Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


...... ... .


 

Tập san Pháp Luân

PL.2548-No.5/ tháng 8 năm Giáp Thân

 

Mục Lục

Để trở thành người Phật tử tại gia.

Phật giáo Việt Nam sinh hoạt thời mới vào

Cuộc đời và ánh đạo của Tôn giả Sàriputta

Vu Lan: Lẽ sống, Tình người

Vu lan- báo hiếu

Tinh thần báo hiếu theo đạo Phật

Vu Lan ngày về.

Ân Nghĩa Sanh Thành.

Nước và Sóng.

Người Phật tử tại gia.

Tương quan giữa Du-già Hành Tông và Hoa Nghiêm Tông

Nó vốn như vậy.

Hãy mở rộng tình thương.

Ảnh hường của ngh thuật Hy Lạp lên nét điêu khắc ban đầu của Phật giáo.

Khóa Lễ Thu.

Đôi miền ngăn cách

Bụi Hồng.

Trầm Tích.

Hạt bụi ca.

Hành trình.

Bụt gọi sáng nay.

Ráng chiều.

Thoáng suy tư.

Bài ca cho con.

Thiền Sư Quảng Nghiêm và bài kệ cuối đời của ngài

Chuyện tiền thân : Bùn nào làm uế được pha lê !*.

Gương hiếu hạnh của một Thiền sư Nhật Bản.

Nỗi khắc khoải của nó.

Vu lan và địa ngục trong tâm thức mỗi người

Cha mẹ, con cái & phương tiện truyền thông.

Xin vơi thù hận - Xin đừng sát sinh.

ẤN ĐỘ - Vừa khai quật một Thánh tích Phật giáo tại bang Gulbarga.

MYANMAR : Hội nghị thượng đỉnh Phật giáo thế giới lần thứ  4tổ chức tại Yangon

TRUNG QUỐC: Tìm thấy ngọn núi có hình dáng đức Phật nằm

 

Giới thiệu: Tập san Pháp Luân

Kính bạch chư Tôn Hòa thượng, Thượng Tọa, Đại đức Tăng Ni, cùng các huynh đệ trong và ngoài nước.

Thưa quý vị cư sĩ Phật tử,

Thưa chư vị Thiện tri thức, 

Tinh thần “hoằng pháp vị gia vụ, lợi sinh vi bổn hoài” là trách nhiệm chung không chỉ người xuất gia mà ngay cả người tại gia cùng cộng hành xây dựng để góp phần làm cho vườn hoa giác ngộ ngày thêm đơm bông kết trái, tô điểm hương sắc tâm linh ngày một thăng tiến, đem lại nhiều lợi lạc cho cuộc đời.  

Theo tinh thần đó, Tăng ni Phật tử trẻ Việt Nam đã và đang theo học tại các trường Phật học, Đại học trong và ngoài nước đã cùng nhau hình thành Tập san Pháp Luân, nhằm làm nơi trao đổi kiến thức cơ bản Phật học, khích lệ tinh thần thế hệ Tăng ni trẻ và Phật tử trau dồi kỹ năng viết lách, tham gia nghiên cứu, củng cố kiến thức Phật học. Qua đó gởi gắm những kiến thức mà mình đã học hỏi được từ các bậc tôn túc, kinh nghiệm tu tập trong đời sống chia sẻ đến mọi người để cùng sách tấn lẫn nhau trên lộ trình đi đến giải thoát.

Vì mục đích như vậy, Ban biên tập TSPL ra đời và đã ra mắt độc giả đến nay được 4 số. Nay xin trân trọng giới thiệu và gởi đến Chư tôn đức, quý vị TSPL số 5 với chuyên đề Vu Lan Báo Hiếu.

Để cho TSPL càng ngày càng khởi sắc hơn từ nội dung cho đến hình thức, BBT rất mong được sự đóng góp bài viết, ý kiến của quý vị, bằng cách gởi thư về đóng góp ý và bài viết cho tập san qua địa chỉ E-mail: tsphapluan@yahoo.com ; hay E-mail: nsphapluan@yahoo.com

Xin chân thành cảm ơn và kính chúc Chư tôn đức, quý vị mùa Vu-lan an lạc và hạnh phúc.

Trân trọng

BBT. TSPL

 

Để trở thành người Phật tử tại gia ^

III. BẢN THÂN TA ĐỐI VỚI NHỮNG QUAN HỆ CHUNG QUANH:

Đức Phật dạy người Phật tử không những chỉ sống cho chính bản thân mình thôi, mà còn sống với, và liên hệ với những quan hệ chung quanh mình. Bởi vậy, cho nên Phật tử phải có bổn phận hoàn thành chức năng làm người của mình, từ phạm vi nhỏ hẹp gia đình cho đến phạm vi rộng lớn là cộng đồng xã hội. (Ở đây chúng ta phải hiểu sự quan hệ đó, không những chỉ dành cho người với người mà thôi, mà còn chỉ chung cho mọi sự vật có liên hệ duyên khởi có ích lợi cho chúng ta). Vì sự tồn tại và hạnh phúc của chính ta, chính là sự tồn tại và hạnh phúc của cộng đồng xã hội.

a/ Gia đình:

Vì liên hệ huyết thống máu mủ đắp đổi lẫn nhau và những liên hệ trực tiếp hằng ngày với nhau:

1/ Đối với cha mẹ và con cái:

- Người con phải hoàn thành năm điều kính thuận đối cha mẹ.

a. Cung phụng đầy đủ về vật chất cũng như tinh thần, không để thiếu thốn.

b.  Muốn làm gì thưa cha mẹ biết.

c.  Không trái điều cha mẹ làm.

d.  Không trái điều cha mẹ dạy.

e.  Không cản chánh nghiệp mà cha mẹ làm.

Đó là năm điều kiện bắt buộc người con phải hoàn thành chức năng làm con và, bổn phận làm người của mình đối với cha mẹ trong một gia đình, nếu gia đình đó muốn có cuộc sống êm ấm đầy ấp hạnh phúc thường xuyên trong nhà.

- Ngược lại, cha mẹ cũng có năm chức năng và bổn phận của mình đối với con cái.

a. Ngăn con đừng để làm ác.

b. Chỉ bày những điều ngay lành.

c. Thương yêu đến tận xương tủy.

d. Chọn nơi hôn phối tốt đẹp.

e. Tùy thời cung cấp đồ cần dùng.

Đức Phật dạy:

“Này Thiện Sinh, kẻ làm con kính thuận và cung phụng cha mẹ thế thì phương ấy được an ổn không có điều lo sợ” và ngược lại như trên.

2/ Đối với chồng và vợ cũng phải có năm điều.

- Chồng đối với vợ phải thực hiện đầy đủ năm chức năng làm chồng của mình trong cuộc sống thường ngày đối với vợ:

a. Lấy lễ đối đãi nhau.

b. Oai nghiêm không nghiệt.

c. Cho ăn mặc phải thời.

d. Cho trang sức phải thời.

e. Phó thác việc nhà.

- Ngược lại vợ cũng phải hoàn thành năm chức năng làm vợ của mình đối với chồng:

a. Dậy trước.

b. Ngồi sau.

c. Nói lời hòa nhã.

d. Kính nhường tùy thuận.

e. Đón trước ý chồng.

Phật dạy:

“Này Thiện Sinh, ấy là vợ đối với chồng cung kính đối đãi nhau, như thế thì phương ấy được an ổn không điều gì lo sợ” và ngược lại như trên.

3/ Đối với chủ tớ cũng phải có năm điều.

- Chủ nhà đối với những người giúp việc trong gia đình cũng phải hoàn thành đúng năm chức năng và bổn phận của mình đối với những người giúp việc:

a. Tùy khả năng mà sai sử.

b. Phải thời cho ăn uống.

c. Phải thời thưởng công lao.

d. Thuốc thang khi bệnh.

e. Cho có thời giờ nghỉ ngơi.

- Ngược lại những người giúp việc trong gia đình thì cũng phải hoàn thành đầy đủ năm chức năng và bổn phận của mình để giúp chủ nhà:

a. Dậy sớm.

b. Làm việc chu đáo.

c. Không gian cắp.

d. Làm việc có lớp lang.

e. Bảo tồn danh giá chủ.

Đức Phật dạy:

“Này Thiện Sinh, nếu chủ đối với tớ được như vậy thì phương ấy được an ổn không điều chi lo sợ” và ngược lại như trên.

Đó là năm điều kiện cần và đủ để những người thân thuộc cùng sống trong một gia đình, có liên hệ trực tiếp hằng ngày trong một gia đình cần phải có của một gia đình Phật tử chúng ta, nếu gia đình đó muốn có hạnh phúc an vui thường xuyên hiện hữu trong gia đình. Ở đây vừa có liên hệ huyết thống và liên hệ trực tiếp trong một gia đình thuộc phạm vi nhỏ, ngoài ra chúng ta còn có những quan hệ với, thuộc phạm vi gián tiếp, mà gần nhất là bà con quyến thuộc, xa chút nữa là Sư trưởng, Sa-môn, Bà-la-môn cho đến bạn bè.

b/ Xã hội:

Đây là những quan hệ với xã hội không phải là những quan hệ trực tiếp như trong một gia đình, mà là những quan hệ gián tiếp rộng ra ngoài xã hội, mà một thành viên trong một gia đình, trong một xã hội cộng sinh cần phải có những liên hệ duyên khởi trong cuộc sống này. Qua đó, chúng cũng cần có những điều kiện để điều hòa cuộc sống, trong một trật tự mà mọi thành viên trong xã hội đó tham gia và, cần hoàn thành chức năng làm người đúng nghĩa của nó mới mong mang đến hạnh phúc cho mọi người được. Theo đức Phật mối quan hệ đó phải đặt nền tảng trên những điều kiện như dưới đây chúng tôi sẽ trình bày, đối với mỗi thành viên trong xã hội, và mỗi thành viên phải hoàn thành chức năng bổn phận của mình đối với chính mình trước đã, và sau đó mới đến xã hội, và ngược lại.

1/ Chúng ta đối với bà con và, ngược lại.

- Đối với bà con chúng ta phải lấy năm điều thân kính đối với bà con1:

a. Chu cấp.

b. Nói lời hiền hòa.

c. Giúp đạt mục đích.

d. Đồng lợi2

e. Không khi dối.

- Bà con cũng phải lấy năm điều đối lại:

a. Che chở cho mình khỏi buông lung.

b. Che chở cho mình khỏi hao tài vì buông lung.

c.  Che chở khỏi sự sợ hãi.

d. Khuyên răn nhau lúc ở chỗ vắng người.

e. Thường ngợi khen nhau.

Đức Phật dạy:

“Này Thiện Sinh! Người biết thân kính bà con như vậy thì phương ấy được yên ổn không điều chi lo sợ” và ngược lại như trên.

2/ Đệ tử (chúng ta) đối với Sư trưởng và, ngược lại.

- Đệ tử cung phụng thờ kính Sư trưởng có năm việc:

a.  Hầu hạ cung cấp điều cần.

b.  Kính lễ cúng dường.

c.  Tôn trọng quý mến.

d. Thầy có dạy bảo điều gì không trái nghịch.

e.  Thầy có dạy bảo điều gì nhớ kỹ không quên.

Kẻ làm đệ tử cần phải hoàn thành bổn phận cung phụng thờ kín Sư trưởng với năm điều ấy.

- Thầy cũng có năm điều để săn sóc đệ tử:

a.  Dạy dỗ có phương pháp.

b.  Dạy những điều chưa biết.

c. Giải nghĩa rành rõ những điều trò hỏi.

d.  Chỉ cho những bạn lành.

e.  Dạy hết những điều mình biết không lẫn tiếc.

Đức Phật dạy:

“Này Thiện Sinh, nếu đệ tử kính thuận, cung kính Sư trưởng, thì phương ấy được an ổn không có điều lo sợ.” và ngược lai như trên.

3/ Chúng ta đối với hàng Sa-môn, Bà-la-môn, và ngược lại.

- Kẻ đàn việt chúng ta cung phụng cúng dường các hàng Sa-môn, Bà-la-môn với năm điều:

a. Thân hành từ.

b. Khẩu hành từ.

c. Ý hành từ.

d. Đúng thời cúng thí.

e. Không đóng cửa khước từ.

- Ngược lại, Sa-môn, Bà-la-môn cũng khuyên dạy chúng ta theo sáu điều3:

a.  Ngăn ngừa chớ để làm ác.

b.  Chỉ dạy điều lành.

c.  Khuyên dạy với thiện tâm.

d. Cho nghe những điều chưa nghe.

e. Những gì đã được nghe làm cho hiểu rõ.

g. Chỉ vẻ con đường sanh thiên.

Đức Phật dạy:

“Này Thiện Sinh, nếu đàn việt kính phụng hàng Sa-môn, Bà-la-môn như thế thì phương ấy được an ổn không điều gì lo sợ” và ngượi lại như trên.

Tóm lại, muốn hoàn thành một nam nữ Phật tử chân chánh đúng nghĩa của nó, thì như đức Phật đã dạy, trước hết phải hoàn thành chức năng làm người của chính mỗi người trong chúng ta, kế đến cá nhân chúng ta đối với những thành viên gần nhất là gia đình, và xa hơn nữa là ngoài xã hội, và ngược lại, mỗi người trong xã hội sau khi hoàn thành chức năng và bổn phận của chính mình rồi sau đó mới đối với xã hội, gia đình như người khác đã đối với chính mình. Có như vậy chính bản thân của mỗi người an lạc hạnh phúc thì gia đình xã hội mới an lạc và hạnh phúc được. Nếu cá nhân mỗi thành viên mà không hoàn thành chức năng và bổn phận của chính mình thì sẽ không có bất cứ một xã hội nào được gọi là an lành hạnh phúc cả.

TĐT.

(hết)

 

Chú thích:

1. Hán: thân tộc ; đoạn trên: thân đảng.

2. Tức bốn nhiếp sự: bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự. Pāli: dāna, peyyavajja, atthacariya, samānatta.

3. No. 26. 135: tớ phụng sự theo 9 điều.
 

PHẬT GIÁO VIỆT NAM SINH HOẠT THỜI MỚI VÀO ^

Tâm Phương

1. Giao Chỉ (Chiao Chih)

* Bối cảnh chính trị-xã hội Giao Chỉ

111 BC-39 AD thời Bắc thuộc

Quận Giao Chỉ gồm có 10 huyện: An Định, Luy Lâu (Liên Lâu), Cú Lậu, Mê Linh, Khúc Dương, Bắc Đái, Khể Từ, Tây Vu, Long Biên và Chu Diên.

Giao Chỉ (Chiao Chih) từ trước những năm 40 AD là một nước độc lập có chủ quyền, có pháp luật riêng (Luật Việt).

Sau nhà Trưng (40-43) mất, Mã Viện mở cuộc thanh trừng qui mô, chúng càn quét những lãnh tụ kháng chiến Giao Chỉ, vây bắt hơn 300 “cừ soái”, đưa đi đày sang Linh Lăng1 (Trung Quốc) tạo nên thế chính trị Giao Chỉ bất ổn. Rồi nhiều người đã tìm đường sống trước những đợt thanh trừng qui mô của chính quyền xâm lược phương Bắc bằng cách cải trang vào chùa, hiện trạng đã tạo nên cao trào “ẩn dương nương Phật” sau thời nhà Trưng. Một Thiều Hoa, một Nàng Xuân, một Bát Nàn, họ là những lãnh tụ Giao Chỉ tiêu biểu cho nhóm người “làm lại cuộc đời trong cửa Phật” để chờ ngày nêu cao cờ nghĩa đấu tranh cho độc lập dân tộc.

Từ sau nhà Trưng đến trước Sĩ Nhiếp đất nước lại rơi vào tình trạng nội thuộc Trung Quốc.

Đến sau khi Hán Linh Đế (168-189) băng hà, các phương loạn lạc, chỉ có Giao Châu tạm yên, “các bậc dị nhân phương Bắc” tìm sang lánh nạn (Mâu Tử, tựa Lý hoặc luận).

Đến thời Sĩ Nhiếp, 20 năm (206-226) tự trị, Giao Chỉ tạm yên ổn bên cạnh thế chiến Tam Quốc, là đất tạm yên cho dân lánh nạn từ phương Bắc đến.

Ngô Chí: “Sĩ phu quận Giao Chỉ học vấn đã ưu bác, lại tùng chính thành công, ở trong đại loạn, bảo toàn một quận, hơn hai mươi năm, cương trường vô sự, dân không thất nghiệp, bọn đến trọ ở2 đều được nhờ ơn”. Ngô Chí 4 tờ 7b7-11 cho biết: “Nhiếp và anh em đều là anh hùng các quận, đứng đầu một châu, khắp ở muôn dặm, uy tôn vô thượng (...), đương thời quý trọng, chấn phục trăm man, Úy Đà không đủ hơn”.

248 TL, Bà Triệu khởi nghĩa.

280 TL, Khương Tăng Hội mất

2. Ngã đường đạo Phật vào Việt Nam

Đạo Phật vào Việt Nam theo ngã đường nào? Có 7 sử kiện cung cấp thông tin về ngã đường đạo Phật đến Việt Nam.

2.1. Về mặt địa dư.

Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương vốn là nơi giao lưu giữa 2 nền văn minh xưa nhất Châu Á mà cũng có thể là xưa nhất của cả loài người, đó là 2 nền văn minh Ấn-Hoa, do đó đã tiếp nhận ảnh hưởng do từ 2 phía: Ấn Độ và Trung Hoa.

Lại nữa, bán đảo Đông Dương nằm giữa biển Đông và vịnh Bengale, được tạo thành bởi những dãy núi từ Tây Tạng chạy dài về Đông Nam ra đến biển Đông. Ở giữa các giải núi đó là những thung lũng, cũng là nơi phát nguồn của những con sông lớn như sông Mênam tạo thành đồng bằng Thái Lan; sông Mêkông tạo thành các đồng bằng Campuchia và Nam Việt Nam; và sông Hồng, sông Đà tạo thành đồng bằng Bắc Việt Nam. Với một vị trí giao lưu như vậy, Việt Nam đã trở thành chiếc cầu nối liền sự giao lưu giữa Ấn Độ và Trung Hoa, vì thế Việt Nam còn có tên gọi là bán đảo Ấn-Hoa (Indus-Chinos). Ngay từ những thế kỷ đầu trước lịch Tây, đất Giao Chỉ (old Vietnam) vốn:

Là con đường thông sứ giữa Trung Hoa với các hải đảo Nam Thái Bình Dương.

Là cửa ngõ, trạm dừng chân trong quan hệ buôn bán giữa Ấn-Hoa; giữa Ấn-Hoa với các nước La Mã, Hy Lạp. Nói chung là trong quan hệ buôn bán giữa Ấn Độ với Viễn Đông và Địa Trung Hải.

Là “ngã tư các dân tộc và văn minh” (Crossroad of de civilisation=Carrefour despeuples et de civilisation)3.

2.2. Về mặt thời tiết-gió mùa

Ấn Độ là một bán đảo khổng lồ nằm bên bờ vịnh Bengale, Đông Dương cũng là một bán đảo nằm về Đông Nam Thái Bình Dương. Trong khi đó Giao Chỉ (old Vietnam, là một phần của bán đảo Đông Dương) lại là cửa ngõ đi vào Trung Hoa, do vậy tính chất khí hậu, gió mùa đã trở nên nguyên do chủ yếu quyết định cho tuyến trình giao lưu trên biển giữa Ấn-Hoa; và giữa Ấn-Hoa với các hải đảo Nam Thái Bình Dương. Như vậy, trên hành trình giao lưu trên biển, các thương nhân Ấn phải theo gió mùa Tây Nam để đi về Viễn Đông, qua Đông Nam Á, Mã Lai, Nam Dương, Phù Nam, Giao Chỉ, v.v... Từ Giao Chỉ họ đi vào Trung Hoa. Khi đến Giao Chỉ họ phải dừng chân đến sang năm, chờ gió mùa Đông Bắc để trở về Ấn Độ. Trong khi nằm chờ một năm ròng rã đó, đủ thời gian để họ sinh hoạt giao lưu về kinh tế, nông nghiệp, y học, đặc biệt là về tôn giáo với dân bản xứ.

Trong những chuyến đi xa hằng năm với nhiều tháng lênh đênh trên biển cả như thế, cho nên trong mục đích cầu mong cho trời yên biển lặng, những thương gia Ấn Độ vốn có tín ngưỡng Phật, Bồ-tát mà trong đó tín ngưỡng Phật Nhiên Đăng Dipankara và Bồ-tát Quán Thế Âm Avalokitesvara là tiêu biểu của tín ngưỡng thời bấy giờ nên họ đã thờ phụng Phật, Bồ-tát theo đoàn thuyền. Và trong chuyến đi xa như vậy, họ cũng sẵn lòng đón tiếp, thỉnh mời những Danh Đức, Cao Tăng nào có mục đích ‘đi xa giáo hóa’ theo đoàn thuyền với quan niệm được phúc lành cho chuyến đi, được trời yên biển lặng. Chính do vậy, cho nên các bậc Danh Đức, Cao Tăng Phật giáo đã đi về Viễn Đông và “gieo hạt” niềm tin Phật trên vùng đất mới.

2.3. Về mặt biến cố lịch sử.

Đạo Phật truyền rộng ra các nước ngoài cõi Ấn Độ do nhiều nguyên nhân, mà trong đó có 4 điểm nổi bật:

1. Vào giữa thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, đại đế A-dục (Asoka) (273-232) chinh phạt dân Kalinga đến tận bờ biển Đông Ấn, một số dân bản xứ đã phải bỏ quê hương ra đi tìm đường sống, đây là dịp tạo nên đợt di dân ra nước ngoài.

2. Đến những năm đầu công nguyên, người Kushans vào đánh chiếm Ấn Độ, lại tạo nên đợt dời dân tương tợ.

3. Vào những thế kỷ thứ 1 trước và sau Công nguyên, Phật giáo Đại thừa chuyển hướng hưng thịnh. Bấy giờ các trung tâm Phật giáo được thành hình và dần dần trở nên những trung tâm Phật giáo Đại thừa tiêu biểu mà điển hình là các trung tâm Aramavati và Narajunakonda ở miền dọc biển Đông Ấn Độ. Từ các trung tâm nầy đã đào tạo những “nhà truyền giáo” và cung cấp sản phẩm mỹ thuật như: tượng Phật ra các nước Phật giáo khác.

4. Với khuynh hướng “Chúng sanh vô viên thệ nguyện độ” đã khiến những Tăng sĩ Phật giáo Đại thừa Ấn Độ, người mà trên đường giáo hóa đã đem chất liệu Phật truyền rộng đến các cõi xa xăm ngoài ngàn dặm.

Như vậy, đạo Phật được truyền rộng ra các nước là do từ nhiều nguyên nhân mà trong đó các xứ trên đảo biển Nam Thái Bình Dương như Indonexia, xứ Đông Dương v.v... đã được “Ấn Độ hóa” (Hinduization), thì nơi đây chính là vùng đất tốt để những nhà truyền giáo phát triển đạo Phật trên vùng đất mới. Theo ông G. Ferrand trong tạp chí Journal Asiatigue juillet aut 1919 khẳng định thì: “Những bước đầu Ấn Độ hóa v.v... xứ Indonexia phải xảy ra trước Công nguyên”4. Việt Nam cũng nằm trong vòng ảnh hưởng “Ấn Độ hóa” nầy và như vậy Phật giáo cũng đã đến Việt Nam trước Công nguyên.

2.4. Về mặt kinh tế.

Một trong những nguyên nhân chủ yếu về sự lớn mạnh của Ấn Độ vào những năm đầu kỷ nguyên TL, đó là do mở rộng buôn bán. 

Bấy giờ, các đế quốc ở Trung Đông, như La Mã, Hy Lạp đang lớn mạnh, sự phát triển buôn bán rất là phồn thịnh, nhất là có nhu cầu lớn về mặt hàng xa xỉ. Trong khi Ấn Độ vào những thập niên đầu của thế kỷ I TL đã có quan hệ buôn bán với các đế quốc La-Hy và do đó Ấn Độ đã thu vào số vàng rất lớn. Rồi bỗng hoàng đế Vespasien (69-79TL) ra lệnh chấm dứt cuộc chảy máu vàng, do đó Ấn Độ vào thế kỷ đầu TL đã buộc phải hướng về Đông Nam Á và Viễn Đông trong quan hệ buôn bán để tìm số vàng mà mình cần (Sewell sđd). Chính do thế đã chuyển trào lưu “Ấn Độ hóa” hướng về Viễn Đông và Phật giáo cũng theo con đường đó mà được truyền bá và lớn mạnh ở Viễn Đông, trong đó có Giao Chỉ (old Vietnam).

2.5. Về mặt ngôn ngữ.

Trên trục giao lưu Ấn-Hoa, Giao Chỉ là nơi thuận lợi về mặt địa dư, thời tiết, khí hậu, v.v… Bên cạnh đó, sự giao lưu về các mặt: văn hóa, xã hội, ngoại giao, chính trị, nhất là về kinh tế ngày càng phát triển, cho nên trên vùng đất Ấn-Hoa nầy, ngôn ngữ giao tiếp cũng được mở rộng trong cộng đồng xã hội. Nói cách khác, Giao Chỉ là đất duy nhất hội đủ những yếu tố cho một thị trường giao lưu quốc tế, nơi đây con người có khả năng giao tiếp bằng hai thứ tiếng Ấn-Hoa; và bằng hai thứ chữ viết Sanskrit-old Chinese. Mà điều quan trọng hơn cả là Đất nầy có thể tìm người thông dịch dễ dàng cho những nhà truyền giáo.

2.6. Về mặt tìm hiểu tên đất, đồ vật xưa.

Các tài liệu sử Trung Hoa có nói đến những vương quốc nhỏ được “Ấn Độ hóa” nằm rải rác ở các đảo biển Nam Thái Bình Dương như Giava (Ye Tiao-Yavadvipa)5, Xumatra, và ở Nam Dương như: Chợ Hạt Tiêu (Takkala), đảo Long Nảo (Karpuradvipa), đảo Dừa (Narikeladvipa), thị trấn Vàng (Kanakapuri) v.v... Đó là những vùng đất rất tốt cho các cuộc dời dân đến ở, và vì thế, số người Ấn dời chỗ ở ra các đảo biển Đông ngày càng nhiều. Vương quốc Phù Nam (Founan) là vùng đất tiêu biểu trong số đó mà lịch sử dựng nước lại do chính người Bà-la-môn Ấn Độ tên là Kaundinya tạo nên vào thế kỷ thứ I TL6

Ngoài ra, tại nhiều nơi trên vùng đất các vương quốc đó, người ta đã tìm thấy nhiều đồ vật xưa còn lại mang đủ loại hình phong phú, từ trang sức cho đến đồ dùng trong sinh hoạt hằng ngày. Tại Ấn Độ cũng như ở Phù Nam (Founan), người ta đã tìm được những đồng tiền vàng của đế quốc La Mã. Tại Quảng Nam tìm thấy tượng Phật Đông Dương, là những kỷ vật còn lại đẹp nhất của trường phái điêu khắc thuộc trung tâm Phật giáo Amaravati Ấn Độ7. Những chứng tích điển hình như thế đã cho thấy sự quan hệ giao lưu giữa Ấn-Hoa với La-Hy (La Mã-Hy Lạp); giữa Ấn-Hoa với Viễn Đông. Chính từ cửa ngõ giao lưu buôn bán nầy, đạo Phật Ấn Độ được truyền ra nước ngoài. Việt Nam nằm trong vùng ảnh hưởng nầy, vậy Việt Nam tiếp nhận đạo Phật do con đường nào và từ bao giờ?

2.7. Con đường Tơ Lụa (the route silk).

Ngã đường truyền giáo của đạo Phật.

Giới học giả Tây phương điển hình là Prjuluki, Ông cho rằng Phật giáo truyền ra nước ngoài qua con đường buôn bán (trade). Thật vậy, vào những thế kỷ đầu trước cũng như sau Công nguyên, tơ lụa là những mặt hàng thường dùng trong giới mua bán của nhiều nước lớn. Đạo Phật do theo ngã đường mua bán mà được truyền ra các nước ngoài, nên con đường đem giáo lý Phật đến các nơi còn được gọi là “con đường Tơ Lụa”. Nói cách khác: Con đường Tơ Lụa, ngã đường truyền giáo của đạo Phật. Con đường truyền giáo này:

Theo đường biển, phương Nam, đạo Phật đến các nước Tích Lan (Sri Lanka) Miến Điện (Myanma), Thái Lan (Thailand), Java (Diệp Điều Quốc), Nam Dương (Indonexia), Mã Lai (Malayxia), Phù Nam (Founan), Chân Lạp (Campuchia), Chiêm Thành (Chàm-Champa), Giao Chỉ (North Vietnam). Các nước Phật giáo trong ảnh hưởng phương Nam gọi là Phật giáo Nam truyền hay Phật giáo Nam tông.

Theo đường bộ, phương Bắc, đạo Phật đến các nước vùng cao nguyên Trung bộ Châu Á như: Kế Tân, Khương Cư (Sogdiane), Vu Điền, Qui Tư, Sa Lạc, Cao Xương, Đại Nhục Chi, An Tức, Tây Tạng (Tibet) Mông Cổ (Mogolia), Trung Hoa (China), Đại Hàn (Korea), Nhật Bản (Japan), Việt Nam, v.v... Các nước Phật giáo trong ảnh hưởng phương Bắc gọi là Phật giáo Bắc truyền hay Phật giáo Bắc tông. Ngoài ra còn phải ghi nhận một ngã đường khác nữa đó là:

Theo đường thủy-bộ về hướng Tây-Nam, bắt đầu từ Nam Ấn hay Trung Ấn rồi đến Miến Điện, qua Vân Nam, Lào, vào Việt Nam, mà cũng có thể do từ Miến Điện theo sông Mênam, sông Mêkông, qua Thái Lan hay qua Lào rồi vượt Trường Sơn vào Thanh Hóa, Nghệ An, để đến Việt Nam.

Như vậy đã rõ, với 6 sử kiện điển hình trên cho thấy là đạo Phật đến Việt Nam theo 3 ngã đường: thủy, bộ và thủy-bộ. Trong khi đó, Giao Chỉ (old Vietnam) vốn là nơi gặp gỡ giữa hai dòng Phật giáo Nam-Bắc truyền, vì thế, ngay từ rất sớm, đạo Phật đã được “gieo hạt” trên vùng đất nầy. Tuy nhiên trong buổi “bình minh “của Phật giáo Giao Chỉ (Chiao Chih), con đường thủy từ phương Nam đóng vai chủ yếu và lớn mạnh hơn cả so với con đường bộ phương Bắc cũng như so với con đường thủy-bộ Tây-Nam. Đến đây, vấn đề được đặt ra là vùng đất nào của Việt Nam tiếp nhận Phật giáo đầu tiên.

(còn nữa)

TP.

Chú thích:

1. Hậu Hán thư 116 tờ 6a 11

2. “Bọn đến trọ ở” là chỉ cho Sĩ nhân Trung Quốc đến để tỵ nạn, con số lên đến hàng trăm người

3. Nguyeãn Ñaêng Thuïc - Lòch söû tö töôûng Vieät Nam, T.II tr ?

4. Nguyễn Tài Thư chủ biên, Sđd, tr 14

5. Nguyễn Tài Thư chủ biên, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tr14, 1988

6. Lê Hương - Sử liệu Phù Nam. tr 43-51

7. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, T.1, tr 24. 1974


 

CUỘC ĐỜI và ÁNH ĐẠO của TÔN GIẢ SÀRIPUTTA ^

Trí Lộc

Cuộc đời hoằng pháp của đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật thành công rực rỡ trên xứ Ấn, một quốc gia đa dạng về chủng tộc và dị biệt về tôn giáo, để hôm nay Phật pháp được lưu truyền trên khắp năm châu, sự hoằng pháp vĩ đại ấy luôn có một phần đóng góp không nhỏ của các vị thánh đệ tử của Ngài. Truyền thống của Phật giáo đã bình chọn được mười vị thánh đệ tử lớn nhất, có công trạng hoằng pháp cũng như những năng lực đặc biệt nhất, vượt lên trên hàng ngàn vị thánh đệ tử khác. Đứng đầu trong mười vị thánh ấy là tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất). Đạo Phật là đạo của trí tuệ “Duy tuệ thị nghiệp”, mà tôn giả Sàriputta được xem là đệ tử có trí tuệ bậc nhất trong hàng ngàn bậc thánh đệ tử của đức Phật. Hơn nữa, trong tiền kiếp tôn giả Sàriputta và tôn giả Moggalli Kolita (Mục-kiền-liên) đã được đức Phật Amomadari thọ kí trong tương sẽ là hai vị đệ tử lớn, như hai cánh tay phải và trái của đức Phật Thích Ca (theo Túc sanh truyện). Do vậy, tôn giả Sàriputta luôn được xem là bậc thánh đứng đầu trong hàng đệ tử của đức Phật Thích Ca, là cánh tay phải đắc lực của Ngài.

1. Dòng tộc và sự xuất thế

Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất), sinh trưởng tại làng Upatissa, thuộc thành Vương-xá, nước Ma-kiệt-đà. Đây là một ngôi làng trù phú, cổ kính tiêu biểu cho những sức sống tâm linh với những đền thờ, tháp miếu uy nghi; trong ấy thờ nhiều vị thần như: Thần Brahma có bốn mặt, thần Nàgà hình rắn khổng lồ, thần Nandì hình bò mộng to lớn, thần Sudra có ngàn mắt và bốn tay, thần Hunuman hình khỉ đen đúa, v.v… Ngoài ra, trong các am động, cội cây lớn còn có rất nhiều vị thần. Cả hàng trăm vị thần cùng ngồi hòa mình trước sự chiêm ngưỡng và thờ cúng của mọi người.

Thân mẫu Ngài tên là Sàri (Xá-lợi), là một thiếu nữ thuộc dòng Bà-la-môn, dung mạo đoan trang, tư chất thông tuệ, rất giỏi về biện luận. Thân phụ Ngài là đại luận sư dòng Bà-la-môn tên Vaganta (Đề-xá), vừa là tộc trưởng của ngôi làng, cũng là trưởng giáo trong hàng Bà-la-môn, tinh thông kinh điển Vệ-đà và các chú thuật, toán số v.v… môn sinh của ông có đến mấy trăm người. Lúc bấy giờ ông đã gần 50 tuổi, mẹ Ngài trẻ tuổi hơn ông nhiều, do phong tục tảo hôn theo luật Manu của Ấn giáo, bà đã về với chồng lúc mới 10 tuổi. Dù đầy đủ danh vọng và quyền uy cũng như sự giàu có, nhưng ông bà luôn u buồn vì chưa có con để nối dõi. Nếu ông có con thì có thể lấy tên làng để đặt tên cho con mình, vì ông là tộc trưởng của làng nên có được sự vinh hạnh ấy, và để kế thừa truyền thống tâm linh cao cả, cũng như gia sản giàu có của mình. Do vậy, trong các buổi lễ tế thần cũng như những thời lễ riêng, vợ chồng ông lúc nào cũng sắm sanh mọi vật phẩm để cúng tế và thành tâm cầu nguyện:

 “Kính lạy đức Brahma vô năng thắng! Là linh hồn ti tiểu đầy nhiễm ô và bụi bặm do Ngài sáng tạo ra, con đã dọn sạch bản ngã bằng nước thiêng Soma, bởi trầm tư và thiền định. Con lắng dịu mọi vọng tưởng, chỉ còn một khát khao nối truyền tông hệ. Xin Ngài ban cho con một mụn con thơ. Con là linh hồn lạc lõng bơ vơ không còn đâu làm điểm tựa trên cuộc đời này. Vậy khát khao ấy là duy nhất và chơn chánh. Kẻ nô lệ của Ngài sẽ mừng vui tri ân Ngài mà làm một ngôi bảo tháp uy nghi và tạc tượng Ngài, trầm hương, trái cây, mâm súc vật, tế lễ quanh năm v.v… để bảo truyền linh phúc đầy ơn phúc của Ngài lan rộng ra bốn châu thiên hạ v.v… Kính lạy đức Brahma tối thượng tôn, Hóa Sanh chủ, Vô Năng thắng! Xin Ngài ban cho con một mụn con thơ!”.

Cuối cùng thì ước mơ của hai vợ chồng đã đến. Một hôm, sau buổi lễ cầu nguyện, thấy trong mình có những chuyển biến, với những dấu hiệu khác thường, bà Sàri biết trong mình đã thọ thai, bà rất mừng rỡ đến thưa cùng chồng:

“Này thần linh của thiếp! Kẻ nô lệ đã trải qua những khoảnh khắc xuất thần. Một vài linh điển ân triệu từ đấng Tối Cao đã ban xuống, rung động 32 đốt xương sống, rồi tụ sức nóng ở đốt cuối cùng v.v…”

Ông Vaganta hết sức vui mừng, biết rằng điều ước nguyện của mình sắp thành hiện thực, ông tổ chức lễ cúng tế, nguyện cầu nhiều hơn và truyền mở tiệc khoản đãi cả làng.

Bà Sàri vốn là một nữ Bà-la-môn thông thái hiểu biết nhiều, rất giỏi về biện luận. Trước đây, mỗi lần biện luận điều thua cậu em của mình là Câu-hy-la, một đại luận sư nổi tiếng thời ấy, nhưng lạ lùng thay lúc nàng thọ thai, mọi luận giải điều vượt hẳn cậu em. Câu-hy-la đoán biết đứa bé mà người chị mình đang mang trong bụng sẽ là một thiên tài về sau không ai sánh kịp; sợ rằng sau này mình sẽ tranh luận thua đứa cháu mình thì thiên hạ sẽ coi thường; do vậy, ông đã phát nguyện vào tàng kinh các ẩn mình nghiên cứu kinh điển của các học phái, phương pháp biện luận v.v... Ẩn mình gần hai mươi năm, nghiên cứu miệt mài đến nỗi móng tay của ông ta ra thật dài mà không chịu dành thời gian để cắt, vì thế người đương thời còn gọi ông là Trường Trảo Phạm chí (ông Phạm chí có móng tay dài).

Trưởng tộc Vaganta hết sức yêu mến vợ, ông đã cho nhiều nữ tỳ hầu hạ và chăm sóc vợ rất chu đáo trong thời gian nàng mang thai. Ngày tháng dần trôi và ngày mãn nguyệt khai hoa cũng đã đến, nàng Sàri đã sanh hạ một hoàng nam khôi ngô tuấn tú hết sức phi phàm. Sắc diện và dung mạo của bé như một  sư tử chúa lông vàng bước ra từ động báu, tên làng là Upatissa đã được dùng để đặt tên cho bé, kết hợp cùng với tên của người mẹ là Sàri, nên tên của hoàng nhi được gọi là đủ là Sàri Upatissa, nhưng tên thường gặp trong kinh tạng là Sàriputta (Xá-lợi-phất), nghĩa là người con trai của bà Xá-lợi.

Không phải vô tình hay ngẫu nhiên, tất cả cũng nhờ vào nhân duyên tiền kiếp, trong lúc cả làng Upatissa đang tổ chức đại lễ ăn mừng sự chào đời của con trai trưởng giáo, tộc trưởng của làng mình, thì tại làng Kolita kế cận, cũng đang tổ chức lễ vui mừng sự chào đời của con trai tộc trưởng làng của họ, và hoàng nhi này cũng được lấy tên làng để đặt tên là Kolita, gọi đủ là Moggalli Kolita (Mục-kiền-liên).

Cảm tạ ân đức thần linh đã ban cho mình một hoàng nam như ý, trưởng giáo Vaganta đã tổ chức nhiều cuộc tế lễ linh đình và mở tiệc thiết đãi dân làng. Về sau, ông còn xây thêm một bảo tháp để cúng tế, đúng như lời nguyện cầu trước kia.

2. Thuở thiếu thời

Thân phụ Ngài là tộc trưởng, là đại luận sư và cũng là trưởng giáo Bà-la-môn, nên ngay từ lúc vừa biết nói, biết chạy; hoàng nam Sàriputta, được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục rất chu đáo. Ngoài ra, Ngài còn được thân phụ truyền dạy những câu mật chú, những nghi thức tế lễ, nguyện cầu và Ngài cũng được thân phụ thường dẫn theo để tham dự các khóa lễ. Năm lên sáu tuổi Sàrputta đã được phụ thân mời ba vị thầy uyên bác tại thành Vương-xá về dạy các môn: Ngữ pháp, luận lý, triết học v.v…và các môn học thường thức khác, riêng thân phụ chàng hàng ngày vẫn truyền dạy nhiều môn học, nhất là tế lễ. Mẹ chàng, bà Sàri cũng dạy con nhiều điều, nhưng lại lo sợ tham vọng của chồng mình muốn nhét mọi môn học cho đứa con còn quá nhỏ. Trái lại những điều lo sợ của bà, vốn là thần đồng tu học từ nhiều kiếp, Sàriputta lãnh hội rất mau chóng mọi môn học. Chưa đầy một năm sau, thân phụ của Ngài phải hết sức ngạc nhiên về khả năng tiếp thu cũng như sự thông tuệ của con mình, ông rất hãnh diện tuyên bố rằng: Chỉ cần vài năm nữa thôi thì các vị thầy uyên bác kia sẽ không còn điều gì để dạy cho con ta nữa!

Năm lên 8 tuổi, một sự kiện hy hữu đã xảy ra. Thời ấy trong nước Ma-kiệt-đà có hai anh em trưỡng giả, em tên là Cát-lợi, người anh là A-già-la mở tiệc đãi đằng vua quan và các luận sư, đồng thời tổ chức buổi tranh luận về các môn triết học, khoa học, số luận học, kinh điển v.v… Trong hội trường tranh luận, có thiết kế một ghế cao để dành cho vị luận sư nào giỏi nhất, tranh luận thắng thì được ngồi lên đó. Trong buổi lễ ấy cha chàng cũng được mời đến, và người con yêu quý của mình cũng được dẫn theo, khi buổi lễ bắt đầu mọi người ngồi theo vị trí đã được sắp sẵn, chỉ riêng mình Ngài chạy đến chỗ ngồi cao nhất dành sẵn cho người tranh luận giỏi nhất, mọi người đều kinh ngạc, cho là chú bé nghịch ngợm, vô phép, chưa biết gì, nhưng bằng tài thông minh ứng xử của mình, Sàriputta đã làm đẹp lòng mọi quần thần và các luận sư, buổi hội thảo tranh luận vô tình đã trở nên hấp dẫn mọi vấn đề hầu như đều dồn về phía cậu bé, mọi câu hỏi trên mọi lãnh vực được đưa ra, Sàriputta đã trả lời khúc chiết, nghĩa lý thích hợp, mọi vấn đề đều thông suốt giống như những câu trả lời của một đại luận sư nổi danh nhất, toàn thể cử tọa trong buổi hội thảo tranh luận đều kinh ngạc, và họ đều cho rằng cậu bé Sàriputta xứng đáng được ngồi vào ghế danh dự cao cả ấy. Các luận sư đều khâm phục, cha chàng rất hãnh diện và cũng tự nhận thấy rằng tài trí của mình không bằng cậu con yêu, đặc biệt là quốc vương xứ Ma-kiệt-đà rất đẹp lòng và cảm mến tặng luôn một thôn trang cho Sàriputta. Tuổi ấu thơ của Sàriputta đã nổi danh vang lừng như vậy, và cũng kỳ lạ thay bé Kolita ở làng bên cũng nổi danh về thông tuệ.

Gia đình của Sàriputta và gia đình của Kolita có sự giao hảo thân mật từ bảy đời, nên hai trẻ được bố mẹ tạo cho nhiều cơ hội cho hai trẻ gặp nhau cùng vui chơi và sinh hoạt một cách rất hòa thuận và vui vẻ. Có một điều đặc biệt là tự thân Kolita và Sàriputta gọi nhau là huynh đệ, Sàriputta là huynh và Kolita là đệ không cần ai chỉ dạy. Năm lên 12 tuổi, Sàriputta càng nổi tiếng thêm, các môn học về số học tự nhiên học, địa lý, chiêm tinh, triết học v.v… được nhiều vị thầy uyên bác do cha chàng mời thêm tiếp tục truyền trao, trí tuệ của trẻ Sàriputta được các bậc thầy công nhận như là đại dương dung chứa hàng trăm con sông kiến thức, bao nhiêu kiến thức đều được tiếp thu không bao giờ có dấu hiệu tràn đầy. Hạnh phúc càng nhân đôi khi mà vợ Ông, bà Sàri các năm sau lại sanh thêm nhiều người con nữa.

Năm lên 15 tuổi, đúng như lời thân phụ chàng dự tính, các vị thầy uyên bác đã gặp ông và nói rằng: “Thưa trưởng giáo, sở học và chữ nghĩa của chúng tôi thì có hạn mà sự thông minh và lòng ham hiểu biết của công tử thì vô hạn. Chúng tôi, mỗi người chỉ làm thầy công tử một môn học, công tử hiện nay có khả năng làm thầy chúng tôi nhiều môn học khác”. Và tất cả các vị thầy xin được rút lui. Cũng ở tuổi này Sàriputta đã có xung quanh mình cả trăm đồ chúng theo học.

Những năm 17, 18 tuổi chàng chuyên sâu vào nghiên cứu về kinh điển Vệ-đà, đây là kinh điển truyền thống mà dòng dõi Bà-la-môn phải thừa kế. Với trí thông minh và sự hiểu biết của mình, chàng suy tư sâu sắc trên mọi khía cạnh của hệ thống kinh, nhưng kinh này lại tổng hợp nhiều tri thức phức tạp đa dạng phong phú và đôi khi lại có nhiều mâu thuẫn nhau, chàng không sao giải đáp và hiểu tất cả được. Truyền thống của kinh này lại chỉ cho phép ghi nhận hoặc học thuộc và không được hoài nghi. Những suy tư và thắc mắc của Sàriputta ngày càng sâu lắng, không bao giờ chàng dám tự mãn hay tự cao mà luôn suy tư, khiêm tốn vì biết rằng còn rất nhiều điều mà mình chưa biết được, những bài thánh ca, tán tụng, cầu khẩn, tế lễ, thần chú, mà truyền thống Bà-la-môn cho rằng sẽ đưa đến Phạm thiên tối cao hằng hữu, siêu thế v.v… cũng chưa đem đến một ánh sáng nào cho mình, bóng tối về sự hoài nghi đã bắt đầu xuất hiện trong tâm chàng.

Đến tuổi 18, Chàng đã có phong độ và tư cách của một đạo sư lỗi lạc. Cha chàng đã giao tất cả những sự tế lễ cũng như những môn sinh của ông cho chàng đảm trách. Tuy nhiên những phút giây đơn độc, suy tư một mình, hay những khi dạo một mình chàng vẫn có những u hoài, những thắc mắc nan giải trong lòng.

(còn nữa)

 

Vu Lan: Lẽ sống, Tình người ^

Thích Đồng Thành

Có những chiều thu nhặt lá vàng,

Nghe lòng tràn ngập nỗi miên man,

Chạnh nhớ ân sâu tình man mát,

Ôi lòng mẹ đó cứ thênh thang. 

Mỗi khi những làn gió thu dịu mát trở về, trời đất nhuốm màu quan san, nhìn từng chiếc lá vàng đơn độc đang cuộn vào hư không mênh mông vô tận, nghe tiếng rỉ rích của những giọt mưa ngâu bên bờ sông xa vắng, có lẽ, trong chúng ta, ai cũng cảm thấy cõi lòng mình dấy lên một nỗi niềm bâng khuâng, xao xuyến kỳ lạ. Bâng khuâng bởi giữa vũ trụ bao la kia, thân phận mình sao quá bé nhỏ, tầm thường và mong manh; xao xuyến vì trong cõi cảnh túy sanh mộng tử này đời mình vẫn còn diễm phúc được sinh ra và lớn khôn trong bầu trời tình thương hiền hòa và trong mát của cha và mẹ.

Từ thuở còn nằm trong nôi, con thơ đã biết đến quê hương qua những lời ru ngọt ngào và tha thiết của mẹ. Những lời ru ấy tuy dung dị, nhưng đã gieo vào tâm hồn con thơ những ý niệm thật đẹp, thật đáng yêu về tình người và lẽ sống, nhen nhúm trong con hoài bão vào và hy vọng bình dị mà thiêng liêng, lắng sâu mà tha thiết. Trải qua bao năm tháng của đời mình, con thơ mới dần thấu hiểu được gì là quê hương, đâu là tình mẹ:

Quê nghèo có mái tranh xiêu,

Có con đò nhỏ sớm chiều đón đưa,

Có hoa cau, có bóng dừa,

Có người mẹ đã bạc phơ mái đầu.

Mẹ và quê hương, hai tên gọi dường như cách biệt ấy đã quyện vào nhau để nâng niu, nuôi dưỡng và đưa lối con thơ vào một thế giới kỳ hoa dị thảo. Quê hương có nắng sớm mai của trời xuân, có tiếng võng đưa kẽo kẹt giữa trưa hè, có đàn cò thẳng cánh trên đồng lúa xanh, có những đêm trăng rằm thanh bình, êm ả v.v… tất cả những nét kiêu kì đó của tạo hóa sẽ trở nên vô vị, xa lạ nếu như nơi ấy thiếu đi hình bóng thân thương và lời ru ngọt ngào của mẹ.

Vào những ngày đông rét mướt, mẹ chống chọi với cái buốt giá của đất trời để con mình được ấm êm trong chăn gối. Những lúc gió xuân đến, dù thiếu thốn trăm bề, mái tranh nghèo hãy còn siêu vẹo, mẹ vẫn cố xoay sở cho con được chiếc áo mới để con không cảm thấy tủi thân với chúng bạn xung quanh. Mẹ yếu đi để con vạm vỡ, mẹ già đi để con khôn lớn. Từ khoảnh khắc tinh mơ cho đến đêm khuya tĩnh mịch, suốt bốn mùa luân chuyển của đất trời, mẹ dãi dầu trong nắng mưa, nhẫn chịu trong gian khó, dành cả tuổi thanh xuân, hy sinh trọn đời mình để đổi lấy một thứ rất tầm thường trong cuộc sống: nụ cười của con. Nụ cười ấy là niềm vui của mẹ, một niềm vui thật bình dị nhưng cao quý biết bao.

Có lẽ chính nét cao thượng của tình thương đó mà hình tượng người mẹ đã trở thành một biểu tượng thiêng liêng trong nhiều nền văn hóa của loài người và hiếu hạnh được xem là một trong những đức tính cao đẹp nhất để thẩm định nhân cách mỗi người, đặc biệt là trong văn hóa Á Đông.

Truyền thống cổ xưa của Ấn Độ cho rằng một vị thầy tâm linh bằng mười vị thầy thế tục, một người cha bằng một trăm vị thầy tâm linh, nhưng một người mẹ thì bằng một ngàn người cha, người nào đền đáp được công ơn của cha mẹ chính là người cao thượng trên đời này. A-dục vương, vị hoàng đế vĩ đại nhất trong lịch sử cổ đại Ấn Độ đã từng sắc chỉ cho khắc những lời giáo huấn của đức Phật cho những thanh niên Licchavi trên tấm bia Brahmagiri như sau: “Mẹ, cha và các vị thầy cần phải được chăm sóc chu đáo, lòng từ bi phải được ban trải đến khắp chúng sanh, chân lý phải được tuyên thuyết rộng rãi cho mọi người… đây là những phẩm tính tự nhiên tự ngàn xưa, chúng là cho cuộc sống được trường cửu và mọi người cần phải kính cẩn tôn thờ.” Đạo lý thờ cha kính mẹ vốn đã là một nguyên lý sống rất thực, rất gần gũi với những trái tim nơi xứ sở văn hóa lâu đời ấy.

Đối với người Trung Quốc, hiếu hạnh được xem là một đức tính cụ thể nhất để đánh giá nhân cách của một con người. Họ trân trọng Hiếu kinh, họ ngưỡng mộ những tấm gương hiếu hạnh. Bàng bạc trong văn chương trí thức hay bình dân, chúng ta thấy tấm gương một Vương Tường vùi mình trong băng lạnh để hơi nóng làm tan băng hầu bắt cá đem về nuôi mẹ, một Ngô Mãnh chỉ mới tám tuổi ngủ không mặc áo, chịu bị muỗi đốt để cha mẹ được ngủ yên…Khổng Tử thì không ngớt lời khen ngợi những người chí hiếu, Mạnh Tử thì luôn nhắc đến mẹ trong nỗi niềm khôn khuây. Ngài Tông Mật, vị tổ thứ năm của Hoa Nghiêm tông trong Phật giáo Trung Quốc đã từng viết rằng: “Từ thuở hỗn mang của vũ trụ cho đến ngày nay, có một nhân tố thấm nhuần cả đất trời, hợp nhất người và thần, nối liền giữa kẻ cao sang và người nghèo khó, được hàng tín đồ Khổng, Thích tôn sùng, nhân tố ấy không gì khác hơn là đạo hiếu.

Con người sinh ra trong cõi đời này không thể chỉ biết sống với bản năng, dục tính hay chạy theo một tham vọng viễn vông, xa lạ nào đó để rồi đời mình bị chôn vùi trong lo sợ, khao khát và khổ đau. Sự cao thượng hay thấp hèn của mỗi người đều tùy thuộc vào nhân cách, phẩm hạnh của người ấy. Nhân cách hay phẩm hạnh ấy được hiệp thành không chỉ từ mỗi hành vi, lời nói mà ngay cả từ những ý niệm vi tế trong tâm thức của họ. Sống là phải hiểu đạo lý, là phải biết vươn lên theo ánh sáng chân lý của cuộc đời. Cha mẹ là hiện thân của lẽ sống, của tình thương, là một nguồn hạnh phúc cao quý nhất trên thế gian này. Thờ ơ với cha mẹ, chúng ta đã vô tình bị vuột mất khỏi tầm tay một cơ hội hy hữu, quí giá mà sau này ta sẽ không tìm được ở bất cứ nơi đâu hay bất cứ lúc nào trên trần gian này. Mỗi giây phút, mỗi sát na của thời gian cứ thoáng qua thật mau, lắm lúc con tỉnh ngộ lại thì hỡi ôi đã quá muộn màng, còn đâu nữa lẽ sống và tình đời, còn chi nữa hạnh phúc và thương yêu. Bài thơ quạ hiền mất mẹ đã phần nào diễn tả nỗi niềm thống thiết của người con khi mẹ qua đời:

Từ ô thất mẫu,

Á á hổ ai âm,

Triêu dạ bất phi khứ,

Chung niên thủ khố lâm…

Tích hữu Ngô Khởi giả,

Mẫu một tang bất  lâm,

Ta tai tư đồ bối,

Kỳ tâm bất như cầm.

Quạ hiền bị mất mẹ, tiếng kêu thật thảm thiết bi ai, suốt ngày chẳng chịu bay đi và trọn năm quanh quẩn trong rừng cũ, nơi mà mẹ mình ngày xưa thường sống… Xưa có một người tên Ngô Khởi, mẹ mất nhưng chẳng chịu về thọ tang, thương thay cho bọn người như thế, tâm họ đâu bằng tấm lòng của loài cầm thú nơi rừng sâu. Xem thế cũng đủ để biết rằng tình mẫu tử là một thứ tình thật thiêng liêng luôn âm ỉ trong từng nguồn mạch cơ thể của vạn triệu sinh linh trên trần gian này.

Trong đạo Phật, hình tượng người mẹ luôn là biểu tượng tỏa sáng của tâm nguyện, nhân cách và sự hy sinh. Tình thương của mẹ gồm thâu cả bốn loại tâm vô lượng từ, bi, hỉ và xả. Khi biết mình thọ thai, người mẹ cảm nhận niềm vui của tâm từ. Dầu chưa hình dung được hình dáng con mình, mẹ vẫn luôn muốn bảo bọc, nâng niu con. Khi con cất tiếng khóc chào đời, một tình thương con dấy lên trong lòng mẹ, mẹ muốn xoa dịu và chia sẻ nỗi đau của con. Lúc con bắt đầu biết bò, biết đi, biết cười, biết nói, mẹ cùng hoan hỉ với niềm vui của con. Khi con lớn lên, tiếp xúc với cuộc đời, ra đi theo ước vọng riêng, mẹ nâng cánh con bay vào cuộc đời, không ôm giữ con cho riêng mình.

Tình thương của mẹ như thế không bao giờ làm tổn thương mà trái lại còn bồi đắp cho tâm hồn và thể xác của con. Vào mùa hạ, có những cơn mưa rào ào ạt đổ về làm cho mặt đất tinh khôi kia bị xói mòn, loang lổ, cuốn trôi những lớp phù sa màu mỡ trong lòng đất. Tình thương của mẹ không ào ạt, hồ hởi như những cơn mưa rào kia mà trái lại nó giống như cơn mưa râm âm thầm, rỉ rích, thấm sâu vào lòng đất, vào từng tế bào, từng mạch máu của con, xoa dịu những niềm ray rức của đời con, mang đến cho con một niềm tin về lẽ sống cuộc đời.

Đức Phật dạy rằng cha mẹ là những vị thầy đầu tiên và cũng cao cả như Phạm Thiên, vị thần cao tột nhất trong huyền thoại Ấn Độ, do vậy người con phải luôn tưởng nhớ đến những thâm ân cao cả của cha mẹ mình. Văn học Phật giáo có kể lại rằng vì cảm niệm thâm ân của mẹ, đức Phật đã đến cung trời Đao Lợi, nơi mẹ mình thác sanh sau khi lìa đời, để giảng pháp cho mẹ. Ngài cũng giảng pháp cho cha, giúp phụ vương liễu ngộ chân lý để thoát khỏi vòng luân hồi.

Theo Phật giáo, trên đời này có ba loại người con, đó là: người con kém hơn cha mẹ về mọi mặt (Avajata); những người con có cùng khả năng như cha mẹ (Anujata); và  những người con siêu việt cha mẹ mình (Atijata). Nếu người con biết sống hướng thượng, vượt hẳn những khả năng của cha mẹ thì đó là một niềm tự hào cho gia đình, bằng không người con phải cố noi gương cha mẹ chứ đừng bao giờ có điều gì yếu kém hơn cha mẹ vì đó là một điều tủi hổ cho mình và gia đình mình.

Người con phải biết ơn cha mẹ mình, phải chăm sóc họ thật chu đáo. Nếu cha mẹ có làm gì sai, con cái phải giúp cha mẹ từ bỏ những tà nghiệp đó, phải khuyến hóa cha mẹ làm các việc lành. Nếu cha mẹ không có chánh tín thì con phải làm sao để gieo niềm tin chân chánh trong lòng cha mẹ. Nếu cha mẹ vô luân, người con phải khuyên cha mẹ sống theo luân lý đạo đức. Nếu cha mẹ không được học hỏi những lời giáo huấn quí báu thì người con phải tạo điều kiện cho cha mẹ. Nếu cha mẹ không rộng lượng, người con phải khuyên họ độ lượng. Nếu cha mẹ không hành thiền để tăng trưởng tuệ giác thì người con phải khuyến khích họ hành thiền. Nếu cha mẹ đang theo con đường thuần thiện thì người con phải theo gương họ. Làm được như vậy, người con đã báo ân cha mẹ mình một cách ý nghĩa nhất trong cuộc đời này.

Trong Kinh Tăng Chi, đức Phật thường khen ngợi những người biết ơn và biết  báo ơn một cách chân chính. Ngài dạy rằng người biết ơn là hạng người hy hữu trong đời này: “Này các Tỳ-kheo, sự xuất hiện của ba hạng người trên thế gian này thật là hy hữu. Những gì là ba? Sự xuất hiện của đức Như Lai, bậc A La Hán, bậc Chánh Đẳng Giác trên thế gian này thật là hy hữu; cũng vậy, người có thể tuyên thuyết pháp và luật mà đức Như Lai đã dạy; và người luôn chánh niệm, biết ơn thì thật là hy hữu trên thế gian này.” Ngài còn dạy rằng một người cao thượng là người biết ơn và luôn ghi nhớ công ơn mà mình đã nhận từ người khác. Biết ơn và chánh niệm là những đặc điểm của một người cao thượng.

Trong hàng đệ tử của đức Phật, tôn giả Xá-lợi-phất là một người con hiếu trí kiêm toàn. Khi biết thọ mạng của mình không còn bao lâu nữa, Tôn giả liền xin phép đức Phật được trở về thăm lại và nhập diệt tại quê nhà. Từ lâu mẹ Ngài vẫn còn tin theo Bà-la-môn giáo, dù gia sản đồ sộ, bà vẫn không quen thực hành hạnh bố thí, cúng dường và tu tập theo chánh đạo. Khi trở về quê, Tôn giả thị hiện bệnh tật, Đế Thích và các thiên chúng khác đến vấn an, mong được hầu hạ, nhưng Tôn giả từ chối vì rằng xung quanh Ngài đã có nhiều pháp hữu chăm lo. Sau khi chư thiên từ giã Tôn giả, bà Xá-lợi liền vào hỏi thăm và được biết rằng trong số chư thiên đó có cả người mà mình đang tôn thờ: trời Đế Thích - một chúng sanh đang còn trầm luân, trí tuệ và đạo lực kém xa con mình. Bà vô cùng bất ngờ và sự kiện đó đã chuyển hướng cuộc đời của bà theo Chánh pháp.

Hạnh hiếu là thánh hạnh của tôn giả Xá Lợi Phất, là Bồ-tát hạnh của Bà-la-môn nữ-tiền thân của đức Địa Tạng Vương (Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện), là Phật hạnh của Thiểm Tử- tiền thân của đức Phật Thích Ca (Kinh Bổn Sanh, Phật Thuyết Bồ Tát Thiểm Tử Kinh).

Gương hiếu của Thiểm Tử được đề cập khá nhiều trong các tác phẩm văn học Phật giáo Trung Quốc và là một mẫu chuyện rất cảm động về đạo hiếu. Nội dung mẫu chuyện ấy như sau:

Có một vị Bồ-tát du hóa trong nhân gian, Ngài gặp một đôi vợ chồng già nua, mù loà và không có con cái. Cả hai vợ chồng đều có ước nguyện vào rừng núi để sống gần gũi với thiên nhiên hoang dã, dành thời gian còn lại trong đời mình để tu niệm thân tâm. Vì sợ rằng đôi vợ chồng già ấy sẽ gặp bất trắc trong rừng sâu nên Bồ-tát bèn tái sanh trong gia đình ấy để chăm sóc cho họ. Khi sanh được một cậu con trai, hai vợ chồng vô cùng sung sướng và đặt tên con là Thiểm Tử. Lớn lên Thiểm Tử rất mực ngoan hiền và chăm sóc cha mẹ mình thật chu đáo. Năm tháng trôi qua, cha mẹ của Thiểm Tử đã quên đi ý nguyện ban đầu. Một hôm Thiểm Tử nhắc lại cho cha mình ước muốn ngày xưa và chàng hứa rằng sẽ hầu hạ cha mẹ chu đáo nếu họ thích vào rừng sâu. Nghe lời hứa của con, đôi vợ chồng bèn bán tất cả gia sản và cùng vào chốn thâm sơn. Tại nơi trú ẩn mới, Thiểm Tử cất một gian nhà tranh, giăng giây khắp nơi để hướng dẫn lối đi cho cha mẹ và vẫn chăm sóc song thân một cách chu đáo như thuở trước. Gia đình Thiểm Tử sống chung với muông thú xung quanh, làm bạn chim chóc của núi rừng.

Khi mùa xuân đến, mỗi lần đến hồ lấy nước, Thiểm Tử thường choàng áo da hươu vì chàng không muốn làm khuynh động các loài thú bên hồ. Sáng hôm đó, quốc vương xứ ấy đi săn trong khu rừng nơi Thiểm Tử đang sống. Thấy một đàn hươu bên hồ, nhà vua bèn vội vàng giương cung, một con hươu gục ngã bên dòng nước. Nhà vua vui mừng thúc ngựa đến bên hồ nước, nhưng đau xót thay con vật bị trọng thương kia lại là Thiểm Tử. Nhà vua sửng sốt và hỏi Thiểm Tử vì sao lại mặc áo da hươu. Thiểm Tử thuật lại mọi chuyện và nói rằng suốt bao năm qua, chưa có một con thú nào làm hại đến mình mà giờ đây, chàng lại trúng tên độc của một đồng loại. Nếu chàng chết đi thì cha mẹ cũng không thể sống được vì không ai chăm sóc cho họ. Trong lúc cái chết đang đến gần người con đức hạnh và hiếu thảo, dông tố và mưa gió ào ạt nổi lên khắp nơi, chim muông đều kêu la thảm thiết. Nhà vua vô cùng lo sợ và hối hận rằng vì một chút vui thú, mình đã hại đến một người con hiếm thấy. Song Thiểm Tử tâu với vua rằng đây là nghiệp quả của mình chứ không phải lỗi của nhà vua, điều mà chàng lo nhất là hai đấng song thân không có người phụng dưỡng. Cảm động trước tấm lòng chí hiếu của Thiểm Tử, nhà vua hứa sẽ chăm sóc cha mẹ chàng chu đáo nếu như chàng qua đời. Thiểm Tử chỉ đường cho nhà vua đến am tranh và trút hơi thở cuối cùng.

Khi hay tin dữ, cha mẹ Thiểm Tử đau đớn vô cùng, họ mong được sờ  lên thi thể người con yêu của mình. Người cha ôm đôi chân và bà mẹ thì tựa đầu con vào lòng. Sau đó bà lại liếm vết thương, hút chất độc ra và mong rằng con sẽ sống lại dù mình phải hy sinh. Trong cơn đau đớn tột độ, hai vợ chồng bèn lập lời thề rằng nếu Thiểm Tử là một người con chí hiếu thì chất độc kia sẽ tan biến, con mình sẽ sống lại. Lời thề ấy cảm thấu đất trời, mũi tên bỗng bậc ra, chất độc tan dần và Thiểm Tử sống lại.

Thiểm Tử là hiện thân của một người con chân chính, luôn hướng cha mẹ mình về một đời sống hướng thượng. Người con như thế quả là một nhân duyên lớn, là thiện tri thức để cha mẹ có thể thăng hoa nhân cách và đạo nghiệp của mình.

Vào ngày rằm tháng bảy, người ta thường về chùa để cầu nguyện cho mẹ cha, để dự lễ Bông Hồng Cài Áo, đó là những nghĩa cử thật cao đẹp và ý nghĩa để người con có thể sống với cha mẹ bằng trọn trái tim nhiệt thành của mình. Nguồn hạnh phúc tinh thần đó thật dung dị nhưng lại vô cùng thâm thuý và thiêng liêng, không thể đánh đổi bằng vật chất giả tạm của thế gian. Áo em cài một đoá hoa hồng, cõi lòng em trào dâng một niềm vui sướng vì đời mình vẫn còn có mẹ. Đôi khi người ta thường gắn thêm một chiếc nơ bên dưới bông hồng để làm biểu tượng cho cha, cha còn là nơ xanh, cha mất là nơ trắng. Thật bất hạnh cho những ai bỗng cảm tủi thân khi người ta cài lên áo mình một đoá hoa trắng, nơ trắng. Làm sao có thể nói hết được tâm sự của người cài hoa trắng, một tâm sự đơn côi, trống vắng, như bầu trời đêm không một ánh sao, như một ngày buốt giá không một tia nắng rọi về.

Nếu là người được cài hoa hồng, nơ xanh, bạn hãy vui lên, hãy đặt trọn niềm tin vào những ước vọng tươi sáng của mình vì bên cạnh bạn, trong trái tim bạn vẫn còn hiện hữu một dòng suối tình thương thật trong mát và ngọt ngào, một nguồn động viên thật mạnh mẽ, thâm sâu. Giữa những đa đoan của cuộc sống, bạn nên dành cho mình những giây phút trầm lắng để tiếp xúc với song thân, nhất là khi làn da mẹ trở nên nhăn nheo, khi từng sợi tóc của cha đã nhuốm bạc, khi vẻ đẹp của mẹ trong tuổi thanh xuân không còn nữa. Chính những khoảnh khắc đó, bạn thực sự sống với cha mẹ bằng niềm tri ân chân thành và ý nghĩa nhất. Có như thế, thì dẫu mai sau, dù sống ở phương trời nào đi nữa, dù đang vượt qua đoạn đường nào trong hành trình xa xăm của cuộc đời, bạn vẫn thấy trong trái tim mình, trong máu thịt mình một niềm an lạc miên trường, một tình thương và lẽ sống muôn phần cao quý.

Mùa Vu Lan PL 2548

TĐT.


 

VU LAN - BÁO HIẾU ^

Viên Quang

Từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo nhanh chóng cùng hòa quyện với dân tộc thành một thể thống nhất. Lịch sử Việt Nam không thể tách rời lịch sử Phật giáo Việt Nam. Chính vì vậy, Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống tinh thần của người dân Việt, được thể hiện qua nhiều phương diện, văn học dân gian cũng như các tác phẩm điêu khắc v.v... mà nhất là các lễ hội truyền thống. Trong đó, Vu Lan được xem là lễ hội khá tiêu biểu.

“Vu Lan hay Vu Lan Bồn là dịch âm Phạn tự (Ullambana). Còn có một dịch âm nữa là Alamnàna. Trí Húc Đại sư nói, Vu-lan-bồn dịch nghĩa là Cứu đảo huyền: giải cứu cái khổ như sự bị treo ngược. Như vậy, Vu Lan có nghĩa là bản kinh chỉ cách giải cứu cái khổ khốn cấp trong các đường dữ, đó là nghĩa chính, và Vu-lan-bồn toàn là dịch âm Phạn tự. Tuy nhiên, nhờ trùng âm, ngẫu nhiên chữ Bồn lại có nghĩa của chữ Trung Hoa, và quan trọng là chữ ấy, kinh văn dùng để nói đến dụng cụ đặt đồ hiến cúng, trong cách Cứu đảo huyền. Như vậy, Vu-lan-bồn ngẫu nhiên mà có cái nghĩa Bồn Vu Lan. Nhưng nghĩa này chỉ phụ thuộc, dầu theo kinh văn, nghĩa này khá quan trọng”. (Kinh Vu Lan, HT Trí Quang dịch, bản in 2004, tr.52).

Vu lan là một ngày lễ truyền thống của Phật giáo, một ngày lễ nhuốm đậm màu sắc về tình người và đạo đức, mang một ý nghĩa cao cả và thiêng liêng, thắp lên một ngọn đèn giải thoát soi sáng cho những sinh linh đang còn chìm ngập trong cõi u đồ đen tối. Vu lan còn giúp cho những ai đang còn hiện hữu trên cuộc đời nầy ít nhất cũng một lần hồi tưởng về cội nguồn của mình, cái nơi mà trong mỗi con người chúng ta đã từng nhắc đến “cây có cội nước có nguồn”. Chúng ta sanh ra từ đâu “trước có tổ tiên ông bà cha  mẹ, rồi sau mới có mình”.

Đúng vậy, phàm làm người ai cũng có tổ tiên ông bà cha mẹ. Sống trên cuộc đời, chúng ta cần phải làm tròn đôi chữ hiếu đạo-nhân tình. Đến lúc ta phải cần đến nó cũng như nhịp đập của con tim để cần thiết cho sự sống. Hiếu đạo-nhân tình là một vấn đề cần thiết để gìn giữ linh hồn đạo đức văn hóa nhân loại. Vì rằng, làm sao có thể có một nền văn hóa mà không có hiếu đạo-hiếu nghĩa của con cái đối với tổ tiên ông bà cha mẹ. Và làm sao có thể có một mầm mống đạo đức mà xây dựng trên cơ sở không có tình người, trước tiên là tình cha, tình mẹ đối với con cái của mình.

Trước hết, ơn cha nghĩa mẹ đối với con cái thì cao như trời, rộng như biển, không bút mực ngôn từ nào có thể diễn tả hết được.

Thứ nhất, chúng ta sống giữa cuộc đời có biết bao thứ để đáng quý, đáng trân trọng. Nhưng mà cái đáng quý nhất, cái đáng trân trọng nhất là ta được làm thân người. Vì rằng, trong kinh đức Phật có dạy: thân người khó được mà dễ mất. Khó được mà được là phần lớn do ở cái ân sinh, dễ mất mà còn là phần lớn do ở cái ân dưỡng. Vậy nên, hầu như toàn bộ hành trang vào đời của  chúng ta  đều thuộc vào bố mẹ. Cho nên người xưa có nói:

“Phụ hề sinh ngã

  Mẫu hề cúc ngã

  Ai ai phụ mẫu

  Sanh ngã cù lao

  Dục báo thâm ân

  Hạo thiên võng cực”

“Cha sinh ta ra

  Mẹ nuôi nấng ta

  Thương thay cha mẹ

  Nuôi ta nhọc nhằn

  Muốn báo ơn dày

  Nhưng công ơn cha mẹ

  Như trời xanh cao rộng vô cùng”        

Thứ hai, mẹ cưu mang mười tháng cực khổ khó nhọc. Ngay từ khi ta còn trong trứng nước mẹ đã đi đứng kiêng dè, uống ăn thận trọng, vì sợ động đến thai nhi. Rồi khi ta có tiếng khóc chào đời, bao nhiêu tình thương của mẹ đã dành hết cho ta. “Nuôi con chẳng quản chi thân, bên ướt mẹ nằm bên ráo con lăn”, mẹ đã không từ nan dơ bẩn, đớn đau miễn sao con mình được no ấm, an lành.

Còn cha thì lao nhọc vất vả không sợ bất cứ một khó khăn nguy hiểm nào, miễn chỉ cần tìm được miếng cơm manh áo để lo cho sự sống của con, lo cho con đường công danh sự nghiệp sau này.

Đó là chưa kể đến nếu ta lỡ có một bịnh tật nào, hay lỡ vào đường tù tội, hay sa vào đường thất sủng sự nghiệp công danh, thì cha mẹ nguyện sao có thể hy sinh đời