VÔ TỰ
THỊ CHÂN KINH
Diệu Trân
---
o0o
---
Thi hào Nguyễn Du là một Phật tử mộ đạo, rất siêng
năng tụng đọc kinh điển, nhưng cụ đã từng thú nhận là đọc kinh Kim Cương
cả ngàn lần mà vẫn không nắm bắt được ý kinh; cho tới khi được nghe bài kệ
của Lục Tổ Huệ Năng cụ mới liễu ngộ rằng “Chân kinh vốn không lời”. Cụ đã
viết bốn câu thơ bằng chữ Hán để diễn tả tâm trạng của mình: Ngã độc Kim
Cương thiên biến linh
Kỳ trung áo nghĩa đa bất minh
Cập đáo phần kinh Thạch đài hạ
Chung tri: vô tự thị chân kinh
Chữ Hán, tôi
lõm bõm chưa qua nổi cuốn Tam Tự Kinh, nhưng ráng phỏng dịch như sau:
Ngàn lần tụng đọc Kim Cương
Vẫn như mờ ảo khói sương tơ trời
Trước đài gương, bỗng tỏ ngời
Là: Chân kinh vốn không lời mà thôi!
Người bạn đạo
của tôi tỏ ý nghi ngờ. Bạn nói, tối nào cũng tụng kinh, tụng rõ ràng, mạch
lạc từng tiếng mà nhiều khi còn phải đi tìm sách của các bậc cao minh,
giảng giải cho thêm mới tạm hiểu. Nay, nói chân kinh vốn không lời thì
biết nương vào đâu mà hiểu đạo? Tôi cũng ….nghi lắm! nhưng vừa khởi niệm
nghi bỗng giật mình. Khi nghe điều gì, ta phải tìm hiểu điều đó thế nào
rồi mới luận đúng hay sai chứ. Ngay cả sau khi tìm hiểu rồi, cái kết luận
cũng chỉ mới căn cứ trên tầm hiểu biết chủ quan thôi, chưa chắc đã là cái
kết luận có giá trị. Chúng tôi cùng đồng ý chọn con đường ngắn nhất, là
tìm xem cụ Nguyễn Du nghe được bài kệ nào của Lục Tổ Huệ Năng mà tìm ra
chân lý ấy. Kệ của Lục Tổ như vầy:
Nhân liễu thử tâm nhân tự độ
Linh sơn chỉ tại nhữ tâm đầu
Minh kính diệc phi đài
Bồ đề bổn vô thụ.
Tìm được bài
kệ, đọc lên, bạn nhìn tôi, chờ đợi. Tôi lại vò đầu bứt tai, tận dụng cái
vốn …. Tam Tự Kinh mà dịch như sau:
Người tự tại khi tâm sáng tỏ
Thì Linh Sơn ngay ở tâm này
Gương kia sáng chẳng vì đài
Bồ Đề vốn chẳng là cây bao giờ.
Có lẽ tôi
dịch lơ mơ quá nên bạn phản đối ngay:
- Bồ Đề mà
không là cây thì là gì?
A, câu này
thì tôi trả lời được, tại bạn chưa ôn bài đó thôi. Khi Lục Tổ nói “Bồ đề
bổn vô thụ” là ý nhắc về bản chất huyễn hóa của vạn hữu, chỉ do duyên hợp
mà thành. Nhìn cây Bồ đề xanh tươi cành lá, đó là sau khi hạt đã nẩy mầm,
chồi lên mặt đất, tiếp nhận mưa, nắng, gió v…v… tăng trưởng với thời gian
mà ta thấy “cái gọi là cây Bồ đề.” Nhưng nếu tách rời hạt nhỏ li ti kia
với đất, cát, mưa, nắng …..sẽ chẳng bao giờ có cái gọi là cây Bồ đề cả.
Vậy thì, bản chất chân thực của mỗi sự vật là gì? Nó sẽ chẳng là gì, nếu
không do nhiều duyên hợp mà thành. Ngay như tấm thân tứ đại của chúng ta
đây, cái mà, đối với chúng ta là quan trọng lắm lắm, cũng chỉ là huyễn
giả. Thân ta có, là do đất, nước, gió, lửa hợp lại mà thành. Tách rời đất
(chất cứng như xương, móng….), nước (chất lỏng như máu, mồ hôi …..), gió
(chất hơi như hơi thở), lửa (chất nóng như nhiệt độ), sẽ chẳng còn gì để
gọi là thân ta nữa. Bạn lại hỏi tôi một câu thật bất ngờ, nhưng rất hay:
- Cái gì nhận
ra sự huyễn giả đó?
Câu hỏi quyện
vào tiếng reo vui của ấm nước vừa sôi. Tôi lặng lẽ nhìn bạn trịnh trọng mở
tủ, bưng ra bộ tách có đủ cả chén tống, chén quân. Tôi biết bạn có bộ tách
quý này do cụ thân sinh để lại, nhưng chưa từng được bạn mang ra đãi. Hôm
nay sao đặc biệt thế? Dù cố tình làm ra vẻ thản nhiên nhưng bạn biết, tôi
đang theo dõi bạn từng cử chỉ. Mở hộp trà thơm, nhón một dúm trà nhỏ bỏ
vào chén tống. Nước sôi rót vào vừa ngập trà, bạn cầm lên, tráng nhẹ rồi
đổ bỏ nước nhất. Lần rót nước nhì, bạn cũng cầm lên, tráng nhẹ rồi đặt
tách xuống khay. Trong khi chờ trà ngấm, bạn dùng nước nóng tráng hai cái
chén quân; xong, bạn đặt một chén trước tôi, chén kia trước bạn. Rồi, rất
từ tốn, bạn chắt nước đã ngấm trà từ chén tống ra chén quân, tức là cái
chén nhỏ như hạt mít !
Tôi cố nín
cười, nhưng tới đây thì hết chịu nổi. Ngờ đâu, bạn cũng giả nghiêm suốt
thời gian biểu diễn. Chúng tôi cùng cười thoải mái. Bạn thú nhận:
- Chỉ loáng
thoáng thấy bố lui cui pha trà như vầy nhưng không thực sự chú ý; Thôi,
thì cứ tưởng tượng như chúng ta đang ngồi trong trà thất, uống trà, chờ
hoa nở.
Tôi chỉ vào
cái chén nhỏ xíu:
- Uống bao
nhiêu chén này mới đã khát?
Bạn trả lời
đầy ý nhị:
- Tâm khát
chừng nào, chén đầy chừng nấy.
Hôm nay bạn
nói chuyện như một thi sĩ. Đúng là muôn sự do tâm, nhưng tâm khởi lên từ
mọi loại cảm thọ buồn, vui, thương, ghét, thiện, ác ..v..v.. dựa trên
những đối tượng luôn biến hoại đổi thay của căn và trần, là những đối
tượng không có bản chất thật. Vậy tâm nào mới chính là tâm? Những tâm ấy
thay đổi luôn luôn, theo từng trạng huống. Và nếu chúng không phải thực là
tâm thì CÁI GÌ đang nhận ra những diễn biến luân lưu thành hoại đó? CÁI GÌ
nhìn rõ mặt mũi từ tâm buồn sang tâm vui, từ tâm thương sang tâm ghét, từ
tâm thiện sang tâm ác??? “Cái gì đó” chính là CÁI NHẬN BIẾT MỌI HIỆN TƯỢNG
MÀ KHÔNG QUA MỘT LĂNG KÍNH PHÂN BIỆT NÀO. Cái nhận biết này, bởi không từ
một niệm nào mà ra nên nó không sinh cũng chẳng diệt theo hiện tượng. Nó
như tấm gương trong suốt, phản ảnh trung thực những gì tới nó, trung thực
tới mức như hai mà một, nhưng lại không hề bị đồng hóa với vật mà nó phản
ảnh. Khi ghi nhận điều tốt, nó chẳng trở nên tốt, khi đối diện điều xấu,
nó cũng chẳng trở thành xấu. Nó hiện hữu tự nhiên như giòng nước ngầm, ai
đào tới sẽ gặp; không ai đào, nước vẫn chảy, như chưa từng đầu ghềnh, chưa
từng cuối bãi. Cái nhận biết này là Tâm Chân Thật thường hằng vô thỉ vô
chung; đó chính là Tâm Phật, là Phật Tánh. Khai được nguồn tâm này là hiển
lộ Chân Như, là giải thoát khỏi ràng buộc vô minh, là bừng sáng Trí Tuệ;
khi ấy, thiền tông diễn tả bằng hình ảnh “Thõng tay vào chợ”; nghĩa là,
ngay giữa chốn xôn xao nhất cũng chẳng làm tâm kia lay động. Đạt được tới
đây, hành giả đã là “người vô sự”, an nhiên tự tại, đối cảnh chẳng sanh
tâm thì ngàn trang kinh cũng đồng với tâm trong suốt, làm gì còn văn tự,
còn lý giải ngược xuôi nữa.
Chặng đường
tu tập này, người đủ căn cơ, trí tuệ, nếu quyết tâm có thể ngộ. Ngược lại,
người trí kém, cần rất nhiều kiên trì, cố gắng, mới mong tâm kia không bị
chôn vùi dưới lớp vô minh. Hàng Phật tử sơ cơ như chúng tôi biết thế, nên
hằng nhắc nhở, sách tấn nhau chớ biếng lười.
Những chén
trà hạt mít thong thả vơi dần qua câu chuyện “Đế Thích tán hoa” thường
được kể để minh chứng “Vô tự thị chân kinh”; mà muốn liễu ngộ “chân kinh
vốn không lời” hành giả phải đạt tới bản tâm chân thật. Ngài Tu Bồ Đề là
một, trong những đại đệ tử của Phật, một hôm lặng lẽ ngồi thiền dưới chân
núi. Mây rất xanh, nắng rất ấm, suối róc rách ven đồi, chim líu lo ca hát,
ngài cứ an tịnh kiết già. Dáng ngồi thật thẳng trên phiến đá bằng, như nét
chấm phá của bức tranh “Tung Hoành” tuyệt kỷ. Ngài ngồi lâu, rất lâu,
không biết bao lâu, thì bỗng hoa trời rơi xuống như mưa. Phút chốc, cả
không gian thơm ngát hương hoa như ôm trọn nhà sư khắc khổ, ngồi thiền đẹp
như tranh vẽ. Ngài Tu Bồ Đề xả thiền và khẽ hỏi:
- Ai tán hoa
đó?
Trên thinh
không có tiếng đáp:
- Tôi là Đế
Thích đây.
- Vì lẽ gì Đế
Thích tán hoa?
- Vì ngài
thuyết pháp hay quá!
- Ta ngồi
lặng yên, có thuyết gì đâu?
- Ngài không
thuyết, tôi không nghe, đó là pháp vi diệu.
Thì ra, biết
nghe bằng “Tánh-Nghe”, mới nghe được “Lời-Không-Lời”, và thể hiện được
Sự-Im-Lặng-Hùng-Tráng của Chân Kinh.
Diệu Trân
Tháng Ba 2005
--- o0o ---
Cập
nhật
ngày:
01-06-2005