Tập san
Pháp Luân
No.13
---o0o---
Tứ Đế
^
TT. Thích Đức Thắng
(tiếp theo và
hết)
Ngoài ra, lý Tứ đế còn phân ra làm ba giai đoạn, mỗi giai
đoạn có bốn hành tướng gọi là tam chuyển thập nhị hành tướng:
a) Lần chuyển ban đầu gọi là Thị chuyển: “Đây là sự
thật về Khổ, đây là sự thật về sự tập khởi khổ, đây là sự thật về diệt
khổ, đây là sự thật về con đường đưa đến sự diệt khổ.”
b) Lần chuyển thứ hai gọi là Khuyến chuyển: “Đây là
sự thật về khổ chúng ta nên biết tất cả, đây là sự thật về sự tập khởi khổ
chúng ta nên đoạn trừ, đây là sự thật về diệt khổ chúng ta nên chứng, đây
là sự thật về con đường đưa đến diệt khổ chúng ta nên tu tập.”
c) Lần chuyển thứ ba gọi là Chứng chuyển: “Đây là
sự thật về khổ Ta đã biết tất cả, đây là sự thật về sự tập khởi khổ Ta đã
đoạn, đây là sự thật về diệt khổ Ta đã chứng, đây là sự thật về con đường
đưa đến sự diệt khổ Ta đã tu tập.” Đó gọi là mười hai hành tướng.
Và như thế, cứ trong mỗi sự thật (đế) đều có ba lần chuyển
thành mười hai hành tướng. Như vậy tất cả cộng lại là mười hai lần chuyển
thành bốn mươi tám
hành tướng. Ở đây, chúng ta dùng sự thật về khổ mà nói
thì: “Đây là sự thật về khổ” chỉ cho “Thị tướng chuyển”, và
“Nên biết tất cả sự thật về khổ này” là chỉ cho “Khuyến tướng
chuyển”, còn “Đã biết tất cả sự thật về khổ này” là chỉ cho
“Chứng tướng chuyển”. Đó là ba lần đức Đạo sư nói về ba lần chuyển về
sự thật thứ nhất tức Khổ đế. Cũng vậy, trong ba đế còn lại như tập, diệt,
đạo thì cũng lại chuyển mỗi đế cũng ba lần như vậy, cộng tất cả lại thành
bốn mươi tám hành tướng. Trong ba lần chuyển này cứ theo thứ tự mà chúng
ta phối hợp đối với kiến đạo, tu đạo và vô học đạo. Trong mỗi một lần
chuyển như vậy có đầy đủ sự hiện diện bốn hành tướng của nhãn, trí, minh
và giác. Như trong kinh Chuyển pháp luân của Luật tạng, Tứ phần
quyển 32, đức Đạo sư đã dạy:
“Bốn Thánh đế. Thế nào gọi là Thánh đế? Là khổ Thánh đế,
khổ tập Thánh đế, khổ tận Thánh đế, khổ xuất yếu Thánh đế.
Những gì gọi là khổ Thánh đế?
Sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, thù ghét tụ hội
khổ, ái biệt ly khổ, muốn điều gì không được là khổ. Nói một cách ngắn
gọn, năm thạnh ấm là khổ. Đó gọi là khổ Thánh đế. Lại nữa, khổ Thánh đế
cần được biết thì Ta đã biết. Đây nên tu đạo tám chánh: Chánh kiến, chánh
nghiệp, chánh ngữ, chánh hành, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm
và chánh định.
Những gì là khổ tập Thánh đế?
Ái lạc vốn được phát sinh từ trước do duyên nơi ái và
tương ưng với dục. Đó là khổ tập Thánh đế. Lại nữa, diệt khổ tập Thánh đế
cần diệt thì Ta đã diệt và tác chứng, nên tu tám chánh đạo: Chánh kiến,
chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh hành, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh
niệm và chánh định.
Những gì là khổ tận Thánh đế?
Ái kia đã vĩnh viễn đoạn tận, vô dục, tịch diệt, xả, xuất
ly, giải thoát, vĩnh viễn diệt tận, tịnh chỉ, không còn hang ổ. Đó gọi là
khổ tận Thánh đế. Lại nữa, khổ tận Thánh đế cần được chứng đắc Ta đã tác
chứng, nên tu tám chánh đạo: Chánh kiến, chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh
hành, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm và chánh định.
Những gì là khổ xuất yếu Thánh đế?
Con đường của Hiền thánh có tám chánh này: chánh kiến,
chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh hành, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh
niệm và chánh định. Đó là khổ xuất yếu Thánh đế. Lại nữa, khổ xuất yếu
Thánh đế này cần được tu tập thì Ta đã tu tập.
Khổ Thánh đế này, đối với pháp trước đây chưa từng được
nghe, làm phát sinh con mắt, phát sinh trí, phát sinh giác, phát sinh
minh, phát sinh thông, phát sinh huệ, đắc chứng. Lại nữa, nên biết khổ
Thánh đế này, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh
con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, Ta đã biết khổ Thánh đế, đối với
pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, phát sinh trí,
phát sinh giác, phát sinh minh, phát sinh thông, phát sinh huệ. Đó gọi là
khổ Thánh đế.
Khổ tập Thánh đế đối với pháp trước đây chưa từng được
nghe, làm phát sinh con mắt, phát sinh trí, phát sinh giác, phát sinh
minh, phát sinh thông, phát sinh huệ. Lại nữa, nên diệt khổ tập Thánh đế
này, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt,
cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, Ta đã diệt khổ tập Thánh đế nầy, đối với
pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát
sinh huệ. Đó gọi là khổ tập Thánh đế.
Khổ tận Thánh đế, đối với pháp trước đây chưa từng được
nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, nên tác chứng
khổ tận Thánh đế nầy, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát
sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, Ta đã tác chứng, khổ tận
Thánh đế này, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh
con mắt, cho đến phát sinh huệ.
Khổ xuất yếu Thánh đế này, đối với pháp trước đây chưa
từng được nghe, làm phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, nên
tu khổ xuất yếu Thánh đế, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm
phát sinh con mắt, cho đến phát sinh huệ. Lại nữa, Ta đã tu khổ xuất yếu
Thánh đế, đối với pháp trước đây chưa từng được nghe, làm phát sinh con
mắt, cho đến phát sinh huệ.
Đó là bốn Thánh đế. Nếu Ta không tu bốn Thánh đế nầy, với
ba lần chuyển thành mười hai hành tướng, mà không biết như thật thì nay Ta
không thành đạo Vô thượng chánh chơn. Song ta đối với bốn Thánh đế, với ba
lần chuyển thành mười hai hành tướng, như thật đã biết, nên nay Ta thành
đạo Vô thượng chánh chơn, không còn gì nghi ngờ.”
Tóm lại, bốn sự thật mà đức Đạo sư đã từng kinh qua chứng
đắc và đem nó ra để dạy lại cho chúng đệ tử, nên thực hành như chính Ngài
nếu muốn thoát khỏi khổ đau.
Sự thật thứ nhất là khổ đau, đó là kết quả
bản chất của chính sự sống mà chúng sanh hữu tình đang gánh chịu, nỗi khổ
đau này, những buồn vui của nó chính trong cuộc sống của mỗi hữu tình
chúng sanh về tâm và vật, chúng luôn luôn mang bộ mặt bất toàn giả tạm và
không làm vừa lòng mỗi chúng ta, do vô thường và huyễn hóa. Về sự thật
này, thì chúng ta phải hiểu và biết nó như một sự kiện như thật, một cách
chính xác và đầy đủ (parrinneyya).
Sự thật thứ hai là Nguồn gốc tập khởi của khổ đau,
tức chỉ cho nguyên nhân mọi thứ dục vọng, mọi khát khao của ái, và tương
ưng với tất cả những đam mê xấu xa bất tịnh khác câu hữu với vô minh, đưa
chúng ta đến kết quả đau khổ, trôi lăn trong sinh tử luân hồi ba cõi. Ở
đây, chúng ta không những chỉ hiểu sự kiện này một cách như thật chính nó
thôi, mà chúng ta còn phải nỗ lực từ bỏ, loại bỏ nó, bằng cách diệt trừ và
nhổ tận gốc rễ (pahàtabba) để nó không còn là nguyên nhân trực tiếp
đưa chúng ta đến hậu quả khổ đau, trong hiện tại và tương lai nữa.
Sự thật thứ ba là sự Chấm dứt khổ đau, đạt
Niết-bàn, chân lý tuyệt đối, hay là thực tại tối hậu, là kết quả sau khi
chúng sanh hữu tình thực hiện con đường Trung đạo. Ở đây, việc thực hành
của chúng ta là phải thực chứng nó (sacchikàtabba), bằng vào những
nỗ lực cả thân và tâm trong việc thực hiện thanh tịnh hóa ba nghiệp.
Sự thật thứ tư là Con đường đưa đến thực chứng
Niết-bàn. Ở đây, chúng ta nói đến vấn đề con đường đưa đến thực
chứng, tức là nói đến con đường thực hành qua Thánh đạo tám
nghành, không chỉ hiểu biết về con đường, dù có thấu
triệt bao nhiêu đi chăng nữa thì cũng không ích lợi gì. Trong trường hợp
này, việc của chúng ta là phải đi theo con đường ấy và tuân giữ nó
(bhàvetabba) về hai mặt thân và tâm, làm cho ba nghiệp thanh tịnh. Có như
vậy, chúng ta mới đạt được mọi sự an lạc ngay trong cuộc sống này, mà
không cần tìm đâu xa ngoài thế gian này.
Thần thông và
nghiệp lực của Tôn giả Mục-kiền-liên
Thích Trí Lộc
“Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”.
Đó là một câu trong “Tứ hoằng thệ nguyện” của người con
Phật. Đến với Phật Pháp là đến với kho tàng kinh điển mênh mông, được mệnh
danh là “Tam tạng kinh điển”. Tam tạng kinh điển gồm có: Kinh tạng, luật
tạng và luận tạng, trong ấy chứa đựng vô lượng pháp môn tu học để hành giả
áp dụng tu tập vượt thoát khổ đau. Suốt một đời người bỏ công ra đọc (chưa
cần hiểu nghĩa) cũng chưa chắc là đọc hết được, nhưng người con Phật với
chí nguyện cao cả phải phát nguyện học tập không nản lòng “thệ nguyện
học”.
Trong Tam tạng kinh điển, chúng ta bắt gặp rất nhiều thuật
ngữ Phật học, thần thông và nghiệp lực là hai trong những thuật ngữ phổ
thông nhất, hầu như người con Phật nào cũng hiểu và biết được. Cuộc đời
của tôn giả Mục-kiền-liên, ngoài thể hiện hiếu tâm cao cả, Ngài còn là một
vị Thánh đệ tử có thần thông bậc nhất, bên cạnh ấy nghiệp lực của Ngài
cũng được thể hiện rất rõ nét. Hai yếu tố thần thông và nghiệp lực diễn ra
trong cuộc đời Ngài một cách rõ ràng và sâu sắc; đôi lúc như có phần mâu
thuẫn nhau, điều này gây ra những thắc mắc không nhỏ cho những người sơ cơ
mới tìm hiểu về Phật giáo. Trong bài này, người viết xin giới thiệu đôi
nét về thần thông và nghiệp lực qua cuộc đời của tôn giả Mục-kiền-liên.
A. Thần thông qua cuộc đời của Ngài
Trong những đấng giáo chủ sáng lập ra những tôn giáo lớn,
hay những bậc đạo sư sáng lập nên những triết lý, học phái… chắc chắn
không có một đấng giáo chủ hay đạo sư nào có được chúng đệ tử xuất gia
cũng như tại gia nhiều như đức Phật. Chỉ cần nhìn vào hình ảnh đức Phật
mỗi buổi bình minh cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo theo
sau, từng bước khất thực trang nghiêm trên xứ Ấn, thì không một vị giáo
chủ nào, đạo sư nào có được diễm phúc như vậy. Trong số hàng ngàn vị
Tỳ-kheo, bậc A-la-hán, đệ tử đức Thế Tôn ấy thì tôn giả Mục-kiền-liên được
đức Phật và Thánh chúng khẳng định là bậc có thần thông vĩ đại nhất, và
thường được gọi là bậc có thần thông đệ nhất.
1. Nguyên nhân cầu thần thông
Theo từ điển Phật học, thần thông được giải thích như sau:
Thần có nghĩa là không lường được, thông có nghĩa là không trở ngại. Không
thể lường được lại có sức lực không gì trở ngại được thì gọi là thần
thông. Với năng lực thần thông siêu tuyệt của mình, tôn giả Mục-kiền-liên
có thể dời non, lấp bể, biến hóa tự tại… tùy duyên giáo hóa, cứu độ chúng
sanh.
Không phải vô tình hay ngẫu nhiên mà hai tôn giả
Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên trở thành hai vị Đại đệ tử của đức Thế Tôn,
mà nhờ vào nhân duyên từ vô lượng kiếp trong quá khứ hai Ngài đã từng quì
dưới chân đức Phật Anomadassi thành tâm phát nguyện trở thành những Đại đệ
tử của đức Phật trong kiếp sau cùng (đức Phật Thích-ca). Cũng như thế,
không phải vô tình mà tôn giả Mục-kiền-liên trở thành bậc Thánh có thần
thông đệ nhất. Nguyên nhân có được năng lực thần thông siêu việt ấy là nhờ
trong tiền kiếp Ngài đã phát nguyện: Thuở ấy, Ngài là một ngư phủ làm nghề
đánh cá; hằng ngày đánh bắt hàng trăm con cá để đem ra chợ bán. Cho đến
một hôm, chàng ngư phủ chợt ý thức về những việc làm sát hại sinh vật của
mình là tàn nhẫn, không lương thiện và chàng quyết định bỏ nghề đánh cá để
lên thành thị chọn một nghề lương thiện để sinh sống. Cũng chính nhờ nhân
duyên đổi nghề, tại thành thị ấy chàng đã gặp một vị Bích Chi Phật, và
chàng đã thỉnh vị Bích Chi Phật về nhà cúng dường trai phạn. May mắn thay
cho chàng, vị Bích Chi Phật này có năng lực thần thông siêu phàm, sau khi
thọ trai xong, cảm động trước tấm lòng thành của chàng thanh niên trẻ, vị
Bích Chi Phật đã hóa hiện những năng lực thần biến siêu phàm: trên thân
nước chảy, dưới thân lửa cháy, bay lượn du hành tự tại trên không trung…
Chứng kiến được diệu cảnh hy hữu ấy, chàng thanh niên đã đem tất cả lòng
thành phát nguyện cầu chứng được thần thông siêu việt ở đời sau. Nhờ nhân
duyên ấy, cộng với quyết tâm tu tập của Ngài, trải qua vô lượng kiếp và
đến thời đức Phật Thích-ca, Ngài xuất gia nỗ lực tinh tấn tu tập, và chỉ
trong vòng bảy ngày đã chứng được thần thông bậc nhất không ai so sánh
được. Cũng nhờ năng lực thần thông ấy đã giúp Ngài rất nhiều trong việc
đem Phật pháp giáo hóa độ sanh, hàng phục ngoại đạo…
2. Thần thông với sự nghiệp hoằng pháp
Đức Thế Tôn không khuyến khích hàng đệ tử Ngài sử dụng
thần thông để hoằng pháp, bởi vì thần thông nếu không được sử dụng một
cách đúng đắn thì dễ sanh ra tự cao ngã mạn… rơi vào tà đạo. Hơn nữa các
loài phi nhân hay ma ba tuần thường sử dụng thần thông để gạt người. Chính
vì thế mà đức Thế Tôn không cho hàng đệ tử Ngài sử dụng thần thông để
hoằng pháp lợi sanh. Trường hợp tôn giả Mục-kiền-liên có lẽ là một ngoại
lệ. Đức Phật không cấm tôn giả Mục-kiền-liên sử dụng thần thông để độ sanh
vì đấy là hạnh nguyện của tôn giả đã gieo trồng trong vô lượng kiếp, hơn
nữa tôn giả Mục-kiền-liên là một vị A-la-hán đã đoạn tận tham sân si, và
có lòng đại bi, hiếu hạnh; do vậy trong hàng đệ tử đức Thế Tôn, chỉ có
mình tôn giả Mục-kiền-liên được cho phép sử dụng thần thông tự tại để giáo
hóa mọi người.
Đọc qua sự nghiệp giáo hóa của tôn giả Mục Kiền Liên, ta
thấy có nhiều điều nổi bật đáng cho ta ca ngợi và kính ngưỡng: Dời núi độ
phạm chí ngoại đạo, hàng phục ác quỉ, chúng ngạ quỉ thưa hỏi nhân duyên
nghiệp báo, sắc đẹp không cự nổi thần thông…
a. Dời núi độ Phạm chí: Thuở
đức Phật còn tại thế, có rất nhiều ngoại đạo phạm chí, họ cũng có những
năng lực tu luyện chứng đắc thần thông, nhưng vì họ chỉ lo tu luyện cầu
chứng đắc thần thông để tìm cầu lợi danh và sự cung kính của người đời.
Tại biên giới phía nam Ấn Độ có nhiều ngoại đạo Phạm chí cũng tu luyện
chứng đắc thần thông, họ có khả năng hô mưa, gọi gió, dời núi, lấp sông…
làm cho vua, quan và dân chúng nước này đều tuân phục, thờ kính họ, vì họ
không tu tập từ tâm nên khi được cung kính họ càng tỏ ra ngã mạn, tự cao,
chìm đắm trong danh lợi, không hề tin tưởng đến Phật pháp.
Vâng lời dạy của đức Phật, tôn giả vận dụng thần thông đến
nước ấy để giáo hóa. Khi đến nơi thấy một ngọn núi đang chuyển động, Ngài
quan sát biết được những ngoại đạo Phạm chí đang vận dụng thần lực để dời
ngọn núi đi nơi khác làm con đường cho vua. Ngài liền bay lên đứng trụ
trên đỉnh núi, làm ngọn núi đang di chuyển bỗng đứng yên không hề nhúc
nhích, các Phạm chí sử dụng tất cả năng lực thần biến của mình cũng không
sao di chuyển được. Trong lúc các ngoại đạo đang hoang mang chưa biết cách
nào để di dời ngọn núi, trước mặt vua và thần dân, tôn giả Mục Kiền Liên
đã dùng thần thông làm ngọn núi biến thành một khu đất bằng phẳng để vua
làm đường và dân chúng sinh sống. Bọn ngoại đạo Phạm chí vô cùng kính
phục, cùng với vua quan và thần dân chắp tay cầu xin tôn giả thâu nhận làm
đệ tử, tôn giả Mục-kiền-liên từ chối và hướng dẫn họ về qui y với Chánh
pháp, qui y với đức Thế Tôn, cả vua quan và thần dân nước này trở thành
những vị Phật tử thuần lương sống an lạc trong giáo pháp của đức Phật.
b. Chúng ngạ quỉ thưa hỏi về nhân duyên nghiệp báo:
Với năng lực thần thông siêu việt của mình, tôn giả
Mục-kiền-liên không những du hành thăm viếng các cõi Phật, xuống các địa
ngục quan sát khổ báo chúng sanh… mà Ngài còn quan sát biết được mọi nhân
duyên tiền kiếp của các chúng sanh khác. Chính vì thế mà Ngài là một trong
những chứng nhân vĩ đại để đức Phật thuyết các kinh về ngạ quỉ, chư thiên,
địa ngục… Đặc biệt, Ngài thường dạy cho các ngạ quỉ biết về tiền thân của
chúng:
“Một hôm, tôn giả hành cước bên bờ sông Hằng, lúc ấy ánh
sáng nhạt dần như rút theo con nước, màu hoàng hôn hoang vắng, Tôn giả
thấy ban đêm đi hành hóa không tiện, bèn ngồi tịnh lự bên bờ sông.
Gió chiều nhẹ thổi, không trung lác đác vài vì sao. Bên bờ
sông Hằng các loài ngạ quỉ lắm phen tụ tập, muốn tìm nước uống để trừ đói
khát, nhưng gặp phải một con quỉ hung ác giữ mé sông, tay cầm gậy sắt xua
đuổi, do đó các quỉ đói không dám đến gần bờ nước. Mục-kiền-liên ngồi ngay
thẳng chánh niệm, thấy các loài ngạ quỉ thọ tội không đồng, bèn gọi chúng
lại. Nhân cơ hội ấy, chúng quỉ thưa hỏi về nhân duyên tội nghiệp.
Quỉ thứ nhất hỏi: Tôn giả! Đời trước chúng tôi là người
nay bị đọa làm thân quỉ đói, thường bị khổ khát, nghe nói nước sông trong
mát, mà khi đến lấy nước uống, nước liền nóng sôi, chỉ cần hớp một miếng,
lục phủ ngũ tạng liền cháy tiêu, còn bị quỉ giữ nước sông cầm gậy đánh
đuổi. Xin hỏi tôn giả chúng tôi do nghiệp gì mà thọ khổ báo này?
Mục-kiền-liên dùng sức định thần thông quan sát nhân quả
ba đời và nói cho ngạ quỉ này nghe: Đời trước ngươi làm thầy toán số, khi
nói tướng kiết hung cho người, nói dối nhiều hơn nói thật, tùy ý khen chê,
tự xưng mình thông suốt mà thật là dối láo, vì muốn cầu lợi dưỡng không
thương người mê muội nên mới thọ nghiệp báo như vậy.”
Cứ như thế từng ngạ quỉ lần lượt thưa hỏi về nhân duyên
nghiệp báo của mình, vì lòng từ bi, Ngài tận tình quan sát trả lời, làm
cho các ngạ quỉ kính phục Ngài, lo ăn năn, sám hối tội nghiệp của mình,
Ngài hướng các ngạ quỉ qui ngưỡng về chánh pháp tu tập, dần dần thoát khổ.
c. Thần thông với sắc đẹp:
Trong các giai thoại về thần thông của tôn giả
Mục-kiền-liên, câu chuyện Ngài hóa độ nàng Liên Hoa Sắc là câu chuyện để
lại trong ta nhiều ấn tượng nhất: Nàng Liên Hoa Sắc là một người con gái
rất đẹp, lại là con gái duy nhất của gia đình trưởng giả ở thành
Đức-xoa-thi-la. Khi nàng lên mười sáu tuổi, cha nàng kén rể lập gia thất
cho nàng. Không bao lâu cha nàng qua đời, bà mẹ góa bụa của nàng bèn tư
thông với chồng nàng, lúc ấy nàng đã có một người con gái với người chồng
này. Khi hay biết được việc này, nàng quá đau khổ và quyết định bỏ nhà ra
đi. Một thời gian sau, nàng được một thương gia cưới về làm vợ. Có một
lần, người chồng thương gia này đi buôn bán từ Đức-xoa-thi-la trở về lén
lấy nàng một ngàn đồng tiền vàng để mua tiểu thiếp. Sợ nàng biết, ông đưa
tiểu thiếp mới mua qua giấu ở nhà một người bạn. Khi nàng hay tin, lòng
ghen và tức giận nổi lên, liền tìm đến nhà người bạn ấy để đánh ghen kẻ
cướp chồng nàng. Khi đến nơi, nàng không thể chịu đựng được sự trớ trêu
của kiếp người nên té xỉu xuống đất, vì người con gái ấy chính là đứa con
của nàng với người chồng trước.
Quá uất hận trước hoàn cảnh éo le của thế thái nhân tình,
nàng chán ghét tất cả mọi người, chán ghét cả thế gian… và bỏ nhà ra đi
dấn thân vào con đường thanh lâu, tửu điếm, làm kẻ mua vui cho thiên hạ,
lúc này nàng mới ba mươi tuổi. Với nhan sắc diễm lệ, cộng với lòng căm hận
cả thế thái nhân tình, nàng đã làm không biết bao gia đình tan nhà nát
cửa, phát triển mọi sinh hoạt tội lỗi của mình.
Tôn giả Mục-kiền-liên sử dụng năng lực thần thông hàng
phục các ngoại đạo, phần lớn những ngoại đạo này đều kính ngưỡng quay đầu
về với Chánh pháp, nhưng có một số không chịu khuất phục, tuy thế không
làm sao hại được Tôn giả, họ bèn thuê nàng Liên Hoa Sắc dùng sắc đẹp của
nàng để quyến rũ tôn giả Mục-kiền-liên, hằng mong hạ uy tín và làm nhục
Ngài. Không còn phân biệt thiện ác, vốn dĩ đã hận đời, nàng đã đồng ý ra
sức cám dỗ Ngài.
Một buổi sáng đẹp trời, nàng chọn một khu đồi vắng đẹp,
nơi tôn giả Mục-kiền-liên thường khất thực đi ngang qua; đợi Ngài đến gần,
nàng dùng lời đường mật, dáng điệu mê hồn ngỏ lời cám dỗ: “Thưa Tôn
giả, Ngài có bận đi đâu không? Ngài có thể dừng chân nói chuyện với em
không ạ!”.
Với năng lực thần thông siêu việt của mình, tôn giả biết
được mọi động cơ, suy nghĩ của Liên Hoa Sắc, Ngài liền cảnh tỉnh nàng:
“Bần đạo kinh tởm cái chòi bằng nhiều khúc xương, chằng
chịt bằng những sợi dây gân, chứa đựng toàn những vật ô uế, mùi hôi xông
lên khó ngửi. Những uế vật ấy được bài tiết theo cửu khiếu thường trực.
Nhờ lớp da bao bọc, bằng không cái thân nhơ uế của tín nữ còn đáng kinh
tởm hơn nhiều. Nếu mọi người đều thấy rõ thực chất ấy đáng gớm trong cơ
thể tín nữ, thì họ sẽ tránh xa tín nữ như tránh xa hầm phẩn vậy.”
Vừa kính, vừa sợ vì chưa từng gặp được một người nào phát
ngôn với một tư duy sâu sắc như thế; nhưng vẫn có chút tự ái và sân giận
trong lòng, Liên Hoa Sắc vẫn cố gắng khiêu khích: “Thưa Ngài Sa-môn,
thưa người hùng! Những lời Ngài nói hoàn toàn đúng sự thật. Nhưng người
đời đa số đều thích nhào xuống hầm phẩn ấy, như bò già bị sa lầy.”
Trước những lời khiêu khích của Liên Hoa sắc, vì tưởng
mình như những thế nhân thường tình, Ngài đã nhấn mạnh tâm định của mình:
“Này tín nữ, người lấy chàm hoặc nước sơn để nhuộm hoặc tô
màu hư không sẽ hoài công vô ích. Tâm hồn của bần đạo như hư không, tín nữ
chớ đem cái tâm niệm dục nhiễm của tín nữ mà đánh giá tâm vô cấu, vô nhiễm
của bần đạo. Nếu tín nữ không kịp thời tỉnh ngộ, đình chỉ dục niệm bất
chánh thì cầm bằng như con thiêu thân lao đầu vào lửa tự sát.”
Bằng năng lực thần thông hiểu biết mọi tâm niệm của người
khác (tha tâm thông), tôn giả Mục-kiền-liên đã nói lên mọi suy nghĩ, động
cơ cũng như những khổ đau, tư tưởng hận đời… của nàng, vì sao nàng đến
đây… Khi nghe những lời của Tôn giả dạy, Liên Hoa Sắc vô cùng kính phục và
hoảng sợ, nàng quì xuống, chắp tay cầu xin sự cứu giúp của Tôn giả, vì
nàng nghĩ rằng tội nghiệp của nàng đã gây ra quá nặng khó lòng cứu được.
Ngài từ bi chỉ dạy:
“Cô không nên tự làm khổ mình, cũng đừng thất vọng, tội
nghiệp dù nặng đến đâu chỉ cần một phen sám hối thì đều có thể cứu vãn, y
phục dơ có thể giặt giũ, thân thể ô uế có thể dùng nước tẩy trừ, tâm không
thanh tịnh có thể dùng Phật pháp rửa sạch. Trăm dòng sông nhớp nhúa một
phen chảy vào biển cả, nước biển lớn thảy đều làm sạch nước trăm sông. Lời
dạy của đức Thế Tôn đủ sức khiến thanh tịnh lòng người ô uế, có thể cho
sám hối những tội nghiệp quá khứ.”
Nghe những lời dạy của Tôn giả, nàng Liên Hoa Sắc vô cùng
mừng rỡ cúi đầu đảnh lễ sám hối Tôn giả và xin phát nguyện xuất gia. Tôn
giả Mục-kiền-liên chấp thuận lời cầu xin sám hối của nàng và hướng dẫn
nàng trở về tinh xá diện kiến đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã thuyết pháp cho
nàng nghe và gởi nàng sang xuất gia tu học trong giáo đoàn Ni giới. Không
còn bận tâm quyến luyến bất cứ điều gì trong cõi hồng trần, nàng Liên Hoa
Sắc đã nỗ lực tinh tấn tu tập, và chỉ sau một thời gian ngắn nàng đã chứng
được quả vị vô sanh.
❑
(còn
nữa)
Một lời ca, một huấn thị
Như Tâm
Bài viết về một kỷ niệm của Hòa
Thượng Thích Trí Thủ đối với Gia Đình Phật Tử. Ngài là một bậc ân sư luôn
luôn quan tâm lo lắng cho thế hệ mầm non tương lai của đạo pháp.
Đã gần một phần tư thế kỷ rồi mà mỗi lần nhớ đến Ôn, tôi
cứ tưởng rằng các sự kiện mới xảy ra ngày hôm qua.
Vào khoảng đầu tháng 6 năm 1963, chùa Từ Đàm bị chính
quyền Ngô Đình Diệm vây kín. Lúc đó, cuộc vận động cho bình đẳng tôn giáo
và công bằng xã hội của Phật giáo trọng tâm còn ở Huế, nơi phát xuất. Ôn
là Tổng thư ký của ban lãnh đạo gồm 5 thành phần: Tổng Trị sự Hội PGVN tại
TP, Tổng Trị sự Giáo hội PGVN tại Trung Phần, hai Ban Trị sự hội và Giáo
hội tỉnh Thừa Thiên và Đại diện cho Tổng hội PGVN. Vì là Tổng thư ký của
Hội PGVN tại thời ấy nên tôi là thư ký chung, có mặt thường xuyên bên cạnh
quý Ôn, quý Thầy lúc đó tập trung tại chùa Từ Đàm. Cũng trong những ngày
đó, Hoà thượng Hội chủ, quý Ôn, quý Thầy đang tuyệt thực. Trong chùa có
đến gần 500 người đủ mọi giới: tiểu thương, sinh viên, học sinh, hướng
đạo, Gia đình Phật tử, v.v… đoàn thể nào cũng có trách nhiệm riêng.
Ngày 4.6.1963, chùa Từ Đàm bị đặt trong tình trạng nội bất
xuất, ngoại bất nhập – các con đường dẫn vào chùa bị những vòng rào dây
thép gai vây kín. Sau hàng rào kẽm gai là lính rằn ri, chen lấn với lớp
đạo hữu chỉ biết đứng lặng nhìn vào. Có người sụp xuống lạy, vì đã 7 ngày
rồi, quý Ôn, quý Thầy tuyệt thực. Không phải chỉ có lính, có kẽm gai mà có
cả những chiếc xe phát thanh suốt ngày chĩa loa vào chùa đọc thông báo của
chính phủ rồi những bản nhạc liên tục.
Qua ngày thứ tư, sau loạt thông báo thường lệ thì chiến
dịch thay đổi: Lời kêu gọi con em ở trong chùa trở về với gia đình. Anh em
khóc với nhau: “Chiêu hồi… chiêu hồi”. Chiều hôm ấy, Ôn ngồi trên tam cấp
chùa, vẫy tôi lại ngồi bên. Im lặng, bỗng bên ngoài có tiếng gọi tên một
người ra để gặp mẹ. Đó là một em thiếu niên Gia đình Phật tử. Em ấy xin
phép ra gặp mẹ. Mới đến cổng chùa 4, 5 chú cảnh sát vọt lên ôm chầm em bỏ
lên xe. Hành động thật bất ngờ làm ai nấy sửng sốt. Ôn nhìn tôi bùi ngùi.
Tôi vụt đứng dậy. Ôn kéo tôi lại ngồi xuống bên, nhấn vào vai tôi. Lúc đó
anh em Gia đình Phật tử, sinh viên Phật tử, học sinh Phật tử tập trung
trước giảng đường, la ó. Tôi ra lịnh im. Phía ngoài lại kêu một tên khác
và có thân sinh đến gặp. Không có tiếng đáp lại. Sau khi lục danh sách
biết rằng không có tên ấy, chúng tôi trả lời là tên ấy không có ở đây.
Thân sinh xin vào nhìn mặt, chùa chấp nhận. Người ấy đi vào nhìn hết em
nầy đến em khác, khi đến gần Ôn bèn nói nhỏ: Con nói láo để được vào thăm
quý Ôn, quý Thầy. Nói xong, người ấy vội vã ra đi.
Tên một em nữa lại được gọi lên và thân sinh em ấy xuất
hiện ở cổng chùa, gần gốc Bồ đề. Gọi đến tên, em ấy bước ra, đến trước sân
chùa hướng vào điện Phật lạy ba lạy từ tốn. Cả sân chùa im lặng, hồi hộp.
Đó là một huynh trưởng. Em ấy đến xá Ôn ba xá và nghiêm chỉnh đứng chào
tôi theo lối Gia đình Phật tử. Song em đó là em được giao phó cầm biểu ngữ
trong ngày Phật đản. Tôi còn nhớ rõ, tôi đã trao cho em câu khẩu hiệu:
“Phật giáo đồ nhất trí bảo vệ Chánh pháp dù phải hy
sinh”.
Sân chùa im phăng phắc, phía bên ngoài cũng im phăng phắt.
Khi đến cách chùa khoảng 10 thước, em cúi xuống lạy cha hai lạy. Tôi liếc
mắt nhìn Ôn. Mắt Ôn sáng lên, không khí thật ngột thở. Thân phụ em ấy đứng
lặng như trời trồng. Lạy xong, em ấy tiến đến trước micro pile để ở giữa
sân chùa: “Thưa Ba, Ba thấy rõ ràng đó, chùa không ép buộc chúng con ở lại
trong chùa như lời rêu rao của chính quyền. Chính những dây kẽm gai kia và
đoàn lính ở bên ngoài vây hãm chùa, không cho ai ra vào được đấy chứ! Xin
Ba về yên tâm. Ngày nào những dây kẽm gai kia được dẹp đi, đoàn lính vây
chùa không còn nữa, chúng con sẽ về. Kính lạy Ba và Mẹ. Em lạy hai lạy nữa
rồi từ tốn bình thản bước vào hàng ngũ. Một tràng pháo tay nổi lên. Tôi ra
hiệu im. Khi em đến xá Ôn và chào tôi. Ôn kêu lại và bảo tôi cho Ôn mượn
chiếc hoa sen. Tôi cởi huy hiệu vì tôi lãnh hội được ý của Ôn rồi. Tôi mở
chiếc hoa sen từ túi tôi và Ôn đứng dậy, nghiêm chỉnh không một lời, cài
chiếc huy hiệu hoa sen vào túi em. Một tiếng hô vang lên: Phật tử - Tinh
tấn!
Bài ca Sen Trắng được vang lên trầm hùng và tiếp sau đó là
bài “Kính mến Thầy”.
Tất cả sự kiện diễn tiến rất đột ngột, nhưng lại rất thích
hợp. Ôn cũng đứng im, cảm xúc hiện rõ. Nước mắt tôi ràn rụa vì sung sướng
và cảm động. Không đầy năm phút, nhưng thời gian như lắng đọng lại. Ôn kéo
tay tôi vào văn phòng. Trên đường đi, Ôn thầm nhắc lại đến hai, ba lượt
lời ca: “Dù bao nhiêu gian khổ, dù gặp nhiều nguy khó, lý tưởng
chúng con vẫn tôn thờ”.
Mười ba năm sau, năm 1976, trong lễ Hiệp kỵ do Ban Hướng
Dẫn Gia Đình Phật Tử Gia Định tổ chức tại Quảng Hương Già Lam, trong lời
huấn thị, Ôn cũng dùng lời ca trên để làm đề tài nhắn nhủ: “Dù bao
nhiêu gian khổ, dù gặp nhiều nguy khó, lý tưởng chúng con vẫn tôn thờ”.
Chưa bao giờ tôi thấy lòng rung động đến thế. Từng lời,
từng chữ như thấm biến vào máu, vào xương, vào từng hơi thở, từng nhịp
tim. Khi Ban Hướng Dẫn Gia Định mời tôi phát biểu, tôi xin im lặng - Im
lặng như Chánh pháp.
Dù Ôn còn hay không còn ở lại với chúng tôi nữa, nhưng mỗi
khi chúng tôi hát lên bài hát bất diệt ấy là để dâng lên Ôn và cũng để tự
nhủ mình.
Một lời ca, chỉ là một lời ca, nhưng khi phát ra từ Ôn đã
biến thành một lời huấn thị có giá trị đến muôn đời
Ôn Trí thủ, một hóa thân kỳ
diệu
TT. Thích
Hạnh Thiền
Hình ảnh một vị Hòa thượng uy nghi đôn hậu ngồi trên lưng
ngựa vô cùng an nhiên thoát tục quả là hiếm có trong giới Tăng-già thời
cận đại.
Đó là bức hình của Ôn Già Lam, một trong vô số các bức ảnh
nhiều loại khác nhau: Ôn đứng trước cảnh chùa, đứng gần bảo tháp, Ôn ban
đạo từ nơi lễ đài, ảnh Ôn chủ tọa trong các phiên họp v.v… Mà phải nói,
chắc có thiện duyên từ kiếp nào tôi mới được ưu ái dành cho bức ảnh Ôn
đang ngồi trên lưng ngựa, thực là ấn tượng gây phấn khích cho tôi vô cùng.
Các huynh đệ pháp hữu, hình như cũng ganh tỵ với tấm ảnh đặc biệt đó, đã
vội chúc mừng tôi một câu cảnh cáo: “Coi chừng Ôn nhắc nhở cái tánh
phóng động tâm viên ý mã của huynh đấy! Lo mà giải công án đi, đừng vội
cho mình được tặng vật hơn người”. Ý của tổ sư cưỡi ngựa là gì? (Như
hà tổ sư kỵ mã ý?)
Lẽ ra, theo phong cách của Tổ sư thiền, tôi phải tham công
án, phải hỏi và nhìn câu thoại đầu. Giữ mãi cái không biết, không hiểu,
không suy nghĩ, không ghi nhớ thì một thời điểm nào đó hành giả sẽ chín
muồi và bừng ngộ chân lý. Đằng này vẫn theo tập khí xa xưa, tôi cứ để cho
vọng tưởng mặc sức tự do tự ý bay cao: Ôi! Ôn đẹp làm sao, dung mạo uy
nghi tự tại làm sao. Ôn có khác gì Quan Vân Trường, vị tướng nước Thục
thời Tam Quốc là bậc đại nhân trung hậu, khí tiết hiên ngang bất khuất
trước thế lực hung ác của tập đoàn Tào Tháo đa nghi đầy nham hiểm. Khi
chết được thần hóa gọi là Quan Đế. Dân chúng kính mộ xây dựng miếu thờ
Quan Công (Quan Thánh) - là đối tượng cao quí trong lòng nhân dân Trung
Quốc mãi cho đến hôm nay. Có điều, Ôn Hòa thượng Quan Thánh Việt Nam không
sát thủ bằng cây thanh long đao trên lưng con Xích Thố như tướng Quan Vân
Trường lấy oán báo oán, mà trên tay của Ôn mình là cây tích trượng từ bi
trí tuệ, lấy đức báo oán, lấy tình thương hóa giải hận thù.
Mắt tôi bỗng sáng lên ý nghĩ, Ồ! Hòa thượng mình có khác
gì ngài Huyền Trang đời nhà Đường đâu, cũng xông pha cùng đệ tử đi tìm
chân kinh để chuyển mê khai ngộ chúng sinh. Tôi vẫn tiếp tục phóng nghi
tình: À hay là Ôn nhắc nhở chúng ta thà ngồi trên lưng ngựa còn thoải mái
bình yên hơn ngồi trên lưng cọp (thuật ngữ này muốn nói leo lên lưng cọp
đã khó mà xuống cũng không phải dễ, tiến thối lưỡng nan là tâm trạng của
hành giả thiếu công phu mà lại thích đuợc trọng vọng trên lưng cọp để vạn
loại chúng sinh nghiêng mình bái lạy) và khi muốn nhảy xuống cũng không
xong vì không có chủ quyền và bản lãnh. Rõ ràng là thân phận của nạn nhân
ngồi không yên ổn, xuống không vững vàng. Ôi chao! Hòa thượng thương tình
trao cho hậu sinh một công án vô cùng thâm diệu. Thế rồi tôi cứ hỏi, cứ
nghi, cứ biết, cứ suy nghĩ mãi, vẫn bị kẹt trong cái vòng điên đảo của thế
trí biện tài. À! Hay là Ôn dạy mình: “Tâm viên bất định, ý mã nan truy”.
Vượn lòng nhảy nhót không yên
Ngựa ý rong ruổi thoáng liền khó
theo.
Tôi như cảm nhận được lời khai thị về hành giả muốn tu tập
thiền định, bước đầu phải cột lại cái tâm ý, không cho nó nghĩ ngợi lung
tung. Việc kềm giữ tâm ý ở yên một chỗ không phải là dễ nếu như không có
quá trình công phu tới mức. Phải thận trọng thân khẩu ý và triệt để cảnh
giác tham sân si trong mọi tình huống.
Tôi còn nhớ chùa Già Lam có hai câu dạy chúng rất hay:
Nói năng như Chánh pháp
Im lặng như Chánh pháp.
Nói năng dễ hiểu lầm, dễ đụng chạm cho nên lời nói phải
chân chánh như là Pháp, là chân lý, nói sự thật để giáo hóa chúng sinh
nghe vui thoát khổ.
Còn nếu im lặng thì phải vô ngôn trong chánh niệm để lắng
sâu vào định, nhờ vậy mới phát tuệ, mới có đủ năng lực phẩm hạnh Bi Trí
Dũng; là ngọn đèn tỏa sáng ánh hào quang chân lý, soi rọi bước chân hành
giả dấn thân vào đời với oai lực nghìn mắt nghìn tay để diệu kế lương y
cứu thoát đàn con thơ.
Chúng tôi còn nhớ mãi ngày Ôn Trí Thủ cùng phái đoàn về
chứng minh đại hội bầu Ban Trị Sự Phật giáo Tỉnh. Theo chương trình, lễ
khai mạc sẽ long trọng diễn ra lúc 8 giờ sáng hôm đó. Nào ngờ mới có 3 giờ
sáng, Ôn gọi thầy thị giả thư ký thức dậy viết lại bản văn mà Ôn sẽ đọc
trong đại hội, chỉ còn 5 tiếng đồng hồ nữa. Chúng tôi nghe thật rõ lời Ôn
đọc và thầy thư ký viết, rồi đọc lại cho Ôn nghe rất lâu mới xong.
Anh em học Tăng chúng tôi vô cùng xúc động trước hình ảnh
này, càng quý kính bậc Thầy cao cả của mình đã vì tiền đồ vận nghiệp Phật
giáo mà chẳng ngại tuổi già đêm khuya không giấc ngủ ngon, chỉ sợ đàn con
mình số phận lênh đênh nghiệt ngã. Dĩ nhiên là chúng tôi đã nêu thắc mắc
về cách làm việc của Trung ương vào sáng sớm trước giờ khai mạc buổi lễ
với thái độ giận chay: “Tội quá! Sao Trung Ương không chuẩn bị cho Ôn bài
đọc để Ôn đỡ vất vả đêm khuya. Lẽ ra, Ôn cần ngủ ngon giấc để đủ sức khỏe
làm việc chứ?” Hai vị trong BCH/TƯ cũng không kém phiền não hơn chúng tôi,
nhíu mày với câu đáp mặn như chao: “Chúng tôi hiểu điều đó chứ! Nhưng Ôn
không chịu đọc nguyên văn bài của Trung Ương đã bố trí sẵn, Ôn muốn viết
lại theo ý của Ôn. Chúng tôi lặng người, nhưng vô cùng phấn khởi tự tin;
vì từ đây Phật giáo Việt Nam đã có những vị lãnh đạo sáng suốt và lòng đại
bi vô lượng. Ôn quả là một hóa thân kỳ diệu, một gốc tùng vĩ đại, vươn cao
đứng thẳng tỏa bóng mát từ hòa cho đàn con nương trú:
Ôn nằm xuống nghìn năm ngửng mặt
Chúng con soi bóng lạ suốt cơn mê.
Có người hỏi, những nhân tố nào đã hun đúc nên một bậc
thầy đạo hạnh, trí tuệ vô song như vầng trăng sáng ngời, như dãy Hy-mã-lạp
sơn hùng tráng muôn đời, tồn tại mãi trong từng trái tim yêu thương của
những người con Phật. Ta hãy nghe Ôn tâm sự (*Tra Am và sư Viên Thành ):
“Thầy tôi khuất bóng nay đã 46 năm, tôi cũng trải qua mấy chục năm trường
đem tài sức hữu hạn của mình chung lo hành đạo và hóa đạo, cho đến bây giờ
tuổi gần 70 mà âm hưởng của thầy tôi ngày nào vẫn thấy còn đầm ấm bên
lòng. Tình thầy trò ngoài cái nghĩa là tình thiện tri thức được xông ướp
trong mùi hương đạo ra còn có nghĩa của một thứ tình gắn bó do túc duyên
không sao nói hết được.
Tôi xuất gia theo thầy năm 17 tuổi, cũng là số tuổi đời mà
thầy tôi xả vọng tầm chơn. Đến năm 20 tuổi, tôi được thiện duyên thọ Cụ
túc giới. Trong giới đàn này, tôi đỗ thủ Sa-di, và lúc trở về chùa, tôi
cảm thấy niềm hoan hỷ sâu xa nơi thầy tôi đối với con đường đạo tương lai
mà tôi đã bước được một bước đầu. Niềm hoan hỷ đó ngày nay hồi tưởng lại
cũng còn thấy tình thầy như đám mây lành phủ bóng trên người. Tôi không
khỏi bùi ngùi tưởng tượng Thầy đã không được như tôi, mà đơn độc một mình
một bóng trở về chùa lặng lẽ sau khi đỗ thủ Sa-di và thọ Cụ túc giới. Bấy
giờ, thầy đã 22 tuổi mà sư Tổ thì đã thị tịch trước đó rồi.
Có lẽ nhờ túc duyên hiếm có, nên mỗi bước đường đạo của
tôi đều gần như bước trùng lên dấu bước của thầy, khiến cho mỗi lần nghĩ
nhớ thời gian quá khứ của đời mình, tôi thấy bóng dáng của mình lồng trong
bóng dáng vĩ đại của Thầy”.
Hành trình sơ chuyển
Pháp luân của đức Phật
Thanh Tâm
Cuộc hành trình miên viễn của kiếp sống trầm luân sáu nẻo
luân hồi đã thôi thúc rất nhiều người đi tìm những phương pháp để thoát ly
khổ não. Hạnh phúc và khổ đau là hai thực trạng của cuộc sống mà con người
luôn đề cập tới. Nhưng để biết được hạnh phúc là gì thì con người phải
trực nhận ra được bản chất của khổ đau như thế nào rồi mới bàn tới phương
pháp giải quyết khổ đau.
Xã hội Ấn Độ là một trong những
quốc gia sản sinh ra nhiều nhân tài, nhiều triết gia, và cũng là nơi rất
phức tạp trên các lãnh vực kinh tế chính trị, văn hóa, ngôn ngữ, triết lý
và tôn giáo… Chính vì sự đa dạng như vậy, nên khổ đau và hạnh phúc sẽ được
đề cập đến nhiều hơn. Khổ đau như một sự thật hiển nhiên của cuộc đời mà
bất cứ một thời đại nào, một quốc gia nào, một con người nào không biết và
không cảm nhận, khổ đau đó không chỉ đúng với ngày xưa mà còn đúng cả hôm
nay và mai sau.
Cũng ở nơi đây, cách đây trên 2500 năm, xã hội hình thành
nên những giáo phái, những học thuyết với những chủ trương khác nhau để lý
giải về hai nhu cầu bức thiết, không định hình được đâu là chân là giả,
khiến khổ đau vẫn hoàn là khổ đau và nó mãi vây lấy kiếp người chưa một
lúc nào ngừng nghỉ. Chính trong thời điểm đó, trong bối cảnh tàn khốc đó,
mọi người ai cũng mong chờ có một bậc vĩ nhân xuất hiện để giải thoát họ
ra khỏi sự nô lệ của kiếp người. Đức Phật đã ứng hiện. Cả cuộc đời của
Ngài luôn đi sâu vào quần chúng, tìm hiểu nỗi đau của chúng sanh rồi tìm
ra cho mình một hướng đi đúng đắn, quyết định bỏ lại sau lưng tất cả mọi
cám dỗ của dục lạc trần gian, cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan. Ra đi
với nhiều thao thức mong sao chính bản thân mình tìm ra một con đường bất
tử cứu nhân độ thế. Suốt cuộc hành trình ra đi trong tịch tĩnh, cuối cùng
Ngài đã tìm ra được đạo lộ của cánh cửa vô sanh, cánh cửa mà từ đây chư
thiên và loài người sẽ không còn bơ vơ lạc lõng hay sống trong sự lo sợ
của sanh già bệnh chết, thay vào đó là sự sống trong an lành và giải
thoát. Ngài đã giác ngộ sau quá trình tư duy bằng tuệ quán, suy nghiệm và
không ngừng nỗ lực tu tập. Chính sự quyết định này đã mở con mắt tuệ cho
chúng sanh, đập tan đi mọi thành kiến mê lầm chấp ngã đã hằn sâu trong vô
lượng kiếp, khẳng định lại giá trị hạnh phúc, nhân bản của một con người
từng đánh mất đi giá trị có trong tầm tay của mình.
Sau khi thành đạo dưới cội Bồ-đề, đức Thế Tôn băn khoăn:
rằng nên hay không nên vận chuyển bánh xe pháp, hay là sẽ nhập Niết-bàn,
bởi vì Giáo pháp Ngài vừa chứng ngộ không phải là một giáo pháp bình
thường mà giáo lý vừa chứng ngộ đó là một giáo pháp thật thâm áo, khó
thấy, khó hiểu, dựa trên thực nghiệm, tuyệt diệu, không thể do lý luận có
thể giải thích, tế nhị, chỉ người trí mới thấu hiểu được. Một giáo lý chỉ
có người trí mới thấu hiểu, chỉ có những con người ly trần diệt nhiễm mới
liễu ngộ thì thử hỏi ở thế gian được bao nhiêu người. Điều này khiến cho
Thế Tôn, bậc Vô thượng Chánh đẳng giác, đã khởi lên tâm niệm muốn nhập
Niết- bàn. Trong các kinh điển Pàli, chúng ta thấy có ghi lại tâm trạng
này dưới hình thức một cuộc đối thoại với Phạm thiên Sahampati. Rõ ràng,
đức Phật muốn dấy lên sự xung đột giữa các tư tưởng nội tâm của Ngài trở
thành dễ hiểu nên đã sử dụng hình ảnh vị Phạm thiên lừng danh xuất hiện để
trình bày những tư tưởng tranh luận cuối cùng trước khi quyết định có nên
vận chuyển bánh xe pháp hay không. Chính sự vận động đấu tranh tư tưởng
cuối cùng này đã mở ra một con đường thênh thang cho chúng sanh sau này
nương nhờ, khai mở con đường bất tử đang đợi chờ ở phía trước. Đức Phật
bảo: “Thế giới này thích thú dục lạc, song giáo pháp của ta hướng đến
viễn ly, ly tham, ái diệt. Giả sử ta thuyết giảng giáo pháp này, tức phải
đi ngược dòng, và người đời không hiểu được ta, điều ấy sẽ gây khó nhọc
lòng cho ta”. Vị Phạm thiên trả lời: “Thế giới sẽ hủy diệt nếu đấng
Toàn giác không quyết định thuyết pháp. Do vậy, cầu xin đức Thế Tôn hãy
thuyết pháp. Có những người ít nhiễm bụi trong mắt, nếu không được nghe
Pháp, chúng sẽ sa đọa. Song nếu chúng nghe Pháp, chúng sẽ đạt giải thoát”.
Qua lời đối thoại ngược trở lại đó, vị Phạm thiên đã làm sanh khởi lòng từ
bi và tâm nguyện độ sanh nơi đức Phật. Ngài nhận ra được mục đích ra đời
của Ngài, sự tu tập của Ngài trải dài từ vô lượng kiếp đến nay không phải
chỉ tu cho riêng mình, cho cái thân thể nằm trong một trượng sáu này của
mình mà sự ra đời đó vì an lạc cho chư thiên, vì lợi ích và hạnh phúc cho
chư thiên và loài người. Giữa một xã hội rối ren, rối ren như một đống tơ
vò, bao đau khổ triền miên quấn chặt trải trùm trên tâm tư kiếp người
không thể nào vượt khỏi, chưa có một hình thái nào để định hướng, dẫn dắt
chúng sanh đoạn trừ hay dứt khoát như vậy, thì ngay nơi đó, ngay chính
trong sự khổ đau cùng cực đó, sự hiện hữu của Ngài là một khởi điểm của
ánh sáng chân lý, ánh sáng giải thoát giác ngộ, mở ra một chân trời thoáng
đãng, thanh thản, nhẹ nhàng, khai triển hiển bày một thông điệp hòa bình
nhân bản, tình thương và trí tuệ. Sự hiện hữu của Ngài đã rống lên tiếng
rống sư tử, cảnh tỉnh cho những ai đang sống trong dục vọng ý thức được
rằng, mọi huyễn tướng của ràng buộc, mọi bóng tối của vô minh đang hiện
bày từ đây sẽ đi lụi dần vào bóng đêm và sẽ chuyển hóa trong ánh sáng
nhiệm mầu. Vì thế, Ngài đã tuyên dương Pháp thoại: “Cánh cửa bất tử sẽ
rộng mở cho những ai muốn nghe pháp”. Ngài đồng ý với lời thỉnh cầu
của Phạm thiên và sẽ lên đường thuyết pháp. Phạm thiên hân hoan vui mừng
đi nhiễu xung quanh ba vòng rồi biến mất.
Sau khi nhận lời thỉnh cầu của Phạm thiên, đức Phật dùng
tri kiến thanh tịnh quan sát khắp cả thế giới. Bằng tuệ nhãn, Ngài thấy
chúng sanh có nhiều căn tánh bất đồng, có người cấu nhiễm, có người thanh
tịnh, cũng như Hoa sen mọc từ trong bùn, có cành hoa vươn lên khỏi mặt
bùn, có cành hoa đang nằm trong mặt nước không vươn lên mặt bùn, có cành
sen nằm sâu dưới đáy. Căn cơ của chúng sanh cũng như những cành sen này,
có người không ô nhiễm, có người ít bụi nhiễm, có người bụi nhiễm rất
nhiều, có cao có thấp khác nhau. Qua hình ảnh hoa sen đó, Ngài khởi ý niệm
nên đi đến giáo hóa cho người nào. Ngài liền nghĩ ngay đến những vị từng
là đạo sư của Ngài: Àlàra Kàlàma và Uddaka Ràmaputta. Khi biết rằng cả hai
đều từ trần, Ngài liền nghĩ ngay đến năm vị đồng tu khổ hạnh với Ngài thuở
trước hiện đang trú tại vườn Lộc Uyển gần Ba-la-nại (Benares). Ngài thầm
nghĩ, nếu năm vị ấy khi nghe được những lời dạy này sẽ có thể thấu hiểu
được một cách dễ dàng.
Trong niềm hân hoan đó, Ngài liền rời cội Bồ-đề đi đến
thành Ba-la-nại. Sự quyết định giảng pháp này đã đánh dấu con đường chuyển
giao giữa mê và ngộ, giữa khổ đau và hạnh phúc. Như vậy từ đây, chánh pháp
được bậc giác ngộ chuyển khai sau khi đã hành trì tu tập, thế gian từ đây
không còn sống trong ngục tù, không bị ràng buộc bởi bọn ma vương cám dỗ,
tài, sắc, danh, thực, thùy, không sống trong vòng kiềm tỏa câu thúc của
khát ái, lệ thuộc vào khổ đau. Ánh sáng giác ngộ sẽ phá tan màn vô minh u
tối đã bao trùm từ vô lượng kiếp.
Sau đó, Ngài khởi hành đi đến Benares, trên đường đi Ngài
gặp một du sĩ ngoại đạo theo trường phái cực đoan. Vị này thấy trên khuôn
mặt Ngài lộ vẻ hân hoan, thanh thoát nên đã chú ý và hỏi bậc Đạo sư của
Ngài là ai, và giáo Pháp mà Ngài vừa chứng ngộ được học như thế nào? Đức
Phật đầy lòng tự tin tuyên bố Ngài đã được giải thoát nhờ ái diệt, hữu
diệt, thủ diệt. Ngài là vị thắng giả trên chiến trường. Vì vậy, Ngài không
có Đạo sư, mà chính Ngài là bậc Đạo sư. Nghe điều này, Upaka tuy cảm phục
nhưng vội lắc đầu và rẽ vào con đường khác. Vậy tại sao đức Phật lại lạc
quan như thế, dám tuyên bố với vẻ đầy tự tin như vậy, mới nhìn vào ai
cũng có thể dễ hiểu lầm, nhưng thực tế đó mới là điều mà chúng ta cần phải
suy nghĩ. Đối với một bậc đã giải thoát khỏi ái nhiễm, đã thoát ly mọi
triền phược, thì không còn e ngại khuất phục hay sợ hãi trước một thế lực
nào, vì người này đã làm chủ được tâm mình, làm chủ được tư tưởng của mình
thì còn ai là người có thể điều khiển được tâm tư an tịnh đó. Một bậc giác
ngộ tượng trưng cho một hạng người độc nhất, trên thực tế tuy có hình dáng
bề ngoài như mọi người, vẫn chịu biến hoại về thể chất, nhưng vị ấy không
còn bị chi phối trong vòng sanh tử luân hồi, đã thực sự thoát ly mọi ái
nhiễm. Hình tượng oai nghi này đã đập mạnh vào trong tiềm thức của năm anh
em Kiều-trần-như, phá vỡ những thành kiến cống cao ngã mạn và niềm tin
không tốt về con đường mà Ngài đã chọn trước đây. Năm vị này đã đến cầm
lấy những y bát, soạn chỗ ngồi, lấy nước rửa chân và xưng gọi Ngài là bậc
Hiền giả như trước đây đã từng xưng gọi. Đức Thế Tôn không chấp nhận điều
này và tuyên bố: “Này các ông, đừng gọi Như Lai là Hiền giả. Này các
ông, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác”.
Lời tuyên bố ấy đã mở đầu một pháp thoại, hé lộ con đường
bất tử. Con đường khước từ thái độ cực đoan tham đắm vào cuộc sống sung
túc để hướng tâm đến việc tìm ra chân lý. Chân lý chỉ khai mở khi tâm hồn
con người biết quay về, biết nhìn lại chính mình, cùng tu tập và gọt giũa
tất cả những cấu uế đã định hình trong tâm từ xưa đến nay. Chân lý đó được
Ngài khai mở trong thời điểm thích hợp, làm sáng tỏ thêm mọi việc thông
qua bài pháp thoại đầu tiên, khởi đầu sự nghiệp hoằng pháp của Ngài mà đời
sau gọi đó là thời pháp “sơ chuyển Pháp luân”. Bài pháp này được đức Thế
Tôn trình bày trên phương diện, bác bỏ hai lối sống cực đoan đó là con
đường khổ hạnh ép xác và con đường hưởng thọ dục lạc, rồi Ngài khuyến tấn
hành giả hãy thực tập theo con đường Trung đạo, đồng thời Ngài trình bày
về hệ thống bốn chân lý, đó là một giáo lý căn bản, hàm tàng những yếu
nghĩa xuyên suốt về bản chất của cuộc đời hạnh phúc hay khổ đau, chứa đựng
sự tinh vi am tường một cách rốt ráo:
“Có hai cực đoan, này các Tỳ-kheo, mà người xuất gia
không nên hành trì. Đó là hai lối sống cực đoan? Những gì là hai. Một là
đắm mình vào dục lạc, thấp kém, tầm thường, hạ liệt, không xứng đáng bậc
Thánh, không lợi ích. Hai là chuyên tâm khổ hạnh ép xác, gây đau khổ cho
thân tâm, không xứng đáng bậc Thánh, và cũng không có lợi ích. Này các
Tỳ-kheo, Như Lai đã tránh xa hai cực đoan này, và tìm ra con đường Trung
đạo, con đường này chính là con đường khiến cho ta thấy và biết, con đường
đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”
Sau khi tuyên bố hai lối sống cực đoan đem lại tai hại,
đức Thế Tôn thuyết giảng con đường Trung đạo thông qua bốn hành tướng chân
lý nhiệm mầu:
“Này các Tỳ-kheo, đây là thánh đế về khổ: sanh là khổ,
già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ; gần
gũi những gì ta không thích là khổ, cầu không được là khổ, xa lìa những gì
ta thích là khổ. Tóm lại, chấp thủ năm uẩn là khổ.
Này các Tỳ-kheo, đây là Thánh đế về nguyên nhân đưa đến
đau khổ. Đó chính là khát ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm
kiếm lạc thú chỗ này chỗ kia, đó là dục ái, hữu ái và vô hữu ái.
Này các Tỳ-kheo, đây là Thánh đế về Khổ diệt, chính là
sự đoạn trừ, diệt tận hoàn toàn khát ái đó, sự quăng bỏ nó, chấm dứt nó,
xả ly nó, không chấp thủ nó.
Này các Tỳ-kheo, đây là thánh đế về con đường đưa đến
khổ diệt. Đó là thánh đạo tám ngành, tức là: chánh kiến, chánh tư duy,
chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh
định”.
Năm Tôn giả chăm chú lắng nghe lời Ngài dạy. Chẳng bao
lâu, năm Tôn giả Kiều-trần-như đoạn tận mọi ái nhiễm, chứng đắc các Thánh
quả, trở thành các vị đệ tử đầu tiên trong giáo đoàn của đức Phật. Sau bài
pháp đầu tiên, đức Phật tiếp tục giảng bài kinh Vô Ngã tướng, phủ nhận sự
hiện hữu của tự ngã. Đây là giáo lý mang một ý nghĩa hết sức thiết thực,
chỉ cho con người thấy rõ sự hiện hữu của mình trong cuộc thế nhân sinh là
một tập hợp của năm uẩn. Chính điều này đi ngược lại ý tưởng đương thời,
gây kinh ngạc trong hệ thống các giáo lý thần linh, đánh ngã mọi học
thuyết chủ trương tự ngã là trường cửu hay đoạn diệt lúc bấy giờ.
Qua bài kinh Vô ngã, đức Phật đã mở ra một cái nhìn mới về
con người, về cuộc đời. Con người không phải là một thực thể bất biến mà
nó là duyên sinh. Con người chỉ là một tập hợp của năm thành tố, sắc, thọ,
tưởng, hành, thức, nên không có một cái ngã thực hữu, thường hằng. Con
người là sự kết hợp trọn vẹn hai mặt vận hành đó là thân thể vật lý và cấu
trúc tâm lý mà không có một linh hồn-thực thể hằng biến như chủ trương của
các học phái ngoại đạo lúc ấy. Mặt khác, con người sở dĩ đau khổ là do
con người không hiểu rõ được bản chất của đau khổ, không hiểu rõ nguồn gốc
đưa đến đau khổ. Đó là không thấy rõ sự biến chuyển, hoại diệt của năm
uẩn; không thỏa mãn trước sự thay đổi của những tâm lý vọng cầu tham lam
đắm nhiễm vào trong khoái lạc nhục dục lục trần, chấp chặt cho rằng cái
thân năm uẩn này là thực có, là thường hằng, một khi nó mất đi thì tâm
niệm đau khổ hiện ra.
Khi năm vị Tỳ-kheo nghe xong bài pháp thoại này, tâm của
các vị ấy hoàn toàn ly nhiễm, thoát khỏi mọi lậu hoặc, và ngay lúc đó trở
thành A-la-hán. Tri kiến hoàn toàn thanh tịnh, mênh mông sâu thẳm và hiểu
các pháp một cách rốt ráo.
Qua bài pháp đầu tiên và bài pháp thoại thứ hai, chúng ta
thấy sự thành công của đức Phật ngay buổi thuyết giáo đầu tiên. Ngài đi
vào lòng quần chúng, đi vào tâm niệm đệ tử với việc phá vỡ tất cả khúc mắc
của họ và trình bày lại những sở chứng của mình, chia sẻ cho mọi người
cùng hiểu, cùng nắm bắt, cùng thực hành, chứ không phải là những lời dạy
mang tính mơ hồ viễn vông. Giáo lý giác ngộ từ đó được vận hành soi sáng
trên thế gian, hướng dẫn con người đi những bước đi an tịnh, chắc chắn, hỷ
lạc, không ưu tư sầu muộn, đưa đến giải thoát cho bất cứ ai trong khi thâm
nhập, tu tập, hành trì giáo lý với tuệ quán thấy được sự thật của khổ đau
và nguồn gốc của khổ đau, rồi hướng tâm tới tìm cầu con đường thoát khỏi
khổ đau và thực hành phương pháp thoát ly khổ đau. Cuộc hành trình ấy đã
thể hiện hai phương diện khổ đau mà thế gian đang phải gánh chịu, và đằng
khác là sự thoát ly khổ đau của các bậc Thánh
sau khi hành trì Bát thánh đạo, thoát ly hai lối sống cực đoan. Điều này
có thể hiểu rằng, bài pháp đầu tiên này mang một ý nghĩa hết sức thiết
thực cho kiếp sống nhân sinh, đã mở ra một thông điệp nhân bản cho con
người, định hướng cho con người thấy rõ khổ đau và hạnh phúc nằm trong tầm
tay của mình, trong cuộc sống hiện hữu của mình chứ không nằm ở đâu xa xôi
như thiên đường hay cảnh giới ảo tưởng nào đó. Chỉ khi nào con người biết
dừng lại, với tuệ quán nhìn thấy rõ bản chất của nó, biết quay trở lại với
bản tâm của mình, thấy rõ thực tướng của năm uẩn tạo nên khổ đau, nguyên
nhân khổ đau, khổ đau biến mất và con đường đưa đến đoạn diệt khổ đau thì
con người mới đi được những bước đi thảnh thơi, tự tại trên mãnh đất tâm
an lạc giải thoát. Bài Pháp đầu tiên và bài pháp thứ hai đã mở một lối đi
cho những ai đang còn đắm chìm trong ngục tối vô minh, đang bị ràng buộc
trong lệ tình dục nhiễm, hãy ý thức để quay về. Giáo pháp của đạo Phật từ
nay sẽ rộng mở cho những ai biết quay đầu phản tỉnh, thiết tha mong cầu
thoát khổ để được an vui.
Thiền Ba-la-mật
Tâm Như Trí
Thủ
Thế
nào là tu tập thiền định?
Tu tập thiền định, nếu vì tự lợi, lợi tha và tự tha đều
lợi, thiền định như thế mới trang nghiêm được đạo Bồ-đề. Bồ-tát sở dĩ tu
tập thiền định là vì muốn điều phục chúng sanh, khiến chúng sanh xa lìa
khổ não. Người tu tập thiền định khéo thâu nhiếp lòng mình, hết thảy loạn
tưởng không cho quấy động. Đi đứng nằm ngồi, luôn luôn giữ gìn chánh niệm,
ngược xuôi quán sát, từ đầu đến cổ, xương sống, cánh tay, ngực, bụng,
hông, rún, bàng quang, bắp vế, đầu ống chân, gối, bàn chân, hơi thở ra
vào, tuần tự rõ ràng không còn chao động. Như vậy gọi là Bồ-tát bắt đầu tu
tập định tâm.
Nhờ tu định tâm nên không thọ các điều ác, mà tâm thì được
thường vui vẻ; như vậy gọi là tự lợi. Giáo hóa chúng sanh, khiến chúng
sanh tu tập chánh niệm; như vậy gọi là lợi tha. Đem pháp tam muội thanh
tịnh đã lìa khỏi ác giác ác quán của mình đã tu tập được mà hóa độ chúng
sanh, khiến chúng sanh cũng đồng được lợi như mình; như vậy gọi là tự tha
đều lợi.
Nhân tu thiền định, thu hoạch được tám món giải thoát, cho
đến Thủ lăng nghiêm, Kim cang tam muội; như vậy gọi là trang nghiêm đạo
Bồ-đề.
Thiền định sanh ra là nhờ có ba pháp: một là văn huệ, hai
là tư huệ, ba là tu huệ. Nhờ thực hành ba pháp ấy mà lần lần phát sanh hết
thảy tam muội.
Thế nào gọi là Văn huệ ?
Như đối với giáo pháp đã được nghe sanh tâm ưa thích. Lại
phải như thế này: Tất cả các Phật pháp như vô ngại, giải thoát v.v... cần
phải nghe nhiều mới được thành tựu. Có được quan niệm như thế thời bất cứ
lúc nào cũng học chánh pháp, lòng mình cũng càng thêm tinh tấn, ngày đêm
thường thích nghe chánh pháp, không khi nào nhàm chán. Như vậy gọi là Văn
huệ.
Thế nào gọi là Tư huệ ?
Suy nghĩ quan sát hết thảy các pháp đúng như thật tướng.
Đúng như thật tướng nghĩa là các pháp hữu vi đều vô thường, khổ, không, vô
ngã và bất tịnh. Chúng vốn niệm niệm sanh diệt, tồn tại không lâu và rất
chóng hư hoại. Chúng sanh không biết như thế để lòng bị trói buộc trong
yêu ghét cầu lo theo các pháp ấy, chỉ vì lửa tham, sân, si thiêu đốt khiến
tăng trưởng thêm nhiều khổ não, chồng chất cho kiếp sống vị lai. Nếu biết
được rằng các pháp hữu vi chỉ là huyễn hóa không có thật tánh, thời đối
với bất cứ pháp hữu vi nào, lòng mình cũng sanh nhàm chán, xa lìa càng
thêm tinh tấn và xu hướng về trí huệ Phật. Xu hướng về trí huệ Phật bằng
cách tư duy: trí huệ ấy bất khả tư nghì không thể đo lường, trí huệ ấy có
một đại thế lực không ai hơn nổi. Nhờ tư duy như thế mà tự xây dựng được
cho mình một thành trì an ổn lớn lao, khiến tâm không lo sợ, không thối
chuyển, lại cứu độ được vô lượng chúng sanh khổ não. Biết và thấy trí huệ
Phật vô lượng như thế, thấy các pháp hữu vi vô lượng như thế, chí nguyện
cầu vô thượng đại thừa mới càng phấn chấn thêm lên. Như vậy gọi là Tư huệ.
Thế nào gọi là Tu huệ ?
Từ khi bắt đầu quán sát cho đến khi đạt được quả vị
A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề , gọi là Tu huệ .
1. Bắt đầu xa lìa các pháp bất thiện về dục giới, còn có
giác, có quán ly sanh hỷ lạc, đi vào định sơ thiền.
2. Diệt hết giác và quán, bên trong được tâm thanh tịnh
duy nhất, không còn giác và quán nữa nhờ thiền định và hỷ lạc, tức đi vào
định nhị thiền.
3. Muốn xa lìa tâm hỷ lạc thô trọng nên tu hành xả; thân
tâm an hưởng niềm vui tế nhị không thể mô tả, các bậc Hiền thánh có nói ra
cũng xả bỏ. Thường niệm thọ lạc, tức đi vào định tam thiền.
4. Đoạn hết khổ và lạc, trước hết phải diệt sạch niệm mừng
và lo, không còn khổ, không còn lạc, tu theo niệm hành xả được thanh tịnh,
tức đi vào định tứ thiền.
5. Vượt qua hết thảy sắc tướng; diệt trừ hết thảy các
tướng đối đãi; không nhớ nghĩ hết thảy các tướng sai biệt; thấy được hư
không vô biên, tức đi vào định sắc vô hư không.
6. Vượt qua hết thảy các tướng hư không, đến một cõi không
còn thức nữa, tức đi vào định thức vô sắc.
7. Vượt qua hết thảy thức tướng, đến một cõi không còn sở
hữu nữa, tức đi vào định vô sắc vô sở hữu.
8. Vượt lên một tầng qua các cõi vô sở hữu, đến một cõi
không còn tưởng hay phi tưởng; an ổn trong cõi ấy tức đi vào định phi
tưởng phi phi tưởng.
Trải qua các giai đoạn tu định trên đây, hành giả chỉ tùy
thuận tu hành theo các pháp, tâm không đắm trước sự an vui của thiền định
mà chỉ quyết cầu nguyện đạt đến vô thượng thừa để hoàn thành quả tối chánh
giác. Như vậy gọi là Tu huệ.
Bồ-tát theo ba pháp Văn huệ, Tư huệ và Tu huệ mà tinh tấn
điều nhiếp lòng mình, thời thành tựu được “Thông minh tam muội” tức là
Thiền Ba la mật.
Lại nữa, Bồ-tát tu định còn phải thực hành thêm mười pháp
không chung với hàng Thanh văn và Bích Chi Phật. Mười pháp ấy là những
pháp nào?
1. Tu thiền định vì muốn đủ các thiền định của Phật trước
hết phải dẹp bỏ ngã chấp riêng biệt.
2. Tu thiền định vì muốn xả bỏ tâm ô nhiễm, không cầu vui
riêng cho mình nên không say đắm cảnh vui trong thiền định.
3. Tu thiền định vì muốn biết tâm hạnh của chúng sanh nên
đầy đủ các hạnh nghiệp thần thông.
4. Tu thiền định vì muốn độ thoát chúng sanh nên cần phải
biết tâm niệm của chúng sanh.
5. Tu thiền định vì muốn dứt trừ sự phiền não ràng buộc
cho chúng sanh nên phải tu hạnh đại bi.
6. Tu thiền định vì muốn thiện xảo thấy biết sự nhập định,
xuất định vượt ngoài tam giới, nên phải tu hết các thiền tam muội.
7. Tu thiền định vì muốn đầy đủ tất cả các thiện pháp, nên
thường được tự tại.
8. Tu thiền định vì muốn thắng hơn các thiền tam muội của
nhị thừa nên tâm thường vắng lặng.
9. Tu thiền định vì muốn thoát ngoài thế gian đến bờ cứu
cánh nên thường trau dồi trí huệ.
10. Tu thiền định vì muốn hưng thạnh Tam bảo khiến không
đoạn tuyệt, nên thường tuyên dương chánh pháp.
Mười loại thiền định như vậy, không chung cùng với hàng
Thanh văn và Bích Chi Phật.
Lại nữa, để biết tâm phiền não của hết thảy chúng sanh cho
nên tu tập các pháp thiền định, giúp thành tâm an trú, khiến thiền định ấy
an trú trong tâm bình đẳng; vì thế nên gọi là Định.
Các loại thiền định bình đẳng như thế, thời bình đẳng với
không, vô tướng, vô nguyện, vô tác. Không, vô tướng, vô nguyện, vô tác
bình đẳng thời chúng sanh bình đẳng. Chúng sanh bình đẳng thời các pháp
bình đẳng. Vào trong chỗ bình đẳng như thế cho nên gọi là Định.
Lại nữa, Bồ-tát tuy hành động thiệp thế nhưng không nhiễm
theo đời. Bồ-tát bỏ đời bước vào chánh pháp, cắt đứt sợi dây trói buộc, xa
lìa những cảnh huyên náo, ưa thích nơi vắng lặng. Tu hành thiền định như
vậy, nên tâm Bồ-tát an ổn bình lặng, luôn luôn xa lìa mọi tác động phiền
não của thế gian.
Lại nữa, Bồ-tát thiền định, có đầy đủ thông trí và phương
tiện huệ.
Thế nào gọi là thông trí?
Hoặc được thấy sắc tướng, hoặc nghe được âm thanh, hoặc
biết được tha tâm, hoặc nhớ được quá khứ, hoặc soi khắp được các thế giới
chư Phật, như vậy gọi là Thông. Còn nếu biết sắc tướng tức là pháp tánh,
nếu biết rõ âm thanh là do tác động của tâm, nếu thấu suốt tánh tướng đều
tịch diệt, ba đời thảy bình đẳng, nếu rõ các cõi Phật đồng với tướng hư
không mà không bao giờ thiên về diệt tận; như vậy gọi là Trí.
Thế nào gọi là phương tiện huệ?
Khi vào thiền định, khởi đại từ bi, không xả bỏ thệ
nguyện, tâm rắn như kim cương, quán sát thế giới chư Phật trang nghiêm
Bồ-đề đạo tràng; như vậy gọi là Phương tiện. Bấy giờ, tâm ấy vĩnh viễn
vắng lặng, không còn tướng ngã và tướng chúng sanh, tư duy các pháp bản
tánh vốn bất loạn, thấy thế giới chư Phật đồng với hư không, quán đạo
tràng đồng với trang nghiêm đồng với tịch diệt; như vậy gọi là Huệ.
Các pháp tu như thế gọi là pháp tu thiền định thông trí và
phương tiện sai biệt của Bồ-tát. Thực hành một loạt tất cả bốn việc ấy,
tức là đã gần được A-nậu-đa-la Tam-miệu-Tam-bồ-đề.
Bồ-tát tu hành thiền định, vận dụng pháp bất động nên
không còn sót lại các tâm. Như vậy tức là đã hoàn thành đầy đủ các pháp
Thiền-na Ba-la-mật
Chỉ
Cần Một Điểm Loé Vô Minh Luyện Thành Con Người Đại Trượng Phu
- Thiền Lâm Cú Tập
Câu
nầy có nghĩa rằng nếu như khai mở con mắt tâm và chuyển tâm cơ
thì vô minh cứ như vậy trở thành diệu tướng của chơn Phật.
Có hôm nọ, Tây Hữu Mục Sơn (西有穆山,
Nishiari Bokuzan, 1821-1910), bậc cự tượng nghiên cứu về bộ Chánh
Pháp Nhãn Tạng, được người ta nhờ viết bài tán cho bức tranh
Đạt Ma và nàng du nữ sắc nước khuynh thành, ông hí hoáy mấy câu
sau:
“Chín năm quay vào tường
có gì đâu? Ta đây mười năm ưu sầu. Ta đây với tấc lòng thành. Qua
tháng ngày với cây đàn. Đàn mà đứt dây ta thành Phật. Làm bạn
với khách niệm Di Đà. Độ được hay không nào ai biết. Ấy là
chuyện của ông. Ngoài ra chẳng còn gì khác hơn.”
Khi Hòa thượng Tiên Nhai (仙厓,
Sengai) đi ngang qua khu làng vào ngày đầu năm, có đám người tụ
tập rất đông để xem hai vợ chồng đang gây lộn nhau. Sau đó, người
chồng mắng vợ rằng:
- Thôi, không chịu nỗi nữa
rồi.
- Cứ giết tôi đi còn hơn
đánh đập tôi như vậy.
Khi ấy Hòa thượng nhảy ra
bảo rằng:
- Nè, nè, cứ giết chết nhau
đi! Có gì ta sẽ tiếp độ cho mà.
Nghe vậy hai vợ chồng thôi
không gây nhau nữa. Khi ấy truy tìm nguồn gốc vì sao gây ra cuộc
cãi vã như vậy, mới biết được rằng do vì nấu thức ăn quá độ,
nên bỏ đi hay ăn đã trở thành câu chuyện gây gỗ giữa hai vợ chồng
kia.
Ngay lúc ấy, Tiên Nhai viết
ngay mấy câu rằng:
“Tuyết trắng núi Phú Sĩ
sáng mai tan. Sáng nay nấu đồ ăn cũng tiêu tan. Vợ chồng gây nhau
nằm ngủ vẫn mơ màng.”
(Trích trong tập Mỗi ngày một
câu Thiền)
Tàn Mộng Tử
biên dịch và chú giải.
Trạng thái con người sau khi
chết
Nguyên Liên
Theo quan điểm của Phật giáo, đời sống của một con người
chỉ hoàn toàn chấm dứt khi toàn thân lạnh hết. Lúc đó là thời điểm mà thần
thức rời khỏi thể xác, giai đoạn này mới được tính là chết. Nếu khi người
bịnh vừa mới chấm dứt hơi thở, nhịp tim vừa ngưng đập, nhưng hơi ấm xác
thân vẫn còn, lúc này vẫn chưa tính là chết. Bởi thời điểm này, mọi sự cảm
thọ của họ vẫn đồng như người đang còn sống, chỉ có điều họ không thể nói
năng được mà thôi.
Con người từ đâu đến và chết rồi đi về đâu, luôn là một
câu hỏi lớn của nhân loại từ ngàn xưa cho đến ngàn sau, như trong kinh
Lương hoàng sám nói: “Không biết sanh ra từ đâu đến, chết rồi đi về
đâu, chỉ biết ngậm ngùi đưa nhau đến đáy huyệt, một lần chia ly là từ biệt
vạn đời”. Như vậy, thần thức con người sau khi lìa khỏi xác thân đi về
đâu? Quá trình thọ dụng của thần thức trước khi chưa tìm ra chỗ thọ sanh
như thế nào? Tâm lý của thần thức trong giai đoạn này ra sao? Đó là những
vấn đề chúng ta cần tiếp tục tìm hiểu.
I. BA TRƯỜNG HỢP SAI KHÁC SAU KHI CHẾT.
Tất cả chúng sanh sau khi chết, tùy theo nghiệp lực sanh
tiền tạo tác của mỗi người là thiện hay ác, mà chết rơi vào một trong ba
trường hợp sau.
1. Chết với tâm lành.
Người nào sanh tiền có tín tâm với