ĐẾN CHÙA
LẠY PHẬT
Diệu Trân
---
o0o
---
Ai đến chùa cũng vào lạy Phật, trừ người hảo tâm đưa
giùm người khác đến cửa chùa, rồi đi. Không người nào lạy Phật mà không
lâm râm khấn vái. Tôi đoan chắc những lời khấn vái đều là những điều
thiện, lành, không cầu phước cầu lộc cho mình thì cầu cho chồng cho con,
cho họ hàng thân thuộc, bằng hữu xa gần; người có tâm lượng rộng rãi hơn
thì cầu cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình …… Người lạy Phật bận rộn
cầu xin như vậy, chắc ít để thì giờ chiêm ngưỡng tôn nhan tượng Phật. Bận
cầu xin đã đành, mà vì tin rằng đã cầu thì phải thành tâm Phật mới chứng,
nên trong lúc cầu, ai cũng cúi rạp xuống mà tỏ lòng kính ngưỡng. Tự suy
nghĩ như thế, tôi mới dám kết luận rằng, khi người Phật tử đến chùa lạy
Phật, ít ai ngước mắt lên CHIÊM NGƯỠNG TÔN NHAN ĐỨC PHẬT, MẮT KHÔNG TẠM
RỜI (như một câu trong Kinh A Di Đà.)
Là Phật tử sơ
cơ nên khi chợt nghiệm ra như thế, tôi sửng sốt và có cảm tưởng mình chưa
từng nhìn rõ tôn nhan Đức Thế Tôn mà chỉ biết qua Kinh là Ngài có 32 tướng
tốt, 80 vẻ đẹp. Biết như thế thì cũng như không biết vì 32 tướng tốt đó
thế nào, 80 vẻ đẹp ra sao ? Những lời tả đó không giúp cho Phật tử “thấy”
được Phật hơn là sự chăm chú chiêm ngưỡng tôn tượng. Tất nhiên, tượng cũng
chẳng chứng thực được tôn nhan Phật nhưng qua hình tướng chúng ta còn có
thể “thấy” Phật. Nghĩ thế, tôi dọ dẫm, tự kiểm chứng.
Lần đến chùa
sau đó, thay vì quỳ rạp lạy Phật, tôi chắp tay, lắng tâm thanh tịnh rồi từ
từ nhìn lên chánh điện. Tôi chăm chú ngắm tượng Đức Thích Ca Mâu Ni tọa
trên tòa sen. Mắt tôi chạm vào đôi mắt Ngài trước nhất. Lạ thay, tôi phảng
phất thấy nụ cười từ ái nơi đuôi hai con mắt nhìn xuống. Nụ cười bằng mắt
tỏa ra bát ngát bao dung và thương xót. Đôi mắt đang nhìn xuống thế gian
mà biểu lộ cả tấm lòng Ngài. Chính đôi mắt đó đã chứng kiến bốn nỗi khổ
Sinh, Lão, Bệnh, Tử của thế gian khi đi dạo ngoài bốn cửa thành. Những
cảnh khổ đó không phải chỉ riêng đôi mắt Thái Tử Tất Đạt Đa thấy, mà hàng
tỷ tỷ đôi mắt nhân gian đã thấy; nhưng nhân gian thấy chỉ để mà thấy, thấy
rồi lại tiếp tục ngụp lặn trong biển khổ. Chỉ có vị Thái tử con vua Tịnh
Phạn thành Ca Tỳ La Vệ là băn khoăn ray rứt vì biển khổ triền miên này.
Từ đôi mắt
thấy cảnh thương đau, đôi tai Ngài đã lắng nghe bao lời rên siết. Tất cả
những tôn tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà tôi từng được nhìn thấy, tuy
nét mặt, có khác đôi chút (có lẽ tùy tâm trạng nghệ nhân khi đúc tượng)
nhưng hai tai Phật đều được thực hiện như nhau. Đó là vành tai lớn và dài,
biểu tượng lòng từ bi lắng nghe hết thảy thống khổ của nhân gian. Sự thật
nhĩ căn của Phật có như thế hay không, điều đó không quan trọng. Điều quan
trọng chính là lòng Từ Bi và Trí Tuệ tuyệt luân của Ngài. Lòng từ bi đã
thúc đẩy Thái tử từ bỏ cung vàng điện ngọc trở thành sa-môn Gotama, quyết
đi tìm con đường giải thoát khỏi trói buộc của khổ đau. Với trí tuệ và
kiên cường, sau sáu năm khổ hạnh, sa-môn Gotama đã tìm ra tên cai ngục cái
nhà tù khổng lồ từng triền miên giam hãm, trói chặt nhân loại trầm luân
trong thống khổ. Tên cai ngục đó là Vô Minh. Vì vô minh mà chúng sanh cho
Vô Thường là Thường, Khổ là Lạc, Vô Ngã là Ngã, Không là Tịnh. Đó là đầu
mối của mọi khổ đau.
Tìm ra được
sự thật đó, sa-môn Gotama lập tức thoát xác ! Bao giây trói vô hình chằng
chịt bấy lâu như đều đứt tung ra ! Bao phiền não như vừa bật rễ, trốc gốc,
ào ạt lăn trôi, mất hút. Chỉ còn vầng thái dương rực rỡ, khai sinh Đạo Cả
cứu độ chúng sanh.
Và đó là lúc
nụ cười mầu nhiệm nở trên môi sa-môn Gotama khi Ngài đạt Giác Ngộ, thành
Phật; nụ cười ban vui, cứu khổ, nụ cười an ủi, chở che được tạc lại trên
hầu hết tôn tượng Ngài. Chỉ cần tĩnh lặng chiêm ngưỡng nụ cười ấy, ta sẽ
cảm ngay được lạc thọ của giòng suối trong vắt, ngọt lịm đang từ triền non
cao chảy xuống miền đồng bằng nắng cháy. Nhìn kỹ thêm, hình như ẩn sau nụ
cười đầy thương yêu, là lời dạy: “Ta là Phật đã thành; các con là Phật sẽ
thành”. Lời dạy này cốt nhắc nhở chúng sanh phản quang tự kỷ, phải biết
nhìn lại mình, phải biết gạn lọc sỏi đá cho hạt minh châu vốn sẵn có, sớm
được hiển lộ.
Từ khi tự
chuyển “Đến chùa lạy Phật” thành “Đến chùa ngắm Phật”, tôi có được bao
nhiêu là an vui hồi nào không hay. Này nhé, vừa tới trước cổng chùa, tôi
đã dặn lòng “Không cầu xin gì cả, chỉ ngắm Phật thôi”; thế là tâm mong
cầu, hờn giận biến mất. Tôi đã “XẢ” được tâm thế gian bên ngoài. Sau đó,
quỳ trước Phật đài với lòng nhẹ tênh, với tâm thanh tịnh, tôi thấy được
ánh điện quang Từ Bi của Phật hiển lộ rõ hơn trên mắt, trên môi Ngài, trên
suốt con đường Trung Đạo Ngài đã đi, thể hiện qua chính bản thân Đức Phật,
dũng mãnh mà lặng thầm, uy nghi mà điềm đạm, trí tuệ mà đơn sơ, nhẹ nhàng
mà quyết liệt ……. Bằng đời sống của chính mình, Đức Phật đã dung hòa, đã
hóa giải mọi trạng thái đối nghịch của thế gian để từ đó, Ngài dẫn dắt
chúng sanh tìm dần về con đường Giác Ngộ.
“Đến chùa
ngắm Phật” còn vô tình giúp tôi cơ duyên liễu nghĩa được nhiều bài pháp mà
trước đây càng nghe tôi càng mù tối, vì rõ ràng nghe thế, mà sao không
phải thế ? Tri và Hành nếu chẳng đi đôi được với nhau thì Tri đó chẳng
phải tri, mà Hành kia cũng chẳng phải hành !
Tới đây tôi
mới thấm thía câu Phật dạy: “49 năm qua, ta chưa nói lời nào”.
Đóa sen đưa
lên.
Nụ cười Ca
Diếp.
Đã là bài
pháp vô ngôn mà bất tận.
Tôi cứ tiếp
tục cách “lạy Phật” của mình như thế. Nghĩa là, dù đến chùa nào tôi cũng
lạy Phật bằng cách “Ngắm Phật” mà thôi. Chính vì chỉ ngắm Phật tôi mới
khám phá ra rằng, cũng vẫn là tượng Phật Thích Ca với những nét tiêu biểu
đặc thù nhưng thật ra không hề có tượng nào giống tượng nào cả, cho dù tôn
tượng đó có cùng một xuất xứ. Tôi không cho là lạ vì ngoài nét tinh xảo
khác nhau của mỗi nghệ nhân khi đúc tượng, còn tâm ý của Đức Thế Tôn trao
cho người đúc tượng nữa. Chẳng phải ai cũng đúc tượng Phật được đâu ! Tại
sao có những tác phẩm nghệ thuật qua nhiều ngàn năm vẫn là vô giá ? Vì đó
là những tác phẩm CÓ HỒN. Với những tác phẩm này, chúng ta chỉ có thể cảm
nhận mà không thể dùng bất cứ loại ngôn từ nào để giải thích hay diễn đạt
được. Tượng Phật, tự thể đã mang ý nghĩa thiêng liêng, người đúc tượng
Phật nếu còn biết đặt cả lòng thành kính trên việc làm này thì khi hoàn
thành, bức tượng không thể chỉ là sự kết hợp của đất đá vôi vữa. Bức tượng
sẽ mang những bài thuyết pháp của Đức Thế Tôn, những bài pháp ẩn trong ánh
mắt từ bi, qua môi cười độ lượng, trên vầng trán trí tuệ, nơi dáng ngồi
kiết già vững chãi an nhiên, nơi vòng tay nhân ái muốn ôm hết muôn loài mà
cứu độ ……
Tôi vô cùng
xúc động khi khám phá ra điều đó. Nhờ thế, mỗi khi ngắm Phật tôi lại có
cảm tưởng như đang được nghe bài pháp mới. Và niềm vui bất tận khi thầm
lặng theo dõi bước chân Phật đã vô tình XẢ cho tôi mọi mong cầu ước muốn
vị kỷ của nhân gian.
Ngay cả khi
phải nhận những oan trái, vạ lây mà nhân thế vô tình hay cố ý ném vào, tôi
cũng chỉ thấy đôi mắt Phật, nụ cười Phật bảo rằng “Hãy chọn sự im lặng của
người Phật tử. Đó là sự im lặng của giòng sông”.
Diệu Trân
Tháng Hai 2005
--- o0o ---
Cập
nhật
ngày:
01-06-2005