Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Tập san Phật Học


   

 

 

Tập san Pháp Luân

No.13

Mục Lục

 

   - Phật pháp cơ bản

T đế (tt) TT. Thích Đức Thng

 

  - Thánh Hạnh 

Thn thông và nghip lc ca Tôn gi Mc-kin-liên – Thích Trí Lc

 

 - Tưởng niệm

 

Mt li ca, mt hun th - Như Tâm 

Ôn Trí th, mt hóa thân k diu - TT. Thích Hnh Thin  

Hành trình sơ chuyn Pháp luân ca đức Pht - Thanh Tâm

 

 - Giảng luận

 

Thin Ba-la-mt -Tâm Như Trí Th 

Chỉ̀n Một Đ̉m Loé Vô Minh Luyện Thành Con Người Đại Trượng Phu - Thiền Lâm Cụ́p 40 

Trng thái con người sau khi chết - Nguyên Liên 

Hc theo hnh ca bin c - Chánh Nim

 

 - Lịch sử 

Pht giáo 1000 năm đầu… - Tâm Phương

 

 - Truyện tiền thân 

Tiếng hú ca sói gia đàn sư t - Quang Sơn

 

 - Truyện ngắn 

Sâu kiến tranh hùng  

Li v - Qunh Sa

 

  - Văn học 

Ý thc bình minh – Hnh Phương  

Chân thường gia dòng biến dch - Mc Không T

 

 -  Phật pháp với tuổi trẻ:  

Bước đầu làm quen vi Thin - Tâm Minh

 

 - Tin tức

 

Thái Lan: Tăng sĩ và Pht t biu tình phn đối hãng bia The Elephant bán c phiếu ra th trường 

Rm tháng Giêng, ngày l k nim Đại hi Thánh Tăng ti tinh xá Trúc Lâm

 

 - Thơ 

Hunh Khi Nguyên Ninh Giang Thu Cúc Thông Nhã

 

 ---o0o--- 

Tứ Đế ^

TT. Thích Đức Thắng

(tiếp theo và hết)

Ngoài ra, lý Tứ đế còn phân ra làm ba giai đoạn, mỗi giai đoạn có bốn hành tướng gọi là tam chuyển thập nhị hành tướng:

a) Lần chuyển ban đầu gọi là Thị chuyển: “Đây là sự thật về Khổ, đây là sự thật về sự tập khởi khổ, đây là sự thật về diệt khổ, đây là sự thật về con đường đưa đến sự diệt khổ.”

b) Lần chuyển thứ hai gọi là Khuyến chuyển: “Đây là sự thật về khổ chúng ta nên biết tất cả, đây là sự thật về sự tập khởi khổ chúng ta nên đoạn trừ, đây là sự thật về diệt khổ chúng ta nên chứng, đây là sự thật về con đường đưa đến diệt khổ chúng ta nên tu tập.”

c) Lần chuyển thứ ba gọi là Chứng chuyển: “Đây là sự thật về khổ Ta đã biết tất cả, đây là sự thật về sự tập khởi khổ Ta đã đoạn, đây là sự thật về diệt khổ Ta đã chứng, đây là sự thật về con đường đưa đến sự diệt khổ Ta đã tu tập.” Đó gọi là mười hai hành tướng.

Và như thế, cứ trong mỗi sự thật (đế) đều có ba lần chuyển thành mười hai hành tướng. Như vậy tất cả cộng lại là mười hai lần chuyển thành bốn mươi tám hành tướng. Ở đây, chúng ta dùng sự thật về khổ mà nói thì: “Đây là sự thật về khổ” chỉ cho “Thị tướng chuyển”, và “Nên biết tất cả sự thật về khổ này” là chỉ cho “Khuyến tướng chuyển”, còn “Đã biết tất cả sự thật về khổ này” là chỉ cho “Chứng tướng chuyển”. Đó là ba lần đức Đạo sư nói về ba lần chuyển về sự thật thứ nhất tức Khổ đế. Cũng vậy, trong ba đế còn lại như tập, diệt, đạo thì cũng lại chuyển mỗi đế cũng ba lần như vậy, cộng tất cả lại thành bốn mươi tám hành tướng. Trong ba lần chuyển này cứ theo thứ tự mà chúng ta phối hợp đối với kiến đạo, tu đạo và vô học đạo. Trong mỗi một lần chuyển như vậy có đầy đủ sự hiện diện bốn hành tướng của nhãn, trí, minh và giác. Như trong kinh Chuyển pháp luân của Luật tạng, Tứ phần quyển 32, đức Đạo sư đã dạy:

“Bốn Thánh đế. Thế nào gọi là Thánh đế? Là khổ Thánh đế, khổ tập Thánh đế, khổ tận Thánh đế, khổ xuất yếu Thánh đế.

Những gì gọi là khổ Thánh đế?

Sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, thù ghét tụ hội khổ, ái biệt ly khổ, muốn điều gì không được là khổ. Nói một cách ngắn gọn, năm thạnh ấm là khổ. Đó gọi là khổ Thánh đế. Lại nữa, khổ Thánh đế cần được biết thì Ta đã biết. Đây nên tu đạo tám chánh: Chánh kiến, chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh hành, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm và chánh định.

Những gì là khổ tập Thánh đế?    

Ái lạc vốn được phát sinh từ trước do duyên nơi ái và tương ưng với dục. Đó là khổ tập Thánh đế. Lại nữa, diệt khổ tập Thánh đế cần diệt thì Ta đã diệt và tác chứng, nên tu tám chánh đạo: Chánh kiến, chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh hành, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm và chánh định.

Những gì là khổ tận Thánh đế?

Ái kia đã vĩnh viễn đoạn tận, vô dục, tịch diệt, xả, xuất ly, giải thoát, vĩnh viễn diệt tận, tịnh chỉ, không còn hang ổ. Đó gọi là khổ tận Thánh đế. Lại nữa, khổ tận Thánh đế cần được chứng đắc Ta đã tác chứng, nên tu tám chánh đạo: Chánh kiến, chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh hành, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm và chánh định.

Những gì là khổ xuất yếu Thánh đế?

Con đường của Hiền thánh có tám chánh này: chánh kiến, chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh hành, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm và chánh định. Đó là khổ xuất yếu Thánh đế. Lại nữa, khổ xuất yếu Thánh đế này cần được tu tập thì Ta đã tu tập.

Khổ Thánh đế này, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, phát sinh trí, phát sinh giác, phát sinh minh, phát sinh thông, phát sinh huệ, đắc chứng. Lại nữa, nên biết khổ Thánh đế này, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, Ta đã biết khổ Thánh đế, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, phát sinh trí, phát sinh giác, phát sinh minh, phát sinh thông, phát sinh huệ. Đó gọi là khổ Thánh đế.

Khổ tập Thánh đế đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, phát sinh trí, phát sinh giác, phát sinh minh, phát sinh thông, phát sinh huệ. Lại nữa, nên diệt khổ tập Thánh đế này, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, Ta đã diệt khổ tập Thánh đế nầy, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Đó gọi là khổ tập Thánh đế.

Khổ tận Thánh đế, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, nên tác chứng khổ tận Thánh đế nầy, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, Ta đã tác chứng, khổ tận Thánh đế này, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ.

Khổ xuất yếu Thánh đế này, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, nên tu khổ xuất yếu Thánh đế, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, Ta đã tu khổ xuất yếu Thánh đế, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ.

Đó là bốn Thánh đế. Nếu Ta không tu bốn Thánh đế nầy, với ba lần chuyển thành mười hai hành tướng, mà không biết như thật thì nay Ta không thành đạo Vô thượng chánh chơn. Song ta đối với bốn Thánh đế, với ba lần chuyển thành mười hai hành tướng, như thật đã biết, nên nay Ta thành đạo Vô thượng chánh chơn, không còn gì nghi ngờ.” 

Tóm lại, bốn sự thật mà đức Đạo sư đã từng kinh qua chứng đắc và đem nó ra để dạy lại cho chúng đệ tử, nên thực hành như chính Ngài nếu muốn thoát khỏi khổ đau. 

Sự thật thứ nhất là khổ đau, đó là kết quả bản chất của chính sự sống mà chúng sanh hữu tình đang gánh chịu, nỗi khổ đau này, những buồn vui của nó chính trong cuộc sống của mỗi hữu tình chúng sanh về tâm và vật, chúng luôn luôn mang bộ mặt bất toàn giả tạm và không làm vừa lòng mỗi chúng ta, do vô thường và huyễn hóa. Về sự thật này, thì chúng ta phải hiểu và biết nó như một sự kiện như thật, một cách chính xác và đầy đủ (parrinneyya). 

Sự thật thứ hai là Nguồn gốc tập khởi của khổ đau, tức chỉ cho nguyên nhân mọi thứ dục vọng, mọi khát khao của ái, và tương ưng với tất cả những đam mê xấu xa bất tịnh khác câu hữu với vô minh, đưa chúng ta đến kết quả đau khổ, trôi lăn trong sinh tử luân hồi ba cõi. Ở đây, chúng ta không những chỉ hiểu sự kiện này một cách như thật chính nó thôi, mà chúng ta còn phải nỗ lực từ bỏ, loại bỏ nó, bằng cách diệt trừ và nhổ tận gốc rễ (pahàtabba) để nó không còn là nguyên nhân trực tiếp đưa chúng ta đến hậu quả khổ đau, trong hiện tại và tương lai nữa. 

Sự thật thứ ba là sự Chấm dứt khổ đau, đạt Niết-bàn, chân lý tuyệt đối, hay là thực tại tối hậu, là kết quả sau khi chúng sanh hữu tình thực hiện con đường Trung đạo. Ở đây, việc thực hành của chúng ta là phải thực chứng nó (sacchikàtabba), bằng vào những nỗ lực cả thân và tâm trong việc thực hiện thanh tịnh hóa ba nghiệp. 

Sự thật thứ tư là Con đường đưa đến thực chứng Niết-bàn. Ở đây, chúng ta nói đến vấn đề con đường đưa đến thực chứng, tức là nói đến con đường thực hành qua Thánh đạo tám nghành, không chỉ hiểu biết về con đường, dù có thấu triệt bao nhiêu đi chăng nữa thì cũng không ích lợi gì. Trong trường hợp này, việc của chúng ta là phải đi theo con đường ấy và tuân giữ nó (bhàvetabba) về hai mặt thân và tâm, làm cho ba nghiệp thanh tịnh. Có như vậy, chúng ta mới đạt được mọi sự an lạc ngay trong cuộc sống này, mà không cần tìm đâu xa ngoài thế gian này.

 

Thần thông và nghiệp lực của Tôn giả Mục-kiền-liên

 Thích Trí Lộc

“Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”.

Đó là một câu trong “Tứ hoằng thệ nguyện” của người con Phật. Đến với Phật Pháp là đến với kho tàng kinh điển mênh mông, được mệnh danh là “Tam tạng kinh điển”. Tam tạng kinh điển gồm có: Kinh tạng, luật tạng và luận tạng, trong ấy chứa đựng vô lượng pháp môn tu học để hành giả áp dụng tu tập vượt thoát khổ đau. Suốt một đời người bỏ công ra đọc (chưa cần hiểu nghĩa) cũng chưa chắc là đọc hết được, nhưng người con Phật với chí nguyện cao cả phải phát nguyện học tập không nản lòng “thệ nguyện học”.

Trong Tam tạng kinh điển, chúng ta bắt gặp rất nhiều thuật ngữ Phật học, thần thông và nghiệp lực là hai trong những thuật ngữ phổ thông nhất, hầu như người con Phật nào cũng hiểu và biết được. Cuộc đời của tôn giả Mục-kiền-liên, ngoài thể hiện hiếu tâm cao cả, Ngài còn là một vị Thánh đệ tử có thần thông bậc nhất, bên cạnh ấy nghiệp lực của Ngài cũng được thể hiện rất rõ nét. Hai yếu tố thần thông và nghiệp lực diễn ra trong cuộc đời Ngài một cách rõ ràng và sâu sắc; đôi lúc như có phần mâu thuẫn nhau, điều này gây ra những thắc mắc không nhỏ cho những người sơ cơ mới tìm hiểu về Phật giáo. Trong bài này, người viết xin giới thiệu đôi nét về thần thông và nghiệp lực qua cuộc đời của tôn giả Mục-kiền-liên.

A. Thần thông qua cuộc đời của Ngài

Trong những đấng giáo chủ sáng lập ra những tôn giáo lớn, hay những bậc đạo sư sáng lập nên những triết lý, học phái… chắc chắn không có một đấng giáo chủ hay đạo sư nào có được chúng đệ tử xuất gia cũng như tại gia nhiều như đức Phật. Chỉ cần nhìn vào hình ảnh đức Phật mỗi buổi bình minh cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo theo sau, từng bước khất thực trang nghiêm trên xứ Ấn, thì không một vị giáo chủ nào, đạo sư nào có được diễm phúc như vậy. Trong số hàng ngàn vị Tỳ-kheo, bậc A-la-hán, đệ tử đức Thế Tôn ấy thì tôn giả Mục-kiền-liên được đức Phật và Thánh chúng khẳng định là bậc có thần thông vĩ đại nhất, và thường được gọi là bậc có thần thông đệ nhất.

1. Nguyên nhân cầu thần thông

Theo từ điển Phật học, thần thông được giải thích như sau: Thần có nghĩa là không lường được, thông có nghĩa là không trở ngại. Không thể lường được lại có sức lực không gì trở ngại được thì gọi là thần thông. Với năng lực thần thông siêu tuyệt của mình, tôn giả Mục-kiền-liên có thể dời non, lấp bể, biến hóa tự tại… tùy duyên giáo hóa, cứu độ chúng sanh.

Không phải vô tình hay ngẫu nhiên mà hai tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên trở thành hai vị Đại đệ tử của đức Thế Tôn, mà nhờ vào nhân duyên từ vô lượng kiếp trong quá khứ hai Ngài đã từng quì dưới chân đức Phật Anomadassi thành tâm phát nguyện trở thành những Đại đệ tử của đức Phật trong kiếp sau cùng (đức Phật Thích-ca). Cũng như thế, không phải vô tình mà tôn giả Mục-kiền-liên trở thành bậc Thánh có thần thông đệ nhất. Nguyên nhân có được năng lực thần thông siêu việt ấy là nhờ trong tiền kiếp Ngài đã phát nguyện: Thuở ấy, Ngài là một ngư phủ làm nghề đánh cá; hằng ngày đánh bắt hàng trăm con cá để đem ra chợ bán. Cho đến một hôm, chàng ngư phủ chợt ý thức về những việc làm sát hại sinh vật của mình là tàn nhẫn, không lương thiện và chàng quyết định bỏ nghề đánh cá để lên thành thị chọn một nghề lương thiện để sinh sống. Cũng chính nhờ nhân duyên đổi nghề, tại thành thị ấy chàng đã gặp một vị Bích Chi Phật, và chàng đã thỉnh vị Bích Chi Phật về nhà cúng dường trai phạn. May mắn thay cho chàng, vị Bích Chi Phật này có năng lực thần thông siêu phàm, sau khi thọ trai xong, cảm động trước tấm lòng thành của chàng thanh niên trẻ, vị Bích Chi Phật đã hóa hiện những năng lực thần biến siêu phàm: trên thân nước chảy, dưới thân lửa cháy, bay lượn du hành tự tại trên không trung… Chứng kiến được diệu cảnh hy hữu ấy, chàng thanh niên đã đem tất cả lòng thành phát nguyện cầu chứng được thần thông siêu việt ở đời sau. Nhờ nhân duyên ấy, cộng với quyết tâm tu tập của Ngài, trải qua vô lượng kiếp và đến thời đức Phật Thích-ca, Ngài xuất gia nỗ lực tinh tấn tu tập, và chỉ trong vòng bảy ngày đã chứng được thần thông bậc nhất không ai so sánh được. Cũng nhờ năng lực thần thông ấy đã giúp Ngài rất nhiều trong việc đem Phật pháp giáo hóa độ sanh, hàng phục ngoại đạo…

2. Thần thông với sự nghiệp hoằng pháp

Đức Thế Tôn không khuyến khích hàng đệ tử Ngài sử dụng thần thông để hoằng pháp, bởi vì thần thông nếu không được sử dụng một cách đúng đắn thì dễ sanh ra tự cao ngã mạn… rơi vào tà đạo. Hơn nữa các loài phi nhân hay ma ba tuần thường sử dụng thần thông để gạt người. Chính vì thế mà đức Thế Tôn không cho hàng đệ tử Ngài sử dụng thần thông để hoằng pháp lợi sanh. Trường hợp tôn giả Mục-kiền-liên có lẽ là một ngoại lệ. Đức Phật không cấm tôn giả Mục-kiền-liên sử dụng thần thông để độ sanh vì đấy là hạnh nguyện của tôn giả đã gieo trồng trong vô lượng kiếp, hơn nữa tôn giả Mục-kiền-liên là một vị A-la-hán đã đoạn tận tham sân si, và có lòng đại bi, hiếu hạnh; do vậy trong hàng đệ tử đức Thế Tôn, chỉ có mình tôn giả Mục-kiền-liên được cho phép sử dụng thần thông tự tại để giáo hóa mọi người.

Đọc qua sự nghiệp giáo hóa của tôn giả Mục Kiền Liên, ta thấy có nhiều điều nổi bật đáng cho ta ca ngợi và kính ngưỡng: Dời núi độ phạm chí ngoại đạo, hàng phục ác quỉ, chúng ngạ quỉ thưa hỏi nhân duyên nghiệp báo, sắc đẹp không cự nổi thần thông…

a. Dời núi độ Phạm chí: Thuở đức Phật còn tại thế, có rất nhiều ngoại đạo phạm chí, họ cũng có những năng lực tu luyện chứng đắc thần thông, nhưng vì họ chỉ lo tu luyện cầu chứng đắc thần thông để tìm cầu lợi danh và sự cung kính của người đời. Tại biên giới phía nam Ấn Độ có nhiều ngoại đạo Phạm chí cũng tu luyện chứng đắc thần thông, họ có khả năng hô mưa, gọi gió, dời núi, lấp sông… làm cho vua, quan và dân chúng nước này đều tuân phục, thờ kính họ, vì họ không tu tập từ tâm nên khi được cung kính họ càng tỏ ra ngã mạn, tự cao, chìm đắm trong danh lợi, không hề tin tưởng đến Phật pháp.

Vâng lời dạy của đức Phật, tôn giả vận dụng thần thông đến nước ấy để giáo hóa. Khi đến nơi thấy một ngọn núi đang chuyển động, Ngài quan sát biết được những ngoại đạo Phạm chí đang vận dụng thần lực để dời ngọn núi đi nơi khác làm con đường cho vua. Ngài liền bay lên đứng trụ trên đỉnh núi, làm ngọn núi đang di chuyển bỗng đứng yên không hề nhúc nhích, các Phạm chí sử dụng tất cả năng lực thần biến của mình cũng không sao di chuyển được. Trong lúc các ngoại đạo đang hoang mang chưa biết cách nào để di dời ngọn núi, trước mặt vua và thần dân, tôn giả Mục Kiền Liên đã dùng thần thông làm ngọn núi biến thành một khu đất bằng phẳng để vua làm đường và dân chúng sinh sống. Bọn ngoại đạo Phạm chí vô cùng kính phục, cùng với vua quan và thần dân chắp tay cầu xin tôn giả thâu nhận làm đệ tử, tôn giả Mục-kiền-liên từ chối và hướng dẫn họ về qui y với Chánh pháp, qui y với đức Thế Tôn, cả vua quan và thần dân nước này trở thành những vị Phật tử thuần lương sống an lạc trong giáo pháp của đức Phật.

b. Chúng ngạ quỉ thưa hỏi về nhân duyên nghiệp báo:

Với năng lực thần thông siêu việt của mình, tôn giả Mục-kiền-liên không những du hành thăm viếng các cõi Phật, xuống các địa ngục quan sát khổ báo chúng sanh… mà Ngài còn quan sát biết được mọi nhân duyên tiền kiếp của các chúng sanh khác. Chính vì thế mà Ngài là một trong những chứng nhân vĩ đại để đức Phật thuyết các kinh về ngạ quỉ, chư thiên, địa ngục… Đặc biệt, Ngài thường dạy cho các ngạ quỉ biết về tiền thân của chúng:

“Một hôm, tôn giả hành cước bên bờ sông Hằng, lúc ấy ánh sáng nhạt dần như rút theo con nước, màu hoàng hôn hoang vắng, Tôn giả thấy ban đêm đi hành hóa không tiện, bèn ngồi tịnh lự bên bờ sông.

Gió chiều nhẹ thổi, không trung lác đác vài vì sao. Bên bờ sông Hằng các loài ngạ quỉ lắm phen tụ tập, muốn tìm nước uống để trừ đói khát, nhưng gặp phải một con quỉ hung ác giữ mé sông, tay cầm gậy sắt xua đuổi, do đó các quỉ đói không dám đến gần bờ nước. Mục-kiền-liên ngồi ngay thẳng chánh niệm, thấy các loài ngạ quỉ thọ tội không đồng, bèn gọi chúng lại. Nhân cơ hội ấy, chúng quỉ thưa hỏi về nhân duyên tội nghiệp.

Quỉ thứ nhất hỏi: Tôn giả! Đời trước chúng tôi là người nay bị đọa làm thân quỉ đói, thường bị khổ khát, nghe nói nước sông trong mát, mà khi đến lấy nước uống, nước liền nóng sôi, chỉ cần hớp một miếng, lục phủ ngũ tạng liền cháy tiêu, còn bị quỉ giữ nước sông cầm gậy đánh đuổi. Xin hỏi tôn giả chúng tôi do nghiệp gì mà thọ khổ báo này?

Mục-kiền-liên dùng sức định thần thông quan sát nhân quả ba đời và nói cho ngạ quỉ này nghe: Đời trước ngươi làm thầy toán số, khi nói tướng kiết hung cho người, nói dối nhiều hơn nói thật, tùy ý khen chê, tự xưng mình thông suốt mà thật là dối láo, vì muốn cầu lợi dưỡng không thương người mê muội nên mới thọ nghiệp báo như vậy.”

Cứ như thế từng ngạ quỉ lần lượt thưa hỏi về nhân duyên nghiệp báo của mình, vì lòng từ bi, Ngài tận tình quan sát trả lời, làm cho các ngạ quỉ kính phục Ngài, lo ăn năn, sám hối tội nghiệp của mình, Ngài hướng các ngạ quỉ qui ngưỡng về chánh pháp tu tập, dần dần thoát khổ.

c. Thần thông với sắc đẹp:

Trong các giai thoại về thần thông của tôn giả Mục-kiền-liên, câu chuyện Ngài hóa độ nàng Liên Hoa Sắc là câu chuyện để lại trong ta nhiều ấn tượng nhất: Nàng Liên Hoa Sắc là một người con gái rất đẹp, lại là con gái duy nhất của gia đình trưởng giả ở thành Đức-xoa-thi-la. Khi nàng lên mười sáu tuổi, cha nàng kén rể lập gia thất cho nàng. Không bao lâu cha nàng qua đời, bà mẹ góa bụa của nàng bèn tư thông với chồng nàng, lúc ấy nàng đã có một người con gái với người chồng này. Khi hay biết được việc này, nàng quá đau khổ và quyết định bỏ nhà ra đi. Một thời gian sau, nàng được một thương gia cưới về làm vợ. Có một lần, người chồng thương gia này đi buôn bán từ Đức-xoa-thi-la trở về lén lấy nàng một ngàn đồng tiền vàng để mua tiểu thiếp. Sợ nàng biết, ông đưa tiểu thiếp mới mua qua giấu ở nhà một người bạn. Khi nàng hay tin, lòng ghen và tức giận nổi lên, liền tìm đến nhà người bạn ấy để đánh ghen kẻ cướp chồng nàng. Khi đến nơi, nàng không thể chịu đựng được sự trớ trêu của kiếp người nên té xỉu xuống đất, vì người con gái ấy chính là đứa con của nàng với người chồng trước.

Quá uất hận trước hoàn cảnh éo le của thế thái nhân tình, nàng chán ghét tất cả mọi người, chán ghét cả thế gian… và bỏ nhà ra đi dấn thân vào con đường thanh lâu, tửu điếm, làm kẻ mua vui cho thiên hạ, lúc này nàng mới ba mươi tuổi. Với nhan sắc diễm lệ, cộng với lòng căm hận cả thế thái nhân tình, nàng đã làm không biết bao gia đình tan nhà nát cửa, phát triển mọi sinh hoạt tội lỗi của mình.

Tôn giả Mục-kiền-liên sử dụng năng lực thần thông hàng phục các ngoại đạo, phần lớn những ngoại đạo này đều kính ngưỡng quay đầu về với Chánh pháp, nhưng có một số không chịu khuất phục, tuy thế không làm sao hại được Tôn giả, họ bèn thuê nàng Liên Hoa Sắc dùng sắc đẹp của nàng để quyến rũ tôn giả Mục-kiền-liên, hằng mong hạ uy tín và làm nhục Ngài. Không còn phân biệt thiện ác, vốn dĩ đã hận đời, nàng đã đồng ý ra sức cám dỗ Ngài.

Một buổi sáng đẹp trời, nàng chọn một khu đồi vắng đẹp, nơi tôn giả Mục-kiền-liên thường khất thực đi ngang qua; đợi Ngài đến gần, nàng dùng lời đường mật, dáng điệu mê hồn ngỏ lời cám dỗ: “Thưa Tôn giả, Ngài có bận đi đâu không? Ngài có thể dừng chân nói chuyện với em không ạ!”.

Với năng lực thần thông siêu việt của mình, tôn giả biết được mọi động cơ, suy nghĩ của Liên Hoa Sắc, Ngài liền cảnh tỉnh nàng:

“Bần đạo kinh tởm cái chòi bằng nhiều khúc xương, chằng chịt bằng những sợi dây gân, chứa đựng toàn những vật ô uế, mùi hôi xông lên khó ngửi. Những uế vật ấy được bài tiết theo cửu khiếu thường trực. Nhờ lớp da bao bọc, bằng không cái thân nhơ uế của tín nữ còn đáng kinh tởm hơn nhiều. Nếu mọi người đều thấy rõ thực chất ấy đáng gớm trong cơ thể tín nữ, thì họ sẽ tránh xa tín nữ như tránh xa hầm phẩn vậy.”

 Vừa kính, vừa sợ vì chưa từng gặp được một người nào phát ngôn với một tư duy sâu sắc như thế; nhưng vẫn có chút tự ái và sân giận trong lòng, Liên Hoa Sắc vẫn cố gắng khiêu khích: “Thưa Ngài Sa-môn, thưa người hùng! Những lời Ngài nói hoàn toàn đúng sự thật. Nhưng người đời đa số đều thích nhào xuống hầm phẩn ấy, như bò già bị sa lầy.”

Trước những lời khiêu khích của Liên Hoa sắc, vì  tưởng mình như những thế nhân thường tình, Ngài đã nhấn mạnh tâm định của mình:

“Này tín nữ, người lấy chàm hoặc nước sơn để nhuộm hoặc tô màu hư không sẽ hoài công vô ích. Tâm hồn của bần đạo như hư không, tín nữ chớ đem cái tâm niệm dục nhiễm của tín nữ mà đánh giá tâm vô cấu, vô nhiễm của bần đạo. Nếu tín nữ không kịp thời tỉnh ngộ, đình chỉ dục niệm bất chánh thì cầm bằng như con thiêu thân lao đầu vào lửa tự sát.”

Bằng năng lực thần thông hiểu biết mọi tâm niệm của người khác (tha tâm thông), tôn giả Mục-kiền-liên đã nói lên mọi suy nghĩ, động cơ cũng như những khổ đau, tư tưởng hận đời… của nàng, vì sao nàng đến đây… Khi nghe những lời của Tôn giả dạy, Liên Hoa Sắc vô cùng kính phục và hoảng sợ, nàng quì xuống, chắp tay cầu xin sự cứu giúp của Tôn giả, vì nàng nghĩ rằng tội nghiệp của nàng đã gây ra quá nặng khó lòng cứu được. Ngài từ bi chỉ dạy:

“Cô không nên tự làm khổ mình, cũng đừng thất vọng, tội nghiệp dù nặng đến đâu chỉ cần một phen sám hối thì đều có thể cứu vãn, y phục dơ có thể giặt giũ, thân thể ô uế có thể dùng nước tẩy trừ, tâm không thanh tịnh có thể dùng Phật pháp rửa sạch. Trăm dòng sông nhớp nhúa một phen chảy vào biển cả, nước biển lớn thảy đều làm sạch nước trăm sông. Lời dạy của đức Thế Tôn đủ sức khiến thanh tịnh lòng người ô uế, có thể cho sám hối những tội nghiệp quá khứ.”

Nghe những lời dạy của Tôn giả, nàng Liên Hoa Sắc vô cùng mừng rỡ cúi đầu đảnh lễ sám hối Tôn giả và xin phát nguyện xuất gia. Tôn giả Mục-kiền-liên chấp thuận lời cầu xin sám hối của nàng và hướng dẫn nàng trở về tinh xá diện kiến đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã thuyết pháp cho nàng nghe và gởi nàng sang xuất gia tu học trong giáo đoàn Ni giới. Không còn bận tâm quyến luyến bất cứ điều gì trong cõi hồng trần, nàng Liên Hoa Sắc đã nỗ lực tinh tấn tu tập, và chỉ sau một thời gian ngắn nàng đã chứng được quả vị vô sanh.

(còn nữa)

Một lời ca, một huấn thị

Như Tâm

Bài viết về một kỷ niệm của Hòa Thượng Thích Trí Thủ đối với Gia Đình Phật Tử. Ngài là một bậc ân sư luôn luôn quan tâm lo lắng cho thế hệ mầm non tương lai của đạo pháp.

Đã gần một phần tư  thế kỷ rồi mà mỗi lần nhớ đến Ôn, tôi cứ tưởng rằng các sự kiện mới xảy ra ngày hôm qua.

Vào khoảng đầu tháng 6 năm 1963, chùa Từ Đàm bị chính quyền Ngô Đình Diệm vây kín. Lúc đó, cuộc vận động cho bình đẳng tôn giáo và công bằng xã hội của Phật giáo trọng tâm còn ở Huế, nơi phát xuất. Ôn là Tổng thư ký của ban lãnh đạo gồm 5 thành phần: Tổng Trị sự Hội PGVN tại TP, Tổng Trị sự Giáo hội PGVN tại Trung Phần, hai Ban Trị sự hội và Giáo hội tỉnh Thừa Thiên và Đại diện cho Tổng hội PGVN. Vì là Tổng thư ký của Hội PGVN tại thời ấy nên tôi là thư ký chung, có mặt thường xuyên bên cạnh quý Ôn, quý Thầy lúc đó tập trung tại chùa Từ Đàm. Cũng trong những ngày đó, Hoà thượng Hội chủ, quý Ôn, quý Thầy đang tuyệt thực. Trong chùa có đến gần 500 người đủ mọi giới: tiểu thương, sinh viên, học sinh, hướng đạo, Gia đình Phật tử, v.v… đoàn thể nào cũng có trách nhiệm riêng.

Ngày 4.6.1963, chùa Từ Đàm bị đặt trong tình trạng nội bất xuất, ngoại bất nhập – các con đường dẫn vào chùa bị những vòng rào dây thép gai vây kín. Sau hàng rào kẽm gai là lính rằn ri, chen lấn với lớp đạo hữu chỉ biết đứng lặng nhìn vào. Có người sụp xuống lạy, vì đã 7 ngày rồi, quý Ôn, quý Thầy tuyệt thực. Không phải chỉ có lính, có kẽm gai mà có cả những chiếc xe phát thanh suốt ngày chĩa loa vào chùa đọc thông báo của chính phủ rồi những bản nhạc liên tục.

Qua ngày thứ tư, sau loạt thông báo thường lệ thì chiến dịch thay đổi: Lời kêu gọi con em ở trong chùa trở về với gia đình. Anh em khóc với nhau: “Chiêu hồi… chiêu hồi”. Chiều hôm ấy, Ôn ngồi trên tam cấp chùa, vẫy tôi lại ngồi bên. Im lặng, bỗng bên ngoài có tiếng gọi tên một người ra để gặp mẹ. Đó là một em thiếu niên Gia đình Phật tử. Em ấy xin phép ra gặp mẹ. Mới đến cổng chùa 4, 5 chú cảnh sát vọt lên ôm chầm em bỏ lên xe. Hành động thật bất ngờ làm ai nấy sửng sốt. Ôn nhìn tôi bùi ngùi. Tôi vụt đứng dậy. Ôn kéo tôi lại ngồi xuống bên, nhấn vào vai tôi. Lúc đó anh em Gia đình Phật tử, sinh viên Phật tử, học sinh Phật tử tập trung trước giảng đường, la ó. Tôi ra lịnh im. Phía ngoài lại kêu một tên khác và có thân sinh đến gặp. Không có tiếng đáp lại. Sau khi lục danh sách biết rằng không có tên ấy, chúng tôi trả lời là tên ấy không có ở đây. Thân sinh xin vào nhìn mặt, chùa chấp nhận. Người ấy đi vào nhìn hết em nầy đến em khác, khi đến gần Ôn bèn nói nhỏ: Con nói láo để được vào thăm quý Ôn, quý Thầy. Nói xong, người ấy vội vã ra đi.

Tên một em nữa lại được gọi lên và thân sinh em ấy xuất hiện ở cổng chùa, gần gốc Bồ đề. Gọi đến tên, em ấy bước ra, đến trước sân chùa hướng vào điện Phật lạy ba lạy từ tốn. Cả sân chùa im lặng, hồi hộp. Đó là một huynh trưởng. Em ấy đến xá Ôn ba xá và nghiêm chỉnh đứng chào tôi theo lối Gia đình Phật tử. Song em đó là em được giao phó cầm biểu ngữ trong ngày Phật đản. Tôi còn nhớ rõ, tôi đã trao cho em câu khẩu hiệu:

“Phật giáo đồ nhất trí bảo vệ Chánh pháp dù phải hy sinh”.

Sân chùa im phăng phắc, phía bên ngoài cũng im phăng phắt. Khi đến cách chùa khoảng 10 thước, em cúi xuống lạy cha hai lạy. Tôi liếc mắt nhìn Ôn. Mắt Ôn sáng lên, không khí thật ngột thở. Thân phụ em ấy đứng lặng như trời trồng. Lạy xong, em ấy tiến đến trước micro pile để ở giữa sân chùa: “Thưa Ba, Ba thấy rõ ràng đó, chùa không ép buộc chúng con ở lại trong chùa như lời rêu rao của chính quyền. Chính những dây kẽm gai kia và đoàn lính ở bên ngoài vây hãm chùa, không cho ai ra vào được đấy chứ! Xin Ba về yên tâm. Ngày nào những dây kẽm gai kia được dẹp đi, đoàn lính vây chùa không còn nữa, chúng con sẽ về. Kính lạy Ba và Mẹ. Em lạy hai lạy nữa rồi từ tốn bình thản bước vào hàng ngũ. Một tràng pháo tay nổi lên. Tôi ra hiệu im. Khi em đến xá Ôn và chào tôi. Ôn kêu lại và bảo tôi cho Ôn mượn chiếc hoa sen. Tôi cởi huy hiệu vì tôi lãnh hội được ý của Ôn rồi. Tôi mở chiếc hoa sen từ túi tôi và Ôn đứng dậy, nghiêm chỉnh không một lời, cài chiếc huy hiệu hoa sen vào túi em. Một tiếng hô vang lên: Phật tử - Tinh tấn!

Bài ca Sen Trắng được vang lên trầm hùng và tiếp sau đó là bài “Kính mến Thầy”.

Tất cả sự kiện diễn tiến rất đột ngột, nhưng lại rất thích hợp. Ôn cũng đứng im, cảm xúc hiện rõ. Nước mắt tôi ràn rụa vì sung sướng và cảm động. Không đầy năm phút, nhưng thời gian như lắng đọng lại. Ôn kéo tay tôi vào văn phòng. Trên đường đi, Ôn thầm nhắc lại đến hai, ba lượt lời ca: “Dù bao nhiêu gian khổ, dù gặp nhiều nguy khó, lý tưởng chúng con vẫn tôn thờ”.

Mười ba năm sau, năm 1976, trong lễ Hiệp kỵ do Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Tử Gia Định tổ chức tại Quảng Hương Già Lam, trong lời huấn thị, Ôn cũng dùng lời ca trên để làm đề tài nhắn nhủ: “Dù bao nhiêu gian khổ, dù gặp nhiều nguy khó, lý tưởng chúng con vẫn tôn thờ”.

Chưa bao giờ tôi thấy lòng rung động đến thế. Từng lời, từng chữ như thấm biến vào máu, vào xương, vào từng hơi thở, từng nhịp tim. Khi Ban Hướng Dẫn Gia Định mời tôi phát biểu, tôi xin im lặng - Im lặng như Chánh pháp.

Dù Ôn còn hay không còn ở lại với chúng tôi nữa, nhưng mỗi khi chúng tôi hát lên bài hát bất diệt ấy là để dâng lên Ôn và cũng để tự nhủ mình.

Một lời ca, chỉ là một lời ca, nhưng khi phát ra từ Ôn đã biến thành một lời huấn thị có giá trị đến muôn đời

 

Ôn Trí thủ, một hóa thân kỳ diệu

TT. Thích Hạnh Thiền

Hình ảnh một vị Hòa thượng uy nghi đôn hậu ngồi trên lưng ngựa vô cùng an nhiên thoát tục quả là hiếm có trong giới Tăng-già thời cận đại.

Đó là bức hình của Ôn Già Lam, một trong vô số các bức ảnh nhiều loại khác nhau: Ôn đứng trước cảnh chùa, đứng gần bảo tháp, Ôn ban đạo từ nơi lễ đài, ảnh Ôn chủ tọa trong các phiên họp v.v… Mà phải nói, chắc có thiện duyên từ kiếp nào tôi mới được ưu ái dành cho bức ảnh Ôn đang ngồi trên lưng ngựa, thực là ấn tượng gây phấn khích cho tôi vô cùng. Các huynh đệ pháp hữu, hình như cũng ganh tỵ với tấm ảnh đặc biệt đó, đã vội chúc mừng tôi một câu cảnh cáo: “Coi chừng Ôn nhắc nhở cái tánh phóng động tâm viên ý mã của huynh đấy! Lo mà giải công án đi, đừng vội cho mình được tặng vật hơn người”. Ý của tổ sư cưỡi ngựa là gì? (Như hà tổ sư kỵ mã ý?)

Lẽ ra, theo phong cách của Tổ sư thiền, tôi phải tham công án, phải hỏi và nhìn câu thoại đầu. Giữ mãi cái không biết, không hiểu, không suy nghĩ, không ghi nhớ thì một thời điểm nào đó hành giả sẽ chín muồi và bừng ngộ chân lý. Đằng này vẫn theo tập khí xa xưa, tôi cứ để cho vọng tưởng mặc sức tự do tự ý bay cao: Ôi! Ôn đẹp làm sao, dung mạo uy nghi tự tại làm sao. Ôn có khác gì Quan Vân Trường, vị tướng nước Thục thời Tam Quốc là bậc đại nhân trung hậu, khí tiết hiên ngang bất khuất trước thế lực hung ác của tập đoàn Tào Tháo đa nghi đầy nham hiểm. Khi chết được thần hóa gọi là Quan Đế. Dân chúng kính mộ xây dựng miếu thờ Quan Công (Quan Thánh) - là đối tượng cao quí trong lòng nhân dân Trung Quốc mãi cho đến hôm nay. Có điều, Ôn Hòa thượng Quan Thánh Việt Nam không sát thủ bằng cây thanh long đao trên lưng con Xích Thố như tướng Quan Vân Trường lấy oán báo oán, mà trên tay của Ôn mình là cây tích trượng từ bi trí tuệ, lấy đức báo oán, lấy tình thương hóa giải hận thù.

Mắt tôi bỗng sáng lên ý nghĩ, Ồ! Hòa thượng mình có khác gì ngài Huyền Trang đời nhà Đường đâu, cũng xông pha cùng đệ tử đi tìm chân kinh để chuyển mê khai ngộ chúng sinh. Tôi vẫn tiếp tục phóng nghi tình: À hay là Ôn nhắc nhở chúng ta thà ngồi trên lưng ngựa còn thoải mái bình yên hơn ngồi trên lưng cọp (thuật ngữ này muốn nói leo lên lưng cọp đã khó mà xuống cũng không phải dễ, tiến thối lưỡng nan là tâm trạng của hành giả thiếu công phu mà lại thích đuợc trọng vọng trên lưng cọp để vạn loại chúng sinh nghiêng mình bái lạy) và khi muốn nhảy xuống cũng không xong vì không có chủ quyền và bản lãnh. Rõ ràng là thân phận của nạn nhân ngồi không yên ổn, xuống không vững vàng. Ôi chao! Hòa thượng thương tình trao cho hậu sinh một công án vô cùng thâm diệu. Thế rồi tôi cứ hỏi, cứ nghi, cứ biết, cứ suy nghĩ mãi, vẫn bị kẹt trong cái vòng điên đảo của thế trí biện tài. À! Hay là Ôn dạy mình: “Tâm viên bất định, ý mã nan truy”.

Vượn lòng nhảy nhót không yên

Ngựa ý rong ruổi thoáng liền khó theo.

Tôi như cảm nhận được lời khai thị về hành giả muốn tu tập thiền định, bước đầu phải cột lại cái tâm ý, không cho nó nghĩ ngợi lung tung. Việc kềm giữ tâm ý ở yên một chỗ không phải là dễ nếu như không có quá trình công phu tới mức. Phải thận trọng thân khẩu ý và triệt để cảnh giác tham sân si trong mọi tình huống.

Tôi còn nhớ chùa Già Lam có hai câu dạy chúng rất hay:

Nói năng như Chánh pháp

Im lặng như Chánh pháp.

Nói năng dễ hiểu lầm, dễ đụng chạm cho nên lời nói phải chân chánh như là Pháp, là chân lý, nói sự thật để giáo hóa chúng sinh nghe vui thoát khổ.

Còn nếu im lặng thì phải vô ngôn trong chánh niệm để lắng sâu vào định, nhờ vậy mới phát tuệ, mới có đủ năng lực phẩm hạnh Bi Trí Dũng; là ngọn đèn tỏa sáng ánh hào quang chân lý, soi rọi bước chân hành giả dấn thân vào đời với oai lực nghìn mắt nghìn tay để diệu kế lương y cứu thoát đàn con thơ.

Chúng tôi còn nhớ mãi ngày Ôn Trí Thủ cùng phái đoàn về chứng minh đại hội bầu Ban Trị Sự Phật giáo Tỉnh. Theo chương trình, lễ khai mạc sẽ long trọng diễn ra lúc 8 giờ sáng hôm đó. Nào ngờ mới có 3 giờ sáng, Ôn gọi thầy thị giả thư ký thức dậy viết lại bản văn mà Ôn sẽ đọc trong đại hội, chỉ còn 5 tiếng đồng hồ nữa. Chúng tôi nghe thật rõ lời Ôn đọc và thầy thư ký viết, rồi đọc lại cho Ôn nghe rất lâu mới xong.

Anh em học Tăng chúng tôi vô cùng xúc động trước hình ảnh này, càng quý kính bậc Thầy cao cả của mình đã vì tiền đồ vận nghiệp Phật giáo mà chẳng ngại tuổi già đêm khuya không giấc ngủ ngon, chỉ sợ đàn con mình số phận lênh đênh nghiệt ngã. Dĩ nhiên là chúng tôi đã nêu thắc mắc về cách làm việc của Trung ương vào sáng sớm trước giờ khai mạc buổi lễ với thái độ giận chay: “Tội quá! Sao Trung Ương không chuẩn bị cho Ôn bài đọc để Ôn đỡ vất vả đêm khuya. Lẽ ra, Ôn cần ngủ ngon giấc để đủ sức khỏe làm việc chứ?” Hai vị trong BCH/TƯ cũng không kém phiền não hơn chúng tôi, nhíu mày với câu đáp mặn như chao: “Chúng tôi hiểu điều đó chứ! Nhưng Ôn không chịu đọc nguyên văn bài của Trung Ương đã bố trí sẵn, Ôn muốn viết lại theo ý của Ôn. Chúng tôi lặng người, nhưng vô cùng phấn khởi tự tin; vì từ đây Phật giáo Việt Nam đã có những vị lãnh đạo sáng suốt và lòng đại bi vô lượng. Ôn quả là một hóa thân kỳ diệu, một gốc tùng vĩ đại, vươn cao đứng thẳng tỏa bóng mát từ hòa cho đàn con nương trú:

Ôn nằm xuống nghìn năm ngửng mặt

Chúng con soi bóng lạ suốt cơn mê.

Có người hỏi, những nhân tố nào đã hun đúc nên một bậc thầy đạo hạnh, trí tuệ vô song như vầng trăng sáng ngời, như dãy Hy-mã-lạp sơn hùng tráng muôn đời, tồn tại mãi trong từng trái tim yêu thương của những người con Phật. Ta hãy nghe Ôn tâm sự (*Tra Am và sư Viên Thành ): “Thầy tôi khuất bóng nay đã 46 năm, tôi cũng trải qua mấy chục năm trường đem tài sức hữu hạn của mình chung lo hành đạo và hóa đạo, cho đến bây giờ tuổi gần 70 mà âm hưởng của thầy tôi ngày nào vẫn thấy còn đầm ấm bên lòng. Tình thầy trò ngoài cái nghĩa là tình thiện tri thức được xông ướp trong mùi hương đạo ra còn có nghĩa của một thứ tình gắn bó do túc duyên không sao nói hết được.

Tôi xuất gia theo thầy năm 17 tuổi, cũng là số tuổi đời mà thầy tôi xả vọng tầm chơn. Đến năm 20 tuổi, tôi được thiện duyên thọ Cụ túc giới. Trong giới đàn này, tôi đỗ thủ Sa-di, và lúc trở về chùa, tôi cảm thấy niềm hoan hỷ sâu xa nơi thầy tôi đối với con đường đạo tương lai mà tôi đã bước được một bước đầu. Niềm hoan hỷ đó ngày nay hồi tưởng lại cũng còn thấy tình thầy như đám mây lành phủ bóng trên người. Tôi không khỏi bùi ngùi tưởng tượng Thầy đã không được như tôi, mà đơn độc một mình một bóng trở về chùa lặng lẽ sau khi đỗ thủ Sa-di và thọ Cụ túc giới. Bấy giờ, thầy đã 22 tuổi mà sư Tổ thì đã thị tịch trước đó rồi.

Có lẽ nhờ túc duyên hiếm có, nên mỗi bước đường đạo của tôi đều gần như bước trùng lên dấu bước của thầy, khiến cho mỗi lần nghĩ nhớ thời gian quá khứ của đời mình, tôi thấy bóng dáng của mình lồng trong bóng dáng vĩ đại của Thầy”.

 

Hành trình sơ chuyển Pháp luân của đức Phật

Thanh Tâm

Cuộc hành trình miên viễn của kiếp sống trầm luân sáu nẻo luân hồi đã thôi thúc rất nhiều người đi tìm những phương pháp để thoát ly khổ não. Hạnh phúc và khổ đau là hai thực trạng của cuộc sống mà con người luôn đề cập tới. Nhưng để biết được hạnh phúc là gì thì con người phải trực nhận ra được bản chất của khổ đau như thế nào rồi mới bàn tới phương pháp giải quyết khổ đau.

Xã hội Ấn Độ là một trong những quốc gia sản sinh ra nhiều nhân tài, nhiều triết gia, và cũng là nơi rất phức tạp trên các lãnh vực kinh tế chính trị, văn hóa, ngôn ngữ, triết lý và tôn giáo… Chính vì sự đa dạng như vậy, nên khổ đau và hạnh phúc sẽ được đề cập đến nhiều hơn. Khổ đau như một sự thật hiển nhiên của cuộc đời mà bất cứ một thời đại nào, một quốc gia nào, một con người nào không biết và không cảm nhận, khổ đau đó không chỉ đúng với ngày xưa mà còn đúng cả hôm nay và mai sau.

Cũng ở nơi đây, cách đây trên 2500 năm, xã hội hình thành nên những giáo phái, những học thuyết với những chủ trương khác nhau để lý giải về hai nhu cầu bức thiết, không định hình được đâu là chân là giả, khiến khổ đau vẫn hoàn là khổ đau và nó mãi vây lấy kiếp người chưa một lúc nào ngừng nghỉ. Chính trong thời điểm đó, trong bối cảnh tàn khốc đó, mọi người ai cũng mong chờ có một bậc vĩ nhân xuất hiện để giải thoát họ ra khỏi sự nô lệ của kiếp người. Đức Phật đã ứng hiện. Cả cuộc đời của Ngài luôn đi sâu vào quần chúng, tìm hiểu nỗi đau của chúng sanh rồi tìm ra cho mình một hướng đi đúng đắn, quyết định bỏ lại sau lưng tất cả mọi cám dỗ của dục lạc trần gian, cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan. Ra đi với nhiều thao thức mong sao chính bản thân mình tìm ra một con đường bất tử cứu nhân độ thế. Suốt cuộc hành trình ra đi trong tịch tĩnh, cuối cùng Ngài đã tìm ra được đạo lộ của cánh cửa vô sanh, cánh cửa mà từ đây chư thiên và loài người sẽ không còn bơ vơ lạc lõng hay sống trong sự lo sợ của sanh già bệnh chết, thay vào đó là sự sống trong an lành và giải thoát. Ngài đã giác ngộ sau quá trình tư duy bằng tuệ quán, suy nghiệm và không ngừng nỗ lực tu tập. Chính sự quyết định này đã mở con mắt tuệ cho chúng sanh, đập tan đi mọi thành kiến mê lầm chấp ngã đã hằn sâu trong vô lượng kiếp, khẳng định lại giá trị hạnh phúc, nhân bản của một con người từng đánh mất đi giá trị có trong tầm tay của mình.

Sau khi thành đạo dưới cội Bồ-đề, đức Thế Tôn băn khoăn: rằng nên hay không nên vận chuyển bánh xe pháp, hay là sẽ nhập Niết-bàn, bởi vì Giáo pháp Ngài vừa chứng ngộ không phải là một giáo pháp bình thường mà giáo lý vừa chứng ngộ đó là một giáo pháp thật thâm áo, khó thấy, khó hiểu, dựa trên thực nghiệm, tuyệt diệu, không thể do lý luận có thể giải thích, tế nhị, chỉ người trí mới thấu hiểu được. Một giáo lý chỉ có người trí mới thấu hiểu, chỉ có những con người ly trần diệt nhiễm mới liễu ngộ thì thử hỏi ở thế gian được bao nhiêu người. Điều này khiến cho Thế Tôn, bậc Vô thượng Chánh đẳng giác, đã khởi lên tâm niệm muốn nhập Niết- bàn. Trong các kinh điển Pàli, chúng ta thấy có ghi lại tâm trạng này dưới hình thức một cuộc đối thoại với Phạm thiên Sahampati. Rõ ràng, đức Phật muốn dấy lên sự xung đột giữa các tư tưởng nội tâm của Ngài trở thành dễ hiểu nên đã sử dụng hình ảnh vị Phạm thiên lừng danh xuất hiện để trình bày những tư tưởng tranh luận cuối cùng trước khi quyết định có nên vận chuyển bánh xe pháp hay không. Chính sự vận động đấu tranh tư tưởng cuối cùng này đã mở ra một con đường thênh thang cho chúng sanh sau này nương nhờ, khai mở con đường bất tử đang đợi chờ ở phía trước. Đức Phật bảo: “Thế giới này thích thú dục lạc, song giáo pháp của ta hướng đến viễn ly, ly tham, ái diệt. Giả sử ta thuyết giảng giáo pháp này, tức phải đi ngược dòng, và người đời không hiểu được ta, điều ấy sẽ gây khó nhọc lòng cho ta”. Vị Phạm thiên trả lời: “Thế giới sẽ hủy diệt nếu đấng Toàn giác không quyết định thuyết pháp. Do vậy, cầu xin đức Thế Tôn hãy thuyết pháp. Có những người ít nhiễm bụi trong mắt, nếu không được nghe Pháp, chúng sẽ sa đọa. Song nếu chúng nghe Pháp, chúng sẽ đạt giải thoát”. Qua lời đối thoại ngược trở lại đó, vị Phạm thiên đã làm sanh khởi lòng từ bi và tâm nguyện độ sanh nơi đức Phật. Ngài nhận ra được mục đích ra đời của Ngài, sự tu tập của Ngài trải dài từ vô lượng kiếp đến nay không phải chỉ tu cho riêng mình, cho cái thân thể nằm trong một trượng sáu này của mình mà sự ra đời đó vì an lạc cho chư thiên, vì lợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Giữa một xã hội rối ren, rối ren như một đống tơ vò, bao đau khổ triền miên quấn chặt trải trùm trên tâm tư kiếp người không thể nào vượt khỏi, chưa có một hình thái nào để định hướng, dẫn dắt chúng sanh đoạn trừ hay dứt khoát như vậy, thì ngay nơi đó, ngay chính trong sự  khổ đau cùng cực đó, sự hiện hữu của Ngài là một khởi điểm của ánh sáng chân lý, ánh sáng giải thoát giác ngộ, mở ra một chân trời thoáng đãng, thanh thản, nhẹ nhàng, khai triển hiển bày một thông điệp hòa bình nhân bản, tình thương và trí tuệ. Sự hiện hữu của Ngài đã rống lên tiếng rống sư tử, cảnh tỉnh cho những ai đang sống trong dục vọng ý thức được rằng, mọi huyễn tướng của ràng buộc, mọi bóng tối của vô minh đang hiện bày từ đây sẽ đi lụi dần vào bóng đêm và sẽ chuyển hóa trong ánh sáng nhiệm mầu. Vì thế, Ngài đã tuyên dương Pháp thoại: “Cánh cửa bất tử sẽ rộng mở cho những ai muốn nghe pháp”. Ngài đồng ý với lời thỉnh cầu của Phạm thiên và sẽ lên đường thuyết pháp. Phạm thiên hân hoan vui mừng đi nhiễu xung quanh ba vòng rồi biến mất.

Sau khi nhận lời thỉnh cầu của Phạm thiên, đức Phật dùng tri kiến thanh tịnh quan sát khắp cả thế giới. Bằng tuệ nhãn, Ngài thấy chúng sanh có nhiều căn tánh bất đồng, có người cấu nhiễm, có người thanh tịnh, cũng như Hoa sen mọc từ trong bùn, có cành hoa vươn lên khỏi mặt bùn, có cành hoa đang nằm trong mặt nước không vươn lên mặt bùn, có cành sen nằm sâu dưới đáy. Căn cơ của chúng sanh cũng như những cành sen này, có người không ô nhiễm, có người ít bụi nhiễm, có người bụi nhiễm rất nhiều, có cao có thấp khác nhau. Qua hình ảnh hoa sen đó, Ngài khởi ý niệm nên đi đến giáo hóa cho người nào. Ngài liền nghĩ ngay đến những vị từng là đạo sư của Ngài: Àlàra Kàlàma và Uddaka Ràmaputta. Khi biết rằng cả hai đều từ trần, Ngài liền nghĩ ngay đến năm vị đồng tu khổ hạnh với Ngài thuở trước hiện đang trú tại vườn Lộc Uyển gần Ba-la-nại (Benares). Ngài thầm nghĩ, nếu năm vị ấy khi nghe được những lời dạy này sẽ có thể  thấu hiểu được một cách dễ dàng.

Trong niềm hân hoan đó, Ngài liền rời cội Bồ-đề đi đến thành Ba-la-nại. Sự quyết định giảng pháp này đã đánh dấu con đường chuyển giao giữa mê và ngộ, giữa khổ đau và hạnh phúc. Như vậy từ đây, chánh pháp được bậc giác ngộ chuyển khai sau khi đã hành trì tu tập, thế gian từ đây không còn sống trong ngục tù, không bị ràng buộc bởi bọn ma vương cám dỗ, tài, sắc, danh, thực, thùy, không sống trong vòng kiềm tỏa câu thúc của khát ái, lệ thuộc vào khổ đau. Ánh sáng giác ngộ sẽ phá tan màn vô minh u tối đã bao trùm từ vô lượng kiếp.

Sau đó, Ngài khởi hành đi đến Benares, trên đường đi Ngài gặp một du sĩ ngoại đạo theo trường phái cực đoan. Vị này thấy trên khuôn mặt Ngài lộ vẻ hân hoan, thanh thoát nên đã chú ý và hỏi bậc Đạo sư của Ngài là ai, và giáo Pháp mà Ngài vừa chứng ngộ được học như thế nào? Đức Phật đầy lòng tự tin tuyên bố Ngài đã được giải thoát nhờ ái diệt, hữu diệt, thủ diệt. Ngài là vị thắng giả trên chiến trường. Vì vậy, Ngài không có Đạo sư, mà chính Ngài là bậc Đạo sư. Nghe điều này, Upaka tuy cảm phục nhưng vội lắc đầu và rẽ vào con đường khác. Vậy tại sao đức Phật lại lạc quan như thế, dám tuyên bố với vẻ đầy tự tin như vậy, mới nhìn vào ai cũng có thể dễ hiểu lầm, nhưng thực tế đó mới là điều mà chúng ta cần phải suy nghĩ. Đối với một bậc đã giải thoát khỏi ái nhiễm, đã thoát ly mọi triền phược, thì không còn e ngại khuất phục hay sợ hãi trước một thế lực nào, vì người này đã làm chủ được tâm mình, làm chủ được tư tưởng của mình thì còn ai là người có thể điều khiển được tâm tư an tịnh đó. Một bậc giác ngộ tượng trưng cho một hạng người độc nhất, trên thực tế tuy có hình dáng bề ngoài như mọi người, vẫn chịu biến hoại về thể chất, nhưng vị ấy không còn bị chi phối trong vòng sanh tử luân hồi, đã thực sự thoát ly mọi ái nhiễm. Hình tượng oai nghi này đã đập mạnh vào trong tiềm thức của năm anh em Kiều-trần-như, phá vỡ những thành kiến cống cao ngã mạn và niềm tin không tốt về con đường mà Ngài đã chọn trước đây. Năm vị này đã đến cầm lấy những y bát, soạn chỗ ngồi, lấy nước rửa chân và xưng gọi Ngài là bậc Hiền giả như trước đây đã từng xưng gọi. Đức Thế Tôn không chấp nhận điều này và tuyên bố: “Này các ông, đừng gọi Như Lai là Hiền giả. Này các ông, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác”.

Lời tuyên bố ấy đã mở đầu một pháp thoại, hé lộ con đường bất tử. Con đường khước từ  thái độ cực đoan tham đắm vào cuộc sống sung túc để hướng tâm đến việc tìm ra chân lý. Chân lý chỉ khai mở khi tâm hồn con người biết quay về, biết nhìn lại chính mình, cùng tu tập và gọt giũa tất cả những cấu uế đã định hình trong tâm từ xưa đến nay. Chân lý đó được Ngài khai mở trong thời điểm thích hợp, làm sáng tỏ thêm mọi việc thông qua bài pháp thoại đầu tiên, khởi đầu sự nghiệp hoằng pháp của Ngài mà đời sau gọi đó là thời pháp “sơ chuyển Pháp luân”. Bài pháp này được đức Thế Tôn trình bày trên phương diện, bác bỏ hai lối sống cực đoan đó là con đường khổ hạnh ép xác và con đường hưởng thọ dục lạc, rồi Ngài khuyến tấn hành giả hãy thực tập theo con đường Trung đạo, đồng thời Ngài trình bày về hệ thống bốn chân lý, đó là một giáo lý căn bản, hàm tàng những yếu nghĩa xuyên suốt về bản chất của cuộc đời hạnh phúc hay khổ đau, chứa đựng sự tinh vi am tường một cách rốt ráo:

“Có hai cực đoan, này các Tỳ-kheo, mà người xuất gia không nên hành trì. Đó là hai lối sống cực đoan? Những gì là hai. Một là đắm mình vào dục lạc, thấp kém, tầm thường, hạ liệt, không xứng đáng bậc Thánh, không lợi ích. Hai là chuyên tâm khổ hạnh ép xác, gây đau khổ cho thân tâm, không xứng đáng bậc Thánh, và cũng không có lợi ích. Này các Tỳ-kheo, Như Lai đã tránh xa hai cực đoan này, và tìm ra con đường Trung đạo, con đường này chính là con đường khiến cho ta thấy và biết, con đường đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”

Sau khi tuyên bố hai lối sống cực đoan đem lại tai hại, đức Thế Tôn thuyết giảng con đường Trung đạo thông qua bốn hành tướng chân lý nhiệm mầu:

“Này các Tỳ-kheo, đây là thánh đế về khổ: sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ; gần gũi những gì ta không thích là khổ, cầu không được là khổ, xa lìa những gì ta thích là khổ. Tóm lại, chấp thủ năm uẩn là khổ.

Này các Tỳ-kheo, đây là Thánh đế về nguyên nhân đưa đến đau khổ. Đó chính là khát ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm kiếm lạc thú chỗ này chỗ kia, đó là dục ái, hữu ái và vô hữu ái.

Này các Tỳ-kheo, đây là Thánh đế về Khổ diệt, chính là sự đoạn trừ, diệt tận hoàn toàn khát ái đó, sự quăng bỏ nó, chấm dứt nó, xả ly nó, không chấp thủ nó.

Này các Tỳ-kheo, đây là thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt. Đó là thánh đạo tám ngành, tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định”.

Năm Tôn giả chăm chú lắng nghe lời Ngài dạy. Chẳng bao lâu, năm Tôn giả Kiều-trần-như đoạn tận mọi ái nhiễm, chứng đắc các Thánh quả, trở thành các vị đệ tử đầu tiên trong giáo đoàn của đức Phật. Sau bài pháp đầu tiên, đức Phật tiếp tục giảng bài kinh Vô Ngã tướng, phủ nhận sự hiện hữu của tự ngã. Đây là giáo lý mang một ý nghĩa hết sức thiết thực, chỉ cho con người thấy rõ sự hiện hữu của mình trong cuộc thế nhân sinh là một tập hợp của năm uẩn. Chính điều này đi ngược lại ý tưởng đương thời, gây kinh ngạc trong hệ thống các giáo lý thần linh, đánh ngã mọi học thuyết chủ trương tự ngã là trường cửu hay đoạn diệt lúc bấy giờ.

Qua bài kinh Vô ngã, đức Phật đã mở ra một cái nhìn mới về con người, về cuộc đời. Con người không phải là một thực thể bất biến mà nó là duyên sinh. Con người chỉ là một tập hợp của năm thành tố, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nên không có một cái ngã thực hữu, thường hằng. Con người là sự kết hợp trọn vẹn hai mặt vận hành đó là thân thể vật lý và cấu trúc tâm lý mà không có một linh hồn-thực thể hằng biến như chủ trương của các học phái ngoại đạo lúc ấy. Mặt khác, con người sở dĩ đau khổ là do con người không hiểu rõ được bản chất của đau khổ, không hiểu rõ nguồn gốc đưa đến đau khổ. Đó là không thấy rõ sự biến chuyển, hoại diệt của năm uẩn; không thỏa mãn trước sự thay đổi của những tâm lý vọng cầu tham lam đắm nhiễm vào trong khoái lạc nhục dục lục trần, chấp chặt cho rằng cái thân năm uẩn này là thực có, là thường hằng, một khi nó mất đi thì tâm niệm đau khổ hiện ra.

Khi năm vị Tỳ-kheo nghe xong bài pháp thoại này, tâm của các vị ấy hoàn toàn ly nhiễm, thoát khỏi mọi lậu hoặc, và ngay lúc đó trở thành A-la-hán. Tri kiến hoàn toàn thanh tịnh, mênh mông sâu thẳm và hiểu các pháp một cách rốt ráo.

Qua bài pháp đầu tiên và bài pháp thoại thứ hai, chúng ta thấy sự thành công của đức Phật ngay buổi thuyết giáo đầu tiên. Ngài đi vào lòng quần chúng, đi vào tâm niệm đệ tử với việc phá vỡ tất cả khúc mắc của họ và trình bày lại những sở chứng của mình, chia sẻ cho mọi người cùng hiểu, cùng nắm bắt, cùng thực hành, chứ không phải là những lời dạy mang tính mơ hồ viễn vông. Giáo lý giác ngộ từ đó được vận hành soi sáng trên thế gian, hướng dẫn con người đi những bước đi an tịnh, chắc chắn, hỷ lạc, không ưu tư sầu muộn, đưa đến giải thoát cho bất cứ ai trong khi thâm nhập, tu tập, hành trì giáo lý với tuệ quán thấy được sự thật của khổ đau và nguồn gốc của khổ đau, rồi hướng tâm tới tìm cầu con đường thoát khỏi khổ đau và thực hành phương pháp thoát ly khổ đau. Cuộc hành trình ấy đã thể hiện hai phương diện khổ đau mà thế gian đang phải gánh chịu, và đằng khác là sự thoát ly khổ đau của các bậc Thánh sau khi hành trì Bát thánh đạo, thoát ly hai lối sống cực đoan. Điều này có thể hiểu rằng, bài pháp đầu tiên này mang một ý nghĩa hết sức thiết thực cho kiếp sống nhân sinh, đã mở ra một thông điệp nhân bản cho con người, định hướng cho con người thấy rõ khổ đau và hạnh phúc nằm trong tầm tay của mình, trong cuộc sống hiện hữu của mình chứ không nằm ở đâu xa xôi như thiên đường hay cảnh giới ảo tưởng nào đó. Chỉ khi nào con người biết dừng lại, với tuệ quán nhìn thấy rõ bản chất của nó, biết quay trở lại với bản tâm của mình, thấy rõ thực tướng của năm uẩn tạo nên khổ đau, nguyên nhân khổ đau, khổ đau biến mất và con đường đưa đến đoạn diệt khổ đau thì con người mới đi được những bước đi thảnh thơi, tự tại trên mãnh đất tâm an lạc giải thoát. Bài Pháp đầu tiên và bài pháp thứ hai đã mở một lối đi cho những ai đang còn đắm chìm trong ngục tối vô minh, đang bị ràng buộc trong lệ tình dục nhiễm, hãy ý thức để quay về. Giáo pháp của đạo Phật từ nay sẽ rộng mở cho những ai biết quay đầu phản tỉnh, thiết tha mong cầu thoát khổ để được an vui.

 

Thiền Ba-la-mật

Tâm Như Trí Thủ

Thế nào là tu tập thiền định?

Tu tập thiền định, nếu vì tự lợi, lợi tha và tự tha đều lợi, thiền định như thế mới trang nghiêm được đạo Bồ-đề. Bồ-tát sở dĩ tu tập thiền định là vì muốn điều phục chúng sanh, khiến chúng sanh xa lìa khổ não. Người tu tập thiền định khéo thâu nhiếp lòng mình, hết thảy loạn tưởng không cho quấy động. Đi đứng nằm ngồi, luôn luôn giữ gìn chánh niệm, ngược xuôi quán sát, từ đầu đến cổ, xương sống, cánh tay, ngực, bụng, hông, rún, bàng quang, bắp vế, đầu ống chân, gối, bàn chân, hơi thở ra vào, tuần tự rõ ràng không còn chao động. Như vậy gọi là Bồ-tát bắt đầu tu tập định tâm.

Nhờ tu định tâm nên không thọ các điều ác, mà tâm thì được thường vui vẻ; như vậy gọi là tự lợi. Giáo hóa chúng sanh, khiến chúng sanh tu tập chánh niệm; như vậy gọi là lợi tha. Đem pháp tam muội thanh tịnh đã lìa khỏi ác giác ác quán của mình đã tu tập được mà hóa độ chúng sanh, khiến chúng sanh cũng đồng được lợi như mình; như vậy gọi là tự tha đều lợi.

Nhân tu thiền định, thu hoạch được tám món giải thoát, cho đến Thủ lăng nghiêm, Kim cang tam muội; như vậy gọi là trang nghiêm đạo Bồ-đề.

Thiền định sanh ra là nhờ có ba pháp: một là văn huệ, hai là tư huệ, ba là tu huệ. Nhờ thực hành ba pháp ấy mà lần lần phát sanh hết thảy tam muội.

Thế nào gọi là Văn huệ ?

Như đối với giáo pháp đã được nghe sanh tâm ưa thích. Lại phải như thế này: Tất cả các Phật pháp như vô ngại, giải thoát v.v... cần phải nghe nhiều mới được thành tựu. Có được quan niệm như thế thời bất cứ lúc nào cũng học chánh pháp, lòng mình cũng càng thêm tinh tấn, ngày đêm thường thích nghe chánh pháp, không khi nào nhàm chán. Như vậy gọi là Văn huệ.

Thế nào gọi là Tư huệ ?

Suy nghĩ quan sát hết thảy các pháp đúng như thật tướng. Đúng như thật tướng nghĩa là các pháp hữu vi đều vô thường, khổ, không, vô ngã và bất tịnh. Chúng vốn niệm niệm sanh diệt, tồn tại không lâu và rất chóng hư hoại. Chúng sanh không biết như thế để lòng bị trói buộc trong yêu ghét cầu lo theo các pháp ấy, chỉ vì lửa tham, sân, si thiêu đốt khiến tăng trưởng thêm nhiều khổ não, chồng chất cho kiếp sống vị lai. Nếu biết được rằng các pháp hữu vi chỉ là huyễn hóa không có thật tánh, thời đối với bất cứ pháp hữu vi nào, lòng mình cũng sanh nhàm chán, xa lìa càng thêm tinh tấn và xu hướng về trí huệ Phật. Xu hướng về trí huệ Phật bằng cách tư duy: trí huệ ấy bất khả tư nghì không thể đo lường, trí huệ ấy có một đại thế lực không ai hơn nổi. Nhờ tư duy như thế mà tự xây dựng được cho mình một thành trì an ổn lớn lao, khiến tâm không lo sợ, không thối chuyển, lại cứu độ được vô lượng chúng sanh khổ não. Biết và thấy trí huệ Phật vô lượng như thế, thấy các pháp hữu vi vô lượng như thế, chí nguyện cầu vô thượng đại thừa mới càng phấn chấn thêm lên. Như vậy gọi là Tư huệ.

Thế nào gọi là Tu huệ ?

Từ khi bắt đầu quán sát cho đến khi đạt được quả vị A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề , gọi là Tu huệ .

1. Bắt đầu xa lìa các pháp bất thiện về dục giới, còn có giác, có quán ly sanh hỷ lạc, đi vào định sơ thiền.

2. Diệt hết giác và quán, bên trong được tâm thanh tịnh duy nhất, không còn giác và quán nữa nhờ thiền định và hỷ lạc, tức đi vào định nhị thiền.

3. Muốn xa lìa tâm hỷ lạc thô trọng nên tu hành xả; thân tâm an hưởng niềm vui tế nhị không thể mô tả, các bậc Hiền thánh có nói ra cũng xả bỏ. Thường niệm thọ lạc, tức đi vào định tam thiền.

4. Đoạn hết khổ và lạc, trước hết phải diệt sạch niệm mừng và lo, không còn khổ, không còn lạc, tu theo niệm hành xả được thanh tịnh, tức đi vào định tứ thiền.

5. Vượt qua hết thảy sắc tướng; diệt trừ hết thảy các tướng đối đãi; không nhớ nghĩ hết thảy các tướng sai biệt; thấy được hư không vô biên, tức đi vào định sắc vô hư không.

6. Vượt qua hết thảy các tướng hư không, đến một cõi không còn thức nữa, tức đi vào định thức vô sắc.

7. Vượt qua hết thảy thức tướng, đến một cõi không còn sở hữu nữa, tức đi vào định vô sắc vô sở hữu.

8. Vượt lên một tầng qua các cõi vô sở hữu, đến một cõi không còn tưởng hay phi tưởng; an ổn trong cõi ấy tức đi vào định phi tưởng phi phi tưởng.

Trải qua các giai đoạn tu định trên đây, hành giả chỉ tùy thuận tu hành theo các pháp, tâm không đắm trước sự an vui của thiền định mà chỉ quyết cầu nguyện đạt đến vô thượng thừa để hoàn thành quả tối chánh giác. Như vậy gọi là Tu huệ.

Bồ-tát theo ba pháp Văn huệ, Tư huệ và Tu huệ mà tinh tấn điều nhiếp lòng mình, thời thành tựu được “Thông minh tam muội” tức là Thiền Ba la mật.

Lại nữa, Bồ-tát tu định còn phải thực hành thêm mười pháp không chung với hàng Thanh văn và Bích Chi Phật. Mười pháp ấy là những pháp nào?

1. Tu thiền định vì muốn đủ các thiền định của Phật trước hết phải dẹp bỏ ngã chấp riêng biệt.

2. Tu thiền định vì muốn xả bỏ tâm ô nhiễm, không cầu vui riêng cho mình nên không say đắm cảnh vui trong thiền định.

3. Tu thiền định vì muốn biết tâm hạnh của chúng sanh nên đầy đủ các hạnh nghiệp thần thông.

4. Tu thiền định vì muốn độ thoát chúng sanh nên cần phải biết tâm niệm của chúng sanh.

5. Tu thiền định vì muốn dứt trừ sự phiền não ràng buộc cho chúng sanh nên phải tu hạnh đại bi.

6. Tu thiền định vì muốn thiện xảo thấy biết sự nhập định, xuất định vượt ngoài tam giới, nên phải tu hết các thiền tam muội.

7. Tu thiền định vì muốn đầy đủ tất cả các thiện pháp, nên thường được tự tại.

8. Tu thiền định vì muốn thắng hơn các thiền tam muội của nhị thừa nên tâm thường vắng lặng.

9. Tu thiền định vì muốn thoát ngoài thế gian đến bờ cứu cánh nên thường trau dồi trí huệ.

10. Tu thiền định vì muốn hưng thạnh Tam bảo khiến không đoạn tuyệt, nên thường tuyên dương chánh pháp.

Mười loại thiền định như vậy, không chung cùng với hàng Thanh văn và Bích Chi Phật.

Lại nữa, để biết tâm phiền não của hết thảy chúng sanh cho nên tu tập các pháp thiền định, giúp thành tâm an trú, khiến thiền định ấy an trú trong tâm bình đẳng; vì thế nên gọi là Định.

Các loại thiền định bình đẳng như thế, thời bình đẳng với không, vô tướng, vô nguyện, vô tác. Không, vô tướng, vô nguyện, vô tác bình đẳng thời chúng sanh bình đẳng. Chúng sanh bình đẳng thời các pháp bình đẳng. Vào trong chỗ bình đẳng như thế cho nên gọi là Định.

Lại nữa, Bồ-tát tuy hành động thiệp thế nhưng không nhiễm theo đời. Bồ-tát bỏ đời bước vào chánh pháp, cắt đứt sợi dây trói buộc, xa lìa những cảnh huyên náo, ưa thích nơi vắng lặng. Tu hành thiền định như vậy, nên tâm Bồ-tát an ổn bình lặng, luôn luôn xa lìa mọi tác động phiền não của thế gian.

Lại nữa, Bồ-tát thiền định, có đầy đủ thông trí và phương tiện huệ.

Thế nào gọi là thông trí?

Hoặc được thấy sắc tướng, hoặc nghe được âm thanh, hoặc biết được tha tâm, hoặc nhớ được quá khứ, hoặc soi khắp được các thế giới chư Phật, như vậy gọi là Thông. Còn nếu biết sắc tướng tức là pháp tánh, nếu biết rõ âm thanh là do tác động của tâm, nếu thấu suốt tánh tướng đều tịch diệt, ba đời thảy bình đẳng, nếu rõ các cõi Phật đồng với tướng hư không mà không bao giờ thiên về diệt tận; như vậy gọi là Trí.

Thế nào gọi là phương tiện huệ?

Khi vào thiền định, khởi đại từ bi, không xả bỏ thệ nguyện, tâm rắn như kim cương, quán sát thế giới chư Phật trang nghiêm Bồ-đề đạo tràng; như vậy gọi là Phương tiện. Bấy giờ, tâm ấy vĩnh viễn vắng lặng, không còn tướng ngã và tướng chúng sanh, tư duy các pháp bản tánh vốn bất loạn, thấy thế giới chư Phật đồng với hư không, quán đạo tràng đồng với trang nghiêm đồng với tịch diệt; như vậy gọi là Huệ.

Các pháp tu như thế gọi là pháp tu thiền định thông trí và phương tiện sai biệt của Bồ-tát. Thực hành một loạt tất cả bốn việc ấy, tức là đã gần được A-nậu-đa-la Tam-miệu-Tam-bồ-đề.

Bồ-tát tu hành thiền định, vận dụng pháp bất động nên không còn sót lại các tâm. Như vậy tức là đã hoàn thành đầy đủ các pháp Thiền-na Ba-la-mật

 

 

Chỉ Cần Một Điểm Loé Vô Minh Luyện Thành Con Người Đại Trượng Phu - Thiền Lâm Cú Tập

Câu nầy có nghĩa rằng nếu như khai mở con mắt tâm và chuyển tâm cơ thì vô minh cứ như vậy trở thành diệu tướng của chơn Phật.

Có hôm nọ, Tây Hữu Mục Sơn (西有穆山, Nishiari Bokuzan, 1821-1910), bậc cự tượng nghiên cứu về bộ Chánh Pháp Nhãn Tạng, được người ta nhờ viết bài tán cho bức tranh Đạt Ma và nàng du nữ sắc nước khuynh thành, ông hí hoáy mấy câu sau:

“Chín năm quay vào tường có gì đâu? Ta đây mười năm ưu sầu. Ta đây với tấc lòng thành. Qua tháng ngày với cây đàn. Đàn mà đứt dây ta thành Phật. Làm bạn với khách niệm Di Đà. Độ được hay không nào ai biết. Ấy là chuyện của ông. Ngoài ra chẳng còn gì khác hơn.

Khi Hòa thượng Tiên Nhai (仙厓, Sengai) đi ngang qua khu làng vào ngày đầu năm, có đám người tụ tập rất đông để xem hai vợ chồng đang gây lộn nhau. Sau đó, người chồng mắng vợ rằng:

- Thôi, không chịu nỗi nữa rồi.

- Cứ giết tôi đi còn hơn đánh đập tôi như vậy.

Khi ấy Hòa thượng nhảy ra bảo rằng:

- Nè, nè, cứ giết chết nhau đi! Có gì ta sẽ tiếp độ cho mà.

Nghe vậy hai vợ chồng thôi không gây nhau nữa. Khi ấy truy tìm nguồn gốc vì sao gây ra cuộc cãi vã như vậy, mới biết được rằng do vì nấu thức ăn quá độ, nên bỏ đi hay ăn đã trở thành câu chuyện gây gỗ giữa hai vợ chồng kia.

Ngay lúc ấy, Tiên Nhai viết ngay mấy câu rằng:

“Tuyết trắng núi Phú Sĩ sáng mai tan. Sáng nay nấu đồ ăn cũng tiêu tan. Vợ chồng gây nhau nằm ngủ vẫn mơ màng.”

(Trích trong tập Mỗi ngày một câu Thiền)

Tàn Mộng Tử

biên dịch và chú giải.

 

Trạng thái con người sau khi chết

 Nguyên Liên

Theo quan điểm của Phật giáo, đời sống của một con người chỉ hoàn toàn chấm dứt khi toàn thân lạnh hết. Lúc đó là thời điểm mà thần thức rời khỏi thể xác, giai đoạn này mới được tính là chết. Nếu khi người bịnh vừa mới chấm dứt hơi thở, nhịp tim vừa ngưng đập, nhưng hơi ấm xác thân vẫn còn, lúc này vẫn chưa tính là chết. Bởi thời điểm này, mọi sự cảm thọ của họ vẫn đồng như người đang còn sống, chỉ có điều họ không thể nói năng được mà thôi.

Con người từ đâu đến và chết rồi đi về đâu, luôn là một câu hỏi lớn của nhân loại từ ngàn xưa cho đến ngàn sau, như trong kinh Lương hoàng sám nói: “Không biết sanh ra từ đâu đến, chết rồi đi về đâu, chỉ biết ngậm ngùi đưa nhau đến đáy huyệt, một lần chia ly là từ biệt vạn đời”. Như vậy, thần thức con người sau khi lìa khỏi xác thân đi về đâu? Quá trình thọ dụng của thần thức trước khi chưa tìm ra chỗ thọ sanh như thế nào? Tâm lý của thần thức trong giai đoạn này ra sao? Đó là những vấn đề chúng ta cần tiếp tục tìm hiểu.

I. BA TRƯỜNG HỢP SAI KHÁC SAU KHI CHẾT.

Tất cả chúng sanh sau khi chết, tùy theo nghiệp lực sanh tiền tạo tác của mỗi người là  thiện hay ác, mà chết rơi vào một trong ba trường hợp sau.

1. Chết với tâm lành.

Người nào sanh tiền có tín tâm với