dù trải qua vô lượng ức kiếp nói cũng không hết được. Để làm sáng tỏ ý trên và cho chúng hội hiểu được rằng đức Thế Tôn bình đẳng thuyết pháp, Phật dùng thí dụ Dược Thảo để minh hoạ.

Thí như trong cõi tam thiên đại thiên nơi núi, sông, khe hang, ruộng, đất, sanh ra cây cối, lùm rừng và các cỏ thuốc bao nhiêu giống loại tên gọi màu sắc đều khác. Mây dầy bủa giăng trùm khắp cõi tam thiên đại thiên, đồng thời mưa xối xuống, khắp nơi nhuần thấm. Cây cối lùm rừng và các cỏ thuốc: hoặc thứ gốc nhỏ, thân nhỏ, nhánh nhỏ, lá nhỏ; hoặc thứ gốc vừa, thân vừa, nhánh vừa, lá vừa; hoặc có thứ gốc lớn, thân lớn, nhánh lớn, lá lớn.

Các giống cây lớn nhỏ, tuỳ hạng thượng, trung, hạ mà hấp thụ khác nhau. Một cụm mây tuôn mưa xuống xứng theo mỗi giống loại mà cây cỏ được sanh trưởng, đơm bông kết trái. Dẫu rằng một cõi đất sanh, một trận mưa thấm nhuần mà các cỏ cây đều có sai khác.

 Đất là dụ cho Tri Kiến Phật nơi mỗi chúng sanh ai cũng có sẵn.

Mưa là dụ cho pháp Phật dạy chung cho tất cả chúng sanh, nhưng tuỳ theo căn cơ cao thấp mà hiểu sâu hay cạn.

Trong ba loại cỏ, cỏ bực nhỏ dụ cho chủng tánh Trời, Người, A-tu-la; cỏ bực trung dụ cho chủng tánh Thanh Văn, Duyên Giác; cỏ bực thượng dụ cho chủng tánh Bồ tát Đại thừa.

Thân, nhánh, lá là dụ cho sự phát tâm tu hành chứng quả theo từng chủng tánh loại khác nhau.

Hai loại cây, cây nhỏ dụ cho hàng hạ căn Bồ tát, Bồ tát từ Thất địa trở xuống, hay Bồ tát ở trong thế giới thật báo của chư Phật; cây lớn dụ cho hàng thượng căn Bồ tát, Bồ tát từ Bát địa trở lên, hay Bồ tát tùng địa dõng xuất ở thế giới Thường Tịch Quang.

Dẫu chúng sanh có cùng Tri Kiến Phật và cùng hưởng một nguồn pháp nhất thừa nhưng chúng sanh có sự sai khác.

 2.3.4.2 Tính giáo dục qua ảnh dụ Dược Thảo

Ở phẩm Tín Giải, Phật dùng thí dụ để dẫn d̑