TÍNH GIÁO DỤC QUA NHỮNG ẢNH DỤ
TRONG KINH PHÁP HOA
Thích Hạnh
Chơn
1. DẪN NHẬP
1.1. Mục đích nghiên cứu
và lý do chọn đề tài:
Từ khi con người xuất
hiện trên trái đất, họ đã biết cách tìm thức ăn
để sinh sống. Từ việc hái lượm đơn giản dần dần
đến việc săn bắn, rồi biết tạo ra các công cụ để
phục vụ cho việc sản xuất. Đó là một quá trình
tiến bộ do có sự học hỏi từ thế hệ này sang thế
hệ khác. Bên cạnh đó, họ cũng có những sáng tạo
để dạy cho nhau cách đối phó với những ác thú,
thiên tai, thời tiết…
Như vậy, con người từ
ngàn xưa đã biết cách thích nghi để sinh tồn.
Mặc dù bằng những cử chỉ hành động đơn giản
nhưng nó cũng cho thấy được việc giáo dục đã
xuất hiện đồng thời với loài người. Mục đích của
họ không gì khác hơn là làm sao kiếm được nhiều
thức ăn để hưởng thụ nhất là những khi khan
hiếm. Chính vì mục đích đó họ luôn cải tiến công
cụ để hổ trợ cho họ trong lao động sản xuất.
Cuộc sống cứ thế phát
triển trải qua bao thời kỳ cho đến thời đại ngày
nay với bao nhiêu là khoa học kỹ thuật tân tiến.
Tuy nhiên, nhìn chung ta thấy tất cả sự phát
triển ấy đều nhằm mục đích phục vụ cho cuộc sống
loài người được tốt hơn. Nếu như trước đây khi
gặp những thiên tai, con người chỉ biết cúng tế,
van xin để được bình yên, thì ngày nay người ta
biết tìm cách lý giải các hiện tượng thiên nhiên
ảnh hưởng đến cuộc sống nhằm khắc phục chúng. Sự
hiểu biết càng cao con người càng ít bị lệ thuộc
vào những điều thần bí mê tín. Họ biết tạo ra
cuộc sống phong phú hơn và sung túc hơn.
Có thể nói về mặt đời
sống vật chất con người đã thành công vượt bậc.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn có rất nhiều điều
mà con người cần phải quan tâm. Bởi vì ngoài đời
sống vật chất, con người còn có đời sống tinh
thần được biểu hiện qua nhân cách sống của mỗi
người. Cái nhân cách ấy rất cần được uốn nắn để
cho nó hoàn thiện. Để làm được điều đó chúng ta
phải có phương pháp giáo dục phù hợp. Xã hội
ngày càng văn minh tân tiến thì việc giáo dục
càng phải được chú trọng nhiều hơn. Bởi thực tế
cho thấy cùng với sự phát triển xã hội là những
hạn chế mà nó mang lại gây khổ đau cho nhân
sinh. Để điều chỉnh và làm cho xã hội được tốt
và cân bằng thì không có cách nào khác hơn là
phải giáo dục nhân cách con người. Đó là đặc
điểm mà giáo dục tồn tại và không thể thiếu
trong bất cứ thời đại nào.
Như trên đã nói việc
giáo dục là để hoàn thiện nhân cách con người.
Từ nhu cầu đó đã xuất hiện rất nhiều triết học
hay tôn giáo nhằm góp phần đưa ra những phương
pháp giáo dục hữu hiệu nhất. Mỗi triết phái đều
có cái hay riêng của nó nhưng để đạt đến mục
đích hoàn thiện thì hầu như hiếm thấy. May thay
trong số những hệ thống ấy nhân loại lại được
thừa hưởng một nền giáo dục thật hoàn hảo về mặt
giáo dục nhân cách. Đó là giáo dục Phật giáo.
Đạo Phật ra đời trong
bối cảnh lịch sử đặc biệt với mục đích là giáo
dục con người đến chỗ an vui hạnh phúc chân
thật. Đạo Phật dạy cho mọi người thấy được nỗi
khổ của nhân sinh bắt nguồn từ tham, sân, si tức
từ tâm chứ không phải từ vật chất bên ngoài. Do
đó, để đạt được hạnh phúc chân thật phải giáo
dục tâm cho thuần thục, thoát khỏi những ràng
buộc trên. Nói như thế không phải đạo Phật xa
rời cuộc sống vật chất, bởi đạo Phật vẫn dạy con
người những phương thức sống như thế nào là
đúng, là tốt và những tín đồ theo đạo Phật vẫn
đạt được những thành tựu trong cuộc sống của họ.
Điều này được Phật dạy rất rõ trong kinh A-hàm
mà Kinh Thiện Sanh là một điển hình.
Từ mục đích dạy cho con
người đạt được hạnh phúc an lạc, đức Phật bằng
trí tuệ siêu việt của mình đã tuỳ chúng sanh
giảng dạy rất nhiều pháp môn khác nhau từ sơ cơ
thiểu trí cho đến bậc đại căn đại trí. Do đó,
khi các kinh điển được lưu truyền, chư tổ cũng
tuỳ theo căn tánh chúng sanh mà phân ra đại thừa
và tiểu thừa để dễ dàng trong việc giáo hoá.
Việc làm ấy không phải tự ý mà hoàn toàn dựa vào
những lời Phật dạy được ghi lại trong các kinh
văn.
Theo tư tưởng Phật giáo,
trong khi tu theo Tiểu thừa cốt để giải thoát
cho tự thân và sự giải thoát ấy còn hạn cuộc,
thì Đại thừa tu là để hoá độ chúng sanh và do
công hạnh ấy được viên mãn sẽ đạt đến sự giải
thoát rốt ráo. Chính vì thế mà giáo lý Đại thừa
phong phú hơn và khó hiểu hơn. Tuy nhiên, nhờ
tinh thần tuỳ duyên của Đại thừa đã làm cho Phật
giáo có thể thích ứng trong mọi hoàn cảnh xã
hội. Đại thừa lấy yếu chỉ là cứu độ chúng sanh
nên không câu nệ hình thức. Đó là điểm đặc biệt
của Đại thừa và cũng chính điều đó đã gây nhiều
tranh cãi trong công chúng. Dù gì đó cũng là một
quy luật phát triển tất yếu trong những bối cảnh
xã hội vậy. Chúng ta không thể hành xử theo chủ
quan được.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
là một trong những bộ kinh Đại thừa được phổ
biến rộng rãi nhất và được nhiều người trì tụng
nhất. Toàn bộ những lời dạy trong kinh nhằm chỉ
cho chúng sanh thấy được Tri Kiến Phật của mình.
Đó là trí giác ngộ mà mỗi chúng sanh đều có. Đặc
biệt, trong bộ kinh này Phật xác định chủ đích
của Ngài ra đời là chỉ nói một Phật thừa chứ
không có thừa nào khác, ngoại trừ phương tiện.
Với bộ kinh Đại thừa
được phổ biến rộng như thế ắt nhiều người sẽ cần
được hiểu biết nhiều hơn về bộ kinh này. Vả lại,
bộ kinh bao gồm nhiều phẩm và nghĩa lý lại cao
thâm nên không phải ai cũng có thể đọc trọn bộ
huống chi là hiểu hết ý nghĩa của kinh. Một sự
thú vị nữa có thể tìm thấy trong kinh văn là
những hình ảnh ẩn dụ mà đức Phật sử dụng trong
khi thuyết pháp. Đây là một trong những phương
pháp quen thuộc nhưng nó vẫn hấp dẫn thính chúng
và đặc biệt là ý nghĩa giáo dục của nó rất cao.
Người nghe thông qua cái ví dụ ấy có thể hiểu
ngay và hiểu một cách chính xác ý kinh. Xuất
phát từ ý nghĩa đó người viết chọn một số ảnh dụ
trong kinh để phân tích và nêu ra thâm ý giáo
dục mà đức Phật gởi gắm. Đó là lý do chọn đề
tài.
1.2. Phạm vi nghiên cứu:
Kinh Pháp Hoa là một bộ
kinh dài lại rất cao thâm. Trong phạm vi luận
văn ngắn này người viết chỉ chọn một vài ảnh dụ
để trình bày. Qua đó nói lên phương pháp giáo
dục của đức Phật được ghi chép trong kinh. Để
thực hiện đề tài này, người viết sưu tập những
tài liệu có liên quan đến Kinh Pháp Hoa và vấn
đề giáo dục. Do vì số tài liệu khiêm tốn nên bài
viết có lẽ không được phong phú và hấp dẫn nhiều
đối với độc giả.
1.3.Phương pháp nghiên
cứu:
Đối với đề tài này,
người viết trình bày ý tưởng bằng sự tổng hợp,
chọn lọc, trích dẫn, phân tích những ý kinh được
chư Tôn Đức giảng giải thông qua học trực tiếp
và từ kinh sách. Trên cơ sở đó, bài viết sẽ được
thêm những phần gọi là cái hiểu biết của học
Tăng để làm cho độc giả phần nào tiếp nhận dễ
dàng hơn.
Cuộc sống nhân sinh
chừng nào còn khổ đau thì nhu cầu về học Phật
chừng ấy cần được diễn giải để phổ biến. Bộ Kinh
Pháp Hoa ngày càng được công chúng ở mọi tầng
lớp nghiên cứu và tu tập nên có thêm những tài
liệu tham khảo sẽ không thừa nếu không muốn nói
là cần thiết. Đó là tính thiết thực của đề tài
luận văn.
Có thể nói đây mà một
việc làm liều lĩnh bởi bộ kinh cao thâm mà sức
học của học Tăng thì quá ư là thô thiển. Tuy
nhiên, nhớ lại câu “bỉ ký trượng phu ngã diệc
nhĩ” của tổ Quy Sơn, người viết cũng mạo muội
trình bày sự hiểu biết của mình được đút kết qua
những gì học được từ chư Tôn Đức. Tất nhiên,
đứng giữa những đại pháp vương với bề dày kinh
nghiệm nghiên cứu giảng dạy và chú giải kinh này
thì học Tăng như con làm sao có thể tránh những
lỗi thiếu sót khi trình bày ý kinh. Nhưng với
lòng thương tưởng, con tin rằng quý ngài sẽ hoan
hỷ và chỉ giáo nhiều hơn bởi có biết khiếm
khuyết mới có thể bổ sung được.
Đề tài này có lẽ không
có gì mới mẻ đối với những người từng học Phật.
Nhưng đa số Phật tử ít có thời gian học Phật nên
hy vọng công việc này có thể đem đến cho họ một
chút ích lợi nào đó. Xét tưởng cũng không phải
là phí công sức nên người viết quyết định thực
hiện.
Luận văn chỉ là kết quả
bước đầu của quá trình nghiên cứu nên không thể
tránh những điều thiếu sót. Rất mong được sự chỉ
giáo của chư Tôn Đức và các bậc cao minh.
2. NỘI DUNG
2.1.Giới Thiệu Sơ Lược
Kinh Pháp Hoa:
2.1.1 Xuất Xứ:
Sau khi đức Phật
Niết-bàn khoảng 100 năm, Phật giáo phân ra thành
hai phái là Thượng toạ bộ và Đại chúng bộ. Phái
Thượng toạ bộ đại diện cho tư tưởng nguyên thuỷ
hay Phật giáo Tiểu thừa còn phái Đại chúng bộ
đại diện cho tư tưởng phát triển hay Phật giáo
Đại thừa. Theo các tư liệu lịch sử Phật giáo của
Nguyễn Lang, tài liệu trích dẫn của Walpola
Ruhula trong “Theraveda and Mahayana” giảng tại
Kuala Lumpur, và một số tài liệu phổ biến đương
thời, thì Phật giáo Đại thừa có mặt tại Ấn Độ
vào khoảng giữa thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch
đến thế kỷ thứ nhất sau Tây lịch.ể
Vào thế kỷ 19, nhiều
phái đoàn Anh, Pháp, Đức và Nga đã đi đến vùng
Trung Á và tìm được nhiều bản Kinh Pháp Hoa viết
bằng tiếng Phạn. Từ đó, có thể suy tính được
niên đại xuất hiện kinh này. Lại nữa, Ngài Long
Thọ Bồ Tát - một đại luận sư Đại thừa đã soạn
Luận Đại Trí Độ dùng Kinh Pháp Hoa để chứng minh
thuyết Trung Đạo. Đến Ngài Thế Thân Bồ Tát,
chẳng những dẫn dụng Kinh Pháp Hoa trong bộ
Nhiếp Đại Thừa Luận mà còn soạn ra bộ Pháp Hoa
Luận. Với những chứng cứ trên, có thể xác định
Kinh Pháp Hoa ra đời sớm nhất là vào thế kỷ thứ
nhất trước Tây lịch.
Pháp Hoa là một trong
những bôỉ kinh Đại thừa được đánh giá cao. Ngài
Thế Thân Bồ Tát cho kinh này là tối thượng thừa
vì nó vượt trên các kinh và là mục tiêu của Tam
thừa…. Ngài Trí Giả đại sư cho kinh này là một
pháp mầu nhiệm có thể thống nhiếp tất cả các
pháp. Ngài Nhật Liên Thánh Nhân cho kinh này là
môn đại đà la ni, người tu hành chỉ niệm đề kinh
là tiêu trừ được tất cả tội chướng và thành Vô
thượng Bồ đề. ểể
Với sự phát triển của
Phật giáo Đại thừa và với sự mầu nhiệm của bộ
kinh nên từ Ấn Độ Kinh Pháp Hoa được truyền bá
sang các nước Nhật Bản, Trung Hoa, Việt Nam ….
Từ đó đến nay trải qua bao thăng trầm của lịch
sử, kinh này vẫn tồn tại, phát triển, được dịch
sang nhiều thứ tiếng và được nhiều dân tộc tán
ngưỡng, phụng trì.
Ở Trung Hoa, hiện có 5
bản dịch là Pháp Hoa Tam-muội,
Tát-đàm-phân-đà-lị Kinh, Chánh Pháp Hoa Kinh,
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Thiêm Phẩm Diệu Pháp
Liên Hoa Kinh. Trong 5 bản dịch ấy thì bản Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh 7 cuốn, 28 phẩm do Ngài
Cưu-ma-la-thập dịch được lưu hành và diễn giải
nhiều nhất.
Ở Việt Nam, có các bản
kinh như Pháp Hoa Tông Chỉ Đệ Thường bằng chữ
Hán của Tỳ kheo Thanh Đàm và Thiền sư Giác Đạo
Minh Chánh, Pháp Hoa Quốc Ngữ Kinh của Pháp Liên
Đà giải âm bản dịch của Ngài Cưu-ma-la-thập,
Kinh Pháp Hoa của Hoà thượng Trí Tịnh dịch, Pháp
Hoa Huyền Nghĩa của đạo hữu Chánh Trí Mai Thọ
Truyền dịch, Pháp Hoa Chính Văn và Lược Giải của
Hoà thượng Trí Quang, Lược Giải Kinh Pháp Hoa
của Hoà thượng Thanh Từ, Lược Giảng Kinh Pháp
Hoa của Hoà thượng Thiện Siêu, Đại Ý Kinh Pháp
Hoa của Hoà thượng Thanh Kiểm, Lược Giải Kinh
Pháp Hoa của Hoà thượng Trí Quảng, Tư Tưởng Kinh
Pháp Hoa của Hoà thượng Chơn Thiện, Pháp Hoa
Kinh Thâm Nghĩa Đề Cương của Hoà thượng Từ
Thông, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải của
Thượng toạ Thiện Trí…. Từ đó cho thấy sự phổ
biến của kinh này rất rộng rải và là bộ kinh
được giảng giải cũng như trì tụng nhiều nhất.
2.1.2. Tư Tưởng Kinh
Pháp Hoa:
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
nói gọn là Kinh Pháp Hoa rút trong “Diệu Pháp
Liên Hoa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”.
Diệu pháp là pháp khó
nghĩ khó bàn, pháp vi diệu ấy khi nghe đến thì
“Bản Giác Diệu Tâm” được hiển bày.
Bản giác diệu tâm chính
là Tri Kiến Phật. Tri kiến ấy xưa nay vẫn thế
nên Phật và chúng sanh đồng một thể. Thể tánh
vốn đồng nhưng còn mê thì chúng sanh, ngộ là
Phật.
Trong kinh có câu: “Các
đức Phật chỉ vì một việc trọng đại duy nhất mà
ra đời, đó là vì khai thị cho chúng sanh ngộ
nhập Tri Kiến Phật”. Với mục đích ấy, trong suốt
45 năm đức Phật giáo hoá không ngừng nghỉ. Các
kinh của Phật thuyết trong khoảng thời gian ấy
được Ngài Trí Giả đại sư phân thành 5 thời và
Kinh Pháp Hoa thuộc thời cuối cùng. Pháp này đưa
chúng sanh đến Tri Kiến Phật nên thật là pháp vi
diệu. Bậc đại tâm nghe Diệu Pháp liền ngộ tự tâm
liễu giải tự tánh. Hạng trung, hạ căn chưa lãnh
hội ngay nên phải mượn Liên Hoa mà tỉ dụ.
Liên Hoa tiếng Việt gọi
là Hoa Sen, một loài hoa từ vũng bùn nhơ vươn
lên, không nở trong bùn, trong nước, trên mặt
nước mà nở giữa hư không, nở khi ánh bình minh
xuất hiện, không một loài ong bướm nào ve vãn
xung quanh, không mang mùi tanh của bùn.
Sen nở trong bùn đỏ
trắng phơi
Bùn nhơ không nhiễm sắc
thêm tươi
Thân ngay ngó rỗng gương
đầy hột
Ấy lý tu hành cũng thế
thôi.
Cánh nhị gương hột đồng
thời hiển lộ, ý đó đã tượng trưng cho nhân quả
đồng thời. Nhân quả đồng hiển lộ đã cho ta cảm
nhận được rằng: mặc dù chúng sanh đang dong ruổi
theo trần lao nhơ nhiễm, nhưng Tri Kiến Phật kia
đã tự viên mãn từ vô thỉ vô chung.
Dùng những đặc tính đặc
biệt của Hoa Sen để nói về pháp là một nét độc
đáo của Kinh Pháp Hoa. Pháp ấy chỉ cho chúng
sanh thấy được mình cũng như những Hoa Sen kia.
Tuy vẫn còn trôi lăn trong sanh tử, còn bị phiền
não chi phối nhưng khi gặp được mặt trời Diệu
Pháp của Phật soi thì đều thanh tịnh, trong xanh
thơm tho như loài Sen kia vậy. Như Thiền sư Chân
Nguyên nói:
Trần trần sát sát Như
Lai
Chúng sanh mỗi người mỗi
có Hoa Sen
Hoa là bản tánh trạm
viên
Bao hàm trời đất dưới
trên cùng bằng
Hậu học đã biết hay
chăng
Tâm hoa ứng hiện miệng
nói năng mọi lời.
Lai nữa, với mục đích
như trên đã nói, Phật chỉ dạy cho chúng sanh
thấy được Tri Kiến Phật. Tuy nhiên, do căn tánh
chúng sanh khác nhau nên các thời pháp trước
Phật phương tiện phân ra Tam thừa. Đến thời Pháp
Hoa, Phật mới nói rõ sự thật mà trước đây chưa
ai biết được. Đó là:
Vì bậc trung, hạ căn
muốn đạt lý chân thường mà phải lập Tam thừa để
dẫn dụ.
Vì bậc thượng căn muốn
đạt lý chân thường mà phải khai quyền hiển thật
Vì bậc thượng thượng căn
muốn đạt vô thượng bồ đề nên phế quyền tồn thật.
Với nghĩa ý nghĩa trên
mà kinh này có tên là Diệu Pháp Liên Hoa
Về phần nội dung có
nhiều cách phân chia, trong bài này sẽ trình bày
theo Tông Thiên Thai, gồm hai phần là Tích môn
và Bổn môn.
Phần Tích môn: đây là
phần hoá độ của Phật Thích Ca biểu hiện qua lịch
sử: tu tập, thành đạo và giáo hoá, gồm 14 phẩm
đầu.
Phẩm tựa giới thiệu tổng
quát về Tri Kiến Phật
Phẩm 2 gọi là “Pháp
Thuyết Châu”, cũng chỉ bày Tri Kiến Phật, nhưng
chỉ có bậc đệ tử thượng trí như Tôn giả
Xá-lợi-phất mới lãnh hội được.
Phẩm 3-6 gọi là “Dụ
Thuyết Châu”, ở đây Thế Tôn phải dùng nhân duyên
thí dụ để chỉ bày Tri Kiến Phật, nhờ thế, các
bậc căn trí sau Ngài Xá-lợi-phất một bậc mới
lãnh hội được.
Phẩm 7-9 gọi là “Nhân
Duyên Thuyết Châu”, tại đây Thế Tôn mở tâm cho
các đệ tử căn trí thấp hơn thấy rõ nhân tu hành
quá khứ của tự thân để phát khởi tâm đại thừa,
hầu thấy rõ Phật Tri Kiến. Phần này dạy các bậc
Thanh Văn hữu học.
Phẩm 10-14 là phần trình
bày bổ sung các phần trên, nói lên khả năng
thành Phật của mọi chúng sanh, nói lên Phật tính
và điều kiện để hiểu và thuyết giảng Pháp Hoa.
Phần Bổn môn: phẩm 15-16
là phần chính của Bổn môn, nói lên Phật tính
thường có, không sinh diệt. Thế Tôn vốn đã thành
Phật từ vô lượng kiếp ở Ta Bà, không phải mới ra
đời và thành đạo trong hiện kiếp. Đây là phần
giáo lý đặc biệt của Pháp Hoa giải thích lý do
tại sao có thể thành Phật.
Phẩm 17-22 tiếp tục giới
thiệu tư tưởng của Bổn môn, vừa khích lệ các đệ
tử học hiểu, tu tập và phổ biến kinh.
Phẩm 23-28 trình bày con
đường đi vào Tri Kiến Phật của Bồ tát.
2.2.Tính Giáo Dục Theo
Kinh Điển Đại Thừa
2.2.1.Khái niệm giáo
dục:
Khái niệm giáo dục xuất
hiện ở Pháp vào đầu thế kỷ 16 và đến giữa thế kỷ
17, Viện Hàn Lâm Pháp mới đưa ra định nghĩa đầu
tiên như sau: “Giáo dục là sự dạy dỗ trẻ em hoặc
về phương diện trí tuệ hoặc về phương diện thể
chất”.
Ở phương Đông, khái niệm
giáo dục về sau mới được dùng. Từ giáo dục đựơc
dùng ở Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam… khá chậm,
khoảng thế kỷ 19 hay đầu thế kỷ 20, nhằm dịch từ
“Education” của Tây phương. Education có gốc La
tinh là Éducatus, động từ Educacere, nghĩa là
nuôi nấng dạy dỗ, dẫn đi tới…
Từ đó, các nhà giáo dục
đã đưa ra một số khái niệm để làm sáng tỏ hơn và
phù hợp với mục đích vốn có của nó. Ta có thể
đọc các khái niệm sau:
Giáo dục là sự truyền
thọ kiến thức, đạo đức và kỷ năng cho người
khác, khiến người ta thích nghi với cuộc sống,
với thiên nhiên và xã hội.
Giáo dục còn có nghĩa là
khiến cho người ta có khả năng sáng tạo, tự nhận
biết mình và phát huy cái tốt vốn có của mình.
Giáo dục là nhằm cho con
người vươn lên, tiến bộ hơn, phát triển theo
chiều hướng tốt hơn và từ đó cộng đồng xã hội
được cải tiến.
2.2.2. Tính giáo dục
theo kinh điển Đại thừa
Trước khi nói về giáo
dục, thiết tưởng cũng nên tìm hiểu đôi nét về
Đại thừa. Theo định nghĩa thông thường của các
nhà chú giải kinh điển Bắc tạng thì Đại thừa
được hiểu như là một cổ xe lớn. Cổ xe đó có khả
năng đưa chúng sanh từ chốn khổ đau đến nơi an
lạc, từ chỗ ác đến chỗ lành, từ bến mê lầm đến
bờ giác ngộ. Giáo pháp đó vừa lợi mình vừa lợi
người. Người tu theo giáo pháp này cũng không
khác nào vừa độ được mình và vừa độ người khác
cùng thoát khổ để đến an vui. Đó là pháp Đại
thừa.
Lại nữa, gọi là Đại thừa
vì Giáo, Lý, Hạnh, Quả đều đại. Giáo đại là các
Kinh Hoa Nghiêm, Bát Nhã…, Lý đại là như lý Bát
Nhã Chơn Không, Chơn Như…, Hạnh đại là hạnh lợi
tha của Bồ tát…, Quả đại là Tam hiền, Thập địa….
Theo Đại Trang Nghiêm Kinh Luận có nêu 7 ý nghĩa
đại: duyên đại, hạnh đại, trí đại, cần đại, xảo
đại, uý đại và sự đại.
Với ý đó nên nội dung
kinh điển Đại thừa đều thể hiện những lời khuyến
bảo, răn dạy cho chúng sanh mở rộng lòng từ bi,
mở rộng trí tuệ để nhìn thấy sự khổ của mình,
của mọi người mà phát tâm rộng lớn, nguyện độ
mình độ người. Như vậy, giáo dục theo kinh điển
Đại thừa phải phù hợp với ý kinh đã nêu. Nghĩa
là lấy tinh thần tự lợi lợi tha làm mục tiêu
giáo dục. Đại thừa không quá chú trọng hình thức
Tăng tục, mà chú trọng vào phẩm chất những cá
nhân và bất cứ ai thoả mãn tiêu chí đó đều có
thể hành Bồ tát được. Đại thừa vì thế có phạm vi
ảnh hưởng rất lớn trên mọi lãnh vực cuộc sống và
câu nói biểu hiện ý trên hầu như ai cũng biết
là: “Nhất thiết pháp vi Phật pháp”.
Giáo dục do đó phải
khuyến khích mọi cá nhân phát tâm rộng lớn để
thực hiện hoài bão, như phát bốn lời nguyện:
Chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ
Phiền não vô tận thệ
nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ
nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ
nguyện thành.
Hành giả tu tập Đại thừa
cũng thực hành sáu pháp Ba-la-mật là bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ
nhằm thực hiện hạnh nguyện độ sanh viên mãn.
Nền giáo dục như trên là
một nền giáo dục lý tưởng, nó không phải mơ hồ
không tưởng mà ngược lại nó rất thiết thực và
mang tính tích cực. Thiết thực bởi trong xã hội
có biết bao người đang rất cần sự quan tâm săn
sóc, rất cần sự chia sẻ về mọi mặt vật chất cũng
như tinh thần. Tích cực vì nó mang tính hiện
thực và đem lại lợi ích trước mắt ngay trên cõi
đời này chứ không phải ở thế giới xa xôi nào
khác. Điều cần thiết nhất là những hành giả thật
sự tu tập đại thừa để đem lại lợi ích cho nhân
sinh.
2.3. Tính Giáo Dục Qua
Những Ảnh Dụ Trong Kinh Pháp Hoa
2.3.1.Ảnh Dụ Về Nhà Lửa
2.3.1.1 Ý nghĩa ảnh dụ
Nhà Lửa
Sau khi đức Phật nói
phẩm Phương Tiện, trong hàng đại chúng chỉ có
những bậc thượng căn thượng trí như Ngài
Xá-lợi-phất mới có thể hiểu được thâm ý của
Phật. Còn những bậc trung và hạ căn vẫn chưa
phát khởi lòng tin nên đức Thế Tôn đã thuỳ từ
lân mẫn dùng thí dụ để thuyết, khiến cho họ khởi
lòng tin, thâm nhập Phật trí. Đức Phật dùng hình
ảnh ngôi nhà rộng lớn nhưng lại mục nát và nhiều
thú độc, lại thêm đang bị lửa cháy bốn bề mà cửa
ra vào thì chỉ có một cái lại chật hẹp, làm ví
dụ để diễn tả một thực trạng khủng khiếp mà
chúng sanh đang sống. Mặc dù nhà đang cháy nguy
hiểm nhưng các con của Trưởng giả vẫn chơi giỡn,
không sợ sệt và cũng không muốn chạy ra. Chúng
không biết lửa là gì, thiêu đốt là gì, nhà cháy
là gì. Ông Trưởng giả có thể dùng sức mạnh và
trí tuệ của mình để đưa các con ra ngoài một
cách an ổn nhưng vì các con ham chơi, không có
lòng muốn ra và cửa ra vào thì chỉ có một cái
lại chật hẹp. Cho nên, ông đã dùng phương tiện,
theo những điều chúng mong ước mà dụ dỗ các con
ra ngoài. Cuối cùng các con ông đã ra ngoài một
cách an ổn.
Ông Trưởng giả là dụ cho
Ứng Thân Phật, tức là đức Thế Tôn đang thuyết
pháp tại núi Kỳ-xà-quật.
Căn nhà là chỉ cho ba
cõi: dục giới, sắc giới, và vô sắc giới, và cũng
là chỉ cho thân ngũ uẩn này.
Nhà mục nát và nhiều thú
độc chỉ cho sự tan hoại vô thường mà chúng sanh
đang chìm đắm trong đó.
Lửa đang bốc cháy bốn bề
là những ngọn lửa vô thường, lửa tham, sân, si,
sầu, bi, khổ, ưu, não đang đốt cháy thân ngũ ấm
trong từng niệm niệm.
Chỉ có một cửa ra vào là
chỉ cho “Giáo môn nhất thừa”, là cửa “Tam giải
thoát môn”, là “Đoạn trừ vô minh ngã tưởng”.
Các người con là chỉ cho
chúng sanh đang lặn hụp trong tam giới.
2.3.1.2. Tính giáo dục
qua ảnh dụ Nhà Lửa
Giáo dục là một quá
trình lâu dài và tuỳ theo đối tượng để đưa ra
những phương pháp thích hợp. Có như thế thì kết
quả mới mỹ mãn, còn ngược lại, không những không
có lợi ích mà còn phản tác dụng dẫn đến nguy hại
cho xã hội. Chính vì thế mà từ khi chuyển bánh
xe pháp cho đến khi nhập Niết bàn, đức Phật chưa
từng lập lại bài pháp của mình một cách rập
khuôn dù bất cứ đối tượng là ai. Đó là điểm đặc
biệt của đức Phật mà bất cứ ai làm giáo dục cũng
nên học hỏi. Trong quá trình truyền đạo, đức Thế
Tôn đã dùng rất nhiều pháp môn khác nhau với
những cách thức khác nhau. Như trong phẩm Phương
Tiện, Phật không trực tiếp dạy Phật thừa, mà lại
phương tiện nói Tam thừa vì căn cơ của hộỉi
chúng lúc này chưa thể lãnh hội được. Thế nhưng,
cũng chỉ có những bậc thượng căn lãnh hội được.
Do đó, để cho những bậc trung và hạ căn thấu
hiểu, Phật dùng thí dụ để minh hoạ.
Hình ảnh Nhà Lửa được
đức Phật dùng để ví cho tam giới nơi mà chúng
sanh đang lặn hụp nhưng vẫn an nhiên là một thí
dụ thật độc đáo và sống động. Ngôi nhà là hình
ảnh quen thuộc mà tất cả mọi người đều biết. Nơi
ấy họ sống và sinh hoạt hằng ngày hằng giờ. Khi
ngôi nhà bị cháy tất cả mọi người đều hốt hoảng
vì sợ lửa đốt cháy thân, đốt cháy hết tài sản do
khổ nhọc tạo nên. Đối với những người bình
thường tỉnh táo thì khi thấy lửa cháy chắc chắn
họ sẽ ít nhất là tìm cách thoát thân. Còn những
người say sưa tham đắm thì họ không hề biết nên
bị chết thiêu.
Ở đây, đức Phật đã dùng
hình ảnh quen thuộc “Nhà Lửa” để làm ví dụ khiến
cho chúng sanh dễ hiểu, dễ nhận ra sự nguy hiểm.
Khi họ nhận thức được sự nguy hiểm ắt hẳn họ sẽ
tự thoát ra ngoài một cách an toàn. Tuy nhiên,
chúng sanh vì còn ngã tưởng vô minh phiền não,
vì tham đắm nơi ngũ dục, vì nghiệp chướng sâu
dày nên không nhận thấy sự nguy hiểm của lửa vô
thường, không cảm thấy sợ hãi trước sự thiêu đốt
của nó. Họ chưa lãnh hội được ý Phật dạy qua thí
dụ “Nhà Lửa”. Họ giống như những người đang ngủ
say trong đêm trường mộng mị, không nhận thức
được những gì đang xảy ra xung quanh.
Đức Phật vì lòng thương
tưởng không thể an nhiên khi nhìn thấy chúng
sanh bị thiêu đốt, như vị Trưởng giả không thể
an tâm nhìn thấy con bị chết thiêu, nên đức Phật
dùng phương tiện để dìu dắt chúng. Như những đứa
con ưa những đồ chơi trân báu đẹp lạ, Trưởng giả
bèn khuyến dụ chúng ra ngoài để lấy mà chơi thoả
thích. Nhờ biết sở thích của chúng và do lòng
thương các con nên Trưởng giả đã cứu các con của
mình ra ngoài an toàn nơi đất trống. Như Lai
cũng biết chúng sanh vốn chưa lãnh hội được Nhất
thừa giáo nên tuỳ theo tâm niệm của chúng mà nói
Tam thừa để đưa chúng thoát khỏi tam giới, đạt
đến Niết bàn. Như vậy, qua ảnh dụ này ta thấy
mục đích của đức Phật ra đời là nhằm đưa chúng
sanh thoát khỏi Nhà Lửa tam giới đang bị thiêu
cháy. Để làm được điều đó Phật phải vận dụng
phương tiện thiện xảo để trước hết cho chúng
sanh nhận thức được sự nguy hại, sự khổ đau, rồi
từ đó chúng tự thoát ra ngoài. Cũng như một nhà
giáo ưu tú chỉ học trò phương pháp giải một bài
toán khó để sau đó chúng tự giải lấy vậy.
2.3.2. Ảnh Dụ Về Ba Xe:
2.3.2.1. Ý nghĩa ảnh dụ
Ba Xe:
Trong phẩm Thí Dụ, ông
Trưởng giả nhiều phen giảng giải nhưng các con
ông vẫn cứ mãi đông tây chạy giỡn, không hiểu gì
là nhà, gì là lửa, thế nào là hại. Bằng trí tuệ,
ông biết các con thích các thứ đồ chơi nên gọi
các con ra ngoài lấy tuỳ theo sở thích. Nhờ vậy
mà ông đã cứu được các con ra khỏi Nhà Lửa một
cách an ổn. Lúc ấy, tâm ông thơ thới vui mừng
hớn hở và rồi ông đồng ban cho các con một thứ
xe báu tốt đẹp. Dù ban đầu ông hứa cho ba thứ xe
nhưng ông chỉ cho một thứ xe báu lớn. Việc làm
ấy không những không làm các con ông buồn mà
trái lại còn làm cho chúng mừng và ngạc nhiên
nữa vì nó vượt quá sức tưởng tượng của chúng.
Nếu như ông Trưởng giả không tâm lý, không tuỳ
theo sở thích của các con để dẫn dụ chúng ra thì
ông không thể nào cứu chúng được.
Ba thứ xe mà ông Trưởng
giả nói cho các con là xe dê, xe hươu, xe trâu.
Xe dê là chỉ cho hàng
Thanh Văn Tiểu Quả chỉ cầu tự thân thoát ly
tham, sân, si, khổ đau của sinh tử, nhờ sự chỉ
đạo của đạo sư.
Xe hươu là chỉ cho bậc
Duyên Giác Trung thừa, những vị tự giải thoát
khỏi tam giới do nỗ lực của tự thân, có trí tuệ
giải thoát mạnh hơn hàng Thanh Văn.
Xe trâu là chỉ cho hàng
Bồ Tát, những bậc có khả năng tự đi ra khỏi tam
giới, ngoài ra còn có khả năng và hạnh nguyện
giúp cho các chúng sanh khác đi ra khỏi tam giới
không mệt mỏi. Hàng đệ tử này đang đi vào Phật
trí.
Mặc dù ông Trưởng giả
hứa cho các con ba thứ xe nhưng khi chúng ra
ngoài an ổn ông chỉ ban cho một thứ xe lớn. Xe
đó cao rộng, chưng dọn bằng các món báu, lan can
bao quanh, bốn phía treo linh, lại dùng màn lọng
giăng che ở trên, cũng dùng đồ báu đẹp tốt lạ mà
trau dồi đó, dây bằng báu kết thắt các dãi hoa
rũ xuống, nệm chiếu mềm mại trải chồng, gối đỏ
để trên, dùng trâu trắng kéo, sắc da mập sạch,
thân hình mập đẹp, có sức rất mạnh, bước đi ngay
thẳng mau lẹ như gió, lại có đông tôi tớ hầu hạ
đó.
Xe lớn là dụ cho Đại
thừa giáo pháp, không bị thời gian và không gian
chi phối nên gọi là cao rộng.
Chưng dọn bằng các món
báu là chỉ cho muôn hạnh muôn đức trang nghiêm.
Giữ thiện bên trong,
ngăn ác bên ngoài, gọi là lan can bao quanh.
Dùng biện tài vô ngại để
giáo hoá chúng sanh nên gọi là bốn phía treo
linh.
Dùng tứ vô lượng tâm để
hàng phục muôn loài gọi là màn lọng giăng che.
Dùng thiền định để thâu
nhiếp các căn, nên gọi là nệm chiếu mềm mại, gối
đỏ để trên.
Tâm thể rỗng rang, trí
tuệ tuyệt vời, các pháp đều biến thành “vô lậu
công đức”, nên gọi là trâu trắng kéo, sắc da mập
sạch, thân hình mập đẹp.
Dùng “vô phân biệt trí”
làm “sức mạnh kéo đi” đè bẹp các phiền não bằng
“nhị không chân trí” nên gọi là bước đi ngay
thẳng.
Dùng “chánh trí đốn
viên” vào nơi Phật đạo, nên gọi là mau lẹ như
gió.
Chuyển tất cả phiền não
thành công đức vô lượng vô biên, gọi là có đông
tôi tớ để hầu hạ.
Với cổ xe như vậy đã
vượt ra khỏi suy lường của các người con ông
Trưởng giả.
2.3.2.2. Tính giáo dục
qua ảnh dụ Ba Xe:
Khi đức Phật đã dùng thí
dụ Nhà Lửa để chỉ cho chúng sanh thấy sự nguy
hiểm, và nỗi khổ đau bị đốt cháy nhưng chúng vẫn
chưa hiểu và vẫn cứ an nhiên như không có gì xảy
ra. Biết tâm niệm chúng sanh còn thấp kém chưa
thể nói ngay Nhất thừa nên Phật phương tiện nói
Tam thừa. Cũng như ông Trưởng giả dụ các con ra
ngoài lấy ba thứ xe. Ta thấy giáo dục muốn thành
tựu thì phải nói đúng chỗ người nghe cần chứ
không phải nói những cái chúng ta thích nói. Ở
đây chúng sanh có ý mong cầu quả vị nhỏ mà nói
cao lớn thì chúng sẽ chán và bỏ đi. Cũng giống
như học sinh mới học cấp hai mà ta dạy chương
trình cấp ba thì chúng sẽ không hiểu và tự động
chúng bỏ đi hết. Tuy nhiên, nếu ta đào tạo chúng
hết cấp hai rồi, sau đó ta dạy chương trình cấp
ba thì chúng tiếp thu ngay.
Đức Phật thấy chúng đệ
tử chỉ ham quả vị nhỏ, chưa có ý mong muốn Niết
bàn rốt ráo nên mới thuận theo họ nói những pháp
họ ưa thích. Sau đó, Phật chỉ nói Nhất thừa mà
không nói theo chỗ đã hứa vì Phật thấy được
trong hội chúng đã có sự chuyển đổi và có thể
lãnh hội được.
Ba Xe của Trưởng giả hay
Tam thừa của đức Phật là những phương tiện nhằm
đối trị tâm niệm chúng sanh trong một giai đoạn
nhất định nào đó. Khi đã đạt được rồi thì không
thể giữ mãi pháp ấy. Ví như một người khi qua
sông rồi phải bỏ chiếc bè lại, hành giả khi đạt
được mục đích cứu cánh phải bỏ phương tiện (Kinh
Xà Dụ). Ở đây, ông Trưởng giả không cho ba thứ
xe mà chỉ cho một thứ xe lớn, hay đức Phật không
nói Tam thừa mà chỉ nói Nhất thừa cũng đồng với
ý nghĩa trên.
Khi hành giả tu tập Pháp
Hoa có thể nhận thấy giáo lý chung cho Tam thừa
là pháp Tứ đế. Pháp ấy có thể đoạn trừ tham ái
và chấp thủ. Từ đó, tuỳ theo sự tu tập sẽ đạt
được quả vị khác nhau. Như trong kinh Pháp Hoa
định nghĩa về Tam thừa như sau : “Những ai có
trí sau khi nghe pháp từ Thế Tôn, rồi tin nhận,
những vị ấy nỗ lực cầu Niết bàn để thoát ly tam
giới thì gọi là Thanh Văn…. Những ai sau khi
nghe pháp từ Thế Tôn, rồi tin nhận, nỗ lực cầu
trí tuệ tự nhiên, ưa thích thiền định, độc cư,
hoàn toàn hiểu rõ nguyên nhân tất cả pháp, thì
gọi là Bích Chi…. Những ai sau khi nghe pháp từ
Thế Tôn, rồi tin nhận, nỗ lực cầu nhất thiết
trí, cầu Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí, cầu
các tuệ, lực và các vô uý của Như Lai, với lòng
từ bi đem lại an lạc cho vô lượng chúng sanh,
làm lợi ích cho chư thiên và loài người, cứu độ
tất cả chúng sanh, thì gọi là vị đạt căn cơ đại
thừa. Chư Bồ Tát do vì cầu đắc thừa này nên gọi
là Đại Bồ Tát…”.
Ảnh dụ Ba Xe và định
nghĩa trên đã mở ra cho hành giả tu tập một sự
nhìn nhận về phương pháp giáo dục của đức Phật.
Chỉ vì lòng mong ước của chúng sanh như thế nào
mà đức Phật nói những quả vị khác nhau với pháp
hành khác nhau. Tuy nhiên, khi hiểu thấu về chân
nghĩa giáo lý Tứ đế thì hành giả vẫn thấy được
sự xuyên suốt của của giáo lý này trong tất cả
quả vị nói trên. Điều đó được thể hiện qua cách
dùng từ trong kinh. Kinh nói Tam thừa là phương
tiện còn Nhất thừa là cứu cánh. Nói Nhất thừa là
đã bao hàm cả Nhị thừa và Đại thừa. Như vậy, Nhị
thừa chỉ là phương tiện đi đến Nhất thừa, nó
không phải là pháp vô dụng và thường bị hiểu hạn
hẹp như thói quen của nhiều người.
2.3.3 Ảnh dụ về Cùng Tử:
2.3.3.1. Ý nghĩa ảnh dụ
Cùng Tử:
Sau khi nghe Thế Tôn xác
nhận Tôn giả Xá-lợi-phất sẽ thành Phật, các Tôn
giả trí tuệ như Đại Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp,
Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên, vui mừng hớn hở phát
khởi lòng tin kiên cố về Nhất thừa và trình bày
đức Thế Tôn sự tin hiểu Phật thừa của mình qua
ví dụ về Gã Cùng Tử.
Có một người, lúc nhỏ bé
đã bỏ cha trốn đi qua mấy mươi năm phiêu bạt rày
đây mai đó, nghèo khổ đói khát. Trong khi đó,
người cha giàu có, tiền của đầy kho, tôi tớ đầy
nhà. Ông thường mong được gặp lại con để giao
phó gia tài sự nghiệp. Một hôm, đứa con lạc loài
tình cờ đến trước nhà cha mà không hay biết.
Nhìn thấy Trưởng giả quá sang trọng như thể vua
chúa, anh ta hoảng sợ liền bỏ chạy trốn. Nhưng
Trưởng giả đã nhận ra Gã Cùng Tử ấy là con mình
nên sai hai người rượt bắt. Gã Cùng Tử bị bắt,
sợ quá ngã xuống ngất xỉu. Ông Trưởng giả thấy
vậy ra lệnh: lấy nước rưới trên mặt cho nó tỉnh
rồi thả đi. Sau đó, ông sai hai người tiều tuỵ,
mắt chột chân què đến chỗ gã ở để rủ làm thuê
hốt phân. Anh ta nghe trả giá gấp đôi, liền nhận
hốt phân ở phía sau nhà ông Trưởng giả.
Nhìn thấy con cực khổ,
ông thương xót vô cùng, bèn thay quần áo sang
trọng, mặc đồ thô rách, tay cầm đồ hốt phân để
đến gần với con. Một hôm, ông bảo cùng tử: con
nên tiếp tục làm việc ở đây, ta trả thêm tiền,
có cần thứ gì thì ta sẽ cấp cho và cứ xem ta như
là cha. Lòng gã rất vui mừng nhưng vẫn nghĩ mình
là hạ tiện làm thuê.
Ít lâu sau, Trưởng giả
có bệnh, cho gọi gã đến, giao cho việc quản lý
gia tài và được quyền thu xuất đồ đạc trong nhà.
Gã lo chu toàn bổn phận, nhưng vẫn tiếp tục ở
chỗ cũ. Trải qua một thời gian, ông Trưởng giả
biết mình sắp chết, liền họp thân tộc và tuyên
bố trước mọi người rằng: Gã Cùng Tử này là con
ta, đã bỏ ta đi từ lúc thơ bé. Nay cha con gặp
lại, ta giao tất cả gia tài cho nó. Người con
nghe vậy quá vui mừng, cho là việc chưa từng có
và tự nghĩ: “Ta vốn không mong cầu mà được kho
tàng châu báu”.
Kể xong, Đại
Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp, Tu-bồ-đề,
Ca-chiên-diên bạch Phật: ông Trưởng giả ví như
đức Như Lai, còn chúng con giống như Gã Cùng Tử
thất lạc. Chúng con vì ba món khổ mà ở trong
cảnh sanh, già, bệnh, chết, khổ não, sầu lo,
chịu các sự mê lầm, cho nên ưa thích giáo pháp
Tiểu thừa làm công việc hốt phân tầm thường mà
tự cho là thỏa mãn với cái giá trả công “Niết
bàn”.
Đức Như Lai không hề nói
chúng con có kho tàng tri kiến, vì biết ý chí
chúng con thấp hèn. Chúng con không biết mình là
con của Như Lai nên không dám mong hưởng cái gia
tài vĩ đại của cha là Phật mà chỉ cam phận với
số tiền làm thuê “Nhị thừa”. Đức Như Lai vì thế
phải dùng phương tiện thuận theo chúng con mà
chỉ dạy. Nay kho tàng vô giá không cầu mà tự
đến.
Hình ảnh Gã Cùng Tử bỏ
cha trốn đi, bị khổ sở, đói khát nói lên tâm
trạng các vị Thánh chúng rơi vào trần ai, sống
với huyễn vọng, trôi lăn trong ngũ thú, thay
hình đổi trạng không biết bao lần. Tuy nhiên,
nhờ căn lành đời trước, họ vẫn có chí hướng
thượng đi tìm đạo. Bỏ cha trốn đi còn có nghĩa
là rời bỏ bản tâm Thanh tịnh viên giác. Vì xa
lìa tánh giác nên bị nghiệp lực, phiền não lôi
kéo làm cho khổ sở xoay vần trong ngũ thú, lục
đạo.
Người cha nhớ con là thể
hiện tấm lòng từ bi của đức Phật luôn vì chúng
sanh trao truyền cái Tri Kiến Phật vốn có của
chúng. Cái tri kiến ấy chính là gia tài vô giá
mà Phật muốn trao.
Gã Cùng Tử thấy sự uy
nguy, sang trọng của cha, sợ hãi chạy trốn nói
lên tâm trạng của chư vị Thánh chúng do trụ chấp
nơi tiểu quả, cho đó là rốt ráo ở trong cảnh
tịch tịnh vô vi, chẳng mong cầu Nhất thừa, nên
không dám nghĩ sẽ được quả lớn ấy.
Hai người hầu cận rượt
đuổi theo bắt, Gã Cùng Tử ngất xỉu là ý nói nỗi
sợ hãi đến ngất xỉu của hàng Thanh Văn, vì ý chí
hạ liệt chưa thể tiếp nhận Đại thừa quá cao
siêu.
Rưới nước cho gã tỉnh
lại là để cho Thanh Văn trở về an trú với cảnh
giới thiền định an ổn của họ.
Trưởng giả sai hai người
chột mắt, què chân dụ dẫn Gã Cùng Tử về là diễn
tả pháp tu của Thanh Văn, Duyên Giác được Phật
dạy để tương ứng với tâm trạng và khả năng của
hàng Nhị thừa. Đó là pháp Tứ đế và 12 nhân
duyên.
Hốt phân nghĩa là tẩy
trừ phiền não, tẩy trừ những ô nhiễm đang làm mờ
tối trí tuệ của chúng sanh
Ông Trưởng giả thay đồ
sang trọng, mặc đồ nhơ để gần Cùng Tử là dụ cho
đức Phật gần gũi chúng sanh qua sự hoá thân, ứng
thân, là thân mang đồ nhơ nhớp và chịu sanh lão
bệnh tử như mọi chúng sanh khác.
Trưởng giả khuyến khích
con cũng như Phật nhắc nhở chúng sanh tinh tấn
tu hành.
Cha giao gia tài cho con
cũng như Phật đem Tri Kiến Phật chỉ dạy cho
chúng sanh tu tập.
2.3.3.2 Tính giáo dục
qua ảnh dụ Cùng Tử
Các bậc Tôn giả trí tuệ
như Đại Mục-kiền -liên, Đại-Ca-diếp, Tu-bồ-đề,
Ca-chiên-diên nghe đức Phật nói thí dụ Nhà Lửa
và Ba Xe, đã liễu ngộ nên rất vui mừng và sanh
lòng tin kiên cố. Từ đó các Ngài trình lên Thế
Tôn nỗi vui mừng của mình qua ví dụ Gã Cùng Tử
trong phẩm Tín Giải.
Tín giải là nấc thang
rất quan trọng đầu tiên để hành giả tu tập bước
vào đạo. Người tu hành nếu không tin thì không
bao giờ nghe lời Phật dạy. Nhưng dù có nghe lời
Phật dạy mà không tin thì chắc họ cũng không tìm
hiểu làm gì. Cho nên, đối với Phật giáo, đức tin
là điều căn bản trước tiên phải có. Từ lòng tin
đó mà nghe và hiểu rồi suy nghĩ thì mới có giải.
Từ sự giải đó mà biết có hành. Có hành thì mới
có chứng. Cho nên tín, giải, hạnh, chứng là bốn
tầng thứ bậc của sự tu hành đối với giáo lý hạnh
quả. Chữ tín rất quan trọng nên Luận Đại Trí Độ
nói: “Phật pháp như biển cả, có tin mới vào
được, có trí mới qua được”. Sách Nho cũng nói:
“Người không có lòng tin không lập được” (vô
nhân vô tín bất lập). Nhưng tín mà không có tuệ
là tin mù quáng trở nên cuồng tín, còn có tuệ mà
không có tín thì tuệ đó là thế trí biện thông,
dễ đi vào tà kiến. Cho nên, hành giả phải có đầy
đủ tín giải mới đi vào Phật pháp được.ểể
Mục đích của chư Phật ra
đời là: “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật Tri
Kiến”. Cho nên, giáo pháp của Phật nói ra chỉ có
Nhất thừa hay Phật thừa mà thôi. Tuy nhiên, vì
căn cơ của chúng sanh chưa hiểu thấu, chưa rốt
ráo nên phương tiện nói Tam thừa và Tam thừa ấy
cuối cùng rồi cũng đi đến Nhất thừa. Tam thừa ví
như hành giả đang đi được nửa đường tới Nhất
thừa chứ không phải đến nơi nào khác. Tới đây
các Ngài hiểu vì sao Phật “Khai quyền hiển thật”
nên đã tín giải.
Từ trước đến giờ, các
Ngài chỉ niệm tưởng đến ba môn giải thoát là
không, vô tướng, vô tác, không có ý mong cầu quả
vị vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cũng như Gã
Cùng Tử thoả mãn với tiền lương ít ỏi chứ không
có ý mong cầu tài sản to lớn của cha. Vì lòng
thương tưởng, Phật theo ý của các Ngài mà nói
pháp Nhị thừa. Sau đó, Thế Tôn hướng dẫn họ vào
Phật trí, điều mà họ chưa từng nghĩ đến. Như
người cha từ từ dạy con làm quen với công việc
quản lý, rồi sau đó giao gia tài cho nó.
Qua đó, ta thấy giáo
pháp của Phật luôn dựa trên khế lý và khế cơ. Ở
phần phương tiện này Phật đặt nặng khế cơ hơn
khế lý, và từ khế cơ đưa đến khế lý. Từ đó, ta
rút ra kinh nghiệm trong việc giáo dục là để đạt
mục đích bao giờ cũng phải biết vận dụng phương
pháp khôn khéo, phối hợp giữa lý và sự sao cho
phù hợp với nhu cầu cần thiết của đối tượng giáo
dục thì sẽ đạt kết quả. Khi đã làm cho họ tin và
hiểu rồi thì việc kế tiếp rất dễ dàng.
Ở đây tại sao các Ngài
là những bậc trí tuệ mà vẫn chưa nhận ra Phật
trí của mình và còn sợ sệt. Có lẽ chỉ vì ngã
tưởng đã hằn sâu vào tư duy con người qua nhiều
kiếp luân hồi lăn lóc, khiến cho họ chối bỏ Phật
trí hay trí tuệ vô ngã. Tuy nhiên, trí tuệ ấy
vẫn luôn tồn tại trong mỗi chúng ta dù ta có
chối bỏ hay không, như Gã Cùng Tử vẫn là con của
người cha bất luận là đã nhận hay chưa. Từ đó mở
ra cho mọi người niềm tin chân chánh vào bản
thân mình, để một ngày nào đó khi màn vô minh
được vén xuống thì lập tức trí tuệ viên minh
hiển hiện tròn đầy.
Các Ngài tự ví mình như
những Cùng Tử để nói lên nỗi khổ bần cùng cơ cực
khi bỏ cha trốn đi. Hình ảnh ấy cũng chính là
hình ảnh của chúng ta, những người còn đang mê
muội, dẫu vẫn học từ Thế Tôn những phương pháp
đưa đến Nhất thừa nhưng vì còn bị vô minh che
lấp nên vẫn đau khổ triền miên và chưa thể nhận
ra Phật trí của mình. Cho nên, nhận thức được vị
trí hiện tại của mình để nỗ lực tiếp tục hốt
phân nhơ phiền não là một việc làm rất cần thiết
trên bước đường giải thoát.
Chúng ta cũng không phải
mặc cảm vì thân phận hèn mọn của mình vì rằng
mỗi chúng ta đều có một kho báu vô giá. Kho báu
ấy Như Lai sẵn lòng chờ đợi để trao cho khi mà
chúng ta có đủ “tư cách” để tiếp nhận. “Tư cách”
ấy đạt được khi vô minh phiền não không còn.
Qua hình ảnh Gã Cùng Tử
hành giả có thể thấy được bóng dáng của mình để
từ đó học hỏi noi gương hầu mong được như vị ấy.
Đồng thời, chúng ta cũng thấy được sự linh động
của đức Phật như thế nào trong khi giáo hóa
chúng sanh. Có khi ngồi một chỗ nói pháp, có khi
phải ứng hoá khắp nơi để tuỳ chúng sanh mà cứu
độ.
2.3.4. Ảnh dụ về Dược
Thảo
2.3.4.1 Ý nghĩa ảnh dụ
Dược Thảo
Nghe Ngài Đại Ca-diếp và
các đại đệ tử nói về công đức chân thật, và nói
lên sự thấu hiểu về việc phương tiện thuyết pháp
của Như Lai, Phật tán thán và khẳng định lại cho
các Ngài biết được công đức của các đức Như Lai
nhiều vô lượng vô biên, dù trải qua vô lượng ức
kiếp nói cũng không hết được. Để làm sáng tỏ ý
trên và cho chúng hội hiểu được rằng đức Thế Tôn
bình đẳng thuyết pháp, Phật dùng thí dụ Dược
Thảo để minh hoạ.
Thí như trong cõi tam
thiên đại thiên nơi núi, sông, khe hang, ruộng,
đất, sanh ra cây cối, lùm rừng và các cỏ thuốc
bao nhiêu giống loại tên gọi màu sắc đều khác.
Mây dầy bủa giăng trùm khắp cõi tam thiên đại
thiên, đồng thời mưa xối xuống, khắp nơi nhuần
thấm. Cây cối lùm rừng và các cỏ thuốc: hoặc thứ
gốc nhỏ, thân nhỏ, nhánh nhỏ, lá nhỏ; hoặc thứ
gốc vừa, thân vừa, nhánh vừa, lá vừa; hoặc có
thứ gốc lớn, thân lớn, nhánh lớn, lá lớn.
Các giống cây lớn nhỏ,
tuỳ hạng thượng, trung, hạ mà hấp thụ khác nhau.
Một cụm mây tuôn mưa xuống xứng theo mỗi giống
loại mà cây cỏ được sanh trưởng, đơm bông kết
trái. Dẫu rằng một cõi đất sanh, một trận mưa
thấm nhuần mà các cỏ cây đều có sai khác.
Đất là dụ cho Tri Kiến
Phật nơi mỗi chúng sanh ai cũng có sẵn.
Mưa là dụ cho pháp Phật
dạy chung cho tất cả chúng sanh, nhưng tuỳ theo
căn cơ cao thấp mà hiểu sâu hay cạn.
Trong ba loại cỏ, cỏ bực
nhỏ dụ cho chủng tánh Trời, Người, A-tu-la; cỏ
bực trung dụ cho chủng tánh Thanh Văn, Duyên
Giác; cỏ bực thượng dụ cho chủng tánh Bồ tát Đại
thừa.
Thân, nhánh, lá là dụ
cho sự phát tâm tu hành chứng quả theo từng
chủng tánh loại khác nhau.
Hai loại cây, cây nhỏ dụ
cho hàng hạ căn Bồ tát, Bồ tát từ Thất địa trở
xuống, hay Bồ tát ở trong thế giới thật báo của
chư Phật; cây lớn dụ cho hàng thượng căn Bồ tát,
Bồ tát từ Bát địa trở lên, hay Bồ tát tùng địa
dõng xuất ở thế giới Thường Tịch Quang.
Dẫu chúng sanh có cùng
Tri Kiến Phật và cùng hưởng một nguồn pháp nhất
thừa nhưng chúng sanh có sự sai khác.
2.3.4.2 Tính giáo dục
qua ảnh dụ Dược Thảo
Ở phẩm Tín Giải, Phật
dùng thí dụ để dẫn d̑