Lời Trần Tình
Đối với hàng Phật tử tại gia,
một nguyên tắc gần như bất di bất dịch là không được xem, đọc giới luật
của hàng xuất gia, huống chi là chuyển ngữ cho mọi người cùng xem. Sa Di
Luật Nghi là giới luật của hàng xuất gia; do vậy, lẽ đương nhiên người
Phật tử tại gia không nên lạm xem, lạm dịch. Tuy thế, trong các buổi
thuyết giảng hoặc khai thị, Hòa Thượng Tịnh Không thường đặc biệt nhấn
mạnh: Người tu Tịnh Tông sở dĩ niệm Phật không đạt được nhất tâm, hay tối
thiểu không thể “niệm Phật thành phiến” là vì thiếu một cơ sở vững chắc là
Tịnh nghiệp Tam Phước. Để thực hiện viên mãn Tịnh nghiệp Tam Phước, các
đồng tu Tịnh Tông phải học và hành được những gì Thập Thiện Nghiệp Đạo
Kinh, Sa Di Luật Nghi và Đệ Tử Quy đã dạy. Hòa Thượng nhấn mạnh, không
những người xuất gia phải học kỹ Sa Di Luật Nghi mà tại gia đệ tử cũng
phải học Sa Di Luật Nghi vì Sa Di Luật Nghi chính là chi tiết của việc
thực hiện Thập Thiện Nghiệp Đạo. Khi pháp sư Ngộ Sanh yêu cầu chúng tôi
chuyển ngữ bài giảng này của Hòa Thượng Tịnh Không về Sa Di Luật Nghi sang
tiếng Việt, chúng tôi cũng rất đắn đo, không biết có nên làm hay không.
Tình cờ đọc lại lời Tổ Ấn Quang khuyên dạy ông Từ Úy Như trong Ấn Quang
Pháp Sư Văn Sao Tăng Quảng Chánh Biên:
“Người chưa thọ giới
chẳng được xem Luật Tạng:
1) Một là vì sợ kẻ chưa hiểu
lý sâu, trông thấy hành vi của những người phạm giới cấm, chẳng biết là
bậc Đại Quyền Bồ Tát thị hiện, vì mong Phật chế giới hòng lợi lạc cho đời
sau, bèn hiện tướng chẳng như pháp để Phật có dịp chế lập giới, nêu khuôn
phép. Do chẳng hiểu lý này, chỉ căn cứ vào những hành vi trước mắt, cho là
khi Như Lai tại thế, các đệ tử Phật phần nhiều chẳng như pháp. Từ đấy,
khởi lên tà kiến miệt thị Tăng chúng, tội đó chẳng nhỏ.
2) Hai là những chuyện trong
Luật Tạng chỉ Tăng được biết, nếu để kẻ chưa phải là Tăng đọc được, rất có
thể có kẻ ngoại đạo giả vờ dự vào hàng Tỳ-kheo, làm chuyện sai pháp, vu
báng Phật pháp thì hại chẳng nhỏ.
Do vậy, nghiêm cấm như thế là
để dự phòng. Còn như kẻ hảo tâm hộ pháp, giảo chánh, lưu thông, há có nên
cứ tuân theo thường lệ chăng? Nếu chấp chặt vào lời ấy thì Luật phải do
Tăng chép, Tăng khắc, Tăng in, Tăng truyền mới khỏi trái nghịch cấm chế
của Phật. Vạn sự trong thiên hạ đều có lý nhất định, làm điều gì phải
thuận theo cái lý nhất định, nhưng cách thực hiện thì phải tuân theo cái
đạo thích nghi thời tiết, nhân duyên. Lý khế hợp với Quyền, pháp phù hợp
cùng đạo mới nên”. Dựa theo lời dạy này, chúng tôi cảm thấy yên tâm chuyển
ngữ mà không sợ làm chuyện trái phận vượt lẽ.
Hơn nữa, những gì được giảng
dạy trong phần Sa Di Luật Nghi này, theo ngu ý, rất thiết thực trong vấn
đề trì giới cho tất cả mọi người con Phật, có thể vận dụng làm cương lãnh
cho việc tu trì của Tịnh nghiệp hành nhân nói riêng và thọ trì giới luật
nói chung, nên chúng tôi mạo muội dịch ra với tâm nguyện góp phần tạo chút
tư lương thô thiển cho các đồng tu. Tiếc là do một lý do nào đó, có lẽ vì
thời gian hạn chế, Hòa Thượng Tịnh Không chỉ giảng có năm buổi, rồi không
tiếp tục giảng nữa. Nếu việc làm đường đột, vượt pháp này có chút công đức
nào thì xin hồi hướng cho pháp giới chúng sanh cùng được dự vào hải hội
của đức từ phụ A Di Đà. Trân trọng cảm tạ công sức giảo chánh và nhuận sắc
của hai đạo hữu Minh Tiến và Huệ Trang khiến cho dịch phẩm này được gãy
gọn và lưu loát hơn. Nguyện lịch đại oán thân và các đồng tu Tịnh nghiệp
nhờ công đức này đều cùng vãng sanh Cực Lạc.
Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
kính bạch
Phần 1:
Phương pháp nghiên cứu của
chúng ta là chỉ giảng kinh văn, còn phần chú giải [quý vị] tự xem, thấy
chỗ nào thắc mắc thì nêu lên [câu hỏi]. Nếu không có câu hỏi nào, chúng
tôi sẽ giảng tiếp đoạn kinh văn kế đó. Phần kinh văn được in theo lối đảnh
cách[1], còn phần chú giải thấp hơn một chữ, rất rõ ràng, rất dễ thấy. Để
cho tiện xem, mọi người đều nên đánh số từng đoạn kinh văn, để sau này
chúng tôi nói đến đoạn mấy, mọi người mở ra đều đúng chỗ ngay. Chúng ta
xem từ đoạn thứ nhất. Đoạn thứ nhất nằm trong trang thứ hai. Bản chúng ta
dùng đây không in số trang, số trang ghi bên cạnh, tức là từ nửa phần sau
trang thứ nhất đếm ngược lên ba hàng.
Nhất, Phạn ngữ Sa Di, thử vân
Tức Từ, vị: Tức ác hành từ; tức thế nhiễm nhi từ tế chúng sanh dã. Diệc
vân Cần Sách, diệc vân Cầu Tịch.
(Một: Tiếng Phạn “Sa Di”, ở
đây dịch là Tức Từ, ý nói: Dứt ác, hành điều từ, dứt nhiễm ô thế gian mà
từ bi cứu giúp chúng sanh. Còn dịch là Cần Sách, hoặc dịch là Cầu Tịch)
Đây là đoạn thứ nhất, ở đầu
câu ghi chữ Nhất, tức là đoạn thứ nhất. “Sa-di” là dịch âm tiếng Phạn.
“Phạn ngữ Sa-di”: Tiếng Ấn Độ thời cổ gọi là Sa-di, dịch sang tiếng Trung
Quốc có ba nghĩa. Đây cũng là vì thời xưa dịch kinh có cái lệ như thế này:
Một chữ bao gồm nhiều nghĩa thì không dịch. Danh từ này có rất nhiều ý
nghĩa, chẳng phải chỉ có một ý nghĩa; trong từ vựng tiếng Trung Quốc không
tìm được chữ thích đáng để phiên dịch bèn dịch âm, sau đó kèm thêm chú
giải, cách phiên dịch là như vậy đó. Ý nghĩa phổ biến nhất [của chữ Sa Di]
là “Tức Từ”, nên giảng chữ Tức Từ như thế nào? Tiếp theo đó, [chánh văn]
chú giải rất rõ ràng, “vị: Tức ác hành từ” (ý nói: Dứt ác, hành điều từ).
“Ác” chỉ cho nhiễm ô thế gian, thế gian nhiễm ô tâm địa của chúng ta,
nhiễm ô tư tưởng, kiến giải của chúng ta. Chữ “Ác” chỉ cho những điều đó,
chúng ta phải đoạn trừ những ô nhiễm ấy. Ý nghĩa này hoàn toàn giống như
trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật đã dạy chúng ta “tẩy tâm dịch hạnh” (rửa
lòng đổi hạnh): Phải rửa cho những ô nhiễm trong tâm sạch làu làu, phải
sửa đổi cho đúng hết thảy những hành vi lầm lạc của chúng ta, đó gọi là
“đổi hạnh”. Câu này luận về nguyên tắc, nguyên lý, chứa đựng ý nghĩa rất
sâu, cảnh giới rất rộng. Hãy đặc biệt ghi nhớ: Pháp thế gian nhiễm ô tâm
tánh chúng ta, pháp xuất thế gian cũng nhiễm ô tâm tánh của ta! Vì thế,
Đại Thừa Phật pháp dạy chúng phải vượt khỏi pháp thế gian lẫn xuất thế
gian. Không những chúng ta phải xa lìa pháp thế gian, mà pháp xuất thế
gian cũng phải xa lìa, có như vậy mới hòng thật sự thành tựu.
Trong Phật giáo, chúng ta
thường thấy nhất là hoa sen, dùng hoa sen để biểu thị pháp. Chúng ta thấy
hình tượng Phật, Bồ Tát được đắp nặn [trong tư thế] đứng thì đứng trên hoa
sen, ngồi thì ngồi trên hoa sen. Hoa sen tượng trưng cho điều gì? Tượng
trưng cho sanh ra từ bùn lầy mà chẳng nhuốm nhơ, biểu thị ý nghĩa của chữ
“Tức Ác” (dứt ác). Bùn cát dưới mặt nước tượng trưng cho lục phàm[2], nước
trong ở phía trên bùn cát tượng trưng cho tứ thánh: Thanh Văn, Duyên Giác,
Bồ Tát, Phật. Lục phàm, tứ thánh hợp thành mười pháp giới. Hoa sen nở trên
mặt nước, ngụ ý cả lục phàm lẫn tứ thánh thảy đều không nhiễm; do vậy, học
Phật chớ nên bị ô nhiễm bởi Phật pháp.
Ô nhiễm là gì? Phân biệt,
chấp trước, vọng tưởng chính là ô nhiễm. Do vậy, người học Phật hiện thời
(chẳng phải chỉ hiện tại, thời cổ cũng chẳng ngoại lệ) chẳng nhiễm pháp
thế gian, buông xuống được [pháp thế gian], nhưng không buông Phật pháp
xuống được. Ở nơi Phật pháp bèn khởi phân biệt, chấp trước thì lại bị ô
nhiễm bởi Phật pháp. Chẳng tham pháp thế gian, tâm tham buông xuống được,
nhưng tham lam Phật pháp! Quý vị hãy suy nghĩ đi: Đức Thế Tôn dạy chúng ta
đoạn trừ tâm Tham, chứ không dạy chúng ta thay đổi đối tượng của tâm Tham!
Lòng tham của quý vị vẫn còn, không tham pháp thế gian mà tham Phật pháp,
quý vị nói xem có sai quấy hay là không? Do vậy, chúng ta trông thấy hình
tượng Phật, Bồ Tát, trông thấy hoa sen, phải nghĩ pháp thế gian hay pháp
xuất thế gian đều chẳng được nhiễm, đấy mới là đạt được Nhất Chân pháp
giới, mới là chân chánh thanh tịnh.
Mấy bữa nay chúng tôi đang
giảng A Di Đà Kinh Sớ Sao, nay giảng đến đoạn này, Liên Trì đại sư cũng
giảng ý nghĩa này rất rõ ràng, minh bạch. Tức là giảng đến phần Ngũ Giáo
của ngài Hiền Thủ[3], Tứ Giáo[4] của Thiên Thai. Trong Ngũ Giáo nói đến
Viên Giáo, Đốn Giáo, đấy là pháp thế gian lẫn xuất thế gian đều thật sự
buông xuống được. “Tức Ác” ở đây nghĩa là cái gì cũng buông xuống được!
Biệt Giáo Bồ Tát trong Tứ Giáo của tông Thiên Thai được gọi là Chung Giáo
trong Hiền Thủ Ngũ Giáo. “Nhất tâm bất loạn” của Chung Giáo tuy nói là
buông xuống, nhưng Năng và Sở vẫn tồn tại. Nói cách khác, tâm vẫn chưa
thật sự thanh tịnh. Bồ Tát từ Sơ Địa trở lên trong Biệt Giáo mới là “minh
tâm kiến tánh” như Thiền Tông đã nói, nhưng vẫn chưa đạt đến viên mãn. Nói
đến rốt ráo viên mãn thì kể cả một phẩm sanh tướng vô minh tối hậu cũng
phải buông xuống, dứt như vậy là dứt sạch sành sanh, dứt ác mới sạch làu
làu. [Điều này] cho thấy ý nghĩa chữ Sa Di quyết định chẳng hạn cuộc nơi
Sơ Phát Tâm, “dứt ác” giảng đến rốt ráo phải bao gồm cả Đẳng Giác Bồ Tát
thì mới là thật sự đạt đến thanh tịnh vô nhiễm.
Ở đây nói đến “thế nhiễm”
(nhiễm ô thế gian), sợ mọi người nẩy sanh hiểu lầm nên nói là “pháp thế
gian”. Pháp thế gian là gì? Pháp xuất thế gian là gì? Nếu chúng ta không
phân biệt rõ ràng, sẽ làm hỏng đại sự! Tôi cũng thường nói: Văn tự Trung
Quốc [là một loại văn tự mà] bất cứ một dân tộc nào thuộc một quốc gia nào
trên cả thế giới cũng đều không có được. Văn tự Trung Quốc là một loại phù
hiệu đầy ắp trí huệ. Quý vị xem kỹ chữ “thế gian”: “Thế” chỉ thời gian.
“Thế” là ba mươi, ba mươi năm là một “thế”. Ba mươi năm tượng trưng cho
quá khứ, hiện tại, vị lai. “Gian” là giới hạn. “Thế gian” và “thế giới” có
cùng một ý nghĩa là giới hạn. Ý nghĩa của hai chữ này là: Thế là chấp
trước, Gian là phân biệt. Nói cách khác, chúng ta còn có phân biệt, chấp
trước thì là thế gian. Quý vị học Phật pháp, học Đại Thừa Phật pháp hay
học Nhất Thừa Phật pháp đều trở thành pháp thế gian. Vì quý vị vẫn có phân
biệt, chấp trước, nên Nhất Thừa Phật pháp cũng bị biến thành pháp thế
gian; do vậy quý vị mới bị ô nhiễm. Nếu như đối với hết thảy pháp chúng ta
không phân biệt, không chấp trước thì pháp thế gian cũng là Phật pháp,
cũng là pháp xuất thế gian, xuất thế hết! Mặc áo, ăn cơm, trẻ nhỏ trong
vườn trẻ (ấu trĩ viên - kindergarten) đọc “mèo con kêu, chú cún nhảy” đều
là giảng pháp xuất thế gian cho quý vị. Xuất thế gian như thế nào? Vượt
thoát phân biệt, chấp trước, phải hiểu ý nghĩa “tức thế nhiễm” (dứt nhiễm
ô thế gian) này. Nếu không, dù quý vị chẳng bị pháp thế gian ô nhiễm, cũng
sẽ bị Phật pháp ô nhiễm, Phật pháp cũng thành pháp thế gian! Do vậy, nếu
quý vị không hiểu Phật pháp, Phật pháp cũng trở thành thuốc độc, Phật pháp
cũng hại người, nhất định phải hiểu ý nghĩa này.
Do vậy, trong hội Bát Nhã đức
Phật giảng rất rõ ràng: Chẳng những đức Phật không có pháp nhất định nào
để nói, mà đức Phật cũng chẳng thuyết pháp. Ý nghĩa [của lời dạy] này nhằm
dạy quý vị đối với hết thảy các pháp đức Phật đã nói chẳng nên chấp trước,
quý vị chỉ nên hiểu được ý nghĩa này, hiểu rõ ý nghĩa là tốt rồi, nhưng
cũng chớ nên chấp vào ý nghĩa. Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, Mã Minh Bồ
Tát dạy chúng ta những thái độ cơ bản để học Phật:
1) Thứ nhất là “ly ngôn
thuyết tướng” (lìa tướng nói năng): Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh,
thuyết pháp, chớ chấp trước những ngôn thuyết ấy. Sau khi đức Phật diệt
độ, hàng đệ tử chép lại những lời Phật giáo huấn, trở thành kinh điển như
hiện tại. Những lời nói ấy biến thành văn tự, chớ nên chấp trước lời nói;
cũng giống như thế, đừng chấp trước văn tự!
2) Thứ hai là “ly danh
tự tướng” (lìa tướng danh tự). Chữ “danh tự tướng” chỉ rất nhiều danh từ,
thuật ngữ trong kinh Phật. “Sa-di” là một danh từ, “thế gian” cũng là một
danh từ. Quý vị hiểu ý nghĩa bên trong những danh tự ấy, đừng chấp trước
chúng.
3) Thứ ba là “ly tâm duyên
tướng”: Càng nói sâu hơn nữa! Nói cách khác, hết thảy Phật pháp chúng ta
có thể suy nghĩ, nghiên cứu được hay chăng? Không thể nào được! Nghiên cứu
là rớt vào thức thứ sáu, tức Ý Thức, bị ô nhiễm rồi, quý vị bị ô nhiễm bởi
Phật pháp rồi!
Chúng ta thường nghe câu nói
sau đây: Nhà Phật thường nói “y văn giải tự, tam thế Phật oan” (y theo câu
văn hiểu nghĩa theo mặt chữ, ba đời Phật bị oan): Cứ chiếu theo văn tự để
nghiên cứu, giải thích thì tam thế chư Phật (quá khứ Phật, hiện tại Phật,
vị lai phật) đều kêu oan uổng, quý vị hiểu lầm ý Phật mất rồi! Tôi cũng đã
từng nói: Trong bài kệ Khai Kinh có câu “nguyện giải Như Lai chân thật
nghĩa”, tôi nói con người hiện tại hiểu sai lệch, nên trở thành “khúc giải
Như Lai chân thật nghĩa” (hiểu cong vạy ý nghĩa chân thật của Như Lai),
hoặc “ngộ giải Như Lai chân thật nghĩa” (hiểu lầm lạc ý nghĩa chân thật
của Như Lai). Quý vị xem: Có phải là Như Lai kêu “oan uổng” hay không? Đấy
chính là điều không may, bị ô nhiễm bởi Phật pháp! Khó lắm! Phật pháp khó
là khó ở chỗ này. Chúng ta phải dùng được nó, chớ đừng bị nó ô nhiễm, vậy
thì quý vị phải học cho ổn thỏa, học đúng vào đường lối.
Học Phật pháp chẳng bị ô
nhiễm bởi Phật pháp, hết thảy Phật pháp đều phải quy về tự tánh, điều này
khẩn yếu lắm. Nói cách khác, giúp cho chúng ta đạt được tâm thanh tịnh,
giúp chúng ta mở mang trí huệ, đấy chính là Phật pháp. Chúng ta tu học
không đạt được tâm thanh tịnh, chẳng thể mở mang trí huệ, [nghĩa là] chúng
ta đã học Phật pháp lệch lạc, có sai lầm. Do vậy, ý nghĩa của từ ngữ “tức
thế nhiễm” (dứt nhiễm ô thế gian) rất sâu, phạm vi rất rộng, nhất định
phải hiểu cho rõ. Nếu không, quý vị thọ Sa Di Giới, học thuộc nhuyễn nhừ
Sa Di Luật Nghi cũng vô ích. Quý vị bị Sa Di Luật Nghi ô nhiễm rồi, vậy
thì đáng tiếc quá! Phải biết điều này!
“Hành từ”: Từ là từ mẫn
(thương yêu, xót thương) chúng sanh. Chúng sanh luân hồi trong lục đạo,
thật hết sức đáng thương. Thoạt chìm thoạt nổi trong sáu đường, người
không biết chân tướng sự thật nhiều lắm, rất ư là nhiều! Chỉ có Phật, Bồ
Tát, A La Hán trở lên mới thấy được chân tướng ấy, các Ngài trông thấy,
thấy được rồi biết là khổ, mới hiểu sự tình ấy đáng sợ. Người thế gian mờ
mờ mịt mịt, hồ đồ, không hiểu chân tướng sự thật ấy. Chư Phật, Bồ Tát biết
chân tướng sự thật ấy, thương xót hết thảy chúng sanh, toan nghĩ phương
pháp giúp cho những chúng sanh ấy giác ngộ, giúp cho những chúng sanh ấy
nhận thức chân tướng, giúp cho họ thoát được biển khổ. Đấy chính là sự
nghiệp của Phật, Bồ Tát, chúng ta thường gọi là “Như Lai gia nghiệp”. Như
Lai gia nghiệp tức là sự nghiệp của Như Lai, sự nghiệp ấy chính là giúp
cho chúng sanh lìa khổ được vui. “Lìa khổ” chính là thoát ly lục đạo luân
hồi, đấy đúng là đại sự. Quý vị nói xem: Có sự việc nào trong thế gian lớn
hơn được hay chăng?
Vì thế, xuất gia không đơn
giản! Cổ nhân thường nói: “Xuất gia phi tướng tướng chi sở năng vi” (tạm
dịch: Xuất gia không phải là chuyện hạng thống soái, tể tướng có thể làm
được). Tướng (將) là gì? Thống soái của ba quân. Tướng (相) là gì? Tể tướng!
Do trong quá khứ là thời đại đế chế nên chẳng thể nói là hoàng đế [không
thể xuất gia được], con người thông thường khi phú quý đến cực điểm thì
quan văn là tể tướng, quan võ là thống soái, sự nghiệp xuất gia này bọn họ
không làm được. Sự nghiệp của người xuất gia là phải nối gót đức Phật,
phải cứu độ hết thảy chúng sanh khổ nạn, không thể nào so sánh được. Do
vậy, người xuất gia là Thiên Nhân Sư (thầy của trời lẫn người).
Nay chúng ta xuất gia đã làm
được hay chưa? Giống hay không giống? Làm không được, thậm chí đối với sự
hành trì, chúng ta còn làm càn làm quấy, thua cả người tại gia; về phương
diện này, người xuất gia còn thua cả người tại gia. Quý vị phải lắng lòng
quán sát, vì sao tướng trạng lúc mất của người xuất gia thường đều không
tốt đẹp, thường không bằng người tại gia? Tại Đài Loan trong mấy năm qua,
người tại gia đứng vãng sanh, ngồi vãng sanh, biết trước lúc mất, riêng
tôi biết được mười mấy người, những người tôi không biết, không nghe nói
đến còn nhiều hơn nữa! Vì sao? Người tại gia học Phật chỉ cầu vãng sanh,
họ không gánh vác Như Lai gia nghiệp, nhưng người xuất gia phải gánh vác
Như Lai gia nghiệp, phải tận tâm tận lực lay tỉnh người tại gia, lay tỉnh
những kẻ mê hoặc, điên đảo. Chúng ta có sứ mạng ấy, có trách nhiệm ấy.
Trong số những vị tại gia, có vị thân không xuất gia nhưng tâm xuất gia,
cũng gánh vác Như Lai gia nghiệp như lão cư sĩ Lý Tế Hoa ở Đài Loan, vãng
sanh hiện tướng lành hết sức tốt. Cụ là người sáng lập Liên Hữu Niệm Phật
Đoàn, làm vị đoàn trưởng đầu tiên, như lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam ở Đài Trung.
Thân phận họ không khác gì người xuất gia, hoàn toàn gánh vác Như Lai gia
nghiệp.
Quán Trưởng hiện nay của
chúng ta cũng mang thân phận ấy, cũng gánh vác Như Lai gia nghiệp, không
xuống tóc, nhưng chúng ta coi bà như Hòa Thượng. Thân thể bà thường hay bị
bệnh, tôi bảo bà: “Cái thân bệnh tật của bà đây tôi có thể trị được, chỉ
cần bà chịu nghe lời, bảo đảm trị lành mọi bệnh tật nơi thân. Phương pháp
gì vậy? Cạo đầu láng o đi, bệnh gì cũng không còn nữa!” Đầu bà ta cũng
không đau nữa. Đau đầu là vì đầu tóc chưa cạo! Do vậy, tiểu đạo tràng này
của chúng ta quả thật gánh vác sứ mạng của Như Lai.
Đặc biệt là trong thời kỳ Mạt
Pháp, chư Phật Như Lai đều khuyên chúng ta niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ.
Chúng ta tu học pháp môn này, hoằng dương truyền bá cũng là pháp môn này,
chúng ta phải tận tâm tận lực hoằng dương pháp môn này cho được lớn lao,
rạng rỡ trong thời đại này. Chúng ta nghiêm túc thực hiện, nỗ lực thực
hiện, chúng ta biết trong thời đại này có tai nạn rất lớn. Tuy số người
của chúng ta hoằng dương pháp môn này không nhiều, nhưng nếu mỗi người
thật sự có thể tận tâm tận lực tự hành, hóa độ người, dẫu chẳng thể hóa
giải tiêu trừ tai nạn ấy thì cũng có thể làm giảm nhẹ tai nạn đó. Vì thế,
phải nghiêm túc tu học, nghiêm túc hoằng dương, đừng làm cho có hình thức,
đừng làm cho dễ coi, làm vậy vô ích, hết thảy mọi sự phải cầu lấy thực tế
mới được, đấy là đúng. Đấy chính là “từ tế chúng sanh”.
Ngoài ra, còn có hai ý nghĩa
nữa, một là Cần Sách, hai là Cầu Tịch. Hai ý nghĩa này đều thuộc về tự
lợi. “Tức Từ” là tự lợi và lợi tha, Tức Ác (dứt ác) là tự lợi, Từ Tế (từ
bi cứu giúp người khác) là lợi tha. Do vậy, ý nghĩa này rất viên mãn, giải
thích theo cách này rộng hơn. “Cần” (siêng năng) là tinh tấn, “Sách” nghĩa
là “cảnh sách” (nhắc nhở, đốc thúc) chính mình, cổ vũ chính mình. “Cầu
Tịch”: Tịch là tâm thanh tịnh. Do vậy, người học Phật chẳng cầu gì khác,
chỉ cầu tâm địa thanh tịnh, chẳng bị ô nhiễm; không ô nhiễm là thanh tịnh,
ô nhiễm là không thanh tịnh. Do vậy, chúng ta học Phật phải đặc biệt chú ý
sao cho không bị ô nhiễm bởi Phật pháp. Pháp thế gian phải buông xuống,
đối với Phật pháp chúng ta cũng phải học tập để buông xuống được, cũng
đừng chấp trước! Kinh Kim Cang nói rất hay: “Pháp thượng ưng xả, hà huống
phi pháp” (Pháp còn nên bỏ, huống gì phi pháp). “Phi pháp” chỉ cho pháp
thế gian, “pháp” là Phật pháp; Phật pháp lẫn thế gian pháp đều phải buông
xuống hết.
Nay chúng ta không phải là
thánh nhân, cũng chẳng phải là hạng căn tánh rất bén nhạy, nghiệp chướng,
tập khí, phiền não hết sức sâu nặng. Trong Phật pháp, chúng ta chỉ chọn
lấy Tịnh tông, chỉ chấp lấy Tịnh tông, bởi lẽ hoàn toàn không chấp trước
thì hiện nay chúng ta chưa thể làm được, không có cách nào cả! Chỉ chấp
trước Tịnh tông, còn hết thảy kinh điển Đại Thừa khác chúng ta đều buông
xuống hết, như vậy là tốt! Với trình độ, hoàn cảnh hiện thời của chúng ta,
chỉ có thể làm được như vậy. Kiên quyết chỉ trì ba kinh một luận, hoặc là
năm kinh một luận của Tịnh Tông, hạ công phu nơi đó. Phải hạ “độn công
phu” (công phu kém cỏi, cùn nhụt), chúng tôi thường nói là phải hạ “tử
công phu”, [tức là] chết lòng trọn ý tu học. Trong phần chú giải có câu
hỏi gì hay không? Không có câu hỏi thì chúng ta xem tiếp đoạn thứ hai.
Hỏi: Nói là “phát tâm từ bi”,
có phải là chúng ta đợi đến khi nào tâm địa đối với tất cả mọi người đều
điều chỉnh thành bình đẳng rồi thì mới phát tâm từ bi hay không?
Đáp: Phát tâm từ bi, thương
xót hết thảy chúng sanh phải làm ngay trong hiện tại! Nếu đợi đến khi tâm
mình bình đẳng rồi mới làm thì sẽ biến thành Tiểu Thừa. Phải làm ngay
trong hiện tại, phải giúp đỡ người khác, tận tâm tận lực giúp người, làm
được bao nhiêu thì làm bấy nhiêu. Lúc làm cũng chẳng chấp tướng, đừng mong
người khác báo đáp. Chúng ta bố thí ân huệ cho người ta không cầu báo đáp
thì tâm chúng ta bèn thanh tịnh, cũng chớ nên nhớ canh cánh bên lòng “tôi
làm bao nhiêu là việc tốt, tôi giúp đỡ bao nhiêu là chúng sanh”, tâm quý
vị bị ô nhiễm, mất thanh tịnh rồi! Do vậy, đức Phật dạy chúng ta “tam luân
thể không”[5], phải làm, tận sức làm, làm xong quên đi, chớ nên chấp
trước. Như vậy thì tâm mới thanh tịnh.
Đoạn thứ hai nơi trang thứ
ba, chúng ta xem dòng được in cao hơn:
Nhị, luật nghi giả,
thập giới luật, chư oai nghi dã.
(Hai: Luật nghi là
mười giới luật và các oai nghi)
Đoạn này giảng về giới luật
của Sa Di. Giới Sa Di tổng cộng gồm mười điều. Trong Phật pháp, đặc biệt
là với người xuất gia, mười giới điều này được gọi là Căn Bản Đại Giới,
bắt buộc phải tuân thủ. Mọi người nhất định phải hiểu: Những người mới học
phải thọ Căn Bản Giới, người đã tu lâu cũng phải thọ. A La Hán, Bích Chi
Phật cũng phải tuân thủ, Bồ Tát cho đến tận địa vị Đẳng Giác Bồ Tát vẫn
phải tuân thủ. Chẳng được nói kẻ nọ đã là Tỳ-kheo, đã là Bồ Tát, luật nghi
Sa Di này có thể không cần phải thọ nữa. [Nói] vậy là lầm lẫn quá đỗi!
Giống như cất nhà, dựng nhà trước hết phải đắp nền, rồi mới xây tầng thứ
nhất, tầng thứ hai, tầng thứ ba. Xây đến tầng thứ ba rồi không cần hai
tầng dưới nữa, có được hay không? Không có đạo lý ấy! Do vậy, Căn Bản Giới
từ lúc sơ phát tâm cho đến khi thành Phật đều phải thọ trì kiên cố, phải
biết điều này. Nói cách khác, Bồ Tát Giới có thể không cần thọ. Ta xây nhà
có thể không cần xây tầng thứ ba, còn có hai tầng dưới thì vẫn có thể ở
được. Giới Tỳ Kheo có thể không cần thọ; ta vẫn có tầng trệt để ở được.
Quý vị phải hiểu đạo lý này! Làm Tỳ-kheo không cần luật Sa Di nữa giống
như ta ở tầng hai, không cần đến tầng trệt nữa, xong ngay, quý vị ngã lăn
chiêng! Hiểu rõ sự thật này thì quý vị mới hiểu được tánh chất quan trọng
của luật nghi Sa Di.
Nói thật ra, chúng ta thực
hiện tốt đẹp mười điều này, giới Tỳ Kheo, giới Bồ Tát có thể gác qua một
bên, có thể không cần đến. Nếu không, sẽ là giả Tỳ-kheo, giả Bồ Tát, hữu
danh vô thực, ấy là dối mình lừa người. Chúng ta trọng thực chất, không
làm cho có hình dáng. Trì giới niệm Phật có thể đạt đến Thượng Thượng Phẩm
vãng sanh, quý vị thật sự làm được. Thọ Bồ Tát giới chưa chắc được vãng
sanh, vì sao? Là Bồ Tát giả, chưa phải là Bồ Tát thật! Phải biết, phải
hiểu rõ điều này. Do vậy, chúng ta phải thật sự làm, nghiêm túc, chất phác
tu hành.
Sa Di có mười giới điều và
hai mươi bốn oai nghi. Nay ta gọi “oai nghi” là những “khuôn mẫu sanh
hoạt”. Trong cuộc sống thường ngày, xử sự, đãi người tiếp vật, chúng ta
phải tuân thủ những quy củ nào? Những nguyên tắc nào? Hai mươi bốn môn ấy
chính là quy củ, là nguyên tắc. Nhưng những điều ấy do Thích Ca Mâu Ni
Phật định ra lúc Ngài còn tại thế, đã cách thời gian hiện tại ba ngàn năm.
Nay chúng ta đang sống ở Đài Loan, còn thời ấy là Cổ Ấn Độ; do vậy, phương
thức sống của chúng ta khác hẳn, hết thảy cách nghĩ, cách nhìn đều khác
với tiền nhân. Chúng ta phải làm thế nào để hiểu rõ tinh thần Luật Nghi,
thấu suốt đạo lý, rồi ứng dụng vào cuộc sống thường nhật của con người
hiện tại, như vậy thì mới đúng. Giống như pháp luật, ngay cả hiến pháp
cũng không là ngoại lệ, cứ cách bao nhiêu năm đó lại phải tu chỉnh một
lần, vì sao? Thời đại khác rồi. Có những điều khoản được quy định chỉ
thích hợp cho thời ấy, không phù hợp với hiện tại, cần phải tu chỉnh.
Căn Bản Giới siêu việt thời
gian lẫn không gian, chẳng thể biến đổi. Căn Bản Giới chỉ gồm bốn điều:
Không sát sanh, không dâm dục (đây là đối với người xuất gia mà nói),
không trộm cắp, không nói dối. Bốn điều ấy gọi là Căn Bản Giới, siêu việt
thời gian lẫn không gian, bất luận ở khu vực nào, bất luận trong thời đại
nào cũng đều chẳng thể biến đổi. Những điều khác có thể do thời gian, địa
phương, tập quán sanh hoạt bất đồng, chỉ tuân thủ nguyên tắc tinh thần, có
thể tu chỉnh những điều khoản ấy. Ở Trung Quốc gọi những điều ấy là Thanh
Quy. Như trong đời Đường, Mã Tổ Đạo Nhất hòa thượng đề xướng lập tùng lâm,
tức là đề xướng “mọi người cùng tu chung”. Bách Trượng đại sư lập Thanh
Quy, Thanh Quy ấy chính là Giới Luật được “bổn thổ hóa” (tức địa phương
hóa Giới Luật, diễn dịch Giới Luật cho phù hợp với văn hóa, quy củ của một
đất nước). Hiện đại hóa Giới Luật, đem tinh thần, nguyên tắc bất biến của
Giới Luật ứng dụng vào cuộc sống của con người hiện đại. Đấy là [đại sư]
đã vì người Trung Quốc mà chế định một bộ Tân Giới Luật đại quy mô, mọi
người chúng ta đều phải tuân thủ. Từ thời Bách Trượng đến nay cũng đã gần
một ngàn bốn trăm năm, tình hình của chúng ta hiện thời không còn giống
với một ngàn bốn trăm năm trước. Do vậy, mỗi một đạo tràng, mỗi một chùa
miếu của chúng ta đều có “Thường Trụ Công Ước”, đều có quy củ. Đó đều là
những chuyện thuộc về việc hiện đại hóa, bổn thổ hóa Giới Luật thích hợp
cho đại chúng cùng tu trong một đạo tràng, lập ra một quy củ.
Nói riêng về thành phố Đài
Bắc, quy củ của mỗi một chùa miếu không giống nhau, Thường Trụ Công Ước
của mỗi một chùa miếu cũng khác nhau, [miễn sao] thích hợp với hoàn cảnh
tu học của chính chúng ta. Những quy củ, công ước ấy đều thuộc vào Luật
Nghi, do vậy, nhất định phải hiểu. Không hiểu sự thật này, chúng ta không
thể thực hiện thông suốt những Luật Nghi ấy được. Do vậy, chúng ta đọc
chúng, nghiên cứu chúng phải hiểu rõ tinh thần ở chỗ nào, phải thấu hiểu
nguyên lý, nguyên tắc của chúng.
Thượng thiên Giới Luật môn
(Thiên đầu là phần
Giới Luật)
Sa Di Luật Nghi chia thành
hai bộ phận: Thiên đầu giảng về Giới Luật, thiên sau giảng về Oai Nghi.
Tiếp theo đây, trước hết giảng về phần Giới Luật. Giới Luật là căn bản, do
Giới đắc Định, Oai Nghi nhằm phụ trợ Giới Luật, chúng là những khuôn phép
trong cuộc sống hằng ngày.
Chúng ta phải nhận thức rõ
ràng hai chữ Giới và Luật. Trong trang này, đếm ngược lên là hàng thứ tư,
[có ghi]: “Giới vi cấm giới, Luật tức pháp luật” (Giới là ngăn cấm, Luật
tức pháp luật). Chữ Giới chỉ cho “cấm giới”, tức là ngăn cấm. Phật dạy
chúng ta không được làm những chuyện nào, nên làm những chuyện nào. Do
vậy, trong Giới Luật lại chia thành hai loại lớn: Một loại là Chỉ Trì
(những điều không nên làm), loại kia là Tác Trì (những điều nên làm). Phật
dạy chúng ta làm gì, chúng ta phải làm điều đó, không làm là Phạm Giới.
Phật chẳng chấp nhận cho làm, chúng ta chớ nên làm, đó là Trì Giới. Không
cho quý vị làm, quý vị cứ làm thì phạm giới rồi. Dạy quý vị làm mà quý vị
không làm, cũng là phạm giới! Do vậy, Giới Luật có hai loại: Một là cấm
chỉ, hai là dạy những điều quý vị phải làm. Luật là sau khi quý vị phạm
giới rồi, giống như phán xét quý vị tội nặng hay nhẹ, đấy chính là pháp
luật: Dùng luật pháp để đoán định quý vị tội nặng hay nhẹ. Đó gọi là
Luật.
Tiếp đó là câu giải thích:
“Phòng phi chỉ ác viết Giới, xử đoán khinh trọng, khai - giá - trì - phạm
viết Luật” (Ngăn điều sai, dứt điều ác là Giới. Xử đoán nặng nhẹ, mở,
ngăn, giữ, phạm, gọi là Luật). Giới là gì? “Phòng phi chỉ ác”. Luật là gì?
Phán xử nặng - nhẹ, Khai, Giá, Trì, Phạm, chính là Luật. Quý vị chỉ cần
nhớ kỹ hai câu này là được rồi.
Ở đây phải thuyết minh về
“Khai - Giá - Trì - Phạm”. Mỗi một điều Giới Luật đều sống động, phương
thức trì giới khác nhau, không giống nhau, phải biết điều này. Đấy là đức
Phật đối với căn tánh bất đồng của hết thảy chúng sanh mà phạm vi của Khai
- Giá - Trì - Phạm sẽ cạn, sâu, rộng, hẹp đều khác nhau. Giống như chúng
ta dạy học trò, đối với học trò Tiểu Học chúng ta phải quản thúc rất
nghiêm, vì sao? Do chúng nó chưa hiểu chuyện; không dạy dỗ, quản thúc
nghiêm nhặt, chúng sẽ gây ra chuyện, bị tổn hại. Đối với học sinh Trung
Học, chúng nó đã dần dần hiểu biết, cho nên hơi nới lỏng quy củ quản lý
một chút. Đến bậc sinh viên Đại Học, chúng nó có năng lực phân biệt đúng -
sai, hiểu rõ lợi - hại rồi, phạm vi dạy dỗ, quản thúc chúng càng được nới
rộng hơn nữa.
Giới luật nhà Phật cũng cùng
một đạo lý này. Đối với những phàm phu mới học, phải quản thúc thật
nghiêm, thật gắt. Trong Phật pháp, như Tiểu Thừa giáo quản thúc rất nghiêm
ngặt, hết sức bảo thủ. Đối với người Đại Thừa mà nói thì tương đối dễ dãi
hơn. Vì sao? Người Đại Thừa có trí huệ, có năng lực phân biệt chân - vọng,
có năng lực phân biệt tà - chánh, đúng - sai, thiện - ác, chính quý vị có
năng lực phân biệt rồi, nên nới rộng rất nhiều. Đợi đến khi quý vị minh
tâm kiến tánh, Kiến Tư, Trần Sa đều đoạn sạch, vô minh cũng phá được mấy
phẩm, bèn nhập vào cảnh giới Hoa Nghiêm, “lý sự vô ngại, sự sự vô ngại”,
đến lúc đó Giới Luật này mới được thật sự trì đến thanh tịnh viên mãn.
Thanh tịnh viên mãn thì có
còn trì giới nữa hay không? Vẫn trì giới! Như chúng tôi thường hay nói:
“Trì nhưng không trì, không trì mà trì”. Người ấy nhập cảnh giới này, tự
nhiên chẳng phạm lầm lỗi, không có lầm lỗi. Về mặt sự tướng, Bồ Tát vẫn
nghiêm túc chấp trì như thế để nêu gương cho những người mới học, tức là
“hành trì” như trong phần trên đã nói. Chính bản thân vị đó đạt đến Sự Sự
Vô Ngại, vì sao vẫn còn phải trì giới như thế? Làm cho người sơ học trông
thấy, khiến cho kẻ sơ học thấy Bồ Tát luôn trì giới, vậy thì chúng ta
không trì giới đâu có được! Nếu không, Bồ Tát đều không trì giới, chúng ta
trì giới làm gì? Gây ra tác dụng ngược, hiệu quả ngược cho hàng sơ học thì
chẳng phải là từ bi! Do vậy, Phật, Bồ Tát cũng trì giới, trì giới rất
nghiêm, làm cho hàng sơ học trông thấy, phải hiểu các Ngài quả thật “lý sự
vô ngại, sự sự vô ngại”, họ làm như vậy là hành trì. Các ngài đã đoạn sạch
hết ác rồi, ác đã không còn nữa, những gì các ngài làm đều thuộc về Hành
Trì.
“Khai” là khai duyên, chữ
Duyên có nghĩa là điều kiện. Dưới một điều kiện nào đó thì có thể khai
giới, khai giới chứ không phá giới! Nếu không nhằm đúng những điều kiện
ấy, Phật cấm ngặt quý vị làm, quý vị cứ khai là phá giới đó nghe! Nếu dưới
một điều kiện hợp tình hợp lý nào đó, quý vị phá giới ấy thì chẳng gọi là
“phá giới” mà là “khai giới”. Khai giới không có tội, chẳng những không có
tội mà còn có công đức. Trong kinh Phật Thuyết Vị Tằng Hữu Nhân Duyên[6]
có nêu một thí dụ, sách Pháp Uyển Châu Lâm, Chư Kinh Yếu Tập[7] cũng có
dẫn thuật. Đương thời có một ông vua rất nóng nảy, hầu như đầu bếp nấu
thức ăn không ngon, vua ăn vào không vừa ý, toan giết gã đầu bếp. Ngày hôm
ấy, nhằm lúc Phu Nhân đang trì Bát Quan Trai Giới, thấy tình hình đó, vì
muốn cứu gã đầu bếp, bà liền đặc biệt trang điểm thật lộng lẫy, khuyên
quốc vương ca hát nhảy múa, hy vọng quốc vương thay đổi ý niệm, quên đi
chuyện đó. Do vậy, Bát Quan Trai Giới của bà trong ngày ấy hoàn toàn bị
phá sạch. Đấy có phải là phá giới hay không? Bà vì muốn cứu mạng một gã
đầu bếp, vì để cứu một người, nên hành động ấy thuộc về khai giới, chẳng
những phá sạch giới không bị tội, lại còn có công đức lớn. Đoạn văn này
ghi chép rất tỷ mỉ, chúng tôi nhớ không rõ lắm, chắc là trong những bản
chú giải đều có kể về chuyện Bát Quan Trai Giới này. Do vậy, phải hiểu
“khai duyên” (duyên để khai giới) là gì? Nếu không có khai duyên mà tự
mình muốn tìm cơ hội [để phạm giới] thì là sai mất rồi! Ấy là phá giới,
chẳng phải là khai giới! Do vậy, chuyện Khai hay Giá này chính mình phải
có trí huệ để phán đoán.
Chiều hôm qua, một người bạn
cũ mời tôi ăn cơm tối, tôi không biết là sinh nhật ông ta, cứ đường đột đi
đến. Cũng không đến nỗi nào là hôm qua tôi mang mấy bộ Vô Lượng Thọ Kinh
đến tặng ông ta, chúc ông ta vô lượng thọ, cũng rất hay! Trong thời kỳ
kháng chiến, ông ta gặp phải chuyện sau đây: Ba người bọn họ cùng thực
hiện công tác bí mật tại Nam Kinh, bị hiến binh (cảnh sát) Nhật Bản phát
giác. Hiến binh Nhật Bản liền truy đuổi họ. Họ chạy đến ngôi chùa ở ngoài
cửa Trung Hoa thành Nam Kinh, nhằm lúc chùa đang làm pháp hội, ba người
bọn họ chạy vào cầu cứu lão hòa thượng. Vị lão hòa thượng ấy rất có trí
huệ, ngay lập tức bảo họ cạo đầu, mặc áo hải thanh, cùng mọi người niệm
Phật. Do vậy, khi đội hiến binh Nhật đuổi tới nơi, cũng không sao tìm được
ba người ấy, ba người bọn họ giữ được tánh mạng vẹn toàn.
Sau khi [kháng Nhật] thắng
lợi, nghĩ đến ân cứu mạng của lão hòa thượng, bọn họ đặt một tiệc rượu hết
sức linh đình mời lão hòa thượng nhằm tỏ chút lòng cảm tạ. Lão hòa thượng
cũng đến; tới rồi, bọn họ mới nghĩ hòa thượng thì ăn chay, mà ở đây toàn
là gà, vịt, cá, thịt chất đống, đều là đồ mặn, đúng là rượu nồng thịt béo.
Không ngờ vị lão hòa thượng ấy thật bất phàm, lão hòa thượng nghiễm nhiên
ngồi xuống, chuyện gì cũng không hỏi đến, nâng chén vui vẻ cùng uống với
họ, khiến cho bọn họ trong tâm bội phục, rất cảm động. Đó gọi là khai
duyên, là khai giới, không phải là phá giới! Lão hòa thượng không có tâm ý
gì, nhưng Ngài biết bọn họ thành tâm cảm kích, trọn chẳng phải là bỡn cợt
người xuất gia; do vậy, Ngài thỏa ý họ, khiến cho lòng họ vui vẻ. Đấy là
khai duyên, nhất định phải hiểu điều này.
Có rất nhiều đồng tu tại gia
tự mình học Phật, phát tâm ăn chay, nhưng người trong nhà không học Phật.
Thọ Bồ Tát giới rồi, người ấy có nên nấu những món thịt thà cho cha mẹ ăn
hay không? Đã nói là cắt thịt cũng phạm giới mà, điều này không sai! Quý
vị cúng dường cha mẹ, lúc cha mẹ vẫn chưa tin Phật thì đó là “khai duyên”,
chứ không phải phá giới. Quý vị phải từ chỗ này mà cảm hóa người trong nhà
quý vị. Muốn cảm hóa người ta, trước hết quý vị phải làm cho họ có cảm
nghĩ tốt đẹp đối với Phật giáo, sanh tâm hoan hỷ đối với Phật pháp thì quý
vị mới có thể cảm động họ được. Nếu quý vị “làm như thế này không đúng,
làm thế kia cũng không đúng”, bảo họ: “Ngươi ăn thịt chúng sanh, tương lai
ngươi phải đền mạng”. Quý vị càng nói người nhà càng phiền não, càng nói
càng nổi nóng hơn, chẳng những không giáo hóa, cảm hóa được họ mà trái lại
còn tạo khá nhiều khẩu nghiệp, vậy là sai lầm lớn rồi! Như vậy là thiếu
trí huệ. Quý vị thuận theo hết thảy, người ta cảm thấy Phật giáo tốt đẹp,
Phật giáo thật sự tốt đẹp! Cách một thời gian sau sẽ dần dần cảm hóa được
họ, phải vận dụng trí huệ. Thời gian dài hay ngắn tùy thuộc vào phương
tiện thiện xảo của quý vị, mà cũng tùy thuộc thiện căn, phước đức của
người nhà quý vị. Do vậy, phải có tâm nhẫn nại, phải có phương tiện, làm
như vậy mới đúng. Tự nhiên người ta sẽ hồi đầu, sẽ hướng thiện, muôn vàn
chẳng được cậy mình học Phật mà đối địch với người nhà, làm vậy là sai,
hoàn toàn sai lầm.
Phật pháp được kiến lập trên
cơ sở hiếu đạo. Câu thứ nhất trong Tam Phước là “hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng
sự sư trưởng”. Câu đầu tiên là “hiếu dưỡng phụ mẫu”. Vì thế, phải có trí
huệ, phải có phương tiện thiện xảo, phải có tâm nhẫn nại để cảm hóa người
nhà, quyết định chẳng được đối lập. Trước khi người ta chưa hiểu rõ, chưa
thấu suốt, người ta muốn gì đều nên tùy thuận. Trong lúc tùy thuận, chúng
ta có tâm nhẫn nại, có trí huệ, có phương pháp để dần dần chuyển biến họ,
vậy mới là đúng! Đây gọi là hiếu dưỡng chân chánh!
“Giá” là cấm ngăn, quyết định
chẳng được vi phạm. Vì thế, phải hiểu Khai - Giá mới có thể trì giới. Lúc
nào nên Khai mà không Khai, cũng gọi là phạm giới! Lúc nào nên Giá mà
không Giá thì cũng gọi là phạm giới! Đủ thấy hai chữ “trì giới” nói dễ
dàng ư? Chấp chết cứng vào giới điều thì không phải là trì giới, giới luật
điều nào cũng sống động. Nếu như quý vị không hiểu Giới Luật, không hiểu
vì sao Phật đặt ra giới điều ấy, dụng ý ở chỗ nào, đạo lý là đâu, làm sao
ứng dụng được trong cuộc sống thường ngày? Trong cuộc sống hằng ngày của
chúng ta có thuận cảnh, có nghịch cảnh, những cảnh giới ấy sai biệt rất
lớn, trong những hoàn cảnh hết sức rắc rối, phức tạp, áp dụng giới điều
này như thế nào? Đấy chính là Khai - Giá. Quý vị hiểu rõ Khai - Giá sẽ ứng
dụng linh hoạt, sống động, ứng dụng hết sức viên mãn, tự lợi, lợi tha, đấy
mới là trì giới. Do vậy, [trì giới] không phải là chuyện đơn giản. Không
phải chấp chết cứng vào giới điều là trì giới, quý vị đã làm hoàn toàn
trái ngược, sai lầm mất rồi!
Tôi vừa mới nêu thí dụ: Lão
hòa thượng thuận theo mọi người cũng ăn thịt, cũng uống rượu, bọn họ cảm
động rất mạnh, đối với Phật pháp thật sự khởi sanh tâm cung kính, biết vị
xuất gia ấy vĩ đại, người xuất gia bất phàm, mười mấy người bọn họ đều
được độ. Nếu vị lão hòa thượng ấy theo quan niệm trì giới như mọi người đã
nói thì rượu làm sao uống được? Phải bỏ ngay đi! Đúng vậy, không sai, tợ
hồ chính mình rất trì giới, nhưng khiến cho mọi người đối với Phật giáo có
ấn tượng kém ác, mang ấn tượng cự tuyệt bài xích, vậy là sai mất rồi! Do
vậy, Khai - Giá - Trì - Phạm hết sức quan trọng, không hiểu thì đừng bàn
đến trì giới. Nhất định phải hiểu điều này. Hôm nay chúng tôi giảng đến
đây thôi!
Hỏi: Xin hỏi có phải là
mỗi giới điều đều có Khai - Giá - Trì - Phạm?
Đáp: Đúng vậy!
Nay quý vị hiểu rõ Khai - Giá - Trì - Phạm, coi trọng; sau này trong mỗi
một giới điều đều có giảng đến. Trước hết là phải xây dựng quan niệm, hiểu
trì giới hoàn toàn không phải là như kiểu trì giới mà mọi người thường
nói, trì giới kiểu đó thì kết quả là Phật giáo sẽ bị tiêu diệt mất trong
thế gian này.
Hỏi: Không thọ giới thì
không có vấn đề, hễ thọ giới sẽ có cả đống vấn đề, xin hỏi nên làm như thế
nào?
Đáp: Đúng vậy!
Vì thế, phải nghiêm túc nghiên cứu Sa Di Luật Nghi Yếu Lược, nhất định
phải hiểu rõ. Quý vị hiểu rõ được bộ sách này rồi, người ta hỏi quý vị câu
gì, quý vị đều có thể giải đáp được, lại còn hiểu trường hợp nào là thích
đáng, tự mình phải nên làm theo cách nào.
Phần 2:
Đoạn thứ tư, trang thứ sáu:
Tứ, thị cố Sa Di thế
lạc, tiên thọ Thập Giới. Thứ tắc đăng đàn Cụ Túc. Kim danh vi Sa Di, nhi
bổn sở thọ giới. Ngu giả mang hồ bất tri, cuồng giả hốt nhi bất học, tiện
nghĩ liệp đẳng, vọng ý cao viễn, diệc khả khái hỹ!
(Bốn, vì thế, Sa Di xuống
tóc, trước hết thọ mười giới. Kế đó đăng đàn thọ giới Cụ Túc. Nay gọi là
Sa Di, có bổn phận phải thọ giới. Kẻ ngu mờ mịt không biết, kẻ cuồng coi
thường không học, lại toan học lung tung, mơ tưởng cao xa, cũng đáng cảm
khái lắm thay!)
Chúng ta tu học, bất luận là
kinh, luật, luận hoặc ngữ lục của tổ sư, người biết học sẽ gạn lấy những
khai thị trọng yếu, giống như Hoằng Nhất đại sư trích lục [kinh điển tạo
thành] bộ Vãn Tình Tập, Ngài sao chép lại những giáo huấn trong kinh,
luận, ngữ lục đối trị căn bệnh, tập khí của chính mình. Mỗi một người sao
lục cũng hầu như không giống nhau vì mỗi người tập khí bất đồng. Tập khí
nào nặng nhất, nếu câu nói này nói đến căn bệnh của ta thì ta bèn ghi lại,
tự mình thường xem, thường dùng nó để phản tỉnh, kiểm điểm, sửa lỗi đổi
mới, đó gọi là “chân chánh tu hành”. Trong Giới Luật, những chỉ dạy để đối
trị tập khí rất nhiều; do vậy, chúng ta đọc đến bản kinh này và chú giải
phải biết trích lục, tự mình trích lục chép vào một cuốn sổ nhỏ, đó mới là
“chân chánh tu hành”.
Đoạn này nói về người mới
xuất gia. “Thế lạc” nghĩa là cạo tóc, xuống tóc. Hễ xuất gia thì “tiên thọ
Thập Giới” (trước hết thọ mười giới). Đây chính là như trong phần trên đã
nói: Đó là giáo dục dành cho học sinh mới bước vào cửa Phật. Học làm một
người đệ tử xuất gia của Phật, nhất định phải tuân thủ Mười Giới, lại còn
có hai mươi bốn Oai Nghi ở phía sau nữa. Hai mươi bốn môn Oai Nghi chính
là những quy củ chúng ta phải tuân thủ trong cuộc sống thường ngày, đấy
chính là quy phạm (quy củ, khuôn mẫu) cuộc sống. Có cơ sở tu học ấy rồi,
sau đó mới có thể thọ Cụ Túc Giới[8], trở thành Tỳ-kheo.
Trong phần trước, chúng tôi
đã nói thời gian tu học Sa Di Giới là năm năm, còn nay thọ giới (tức Tam
Đàn Đại Giới[9]) thọ hết luôn một lần. Trước kia, không phải như vậy. Xưa
kia, Sa Di Giới, Tỳ Kheo Giới, Bồ Tát Giới cách nhau một thời gian rất
dài, không thọ cùng một lần. Thọ rồi giữ không được thì có khác gì dạy cho
quý vị tạo tội nghiệp đâu? Vì thế, phải học Sa Di Giới năm năm, học rất
giống, rất có quy củ rồi, năm năm sau mới được thọ Cụ Túc Giới, tức là Tỳ
Kheo, Tỳ Kheo Ni Giới. Lại phải cách ba năm nữa mới được xin thọ Bồ Tát
Giới. Giữ Tỳ Kheo Giới rất khá, lại mở rộng tâm lượng, hành Bồ Tát đạo,
như vậy mới là chánh xác. Giống như chúng ta đi học, Sa Di là Tiểu Học, Tỳ
Kheo là Trung Học, Bồ Tát là Đại Học, là ba tầng cấp, nhất định phải có
khoảng cách tương đương, chẳng thể học chương trình Tiểu Học, Trung Học,
Đại Học cùng một lúc được. Không có đạo lý ấy! Chúng ta phải hiểu rõ điều
này.
“Thứ” (kế đến) là giai đoạn
thứ hai, mới bèn “đăng đàn thọ Cụ”: “Cụ” chính là Cụ Túc Giới. Câu này dạy
chúng ta hành môn (trình tự tu hành) phải có thứ tự.
“Kim danh vi Sa Di” (nay gọi
là Sa Di): Nay chúng ta vừa mới xuống tóc xuất gia thì là Sa Di.
“Bổn sở thọ giới”: Bổn là bổn
phận, “thọ” là phải thọ trì những giới pháp được nói trong kinh này, tức
là Mười Giới và hai mươi bốn Oai Nghi.
Rất đáng tiếc, “ngu giả mang
hồ bất tri” (kẻ ngu mờ mịt không biết): Có rất nhiều kẻ thọ giới xong, Tam
Đàn Đại Giới đều thọ xong, không biết Giới là gì cả. Thọ trên mặt hình
thức, chứ thực tế chẳng hiểu rõ nội dung, vì vậy “hữu danh vô thực”.
“Cuồng giả hốt nhi bất học”
(Kẻ cuồng coi thường chẳng học): “Cuồng giả” là những kẻ cuồng huệ, chữ
“cuồng huệ” chỉ cho ai? [Kẻ ấy tưởng] những giới này nhỏ nhặt không quan
trọng, dẫu có biết những giới ấy cũng không chịu làm theo.
“Tiện nghĩ liệp đẳng” (lại
toan học lung tung). Một đằng là ngu, một đằng là cuồng, tức cuồng vọng!
Không nghiêm túc tu học, lại còn học tràn lan lung tung. “Liệp đẳng” nghĩa
là kẻ ấy thọ giới Tỳ Kheo, thọ giới Bồ Tát. Tu học tầng cấp thứ nhất chưa
tu hành nên thân, lại muốn học qua tầng cấp thứ hai, tầng cấp thứ ba. Tầng
cấp thứ hai là Tỳ Kheo Giới, tầng cấp thứ ba là Bồ Tát Giới, kẻ ấy muốn
thọ hết. Như vậy là “liệp đẳng”.
“Vọng ý cao viễn”: Đây là
điều được thế tục gọi là “ham cao chuộng xa”, không thực tế! Do vậy, kinh
bảo “diệc khả khái hỹ!” (cũng đáng cảm khái thay!): “Khái” là cảm khái,
than thở. Người thật sự hiểu rõ trông thấy những hiện tượng ấy hết sức cảm
khái.
Do vì bản in này không đánh
số trang, số chương theo thứ tự, vẫn dùng theo nguyên bản. Nguyên bản thì
mỗi tờ gồm hai mươi dòng, mặt trước mười dòng, mặt sau mười dòng. Chúng
tôi lấy hai mươi dòng làm đơn vị để nói, như đến hàng thứ mười một thì bảo
là trang thứ hai. Chúng tôi dùng phương pháp này cho mọi người dễ tìm.
Trong phần chú giải có hai câu rất quan trọng, ở đây tôi nhắc nhở mọi
người chú ý. Xin hãy xem hàng thứ hai mươi trong trang thứ sáu, tức là
hàng cuối cùng. Hãy xem từ chữ thứ ba trở đi: “Học Ký vân: Ấu giả thính
nhi phất vấn, học bất liệp đẳng dã” (Thiên Học Ký [trong sách Lễ Ký] nói:
“Trẻ nhỏ nghe chứ không hỏi, chẳng học tràn lan”). Đây là một câu trích
trong thiên Học Ký của sách Lễ Ký, ý nghĩa hoàn toàn tương đồng với những
điều đã nói ở trên. “Ấu giả” là kẻ mới học, mới học thì phải tuân thủ quy
củ, không có ý kiến. Thầy dạy thế nào, chúng ta học như thế ấy, nhất định
phải tuân theo quy củ, theo thứ tự thuận mà làm. Điều này hết sức quan
trọng.
Trước kia, tôi đã thưa cùng
quý vị: Trong quá khứ tôi học với thầy Lý; trước khi học với thầy, tôi học
với Chương Gia đại sư ba năm. Thầy Lý hoàn toàn không chấp nhận chuyện ấy,
[bảo tôi] phải bỏ toàn bộ đi, học lại từ đầu. Do nguyên nhân nào? Những gì
anh học trong quá khứ, anh có một tiêu chuẩn, tục ngữ thường nói “tiên
nhập vi chủ” (cái gì học ban đầu là chính), người ta đã có thành kiến rồi.
Lúc nghe thầy giảng khác với Chương Gia đại sư chúng tôi sẽ khởi nghi
hoặc, muốn hỏi. Vì thế, thầy bảo: “Những gì anh đã học trước kia tôi không
chấp nhận”. Nói cách khác, chỉ có nghe lời thầy, không có chỗ để hoài
nghi! Những gì đã học trước kia chẳng chấp nhận, vứt bỏ toàn bộ. Thật thà,
ngoan ngoãn nghe lời thì mới nên. Như vậy thì sẽ có thể thành tựu.
Hiện nay gặp khó khăn là vì
hiện thời tự do, dân chủ, cởi mở, không ai có thể hạn chế được bất cứ một
ai nên học rất nhiều, học rất tạp. Nghe lời thầy giảng ắt có so sánh,
chuyện này phiền phức lắm. Do vậy, kẻ mới học phải học điều gì? Không học
Giáo. Giáo thì có thể thảo luận. Phật pháp chủ trương nghiên cứu thảo
luận, hy vọng quý vị sẽ nêu lên câu hỏi để cùng nhau nghiên cứu. Thế nhưng
kẻ mới học không học Giáo, cũng không học Giải, kẻ mới học phải học Định,
tức là học thanh tịnh cái tâm. Nói cách khác, trong tâm có nghi vấn, có
phân biệt, có thành kiến, sẽ không đắc Định. Vì thế, mục đích là ở chỗ
này. Chúng ta mới học Phật pháp thì dốc sức nơi Định. Giới là “thủ đoạn”
(phương cách), do Giới đắc Định, mục tiêu là đắc Định. Đắc Định rồi sẽ
khai ngộ. Trước kia, cách dạy học của Nho Gia cũng giống như vậy. Phương
pháp của họ cũng là tu Định; do vậy, tông chỉ dạy học của Nho Gia đối với
Tiểu Học là “đắc Định”.
Hiện thời chúng ta rất ít
nghe nói tới, [chứ trong] quá khứ, tôi học Tiểu Học, khi học Sơ Trung, các
thầy lúc ấy thường cùng nhau chuyện trò. Chúng tôi vẫn còn nghe thầy nói
trò nào có ngộ tánh, vẫn còn nghe nói như thế, nay thì hình như không nghe
như vậy nữa. “Ngộ tánh” là nói về người có tâm địa thanh tịnh, người ấy có
“thể ngộ” (thấu hiểu), trong Phật pháp chúng ta gọi là “khai ngộ”. Có tiểu
ngộ, có đại ngộ, như vậy mới thật sự có hiệu quả. Tâm càng thanh tịnh, ngộ
tánh càng cao. Giới luật Sa Di là Tiểu Học trong Phật pháp, tông chỉ tu
học là Định, nhằm giúp cho quý vị tu tâm thanh tịnh. Tâm địa đạt đến mức
độ thanh tịnh nhất định thì Phật pháp gọi là “pháp khí”, cũng có nghĩa là
nói “người ấy có tư cách tiếp nhận Phật pháp”. Do đây biết được rằng: Năm
năm Sa Di ấy hoàn toàn là công phu dự bị, là cơ sở để tu học Phật pháp, là
sự chuẩn bị để tu học Phật pháp, Phật pháp dùng thời gian dài như thế để
tạo nên cơ sở giáo dục ấy. Cơ sở được xây dựng vững vàng rồi, quý vị nghe
kinh sẽ khai ngộ, sẽ lãnh ngộ, tham Thiền sẽ đắc Định, niệm Phật sẽ được
Nhất Tâm. Nay chúng ta học Giáo chẳng thể khai ngộ, tham Thiền chẳng thể
đắc Định, niệm Phật chẳng thể đạt Nhất Tâm, nguyên nhân là gì? Là vì học
tràn lan, không xây dựng cơ sở kỹ càng. [Do vậy], quý vị mới hiểu cơ sở
rất quan trọng.
Chúng ta muốn tương lai có
thành tựu, tự mình có thành tựu cũng như có thể giúp đỡ người khác, tự
hành hóa tha thì cơ sở của chúng ta nhất định phải hết sức ổn thỏa. Điều
này phải cậy vào sự nỗ lực của chính mình, tự mình giác ngộ, tự mình
nghiêm túc tu học. Do trong thời đại này chẳng thể có thầy nghiêm khắc đốc
thúc, răn dạy như trước kia, cả xã hội tiến vào dân chủ, tự do, cởi mở; do
vậy, đối với việc [xây đắp] cơ sở giáo dục [cho chính mình] ngày càng khó
khăn, hoàn toàn phải cậy vào thiện căn của chính mình. Tự mình có thiện
căn, tự mình hiểu rõ chuyện này, tự động, tự phát, chẳng thể cậy vào sự
đốc thúc, chỉ dạy của thầy được nữa! Thầy thấy quý vị tự động tự phát
đương nhiên rất vui mừng, sẽ toàn tâm toàn lực giúp đỡ quý vị. Không thể
tự động tự phát thì cũng không làm sao được hết. Phải biết điều này!
Lại xem đến hàng thứ
mười trong trang thứ bảy, câu cuối cùng: “Phật tạng kinh vân”, [nghĩa là]
đây chính là điều được ghi trong kinh Phật: “Bất tiên học Tiểu Thừa, hậu
học Đại Thừa giả, phi Phật đệ tử” (Nếu trước hết không học Tiểu Thừa rồi
mới học Đại Thừa thì không phải là đệ tử Phật). Câu này luận về thứ tự tu
học. Trước hết học Tiểu Thừa, sau đó học Đại Thừa, tức là chiếu theo thứ
tự thuận, tu học theo lớp lang, như thế là đệ tử Phật. Nghe lời Phật, tôn
trọng lời thầy giáo huấn, tôn sư trọng đạo, đấy là đệ tử Phật.
Phật pháp sau khi truyền đến
Trung Quốc, vào giai đoạn đầu của các đời Tùy, đời Đường, Tiểu Thừa đã
từng có lúc hưng thịnh, nhưng thời gian rất ngắn, không lâu. Về sau, pháp
Tiểu Thừa mất hẳn tại Trung Quốc. Hiện thời ở Trung Quốc, những tông Tiểu
Thừa như Thành Thật Tông[10], Câu Xá Tông[11] đã biến thành danh từ lịch
sử, không thấy đạo tràng Tiểu Thừa nữa. Giai đoạn đầu đời Đường còn có, về
sau không còn. Thế nhưng kinh điển Tiểu Thừa trong Đại Tạng Kinh có thể
nói là khá hoàn chỉnh vì hiện tại đem Tam Tạng Tiểu Thừa Nam Truyền so với
những kinh Tiểu Thừa trong Đại Tạng Kinh Trung Quốc (chúng tôi không làm
công việc này, có người khác làm, họ bảo cho tôi biết) thì chỉ sai khác
với kinh điển Tiểu Thừa của chúng ta khoảng chừng hơn năm mươi mấy bộ. Nói
cách khác, năm mươi mấy bộ ấy phân lượng quá nhỏ! Kinh luận Tiểu Thừa rất
ngắn, gần như có chừng một, hai ngàn bộ. Giữa một hai ngàn bộ kinh [của
hai tạng Hán Truyền và Nam Truyền] chỉ khác biệt năm mươi mấy bộ. Do vậy,
có thể biết là chúng ta đã phiên dịch kinh điển Tiểu Thừa khá viên mãn.
Nhưng hiện thời những kinh Tiểu Thừa không có ai đọc, chúng ta học tập
kinh Tiểu Thừa làm cơ sở, đương nhiên không cần phải đọc hết toàn bộ kinh
điển Tiểu Thừa. Đại Thừa phân tông phái, Tiểu Thừa cũng có thể chọn đọc.
Trong quá khứ, khi chúng tôi cầu học ở Đài Trung, thầy Lý cũng chọn ra
mười mấy bộ kinh điển Tiểu Thừa dạy cho chúng tôi, như vậy là đủ rồi. Như
hiện tại chúng ta đọc A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung Kinh, đấy chính là kinh
Tiểu Thừa, kinh Tiểu Thừa có thể chọn ra vài bộ để đọc.
Tiểu Thừa mất đi ở Trung Quốc
là vì có nguyên nhân. Nguyên nhân ấy chính là vì người xưa đọc những sách
vở của Nho Gia, Đạo Gia Trung Quốc, Khổng Tử, Lão, Trang. Những điều Khổng
Tử, Lão, Trang nói quả thật không kém Tiểu Thừa. Nói cách khác, bị Nho
Gia, Đạo Gia Trung Quốc thay thế. Do vậy, từ Nho, Đạo mà vào Phật pháp,
chẳng cần phải học pháp Tiểu Thừa, trực tiếp tiến vào Đại Thừa, đạo lý là
như vậy.
Trước kia, Tàng Kinh Lâu (lầu
trữ kinh) trong tự viện (nay gọi là Đồ Thư Quán) không chỉ có kinh Phật mà
còn có kinh của Nho Gia, Đạo Gia, thảy đều có hết. Vì vậy, trước kia người
có học trong thế gian đến đâu để đọc sách? Ở nơi đâu cất giữ nhiều sách vở
như vậy để cho họ đọc? Tự viện! Chúng tôi đọc Phạm Trọng Yêm Truyện, đọc
Nghĩa Điền Ký [là những sách] kể về tiểu sử của Phạm Trọng Yêm. Phạm tiên
sinh lúc tuổi trẻ là một chàng Tú Tài đọc sách ở tự viện. Trong tự viện
cất giữ rất nhiều sách vở hoàn bị, hầu như người đọc sách thời đó muốn tìm
sách vở gì đều có thể tìm được nơi chùa miếu. Vì thế, Tàng Kinh Lâu chính
là thư viện. Người xuất gia đều đọc sách Nho Gia, những sách vở của Nho
Gia họ đều đọc qua, đọc lan qua cả những sách của Đạo Gia, bách gia chư tử
họ đều thông đạt. Đọc sách ở chùa miếu, không những tìm được sách vở rất
thuận tiện mà còn nếu như có câu hỏi nghi nan nào, cũng có thể thỉnh giáo
pháp sư. Pháp thế gian hay xuất thế gian pháp sư đều thông đạt, đều có thể
hướng dẫn, đều có thể giúp cho người ta. Vì thế, chùa miếu chính là trường
học, khác với hiện tại, khác hẳn! Đây chính là lý do vì sao Tiểu Thừa bị
biến mất ở Trung Quốc.
Nhưng đến thời hiện tại, sách
Nho gia cũng không đọc, sách Đạo gia chúng ta cũng không xem, lại coi
thường Tiểu Thừa, vừa học Phật bèn vào thẳng ngay Đại Thừa, lăn lộn với
Đại Thừa suốt đời mà có thành tựu gì hay chăng? Nếu nói thành tựu thì đúng
như Thanh Lương đại sư đã bảo: “Tăng trưởng tà kiến”. Thanh Lương đại sư
nói như vậy đó. Nay chúng tôi nói cho dễ nghe hơn một chút thì là kiến
thức Phật học rất phong phú giúp cho kẻ ấy ăn nói linh hoạt, giúp kẻ ấy
viết lách. Ngoại trừ việc ấy ra, đối với đức hạnh, tu trì, tâm thanh tịnh,
trí huệ, kẻ ấy hoàn toàn không có gì! Do vậy, chúng ta thường thấy người
học Phật, bất luận xuất gia hay tại gia, khi chưa thông đạt Phật pháp, họ
rất thật thà, rất kiền thành, nhưng hiểu được chút ít Phật pháp rồi bèn
kiêu căng ngã mạn, coi thường người khác, vậy là sai mất rồi! Không những
học Phật sai mà học Nho cũng sai luôn! Quý vị thấy Nho gia nói rất hay:
“Học vấn thâm thời ý khí bình” (lúc học vấn sâu xa, tính tình điềm đạm).
Học vấn của một người phải nhìn từ đâu? Tâm bình khí hòa thì người ấy có
học vấn. Viết thì một tay văn chương lỗi lạc, giảng đến nỗi hoa trời rơi
lả tả, nhưng trong tâm ngạo nghễ, ngã mạn, ghen ghét, nóng giận, người ấy
có học vấn hay chăng? Không có học vấn, đó là kiến thức nông cạn! Quý vị
muốn tu học pháp thế gian, xuất thế gian vì sao tu học lại trở thành như
vậy? Do đánh mất cơ sở, không chiếu theo cơ sở ấy để tu học!
Trước kia bậc Tiểu Học của
Nho Gia học cuốn Ngũ Chủng Di Quy[12] do Trần Hoằng Mưu biên soạn vào thời
Thanh xưa kia. Trong quá khứ tôi đã từng bảo mọi người đọc; do đấy, chúng
ta có thể thấy tông chỉ dạy học của nền giáo dục Tiểu Học thời cổ quả thật
là tu Định. Lúc tôi ở Đài Trung, thầy Lý chọn cuốn sách này làm sách tham
khảo phải đọc trong việc tu thân. Trong quá khứ, tôi đã mua rất nhiều bản
Ngũ Chủng Di Quy, mua đến hai ba chục bản, mỗi người một bản, trước kia đã
từng phát ra rồi, nay Ngũ Chủng Di Quy cũng không thấy nữa, tôi thấy trong
tủ sách cũng hoàn toàn không có cuốn này.
Nếu quý vị chẳng khéo dạy dỗ
trẻ nhỏ thì cái đầu nhỏ bé của chúng cũng suy nghĩ lung tung. Làm thế nào
để dạy chúng tu Định? Đương nhiên chẳng thể bắt chúng khoanh chân ngồi
yên. Trẻ nhỏ không ở yên một chỗ được thì có thể dạy nó học thuộc sách.
Thuộc sách là tu Định ư? [Hễ phải] học thuộc sách thì nó không thể suy
nghĩ lung tung. Vì thế, Tứ Thư, Ngũ Kinh, bách gia chư tử, bộ nào cũng dạy
chúng nó học thuộc, không giảng giải. Trước kia, từ bảy tuổi đến mười hai
tuổi là Tiểu Học, những thứ học ở Tiểu Học là quét dọn[13], ứng đối, toàn
là học làm người như thế nào, nói năng như thế nào. Giáo dục Tiểu Học nhắm
vào đức hạnh, ngôn ngữ, mỗi một cử chỉ hành động phải có quy củ, nói năng
phải có chừng mực. Do được huấn luyện như vậy, những đứa nhỏ mười một,
mười hai tuổi ấy rất giống với người lớn, chúng cũng có oai nghi, mỗi một
cử chỉ đều chững chạc. Đấy là giáo dục về cách sống, dưỡng thành từ nhỏ.
“Tiểu thành nhược thiên tánh” (tập thành từ nhỏ nên giống như là bẩm sinh
vậy). Bồi dưỡng tập thành từ nhỏ, nên giống như được thiên phú. Từ nhỏ đã
được bồi dưỡng giáo dục cách sống, hầu hạ phụng sự cha mẹ như thế nào, cư
xử với huynh trưởng ra sao, quan hệ giữa người và người được dạy rất rõ
ràng, phân chia vai vế rất rành mạch, hiểu được lễ tiết. Đấy chính là cơ
sở thật sự của xã hội trật tự, gia đình hòa thuận, xã hội an định. Ngoài
ra là đọc sách, đọc sách phải học thuộc, thầy phải dạy từng câu. Do vì
sách thời cổ không có ký hiệu chấm câu; lúc đọc, thầy chấm câu cho nó.
Hiện thời, quý vị thấy [những tác phẩm] trong Tứ Khố Toàn Thư không có ký
hiệu chấm câu. Do vậy, lúc đọc thầy phải dùng bút đỏ để khuyên[14] từng
câu, dạy đọc từng câu. Đó là vì trước kia sách vở không chia thành từng
đoạn, [mỗi đoạn] có tựa đề nhỏ (tiểu tiêu đề) giống như hiện thời. Chẳng
hạn kinh Vô Lượng Thọ của chúng ta được chia thành bốn mươi tám đoạn, mỗi
đoạn đều có tựa đề. Xưa kia không có, cách này do người đời sau đặt ra. Vì
thế, thầy phải dạy đọc từng câu, rồi đốc thúc trẻ nhỏ học thuộc.
Trước kia, tiêu chuẩn đọc
sách là đọc đến mười lượt mà chưa thuộc được thì có nghĩa là đứa trẻ ấy
chưa thể dạy [như vậy] được, nó chưa tiếp nhận được. Vậy thì làm sao? Mỗi
người thiên phú khác nhau. Xưa kia trong mỗi buổi học, đứa trẻ nào thiên
phú tốt, căn tánh lanh lợi, thông minh, mỗi một ngày có thể dạy cho nó số
lượng nhiều hơn một chút, có thể cho nó học mười dòng, học hai mươi dòng.
Hai mươi dòng là một trang, mỗi một trang của chúng ta đây là hai mươi
dòng. Khi đọc hai mươi dòng đó mười lượt mà đứa trẻ ấy nhất định thuộc
được, tức là với sức nó, có thể dạy cho nó hai mươi dòng. Mười lần không
thuộc thì giảm bớt đi, dạy mười dòng thôi. Nếu mười dòng vẫn không thuộc
được thì dạy năm dòng. Năm dòng vẫn không thể thuộc thì dạy ba dòng, dùng
phương pháp ấy. Do đó, một vị thầy thường dạy mười, hai mươi đứa học trò,
mỗi trò đọc mấy dòng khác nhau tùy theo năng lực của từng đứa. Nếu năm sáu
lần nó đã thuộc thì là đứa có thiên phận (bẩm tánh) tốt, thầy phải đốc
thúc nó học một trăm lần, phải đọc cho lớn tiếng, như vậy thì nó sẽ vĩnh
viễn không quên. Đứa kém hơn, thiên tư tệ hơn một chút, nhất định phải đọc
tới mười lần mới thuộc được thì thầy phải đốc thúc nó đọc hai trăm lần. Do
vậy, căn tánh so ra kém cỏi hơn một chút thì phải siêng năng, phải học
nhiều hơn; như câu nói: “Nhân nhất năng chi, kỷ thập chi”, [tức là] người
ta một lần là được, mình phải dụng công mười lần, dùng siêng năng để bù
vụng về, thầy đốc thúc trò học nhiều lần hơn.
Đến hôm sau vào lớp, trước
buổi học, phải nhẩm lại những bài hôm trước một lượt rồi mới học bài ngày
hôm nay. Như vậy, ngày nào cũng phải ôn luyện bài hôm trước, ngày ngày đều
phải nhẩm lại bài hôm trước, đem những điều đã được dạy lần trước nhẩm lại
hết một lượt. Học tới hết cuốn sách đó, phải đọc lại những phần trước một
lượt rồi mới cho quý vị học cái mới. Vì thế, ngày ngày phải nhẩm lại sách,
ghi nhớ vào tâm. Sách nhất định không giảng, không có ý nghĩa gì cả, học
trò nhỏ không hiểu được đạo lý ấy, mục đích nhằm huấn luyện cái Định, huấn
luyện ký ức, cho nên dùng phương pháp này.
Đại khái đến năm mười hai
tuổi, đứa nào thiên phận tốt thì đã đọc mười ba kinh[15], đọc tác phẩm của
chư tử. Tác phẩm của chư tử phải chọn lựa. Rồi lại còn học một phần Sử,
tức là đọc hai mươi lăm bộ sử. Hai mươi lăm bộ sử ấy không thể đọc toàn
bộ, cũng phải chọn lựa, hoặc là đọc Cương Giám Dị Tri Lục[16], tức là sách
viết về đại cương lịch sử Trung Quốc. Nếu là đứa có thiên phận cao, có căn
bản thì đọc bộ Thông Giám Tập Lãm[17], mọi thứ đều phải đọc thuộc. Từ năm
bảy đến mười hai tuổi liền hoàn thành toàn bộ. Quý vị hỏi nó câu nào nằm
trong cuốn sách nào, trang thứ mấy, dòng thứ mấy nó đều biết cả. Đúng là
thuộc nhuyễn nhừ. Nó không khởi vọng tưởng, tâm định rồi. Do vậy, xưa kia
cổ nhân lúc mười hai, mười ba tuổi, tâm rất thanh tịnh, rất định, do dùng
phương pháp này để huấn luyện vậy.
Bây giờ khó lắm, hoàn cảnh
quá tệ hại. Trẻ nhỏ hiện thời đều coi TV, chơi video game, bảo chúng nó
học thuộc sách chúng không thể làm được: “Ai cũng đi chơi hết, kêu mình
con đọc sách thôi à!”, nó bèn không làm. Hoàn cảnh hiện thời đã khác hẳn,
quá khác biệt so với hoàn cảnh dạy học xưa kia. [Thế nên] quý vị hiểu cổ
nhân vì sao có thể khai ngộ, vì sao có thể chứng quả. Con người hiện tại
rất thông minh, hết thảy hoàn cảnh đều tốt đẹp hơn trước, vì sao tu mấy
chục năm vẫn không thể khai ngộ, không thể chứng quả, nay quý vị đều thấy
rõ ràng, quý vị hiểu được căn bệnh phát sanh từ đâu. Cổ nhân tôn sư trọng
đạo, thầy dạy sao trò học vậy, thật thà đọc sách, thật thà học thuộc sách.
Do vậy, giai đoạn Tiểu Học chính là học Định.
Học Huệ thì Huệ là gì? Đọc,
đọc rất thuộc thì gọi là Căn Bản Trí. Căn Bản Trí là gì? Kinh Bát Nhã
giảng là “Bát Nhã vô tri”, vô tri là Căn Bản Trí. Trước hết là vô tri, cái
gì cũng đều học thuộc hết, cái gì ta cũng không hiểu, hoàn toàn là học cho
thật thuộc làu. Thời cổ trường học không có bậc Trung Học, học Tiểu Học
xong liền lên Thái Học, nay chúng ta gọi Thái Học là Đại Học. Tiểu Học kết
thúc, mười ba tuổi bèn vào Thái Học. Trong Thái Học dạy những gì? Giảng
giải, nghiên cứu, thảo luận. Chẳng hạn như giảng giải Tứ Thư, nghiên cứu,
thảo luận Tứ Thư, không đọc thuộc, hoàn toàn là giảng giải. Cổ nhân nói
“đọc sách vui”, thật vui sướng lắm! Giảng giải là thầy dẫn cả đám học sinh
hằng ngày du sơn ngoạn thủy, “có việc học trò phải ra sức”, thầy ngồi xe,
học trò phải đẩy xe cho thầy, chuẩn bị rượu, thức ăn lên đường du hành. Vì
sao? Thầy lẫn trò đã thuộc làu làu những sách vở ấy rồi, mọi người chẳng
cần phải mang theo sách. Giảng đến chương thứ mấy, trang thứ mấy, vừa đi
vừa nghiên cứu, thảo luận, đi rong chơi cả hai ba tháng, là dạy xong khóa
trình ấy. Xưa kia học hành vui vẻ chứ không khổ sở như hiện thời, [quá
trình học] được chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là học thuộc
sách, giai đoạn thứ hai là giảng giải. Lúc nhỏ không hiểu chuyện thì
chuyên học thuộc; đến năm mười ba, mười bốn tuổi trí huệ mở mang, có thể
nghiên cứu, thảo luận. Cách dạy học ấy quả thật cao minh hơn cách dạy học
hiện thời nhiều lắm!
Từ khi [chế độ] Dân Quốc được
thành lập đến nay, lối dạy học truyền thống của Trung Quốc bị phế bỏ, chọn
theo cách giáo dục của Tây Phương, tệ hẳn đi. Căn Bản Trí không có, Hậu
Đắc Trí khỏi cần bàn đến nữa! Căn Bản Trí là vô tri, Hậu Đắc Trí là Vô Sở
Bất Tri (không gì không biết). Quý vị thấy trong cách dạy học trước kia:
Trẻ con mới mười mấy tuổi, chưa đến hai mươi tuổi (hai mươi tuổi sẽ làm lễ
Gia Quan, tức lễ đội mũ), đi thi đậu Cử Nhân, đỗ Tiến Sĩ (Cử Nhân là thi ở
tỉnh, Tiến Sĩ là thi ở cấp quốc gia), thường được phái đi làm quan, mười
mấy tuổi đã làm huyện trưởng, làm huyện thái gia (ông quan huyện)! Người
ta coi sóc việc cai trị có lớp lang, hợp lý. Nay những đứa trẻ mười mấy
tuổi, chuyện gì cũng không biết! Phương pháp, chế độ giáo dục khác nhau,
thâu được hiệu quả khác nhau.
Tại Đài Loan, ông Trương Linh
soạn bài Tổng Thống Kỷ Niệm Ca cũng là một Phật giáo đồ kiền thành. Trong
quá khứ, khi tôi giảng kinh, hai vợ chồng ông mỗi buổi đều đến nghe, chưa
hề thiếu buổi nào. Nay hai vị đều đã khuất bóng cả rồi. Cư sĩ Trương Linh
năm mười chín tuổi làm huyện trưởng, [trong số những người] làm huyện
trưởng dưới thời Dân Quốc, e rằng ông ta là người trẻ tuổi nhất. Đấy là
cách dạy dỗ giáo dục khác nhau, phương thức khác nhau; cho nên chúng ta
hiểu trước kia giáo dục của Nho Giáo và Phật giáo tốt đẹp, quá tốt đẹp!
Quý vị chiếu theo phương pháp ấy mà tu học, có thể nói là những hạng thiên
bẩm từ bậc trung trở lên đều có thể thành tựu. Vứt bỏ, không chiếu theo
quy củ ấy, không chiếu theo quy củ sẽ không thành vuông - tròn[18] được!
Nhất định phải tuân thủ quy củ!
Hiện tại chúng ta có cần bắt
đầu học từ Tiểu Thừa hay chăng? Vấn đề này hết sức nghiêm túc, phải xây
dựng cơ sở từ đây. Do vậy, chúng tôi buộc mọi người đọc Tứ Thư, tôi định
ra bảy môn học cho các đồng tu Tịnh Tông. Trong bảy môn học ấy, ba môn là
căn bản của Tông chúng ta: Vô Lượng Thọ Kinh, A Di Đà Kinh Yếu Giải và Phổ
Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, tức là chọn ra ba kinh quan trọng nhất trong năm
kinh. Tôi chọn lựa như vậy, không bàn bạc mà hợp ý các cụ Hạ Liên Cư,
Hoàng Niệm Tổ. Chúng tôi không thương lượng trước, tôi chọn lấy những bộ
đó, họ cũng chọn các bộ ấy. Ngoài ra, thêm vào bốn thứ tương đương những
kinh luận của Tiểu Thừa. Về kinh Tiểu Thừa, chúng tôi chọn bộ A Nan Vấn Sự
Phật Cát Hung Kinh; ngoài ra, chúng tôi chọn Tứ Thư của Nho Gia Trung
Quốc, Liễu Phàm Tứ Huấn và Cảm Ứng Thiên Vựng Biên. Gộp lại, tổng cộng có
bảy loại. Nho, Phật, Đại, Tiểu Thừa đều có, phân lượng không nhiều. Thật
sự từ bảy môn này mà thâm nhập, đủ cho chúng ta dùng suốt cả một đời rồi!
Sau đấy, thật thà niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ, không ai không thành tựu.
Chúng tôi chọn hai bộ sách
Liễu Phàm Tứ Huấn và Cảm Ứng Thiên Vựng Biên thay cho Giới Luật. Đương
nhiên hiện thời mọi người phát tâm học Sa Di Luật Nghi Yếu Lược là chuyện
hết sức khó có. Y theo bộ Sa Di Luật Nghi Yếu Lược này mà tu học thì nói
cách khác, chúng ta có thể bỏ qua Cảm Ứng Thiên Vựng Biên và Liễu Phàm Tứ
Huấn, một bộ Sa Di Luật Nghi này có thể thay cho hai bộ sách kia, chúng ta
phải nghiêm túc học tập bản luật này.
Nhưng tôi hy vọng mọi người
phải thông thuộc hai bộ Cảm Ứng Thiên Vựng Biên và Liễu Phàm Tứ Huấn, vì
sao? Chúng có thể giúp cho các đồng tu tại gia, có thể phổ cập trong xã
hội. Đặc biệt là Liễu Phàm Tứ Huấn, Cảm Ứng Thiên Vựng Biên đều do người
Hoa viết. Người Hoa đọc sách của người Hoa sẽ cảm thấy đặc biệt thân
thiết, vui lòng thọ trì. Chúng ta phải thấu hiểu, phải biết rõ điều này.
Vì thế, Ấn Quang đại sư không đề cao Giới Luật mà lại hướng về quảng đại
xã hội đề cao Liễu Phàm Tứ Huấn và Cảm Ứng Thiên, thâu được hiệu quả rất
tốt, khiến cho mọi người hiểu rõ nhân quả, tin sâu nhân quả, đoạn ác tu
thiện.
Liễu Phàm Tứ Huấn dạy quý vị
nhận thức nhân quả, tin sâu nhân quả. Cảm Ứng Thiên dạy quý vị đoạn ác tu
thiện. Cảm Ứng Thiên viết về tiêu chuẩn thiện - ác. Nói cách khác, tông
chỉ của hai bộ sách này là “Chớ làm các điều ác, vâng làm các điều lành”.
Sa Di Luật Nghi Yếu Lược cũng thuộc về loại này. Giống như mấy câu quan
trọng, chúng ta nhớ được mấy câu là được rồi, thường dùng mấy câu đó để
phản tỉnh, kiểm điểm, đó là chân chánh tu hành. Chúng ta lại xem tiếp đoạn
kinh văn thứ năm kế đó:
Ngũ: Nhân thủ Thập Giới, lược
giải sổ ngữ.
(Năm, do giữ Thập Giới, lược giải mấy lời)
Do vì những đạo lý trên đây
là tiêu chuẩn giáo học nhà Phật, là nguyên tắc của giáo học Phật giáo; căn
cứ vào những nguyên tắc này, lấy Thập Giới làm tiêu chuẩn, thêm vào những
giải thích đơn giản, nên gọi là “Lược Giải”. Liên Trì đại sư soạn lược
giải, Hoằng Tán đại sư soạn lời giải thích chi tiết. Như vậy, những lời
chú thích ở dưới là của Hoằng Tán đại sư[19] chú thích thêm. Hoằng Tán đại
sư là người đời Thanh, sợ chúng ta xem Lược Giải vẫn chưa thể thấu hiểu ý
nghĩa của kinh, chẳng biết thực hiện từ chỗ nào. Do vậy, Ngài chú giải
tường tận cho chúng ta. Chúng ta thấy Liên Trì đại sư soạn phần Lược Giải
rất vắn tắt, không đầy mấy trang, thấy phần Tăng Chú (chú thích bổ sung)
chú thích rất nhiều. Những dòng in theo lối “đảnh cách” đều là do đại sư
Liên Trì đã viết, tức là phần Lược Giải. Những dòng in thấp xuống một chữ
chính là lời Tăng Chú của Hoằng Tán đại sư.
Lục, sử mông học tri sở hướng
phương.
(Sáu, để kẻ mới học biết được phương hướng)
“Mông học” tức là sơ học.
Những kẻ sơ học chúng ta biết được phương hướng, biết tông chỉ tu học,
biết phải dụng công từ nơi đâu. Điều này quả thật rất quan trọng.
Thất, hảo tâm xuất gia giả,
thiết ý tuân hành, thận vật vi phạm.
(Bảy, kẻ hảo tâm xuất gia, dốc ý tuân hành, cẩn thận chớ vi phạm)
Đoạn văn này hết sức khẩn
yếu. Cả ba câu đều rất quan trọng. “Hảo tâm” là chân chánh phát tâm, “xuất
gia” vì để liễu sanh tử, vì độ chúng sanh. Đấy là hảo tâm xuất gia; chứ
chẳng phải vì trốn tránh thực tại mà xuất gia, chẳng phải vì ở trong thế
gian bị đủ mọi vùi dập, [vì bị thất bại mà xuất gia] thì gọi là “tiêu
cực”. Không phải vậy, hảo tâm xuất gia là tích cực, đối với Phật pháp có
trình độ hiểu biết, giác ngộ kha khá. Trong các nghề nghiệp của thế gian,
chúng ta chọn lựa nghề nghiệp này, chúng ta biết trong hết thảy các nghề
nghiệp hiện thời, nghề nghiệp này thù thắng nhất. Đây là hạnh nghiệp giác
ngộ, là hạnh nghiệp liễu sanh tử, xuất tam giới, giúp cho hết thảy chúng
sanh giác ngộ, giúp cho hết thảy chúng sanh liễu sanh tử, xuất tam giới.
Hạnh nghiệp này chính là hạnh nghiệp vĩ đại nhất, tích cực nhất. Chúng ta
phát tâm theo đuổi công tác giáo dục Phật giáo, tuyệt đối chẳng phải là
tiêu cực, tuyệt đối chẳng phải là trốn tránh hiện thực xã hội, người thế
gian không hiểu đạo lý này, hiểu lầm Phật pháp, nhìn thành ra như vậy đó!
Đương nhiên, quả thật có
không ít những kẻ vì trốn tránh hiện thực xã hội mà xuất gia, tạo thành
khá nhiều hiểu lầm cho người khác. Những kẻ ấy chúng ta không bàn đến; còn
bản thân chúng ta xuất gia là vì lẽ gì? Chúng ta hiểu rõ, chúng ta nhận
thấy nền giáo dục này tốt đẹp, có giá trị, phải nên hoằng dương cho rạng
rỡ, rộng lớn, đáng tiếc không có ai làm! Không có ai làm thì mọi người
không biết, không hiểu, không nhận thức. Chúng ta hiểu rõ, hiểu trọn vẹn,
nhận thức thì bản thân chúng ta phải gánh vác trách nhiệm, nghiêm túc nỗ
lực làm, làm cho tốt. Chúng ta xuất gia là vì vậy!
Phát tâm xuất gia như thế,
quý vị nhất định phải tôn sư trọng đạo. Chúng ta đọc cuốn sách này thì
Liên Trì đại sư là thầy của chúng ta, Hoằng Tán đại sư là thầy của chúng
ta, chúng ta phải tôn trọng những giáo huấn của các Ngài trong cuốn sách
này. Chúng ta phải kính trọng thầy, phải tôn trọng lời các Ngài giáo huấn,
phải chú tâm lãnh hội nghiên cứu, y giáo phụng hành. Đấy là tôn sư trọng
đạo. Do vậy, phải “thiết ý tuân hành” (dốc ý tuân hành), dùng ý chí khẩn
thiết tuân thủ phụng hành. “Thận vật vi phạm” (cẩn thận chớ vi phạm):
Chẳng được trái nghịch, chẳng được vi phạm lời thầy giáo huấn. Lại xem
tiếp đoạn thứ tám:
Bát, nhiên hậu cận vi Tỳ Kheo
giới chi giai thê, viễn vi Bồ Tát Giới chi căn bản.
(Tám, sau đấy gần thì
là bậc thang cho giới Tỳ Kheo; xa thì là căn bản cho giới Bồ Tát)
Đây là ba giai đoạn. Cơ sở
trong giai đoạn thứ nhất không tốt thì đừng mong chi giai đoạn thứ hai,
giai đoạn thứ ba càng khỏi cần phải nói đến nữa. Do vậy, phải khéo tu giai
đoạn này mới có thể tiếp nhận giới Tỳ Kheo. Giới Tỳ Kheo tu tốt đẹp rồi
mới có thể tiếp nhận giới Bồ Tát. Đây là ba giai đoạn, ba nấc thang. Chúng
ta chân tu, không trọng hình thức. Do vậy, mọi người hảo tâm xuất gia,
“chúng tôi muốn mau được thọ Tam Đàn Đại Giới, ngay lập tức làm Bồ Tát”,
ấy là giả, không thật đâu! Chúng ta làm Sa Di suốt đời trọn chẳng nhục
nhã, chúng ta tu thật, chúng ta là Sa Di thật sự, còn họ là Bồ Tát giả,
khác hẳn! Do vậy, thực hiện công phu chậm chạp, thật thà, chất phác nơi cơ
sở mới là chân thật. Đoạn tiếp theo nói:
Cửu, nhân Giới sanh Định.
Nhân Định phát Huệ. Thứ kỷ thành tựu thánh đạo, bất phụ xuất gia chi chí
hỹ.
(Chín: Nhân Giới sanh Định,
nhân Định phát Huệ. Ngõ hầu thành tựu thánh đạo, chẳng phụ chí xuất gia)
Đây là thứ tự. Trình bày thứ
tự thật rõ ràng, minh bạch. Do vậy, cơ sở của chúng ta là Giới - Định. Sa
Di Luật Nghi là tu đại căn bản Giới và Định. Tu Giới và Định ấy nơi đâu?
Tu trong cuộc sống hằng ngày, tu nơi khởi tâm động niệm. Đó gọi là tu
hành! Chứ không phải mỗi ngày cầm lên đọc mấy biến là tu hành, không phải
vậy! [Tu Giới] nơi khởi tâm động niệm, xử sự, đãi người, tiếp vật, tu Giới
trong ấy. Giới là tuân thủ quy củ, hết thảy đều làm đúng pháp. Tu Định như
thế nào? Tu tâm thanh tịnh trong những điều ấy. Tôi vừa mới trình bày cùng
quý vị rồi đó: Hai mươi bốn môn oai nghi là những khuôn mẫu sanh hoạt, mà
cũng là cuộc sống thường nhật, chúng ta phải dùng những tâm thái gì để đối
xử với con người, đối sự, đối vật.
Tuy trên văn tự nói là “sự
sư” (thờ thầy), tức là đối với thầy, nhưng theo như hết thảy các kinh dạy
thì là đối với Phật, Phật đại biểu cho đại chúng. Phẩm Phổ Hiền Hạnh
Nguyện dạy “lễ kính chư Phật”, chư Phật là ai? Hết thảy chúng sanh đều là
chư Phật. Không chỉ hữu tình chúng sanh là chư Phật, mà vô tình chúng sanh
cũng là chư Phật. Bàn ghế, thực vật, khoáng vật đều là chư Phật. Hữu tình
chúng sanh có Phật Tánh là chư Phật, vô tình chúng sanh có Pháp Tánh, cũng
là chư Phật. Pháp Tánh và Phật Tánh là một tánh. Do vậy, kinh Hoa Nghiêm
nói: “Tình và vô tình, đồng viên chủng trí”. Lấy Phật làm đại biểu, đối
với đức Phật chúng ta cung kính nhất thì đối với hết thảy mọi người cũng
phải có cùng một cái tâm cung kính giống hệt như vậy. Đối sự, đối vật
quyết định không có sai khác, cùng một cái tâm cung kính.
Hai mươi bốn Oai Nghi được
nói đến ở đây chính là những khuôn mẫu sanh hoạt thường nhật. Sách này dạy
“thờ thầy”, thì Thầy ở đây cùng một ý nghĩa với chữ Phật được nói trong
Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm. Chúng ta tôn kính thầy, dùng cùng một cái tâm
tôn kính thầy đối với hết thảy đại chúng, đối với hết thảy mọi người, đối
với hết thảy sự, đối với hết thảy vật thì quý vị mới biết học Phật! Cung
kính Phật, cung kính thầy, nhưng những ai không phải thầy mình bèn khinh
mạn họ một chút là trật rồi! Làm sao quý vị đắc Định cho được? Làm sao quý
vị đạt cái tâm thanh tịnh cho được? Do vậy, kinh nói đến Phật, nói đến
thầy là nói đến đại biểu. [Hiểu] như vậy mới là đúng.
Đoạn văn này nêu rõ thứ lớp,
thứ tự theo chiều thuận, mục tiêu tu học. Chúng ta dựa vào mười giới, hai
mươi bốn oai nghi này, chúng đều nằm trong một chữ Giới. Dựa vào phương
pháp này mới hòng đắc Định, đắc tâm thanh tịnh, đắc Căn Bản Trí. Đắc Định
xong rồi mới có thể nghe kinh, mới có thể tham Thiền, mới có thể niệm
Phật, mới có thể học rộng nghe nhiều, thành tựu Hậu Đắc Trí cho chính
mình. Hậu Đắc Trí không gì không biết: “Bát Nhã vô tri, không gì không
biết”. Do vậy, trước hết phải đạt được Vô Tri, sau đấy mới sẽ không gì
không biết. Thứ tự thuận này chẳng được đảo lộn. Nếu đảo lộn thì Căn Bản
Trí không có, Hậu Đắc Trí hoàn toàn không có. Chẳng thể coi tà tri tà kiến
là “không gì không biết”; nếu vậy là lầm lẫn quá đỗi rồi! “Không gì không
biết” là Chánh Tri Chánh Kiến, phải hiểu điều này!
Hôm nay chúng tôi giảng đến
đây. Những điều này không cần giảng nhiều, quan trọng là phải thật sự thấu
hiểu được ý nghĩa, hiểu rõ chúng ta nên làm như thế nào? Tu học như thế
nào thì sẽ đạt được lợi ích lớn lao ấy!
Phần 3:
Xin xem đoạn mười thuộc trang
chín. Câu cuối cùng trong phần chú giải cho đoạn chín chính là một câu nói
của Đàm Nhất[20] luật sư: “Tam thế Phật pháp, Giới vi căn bản, bản chi bất
tu, đạo viễn hồ tai” (Giới là căn bản, không tu cái gốc thì xa cách đạo
lắm thay). Câu này rất quan trọng. Trong cả một đời này, chúng ta thường
nghe nói: “Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn” (Thân người khó được,
Phật pháp khó nghe). Được thân người, nghe Phật pháp, quả thật chẳng dễ
dàng, quả thật là may mắn lớn lao. Trong kinh thường nói đến điều này, như
bài kệ Khai Kinh có câu: “Bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ” (Trăm ngàn muôn
kiếp khó gặp gỡ!), cổ đức nói: “Vô lượng kiếp lai hy hữu nan phùng đích
nhân duyên” (Nhân duyên hy hữu khó gặp được từ vô lượng kiếp đến nay).
Những câu nói ấy không giả chút nào hết! Nhưng mọi người thường rất hờ
hững, rất vô tâm bỏ lỡ qua, không để ý đến! Nói cách khác, hoàn toàn chẳng
thể nghiệm tánh chân xác, tánh trọng yếu của những câu nói này. Nếu ai
thật sự hiểu rõ, người ấy nhất định quý tiếc cuộc đời này vô cùng, cuộc
đời này cũng là một cơ duyên, cơ hội cho chúng ta phá mê khai ngộ, liễu
sanh thoát tử. Chúng ta gặp được cơ hội thì phải làm sao mới có thể vượt
thoát luân hồi lục đạo, thật sự liễu sanh thoát tử? Nhất định phải y giáo
phụng hành! Nếu tự cậy mình thông minh, tự mình muốn làm theo một cách
[riêng] thì uổng phí công phu, mà cũng là kẻ cuồng vọng, ngu si như người
xưa đã nói! Không thể tin tưởng, đấy là ngu si! [Tuy] tin tưởng nhưng ỷ
mình thông minh, muốn làm theo cách khác, đấy là cuồng vọng! Hai điều ấy
đều là nguyên nhân gây nên thất bại.
Mấy câu nói này của Đàm Nhất
luật sư hết sức hay: “Tam thế chư Phật" là quá khứ, hiện tại, vị lai.
“Giới vi căn bản” (Giới là căn bản): Giới ở đây được dùng theo nghĩa rộng,
không phải là [hiểu theo] nghĩa hẹp, nhất định phải hiểu cho rõ ràng! Theo
nghĩa rộng, điều quan trọng nhất là phải tuân thủ lời thầy dạy răn, đó
chính là cái mà xưa kia chúng ta gọi là “sư thừa”. Học như thế nào? Mới
học, nhất định phải học theo một người thì quý vị mới có thành tựu, đấy
gọi là “học theo một nhà”. Vừa bắt đầu liền học rất nhiều mà nghiễm nhiên
có thành tựu thì những người thành tựu ấy đều là thiên tài, là bậc tái
lai, chắc chắn không phải là phàm phu. Xem trong lịch sử, chúng ta thấy
người vừa bắt đầu bèn học rộng nghe nhiều, được thành tựu thì trong lịch
sử có lẽ chỉ có một mình Vĩnh Gia thiền sư. Vĩnh Gia là thiên tài, vừa bắt
đầu Ngài đã nghe rất nhiều pháp sư giảng kinh thuyết pháp. Trước ngài Vĩnh
Gia, sau ngài Vĩnh Gia, chúng ta đều chưa từng thấy [có ai được như vậy].
Ngài đúng là một bậc thiên tài. Ngài đến gặp Lục Tổ, Lục Tổ ấn chứng cho
Ngài, vấn đề được giải quyết ngay khi ấy. Được ấn chứng rồi, Ngài bèn muốn
đi ngay, Lục Tổ giữ ở lại một đêm, bảo Ngài: “Vì sao ông đi lẹ như thế?
Hãy ở lại một đêm!” Do đó, Ngài bèn ở lại Tào Khê một đêm, đấy chính là
câu chuyện “nhất túc giác” (một đêm giác ngộ) rất nổi tiếng của Thiền
Tông. Vị này là bậc tái lai, là thiên tài, chúng ta không thể học theo
được, chúng ta không phải là thân phận ấy, không có tư cách đó. Vì thế,
nhất định phải thật thà học theo một người, học theo lời dạy của một nhà
mà thôi!