Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Trường Hạ Phổ Quang - Tây Úc
(5-15/7/2005)


...... ... .

 

Mục Lục


 

Lời ngỏ
Lời Khai Thị của HT Hội Chủ Thích Như Huệ
Đạo Tràng. HT Thích Bảo Lạc
Cm niệm ân Sư. TT Thích Quảng Ba
Câu chuyện về con trâu (Lời khai thị). TT Thích Phước Nhơn
Nhạc - Nghiệp Thức. Thơ HT Bảo Lạc. Nhạc: Đoàn Anh Tuấn
Phong Kiều Dạ Bạc. TT Thích Phước Nhơn (phóng dịch thơ Trương Kế)
Vầng Trăng Mùa Đông (thơ). TT Thích Phước Nhơn
Vầng trăng mười sáu. TT Thích Trường Sanh
Hạnh tinh tấn. Thích Nguyên Trực
Cúng Đại Bàng. Thích Nguyên Tạng
Phổ Quang Rạng Chiếu ( thơ). Thích Trường Sanh
Hạnh Phúc của người tu (tùy bút). Thích Phổ Huân
Tu sao cho tròn (thơ). Thích Viên Thành
Mười ngày An Cư tại Chùa Phổ Quang. Thích Thiện Đạt
Tranh không lời. (thơ) Sông Thu
Chuyện Chuông Trống. Thích Hạnh Tịnh
Đời Tu (thơ. Thích Viên Tịnh
Hương thơm lan khắp (thơ). Thích Nữ Như Tuyết
Thập Tín của Ngài Triệt Ngộ, Tổ 12 của Tịnh Độ Tông. Thích Nữ Bảo Sơn
Câu đối. Thích Viên Tịnh
Nẻo về. TN. Hữu Tịnh
Vè Trường Hạ. Thích Đồng Thanh
Ta hẹn (thơ). Viên Huệ
Cảm niệm tri ân. Thanh Phi
Đạo Tâm Đạo Tình. Như Trí
Thành kính tri ân. Diệu Hiếu
Nhớ Mãi Tây Úc. Thích Viên Tịnh
Thư gởi Ba Mẹ. Minh Hỷ
Từ Darwin nhớ về Perth....Tâm Quang
Tịnh Độ Trong Ta (thơ). Viên Huệ
Trần tình. Minh Hỷ
Four attempt Tuệ Quang
Sự cố gắng lần thứ tư Thiện Tuệ dịch
Văn tưởng niệm Hòa Thượng Thích Đỗng Minh
Cảm xúc của một người con Phật. Giác Thùy
Tâm sự của một Phật tử. Vạn Thiện
Không Đề Nguyên Trực
Tục Lụy Giác Thịnh
Niềm cảm xúc - Minh Tấn  
Thần Kỳ Cảm Ứng Minh Tánh
Tiếng Còi Phổ Quang Vọng Thức
Rửa Chén Giác Thịnh
Cảm nghĩ các em nhỏ
Niềm tin. Diệu Khánh
Nhạc - Nghiệp Thức. Thơ HT Bảo Lạc. Nhạc: Đoàn Anh Tuấn
Tường thuật Khóa An Cư Chúc Khâm - Tịnh Tuệ
Tổng kết chi thu
Thông Báo An Cư Kiết Hạ kỳ VI
Thông Báo Khóa Tu Phật Pháp Úc Châu Kỳ V

* Tư liệu Trường Hạ Phổ Quang
Ban Chức Sự Trường Hạ Phổ Quang
Lịch giảng dạy tại Trường Hạ
Thời biểu & Hiệu lịnh
Nội Quy
Lời tác bạch kiết giới
Trường Hạ Phổ Quang Úc Châu đã khai mạc
Danh Sách Chư Tôn Đức Tăng Ni tham dự
Danh Sách Phật tử tại gia tham dự
Danh Sách Phật tử nghe Pháp qua Paltalk
Phương danh cúng dường Trường Hạ

* Hình ảnh:

Lễ Kiết Giới
Kinh hành niệm Phật
Chư Tôn Đức Tăng Ni
Chư Nam Nữ Phật tử tại gia
Chẩn tế Cô Hồn
Các thời thuyết Pháp
Công phu công quả
Hội thảo Phật Pháp tại Trường Hạ
Các thời thuyết Pháp tại Trường Hạ
Quang cảnh Chùa Phổ Quang
Tôn tượng Thập Bát La Hán tại Chùa Phổ Quang
Lễ tưởng niệm HT Đỗng Minh tại Chùa Phổ Quang
Hình ảnh lưu niệm
 


 

Lời ngỏ

Theo truyền thống Tăng Già, hằng năm chư Tăng Ni khắp nơi đều nhóm họp một nơi để kiết giới an cư, hầu thúc liễm thân tâm,trau dồi Giới, Ðịnh, Tuệ, ba môn vô lậu học, tăng trưởng đạo lực sau những tháng ngày bận rộn hoằng pháp lợi sanh. 

Tại quê nhà, chư Tăng Ni thường tác pháp an cư kiết hạ từ ngày 16 tháng 4 đến ngày 16 tháng 7 âm lịch, đúng theo truyền thống “ tam nguyệt an cư, cửu tuần tu học” (ba tháng cấm túc an cư, chín mươi ngày chuyên tinh hành trì tụ học). Tuy nhiên khi PGVN truyền ra hải ngoại, vì hoàn cảnh, địa dư, thời tiết khác biệt đối với quê hương nên khóa an cư cũng theo đó mà thay đổi để phù hợp với thời đại. 

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Ðại Lợi – Tân Tây Lan được thành lập năm 1999, quy tụ hầu hết các tự viện trên toàn liên bang Úc, mỗi năm đều qui tụ lại một trú xứ được chọn trước để an cư tu tập trong mười ngày. 

Bốn kỳ an cư trước đây được tổ chức tại Chùa Pháp Hoa, South Australia (2000), Chùa Pháp Bảo, New South Wales (2001), Chùa Linh Sơn, Victoria (2002), Tu Viện Vạn Hạnh, thủ đô Canberra (2003), Tu Viện Quảng Đức, Victoria (2004) và năm nay, khóa An Cư  Kiết Ðông được tổ chức tại Chùa Phổ Quang, Perth, tiểu bang Tây Úc. 

Tập Kỷ Yếu này ghi nhận hình ảnh sinh hoạt của Trường Hạ Phổ Quang 2005 như một món quà tinh thần kỷ niệm cuối khóa cho mọi hành giả tham dự khóa tu và thân tặng các pháp hữu gần xa. 

Dù hết sức cố gắng trong khả năng, tuy nhiên những thiếu sót chắc chắn không sao tránh khỏi. Kính mong Chư Tôn Ðức và quý Phật tử hoan hỷ góp ý và bổ chính. 

Trân trọng,

Ban Thực Hiện Kỷ Yếu Trường Hạ ^

 

Lời khai thị của Hòa Thượng  Hội Chủ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Kính bạch chư Tôn Đức trong Ban Chức Sự khóa an cư.

 Kính thưa chư thiện hữu tri thức, quý đạo hữu Phật tử

Chúng tôi xin hân hoan chào mừng toàn thể quý vị đã về tham dự mùa an cư Phật lịch 2549 năm nay. Tiếp tục truyền thống tốt đẹp của Tăng già, là hằng năm chư Tăng Ni vân tập về một trụ xứ để An cư kiết giới, thúc liễm thân tâm, trau dồi tam vô lậu học, hầu có thêm đạo lực mà tiếp tục Phật sự, thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh. Theo sự phân công luân phiên cho các tiểu bang và theo tinh thần phát nguyện của mỗi địa phương, năm nay Giáo Hội tổ chức an cư kiết đông tại chùa Phổ Quang, Tây Úc. Thấy được sự hân hoan và niềm phấn khởi của chư Tôn Đức cùng quý Phật tử toàn Úc châu câu hội về đây để cùng nhau tu, học trong 10 ngày, thật là một vinh hạnh cho GHPGVNTNHN-Tây Úc. Về phần Giáo Hội và bản thân tôi rất lấy làm cảm kích, xin tán dương tinh thần tứ chúng đồng tu nầy, đồng thời thành tâm ca ngợi công đức Thượng Tọa Hóa Chủ, Sư cô Trụ trì cùng tăng chúng chùa Phổ Quang và Ban Chức Sự mùa an cư đã và đang tích cực hoàn thành mọi phần vụ để đại chúng có đủ tiện nghi an tâm tu tập.

Nhân trong không khí phấn tấn của ngày khai mạc nầy, xin cùng đại chúng ôn lại những lời Phật dạy để chúng ta làm tư lương trên bước đường tu tập, hoằng pháp lợi sanh; đó là nhắc lại những nguyên tắc sống để trở thành một vị Tỳ kheo và một Phật tử đầy đủ phạm hạnh trong bài kinh “Đại kinh xóm ngựa” (Mahassapuracuttom, Trung Bộ X) để chúng ta làm đề mục cho việc tu tập trong năm nay.

Có 7 nguyên tắc tác thành một vị Sa môn và Phật tử thuần thành:

1. Biết tàm quý

2. Thân hành thanh tịnh

3. Khẩu hành thanh tịnh

4. Ý hành thanh tịnh

5. Mạng sống thanh tịnh

6. Hộ trì các căn

7. Chú tâm cảnh giác.

 Trong kinh Di Giáo Phật có dạy: “Sự tàm quý là chiếc áo phục sức tốt đẹp nhất trong mọi thứ phục sức. Như cái móc sắt, sự tàm quý có năng lực chế ngự mọi thứ phi pháp của con người. Thế nên, nầy các Tỳ kheo, đừng bao giờ quên đức tính ấy…”

Trong trách nhiệm hướng dẫn cho hàng Phật tử, chúng tôi hy vọng quý vị Tăng Ni hành trì nghiêm cẩn 7 nguyên tắc tác thành một vị Sa môn hòa hợp như trên, để tập thể Tăng, Ni để làm gương cho bao lớp người theo sau được đến bến bờ giải thoát, giác ngộ một cách trọn vẹn. Và cũng rất mong mỏi các hàng Phật tử cùng thực hành theo 7 nguyên tắc nầy để thân tâm được an ổn.

Lời Phật dạy luôn là ngọn đuốc soi đường cho chúng ta và luật nhân quả lúc nào cũng là tấm gương phản chiếu mọi lời nói, việc làm của chúng ta. Rất mong đại chúng xây dựng nhiều thiện pháp và tạo nhiều công đức thù thắng để cuộc sống của từng cá nhân được nhiều an lạc, góp phần vào sự trang nghiêm cho Giáo hội và nền hòa bình cho thế giới. Kệ rằng:

“Buộc tâm lấy Giới làm dây

Lắng tâm lấy Định dựng xây đạo tràng

Rõ tâm đuốc Tuệ soi đường

Tâm không cảnh tịch Niết bàn an vui.”

Xin kính chúc chư Tôn đức cùng tất cả quý Phật tử hưởng một mùa an cư đầy pháp vị.

Nam mô Ưu Ba Ly Tôn giả tác đại chứng minh.

Hội chủ, HT Thích Như Huệ

 

 

Đo Tràng

Sa Môn Thích Bảo Lạc

 

Người Phật tử không quan niệm Đạo Phật là một tôn giáo như các đạo giáo khác đã và đang hiện hành trên thế giới hiện nay. Hơn ai hết, đã là người con Phật, chọn nếp sống đạo làm hành trang nhập cuộc của mình, chúng ta ý thức rõ ràng rằng đạo Phật là đạo của sự thật, của sự sống hay nói cách khác là đạo của chân lý như thật. Dựa theo tinh thần ấy mà có người đã sánh ví đạo Phật như hơi thở, như nụ cười, như mọi sinh hoạt hằng nhựt của các chúng đệ tử Đức Phật. Dù là thánh đệ tử sống đời phạm hạnh hay hàng Phật tử bình thường sống có gia đình theo mẫu mực đạo giáo, hẳn tri nhận điều nầy trước hơn ai hết.

Vào thế kỷ thứ bảy Tây lịch nhà học giả kiệt xuất của Phật giáo đã hy hiển trọn đời mình sống đời sống đạo xứng đáng cho chúng ta noi theo học hỏi công hạnh lợi tha của người. Đó là nhân vật sáng giá nổi bật trong lịch sử truyền thừa  đạo giác ngộ tại đất nước Trung Hoa lúc bấy giờ, vẫn vang vọng mãi trong lòng người con Phật khắp cổ kim, Đông Tây. Chiếc bóng thanh thoát Ngài trải dài qua chiều dài lịch sử suốt gần 1,500 năm qua vẫn mãi mãi che rợp bóng mát cho nhân gian bằng chính mạng sống của Ngài cho sự nghiệp dịch kinh Phật truyền lại cho chúng ta hôm nay. Bốn câu thơ phát xuất do chính miệng Ngài khi đích thân đứng trước Phật tích tại Ấn Độ đã cảm niệm như sau:

Phật tại thế thời ngã trầm luân

Kim đắc nhân thân Phật diệt độ

Áo não thử thân đa nghiệp chướng

Bất kiến Như Lai kim sắc thân

Dịch nghĩa:

Lúc Phật tại thế con trầm luân

Nay được thân người Phật diệt rồi

Tiếc thay thân con nghiệp sâu dày

Không thấy thân kim sắc Như Lai

(Thích Bảo Lạc dịch)

Dẫn giải lung khởi như thế để hướng đến chủ đề hầu trình bày một đôi điều mà tác giả nghĩ là thiết thực trong việc hành trì hơn là trên lý thuyết. Đạo tràng nghĩa là gì? Theo định nghĩa đạo tràng là nơi để học đạo, dạy đạo, tham thiền, giảng kinh, thuyết pháp v.v…Từ đó cho ta phân biệt được hai nghĩa:

1. Đạo tràng theo nghĩa hẹp: một ngôi nhà thờ Phật cho gia đình quy tụ con cái lễ Phật, sám hối, tụng kinh, cúng lễ…hướng thiện con cháu sống theo con đường thiện, ngỏ hầu xây dựng nếp sống hiện tại và tương lai cho gia đình được an lạc hạnh phúc, xã hội tốt đẹp thái hòa. Một Niệm Phật đường không chi khác hơn cũng chỉ một ngôi nhà được dùng vào việc công cộng cho bà con láng giềng tới học đạo, luận đạo, tu đạo do một vị tăng hay vị ni chăm sóc hoặc ở hải ngoại cũng có nhiều Niệm Phật đường do Phật tử hảo tâm cho mượn phương tiện cho nhiều người cùng tới học đạo, chia xẻ lẫn nhau kinh nghiệm tu tập nhằm xây đựng bản thân và tập thể trở thành những thành viên tốt của gia đình, những công dân tốt của đất nước. Thậm chí một thảo am, cốc lá thô sơ của chỉ một người tu hay vài người tu nơi miền quê, trên rừng núi, trong hang động… cũng có thể gọi là đạo tràng mà không có gì sai theo như định nghĩa.

2. Đạo tràng theo nghĩa rộng : một ngôi chùa có từ vài vị tăng, ni hướng dẫn, mở khóa tu, lớp học, tổ chức những lễ lược quanh năm cho thập phương bá tánh tới lui hành thiện, gieo duyên lành với Tam Bảo. Một Phật học viện hay Phật học đường rộng lớn có đủ phương tiện ăn ở tu học cho số đông tăng ni nội trú được chia làm nhiều khóa khác nhau để đào tạo tăng tài làm phong phú cho nền Phật giáo. Nói rộng, nơi công viên, một hội trường… tạm thuê mướn hành lễ, thuyết pháp của những vị pháp sư danh tiếng đều là những đạo tràng để cho công chúng nói chung có được cơ hội nếm vị pháp lạc, nhờ đó mà cải thiện được thói hư, tật xấu hay ngay cả nghiệp lực. Như vậy, sự lợi lạc vô cùng lớn lao của một đạo tràng bề thế quy mô không những trong hiện tại mà tác dụng thầm lặng  của nó mang vóc dáng đi vào chiều sâu về lâu về dài không thể nào phủ nhận được.Ngoài ra, theo tôi nghĩ còn một nghĩa tinh tế hơn lại vô cùng thiết thân làm đạo tràng chuyển tải đạo lý đưa vào nhân quần xã hội. Đó là nơi bản thân của mỗi chúng ta (Phật tử) vô hình chung cũng phải là một đạo tràng. Tại sao tôi lại nói như thế có quá lắm không? Thật vậy, bản thân của tăng ni hay người Phật tử chân chính tu học, tức là có hành trì trước hết là lợi lạc cho bản thân và sau lợi lạc được cho nhiều người làm thăng hoa cuộc sống trong tinh thần xây dựng, là chất xúc tác dẽo dai bền chặc có sức hàn gắn những vết thương tâm cho nhiều người đang cần tới để an ủi xoa dịu.

Hẳn tự thân của mỗi một tăng ni không ai lạ gì bài sám Quy Mạng trong thời kinh Lăng Nghiêm buổi sáng ở chùa qua mấy câu cũng nhằm nghĩa kiến lập đạo tràng này như sau:

Kiến pháp tràng ư xứ xứ

Phá nghi võng ư trùng trùng

Hàng phục chúng ma

Thiệu long Tam bảo…

(Thiền sư Duy Sơn Nhiên)

Dịch nghĩa:

Đạo tràng dựng khắp nơi nơi

Lưới nghi phá hết trong ngoài sạch không

Tà ma hàng phục đến cùng

Truyền đăng Phật pháp nói giòng vô chung

(Thiền sư Thích Nhất Hạnh dịch)

Khai đạo tràng hiển chân phá vọng

Dẹp tan muôn trùng sóng hoài nghi

Quần ma uý phục theo về

Ba ngôi báu thịnh như kỳ tượng sơ

(Cố ni trưởng TN. Trí Hải dịch)

Trong phạm vi tập kỷ yếu trường hạ, bài viết cần ngắn gọn để chư vị đọc thoải mái nhẹ nhàng, nên không phải luận bàn thêm nữa. Sau cùng, ở đây tôi muốn cảm niệm công đức của Tăng, Ni, Phật tử đạo tràng Phổ Quang-Tây Úc mùa hạ 2005 năm nay đã cúng hiến cho tăng đoàn và đại chúng mọi mặt để tập thể an tâm tu học 10 ngày của trên dưới 100 người, thật quả là một đạo tràng đúng nghĩa như phần luận dẫn ở trên.

Sa môn Thích Bảo Lạc

Câu chuyện về con trâu
(lời khai thị của TT Hóa Chủ Thích Phước Nhơn)

 Chúng tôi xin được phép kể mẫu chuyện ngắn, thay cho lời chia xẻ đạo tình sáng hôm nay. Chuyện về những con Trâu sống nơi đồng nội. Ở thôn quê nơi nông dân sống bằng nghề cày cấy ruộng nương, nên Trâu là con vật được quý trọng, là phương tiện trợ duyên đắc lực cùng người cày cấy ruộng vườn.

Mỗi năm vào những mùa hè khí trời thanh mát, các chủ chăn Trâu không cần phải lùa Trâu về chuồng khi làm việc xong; đặc biệt những con Trâu cũng hiểu được điều này nên tự động cùng nhau đi tìm nơi nghỉ, và thường chúng đi xa vào rừng. Có một điều lạ dù Trâu được nuôi cách biệt nhau, cứ mỗi vài con có chủ riêng khác. Nói cách khác là chúng không sống theo bầy khi làm việc ban ngày, nhưng khi về đêm lại kết tập chung nhau một bầy. Sự sắp đặt thứ lớp ngủ nghỉ về đêm lại là việc ly kỳ nữa. Chúng kết nhau làm vòng tròn lớn; từ trong tâm vòng tròn là những con Trâu nghé, tiếp theo vòng ngoài là trâu cái mang thai; tiếp theo vòng ngoài nữa là Trâu già bệnh, tiếp theo vòng tròn nữa là trâu cái khoẻ, và cuối cùng vòng ngoài hết, là vòng đai quan trọng, đó là những con trâu khoẻ nhất, mạnh nhất.

Riêng thế nằm nghỉ của những con trâu khoẻ nhất này đều đồng loạt hướng đầu ra ngoài; và tất nhiên chúng phải đặt mình cảnh giác cao độ, sẵn sàng tư thế đối diện với bất cứ kẻ thù nào muốn xâm nhập vào vòng đai bên trong. Như vậy nếu có thú dữ nào dù là chúa sơn lâm như hổ cũng khó dám lui tới, khi phải đương đầu đối diện với những con trâu khoẻ nhất mang trên đầu những cặp sừng sắc bén.

Mẫu chuyện chúng tôi kể đây là có thật, nói lên sự sinh tồn tự nhiên của loài thú đồng loại với nhau; thể hiện tinh thần đoàn kết vững mạnh để cùng nhau mà sống. Điểm hay của các con vật (trâu) này, là dù ban ngày không cùng sống chung, thậm chí có thể không thấy mặt nhau vậy mà hiển bày được sự đoàn kết bảo vệ nhau, nhất là đùm bọc cho những đồng loại yếu đuối hơn.

Thiết nghĩ không phải chỉ có loài trâu mà còn nhiều loại khác nữa mà chúng ta chưa rõ biết; thế thì đối với hàng tu sĩ qua câu chuyện trên làm chúng ta nghĩ ngay đến tình lục hòa trong đạo. Nếu không có lục hòa, chắc chắn hàng sứ giả Như Lai chẳng những không thể phát huy đạo giáo mà còn khó thể tồn tại. Rồi cũng không riêng hàng học Phật xuất gia, mà tại gia cũng vậy; phải làm cách nào thể hiện tình pháp lữ như tình thương yêu thân tộc một nhà, có như vậy từ bi và trí tuệ của người con Phật mới lan rộng phổ cập khắp mọi nơi trên thế giới ./.

 

Phong kiều dạ bạc

Trương Kế

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền

 

PHONG KIỀU DẠ BẠC

 

Bến phong kiều hàng cây tăm tắp

Trời Cô Tô ăm ắp sương mờ

Thuyền nang một lá hững hờ

Ðêm khuya ghé bến đợi chờ bâng khuâng

Mới nửa đêm sao trăng đã lặn?

Quạ kêu buồn như nhắn nhủ ai

Mù sương trải kín sông dài

Đèn câu hay cánh sao cài trên sông

Khách một mình nằm trong khoang lạnh

Nghe hơi sương đượm mảnh chăn đơn

Buồn ru giấc ngủ chập chờn

Bao hình ảnh cũ chờn vờn như mơ

Bỗng chuông chùa từ xa vọng lại

Trong phút giây thư thái lòng trần

Khách đây chùa đó xa gần

Tỉnh trong đêm tối nên vần thơ duyên

TT. Phước Nhơn phóng dịch

 

 

Vầng trăng mười sáu
Thích Trường Sanh

 

Về lịch sử, Đạo Phật có mặt tại Việt nam trên 2000 năm. Hai nghìn năm ấy, ánh sáng Đạo Phật đã chan hòa - thấm đượm vào tận con tim - khối óc với người con Phật.

Người Việt nam từ bao thế kỷ trước và hôm nay, không phân biệt Tôn giáo-tư tưởng…, phải nhìn rằng: Nền văn hóa Việt nam không thể tách rời văn hóa của Đạo Phật. Vì con người mang chất liệu Đạo Phật đã xây dựng, đóng góp về lãnh vực văn học - điêu khắc - hội họa cho xứ sở Việt nam.

Cuộc hành trình đi tìm tự do của người Việt nam tưởng chừng đã chôn vùi giữa lòng đại dương, hay những nơi rừng núi thâm sâu. Nhưng trong sự mất mác tuyệt vọng ấy, có những người còn sống lại vẫn luôn nuôi dưỡng lý tưởng dấn thân cho nhân thế, đó là Thưọng Tọa Phước Nhơn đương kim viện chủ Chùa Phổ Quang.

 Người viết đến từ Tân Tây Lan đã có duyên đến thành phố Perth-tiểu bang miền tây nước Úc đến nay đã lần thứ ba, và được biết Thượng Tọa Phước Nhơn từ trại tỵ nạn Hồng Kông định cư tại Úc vào năm 1983. Tiểu bang Tây Úc là nơi có nhiều rừng rú-sa mạc hoang vu. Nhưng nhờ sự hộ trì Tam bảo, và chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử xa gần. Với sự nhẫn nại kiên trì bằng mọi nổ lực, Thượng Tọa đã mua mảnh đất với diện tích 13,000 mét vuông vào năm 1985, khởi sự xây dựng Chùa Phổ Quang năm 1989 và hoàn thành ngôi Chùa vào năm 2000.

Hôm nay ngày 5 tháng 7 năm 2005, Thượng Tọa Phước Nhơn đã hoan hỷ nhận lãnh tổ chức khóa An cư kiết đông 10 ngày, do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan giao phó, trong sứ mệnh truyền trì chánh pháp để lợi lạc quần sinh.

Trong cuộc đời, ai không vui mừng, khi tự bản thân mình thành công về học vấn, xây dựng đóng góp cho Gia đình-Quốc gia Xã hội và Đạo pháp, mà ngôi Chùa Phổ Quang là một ngôi Phạm vũ đầy đủ phương tiện cho chư Tăng Ni, Phật tử trở về tu học và các ngày đại lễ.

Xưng dương và tán thán để nói lên những con ngươì đầy đủ đức tính hy sinh, mong được những thành quả tốt đẹp cho đạo, cho đời, mà ở xứ người Thượng tọa Phưóc Nhơn là một Tu sĩ Phật giáo Việt nam đã làm nên công hạnh cao đẹp ấy ! - Phưóc đức và trí tuệ là hai yếu tố đích thực cho những ai muốn hướng đến để làm hành trang cho kiếp sống hôm nay và mãi mãi về sau.

Xót xa cây cỏ lưu đày

Diệt sinh rã tụ với đầy buốt tim
Mấy ngàn năm trôi vô tình

 
Mấy ngàn xưa vẫn một mình mây xưa

 Đúng thế, kiếp nhân sinh như hoa lá cỏ cây giữa sa mạc hoang vu nắng cháy. Sống chết - mất còn - vinh nhục làm sao tránh khỏi chạnh lòng khi con tim vẫn còn rướm máu. Nhưng, tĩnh lặng đứng nhìn: Không gian mây vẫn lững lờ trôi và thời gian muôn đời vẫn như thế, thì hành giả đừng ngại gì những hiện hữu giữa trần gian. 
Đôi cánh nhạn bay phương trời mộng
Đường xa muôn dặm bóng người đi
Thoảng nhìn cô lữ về viễn xứ
Sử sách ghi đời hỡi cố nhân?!...

Viết tặng Pháp hữu Thích Phước Nhơn  
Mùa Đông năm Ất Dậu-2005
Thích Trường Sanh ^

 

 

Hạnh Tinh Tấn

Mùa đông buồn gió đông lạnh, sự lạnh kèm theo khiến cho thân tứ đại phải đổi thay theo thời tiết bên ngoài. Khiến cho lòng người thêm tái tê, vất vả theo thời tiết của mùa đông giá buốt. Mùa an cư thứ sáu Giáo Hội tổ chức để tạo sự tinh tấn cho đại chúng trong mùa an cư. Tinh tấn có nghĩa là thoát ra khỏi sự lười biếng, khi chúng ta dùng danh từ lười biếng, chúng ta nói về một sự thiếu vắng chung cho sự chánh niệm, và một thiếu vắng niềm vui trong kỷ luật tu hành, khi tâm thức chúng ta hòa trộn với pháp, khi chúng ta trở thành một con người của pháp, bấy giờ sự nối kết đã thành, bởi thế chúng ta không có vấn đề lười biếng, nhưng nếu chúng ta chưa tạo thành sự nối kết này, chắc chắn sẽ có một số vấn đề. Nơi đây chúng tôi muốn gởi đến quý vị trong mùa An Cư là sự tinh tấn, theo mặt phát triển niềm vui, và sự cảm kích mà chúng ta đang thực hành, đang cảm nhận trong mấy ngày tinh tấn vừa qua. Đó cũng giống như một cuộc đi chơi, trong ngày nghỉ, chúng ta rất hào hứng khi thức dậy vào sáng sớm, vì chúng ta đang chờ một kinh nghiệm một kỳ thi lớn lao, vậy thì sự tinh tấn giống như giây phút chúng ta chuẩn bị đi chơi, và chúng ta có cảm tưởng rằng, chúng ta sắp có một thời gian thích thú, nhưng đồng thời quý vị cũng phải đặt sự cố gắng vào đó.

Thế nên tinh tấn là một loại lễ hội và niềm vui nó thoát đi khỏi sự lười biếng. Nếu nói theo kinh điển! Không có tinh tấn quý vị không có một chút hứng thú nào trên con đường du hành cũng như tất cả chúng ta có mặt tại đạo tràng buổi sáng sớm này trong thời công phu khuya, nếu không có đôi chân giới luật, chúng ta không thể từng bước đi trên con đường đạo, nhưng thậm chí, quý vị có đôi chân giới luật ấy, nếu chúng ta không có sự tinh tấn, chúng ta không thể nào bước đi được. Tinh tấn bao gồm ý nghĩa tự đẩy mình từng bước, từng bước một trên con đường đạo mà chúng ta đang thực tập, đó là sự nội kết mà chúng ta đang cùng đi trên con đường tìm đến sự giác ngộ. Tuy nhiên quý vị phải có kinh nghiệm cảm giác kháng cự nào đó trong nội tâm để kháng cự sự lười biếng, khi bị ngoại cảnh bên ngoài xâm nhập vào tiềm thức nội tại của chúng ta, tạo nên sự tinh tấn trong toàn thể đời sống, dù chướng nạn nào chúng ta cũng kiên trì thực hành tinh tấn, để tạo niềm vui an lạc và cho đời sống tu tập của chúng ta tìm đến sự an ổn nội tâm trọn vẹn một nguyện vọng quyết tâm thực hành hạnh tinh tấn.

Kính chúc quý vị an lạc trong tâm tư.

Nguyên Trực

 


Cúng Đại Bàng
Thích Nguyên Tạng

 

Cúng Đại Bàng là một nghi thức quan trọng trong lễ cúng Quả Đường mỗi buổi trưa ở các tự viện theo truyền thống Phật Giáo Đại Thừa, đặc biệt là mùa An Cư Kiết Hạ hằng năm. Theo lời thuật lại trong khế kinh, ngày kia Đức Phật đi du hóa gặp một con chim Đại Bàng bắt các loài chim nhỏ ăn thịt. Chim Đại Bàng này có chiều kích rất lớn, mỗi lần há miệng, một hơi hút của nó chiếm một phạm vi nhiều cây số, tất cả các loài chim nhỏ đều bị cuốn hút vào miệng nó. Thấy việc sát sanh quá nhiều nên Đức Phật đã từ bi giáo hóa. Ngài dạy rằng “ tất cả chúng sanh đều ham sống sợ chết, do đó chớ giết và chớ bảo giết”. Chim Đại Bàng tự nghĩ: “thực phẩm hằng ngày của mình là thịt sống của các loài chim, nay Phật không cho ăn, lấy gì để nuôi thân mạng này”. Phật dạy: “từ đây về sau ngươi về chùa nào gần nhất để quý Tăng Ni cho ăn”.

 Tương tự như nghi thức cúng cháo Mông Sơn Thí Thực buổi chiều (sẽ được đề cập vào một dịp khác), Nghi thức cúng Đại Bàng buổi trưa được phát xuất từ đó, và hơn hai ngàn năm nay truyền thống này vẫn tiếp tục gìn giữ và duy trì. Có người thắc mắc rằng, sao chỉ cúng bảy (7) hạt cơm, có thể làm no đủ loài đại bàng, và 7 hạt cơm có thể thay thể được thịt sống? Theo như trong bài kệ ghi rằng :

"Pháp lực bất tư nghì
Từ bi vô chướng ngại
Thất liệp biến thập phương
Phổ thí châu sa giới
Án Độ Lợi Ích Tóa Ha"


Nghĩa là:
Pháp lực khó nghĩ bàn,
Từ bi vô giới hạn
Bảy hạt biến mười phương,
Biến khắp cõi vô biên”.


Các Hòa Thượng cũng dạy rằng do nguyện lực của thần chú của Phật mà bảy hạt cơm kia sẽ biến thành cam lồ pháp nhũ khiến cho loài Đại Bàng ăn no đủ, nhờ lực gia trì của thiện niệm.

Nhớ lại thời gian hành điệu, làm thị giả, cúng Đại Bàng là thời gian hồn nhiên, đẹp đẽ ghi sâu vào tâm khảm tôi; hình ảnh tuổi thơ an bình, hiểu biết ngây ngô tình đạo, tình ân sư, huynh đệ. Tất nhiên nhiều khi vẫn nhớ nhà, nhớ mẹ, nhưng nỗi niềm nào cũng đến và đi thật mau trong lứa tuổi ngây thơ bấy giờ. Nhờ vậy mà tôi không thấy có sự khác biệt cách ly giữa tình ân sư và tình thân huyết nhục. Hôm nay nhớ lại quê nhà, nhớ lại kỹ niệm xưa, ghi lại vài nét hành điệu của những tháng ngày đồng chơn nhập đạo, khiến tôi không khỏi xúc động bồi hồi.

Tôi được Sư Phụ gởi xuống làm thị giả cho Hòa Thượng Trí Nghiêm & HT Thiện Siêu trong các mùa An cư Kiết Hạ từ những năm 81 đến năm 1984 tại Chùa Hải Đức, Nha Trang. Chùa Hải Đức từng là Phật Học Viện Trung Phần, nơi đào tạo các bậc tăng tài cho PGVN do Cố HT Trí Thủ khai sáng, do vậy sau 1975, có nhiều Thầy còn lưu lại nơi này. Lúc ấy tôi nhớ có Ôn Từ Đàm, Ôn Trừng San, Thầy Phước An, Thầy  Phước Quảng, Thầy  Phước Lượng, Thầy Chánh Lạc, Thầy  Huệ An, Thầy  Trí Viên, Thầy  Thiện Vinh, Thầy Minh Châu, Thầy  Minh Thông, Thầy  Chơn Trí, Thầy Thiện Tu, Thầy Nguyên Quang… về Sa di thì có Chú Phượng, chú Pháp Đăng.. về phía Chùa Long Sơn thì có Ôn Trí Nghiêm (Hoàng Trúc Am trên đồi Trại Thủy trong khuôn viên chùa Long Sơn), Ôn Đỗng Minh, Ôn Chí Tín, Ôn Thiện Bình, Thầy Thanh Hương, Thầy Đức Bổn, Thầy Chí Nguyện… và các chùa lân cận có quý Thầy về tùng hạ tại Hải Đức trong các mùa hạ ấy có Thầy Thiện Hữu , chú Lâm từ Chùa Phước Điền, Thầy Chí Viên, chú Hải từ Chùa Núi (Linh Phong), Thầy Đức Thành từ chùa Hương Sơn (ngoài Đồng Đế) và sư phụ tôi là Thầy Tâm Trí (Chùa An Dưỡng, Vĩnh Thái)…  cảnh trí nơi núi đồi Hải Đức này thật  hùng vĩ, cây cối rợp bóng xanh tươi, nhất là con đường đất từ Chùa Long Sơn dẫn đến Chùa Hải Đức luôn phủ một màu đỏ của hoa phượng vĩ giữa mùa hè.

Năm đầu tiên tôi được dạy đến trình diện Ôn Trừng San, Trụ Trì Chùa Hải Đức, Ôn là một bậc danh tăng giới đức của PG Khánh Hòa; Ôn có người em ruột cũng xuất gia tu hành và đang làm trú trì Chùa Nghĩa Trũng ở Diên Khánh, Khánh Hòa. Ôn Trừng San tướng người cao lớn và đẹp đẽ, Ôn giỏi về nghi lễ, mặc dù là người Khánh Hòa nhưng lại nổi tiếng trong khoa nghi chẩn tế theo truyền thống Huế. Ôn bảo tôi hô Đại Bàng nghe thử, tôi liền bắt ấn cam lồ đưa lên trán và bắt đầu hô:
 


Minh hoạ của T. Phổ Huân

Đại Bàng Kim Sí Điểu
Khoáng Dã Quỹ Thần Chúng
La Sát Quỹ Tử Mẫu
Cam Lồ Tất Sung Mãn.
Án Mục Đế Tóa Ha
( 7 lần).

 Dịch nghĩa:
“Chim Đại Bàng cánh vàng
Chúng quỷ thần dã hoang
Cùng mẹ con La sát
 Hương cam lồ sung mãn”.

 

Ôn nghe xong lắc đầu vì tôi hô tệ quá. Sau đó Ôn chỉ dạy luyện giọng cho tôi, cuối 3 câu đầu phải lên giọng, cuối câu thứ 4 phải xuống giọng, câu thần chú phải hô đúng 7 lần và phải ngắt ra làm 3 lần, 2 lần đầu mỗi lần 3 biến, và lần ba 1 biến, kéo dài ra và xuống giọng. Khi thử hô vài lần, Ôn Trừng San hoan hỷ gật đầu và thế là tôi trở thành thị giả tống thực trong suốt bốn năm sau đó tại Chùa Hải Đức. Cứ mỗi trưa, tôi giữ trách nhiệm lo chén súc sanh, đánh khánh, cúng đại bàng và làm thị giả cho hai Ôn Trí Nghiêm và Ôn Từ Đàm (HT Thiện Siêu). Thỉnh thoảng tôi được đi làm thị giả cho Ôn Trí Nghiêm ở Ni Viện Diệu Quang, Chùa Kim Quang hoặc Chùa Tỉnh Hội Long Sơn để hô đại bàng, rồi tôi cũng có dịp hầu quả đường và hô đại bàng khi Ôn Hưng Từ (từ Phan Thiết) ra cúng ở Nha Trang.

Thông thường, công việc làm thị giả và hô đại bàng của các chú tiểu hoặc các vị mới xuất gia. Từ ngày xuất gia đến giờ tôi được nghe rất nhiều chú tiểu hô đại bàng, có người hô rất hay, nhưng có người hô nghe không được, cũng có người chế biến cách hô nghe rất lạ (có người hô 4 câu đầu đến 3 lần). Từ ngày ra hải ngoại đến nay, tôi cũng được nghe nhiều vị mới xuất gia hô đại bàng, nhưng vào năm ngoái, trong khóa An Cư tại Tu Viện Quảng Đức, chú Hạnh Đức (đệ tử của Thượng Tọa Như Điển) hô đại bàng rất hay, đúng giọng điệu và rõ ràng.

Trên đây là một chi tiết rất nhỏ trong sinh hoạt thiền môn, nhưng nếu tinh tế để ý quán xét, chúng ta thấy bậc giáo chủ của Đạo Phật dùng nhiều phương tiện độ sanh ngoài sức nghĩ bàn của phàm tình thế nhân. Lòng từ bi của đức Phật tỏa rộng khắp vạn loại sanh linh, kể cả trời mây, non nước, cỏ cây, hoa lá….truyền đạt cho hàng đệ tử xuất gia hành trì, do vậy là đệ tử của Đức Như Lai không thể không thực hiện được hạnh từ bi, lợi tha của bậc đại giác Thế Tôn.

 Viết tại Trường Hạ Phổ Quang, Perth 7/2005
Thích Nguyên Tạng
^

 

Tranh không lời

Ghé qua Tây Úc tham quan

Có chùa Phật giáo Việt Nam hữu tình

Phổ Quang tự thật xứng danh

Tác phẩm nghệ thuật tâm thành truyền trao

Giữa ngôi bảo điện vươn cao

Điểm tô vườn cảnh với bao công trình

Lối đi cong quẹo thiền hành

Cầu kiều, non bộ chung quanh tượng đài

Quan Âm Phật ngự một toà

Thập bát la hán trải ra đón chào

Đôi kỳ lân hầu lối vào

Và thần hộ pháp dạt dào uy nghiêm

Quyết tâm bảo vệ già lam

Hàng rào vững chắc trúc song giả hình

Mỗi trụ một hoa sen xinh

Viền thêm đường nét lát nền gạch sân

Đông tây hai dãy nhà ngang

Phòng khách tăng xá sẵn sàng vừa xong

Tổ đường cao thoáng khang trang

Đến phần thiết yếu bên trong trù phòng

Rộng rãi sắp xếp nắp ngăn

Cùng nhiều phương tiện tùy duyên pháp hành

Làm cho bá tánh lợi lành

Xây đời, dựng đạo bức tranh không lời.

 Sông Thu
Phổ Quang Tự, trọng đông

Perth ngày 6/7/2005

 

 

Hạnh phúc của người tu Phật

 Tùy bút của Thích Phổ Huân

           

Khi nói về hạnh phúc người ta nghĩ ngay đến sự thành tựu, thỏa mãn những gì mong muốn. Và khi nói những gì thỏa mãn mong muốn lại trở thành vấn đề; đó vấn đề không thể thỏa mãn được những gì mong muốn. Bởi vì đối tượng mong muốn thì vô số kể, không thể khẳng định, không thể biết được bao giờ hết mong muốn!

Thế thì hạnh phúc là hạnh phúc thế nào, và nó ra sao? Hạnh phúc có hình dáng khuôn mẫu tiêu chuẩn phổ cập hay không? Nếu nói hiện thực, hiện tại hoàn cảnh của mỗi người thì hạnh phúc của người nghèo lại khác hạnh phúc người giàu; hạnh phúc người nhỏ khác hạnh phúc người lớn; hạnh phúc người chất phát ít học khác người thông minh trí thức!

Thôi thì ta tạm hiểu hạnh phúc là những giờ phút ta thấy an lòng, an tâm thư thả. An lòng an tâm thư thả, chắc chắn rằng ai cũng thích, điều đó không phân biệt kẻ giàu người nghèo, kẻ nhỏ người lớn; và tạm nghĩ như vậy, ý nghĩa của hạnh phúc không có phân biệt, không có khác lạ gì cho bất cứ ai; mà nó là tất nhiên trong dòng sống của nhân sinh. Nhưng đời sống, sinh hoạt, hoàn cảnh con người lại đa dạng phức tạp, thì tiêu chuẩn đặt để hạnh phúc có thể phổ cập được công nhận, là khi hạnh phúc có đủ hai mặt: làm lợi người và làm lợi mình. Điều này là tất nhiên, vì chỉ có như vậy người ta mới thấy hễ mong muốn thỏa mãn nhiều cho mình, thì phải làm sao cũng đáp lại cho người không khác; nếu không chỉ là che giấu thứ hạnh phúc ích kỷ, và tánh tham ác phát khởi từ đây.

Riêng đối với hạnh phúc của người tu, cũng chẳng có gì mới lạ, nghĩa là cũng phải nghĩ đến người đến mình. Tuy nhiên người tu Phật có hành mà không có thỏa mãn việc làm của mình, vì nếu thỏa mãn là sinh chấp ngã, chấp pháp. Hay nói đúng hơn người tu Phật nhìn các pháp là giả là huyễn nên việc làm cũng vẫn là huyễn.

Thế gian vì không nhìn các pháp là sinh diệt giả huyễn nên dù ý niệm cao thượng việc làm cao thượng, có đủ hai mặt giúp người giúp mình, thậm chí cả quên mình, nhưng vẫn còn trong vòng đối đãi của sinh tử luân hồi, vì còn chấp vào việc làm cao thượng đó. Và như thế quả báo của

người như vậy chỉ sanh thiện báo nhân thiên mà thôi.

Trong ba cõi dục giới, sắc giới, vô sắc giới các pháp hiện khởi đều trong vòng sinh diệt giả huyễn, cho nên Phật dạy phải vượt qua. Do đó nếu không cầu giải thoát luân hồi, dù sanh vào cõi Vô sắc giới, vần phải chịu quả báo xoáy mòn tiêu hao, rồi lại rơi vào loay hoay trong ba cõi.

Không hiểu các pháp là sanh diệt, vô thường chúng sanh mãi là chúng sanh; ngược lại khi hiểu được pháp sinh diệt thực hành pháp xả ly, cho dù còn hình tướng phàm nhân nhưng ý niệm tư duy đã có thể khế hợp được tinh thần Bồ Tát.

Do đó hạnh phúc người tu nếu định nghĩa là không có hạnh phúc gì cả! Nói như tinh thần kinh Kim Cang, không có hạnh phúc gì mới là hạnh phúc! Vì nếu nghĩ rằng mình có hạnh phúc nghĩa là có đối tượng đau buồn, và nếu có đau buồn thì cái hạnh phúc kia lẽ nào có thể gọi là hạnh phúc của người học Phật, vì đó là pháp phân biệt sinh diệt đối đãi. Cho nên có hạnh phúc có đau buồn chỉ đúng với người không hiểu Phật, không hiểu pháp sinh diệt huyễn mộng. Giản dị mà nói vì không thấy đối tượng, không phân biệt nên người làm không chấp việc làm, do đó hạnh phúc trong niềm an định xả ly.

Thế thì niềm vui hạnh phúc của người tu Phật là xem các pháp sinh diệt vô thường, cho nên gia công làm thiện mà chẳng chấp trước việc làm của mình, do đó sự mong muốn làm thiện có nhiều đến bao nhiêu mà không bao giờ thấy nhiều, và như thế thành tựu thỏa mãn cũng chỉ là sinh diệt. Cuối cùng hạnh phúc là hạnh phúc nhìn thấy được hạnh phúc sinh diệt của thế gian.

 Trường Hạ - Phổ Quang 2005

Thích Phổ Huân ^

 Mười ngày An cư tại Chùa Phổ Quang
 

 

Truyền thống An Cư có từ thời đức Phật còn tại thế.  Theo sử liệu Phật giáo, tại Ấn Độ khi mùa mưa đến, đức Phật khuyến tấn các vị tỳ kheo, những vị đại đệ tử của Ngài trong thời ấy,  nên trở về an trú một nơi.   Mục đích của sự an trú ( hay An Cư) này có nhiều khái niệm khác nhau. Nhưng nội dung chính vẫn là tấn tu đạo nghiệp, nêu cao phẩm hạnh giải tht, ly dục, thể hịên sự tương quan, tương kính xuyên qua sáu pháp hòa kính. Dĩ nhiên,  đức từ Phụ Thích Ca Mâu Ni, bậc thầy cao quý của vạn loại chúng sinh, đã nêu ra nhiều phương pháp để các vị tỳ kheo nương theo đó mà hành trì nhằm thăng tiến mục đích nêu trên.  Các phương pháp này có thể được nhắc nhiều mỗi khi những người con Phật Kiết Giới An Cư.

Tiếp nối truyền thống cao đẹp và tạo duyên thù thắng cho tăng ni phật tử gần xa, Chùa Phổ Quang tiểu bang Tây Úc đã  nhận trọng trách từ Giáo Hội Phật Giáo Vịêt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Úc Đại Lợi & Tân Tây Lan (GHPGVNTNHNUĐL&TTL) giao phó, tổ chức An Cư cho tăng ni phật tử, bắt đầu từ ngày 5/7/2005 đến ngày 15/7/2005. Và,  đến nay điều  này đã được Chùa Phổ Quang thực hiện một cách viên dung nếu không muốn nói thành công và tốt đẹp. Sự thành công này khởi đi từ tấm lòng vị tha vô ngã, tấm lòng trọng đạo yêu đời của Thượng Tọa Thích Phước Nhơn, hóa chủ khóa An Cư và là phó Hội chủ GHPGVNTNHNUĐL&TTL, Đại Đức Thích Đồng Thanh, sư cô  Thích Nữ Bảo Sơn, trụ trì chùa Phổ Quang, sư cô Hữu Tịnh và Nam Nữ Phật tử chùa Phổ Quang, kế đến là chư tôn Hòa Thượng,  chư Thượng Tọa , Đại Đức Tăng Ni trong và ngi giáo hội cũng như phật tử gần xa. Sự thành công này không thể không nói đến các lĩnh vực như: ý chí nội tại xuất phát từ đạo tâm cao quý, tổ chức linh động nhịp nhàng, sự ý thức cao độ, sự tiếp nhận truyền trao chánh pháp từ chư tôn giáo phẩm trong Ban chức sự. Các yếu tố này đã tạo cho khóa an cư đi đúng định hướng, có khí thế và tạo cho tứ chúng gặt hái nhiều kết quả khả quan, an lạc, cũng như sự thảnh thơi cao độ trong nội tại.

Trước hết con xin mạng phép  lượt  qua tấm lòng vị tha vô ngã, tấm lòng trọng đạo, yêu đời của Thượng tọa hóa chủ, chư tăng ni và phật tử chùa Phổ Quang dù điều này đối với quý Ngài, quý phật tử xem như  cánh chim bay giữa hư không, không hề để lại dấu tích. Thật vậy, chính vì lòng từ bi,  lòng thương người, thương chúng sanh  vô hạn và vì mạng mạch của đạo pháp, Thượng tọa và tăng ni phật tử đêm ngày  phải vất vả, chăm lo  đầy đủ mọi phương tiện cần thiết cho tứ chúng trong khóa an  cư suốt 10 ngày. Nhìn qua ngôi bảo điện trang nghiêm, ngôi giảng đường đầy sức thu hút cho đại chúng, khu nhà bếp, nơi cung cấp thực phẩm cho hơn 30 vị tôn túc, hơn 40 vị phật tử cư sĩ, các hậu liêu, nơi an nghỉ của chư tôn đúc tăng ni và phật tử cư sĩ  đủ nói lên tinh thần ấy.

Song song với sự kiện trên chúng ta cũng cần nói đến sự tổ chức linh động và nhịp nhàng của Ban chức sự. Từ thời khóa tụng kinh trang nghiêm, hô canh ngồi thiền, thọ trai, kinh hành nịêm Phật, thảo lụân Phật pháp, chư tôn túc tăng ni truyền trao kiến thức và kinh nghịêm trong q trình tu học của mình cho phật tử cư sĩ, lời sách tấn của Ban chức sự đến với chư tăng ni và phật tử, tất cả đều logic và nhịp nhàng, tựa như dòng suối tuông trải. Sự ý thức cao độ của đại chúng đã nói lên được kết quả lợi ích khóa an cư. Qua những lời khuyến tấn và nhắc nhở đơn sơ, nhưng mọi việc đi vào nề nếp một cách nhanh chóng. Tưởng chúng ta cũng cần nhắc đến sự thực thi sáu phép hòa kính, lời đức Phật dạy, một cách nghiêm túc. Nhờ vậy, mặc dù trong một cộng đồng tứ chúng khá đông nhưng  không khí khóa an cư vẫn trang nghiêm và thanh tịnh. Điều này dễ đưa đại chúng đạt đến sự an lạc và  tĩnh lặng trong tâm hồn.

Nhìn chung ngôi chùa Phổ Quang hay nói đúng hơn chư tôn đức Tăng Ni và phật tử chùa Phổ Quang đã thực thi trọn vẹn vai trò trong tinh thần trách nhiệm và bổn phận  sứ giả  Như Lai và đáp ứng đúng theo trọng trách mà Giáo hội đã giao phó. Đến đây con xin đê đầu đảnh lễ và thành kính tri ân, đồng thời xin phát nguyện noi theo tấm gương cao cả.

Kính chúc quý Ngài pháp thể khinh an, thân tâm thuờng lạc.Kính chúc quý đạo hữu Phật tử cư sĩ đạo tâm kiên cố.

Khóa an cư chùa Phổ Quang 7/7/2005

Khể thủ
Tỳ Kheo Thích Thịên Đạt
^

 

Hương thơm lan khắp

 

Ấm áp nơi đây xứ đất lành

Muông chim ríu rít lượn trời xanh

Cỏ hoa đua nỡ khoe hương sắc

Chào đón mừng ngày Hạ tịnh thanh

 

Đức hạnh hương từ hỏa ngát bay

Ngược dòng lan rộng khắp trời tây

Pháp vũ tuôn rơi vườn Lộc giả

Từ vân đỉnh Thứu tụ về đây

 

Bao khách hành trang pháp hội xa

Noi theo gương sáng bậc Tăng già

Sớm hôm kinh kệ tu cùng học

Chăm góc vườn tâm pháp trổ hoa

 

Dứt mọi phan duyên nguyện đến chùa

Dẫu rằng trần thế lắm hơn thua

Công danh bả lợi thôi mặc kệ

Xem tợ tên bay, tợ trò đùa

 

Tâm vẫn bền tâm như cái uyên

Tre đã chờ măng tiếp mạch truyền

Ba môn lậu học luôn hằng niệm

Nghiệp tịnh tâm an đạt ý thiền

 

TKN Thích Nữ Như Tuyết ^

 

 

 

Thập tín của Ngài Triệt Ngộ, tổ thứ 12 của Tịnh Độ Tông

 THÍCH NỮ BẢO SƠN.

 Trót mang lấy nghiệp vào thân

Chớ đừng trách hẳn trời gần trời xa

Hay là:

Hữu thân  hữu khổ, vô khổ bất thành thân.

Nghĩa là có thân là có khổ, khổ ở đây là khổ của luân hồi. Tất cả chúng sanh trong lục đạo sở dĩ có luân hồi, hết lên rồI phảI xuống.

Siêu đọa trong giây phút

Xuống lên ngàn muôn nẻo

Đó là do Ái dục. Nên Đức Phật dạy ái dục là cội gốc của sanh tử. Do vô minh mê mờ ấy, chúng ta mê say trong cơn mộng tình aí  thương, yêu, ghét, giận, thù hận lẫn nhau để rồi gặp  lại trong một đời sau phải trả nợ, vay nợ, và đòi nợ nhau. Vì nhìn thấy chúng sanh không có lối thoát ấy nên Ngài Triệt Ngộ Đại sư đã dạy cho hàng hậu học của chúng ta thập tín, là mười đều căn bản cần phải tin, hiểu thật sâu và đầy để tự độ mình và độ cho tha nhân. Những gì là mười. Đó là:

Ngài dạy thứ nhất ta bà cực khổ, thứ hai nhân mạng vô thường, thứ ba luân hồI lộ hiểm, thứ tư tịnh độ thật hữu, thứ năm tin Tây phương là cực lạc, thứ sáu tin Di đà nguyện lực, thứ bảy tin tự tâm niệm lực, thứ tám tin mình có khả năng thành phật, thứ chín tin hữu nhân tức hữu qủa và thứ mười tin sanh giai bất thối.

Thứ nhất: chúng ta phải tin Ta bà là cực khổ. Cái khổ ở đây vui cũng khổ, buồn cũng khổ, giàu cũng khổ, nghèo cũng khổ, thậm chí cườI cũng ra nước mắt. Chúng ta nhìn lại từ khi mới sanh ra cho đến cái ngày cuối của cuộc đời toàn là một chuổi ngày đau khổ. Có ngườI cho rằng cuộc đờI này là một bữa tiệc dài, không hưởng thụ cũng uổng, do đó họ không để lỡ mất cơ hội. Nhưng họ đâu ngờ rằng những khoái lạc ấy là giả dối, phỉnh phờ, chẳng khác nào cái khoái lạc mong manh của một người đang khát nước mà uống nhằm nước mặn, càng uống lại càng khát, và cổ họng sau khi uống lại càng đắng chát thêm.

Trong kinh Đức Phật dạy: Nước mắt của chúng sanh đã đổ ra nhiều hơn nước bốn biển. Đúng vậy cõi đời này vui rất ít mà khổ thật nhiều, những nỗi vui nếu có cũng chỉ là mong manh, hào nhoáng như một lớp son phết bên ngoài mà thôi. Đức phật dạy sanh, già, bịnh, chết là khổ , thương nhau mà xa nhau là khổ, ghét nhau lại ngày nào cũng gặp nhau là khổ, mong cầu một đều gì không như ý muốn của mình là khổ, thân ngủ ấm hẩy hừng là khổ cọng thêm

_ Khổ khổ: cái khổ này chồng chất lên cái khổ kia như thân già yếu đi đứng khó khăn là khổ rồi lại chồng chất thêm hoàn cảnh xung quanh như khí hậu hoặc qúa nóng hay quá lạnh .

_ Hoại khổ: vạn vật trong vũ trụ đều bị luật vô thường chi phối, không tồn tại. Cứng rắn như đá lâu năm cũng bị mục nát, to lớn như trái đất, mặt trăng, mặt trời lâu ngày cũng tan rã.

_ Hành khổ: phương diện vật chất bị ngoại cảnh thời gian chi phối, phá hoại, còn về tinh thần ta không tự chủ được bởi những  ý tưởng dục vọng luôn luôn bị chúng đièu khiển.

cuộc đời mấy mươi năm cứ lặn hụp trong biển khổ đầy mồ hôi và nước mắt chỉ có Chư Phật, chư Bồ Tát mới tận tường và hiểu thấu.

Thứ hai: tin nhân mạng là vô thường. Là không thường, không mãi mãi ở trong một trạng thái nhất định, luôn luôn thay hình đổi dạng có sanh thì có tử. Khi Đức thế Tôn của chúng ta còn là thái tử một ngày nọ đã than thở với bà Da Du Đà La ở trong Hoàng cung khi Ngài nghĩ đến vô thường của thân người. Ngài nói như thế này, nàng ơi tất cả chúng ta rồi đây sẽ gìa yếu và xấu xa đi, thời gian sẽ phủ lên đầu chúng ta những lớp tro bạc. Ôi! mắt trong của em rồi sẽ mờ đục, môi đỏ của em rồi sẽ úa màu, ta nghe trong ta, trong em và trong tất cả mọi người mỗi ngày mỗi đổ vỡ dưới sức tàn phá của búa thời gian

tất cả những gì quí báu nhất của đời người , chúng ta ôm giữ một cách tuyệt vọng, như ôm giữ một cái bóng, như nắm bắt một làn hương! Ngài dạy tất cả sự vật trong vũ trụ từ nhỏ như hạt cát đến lớn như trăng sao đều phải tuân theo định luật vô thường ấy. Phải trảI qua bốn giai đoạn gọi là sanh, trụ, dị và diệt hay thành, trụ, hoại và không. Ví dụ như làn sóng ở biển khi mới nhấp nhô lên gọi là sanh. Khi làn sóng lên đến đỉnh cao nhất gọi là trụ. Làn sóng từ từ hạ thấp dần xuống gọi là dị. Và đến khi làn sóng tan biến mất gọi diệt.

Thứ ba: tin luân hồi là lộ hiểm

MẪU CHUYỆN : gần đây ở nước Tân Gia Ba có một chuyện tái sanh.

Ở tĩnh thiên Tân có 1 bà lão, bà này có một nguời con trai, người con trai của bà chết đã 2 năm rồi. Một hôm nọ bà nằm mộng thấy con bà bà mới hỏi như thế này, con bây giờ đang ở đâu? người con trai của bà mới nói như thế nầy, con hiện đang ở trong một ngôi chùa. Bà hỏi ở trong chùa làm gì? người đó nói, con ở trong chùa giữ cửa, sau khi tĩnh giấc bà ta rất đau lòng. Trải qua chẳng bao lâu, có một số đạo hữu tổ chức đi hành hương , nói đến ngôi chùa này bà lão vừa nghe qua, bà lão nhớ lại cái ngày bà nằm mộng thấy con bà hình như là ở ngôi chùa này, bà bèn hỏi có thể cho bà đi đến đó được không? Họ bằng lòng và tất cả cùng đi.

Sau khi đến nơi bà liền đến gặp vị chủ trì, bà hỏi ngôi chùa này có cửa phòng không? Hòa Thượng trả lời không có cửa phòng, bà hỏi tiếp còn giữ cửa là ai đang gìữ cửa vậy. Ngài nói giữ cửa thì có Tiểu Hổ, khi nghe đến Tiểu Hổ bà hoảng sợ, Tiểu Hổ là cái tên lúc còn bé của con bà, bà hỏI vậy nó ở đâu rồi. Hoà Thượng nói nó là một con chó, vậy là con bà ta dầu thai làm chó, chú chó này có tên là Tiểu Hổ, có lẽ chú chó này trông rất hùng mạnhgiống như con cọp con nên đặt là Tiểu Hổ. Bà bèn đến trước cửa để tìm con chó này. Con chó này nhìn thấy mẹ bèn chảy nước mắt, người và chó ôm nhau khóc, người đầu thai làm chó. Đây vì tạo nghiệp bất thiện nên phải làm súc sanh.

Chú chó này rất có linh tính về su sự việc này đồn khắp tỉnh Thiên Tân, khi người Thiên Tân đến đây để coi nó thì nó bèn tìm chỗ ẩn núp, còn người ở nơi khác đến thì nó mớI chạy ra. Về sau nguời ta khuyên bà nên đem chuyện này nói ra dể làm gương có thể độ rất nhiều chúng sanh khác. Cho nên luân hồi là có thật , chúng ta khởi tâm động niệm cần phải lưu ý. Con mgười sống ở thế gian này thời gian rất ngắn ngủi, sau khi chết sẽ đi về đâu? Qúi vị có nghĩ đến vấn dề này chăng? Ai trong chúng ta cũng hy vọng và mong muốn đời sau thù thắng hơn đời này, ngày mai sẽ tốt đẹp hơn ngày hôm nay.