Tập san
Pháp Luân
số 19 - tháng 09 năm Ất dậu
Chuyên đề: Bổn Phận Người Phật Tử Tại
Gia
---o0o---
Bát Chánh Đạo Với Tam Vô Lậu
Học
TT.Thích Thái Hòa
Tam vô lậu học là ba pháp học
tập để dẫn đến đời sống vô lậu, tức là sống đời sống không bị rơi vào sinh
tử luân hồi.
Vô lậu học giới là phần thứ
nhất trong ba pháp vô lậu học và nó cũng làm nền tảng cho vô lậu học định
và vô lậu học tuệ.
* VÔ LẬU HỌC GIỚI:
Tức là học tập và thực hành học giới, để dẫn đến đời sống vô lậu, đời sống
giải thoát. Giới nói theo tiếng Phạn là Sìla, nó có khả năng phòng hộ các
căn, không cho các trần cấu quấy nhiễm. Và nó cũng có khả năng phòng hộ ba
nghiệp, không để cho ba nghiệp hành động một cách sai lầm dẫn đến những
kết quả khổ đau. Giới ngoài ý nghĩa phòng hộ, nó còn là động cơ thúc đẩy
ba nghiệp thực hành mọi thiện pháp.
Như vậy, “Sìla” hay giới được
biểu hiện như là luân lý, đạo đức; và học tập giới chính là học tập đời
sống đạo đức, bằng cách chuyển đổi mọi ác nghiệp thành thiện nghiệp.
Vì nghiệp (Karma) xác định sự hiện hữu của con người và chúng sanh, hay
nói theo lập trường của luận Câu-xá:
“Thế biệt do nghiệp sinh
Tư cập tư sở tác
Tư tức thị ý nghiệp
Sở tác thị thân ngữ”.
Nghĩa là sự sai biệt của thế
gian là do nghiệp sinh khởi. Đó là Tư và điều được tác động bởi Tư. Tư tức
là ý nghiệp và điều được tác động bởi Tư tức là thân và ngữ.
Nghiệp (Karma):
xác định mọi sự hiện hữu sai khác của tất cả chúng sanh trong thế gian. Và
mọi sự sai khác của chúng sanh trong thế gian được xác định bởi nghiệp.
Nghiệp là hành vi tạo tác có cố ý và luôn luôn xảy ra trong thời gian hiện
tại. Chính hành vi của con người, của chúng sanh như thế nào, thì nó sẽ
khẳng định con người và chúng sanh là như thế ấy.
Chẳng hạn, hành động giết người sẽ khẳng định người ấy là kẻ giết người.
Và như vậy, đó là kẻ ác. Trái lại, một hành động cứu giúp kẻ khác thoát
khỏi sự chết chóc, hành động cứu giúp ấy, khẳng định kẻ kia như là một
người hiền thiện.
Một hành động thiện hay ác theo
Phật giáo phải có đủ bốn tiêu chuẩn. Hành động ấy, gây nên hạnh phúc cho
mình và kẻ khác trong hiện tại và trong tương lai. Và hành động ác thì
ngược lại, nghĩa là gây thiệt hại cho mình và kẻ khác không những trong
hiện tại mà ngay cả trong tương lai nữa.
Hành động thiện, chính là điều
kiện dẫn đến niềm vui và an lạc. Nhưng, niềm vui và sự an lạc nào chỉ có
trong thoáng chốc, và sau đó là những cảm giác khó chịu, sầu muộn và khổ
đau, thì đó không phải là chơn thiện, không phải là chơn hạnh phúc, an
lạc. Trái lại, niềm vui và sự an lạc nào do hành động thiện đem lại, thời
gian dễ chịu, êm ái càng kéo dài bao nhiêu, thì giá trị của hành động
thiện được đánh giá bằng những mức độ cao bấy nhiêu. Lại nữa, cảm giác
hạnh phúc và an lạc liên tục kéo dài cho đến vô tận, nghĩa là không bao
giờ chấm dứt, thì sự an lạc hạnh phúc ấy, gọi là hạnh phúc an lạc của
Niết-bàn, và chỉ có Niết-bàn mới gọi là điều thiện tối thắng.
Hành động để dẫn đến sự an lạc tối thắng của Niết-Bàn, hay là điều thiện
tối thắng, hành động ấy gọi là Chánh nghiệp.
Như vậy, Sìla hay Giới có khả
năng phòng hộ ác nghiệp và làm cho ba nghiệp trở nên thanh tịnh. Điều này
đã được luật Tứ Phần nói rất rõ trong phần tóm lược các Giới kinh của chư
Phật, có bài kệ như sau:
“Thiện hộ ư khẩu ngôn
Tự
tịnh kỳ chí ý
Thân
mạc tác chư ác
Thử tam nghiệp đạo tịnh
Năng
đắc như thị hành
Thị Đại Tiên Nhân Đạo”.
Nghĩa là:
“Khéo phòng hộ lời nói
Tâm
chí tự lắng trong
Thân
không làm các ác
Ba
nghiệp đạo này tịnh
Thực
hành được như thế
Là
Đạo Đấng Đại Tiên”.
Đây là Giới kinh mà đức Phật
Thích-ca đã giảng dạy cho chúng Tỳ-kheo trong mười hai năm đầu.
Ba nghiệp thanh tịnh là do sự hành trì thanh tịnh giới. Nếu không có giới,
thì ba nghiệp không biết dựa vào đâu để có được sự thanh tịnh.
Theo luận Câu Xá, nghiệp
(Karma) tạo nên sự đa dạng và sai thù của chúng sanh trong thế gian về quả
báo thiện và ác, thì Sìla hay Giới là để phòng hộ mọi ác nghiệp ở nơi
thân, ngữ và ý. Đồng thời cũng là năng lực thúc đẩy mọi hoạt động của
thân, ngữ, ý phù hợp với thiện vô lậu, tức là Niết-bàn.
Như vậy, Giới dẫn dắt hành động
của thân, ngữ và ý đến chỗ hợp lý. Chỗ hợp lý ấy chính là Niết-bàn.
Thế nên, trong Bát Chánh Đạo
thì Chánh nghiệp được xem như là Giới và Giới là Chánh nghiệp. Chánh ngữ
và Chánh mạng cũng vậy. Nghĩa là ở trong Tam vô lậu học thì chúng thuộc về
Giới vô lậu học.
Vì một người hành trì thanh tịnh giới không thể nào có một đời sống tà
nghiệp, tà ngữ và tà mạng.
Do đó, ba thành phần trong tám yếu tố của Thánh đạo đã nêu ra ở trên được
xem như là Vô lậu học giới.
* VÔ LẬU HỌC ĐỊNH:
Tức là học tập và thực hành thiền định dẫn đến đời sống giải thoát, không
còn bị vướng mắc ở trong sinh tử luân hồi.
Thực tập thiền định vô lậu, tức là làm cho thân tâm đình
chỉ mọi khát ái, hay nói cách khác mọi khát ái đang khô dần ở trong tâm
hồn của người đang thực hành thiền định vô lậu.
Ở trong Bát Chánh Đạo, thì ba yếu tố Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh
định được xem như là Vô lậu học định.
* VÔ LẬU HỌC TUỆ:
Tức là trí tuệ vô lậu, trí tuệ vô lậu là con đường dẫn thoát khổ đau và
sinh tử, con đường đưa đến giác ngộ.
Trí tuệ vô lậu này phát sinh không phải do sự suy luận hay học hỏi mà
chính do sự hành trì thanh tịnh giới vô lậu và thiền định vô lậu.
Ở trong Bát Chánh Đạo, thì
Chánh tư duy và Chánh kiến được xem như là Vô lậu học tuệ.
Bát Chánh Đạo phối hợp với Tam vô lậu học như vậy, ta có thấy ở trong kinh
Cùlavedalla (Hữu Minh Tiểu Kinh) và Giải Thoát Đạo Luận của Ưu Ba Đề Sa.
Tuy nhiên, sự phối hợp như vậy, chúng chỉ có giá trị ở mặt tương đối. Còn
đối với mặt tuyệt đối thì chúng không phải nhất định là như vậy.
Và chính ở trong giới có định
và trong định có giới, trong tuệ có giới và trong giới có tuệ; trong giới
có định có tuệ; trong định có tuệ có giới và trong tuệ có giới có định…
Nhìn một cách sâu sắc và tế nhị thì lằn mức giữa Giới, Định, Tuệ thật khó
phân định. Vì trong đời sống tu tập để hướng đến giải thoát và Niết-bàn,
ba yếu tố ấy không thể nào tách biệt khỏi nhau; chúng là thế chân vạc, nếu
thiếu một thì hai cái kia không thể có mặt.
Bởi vậy, sự phân định lằn mức giữa Giới, Định và Tuệ chỉ có một giá trị
tương đối, thì sự phối định Bát Chánh Đạo vào trong Giới, Định, Tuệ không
phải là sự phối định tuyệt đối.
Vì sao? Vì Chánh tinh tấn không
phải chỉ có mặt nhất định ở trong Vô lậu học định mà nó cũng có thể có mặt
ở trong Vô lậu học giới cũng như ở trong Vô lậu học tuệ nữa.
Vì, nếu hành trì giới mà thiếu Chánh tinh tấn thì khả năng phòng hộ của
giới không kiên quyết, bờ đê phòng hộ của giới có thể bị các trần tướng
xói mòn và đâm thủng. Vì vậy mà có những trường hợp phạm giới và hủy giới.
Và, nếu thực hành Chánh tư duy
hoặc Chánh kiến mà không nỗ lực thường xuyên, thì chắc chắn sự tư duy sẽ
không thấu đáo và sự hiểu biết cũng không thể nào quán triệt.
Do đó, ở trong lĩnh vực Tuệ vô lậu học cũng không thể vắng mặt Chánh tinh
tấn.
Như vậy, Chánh tinh tấn không những chỉ có mặt ở Định mà còn luôn luôn có
mặt ở Giới và Tuệ nữa.
Nói gọn lại, Bát Chánh Đạo đối
với Tam vô lậu học, cả hai đều tương dung tương nhiếp với nhau. Tam vô lậu
học có mặt ở trong Bát Chánh Đạo và Bát Chánh Đạo có mặt ở trong Tam vô
lậu học, hoặc Bát Chánh Đạo là hình thức khai triển của Tam vô lậu học và
Tam vô lậu học là cái lõi thu hẹp của Bát Chánh Đạo.
Do đó, nhìn từ khía cạnh thực
hành và cốt lõi thì Bát Chánh Đạo là Giới, Định, Tuệ và Giới, Định, Tuệ là
Bát Chánh Đạo. Nên, bất cứ ai thực tập được Giới, Định, Tuệ thì người ấy
thành tựu được Bát Chánh Đạo và cũng chính là thành tựu Giới, Định và
Tuệ.
Kết luận phần này cho chúng ta thấy, Bát Chánh Đạo hay Tam vô lậu học đều
có chung mục đích phòng hộ mọi ác nghiệp của thân, ngữ và ý. Và mỗi khi
thiện vô lậu đã được phát khởi thì đó là thiện Niết-bàn đã bắt đầu có mặt.
Thiện của Niết-bàn có mặt là
kết quả do thực hành Giới, Định, Tuệ hay thực hành Bát Chánh Đạo.
Vậy, trên hình thức thì Bát
Chánh Đạo và Giới, Định, Tuệ xem như là hai, nhưng thực chất của nội dung
và mục đích thì cả hai chỉ là một.
Thế nên Bát Chánh Đạo đối với
Giới, Định, Tuệ là một. Và chúng là con đường đưa đến Niết-Bàn tối thượng.
Bổn Phận Người Phật Tử Tại Gia
Tâm Minh
Kính thưa quí vị,
Tuổi
trẻ,
đến
với
đạo
Phật
với
nhiều
bỡ
ngỡ
như người
lạc
vào khu rừng
đầy
hoa thơm cỏ
lạ
nhưng lại
khó tìm lối
ra. Tiết
mục
“Tuổi
trẻ
với
Phật
pháp” đến
với
các bạn
trẻ,
đặc
biệt
là những
bạn
trẻ
Phật
tử
VN ở
hải
ngoại,
trưởng
thành tại
một
nơi mà tiếng
mẹ
đẻ
không được
dùng trong sinh hoạt
hằng
ngày, để
giúp nói đến
những
việc
rất
bình thường
nhưng có thể
“khó” với
họ.
Ngoài ra, “Tuổi
trẻ
với
Phật
pháp” sẽ
giúp chúng ta cùng tìm hiểu
và thực
hành Phật
pháp, hầu
đạt
được
an lạc,
hạnh
phúc và thảnh
thơi ngay
trong cuộc sống
trước
mặt
cho bản
thân, gia đình
và cho mọi người
quanh ta. Kính mời
quý vị
và các bạn
trẻ
cùng theo dõi câu chuyện
hôm nay với
tiêu đề
“Bổn
phận
người
Phật
tử
tại
gia” với
các bạn
trẻ
A,B,C.
A: Xin chào các bạn!
Người
Phật
tử
là người
con Phật,
đi theo con
đường của
đức
Phật,
học
sống
theo giáo lý của
Ngài, nhưng
tại sao lại
gọi
là “người
Phật
tử
tại
gia” hả?
C: Gọi
như vậy
để
phân biệt
với
người
Phật
tử
xuất
gia là quí vị
Sa-di, Sa-di-ni, Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni,
v.v… sống
ở
chùa, “ly gia cát ái” nghĩa
là thoát ly khỏi
sự
ràng buộc
của
tình cảm
gia đình
đó.
A: Người
Phật
tử
tại
gia có phải
còn được
gọi
là Ưu-bà-tắc
(nam) và
Ưu-bà-di (nữ) hay “cận
sự
nam”, “cận
sự
nữ”
hay “thiện
nam”, “tín nữ”
nữa
phải
không?
B: Đúng
rồi, nói tóm lại,
là Phật
tử
chúng ta có “4 Chúng
đồng
tu” là Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni,
Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di.
A: Vậy
thì các bạn
hãy cho biết
bổn
phận
của
những
người
Phật
tử
tại
gia (PTTG) là gì ngay
đi!
C: Bổn
phận
chính của
người
PTTG là sống
đúng
với Phật
pháp, truyền
bá Phật
pháp đến
mọi
người
để
mọi
người
được
an lạc.
B: Như vậy
vấn
đề
là trước
hết,
người
PTTG phải
biết
áp dụng
Phật
pháp vào đời
sống
hằng
ngày để
tự
mình có sự
an lạc,
rồi
mới
đem an lạc
cho người
khác được,
có phải
không?
A: Phải
rồi!
Làm sao để
gọi
là sống
đúng
theo Phật pháp và có an
lạc?
B: Trong Phẩm
“Tịnh
hạnh”
của
kinh Hoa Nghiêm,
ngài Văn Thù có trả
lời
cho Phật
tử
tại
gia, những
vị
Bồ-tát
ở
nhà, sống
như thế
nào gọi
là sống
đúng
theo Phật pháp (sách do
thầy
Hằng
Trường
Việt
dịch
và giảng).
C: Có phải
ngài Văn Thù
dạy ta nhìn mọi
sự
vật,
hiện
tượng
trong cuộc
đời
này bằng
cặp
mắt
trí tuệ,
hướng
về
chân lý chứ
đừng
nhìn với
cái tâm hẹp
hòi, cố
chấp...?
B: Đúng
rồi! Ngài có
đưa ra hơn 10 lời
dạy
cho người
PPTG sử
dụng
để
sống
đúng
tinh thần Phật
pháp trong những
hoàn cảnh
sinh hoạt
bình thường
ở
gia đình.
A: Thật
là hay quá, bạn
hãy cho biết
những
lời
dạy
ấy
đi!
B: Bài học
thứ
nhất
là Ngài dạy:
ở
gia đình,
người PTTG phải
nhường
nhịn
(không tranh giành), phải
bao dung với
mọi
người,
nói năng nhỏ
nhẹ,
phải
biết
lắng
nghe, chuyện
qua rồi
đừng
có nhắc
lại,
đừng
trách móc; tránh bàn luận
chuyện
đúng
sai, hay dở của
các thành viên trong gia
đình;
nên chia sẻ chân lý,
truyền
đạt
những
gì mình học
được
trong Phật
pháp để
mọi
người
biết
làm những
điều
thiện
lành tránh điều
hung ác.
C: Có phải
bài kệ
thường
nhắc
nhở
chúng ta mà hôm trước
bạn
đã
nhắc
đến
hay không?
Bồ-tát ở nhà
Nguyện rằng chúng sanh
Biết nhà tánh Không
Tránh mọi bức bách.
A: Tôi nhớ
ra rồi!
Nghĩa
là mình yêu mến
gia đình
nhưng đừng quá tham luyến,
quá khẩn
trương để
sinh ra đủ
thứ
stress - là “bức
bách” - phải
không?
B: Phải rồi,
các bạn
đã
nhớ
đúng
rồi
đó.
Còn đối với
cha mẹ
thì hiếu
thảo,
chăm sóc
nhưng cũng phải
biết
rằng
đức
Phật
đã
dạy: “Tất
cả
chúng sanh đều
là cha mẹ
của
chúng ta trong bảy
kiếp”;
ý nói là thương
yêu thờ phụng
cha mẹ
là hiếu,
nhưng phải
từ
lòng hiếu
đó
lan rộng ra
đến
mọi
người
chứ
không phải
chỉ
biết
chăm lo cho
cha mẹ mình mà xúc phạm
đến
cha mẹ
người
khác, hay vì lòng hiếu
mà làm những
chuyện
sai trái tội
lỗi
v.v... thì đó
lại là bất
hiếu.
Ngoài ra, phải
biết
cha mẹ
cần
mình nhất
là những
lúc già yếu,
bệnh tật,
tuyệt
vọng;
hãy gần
gũi
họ,
lắng
nghe họ
và chia sẻ
kinh nghiệm
tu học
với
họ.
Các bạn
còn nhớ
bài kệ
này chứ?
C: Ừ,
nhớ!
Bài kệ
nhắc
nhở
chúng ta là:
Hiếu thảo cha mẹ,
Nguyện rằng chúng sanh
Khéo phụng sự Phật,
Chăm sóc hết thảy!
A: Tôi cũng
nhớ
bài kệ
nói về
gia đình
nhỏ gồm
vợ
con nhưng hai
câu cuối chưa
được thông suốt,
các bạn
hãy giảng
nghĩa
giùm nha:
Vợ con sum vầy,
Nguyện rằng chúng sanh
Oán thân bình đẳng
Vĩnh ly tham trước.
B: Đức
Phật
dạy:
“Phải
có duyên nợ
với
nhau trong
nhiều
đời
nhiều
kiếp
mới
thành vợ
chồng”,
vì vậy
phải
thương yêu
giúp đỡ chia sẻ
hạnh
phúc hay đau
khổ với
nhau cho đúng
đạo lý. Mặt
khác, đừng
yêu đương
tham đắm quá mà sinh ra
ích kỷ,
rồi
từ
đó
nghi kỵ, hiểu
lầm,
ghen tuông, ly dị
v.v... kéo theo liền!
Phải
tập
sống
theo “trung
đạo”-không thắt
chặt
quá, không thả
lỏng
quá-thì tình vợ
chồng,
con cái mới
bền
vững
và dành cho nhau sự
tự
do đúng
mức.
Đó
cũng là ý nghĩa
mấy
chữ
“vĩnh
ly tham trước”
và “bình đẳng”
đối
với
kẻ
oán, người
thân trong hai câu cuối.
Thế
còn về
“ngũ
dục
thất
tình”, các bạn
có còn nhớ
bài kệ
nhắc
nhở
chúng ta như
thế nào không?
A: Đó
là:
Được hưởng ngũ dục,
Nguyện rằng chúng sanh
Nhổ mũi tên dục,
Cứu cánh yên ổn.
Nhưng tôi chưa nhớ
ra ngũ
dục
là gì? Và tại
sao gọi là “mũi
tên dục”?
B: Ngũ
dục
là năm “đối
tượng”
(object) của
dục
vọng:
tiền
tài vật
chất,
sắc
đẹp,
danh vọng,
ăn uống
hưởng
thụ,
ngủ
nghỉ
(tài, sắc,
danh, thực,
thùy). Đặc
tính của
ngũ
dục
là khiến
người
ta nghiện
ngập
chìm đắm-các
bạn
đừng
tưởng
chỉ
có rượu
hay thuốc
phiện
mới
làm người
ta nghiện
đâu
nha-ngay cả danh vọng,
địa
vị,
sắc
đẹp
cũng
làm người
ta say đắm
và nhận
chìm người
ta được
(“sắc
bất
ba đào
dị nịch
nhân” - có nghĩa
là “sắc
đẹp
không có sóng nhưng
nhận chìm người
ta dễ
dàng”) đó!
C: Bạn
nói đúng
quá! Ai đã
nếm mùi ngũ
dục
thì thật
khó mà buông xả.
Cho dù bạn
muốn
tránh né, nó cũng
vẫn
còn gốc
rễ
nằm
sâu trong đáy
lòng, phải không? Hèn gì
đức
Phật
nói “ngũ
dục
là gốc
rễ
của
địa
ngục
đọa
lạc”
- giống
như mũi
tên độc
đã
ngấm vào da thịt,
khó nhổ
cho ra và dù nhổ
ra được
thì đau đớn
biết
bao nhiêu và chất
độc
đã
ngấm vào cơ
thể rồi!
A: Như vậy
thì nguy rồi!
Cuộc
sống
của
người
PTTG luôn có ngũ
dục
vây quanh, làm sao mà tránh
đây
các bạn?
B: Thì mình phải
giữ
mình bằng
cách “tiết
chế”
những
ham muốn
(to bound your desire, to limit) chứ
biếr
có làm sao hơn!
Mình thực hành các hạnh
sau đây:
biết
đủ
(tri túc), tịch
tĩnh,
đạm
bạc,
buông xả,
muốn
ít.
C: Tôi nghe quý thầy
giảng
rằng
muốn
tránh ngũ
dục
mình phải
suy nghĩ
như thế
này: làm giàu
để
làm gì? Chết
có đem theo
được không? (để
đối
trị
với
“tài”)
Sắc
đẹp
làm mê đắm
lòng người,
có thể
dẫn
đến
tội
ác, phạm
giới
v.v... có đáng
cho mình hy sinh mọi thứ
để
chạy
theo “sắc”
hay không?
Danh là thật
hay là giả,
là hình hay bóng? Chạy
theo có phí thời
gian không? (Tỉnh
giấc
mộng
nồi
kê chưa
chín”)
Thực
(ăn): bệnh
là do miệng
mà vào, tham thực
cực
thân, ăn vào
dễ, nhả
ra khó.
Ngủ
nghỉ
(thùy): hưởng
thụ
sướng
thân, sinh biếng
nhác, ham vui, phóng dật;
đến
lúc giật
mình thì thời
gian không còn nữa,
cái chết
đến
gần...
có phải
một
đời
hối
hận
không?
A: Thế
còn đi xem
văn nghệ, ca nhạc
v.v... có phải
là “ngũ
dục”
không?
C: Cũ