Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo Quốc Tế


...... ... .

 

 

INĐÔNÊXIA 

Phật giáo đang hồi sinh tại một nước Hồi giáo lớn nhất thế giới

Hoang Phong

 

 

Thuộc thành phần thiểu số, những tín đồ Phật giáo Inđônêxia bị ngược đãi từ lâu nhưng nay đã bắt đầu lộ diện và một số người lãnh đạo đang ra công phát triển « ngành du lịch tâm linh ». Tiếc thay những gì đức Phật giảng dạy dường như vẫn còn quá xa vời !

 

Đây là bài báo của hai ký giả : Bà Elisabeth D. Inandiak đã từng sống lâu năm tại Inđônêxia và Ông Nicolas Cornet, nhiếp ảnh gia chuyên về Á châu. Bài báo được đăng trong Nguyệt san GEO của Pháp, số 342, tháng 8, năm 2007. Hoang Phong lược dịch.

 

 

Một đêm nguyện cầu chung quanh một ngôi đền ngàn năm…

dưới những ngọn đèn pha chói loà

 

            Tiếng loa kêu gọi đến giờ cầu nguyện vang lên từ những đền thờ Hồi giáo, văng vẳng từ đền thờ này lan đến đến thờ khác, toả rộng trên mặt nước của những con sông hiền hoà. Một ngôi chùa nhỏ với những phiến đá màu đen che một pho tượng Phật đã xưa hàng ngàn năm, phía trước chùa là một cây đa cổ thụ với những rễ cây khổng lồ đang chuyển mình làm tung lên một màn bụi mù nóng bỏng, như một con voi già vừa ngoi lên từ một con sông đầy bùn đất. Cuộc diễn hành rầm rộ, giữa tiếng còi xe inh ỏi, lẫn với tiếng tụng kinh và tiếng chiêng đồng. Bà Siti Hartati Murdaya, một vị nữ tu khác thường, đi dẫn đầu, bà là một thương gia thế lực nhất của Inđônêxia. Tạp chí « Forbes » của Mỹ ước tính người đàn bà Inđônêxia gốc Trung hoa này có một tài sản lên đến 450 triệu đô la vào năm 2006.

            Một đoàn nhà sư trải dài ra và bước đi nhịp nhàng, ăn mặc đủ các màu sắc đại diện cho tất cả các học phái Phật giáo : màu gạch đỏ, màu xám tro, màu vàng hay màu nghệ. Người Thái lan, Tây tạng, Hàn quốc, Nhật bản, Singapore, Đài loan gồm hàng ngàn người kéo nhau đổ dồn về đây để dự lễ Phật đản : tức lễ kỷ niệm ngày Đản sinh, ngày Đắc Đạo và ngày Tịch diệt của đức Phật. Đoàn diễn hành được cả một đoàn các loại xe sang trọng hộ tống, kính xe màu khói, thêm vào đó cả một rừng người, « những kẻ phục vụ cho Đạo Pháp (Đạo Pháp là những lời giảng huấn của Phật) », tiến lên một cách trịnh trọng. Tất cả đều mặc áo thun và đội mũ lưỡi trai có in hàng chữ Walubi, tức tên của Hội đồng các Tập thể Phật giáo Inđônêxia. Chính cơ quan này đã liên kết và điều hành tất cả các học phái Phật giáo trong xứ dưới thời kỳ của nhà độc tài Suharto, từ năm 1966 đến năm 1998. Ngày nay bà Siti Hartati Murdaya là đương kim chủ tịch của tổ chức này.

            Đoàn diễn hành vượt qua chiếc cầu bắc ngang một dòng thác, đổ xuống từ ngọn núi lửa Elo, hướng về phía ngôi đền Phật Borobodur, cách đó 8 cây số. Bảy mươi hai bảo tháp đục rỗng bằng đá, tất cả rộng 2500 mét vuông ; đây là ngôi đền Phật lớn nhất thế giới, chế ngự cả một cảnh thiên nhiên hoang dã và xanh tươi. Đền Borobodur được xây dựng từ thế kỷ thứ VIII, và theo học giả người Pháp về Á Đông là Paul Mus, thì ngôi đền tượng trưng cho « một sự hiển hiện kỳ bí », vào lúc mới xây dựng, ngôi đền nằm chơi vơi trên một bán đảo, giống như một hoa sen đang thả trôi trên mặt nước hồ. Ngày nay hồ nước đã biến mất, đoàn Phật tử đang diễn hành trên một đoạn đường tráng nhựa, chen lẫn với cờ lọng do dân làng người Hồi giáo quanh đó kết bằng lá chuối, có cả những cờ quảng cáo mang nhãn hiệu Sampoerna, một hãng thuốc lá lớn của Inđônêxia. Dưới chân ngôi đền là bàn thờ, với một ngôi tượng Phật bụng phệ, bao quanh là tượng các vị thần thánh kiểu Trung hoa, thật hết sức xa lạ so với những nét khổ hạnh và hiện thực trong nghệ thuật Phật giáo trên đảo Java. Một số người hành hương tung cao con rồng, biểu tượng đặc biệt của ngày Tết Trung hoa, giống như họ đang đóng phim mà lộn tuồng hát. Một khán đài mênh mông gồm 8 000 ghế ngồi ; 15 000 người khác tham dự phải đứng vì hết chỗ : và rồi đại lễ cũng bắt đầu.

 

Từ khi xứ sở được dân chủ hoá, những tín đồ Phật giáo tỏ ra « lộ diện » hơn

 

            Tổng thống Inđônêxia, Susilo Bambang Yudhoyona, tuy là người Hồi giáo, nhưng cũng đã đứng lên chúc mừng ngày lễ Phật đản và chào mừng các nguyên thủ quốc gia Á châu tham dự, và cả các tập thể Phật giáo, các tổ hợp Trung hoa-Inđônêxia đã tài trợ cho ngày lễ. Màn đêm càng lúc càng xuống thấp trên những đỉnh núi lửa, thì con trăng đầy đặn lại càng lên cao. Vô số những đèn pha chiếu sáng hàng trăm pho tượng chạm nổi trên mặt đá bao quanh các bậc thềm của đền thờ, ghi lại những cảnh tượng của thế giới tham dục và hình tướng, các bậc thềm tiếp tục dẫn lên đến đỉnh, nơi đây là một khu hành lang hình tròn, tượng trưng cho nơi Giác ngộ…Khi máy quay phim của các đài truyền hình ngưng hoạt động, thì các vị « chức sắc » cũng quay trở ra xe của họ. Trả lại quang cảnh cho những bậc thiền giả ôm ấp ước mơ của họ : rằng Borobodur một ngày nào đó sẽ trở thành trung tâm toàn cầu của Phật giáo.

            Việc kinh doanh có vẻ đang phát triển tốt. Theo Walubi (Hội đồng Phật Giáo Inđônêxia), thì số người hành hương năm nay lên đến 30 000 người – ba lần nhiều hơn năm 1996, và vào năm 1956, chỉ vỏn vẹn có vài trăm người. Sự thăng tiến này lại càng có ý nghĩa hơn vì con số du khách tụt xuống : từ 311 000 người thăm viếng vào năm 1996, chỉ còn 61 000 vào năm 2006. Sự hồi sinh của Borobodur và ngày lễ Phật đản phải chăng là một sự đổi mới, vì trải qua suốt hơn năm trăm năm, Phật giáo Inđônêxia gần như đã biến mất ? Bộ Tôn giáo thống kê có 8,7 triệu người theo Phật giáo ở Inđônêxia – những người này phải ghi hẳn hoi tín ngưỡng của mình trên thẻ chứng minh nhân dân (con số trên thực tế là từ 11 đến 14 triệu người) : tức là khoảng 4% dân số, so với trước đây là 2%. Ông David Herman Jaya, giám đốc của New Armada, một tổ hợp đóng thùng xe hơi lớn nhất trong xứ, và đồng thời cũng là chủ tịch Walubi thuộc khu vực Trung tâm đảo Java, đã không đánh giá tầm quan trọng của Phật giáo theo tỷ lệ gia tăng của người Phật tử từ mười năm nay – so với tổng số dân chúng – nhưng một cách đơn giản, đối với ông thì quan trọng nhất là việc những tín đồ Phật giáo đã tỏ ra « lộ diện » hơn từ ngày xứ sở của họ được dân chủ hoá. Dưới thời kỳ độc tài của Suharto, tín đồ Phật giáo bị xem như những công dân thứ yếu, ăn bám, ký sinh hay là cộng sản, và do đó, họ đã trở thành những nạn nhân bị ngược đãi, phải gánh chịu những luật lệ kỳ thị khắc khe. Trong suốt ba mươi năm liên tiếp, công lao của những người Phật giáo cống hiến cho lịch sử Inđônêxia đã hoàn toàn bị xoá bỏ trong các sách giáo khoa. Và chỉ đến ngày hôm nay, thì tám đến mười triệu người Inđônêxia gốc Trung hoa – đại diện cho 70% Phật tử trong xứ – mới có thể dám ngẩng đầu lên.

            Họ đã hiện diện trên quần đảo này từ thế kỷ thứ IV, khi Java và Sumatra trở thành trạm dừng chân bắt buộc và cần thiết cho những Phật tử Trung hoa muốn đi hành hương Ấn độ bằng đường biển. Bước sang thế kỷ thứ XV, những kẻ viếng thăm nơi này lại thay đổi hẳn, khởi đầu là vị thủy sư Zheng He, người Hồi giáo gốc Vân nam đã đặt chân lên đây, tiếp theo sau là những con buôn cũng kéo đến, mang theo đồ sứ Trung hoa để đổi lấy trà của Java. Ảnh hưởng Phật giáo sau đó bị lu mờ suốt nhiều thế kỷ, tiếp theo là bọn thực dân người Bồ đào nha và Hoà lan lần lượt kéo đến, thống trị cả xứ sở này. Đến cuối thế kỷ XVIII, khi Công ty Hoà lan thuộc Ấn độ miền đông suy yếu, người Trung hoa lại ồ ạt kéo đến. Mãi cho đến năm 1998, khi chính quyền Suharto bị lật đổ, người Inđônêxia gốc Trung hoa mới được trọn vẹn tôn trọng như một công dân, và khi đó họ mới dám biểu lộ tín ngưỡng từ xưa của ông bà họ : một nền tôn giáo hội nhập giữa Phật giáo, Khổng giáo và Lão giáo, gọi chung là « Tam giáo » (ba nền giáo huấn).

 

Nghi lễ tiếp tục thu hút khách du lịch từ Trung hoa lục địa

            Ngày nay, Borobodur đảm trách vai trò kết hợp những người Phật giáo Trung hoa trên đất Inđônêxia chung quanh ngày lễ Phật đản, và cho thấy vẻ « lộ liễu » của họ. Ngoài dịp lễ Phật đản, thời gian còn lại trong năm, ngôi đền mênh mông này trở thành một toà kiến trúc mang tính cách du lịch, thu hút hàng đoàn du khách ! Vì thế Ông David Harman Jaya và các nhà kinh doanh Inđônêxia gốc Trung hoa khác đã muốn biến Borobodur thành một địa điểm « du lịch mang tính cách thiêng liêng », có thể thu hút hàng triệu người Phật giáo Á châu… kể cả ngoại tệ của họ nữa, nhất là đồng tiền của những người Trung hoa lục địa. Chẳng qua đây cũng là một cách mở lại con đường hàng hải cổ xưa, bằng cách kết hợp giữa tôn giáo và thương mại.

            Cách nay hơn 1 300 năm, đế quốc Srivijaya thuộc phía Nam đảo Sumatra đã từng là một lãnh thổ Phật giáo lớn nhất Đông nam Á. Từ năm 672, rất nhiều học giả Trung hoa đã đến đây để dịch kinh sách từ tiếng Phạn sang tiếng Hán. Vào khoảng năm 760, tại trung tâm của đảo Java, triều đại Sailendra đã khởi công xây dựng một kiến trúc độc nhất vô nhị trên thế giới : đó là ngôi đền Borobodur. Ngôi đền giống như một quyển sách viết trên đá, ghi chép lại những lời giảng huấn thiêng liêng nhất của Đức Phật. Sau đó, một đế quốc hùng mạnh khác xuất hiện về phía Đông đảo Java, và đế quốc này lại chọn một thứ tôn giáo hỗn tạp là Shiva-Phật.

            Vào thế kỷ XVI, khi Hồi giáo tràn vào Java cùng với các con buôn người Á rập, Ấn độ và Trung hoa, dân chúng địa phương chạy theo nền « khoa học » mới mẻ này, vì dễ hiểu hơn, chỉ tôn thờ một vị trời duy nhất là đủ. Những người nhất quyết không theo Hồi giáo phải trốn vào các vùng núi non thuộc trung tâm Java, họ phát huy một nền tín ngưỡng gọi là « kejawen », một loại tín ngưỡng thần bí xoay quanh cách thiền định trong những khung cảnh thiên nhiên, « nơi trú ngụ » của các thần linh. Trải qua nhiều thế kỷ, Phật giáo có vẻ như đã biến mất khỏi vùng quần đảo Inđônêxia. Mãi cho đến sau này, tức vào đầu thế kỷ XX, các nhà thông thần học (théosophes) người Hoà lan đứng ra nhờ các nhà sư Tích lan đưa Phật giáo trở lại phần đất Ấn độ thuộc Hoà lan của họ (tức sau này là Inđônêxia). Nhưng sau đó, Phật giáo lại phải gánh chịu thêm một đòn nặng nề nữa và lại bị suy thoái. Sau khi đảo chính, Đại tướng Suharto bắt tất cả người Inđônêxia phải ghi trên giấy chứng minh nhân dân của họ một trong năm tôn giáo chính thức do chính quyền đề ra : Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Tin lành, Ấn độ giáo và Phật giáo.

 

Dưới chân ngôi đền là những bảng quảng cáo của các hãng thuốc lá cạnh tranh nhau

 

            Bất cứ ai mang tín ngưỡng khác các tôn giáo vừa kể đều bị gán là « cộng sản » hay vô thần. Quả thực là Phật giáo được chấp nhận, nhưng người Phật giáo bị bắt buộc phải tin vào một vị trời duy nhất mang tên là Sang Hyang Adi Buddha. Về phần các người theo tín ngưỡng kejawen, họ phải tự khai là Phật giáo, mặc dù đã khai như thế nhưng họ vẫn bị ngược đãi và nghi ngờ. Vào năm 1973, ngôi đền Borobodur được Unesco và chính quyền Inđônêxia trùng tu và được chính tổng thống Suharto khánh thành, nhưng ông không xem Borobodur là một đền thờ có tính cách tôn giáo mà chỉ vỏn vẹn xem đấy là một thắng cảnh du lịch. Tuy rằng ngày Phật đản là ngày lễ quốc gia, nhưng những người Phật giáo vẫn tỏ ra dè dặt và e sợ, mãi cho đến biến cố dân chủ xảy ra vào năm 1999. Từ đó, các sắc tộc thiểu số, các người trí thức và những người trẻ được quyền phát biểu. Phật giáo được hưởng lây làn gió tự do và được nhìn nhận như một tôn giáo. Phật giáo chẳng phải là nền tôn giáo lâu đời nhất trên quần đảo Inđônêxia hay sao ?

            Tình trạng dân chủ trên đây cũng làm dấy lên các phe nhóm tranh dành ảnh hưởng chung quanh ngôi đền Borobodur. Khởi đầu là sự tranh chấp giữa Walubi và KASI, KASI là Tổng liên đoàn tối cao của Giáo đoàn các nhà sư Inđônêxia. Liên đoàn này được các học phái Phật giáo trong nước thành lập từ năm 1998, với mục đích phục hồi đạo đức Phật giáo bị chà đạp dưới chế độ Suharto. Thực ra thì dưới thời kỳ độc tài này, mọi tôn giáo, cũng như mọi tổ chức trong nước, đều được đặt chung trong một quy tắc độc quyền. Một liên đoàn phụ nữ duy nhất, một nghiệp đoàn công nhân duy nhất, một tổ hợp thương mại duy nhất cho việc buôn bán đinh hương, và dĩ nhiên, một Tổng liên đoàn Phật giáo duy nhất, tức là trường hợp của Walubi. Ngày nay, KASI được quyền tổ chức ngày lễ Phật đản một lần trong hai năm tại Borobodur, xen kẽ với Walubi. Và KASI lại liên kết với Djarum, một hiệu thuốc lá cạnh tranh với hiệu Sampoerna. Và vì thế đưới chân ngôi đền Phật giáo lớn nhất thế giới, người ta thấy trương lên cờ xí của hai hãng thuốc lá cạnh tranh nhau, đồng thời hình ảnh cạnh tranh đó cũng tượng trưng cho sự đối đầu về ý thức hệ. Walubi kết hợp phe « bảo thủ » – phe nhóm của chính quyền đương thời, quân đội và nước Hoa kỳ – lèo lái bởi bà Hartati Murdaya và hãng thuốc lá Sampoerna – hãng này đã bị Philip Morris (hãng thuốc lá khổng lồ của Hoa kỳ) mua vào năm 2005 với giá 5 tỷ đô la. Phe bên kia là KASI, « cấp tiến » hơn, kết hợp những người chủ trương dân chủ và văn hoá địa phương, các người trí thức Phật giáo và các tín đồ trước đây thuộc tín ngưỡng kejawen. Phe này được một người Inđônêxia gốc Trung hoa, chủ nhân của hãng thuốc lá Djarum, là ông Budi Hartona ủng hộ : ông này có tài sản đứng vào hàng thứ năm trong nước theo thống kê năm 2006 của tạp chí « Forbes », hãng cũng tài trợ cho các nghệ sĩ trẻ Inđônêxia thuộc phong trào tiền phong. Năm qua, trên sân khấu dựng trước mặt ngôi đền, phe KASI mời một đoàn vũ Inđônêxia trình diễn vở kịch múa tựa là « Sutasoma », Sutasoma là một tập thơ Phật giáo nổi tiếng của đảo Java được trước tác dưới triều đại Majapahit.

            Năm nay, Walubi đặt cán cân cao hơn nữa với một một đoàn kịch múa vĩ đại, hợp chung với các đoàn múa Lào, Việt nam, Kampuchia, Thái lan và Miến điện, mô tả lại cuộc đời của Đức Phật Cồ đàm. Sân khấu được dựng lệch về phía Tây của ngôi đền Borobodur, như thế để buổi trình diễn không bị « ô nhiễm » bởi vết tích của KASI để lại !

            Dân chúng địa phương người Hồi giáo, với cái nhìn khá nghi ngờ, đã chứng kiến cảnh tranh dành ảnh hưởng của hai phe trong buổi lễ, vì cách nay hai năm đã từng xảy ra một việc tai tiếng, phát hiện ra một tuần sau lễ Phật đản : hai trăm nông dân và phu xích lô mỗi người được lãnh 200 000 rúp-pi (tức đồng tiền Inđônêxia, tương đương với nữa tháng lương thợ) do chính Walubi chi cho từng người để họ cạo đầu và mặc áo cà sa để tham dự buổi diễn hành. Một vị chủ lễ (imam) Hồi giáo trong vùng quyết định rằng người nào được thuê mướn như thế và chót mặc áo nhà Phật là đã phạm vào hành vi bỏ đạo, vì thế họ bắt buộc phải chịu phép lễ xin quay lại Hồi giáo. Walubi còn trả tiền cho hàng trăm dân làng để họ mặc áo thun mang hàng chữ này, đây cũng là một thủ thuật mà các đảng phái chính trị Inđônêxia thường dùng để làm gia tăng con số người ủng hộ cho họ trong các cuộc biểu tình. Ngày lễ Phật đản ở Borobodur phải chăng chỉ là trò giàn cảnh rẻ tiền dựa vào tính cánh thiêng liêng và chính trị, ghép thêm quang cảnh buôn bán của một hội chợ khổng lồ ?

 

Một nhà sư phát biểu như sau : « Trên phương diện tinh thần, Borobodur vẫn còn là một cảnh hoang tàn »

 

            « Borobodur, không phải là trung tâm phát triển của Phật giáo Inđônêxia », đây là lời phát biểu của nhà sư Sri Pannyavaro, một trong các nhà sư đã thành lập KASI và là vị sư trụ trì của tu viện Mendut. Quá nhiều ô nhiễm chính trị, quá nhiều tranh chấp, ngay cả dân làng cũng gây gổ với nhau và sẵn sàng làm bất cứ gì để tranh nhau phần rơi rớt trong việc kinh doanh Phật giáo : « những bức tượng mà họ bán dọc theo đường cái, đúng thật là những bức tượng Phật, nhưng thật ra chẳng có một giá trị tinh thần nào cả. Những bức tượng ấy chỉ hàm chứa một giá trị thiêng liêng nào đó khi ta biết ngồi tĩnh tâm thật lâu trước những bức tượng ấy, với tấm lòng tinh khiết », nhà sư Sri Pannyavaro đã nói như thế khi ông lánh xa ngày lễ Phật đản cử hành ở Borobudur, dù rằng chùa của ông chỉ cách đấy 3 cây số, để viếng thăm những ngôi cổ tự hẻo lánh của đảo Java, trong các địa phận như Plaosan và Sewu, nơi đây ngày Giác ngộ của Phật được cử hành mỗi năm càng đông hơn với những người lẳng lặng xa lánh cái cảnh hội chợ đầy chụp giật và tranh giành… Không màng đến những cải vả hạ cấp đó, Đức Đạt-lai Lạt-ma vẫn bày tỏ ước vọng của Ngài được đi hành hương ở Borobodur. Nhưng vị sứ giả của Ngài đến đây dọ đường đã hoàn toàn thất vọng. Thực tế là vị trụ trì tu viện theo truyền thống Tây tạng gần Borobodur nhất, là một người Inđônêxia gốc Trung hoa còn trẻ, được xác nhận như « tulku » (tức hoá thân của một vị lạt-ma lớn) bởi Kunzig Shamar Rinpoché, một vị thầy Tây tạng dính líu vào những vụ thanh toán và tội ác. Tệ hại hơn nữa là chàng thanh niên này, ngoài việc trụ trì còn là chủ nhân của một viện bào chế thuốc tây, và đã từng bị điều tra vì cái chết của một cô ca sĩ nhạc pop dùng ma tuý quá liều, hôm thảm kịch xảy ra anh ta trú ngụ chung phòng với cô này ở khách sạn… Từ nhiều tháng nay, tu viện trở nên hoang vắng.

            Về phần bà Siti Hartati Murdaya, vị đại chủ nhân của Walubi, thì đã từng bị bắt quả tang khi tìm cách lén lút chuyển ra khỏi xứ 36 000 đôi giày hiệu Nike và hiệu Yonex (một nhãn hiệu của Nhật) ! Lối buôn lậu này đã kéo dài từ nhiều năm nay. Khi kiện hàng bị hải quan bắt được, bà chủ tịch của Walubi liền tuyên bố rằng lô hàng đó đã bị đánh cắp từ những cơ xưởng của bà…

            Những sự kiện trên cũng đủ minh chứng rằng ngày nay còn rất nhiều hiểm nguy đang đe dọa sự « hồi sinh » của Phật giáo trên quần đảo Inđônêxia. Trên phương diện kiến trúc, việc bảo vệ ngôi đền Borobodur đã thành công. Nhưng trên phương diện thiêng liêng, Borobodur sẽ vẫn còn nằm trong tình trạng hoang phế lâu dài. Trùng tu những đổ nát đó quả thật là một công tác vô biên.

 

                                                                                    Bures-Sur-Yvette, 06.01.08

                                                                                                Hoang Phong

 

Ghi chú của người dịch : Tác già Bà Elisabeth D. Inandiak và phóng viên nhiếp ảnh Ông Nicolas Cornet, rất có thể không phải là những người Phật giáo, nhưng cái nhìn của họ đối với Phật giáo lại tỏ ra chân tình và thiết tha hơn cả một số người tự xưng là Phật giáo. Dù sao bài viết của họ cũng đáng làm đề tài cho chúng ta suy nghĩ.

                      

 

          Hình 1a và 1b : Quang cảnh ngôi làng Brojonalan, nằm giữa Mendut và Borobodur, các vị sư từ các quốc gia láng giềng đến, đứng trên xe danh dự đang ném hoa vào đám đông.

 

Hình 2 và 3

Hình 2: Khi trăng tròn lên cao, đèn pha rực sáng trên khu đền Borobodur. Trong đám đông, nhiều người là Hồi giáo, họ kéo đến vì tấm lòng khoan dung và độ lượng của người Phật giáo. Thật vậy, Phật giáo không bắt buộc tín đồ của các tôn giáo khác phải bỏ đạo của mình để tham dự nghi lễ của Phật giáo.

Hình 3: Hình chụp một góc nhỏ của ngôi đền Borobodur được xây dựng từ thế kỷ thứ VIII, và được trùng từ năm 1983, các tháp bằng đá đục rỗng, bên trong mỗi tháp là một tượng Phật trong tư thế thiền định.

 

 

Hình 4: Các vị sư thuộc các học phái khác nhau, vừa lấy nước thiêng trong một cái động để làm lễ, họ vừa bước ra khỏi động và gặp các nhà báo chận lại để phỏng vần.

 

 Hình 5: Đoàn diễn hành đi từ Tỉnh Mendut đến Borobodur, với ngọn lửa thiêng trên xe, phía sau là cờ tôn giáo, biểu ngữ của các liên đoàn chen lẫn với biểu ngữ quảng cáo.

 

 

Hình 6: Đối với việc kinh doanh, cái gì cũng tốt cả: từ xá lợi giả đến tín đồ giả.  Nhân vật trong hình đang hãnh diện trình bày những xá lợi đựng trong các tháp nhỏ bằng thủy tinh : gồm móng tay, tóc và các mảnh vải, gọi là thuộc của Đức Phật. Đây là một sự kiện “thần thánh hoá”, trái ngược hẳn với những lời Phật dạy.

Hình 7: Bà Siti Hartati Murdaya, chủ tịch và nhà tài trợ cho phe bảo thủ của Phật giáo Inđônêxia là Walubi. Bà cầm đầu ngành khai thác cây rừng, các xí nghiệp xây cất, và các cơ xưởng Nike. Bà là người phụ nữ kinh doanh thế lực nhất trong nước.              

 Hình 8: Bà Elisabeth D. Inandiak và

Ông Nicolas Cornet, hai tác giả của bài báo

Hoang Phong

Pháp quốc, 10.08.07 


 

---o0o---

Trình bày: Vĩnh Thoại

Cập nhật: 01-10-2008


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về trang PG Thế giới

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544