Cuốn
Kinh và Ngôi Chùa
Tác giả: Đức Hạnh
Lời giới thiệu: TT Thích Tuệ Sỹ
Tác giả xuất bản, California, Hoa Kỳ
2003
--- o0o ---
MỤC LỤC
1.
Viết cho Đức
Hạnh
01
2.
Cuốn Kinh và ngôi
chùa
04
3.
Chánh
Pháp
09
4.
Tinh thần giáo dục thiền định trong
PG 14
5.
Nghĩa văn
hóa
27
6.
Văn hóa Phật
giáo
29
7.
Tinh thần giáo dục của thế gian nhân
loại 33
8.
Phẩm chất năm
giới
35
9.
Bản chất của
giới
38
10.
Luận về Bồ Tát
giới
40
11.
Trang nghiêm tịnh
độ
51
12.
Bảy điều không thể tránh
khỏi
56
13.
Xứ xứ thường sở trụ của Bồ Tát Hộ
Minh 62
14.
Bản chất của Pháp
môn
67
15.
Công cuộc phục hưng Phật giáo Việt
Nam 70
16.
Ba cấp từ bi trong Ðạo
Phật
72
17.
Bản môn và tích
môn
76
18.
Ba điều chư Phật dạy cho năm
thừa 85
19.
Không cần mang nhãn hiệu
Phật 90
20.
Bản chất trung đạo của thiền
định 96
21.
Chất liệu nào kiến tạo thành bồ đề
tâm 108
VIẾT CHO ĐỨC HẠNH
Có người khách mang đến cho tôi
một gói quà. Bên trong là hai quyển sách: Đất nước Cực Lạc, Ánh Sáng và
bóng tối. Tác giả: Liên Hoa Bảo Tịnh. Khoảng thời gian sau này, tôi có
rất ít điều kiện để đọc thêm được những sách mới, nên không ngạc nhiên
nhiều lắm với tác giả lạ. Dẫu sao, trong tình cảnh ấy mà được đọc những
sách lạ, nhất là được gởi từ phương trời xa lạ, thì cũng thật là thú vị.
Rồi càng đọc càng thú vị. Một phần vì có những kiến giải bất ngờ của tác
giả, về những điểm giáo lý mà mình rất quen thuộc. Quen thuộc từ khi
mình còn là một tiểu sa-di. Nhưng phần khác, thú vị hơn, khi biết rằng
Liên Hoa Bảo Tịnh cũng là Đức Hạnh – đó là chú Hạnh, một thời ở Già Lam
cùng với chú Sỹ.
Hồi ấy, khoảng từ
1962 1963, Già Lam chỉ mới có một dãy nhà tranh cho các chú, với ba gian
nhà gạch; gian giữa thờ Phật; một gian để dành cho thầy trù trì. Gian
còn lại, thỉnh thoảng Thượng Tọa Giám Viện từ Nha Trang vào trông chừng
các chú tu học như thế nào, và thường xuyên hơn là Thượng Tọa Thiện
Minh. Già Lam, tức Tăng-già-lam của Phật học viện, hình thức như một cư
xá cho lưu học sinh. Phật học viện trung phần dùng đây làm chổ tu học
cho các chú đã đậu tú tài II từ các trường trực thuộc. Một số theo học
tại các phân khoa của Viện Đại học Sàigòn. Một vài chú khác được viện
gởi vào để theo học các lớp Anh văn của Hội Việt Mỹ. Chú Hạnh ở trong số
các chú này. Còn tôi trước đó thuộc loại tiểu giang hồ, lang thang qua
nhiều chùa ở miền Nam mà không đủ điều kiện nhập chúng. Rồi do thầy trù
trì giới thiệu, được Thượng tọa Giám viện thương tình cho về Già Lam tá
túc. Dù không thân, rồi cũng trở thành thân thiết. Tình huynh đệ trong
chốn thiền môn là vậy.
Dễ
chừng cũng hơn ba mươi năm, kể từ ngày tôi hành cước sang Vạn Hạnh. Hình
chú vân du lên vùng thượng nguyên, dạy Anh văn tại các trường Trung học
Bồ Đề.
Ba mươi năm, vật đổi
sao dời. Đất nước hòa bình nhưng con người ly tán. Tan ở chổ này, để tụ
lại ở nơi khác. Mỗi người ra đi theo mỗi hướng khác nhau, mà trong sâu
thẳm của tâm tư vẫn còn ủ kín sơ tâm học đạo dù chí nguyện chưa tròn.
Riêng phần tôi, trong ngần ấy năm, trầm luân qua gần đủ sáu nẻo luân hồi
trong một kiếp nhân sinh. Khi được đưa về cảnh cũ, huynh đệ cũ không còn
ai cả. Phố phường thị tứ náo nhiệt hẳn lên. Chùa chiền cũng náo nhiệt
theo, trào lưu và thời thượng. Hai thứ tóc, bỗng thấy mình bối rối. Cho
nên, khi bất chợt đọc được những trang sách, mà thoạt đầu cảm thấy lạ,
rồi nhận thấy thân quen, như nghe lại âm hưởng của một thời hành điệu.
Người trở về, thời gian đã đổi. Nhưng người đi xa, gốc cổ thụ vẫn còn
hắt bóng qua nửa phuơng trời. Hạt giống bồ đề qua biết bao lần lữa
thiêu, nước cuốn; hình hài có thay đổi, mầm sống không hư hao. Tôi đọc
những trang sách ấy, khám phá lẽ đời và lẽ đạo từ một mảng đời phiêu bạt
của người bạn đồng học, đồng tu cũ.
Tôi vốn làm thân con
mọt sách. Chìm nổi qua gần đủ sáu nẻo luân hồi trong một kiếp nhân sinh,
khi trở về, vẫn là con mọt sách. Đức Hạnh có lẽ là hạt cải lăn lóc giữa
đường đời bụi bặm. Mỗi dặm đường, thêm một lớp bụi, tưởng chừng hạt nhân
bên trong héo quắt. Thế giới này tuy chợt có chợt không; cõi nhân sinh
tuy bị cuốn hút trong ái dục, cuồng vọng; nhưng từ trong tự tính huyền
vi, nguồn sữa từ thai tạng của Như Lai vẫn ngọt ngào nuôi dưỡng chủng tử
bồ đề cho tuỳ thời lớn mạnh. Rồi hạt cải nảy mầm, có phải như vậy không?
Tôi không biết rõ điều đó, nhưng biết khá rõ một điều khác: khổ hải thao
thao, hồi đầu thị ngạn.
Chúng tôi mỗi người
từ một góc trời riêng biệt, từ những đường đời gập gềnh bên ngoài Phật
học viện, bất chợt cảm thấy đang cùng nhìn về những ngày cũ, nhìn lại
tâm nguyện ban sơ, thấy lại ước vọng một thời thanh xuân vẫn còn thấp
thoáng dưới bóng chùa. Những trang sách của chú khiến tôi cảm nhận được
một nguồn an lạc của nhiều ngây thơ từ những ngày bé bỏng. Rồi Chú gởi
thiếp theo một loạt đang viết cho quyển sách dự định xuất bản. Tôi đọc
không như một đọc giả đi tìm những ý tưởng hay những quan điểm mới lạ,
tìm những gì mà mình chưa nghĩ đến trong kho tàng Thánh điển bao la. Tôi
đọc những bài viết này với tâm trạng của một người ước mong khám phá
những gì chưa biết về một người bạn, tưởng chừng như quên hẳn. Ở đấy,
vẫn những điểm giáo lý quen thuộc, mà một thời đã cùng chung học tập, và
cũng có khi tranh luận. Với tôi, nền tảng giáo lý ấy theo thời gian được
chồng thêm nhiều lớp sở tri đông tây kim cổ, tưởng như mãi mãi bị khuất
kín dưới lớp kiến văn quảng bác. Rồi bổng nhiên, từ những trang sách
tình cờ, quá khứ một thời sống dậy, với tất cả tình cảm và tri thức. Khi
ấy tôi cũng nhận ra rằng, cũng những điểm giáo lý ấy nơi Đức Hạnh tưởng
là đã chôn vùi, quên lãng dưới những lớp bụi đời; nhưng không, những
điểm giáo lý quá đơn sơ, mỏng và nhẹ vừa đủ cho những Chú sa-di non nớt
cả về lẽ đạo và nghĩa đời cất giữ trong tâm tư, làm hành trang cho đường
đi sắp tới; những điểm giáo lý ấy bây giờ chợt lục lại, mới hay đấy là
những mầm giống tuy rất dể mục rã với thời gian, nhưng bởi tự tính là
chất kim cang bất hoại nên vẫn tiềm tàng đâu đó trong đáy sâu của tâm
thức, khi thời tiết nhân duyên đến, lại xuất hiện.
Bất hạnh thay, chúng tôi đều
sinh vào thời của nhiều ma chướng, cao đồ sộ như bóng núi Thiết vi che
kín cả mặt trời Tuệ giác. Thỉnh thoảng ánh sáng bồ đề từ tâm nguyện ban
sơ chợt hiện, như đốm sao duy nhất trong đêm tối mịt mù. Tuy vậy, mỗi
người vẫn cố đi tới, theo cách riêng của mình, bằng phương tiện và cơ
duyên mà mình có. Vì vậy, tôi cảm thấy hân hoan, muốn góp mấy lời vào
đầu tác phẩm này của Đức Hạnh. Nhiều khi cảm thấy những gì mình đã viết
quá xa với thực tế, góp chặt từ nhiều trang Kinh Luận rồi ghép lại; do
đó, khi đọc được những dẫn giải Phật pháp từ chính những vấn đề tế toái
của cuộc sống thường nhật, tôi cảm thấy thú vị khi có thể chiêm nghiệm
những gì vốn được chiêm nghiệm bằng tư duy luận lý siêu hình. Không chỉ
là thể nghiệm, mà trong giới hạn nào đó của cuộc sống, đó còn là sự thể
nghiệm chân lý trong sinh hoạt thường nhật. Nói một cách khác, đó là sự
thể nghiệm yếu tính của Phật Pháp phiền não tức bồ đề.
Bởi phiền não tức bồ
đề, cho nên người cư sĩ sống giữa cõi đời ô nhiễm, bị trói buộc bởi
nhiều sợi dây ân oán, vẫn tự thấy bản thân không bị cách ly Thánh đạo.
Người cư sĩ học Phật thì nói nhiều hơn làm, đó là giới hạn tất nhiên rất
ít ai có thể vượt qua. Nhưng giáo lý Duy thức cũng nói về danh ngôn huân
tập. Nói về lẽ thiện, tuy chưa thể hoàn toàn sống đúng với điều mình
nói, nhưng tự tính ngôn ngữ có tính huân tập, giống như một thứ tự kỷ ám
thị, mầm giống Thánh đạo được xông ướp một cách vô tình hay vô tri, trải
qua nhiều thời gian, có khi trải qua mấy a tăng-kỳ kiếp, hạt giống thánh
đạo được tích lũy bằng danh ngôn huân tập sẽ đến hồi nãy lộc. Vả lại,
người Phật tử học Phật dựa trên ý nghĩa rằng y pháp bất y nhân. Phật
pháp không chỉ để nghe suông, mà cần chiêm nghiệm, thực hành, để tự mình
phát hiện chân lý. Cho nên, như Phật đã dạy, chớ vội tin điều gì chỉ vì
điều đó được nói bởi truyền thống, xuất phát từ chổ được nói là có thẩm
quyền, được giảng dạy bởi Đạo sư của mình. Tôi muốn nói đến sứ mạng
hoằng truyền Chánh pháp. Những người xuất gia đã dứt bỏ mọi ràng buộc
của thế tục, cho nên sự hành đạo và hóa đạo là thuận duyên, và lời giảng
pháp là những kinh nghiệm thực chứng. Điều đó thật hữu ích cho người
nghe. Nhưng, trong xã hội càng lúc càng phức tạp với đủ loại quan hệ
nhân sinh. Kinh nghiệm của người xuất gia về sự thật của thế gian càng
lúc càng thu hẹp. Do đó, những lời giảng tuy là từ chứng nghiệm bản thân
nhưng nhiều khi xa rời thực tế xã hội khiến người tại gia tuy nghe thì
nghe hay thật đấy nhưng khi hành thì lại gặp nhiều tai biến. Chuột nhắt
không sợ sư tử, mà chắc chắn là sợ mèo . Đó là điều mà kinh gọi là đối
trị tất-đàn. Chân lý của chánh pháp được đánh giá bằng thực tế đối trị.
Tất nhiên, căn bản phiền não cần đối trị là tham, sân, si. Giáo lý cao
siêu trong nhiều trường hợp trở thành trò lý luận viển vông. Không thể
trao gươm thái ất cho trẻ nhỏ đi đập hạt dẻ. Bất cứ viên đá cuội tầm
thường nào cũng đều có hiệu quả rất đáng hài lòng hơn.
Đó là vài cảm nghĩ
của tôi khi đọc các bài viết Phật pháp của Đức Hạnh. Tôi nghĩ rằng những
bài viết về những điểm giáo lý căn băn này được nhìn từ những khía cạnh
đời thường cũng sẽ gợi được nhiều hứng vị cho người đọc; từ cảm hứng ấy
mà chiêm nghiệm về những vấn đề nhân sinh của chính mình với Phật pháp.
Mỗi người có những chứng nghiệm riêng của bản thân, để rồi hiểu rõ càng
lúc càng sâu sắc hơn ý nghĩa Phật pháp bất ly thế gian Pháp.
Quảng hương Già Lam
Mùa an cư Phật lịch 2546,
Tuệ Sỹ
CUỐN KINH VÀ NGÔI CHÙA
KINH, tiếng Phạn SUTRA dịch âm
TUĐALA, có nghĩa là khế kinh. Hết thảy giáo lý mà Đức Thế Tôn nói ra
suốt 45 năm trên vận hành giáo dục và hướng dẫn chúng sanh trong mọi
giai cấp về cách thức tu tập để đạt trí tuệ giác ngộ vô ngã là con đường
vượt thoát sanh tử luân hồi, đều gọi là khế kinh. Khế kinh gồm có
Thánh giáo và Thánh đạo hay còn gọi là kinh điển, Thánh
điển. Tính chất của khế kinh luôn luôn xúc tác, phù hợp, đối trị với
mọi căn tính hữu tình chúng sinh, ai cũng có thể đạt được niềm an lạc,
hạnh phúc và trí tuệ giác ngộ vô ngã sau khi ra công tu tập đích thực,
cho nên khế kinh có hai tính chất khế lý và khế cơ. Khế
lý, là toàn bộ kinh điển Phật giáo, dù chỉ là một bài kệ ngắn, một tác
phẩm kinh dài mươi trang hay một chơn ngôn Pháp Cú, tất cả đều chứa đựng
lý đạo sâu, cạn, vi diệu và mầu nhiệm. Vì bất cứ con người nào trong mọi
giai cấp xã hội khi quay về Đạo Phật cho mục đích tìm con đường giải
thoát bằng trí tuệ giác ngộ đều có giáo pháp phù hợp với hoàn cảnh,
trình độ, căn cơ của mình để tu tập đạt trí tuệ giác ngộ giải thoát, đó
là khế cơ. Từ đây ta mới thấy rằng toàn bộ nền đạo lý của Phật
giáo đều có cùng một vị giải thoát, như nước trăm sông trong đất
liền chảy ra biển cả đều trở thành vị mặn.
Nói khác hơn, toàn bộ kinh
điển Phật, dù Tiểu Thừa hay Đại Thừa có khế lý Tục đế giảng
luận khác nhau ở mỗi thứ kinh, nhưng đều cùng chứa đựng Chơn Đế Vô
Ngã Chân Không, Tánh Không trong đó. Sở dĩ mỗi thứ kinh có lý giải
(Tục đế) khác nhau như vậy, chỉ là phương tiện hướng dẫn đối với tất cả
chúng sanh có trình độ khác nhau về cách thức tu tập, nhưng cứu cánh vẫn
là trí tuệ vô ngã bình đẳng, đó là mục tiêu chính yếu của đạo Phật. Đạo
Phật đánh mất mục tiêu trí tuệ vô ngã, tánh không này, thì không còn là
đạo Phật! Vì vậy mà chư Phật thị hiện ra nơi đời không ngoài sự chỉ bày
cho chúng sanh cái chân lý Tánh Không, Chân Không, vô ngã là con đường
vượt thoát sinh tử luân hồi bằng sự tu tập giáo pháp mang thực chất
nguyên lý giải thoát mà chư Phật đã chứng nghiệm. Cho nên chân lý Tánh
Không, Chân Không, vô ngã đều có mặt trong Tam Tạng Kinh, Luật, Luận,
chứ không riêng ở một bộ kinh nào.
Tuy nhiên, chân lý
Tánh không, Chân Không, Vô ngã được Đức Phật kết tụ lại một cách riêng
biệt bằng ngôn ngữ Tục Đế biện chứng luân hai chiều về khế lý Nhân
Duyên (duyên khởi) để làm cho người Phật tử đang tu tập giáo Pháp
thích hợp của mình mà dể dàng nhận ra chơn đế Vô Ngã, Tánh Không, Chân
Không ở các pháp. Số lượng ngôn ngữ biện chứng luận duyên khởi không dài
lắm, chỉ vỏn vẹn 260 chữ. Nếu tính luôn đề kinh là 268. Đó là bài kinh
Bát Nhã. Vì vậy mà bài kinh Bát Nhã được mệnh danh là Tâm kinh, thường
gọi là Bát Nhã Tâm Kinh. Bát Nhã là trí tuệ vô ngã bình đẳng. Cho nên
Bát Nhã Tâm Kinh như là một công thức, một định lý về đạo lý vô ngã,
tánh không để giúp cho người đang tu tập bất cứ pháp môn nào được dễ
hiểu, dễ ngộ tánh không vô ngã. Và từ đó cũng mau tự phá trừ kiến chấp,
xa lìa hữu ngã, tham ái khi nhìn thấy được bản thể vạn hữu, trong đó có
mình, được sanh và hoại diệt đều do nhân duyên. Do nhiều nhân khác nhau,
do nhiều duyên khác nhau, chứ không phải do một nhân, một duyên, nên
nhân có nhiều thứ, duyên cũng có nhiều loại. Thuyết nhân duyên được Phật
nói nhiều và cặn kẽ trong kinh điển, vì là cơ bản để đạt chân lý Tánh
Không, Vô Ngã, Chân Không. Vì vậy mà đạo lý Phật nói ra đều có hai: giả
lập và phủ định. Giả lập là hình tưóng do nhân duyên mà có, nhưng sau đó
liền phủ định, bởi vì sẽ bị hoại diệt do nhân duyên. Giả lập là có,
phủ định là không. Ta thường đọc câu sắc bất dị không, không
bất dị sắc. Bởi vì trong sắc (hình tướng) vốn có cái không. trong
cái không vốn có sắc. Tức là sắc không khác với không, không không khác
với sắc. Đó là duyên khởi trùng trùng nối kết nhau mà sanh mà diệt. Tức
là “có mà không, không mà có”.
Sở dĩ Đức Phật nói giả lập là
dùng phương tiện hướng dẫn cách thức tu tập để đạt chân lý. Và phủ định
ngay sau đó là không muốn cho người tu tập giáo pháp bị lụy dính mắc vào
giáp pháp mà trở ngại cho sự đạt đạo vô ngã, Tánh không. Cho nên giáo lý
Phật trong tất cả kinh, không phải là giáo điều, không phải là một học
thuyết, mà là giáo lý phá trừ kiến chấp, vọng thức để đi đến chân lý vô
ngã tánh không, chân không. Vì vậy mà nói đến con đường giải thoát của
đạo Phật là nói đến tâm vô ngã chân không, tánh không, cho nên đạo Phật
được mệnh danh là Cửa Không. Cửa không là niết bàn. Niết bàn là tâm
không còn vọng động, hết tham, sân, chấp ngã, xa lìa mọi cực đoan, kiến
chấp …Tâm còn những chất ô nhiễm ác trược vọng động thì không thể vào
được Niết bàn. Muốn vào được Niết Bàn tâm ta phải đồng thể tánh không
giống như thể tánh không của Niết Bàn.
Muốn đạt được cái
tâm không còn ô nhiễm, hết mọi ác trược, phiền não, tham vọng…gọi là tâm
vô ngã, tánh không, chân không là thể tánh Niết bàn, ta phải học và thực
tập lời Phật dạy trong các kinh điển và giới luật.
Nói rằng đến với đạo
Phật không cần học và tu tập Phật pháp, chỉ có lể Phật, dâng hoa cúng
dường, làm việc phuớc thiện không thôi, là đủ rồi! Nếu như vậy thì đức
Phật đâu có chủ trương hoằng dương chánh pháp vào đời làm chi!
Công việc kết tập
kinh điển của chư Thánh tăng sau khi Phật nhập niết bàn, chư vị tổ sư
đem kinh điển Phật lên phương bắc, xuống phương nam, chư tăng tiền bối
Việt Nam qua nhiều thời đại và hôm nay đã và đang cặm cụi dịch kinh chữ
Tàu, Pali ra chữ Việt, là những việc làm dư thừa hay sao!
Nói rằng không cần
học và thực hành Phật pháp, chỉ làm việc phước thiện…thì lấy năng lực
nào để được siêu thoát sau khi chết? Bởi vì nghĩa của chữ “SIÊU” là đi
lên. Năng lực của Siêu là tâm vô ngã tánh không, hết vọng động…
Ta nên biết rằng,
những hành động: từ lễ Phật, dâng hoa cúng dường lên chư Phật, Bồ Tát
trong chánh điện hay ngoài sân chùa, cho đến những công việc từ thiện xã
hội, phụng sự Đạo Pháp, tất cả phải được xây dựng trên tinh thần vô ngã
tánh không. Được tinh thần vô ngã tánh không, ta phải học và thực hành
lời Phật dạy trong kinh thì mới biết cách xây dựng tinh tấn vô ngã ở
lãnh vực từ thiện xã hội, xây chùa, đúc tượng, in kinh sách, dâng hoa lể
Phật, cúng dường Tam Bảo đúng chánh pháp, chánh đạo. Chứ không phải do
nghe lời truyền thuyết từ những người khác qua lời mời gọi, rủ rê hay
bắt chước, nghe lóm người kia, kẻ nọ đang làm mà làm. Trong khi tự bản
thân mình chưa một lần được chứng nghiệm qua sự thực hành lời Phật dạy
trong kinh hay chưa được vị đạo sư chơn tu có đủ ba nền giáo dục ở bản
thân: ý giáo, khẩu giáo và thân giáo giảng nói về lãnh vực tu phước, thì
làm sao có thể hành động đúng chánh đạo, chánh pháp của việc tu phước!
Qua tư tưởng trên
cho ta thấy rõ mục tiêu chính yếu của đạo Phật là xây dựng cho con người
khi quay về đạo Phật phải được có tâm vô ngã tánh không. Tâm vô ngã tánh
không mà đạo Phật chủ trương phải được thường hằng hiện hữu trong tâm
người Phật tử qua mọi sinh hoạt của đời sống hằng ngày trong gia đình,
ngoài xã hội, cũng như các việc phụng trì, phụng sự Đạo Pháp tại các
chùa. Chứ không phải chỉ riêng lúc tham thiền nhập định, tụng kinh niệm
Phật, đi kinh hành mới có tâm vô ngã tánh không. Nhất nhất mỗi nơi, mỗi
thời phải tu luyện tâm vô ngã tánh không, đúng như lời kinh Bát Nhã:
“Hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không…”
Chữ THỜI trong câu kinh chỉ cho thời gian, tức là tâm luôn an trú
trong chánh niệm gọi là đà sống có tỉnh thức trực nhận, quán
chiếu vào bản thân mình một cách không hạn định, gọi là “phản quang
tự kỷ” là năng lực làm cho tâm thấy năm uẩn nơi bản thân mình là vô
ngã, không tự thể chỉ là hiện hữu tương quan với các duyên mà có, rồi ắt
phải bị diệt cùng các duyên. Và thấy luôn vạn hữu thực tại cũng đều là
vô ngã, tánh không như vậy.
Tóm lại, kinh điển
Phật giáo không có tiểu thừa, đại thừa, tất cả đều có cùng một thực chất
duy nhất, đó là nguyên lý giải thoát, cho nên nguyên lý của pháp môn tu
đều linh hoạt, sinh động nên phù hợp với mọi căn cơ khác nhau của chúng
sanh khi quay về đạo Phật cho mục đích tìm cầu con đường giải thoát cho
mình bằng trí tuệ vô ngã, tánh không đều có giáo pháp để tu tập. Vì vậy
kinh điển Phật là những phương tiện khai quyền hiển thật, cho nên kinh
mà Đức Phật nói ra suốt 45 năm, được chia ra năm thời kỳ: 1- Hoa Nghiêm,
2- A Hàm, 3- Phương Đẳng, 4- Bát Nhã, 5- Pháp Hoa Niết Bàn.
Qua 5 thời kỳ thuyết
kinh của Đức Phật suốt 45 năm trên vận hành hóa độ chúng sanh, cho ta
một nhận thức đích thực rằng chư Phật thị hiện đản sanh vào cõi Ta bà
này nhằm mục đích là “khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật” bằng
giáo lý (khế kinh) duy nhất không gì khác hơn. Do vậy con người thời xưa
đến với Đức Phật là đến với kinh điển Phật giáo cho mục đích tìm
cầu và học hỏi đạo lý Tánh Không Vô Ngã làm phương tiện giải
thoát. Nếu không nói là sức quyến rũ của đạo Phật là trí tuệ vô ngã tánh
không. Bởi vì sau khi tu tập pháp môn hợp với căn cơ, trình độ của mình,
con người cảm thấy được tuần tự vơi đi ưu phiền, lo lắng, được an lạc
trong lòng. Tức là năng lượng trí tuệ, vô ngã tánh không là con đường
giải thoát (từng phần đến toàn phần) các chủng tử ô nhiểm: tham, sân,
chấp ngã, si mê, vọng tưởng, nghi kỵ, biên kiến, kiến chấp…tuần tự
ra khỏi tâm thức. Được thay vào đó: nềm an lạc, hạnh phúc, thảnh
thơi, an nhiên, tự tại…cứ tiếp tục hiện hữu ở bản thân thực tại khi
tâm thức con người thực tập lời Phật dạy trong kinh điển bằng trực nhận,
quán chiếu vào bản thể vạn hữu, trong đó có mình mà thấy được tất cả đều
không tự thể, do duyên khởi mà có sanh, già, bịnh và chết.
Nói khác hơn, tất cả
hình ảnh văn hóa Phật giáo đều là nền tảng giáo dục tư tưởng bất thiện
của con người được chuyển hóa thành thiện nghiệp, trong đó Kinh,
Luật, Luận là mũi nhọn hàng đầu trên vận hành giáo dục. Còn ngôi
chùa chỉ là phần phụ làm nhân duyên trợ đạo, là nơi giữ gìn kinh
điển, là nơi an trú của các thầy Tỳ Kheo. Cho nên dù một ngôi chùa nhỏ
với mái tranh lụp xụp, nhưng trong đó có vị đạo sư chơn tu nên thông
suốt Tam Tạng Giáo Điển (Kinh, Luật, Luận) sẽ được nhiều người đến đó
xin thụ giáo và được hướng dẫn tu tập, đúng như tục ngữ: “Chùa đất Phật
vàng”. Vì vậy, Phật vàng ở đây không phải tượng Phật được đúc bằng vàng,
mà là vị tăng sĩ chơn tu có đạt đạo thường ở trong các ngôi chùa nhỏ hay
am cốc nơi núi rừng, miền quê hay là phố thị. Chứ không phải, hễ chùa
Phật giáo là phải ở trong rừng núi xa lánh xã hội con người. Chùa có bất
cứ nơi đâu, vì chùa là trụ sở của Pháp bảo và Tăng bảo.
Hay nói khác hơn, ở đâu có chùa, dù nhỏ hay lớn, ở đó có tăng sĩ, ở đâu
có tăng sĩ ở đó có Tam Tạng Kinh, Luật, Luận hiện hữu. Sự hiện hữu của
kinh, luật, luận không có nghĩa là ở đó hàng trăm bộ kinh, bộ luật, bộ
luận được nằm trong các tủ kinh rất ngăn nắp như sự trưng bày cổ vật
trong Bảo Tàng Viện. Sự hiện hữu kinh điển Phật tại ngôi chùa là khế
lý của các thứ Kinh, Luật, Luận phải thường luôn được vị thầy Tỳ
Kheo Tăng hay Tỳ Kheo Ni đem ra giảng dạy và hướng dẫn kỹ càng (Tục đế)
từng khế lý một cho toàn thể nam nữ Phật tử già, trẻ trong mọi giai cấp
có căn cơ trình độ khác nhau được học và tu tập bài Phật pháp hợp với
căn cơ của mình. Tức là già có giáo pháp tu của già, trẻ có giáo tu của
trẻ. Và kể cả giáo pháp cao siêu cho hương linh, người Tăng Sĩ tại ngôi
chùa cũng phải thông suốt để trì tụng mà hóa độ cho chư hương linh được
siêu thoát. Chứ không phải chủ trương duy nhất một pháp môn nào đó, vì
văn hóa Phật giáo tại một ngôi chùa là nền tảng giáo dục con người Phật
tử lên ngôi vị Chơn, Thiện, Mỹ, nên rất là đa dạng, linh hoạt và sinh
động, không thể cứng ngắt được, vì bản chất của pháp môn vốn sinh động
có biến đổi phương cách hóa độ. Nhưng tính chất của Phật pháp và tâm
thức của các vị Tỳ Kheo vẫn thuần nhất vị là vô ngã tánh không. Quá khứ
vô ngã, hiện tại vô ngã và tương lai cũng vô ngã. Mình được tâm vô ngã,
hướng dẫn cho người khác tu tập Phật pháp để được tâm vô ngã như mình.
Đó là nghĩa của sự hiện hữu kinh điển tại ngôi chùa do một hay nhiều vị
Tăng sĩ có sở học, tu và sở chứng được kết tụ lại ở ba năng lực ý
giáo, khẩu giáo và thân giáo khai hội pháp vũ, đem nguồn sống
đạo vô ngã vào lòng người, là hiệu năng của giải thoát, mà ngôi
chùa là môi trường để tu tập chuyển hóa cái tâm hữu ngã thành vô ngã.
Nói đến đây tôi vẫn còn nhớ rõ trên cổng chùa BALA ở Huế có
đề một câu: “BẤT HẠ XA MÃ, BẤT QUÁ TIỂU KIỀU”. Có nghĩa là không
xuống xe, xuống ngựa thì không thể đi qua chiếc cầu nhỏ được. Rõ thật
nơi cái cổng chùa có xây dựng một chiếc cầu nhỏ trông có vẻ đẹp đủ cho
người đi vào một cách thoải mái, nhưng xe hay ngựa đi qua thì hơi khó.
Lý nghĩa sâu xa của câu trên là khuyến cáo con người vào cảnh chùa là
không mang theo trong tâm mình cái chức quan quyền, sự nghiệp giàu sang,
lắm của nhiều tiền, phải bỏ tất cả ý niệm về ngã đó, thì mới có thể học
và tu tập Phật pháp.
Vì thế cho nên, nói đến Phật
giáo là nói đến cuốn kinh, ngôi chùa và vị Tăng sĩ Phật giáo. Phật giáo
không thể không có ba hình ảnh văn hóa này. Trong ba hình ảnh văn hóa
tối thượng này, trong đó cuốn kinh được đặt lên hàng đầu, thứ đến là vị
Tăng sĩ, sau cùng là ngôi chùa. Ngôi chùa tuy hàng thứ ba, con đẻ của
cuốn kinh, nhưng được xem là tối quan trong, vì nó là sở trụ, bao dung,
chứa đựng tất cả mọi sinh hoạt giáo vụ mang sắc thái Phật giáo. Và cũng
là nhân duyên khởi dậy lòng người chưa biết tu, nhân dịp đi hái lộc đầu
năm sẽ có ý muốn tìm hiểu Phật pháp. Cho nên một ngôi chùa dù nhỏ hay
lớn phải được mang sắc thái văn hóa Phật giáo đích thực là trang nghiêm,
thiền vị. Nhất hạng là thời đại ngày nay, là thời đại của văn minh khoa
học kỹ thuật vật chất rất cao, nên đa số người dân của quốc gia có đạo
Phật như Việt Nam, ít ai nghĩ đến việc tu tập Phật pháp, mà chỉ thích
đến chùa lể bái cầu phước vào các ngày lễ Phật Đản, Vu Lan, Tết Nguyên
Đán. Nhưng chùa mà họ đến lễ bái cầu phước, phải là chùa lớn khang trang
có nhiều hình ảnh văn hóa Phật giáo từ trong chùa ra ngoài sân, chứ ít
ai đến chùa nhỏ. Vì vậy mà Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại, chư vị Tăng,
Ni và Phật tử cùng nhau cố gắng hết mình để kiến tạo cho được một ngôi
chùa khả dĩ khang trang có sắc thái văn hóa Phật giáo để làm nhân duyên
cho con người từng bước vào đường đạo một khi đến với Phật giáo. Và cũng
là sức mạnh tinh thần nâng cao tâm ý của hàng Phật tử vốn đang hiện hữu
tu học tại chùa, được lên mức độ tinh tấn cao hơn về tu học và phụng sự
đạo Pháp khi nhìn thấy cái sắc thái uy nghi của ngôi chùa.
Ba hình ảnh văn hóa
Phật giáo tối thượng: Kinh Điển, vị Tăng sĩ và Ngôi
Chùa, mà người Phật tử đã và đang hết lòng cúng dường vào đó để xây
dựng và phát triển cho mục đích được tồn tại Đạo Pháp tại thế gian.
Việc cúng dường trên gọi là chúng dường Pháp, dù cúng dường cho vị Tăng
vẫn được gọi là cúng dường Pháp, vì trong Pháp (Kinh Điển) có Tăng.
Trong Tăng có Pháp, trong Pháp có Phật. Cả ba chỉ là một, được hiện hữu
nơi vị Tăng, được gọi là Hiện Tiền Tam Bảo.
Là Phật tử phải cúng dường vào ba ngôi vị văn hóa
Kinh-Luật-Luận, ngôi chùa và vị Tăng sĩ một cách bình đẳng,
không bên nào trọng, không bên nào kinh. Chúng ta không thể chỉ quan tâm
xây dựng ngôi chùa mà quên cuốn kinh, hay chỉ cúng dường ngôi
chùa mà quên cúng dường Tăng.
Ba hình ảnh văn hóa
đầu não của Phật giáo: Kinh điển, vị Tăng và Ngôi chùa được đặc lên bàn
cân, ta sẽ thấy kinh điển trọng hơn. Bởi vì kinh điển là mẹ đẻ
ra tất cả hình ảnh văn hóa khác trong Phật giáo để trợ duyên cho con
người tu tập Phật pháp đễ dàng bắt gặp chơn lý vô ngã tánh không. Mặc dù
kinh điển là đứng hàng đầu trong nền văn hóa Phật giáo, là thanh kiếm
chặt đứt dây phiền não, là mũi nhọn chọc thủng màn vô minh dầy
đặc, nhưng phải nhờ nhiều nhân duyên khác thì cây kiếm Phật pháp
mới được bén, mũi nhọn mới được nhọn đúng theo khế lý kinh Hoa Nghiêm: “Một
pháp có mặt trong tất cả pháp. Tất cả pháp có mặt trong một pháp”.
Đó là đạo lý tương dung, nên mới nói rằng cúng dường ba hình ảnh văn hóa
trên phải cúng cho bình đẳng. Và quan tâm đến sự thịnh suy của Đạo Pháp
là quan tâm đến cả ba hình ảnh văn hóa đầu não đó.
Có lẽ do không quan
tâm nhiều về Tam Tạng Kinh Luật, Luận Phật giáo Việt Nam, nên đến giờ
này năm 2003, mà Pháp Tạng Phật giáo Việt Nam bằng chữ Việt chưa được
hoàn thành, vẫn còn hiều bộ kinh, Luận bằng chữ Tàu, Pali chưa được dịch
ra chữ Việt. Trong khi đó những nước láng giềng như Trung Hoa, Nhật Bản,
Nam Hàn, Lào, Thái Lan, Campuchia đã có Pháp tạng Phật giáo bằng ngôn
ngữ của họ rất lâu cả thế kỷ qua.
Xét về phước báo
cúng dường Tam Bảo, thì cúng dường Pháp Tạng Kinh, Luật, Luận là
được phước báo cao hơn hết. Bởi vì Kinh, Luật, Luận là động cơ làm cho
tâm con người được có trí tuệ vô ngã là phương tiện vượt thoát sinh tử
luân hồi, cho nên mới nói sự quyến rũ của đạo Phật là Trí Tuệ. Hoa trí
tuệ sẽ không bao giờ mất, được tồn tại muôn đời.
Cúng
dường kinh điển Phật được phước đức cao quý nhất, không những chỉ riêng
cho người đang sống có phát tâm hỷ cúng, mà còn cho cả người chết, nếu
như con cháu, anh em, tộc họ hiện tại phát tâm cúng dường nhắm đến hồi
hướng công đúc cho hương linh ông bà, cha mẹ, quyến thuộc của mình sau
khi đã qua đời, sẽ được mau siêu thoát.
Xét về
thời gian tồn tại của cuốn kinh, ít nhất là cả ngàn năm. Còn
ngôi chùa có cao lắm là ba trăm năm sẽ bị hư hoại. Ấy thế mà người
tu lại quên quan tâm về Kinh Điển Phật. Duy chỉ có số chư tôn
giáo phẩm và một số ít cư sĩ Phật tử trong các giáo hội vốn có tư tưởng
văn hóa Phật giáo và sở học kinh điển, mới quan tâm duy trì, phát triển
nên đã và đang tích cực bảo trợ, giảng luận, phiên dịch các kinh từ
ngoại ngữ ra chữ Việt.
CHÁNH PHÁP
Chữ
Chánh và Chính đồng nghĩa không khác trong văn chương Việt
Nam. Người miền Nam nói là Chánh, người miền Bắc nói là Chính.
Chánh
có nghĩa là ngay ở giữa, thường gọi là trung tâm điểm, tức là điểm ở
giữa hai tiêu điểm trên một khoảng không gian, mặt phẳng, đường thẳng
được cân phân hai khoảng cách bên phải bên trái của nó bằng nhau đúng
kích thước nên gọi là Chánh (Chính).
Chữ
Chánh còn có nghĩa là nguyên gốc, bất biến tức là không bị pha trộn,
đúng hiệu, đúng phẩm chất không giả, như nói chánh thức, chánh
hiệu cầu chứng. Chữ chánh được dùng chỉ cho tâm con người có đạo
đức, nhân cách, như nói tâm chánh trực, tâm trung trực, thật tâm.
Tức là cái tâm ngay thẳng không bị ngã về phe này phe kia, luôn ở giữa
gọi là tâm không thiên vị .
Chữ
Chánh thường đi đôi với chữ CHÂN (Chơn) gọi là CHÂN CHÁNH. Chữ
Chánh và Chân đồng nghĩa. Chữ Chân (Chơn) được nói về tâm tánh con người
và vật thể, như nói chân tâm, chân tánh, chân chất. Ta thường
nghe lời ca: “Con tim chân chánh không bao giờ biết nói dối”.
Chánh pháp ở đây chỉ về kinh điển Phật,
thường gọi là giáo pháp, giáo lý. Giáo nghĩa là dạy. Lý có nghĩa là lý
lẽ của kinh luôn được phù hợp với căn cơ con người, cho nên lý trong
kinh cũng gọi là khế, gọi cho đủ là Khế Kinh. Khế Kinh mà Đức Phật đã
đem ra chỉ dạy và hướng dẫn cho chúng sanh về cách thức tu tập để đạt
được trí tuệ giác ngộ sau khi Phật thành đạo, tất cả đều do đức Phật có
quá trình tu tập trong vô lượng kiếp trước mà chúng ngộ, đắc pháp, đạt
đạo. Chứ không phải do đức Phật tự sáng chế hay hóa hiện, đúng như lời
đức Phật đã nói: “Pháp này (thập nhị nhân duyên) do ta tu
chứng, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu
lý luận, vi diệu, chỉ có người trí mới thấy biết. Con người tâm còn dục
lạc, tham ái, vọng động, tham chấp khó mà thấy được”.
Tất cả
giáo pháp mà đức Phật đã tu đã chứng ngộ đều vốn có trong mọi bản thể
của vạn vật, gọi vốn có này là đế, chánh tông, sự thật, là
chánh pháp như bốn sự thật là Khổ, Tập, Diệt, Đạo thường gọi
là Tứ Đế . Cho nên chánh pháp không có thời gian quá khứ, hiện
tại, tưong lai, ở đâu có bản thể vạn hữu đúng như kinh văn nói: “Dù Phật
có ra đời hay không, giới tánh của các pháp là an trú, là pháp
trụ, là quyết định, là như tánh, bất hư vọng tánh”.
Qua hai
tư tưởng trên: Pháp này do ta tu chứng, thật sâu kín …Dù Phật có ra
đời hay không, giới tánh của các pháp …cho ta thấy rằng do vì căn
cơ, trình độ của chúng sanh trong mọi giai cấp không đồng đều, nên Đức
Phật đã lấy ra những giáo lý mang thực chất nguyên lý diệt khổ để giải
thoát thiết thực từ trong tổng thể đạo lý chứng đắc thành một hệ thống
giáo hóa cho chúng sanh tu tập theo từng pháp môn qua từng thời gian mà
đạt trí tuệ giác ngộ từng phần từ thấp đến cao, gọi từng phần đó là “THỪA”
(chiếc xe). Cho nên từ Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh Văn thừa, Duyên
Giác thừa đến Bồ Tát thừa, người tu tập pháp môn ở thừa nào
vẫn còn phải nguyện bỏ các điều ác, nguyện làm các việc lành để giữ
tâm ý luôn thanh tịnh. Bởi vì mỗi thừa trong năm thừa vẫn còn cái ác
riêng của nó, dù vi tế ở ý niệm về vấn đề nào đó chỉ thoáng qua rất
nhanh trong tâm vẫn được xem là ác, do vậy mà các hàng Bồ Tát phải đi
vào thế gian để tu tập bằng hành động hóa độ chúng sanh mà tập diệt cái
ác vi tế đó (phiền não trụ địa) thật rốt ráo thì mới được vào quả vị
Phật thừa. Từ chổ này cho ta thấy ràng toàn bộ nền giáo lý của Phật
trong năm thời kỳ thuyết kinh suốt 45 năm trên vận hành hoằng hóa độ
sanh trong thời xưa được gồm có giáo lý Thánh đạo và giáo lý Thánh
giáo. Hai giáo lý này đang hiện hữu trong Tam Tạng Kinh, Luật, Luận của
những quốc gia theo Đạo Phật mà chư Tăng Bảo ở những quốc gia đó đã và
đang đem ra thuyết giảng diễn đạt khế lý hướng dẫn các cấp Phật tử của
mình trên đường tu tập bỏ ác làm thiện để giữ tâm ý thanh tịnh là
phương tiện giải thoát. Vì thế cho nên giáo lý Thánh giáo và Thánh đạo
đều là chánh pháp luôn tương dung với nhau mà thời xưa đức Phật khi nói
pháp độ sanh đều nói cả hai Thánh đạo và Thánh giáo. Thánh giáo là Tục
đế, Thánh đạo là Chơn đế, gọi hai giáo pháp này là Nhị đế, nói như
Trung Luận: “Phật thuyết pháp bằng Nhị Đế”.
Thánh
giáo, trong đó có giới luật và những bài pháp có khế lý ví dụ, giả lập,
xây dựng đoàn kết, tình thương, trung hiếu, ân nghĩa, và kể cả lời thăm
hỏi, vỗ về, khuyên nhủ đối với mọi người trước hay sau khi nói pháp
Thánh đạo để làm cho chúng sanh nghe Pháp mà dễ dàng nhận ra Chơn đế,
tức Chân Lý Tánh Không vô ngã của vạn hữu (pháp vô ngã) và con người
(nhân vô ngã). Cho nên trong giáo lý Thánh giáo luôn có tàng ẩn giáo lý
Thánh đạo, hay nói khác trong Tục đế có tàng ẩn Chơn đế, do vậy Tục đế
được định nghĩa là ngôn ngữ diễn đạt, luận lý Thánh đạo để tìm ra chơn
đế.
Giáo lý
Thánh đạo được chứa đựng thực chất nguyên lý giải thoát, như những giáo
pháp: Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Tam Pháp Ấn: Chư hành vô thường,
Chư Pháp vô ngã, Niết bàn tịch tịnh, Hay là không, Vô tướng, Vô tác
v.v…có mặt cùng khắp trong các kinh điển Phật giáo.
Cũng
như vậy, giáo pháp Thánh giáo đều có mặt trong tất cả kinh điển Phật,
như những giáo pháp: Lục Hòa, Tứ Ân, Kinh Vu Lan Báo Hiếu, Bổn Nhiếp Sự,
v.v…
Chư
Tăng, Ni ngày nay tại các quốc gia có đạo Phật trên vận hành hoằng hóa
độ sanh, hoằng dương chánh pháp tức phụng trì chánh pháp và phụng sự đạo
Pháp và dân tộc tại nước mình đều phải thực hành giáo lý Thánh Đạo và
Thánh Giáo, không thể thiếu một trong hai, thì con người được mình giáo
hóa, tâm mới có thể tuần tự xa lìa các vọng thức, ác trược để từng bước
tiến lên mục tiêu yêu cầu là trí tuệ vô ngã, tánh không.
Con
người được Tăng, Ni giáo hóa, ắt hẳn tâm sẽ được có trí tuệ, đó là ai?
Chính là nam, nữ Phật tử tại gia. Người Phật tử tại gia sau khi được
Tăng Ni hướng dẫn học và tu tập hai giáo pháp Thánh đạo và Thánh giáo,
tức là phải thực thành cùng lúc cả hai: Thánh Đạo và Thánh Giáo. Bởi vì
cả hai giáo pháp nói trên đều là CHÁNH PHÁP tương dung làm nhân
duyên cho nhau để phát sinh trí tuệ, cho nên mới nói rằng: tu phước
thiện chính là đang có tu huệ. Bởi vì tất cả những công việc phước thiện
mà thân đang hành động đều đúng với Chánh Pháp do tâm được thông
suốt khế lý hai giáo pháp Thánh Đạo và Thánh Giáo. Một khi hành động
đúng chánh pháp, kết quả rất đúng Chánh Đạo. Chánh Đạo luôn có
mặt trong chánh pháp, chánh pháp là mẹ đẻ ra chánh đạo. Con đường chánh
đạo thuộc vô vi, vô tướng, nên rất khó dùng ngôn ngữ để diễn tả, nói như
Lão Tử: “Đạo khả đạo, phi thường đạo”. Nghĩa là đạo mà nói ra được thì
không có phải là đạo. Bởi vì đạo là vô tướng siêu hình, không có tên gọi
vượt mọi cảm nhận của năm giác quan, nên không rờ mó được, không thấy,
thật trống rỗng, trống không. Vì trống không nên nó sanh ra vạn hữu, và
vì nó là trống không nên bản thể vạn hữu trở về không. Cho nên Đạo
chỉ là cái tên tạm gọi là trật tự, thái độ khiêm cung, ái ngữ, cư
xử lễ độ được hiển lộ ra thần mệnh. Đạo có mặt trong vạn hữu nhưng
ẩn danh, vô hình. Mỗi cá nhân con người tự mình đạt được đạo không ai
đạt dùm cho ai. Đạt được đạo là do tâm con người khởi lên ý niệm chân
chánh rồi hành động chân chánh, là Đạo sẽ đến ngay. Do vậy chánh
pháp không ngoài cá thể vạn hữu, không phải là chân lý riêng lẻ của bậc
cao siêu nào sáng tạo ra. Chánh pháp sẳn sàng sinh sản ra chánh đạo khi
con người hành động đúng chánh pháp, cho nên chánh pháp cũng chính là
chất liệu nuôi dưỡng đời sống, nên nó vô vàn hiện thực riêng biệt của sự
sống từng cá thể. Từ đây cho ta thấy rằng con người trong xã hội ngoài
thế gian được có một đời sống an vui, ấm no hạnh phúc, có đầy đủ tiện
nghi đều do hành động thực hiện vô vàng công việc đúng chánh pháp. Chánh
pháp tại thế gian thường gọi là phép tắc, lẽ phải, chánh lý, nên tính
chất của chúng tự tạo theo quy luật, định lý, định luật tự nhiên. Nói
khác hơn chánh pháp vốn có trong vô vàn hiện tượng, như hai cộng hai là
bốn, dấu hiệu dừng xe ở bốn ngả đường, lane phải là phải quẹo phải ở ngã
ba đường, cất nhà là phải xây móng, nhà càng cao móng càng chắc, ra đi
ngàn dặm được xuất phát từ bước chân đầu tiên, v.v…Nếu con người thi
hành đúng chánh pháp của chúng, con người được có đạo sống thực tại.
Ngược lại không thi hành đúng, con người mất sự sống. Cho nên chánh pháp
có trong đạo Phật và ngoài thế gian, tuy hai mà một, bởi vì chánh pháp
mà đức Phật đã chứng ngộ vốn có trong trần gian, chứ không phải do Phật
hóa hiện. Sự chứng ngộ chánh pháp của đức Phật gọi là Chánh Đạo. Vì vậy
ở đâu có chánh pháp ở đó có chánh đạo, cho nên chánh pháp sản sinh ra
chánh đạo.
Đạo,
như đã nói là vô vi, vô tướng, không có ngôn ngữ diễn tả, không thể dùng
năm cảm quan để cảm nhận. Nhưng ta có thể cảm nhận bằng mắt qua thái độ
đối đãi, trạng thái hành sử từ những con người đối diện, cho nên mới nói
rằng đạo là thái độ khả ài, chỉ có khả ái mới gọi là đạo. Trong
đạo Phật có Tám Nguyên Tắc Hành Động Chân Chính, nói theo hán tự
là Bát Chánh Đạo. Tám nguyên tắc hành động chân chính cũng chỉ là
sản phẩm của Tám Chánh Pháp. Đó là Thấy biết chân chánh (chánh
kiến), Suy nghĩ chân chánh (Chánh tư duy), Nói năng chán chánh
(chánh ngữ), Hành động chân chánh (chánh nghiệp), Mưu sinh
chân chánh (chánh mạng), Siêng năng chân chánh (chánh tinh
tấn), Nhớ nghĩ chân chánh (chánh niệm), Thiền định chân chính
(chánh định).
Tám
nguyên tắc hành động chân chánh trên chính là Tám chánh pháp là mẹ đẻ ra
tám chánh đạo. Nói khác hơn tám thái độ khả ái, trang nghiêm. Có thể nói
thêm rằng: “Nói năng, hành động như chánh pháp và im lặng như chánh
pháp”.
Qua tám
nguyên tắc hành động chân chánh trên cho ta thấy rằng hành động chân
chánh cuối cùng của những người xuất gia, tại gia tu tập Phật pháp trong
Phật giáo phải đạt cho bằng được, đó là Chánh Định, dù tu tập bất
cứ pháp môn nào mình đã chọn, chứ không phải chỉ có tu Tám Chánh Đạo
trên mới đạt được Chánh Định. Chánh định là nhân tố làm nền tảng tiến
đến đạt trí tuệ. Tâm chánh định là tâm thanh tịnh, vắng lặng, tịch tịnh,
không còn vọng động, không còn tham ái, hết tham sân kiến chấp. Khi tâm
được an lạc vào chánh định là năng luợng thấy biết. Thấy biết cái gì?
Thấy mình hành động tội lỗi. Nhớ thấy mà trở về chân chánh. Thấy bản
thân mình và vạn hữu được sinh, và bị diệt là do các duyên giả hợp mà
có, tức là thực tướng của ta và vạn vật chúng sanh là vô ngã, không tự
thể, nên sự hiện hữu chỉ là tương quan duyên khởi mà có sinh, có diệt.
Tâm chánh định như cái tim trong đèn cầy được cháy sáng lên. Ánh sáng mà
hiện hữu, thì bóng tối hết lý do tồn tại, cho nên thấy được bản thể mọi
vật trong không gian. Ánh sáng của đèn là trí tuệ, thấy được bản thể vạn
hữu chính là giác ngộ, vì vậy trí tuệ đi đôi với giác ngộ,
gọi là trí tuệ giác ngộ.
Tâm có
trí tuệ giác ngộ không phải có liền ở cấp độ cao nhất là đại giác, toàn
giác như Phật, mà phải tuần tự qua từng cấp độ ở ngôi vị các bậc Thánh
trước đã, như trí tuệ giác ngộ của Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và cuối
cùng là trí tuệ Phật gọi là Trí Tuệ Toàn Giác, Đại Viên Cảnh Trí.
Thời gian đạt được trí tuệ giác ngộ từ thấp đến cao như vậy không thể
hạn định là bao giờ, tùy theo sự tu tập và nhận thức của ta về sự duy
trì và phát triển lên cấp trí tuệ giác ngộ là cần thiết cho sự giải
thoát, mới đáng nói. Do vậy một số đông Phật tử chúng ta đang có trí tuệ
giác ngộ trong tâm mà không biết mình đang có. Chẳng hạn thấy đời nguời
vô thường, vạn vật có được bản thể sinh tồn là do các duyên hòa hợp, của
cải vật chất như phấn thổ, như bọt bèo…liền khởi tâm xả bỏ hết, không
còn tham muốn danh chức địa vị gì nữa. Đó là trí tuệ giác ngộ đúng theo
nghĩa giác ngộ là sự nhận thức ngược lại với tất cả mọi nhận thức trước
giờ của ta đối với sự vật. Thời gian có trí tuệ giác ngộ này không được
duy trì tiếp tục, bởi vì sau đó khởi lên ý niệm bất thiện để rồi có lời
nói và hành động bất nhã gây khổ đau buồn phiền, bức xúc cho người khác
tại một nơi nào đó trong giao tế. Sau đó tự thấy mình có lỗi nên ăn năn,
tự sám, thề nguyện không tái phạm, quyết tâm tu tập thêm nữa để bỏ ác,
làm thiện, giữ tâm thanh tịnh, đó là trí tuệ giác ngộ. Nhưng lâu lâu rồi
lại tái phạm, cũng lại ăn năn sám hối.
Với
người tu tập Phật pháp trong Đạo Phật là phải duy trì cái tâm thanh tịnh
tức tâm định một cách thường xuyên đừng để mất, vì nó là năng lượng phát
sinh tâm trí tuệ giác ngộ. Tâm giác ngộ là tâm thấy biết (tri kiến) như
đã nói ở trên, thì phải duy trì cái thấy biết đó một cách thường xuyên,
luôn tồn tại trong tâm thức là năng lượng tiến lên các cấp độ giác ngộ ở
các bậc Thánh và Phật thừa.
Tâm
thanh tịnh, tâm chánh niệm, tâm chánh định, tâm trong sáng, tâm trí tuệ,
tâm giác ngộ …tất cả các cụm từ này được gọi là ĐẠO, thường nói
Tâm Đạo, Đạo Tâm. Nói khác hơn, tâm ý và năm cảm quan bên ngoài (mắt,
tai, mũi, miệng và thân) của ta gọi chung là sáu thức luôn thường hoạt
động chân chánh, đó là Đạo, như Bát Chánh Đạo, được giảng
rõ lại với cái tên: Tám nguyên tắc hành động chân chánh. Rõ thực
trong đó ta thấy sáu thức: Tâm ý bên trong và năm thức bên ngoài ở bản
thân của người học và tu tập Phật pháp thường an trú vào chánh niệm,
tỉnh thức, đó là Đạo, nói như Hòa Thượng Nhất Hạnh: ăn, nói, đi, đứng,
nằm, ngồi, tụng kinh, chấp tác Phật sự … đều là Đạo, do tâm hành
chánh pháp.
Tóm
lại, chủ trương của Đạo Phật là đưa con người vượt thoát sanh tử luân
hồi khổ đau bằng trí tuệ giác ngộ, đó là mục tiêu chính yếu, nên con
người đến với đạo Phật không ngoài mục tiêu ấy. Mà như thế con người
phải học và tu tập Phật pháp ở hai chánh pháp Thánh Đạo và Thánh Giáo
tương dung nhau, đúng như kinh Hoa Nghiêm: “Một pháp có mặt trong tất cả
pháp. Tất cả pháp có mặt trong một pháp”. Người Phật tử thực hành hai
chánh pháp nói trên một cách tổng thể được tựu trưng ở ba việc: Phụng
trì chánh pháp tức là duy trì và phát triển Chánh Pháp, trong đó
người Phật tử phải học và tu tập và đồng thời hướng dẫn cho các bạn đạo
cùng học, cùng tu như mình. Bên cạnh đó tích cực phát triển chánh pháp
theo khả năng của mình, như dịch thuật viết giảng luận Phật pháp, góp
công đức in ấn kinh sách báo chí Phật giáo vào mọi tầng lớp con người
vào xã hội…
Phụng sự đạo pháp và dân tộc ở ba tiêu đề
Hộ Dân, Hộ Quốc và Hộ Đạo trong các lãnh vực văn hóa, giáo
dục, xã hội (đề tài này đã nói rõ ở trước trong bài Tinh Thần Văn Hóa
Giáo Dục Thiền Định). Và Phật Sự tại các chùa hay trong tập thể
cư sĩ. Phật sự rất đa dạng qua nhiều hình thái khác nhau ở mỗi cá nhân
tình nguyện theo khả năng và trình độ văn hóa.
Ba việc
Phụng Trì, Phụng Sự và Phật Sự nói trên, được xem là những phương tiện
tu tập mang tính chất Tục Đế và Thánh Giáo để đạt tới Chơn Đế và Trí Tuệ
Giác Ngộ, do vậy dù mỗi cá nhân phụ trách mỗi việc, nhưng vẫn liên đới
với mọi người trong tập thể cư sĩ hay Tăng, Ni gọi là đồng sự để
cùng nhau đem đến lợi ích chung cho mọi người (lợi hành) là an
vui, hạnh phúc, ấm no, và trí tuệ giác ngộ giải thoát, trong đó mỗi cá
nhân được có. Được như vậy do thực hành những giáo pháp Thánh Giáo:
Bốn Nhiếp Sự, Lục Hòa và Tám Thánh Đạo, tức Bát Chánh Đạo
trên vận hành ba việc lớn Phụng Trì, Phụng Sự và Phật Sự đúng chánh pháp
thì mới đạt Chánh Đạo, đúng như lời Thánh Giáo Phật dạy: “Làm việc thiện
từ việc nhỏ đến việc lớn đều được xây dựng trên tinh thần vô ngã”. Cho
nên ba việc đại sự như đã nói trên mà mỗi người Phật tử chúng ta đang
hành được gọi là tu phước nhưng đồng thời cũng đang tu huệ
(trí tuệ giác ngộ), bởi vì mọi ý niệm của ta vượt thoát cái ngã. Do vậy
mọi việc phước thiện chúng ta đang làm tại bất cứ nơi đâu đều hướng đến
lợi ích chung cho chúng sanh, không nghĩ về mình, thì phước đức đó liền
trở thành công đức vô lậu. Đó là phần quả của ta khi ta không mong cầu
mà lại được đến.
Qua tư
tưởng vô ngã trong các việc phước thiện để đạt được trí tuệ giác ngộ,
người Phật tử chúng ta trong các tập thể cộng đồng Phật giáo, chẳng hạn
tại một chùa hội Phật giáo, các chức vụ trưởng, phó chỉ là phương tiện
tu tập cho mình và cho mọi người (đồng sự và lợi hành) để cùng được cái
tâm thanh tịnh, trí tuệ giác ngộ. Mỗi Phật tử chúng ta nhận thức được
như vậy và hành động đúng chánh pháp, thì mọi chướng duyên phiền não
không bao giờ hiện hữu.
TINH THẦN GIÁO DỤC THIỀN
ĐỊNH TRONG PG
Văn hóa
Phật giáo là nền tảng cơ bản trong việc giáo dục tư tưởng con người, đó
chính là Giới Luật và Phật pháp một khi con người quay về đạo Phật cho
mục đích tìm các con đường giải thoát bằng trí tuệ giác ngộ vô ngã bình
đẳng đều phải tiếp nhận Giới Luật và Phật pháp vào lòng, rồi chịu lắng
nghe lời Phật (thời xưa) và chư tôn giáo phẩm (thời nay) hướng dẫn tu
học và thực hành hai văn hóa cao thượng đó, sau khi nhận thức rõ ràng
thấy được chân lý trong hai pháp (giới pháp và Phật pháp). Qua đây ta
thấy nền giáo dục trong Phật giáo không nhồi sọ tư tưởng con người. Giáo
pháp Phật không có giáo điều bắt phải tin, không bao giờ bị lạc hậu,
luôn luôn tiên tiến, sinh động, linh hoạt, tươi mát dạt dào tình cảm vào
lòng người một cách tự do, dân chủ, không áp đặt, không khuyến dụ, bắt
ép phải tin vào giáo pháp mình, bảo người nghe phải nghe kỹ và suy xét
kỹ lời kinh sau khi nghe rồi mới tin. Chứ đạo Phật không bắt ai phải tin
vội. Tin vội như thế là tin có tính cách cuồng tín. Chữ tin ở trường hợp
này là chưa thấy. Chứ khi đã thấy rồi thì chữ tin không thành vấn đề. Vì
vậy việc hoằng dương chánh pháp trong Phật giáo là chủ trương hướng dẫn,
diễn đạt hơn là có tính cách truyền giáo.
Cho nên
trong kinh Phật thường nhấn mạnh chữ Kiến (thấy rõ) hơn là chữ Tín. Vì
vậy mà Tám mô thức hành động Chơn Chánh (Bát Chánh Đạo), Chánh Kiến được
đứng vị thứ SỐ MỘT. Chánh Kiến là thấy đúng chân lý, đúng sự thật. Thấy
bằng tâm khi bản thân con người thực hành giới pháp và Phật pháp giữa xã
hội, năm giác quan của thân tiếp xúc với trần cảnh, tâm con người thấy
biết thật tướng của vạn pháp (trong đó có mình) đều vô ngã, duyên sinh,
vô thường hoại diệt không tồn tại vĩnh cửu, tức là hết thảy mọi hiện
tượng chỉ là hiện hữu tương quan, nên chúng không có tự tính. Cho nên
nền giáo dục của Phật giáo là rèn luyện sáu căn (mắt, tai, mũi, miệng,
thân và ý) phải được chuyển đổi trở thành trí thức Phật giáo (hiểu biết
- tỉnh thức) trong đó chính yếu là cái Ý (tâm). Vì Ý là chủ tể chỉ đạo
cho năm giác quan có liên quan mật thiết. Cho nên Tâm Ý an trú vào vị
trí chánh niệm, thanh tịnh, thì năm thức bên ngoài cũng phải được chánh
niệm, thanh tịnh theo, dù cho mắt có nhìn đến sắc đẹp bao lâu, một khi
tâm ý đã được an trú vào tĩnh giác, thì sự nhìn đó của mắt được xem là
thấy các tướng của sắc chỉ là vọng, giả hợp, không tự tính. Nếu như tâm
ý chưa được chuyển đổi qua tĩnh giác, chắc chắn bị đắn chìm vào biến
sắc.
Nói
khác hơn, nền giáo dục của Phật giáo là nhắm vào rèn luyện cái tâm con
người phải được liễu ngộ chân lý của các pháp. Từ liễu ngộ phải được
chuyển sang giác ngộ, chính là lúc tâm có tuệ giác vô ngã bình đẳng. Từ
đó con người thấy được rõ mười cái NHƯ của vạn pháp và bản thể chúng
sanh là: 1.-Như thị tướng, 2- Như thị tánh, 3- Như thị thể, 4- Như thị
lực, 5- Như thị tác, 6- Như thị nhân, 7- Như thị duyên, 8- Như thị quả,
9- Như thị báo, 10- Như thị bổn mạc cứu cánh.
Và thấy
mười thanh tịnh bình đẳng:
1.-
Thanh tịnh bình đẳng với Pháp của Phật quá khứ; 2.- Thanh tịnh bình đẳng
với Pháp của Phật vị lai; 3.- Thanh tịnh bình đẳng với Pháp của Phật
hiện tại; 4.- Thanh tịnh bình đẳng về giới; 5.- Thanh tịnh bình đẳng về
Tâm; 6.- Thanh tịnh bình đẳng về sự thanh tịnh do diệt trừ các quan
điểm, sự nghi ngờ và do dự; 7.- Thanh tịnh bình đẳng về nhận thức đạo và
phi đạo; 8.- Thanh tịnh bình đẳng về tu hành trí và kiến; 9.- Thanh tịnh
bình đẳng về sự quan sát càng lúc càng cao về các pháp bồ đề phần; 10.-
Thanh tịnh bình đẳng về sự giáo hóa hết thảy chúng sinh.
Khi tâm
con người thấy được hai đạo lý MƯỜI NHƯ- MƯỜI BÌNH ĐẲNG ở trên,
tất nhiên ắt phải thấy bản thân mình đã hết, hay còn nhiều, ít những thứ
si mê, ngu muội, vọng thức, tham lam tật đố … trong nội thức. Nếu còn dù
ít, ai cũng phải lo tiêu diệt cho sạch. Nếu đang trên đà hết, tâm vẫn an
nhiên tự tại, không lấy làm vui mừng, không cảm thấy hỷ lạc trong lòng.
Đó là thái độ có văn hóa Phật giáo, có giáo dục thiền định trong nội
thức. Tâm có giáo dục thiền định là tâm tri kiến. Tâm có tri kiến mà
không thấy mình tri kiến mới là tri kiến. Nhờ không thấy mình tri
kiến tức tâm vô ngã, cho nên bảy chơn chánh sau cùng đều thành tựu viên
mãn thông suốt, không bị đắp mô, không vướng vào đâu cả (Nên đọc lại bài
Vô Trước sẽ được hiểu rõ thêm).
Vì vậy mà Chánh tri
kiến được áp dụng một cách tích cực và cương quyết trong nền giáo dục
thiền định của Phật giáo từ ngàn xưa khi Phật còn tại thế cho đến thời
đại ngày nay đối với bảy chúng đệ tử Phật, những ai có quyết tâm tự mình
giáo dục lấy mình trên bước đường tu tập Phật pháp để đạt trí tuệ giác
ngộ, không thể không áp dụng Tri Kiến. Do vậy, tri kiến luôn luôn tồn
tại ở sáu thức cùng chung với Giới Luật hơn ở Phật pháp. Vì Giới Luật
làm cho tâm thanh tịnh. Tâm có thanh tịnh, tâm mới thấy biết rõ khế lý
của pháp môn mà tu tập. Trong khi tu tập pháp môn, bỗng nhiên tâm thấy
rõ thực tướng của các pháp (trong đó bản thân mình) vô ngã, không tự
tính, nên hiện hữu của các pháp chỉ là tương quan theo lý Duyên Khởi.
Nói một cách khác, tri kiến là sản phẩm của Giới Luật, Giới Luật là vị
Đạo Sư làm nhiệm vụ đuổi hết các khách trần ra khỏi ngôi nhà tâm thức,
tâm thức được trở về tự thể tánh không. Vì thể của tâm là luôn
luôn vốn không tương ứng với phiền não. Từ đây cho ta thấy rõ ràng
phương tiện tiêu diệt các phiền não sẵn có trong nội thức và phiền não
khách trần không thể xâm nhập, chính là Giới Luật và Phật pháp. Hai
phương tiện này là mũi nhọn xung kích đâm thủng màn vô minh, là chất xúc
tác làm rục rã các chất ô nhiễm ra khỏi tâm ý.
Vì vậy mà trên vận
hành những việc ở thế gian (thế gian pháp) để mưu sinh cho đời sống, và
cũng như mọi hành động phụng sự Đạo Pháp và tu tập Phật pháp của người
Phật tử tại gia đều có mặt Giới Luật và Phật pháp tương
dung nhau trong đó như hai cánh tay phải, trái trong cơ thể con người.
Nói rõ hơn, hai thứ giới pháp và Phật pháp luôn luôn canh cánh trong
lòng làm chất liệu nuôi dưỡng tâm ý được no đầy thanh tịnh và ngăn tâm ý
không phát sinh ra tư tưởng bất thiện đối với những ai quyết tâm tìm cầu
trí tuệ để làm hành trang giải thoát. Chứ không phải ăn chay mà giữ
giới, lúc tụng kinh niệm Phật trước tượng Phật A DI Đà, nghe thuyết
pháp tại chùa mới thực hành Phật pháp. Thực hành Phật pháp ở bất cứ nơi
đâu như đang bố thí tài vật cho kẻ nghèo, tâm niệm luôn có tình thương,
không tự mãn về của cải, không sanh lòng bực tức khi gặp trắc trở khó
khăn vì lý do nào đó v.v…Hành động làm pháp bố thí đó là Phật pháp với
tâm thanh tịnh. Năng lượng làm cho tâm thanh tịnh đó là giới luật. Thực
hành Phật pháp mà không có giới luật đi theo như cầm con dao không có
cán như đang chặt những đồ vật. Và như thể gạo và nước có trong nồi mà
bếp không có lửa, thì ta không có được cơm ăn. Lửa và cán dao
được biểu tượng cho Giới Luật. Gạo, nước, lưỡi dao được biểu
tượng cho Phật pháp. Phật pháp là những pháp môn để đạt đạo vì có
năng lực chuyển hóa tâm ác thành thiện. Nhưng nhờ tâm thanh tịnh trong
sáng, đó là Giới Luật. Cả hai Giới Luật và Phật pháp là nền tảng giáo
dục tư tưởng người Phật tử tại gia được có đời sống chánh đạo ngay tại
thế gian. Tức là thường xuyên nhiếp thọ Giới Luật và Phật pháp vào lòng
suốt trên vận hành sống và làm việc cho đời, cho đạo. Tức là thường
xuyên chánh niệm, tâm được thường xuyên an trú vào tỉnh thức. Tâm hằng
luôn luôn tỉnh thức là tâm thường hằng có đức tính từ bi, được hiện hữu
ra thân miệng trong đối đãi với mọi người ở thái độ có nhân cách, đạo
đức, hiền hòa.
Sự nhiếp thọ hai thứ
Giới Luật và Phật pháp cùng một lúc như vậy được gọi là Tinh Thần
Giáo Dục Thiền Định. Xét về thể tính của thiền, nó thường hằng
Định, Tĩnh Lự. Tuy nhiên thiền cũng chỉ là sản phẩm của Giới, vì
thiền nương vào Giới mới có tĩnh lự, có Định. Được có Định là mục tiêu
định hướng của sự thực hành Phật pháp để bắt gặp Chân Như là Đạo,
là tính không, vô ngã ở các pháp tức thập tướng các pháp.
Vì vậy mới nói rằng Giới Luật và Phật pháp do đức Phật nói ra làm phương
tiện hướng dẫn, dạy dỗ (giáo dục) cho đệ tử Phật ở hàng xuất gia, tại
gia tu tập bỏ ác, làm thiện để cho tâm ý được thanh tịnh, trí tuệ là
năng lượng vượt thoát sinh tử. Từ đây ta mới thấy rõ nền tảng giáo dục
trong Phật giáo là giáo dục tư tưởng con người biết cách tiêu diệt vô
minh, phiền não, phiền trược, tham ái, vọng thức… ra khỏi tâm thức, để
tâm được trở về tánh không, vô ngã là phương tiện vượt khoát sinh tử.
Phương tiện cho nền tảng giáo dục đó là toàn bộ đạo lý của Phật, trong
đó Kinh và Luật là phần chủ yếu của nền văn hóa Phật giáo
cho việc giáo dục. Còn những hình ảnh văn hóa khác như ngôi chùa, pho
tượng, chuông mõ …chỉ là phần phụ làm nhân duyên trợ đạo mà thôi.
Tóm
lại, Giáo Dục Thiền Định là lấy giới luật và Phật pháp tức nhiếp thọ cho
việc tu tập rèn luyện tâm thức vô minh thành Bồ Đề. Nói cách khác, trí
tuệ trong Đạo Phật là phương tiện đi lên gọi là siêu thoát sinh tử luân
hồi, đến cảnh Niết Bàn tịch tịnh hay cõi cực lạc an vui vĩnh cữu con
người đều phải tu tập giới luật và Phật pháp cùng tương dung với nhau
không riêng lẻ. Tu tập một cách tinh tấn thường xuyên, nhẫn nhục thường
xuyên, ba la mật thường xuyên mới có thể đạt được trí tuệ.
Môi
trường nhiếp thọ giới pháp và Chánh Pháp tức tu giới luật và Phật pháp,
không hạn định là ở đâu. Bất cứ nơi đâu, bến tàu, chợ búa, khách sạn,
quán ăn, v.v…Người tu giới luật và Phật pháp đều phải vào các nơi đó để
rèn luyện giáo dục tư tưởng mình khi tâm ý mình đang tu giới luật và
Phật pháp, thì đâu còn sợ gì nữa mà không vào! Nói như Bồ Tát Thái Hư
Đạo Sư: “Đạo tràng thanh tịnh ở đâu cũng có, ngay cả ở cao lâu tửu điếm
vẫn là đạo tràng thanh tịnh. Đích thực, tâm thanh tịnh đứng đâu cũng
thanh tịnh khi mắt nhìn các sắc (sắc trần). Tai nghe âm thanh êm dịu hay
chát chúa (thanh trần). Mũi ngửi mùi thơm, mùi thúi (hương trần). Lưỡi
nếm các vị chua (vị trần). Thân chạm xúc vào các vật (xúc trần). Ý (mạt
na) nhận biết các pháp (pháp trần) do năng thức truớc chuyển vào sau khi
chúng tiếp xúc với lục trần. Nhưng tâm thức (mạt na) vẫn an nhiên thanh
tịnh, không hề lay chuyển. Tâm như vậy là tâm được giáo dục bởi Giới
Luật và Phật pháp.
Trước
khi đào sâu vào cái tâm có văn hóa giáo dục thiền định và không có
văn hóa giáo dục thiền định Phật giáo, ta ôn tập lại nghĩa hai chữ
văn hóa.
Tục ngữ
Việt Nam có câu: “Có văn có chất mới thật con người”. Con người thật mà
tục ngữ Việt Nam nói ra đó là con người nam, nữ trên đời có cái tâm đẹp.
Tâm đẹp là tâm có văn hóa. Tâm văn hóa làm cho đẹp thân
chứ không phải thân đẹp, và đẹp miệng chứ không phải
miệng đẹp. Đẹp thân là hành động luôn luôn có tư cách đạo
đức, chạc, khiêm cung, đứng đắn. Đẹp miệng là lời nói thật thà,
ái ngữ, có tình thương yêu, bao dung, tha thứ, kính trọng mọi người từ
trong gia đình, họ hàng, quyến thuộc, ra đến ngoài xã hội không phân
biệt giai cấp trong đối đãi và xử thế. Được như vậy do tâm có đạo lý
nhân bản.
Tâm có
chứa đựng đạo lý nhân bản, chính là tâm vốn có phẩm chất Năm Giới
Luật. Tâm có phẩm chất năm giới đích thực trong lòng được thể hiện
ra ngôn ngữ và hành động đẹp gọi là tâm có văn hóa giáo dục Phật giáo
đúng như Luật Ưu Bà Tắc Giới Kinh nói : “Năm giới luật tại gia
Cư sĩ vốn có bản chất đạo đức cá nhân là nền tảng hạnh phúc của đời sống
tại thế gian. Giới này cũng là nền tảng căn bản tiến lên Sa Di tập giới,
Đại Tỳ Kheo giới, và Bồ Tát giới cho đến Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác”.
Qua tư
tưởng của Luật Ưu Bà Tắc Giới Kinh, ta thấy rằng tất cả giới luật Phật
dạy dù thấp như năm giới, cao 250-348 giới, đều có cùng bản chất thanh
tịnh, chính là hơi thở, sức sống của hành giả trên con đường tu tập Phật
pháp để đạt mục đích là trí tuệ. Nếu không có giới thường trực trong
tâm, thì tâm người tu tập sẽ chết theo nghĩa không thanh tịnh, không có
trí tuệ, dù cho hành giả đang ở ngôi vị Tăng, Ni hay Cư Sĩ tại gia. Tâm
không thanh tịnh, trí tuệ là tâm không có giáo dục thiền định. Ngược lại
tâm có trí tuệ thanh tịnh là tâm có Giáo Dục Thiền Định. Tâm có
Giáo Dục Thiền Định là tâm sống trong định. Nói như Thế Tôn Quan: “Phật
thường ở trong định”.
Sống trong định
không có nghĩa là phải bắt bản thân cứ ngồi im trong am cốc, hay là đi
đứng phải ra vẻ thiền sư, thiền sinh. Cho nên Phật đã dạy các thầy SaDi
và cả Tỳ Kheo: “Không được giả trang thiền tướng để cầu mong người khác
cung kính mình”. (Luật oai nghi của Sa Di). Sống trong định là
tâm thường chánh niệm tỉnh thức suốt trên vận hành sống và làm
việc hằng ngày trong đạo hay ngoài đời một cách thư thái, an nhiên,
thảnh thơi theo việc làm, sự tu tập, nhưng tâm không khởi lên ý niệm
bất thiện (biên kiến, kiến chấp, tự mãn, ngã mạn, tham sân…)
Tâm sống trong định,
tức là tâm có chánh niệm, tỉnh thức, gọi là tâm đó là tâm có Giáo Dục
Thiền Định. Ngược lại không có Giáo Dục Thiền Định.
Ạ - TÂM CON NGƯỜI CÓ GIÁO DỤC
THIỀN ĐỊNH
Như đã nói năng lực
chuyển hóa giáo dục tâm con người luôn an trú vào định, đó là giới, nên
sở trụ của giới là tâm ý, và tồn tại nơi thân, miệng một cách thường
hằng tịch tịnh, vắng lặng (định) không giới hạn thời gian, không gian,
bình đẳng, không ngưng đọng ở giai cấp nào như dòng máu nóng chảy về con
tim rồi lưu chuyển cùng khắp cơ thể rồi lại trở về tim, đó là cái đà
sống của con người thuộc thể chất.
Thì cái đà sống của
bảy chúng đệ tử Phật (Tỳ Kheo Tăng, Tỳ Kheo Ni, Sa Di Tăng, Sa Di Ni,
Thích Xoa Ma Na nữ dự bị xuất gia, Ưu Bà Tắc: cư sĩ nam, Ưu Bà Di: cư sĩ
nữ) từ ngàn xưa đến nay đà sống có định, tịch tịnh, vắng lặng trong tâm
thức không thể thay đổi đúng như lời ngài Ca Diếp nói với đại Thánh
Chúng: “Điều gì Phật không chế ra, nay ta không chế, điều gì Phật đã
chế ra thì chớ nên thay đổi”. nhân cơ hội các vị Thánh Chúng hỏi
ngài A Nan là Phật có dạy giới cấm nhỏ nhặt đó là gì không, thì ngài A
Nan ngập ngừng không biết.
Rõ thật, giới luật
và Phật pháp không bao giờ thay đổi, vẫn thuần nhất vị từ thuở Phật tại
thế cho đến nay. Dù cho có sử dụng nhiều ngôn ngữ Tục Đế trong việc diễn
giảng hướng dẫn cho con người tu tập Phật pháp bằng cách nào đi nữa vẫn
không ra ngoài Nhứt vị (một vị), thường gọi tuỳ duyên bất biến.
Nhứt vị ở đây là đà sống có định, thanh tịnh vắng lặng, tịch tịnh
như đã nói ở trên.
Cho nên Giới Luật
và Phật pháp như nước trong những con sông trong đất liền đều
chảy ra biển được biến thành vị mặn. Vị mặn được biểu tượng là
vị giải thoát. Vị giải thoát đó là trí tuệ giác ngộ. Đạt được trí
tuệ là do đà sống có định. Có định là do thực hành giới luật và
Phật pháp cùng lúc tương dung nhau mà được phát sinh trí tuệ.
Trí tuệ trong Phật
giáo là cái biết của tâm thức rất là rộng lớn bác học. Nói theo thuật
ngữ Phật học, tâm có cái biết bác học là Chánh Tri Kiến, chỉ cho
trí tuệ như thật hay thật trí. Tức là cái thấy biết bản thể vạn hữu
không tự thể, chỉ là hiện hữu tương quan do duyên khởi mà có, đó là thật
trí, là như thật mà 10 như, 10 thanh tịnh bình đẳng trong giáo pháp Phật
đã chỉ rõ.
Với Phật tử xuất gia
và tại gia có được trí tuệ như thật (thật trí) trong lòng do qua quá
trình nhiếp thọ (tu tập) giới luật và Phật pháp một cách không mệt mỏi
trên vận hành quán sát vào bản thể vạn hữu mà thấy được mọi hiện tượng
vạn hữu thực tại chỉ là hiện hữu tương quan, nên chúng không tự thể do
duyên khởi mà có. Tâm thấy rõ vạn hữu không tự thể trong sinh, diệt như
vậy, tức là thấy rõ mười Như Thị trong thực tại, nên mới nói thực tại là
Chân Như. Vì vậy mà tâm không khởi lên ý niệm nhàm chán thế gian. Dù cho
tâm trí đang thấy đời người là một giấc mộng, hạnh phúc thế gian như
nắng quái qua cầu, của cải thế gian như bèo bọt, thân người như sương
mai, như ánh chớp chiều tà. Tất cả đều bị hoại diệt bởi cây gươm thời
gian chặt đứt, nhưng lòng không nao núng, nhàm chán thế gian.
Chẳng
những không nhàm chán, không chạy trốn thế gian, không tránh né cảnh khổ
đau ách nạn của con người, và kể cả không thủ chứng Niết Bàn, mà lại
phát khởi đại từ bi tâm hướng vào dân tộc và Đạo Pháp
trên quê hương và xa hơn nữa là cả nhân loại và Phật giáo thế giới do
trí tuệ như thật sanh khởi. Nếu không nói là dòng tâm thức từ bi và trí
tuệ luôn hằng chuyển hướng ra xã hội con người đang bị khổ đau ách nạn
và hướng vào bản thân Phật giáo của mình vì cũng đang cùng chịu hoàn
cảnh với dân tộc vể khổ lụy, ách nạn, áp bức, giam cầm, tù đày, mất mát,
chia rẽ …và chánh pháp bị suy đồi.
Dòng
tâm thức quán chiếu vào hai nơi đời, đạo ấy không hạn định thời gian,
không gian. Dù bản thân đang an trú nơi chùa chiền thanh vắn, ngục tù xà
lim, bị phong tỏa nơi am sơn hẻo lánh, nơi đô thị phú cường, v.v…vẫn
thường hằng quán chiếu được hiển lộ ra trạng thái tư duy, tịnh mặc trầm
tĩnh…trong có vẽ như bi quan chán đời vậy! Nhưng kỳ thật đang trong việc
xử dụng cái trí tuệ như thật của mình, tức phương tiện trí để tìm
ra phương cách cứu khổ dân tộc ra khỏi ách nạn và phụng trì chánh pháp
qua nhiều năm tháng có khi trọn cả cuộc đời chưa một lần được an nghĩ,
nhưng tâm hồn luôn an lạc dù bản thân đang bị đi vào bão lửa bạo quyền
thế gian, lặn chìm trong biển trần phiền não. Nếu không nói là cuộc rong
chơi trong phiền não, trong sinh tử bắt gặp Bồ Đề, Niết Bàn của những
hành giả có văn hóa giáo dục Thiền định Phật giáo.
Người
Phật tử xuất gia và tại gia có phẩm chất VĂN HÓA GIÁO DỤC THIỀN ĐỊNH
PHẬT GIÁO ở tại xứ đông xứ tây, Âu Mỹ hay Việt Nam đều có định hướng
đi tới Phật Thừa. Thì ắt hẳn trên đoạn đường đi tới ai cũng có cái tuệ
giác trong lòng không ít thì nhiều, không cao thì thấp như những hạt kim
cương trong lòng đất, có những hạt đã chắc nịch cứng cáp trong sáng, có
những hạt đang trên đà tự cấu tạo bản chất trong sáng. Đã là hạt ngọc
kim cương non, hay già bị quăng vào vũng bùn, gói trong miếng vải dơ, nó
vẫn là kim cương khi đem ra rửa sạch chất bùn. Đã là tuệ giác Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát, con người ấy dù sống ở đâu, tâm thức luôn luôn nghĩ
đến chúng sanh đang bị khổ não, khổ ách trong biển trần ác trưọc. Rồi từ
đó ra đi lê đôi gót từ bi, trí tuệ mà hiện hữu giữa truờng đời quê hương
đầy khổ đau, ách nạn…để hành động công việc HỘ DÂN, HỘ QUỐC và
không quên quay vào bản thân Phật giáo của mình để HỘ ĐẠO, HỘ
DÂN, HỘ QUỐC ở mục tiêu Ly Khổ Đắc Lạc, HỘ ĐẠO ở hai mục tiêu
Chuyển Mê Khai Ngộ, Đoạn Hoặc Chứng Chân.
HỘ
DÂN, HỘ QUỐC bằng hành động thực hiện các
mục tiêu chính yếu: Quyết tâm giải thể chính quyền nào trên quê hương
không có tự do dân chủ đang đàn áp dân tộc, giải trừ ách nạn, giải phóng
nô lệ xiềng xích, hòa nhập và góp phần xây dựng nền văn hóa cổ truyền
dân tộc, cổ vũ và gia nhập vào các tổ chức đánh đuổi ngoại xâm để bảo vệ
bờ cõi, vận động xây dựng nền dân chủ, tự do để kiến tạo một đất nước
thịnh vượng cho dân tộc được ấm no hạnh phúc.
HỘ
ĐẠO bằng hành động thực hiện các mục tiêu
chính yếu: Học Phật một cách thông suốt, phụng trì chánh pháp, tức
duy trì chánh pháp được tồn tại và phát triển Kinh, Luật, Luận vào quần
chúng, xây dựng nền văn hóa Phật giáo, phụng sự đạo pháp đúng chánh đạo
…
Phụng
trì và phụng sự Đạo Pháp khác với Phật sự. Phật sự là những việc làm có
tầm vóc hạn hẹp tại chùa, tu viện, bằng tay chân hơn là trí óc. Những
Phật sự đó như: làm bếp, rửa chén bát trong các ngày đại lể Phật, sửa
sang cây cảnh trong vườn chùa, quét dọn vệ sinh trong và ngoài chùa,
đánh máy văn thư cho trù trì, soạn thảo chương trình và MC trong buổi
lễ, ngồi thu ngân và kể cả chủ lể cho buổi tụng kinh, v.v…
Phụng
sự Đạo Pháp có tầm vóc quốc gia dân tộc, cộng đồng Phật giáo và cả quốc
tế. Mà bản thân của từng Tăng Ni, Phật tử trong những ngôi chùa trực
thuộc Giáo Hội Phật giáo truyền thống dân tộc như GHPGVNTH là những nhân
tố có ít, nhiều văn hóa giáo dục thiền định trong lòng nên họ thường
tình nguyện dấn thân hành động phụng sự Đạo Pháp. Cho nên nghĩa phụng sự
Đạo Pháp là đem đạo Phật đi vào cuộc đời bằng những hình ảnh mang sắc
thái Phật giáo như tổ chức đại hội Phật giáo, đại lể Phật Đản, hội luận
văn hóa Phật giáo, v.v…làm nhân duyên khai mở tâm thức con người bừng
dậy Phật tánh khi tai nghe và mắt thấy tại bất cứ nơi đâu trên truyền
hình, truyền thanh.
Những giáo vụ phụng
sự Đạo Pháp ấy được mỗi cá nhân Tăng, Ni, Phật tử hành động như: Vẽ ra
những bản hiệu có chứa đựng nội dung sáng tỏ ý nghĩa cho một đại hội văn
hóa Phật giáo, tích cực đóng và ráp những giá sách để trưng bày các tác
phẩm văn hóa Phật giáo, đánh máy và in ấn những tài liệu đại hội văn hóa
Phật giáo, viết lên những tư tưỏng xây dựng giáo hội, xuất bản các đặc
san văn hóa Phật giáo, tổ chức các buổi hội luận về Phật giáo như hội
luận 8 điểm Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam của Hòa Thượng Quản Độ, vận động
ngân quỹ cho công việc phiên dịch Pháp Tạng, tích cực phiên dịch các
kinh điển, thành lập một đài phát thanh Phật giáo, tổ chức đại lễ Phật
Đản nơi công cộng, quay phim những buổi lễ Phật giáo và chiếu lên truyền
hình, vân vân…
Một số công việc
trên đều nằm trong khuôn khổ Phụng Sự Đạo Pháp. Công việc phụng
sự Đạo Pháp được đòi hỏi nơi con người Tăng, Ni, Phật tử trong các chùa
trực thuộc Giáo Hội Phật giáo truyền thống (GHPGVNTH) hay ngoài truyền
thống có Bồ Đề Tâm đích thực trong lòng nên sẵn sàng dấn thân lao động
bằng tay chân và trí óc tư duy một cách hăng say, nhiệt tình không biết
mệt mỏi, không hạn định không gian, thời gian ở đâu có hiện tiền Tam Bảo
mang sắc thái phụng sự Đạo Pháp rõ thực là có mặt ở đó để thi hành vai
trò phụng sự. Bởi vì mọi việc làm như vậy là hướng đến phụng sự cho dân
tộc quốc gia và cộng đồng Phật giáo cũng như cả thế giới được hưởng lấy
lợi lạc an vui, hạnh phúc ở đời sống vật chất và tinh thần, chứ không
phải riêng cho một cá nhân, tập thể nhỏ tại ngôi chùa, nếu không nói là
cục bộ, lợi dưỡng riêng tư. Cho nên nghĩa Phụng Sự Đạo Pháp là Phụng
Sự Chúng Sanh, nói như kinh văn Pháp Cú: “Cứu giúp chúng sanh là
cúng dường chư Phật”, đó là cách cúng dường cao thượng nhất lên chư
Phật. Tư tưởng cứu giúp chúng sanh là cúng dường chư Phật rất là
thâm sâu vi diệu, khó thấy khó hiểu. Chỉ có những con người Tăng, Ni,
Phật tử có Bồ Đề Tâm tức có văn hóa giáo dục thiền định mới thấy, mới
hiểu. Thấy gì và hiểu gì? Thấy biết chư Phật, Bồ Tát thường thị hiện Đản
Sanh làm người tại thế gian trong nhiều giai cấp, chủng tộc. Cho nên
hành động phụng sự Đạo Pháp của họ rất là bình đẳng hướng ra con người
ngoài xã hội nhiều hơn tại chùa. Chính cái tâm phụng sự bình đẳng đã là
Phật rồi. Bình đẳng mới có thể bắt gặp Phật, gặp Bồ Tát, nếu không nói
là quên phát nguyện gia nhập cộng đồng sau giờ phút thọ giới.
Ba việc Phụng Trì
Chánh Pháp, Phụng Sự Đạo Pháp, Phật Sự tại chùa, mà tất cả hàng đệ
tử Phật xuất gia, tại gia ai cũng phải làm không nhiều thì ít, tùy theo
hoàn cảnh khả năng, không thể không làm. Bởi vì tất cả việc làm trong
ba mục tiêu trên là những pháp trợ duyên cho tâm thức hàn giả được
phát sinh tâm có định lực (tĩnh lự, tịch tịnh, vắng lặng) một cách
thường trực không dứt khi hành giả tu tập pháp môn chính của mình là
Tịnh Độ Niệm Phật A DI Đà cầu vãng sanh, Thiền Quán Niệm, Trì Chú Đà La
Ni, vân vân…
Nói khác hơn, trên
đường tu tập và thực hành pháp môn mà mình đã chọn, người Phật tử vừa tu
tập pháp môn của mình, lại vừa làm những công tác trong ba mục tiêu
phụng trì, phụng sự và Phật sự theo trình độ của mình. Người có trình độ
văn hóa thấp thì làm Phật sự, người có trình độ văn hóa cao thì làm việc
phụng trì, hay phụng sự. Trình độ và việc làm tuy có khác nhau, nhưng
đều cùng đi đến cứu cánh, đó là tâm thanh tịnh, tính không, vô ngã
đúng như lời Phật dạy: “Làm việc từ thiện trong Đạo Phật từ việc nhỏ đến
việc lớn đều được xây dựng trên tinh thần vô ngã”.
Qua tư tưởng có phẩm
chất Văn Hóa Giáo Dục Thiền Định Phật Giáo và những hành động Bồ
Tát Đạo cho đời cho đạo một cách thiết thực như đã nói ở trên của những
hành giả có văn hóa giáo dục thiền định, ta thấy trong Đại Pháp Thân
Phật giáo thế giới nói chung từ xưa đến nay đã có vô số Đạo Sư và Phật
tử đã vào đời cứu khổ chúng sanh và xây dựng Đạo Pháp, dân tộc trên quê
hương mình, như một vua A Dục tại xứ Ấn Độ, là một Phật tử tại gia có
phẩm chất giáo dục thiền định trong lòng, cho nên ông đã xây dựng nhiều
cơ sở Phật giáo, trong đó một cột trụ lớn và cao để ghi lại lịch sử Phật
Đản Sanh, xuất gia, thành đạo, thuyết pháp độ sanh và nhập Niết Bàn tại
xứ Ấn Độ mà đã một thời vắng bóng do quân Hồi Giáo tiêu diệt. Đồng thời
vua A Dục cũng hướng dẫn cho các quan thần, tướng sĩ và dân chúng học
Phật và thực tập Phật pháp để đạt phẩm chất văn hóa giáo dục thiền định
Phật giáo mà xây dựng đất nước. Vì vậy mà nước Ấn Độ được phồn thịnh,
dân Ấn Độ được an cư lạc nghiệp dưới thời của vua A Dục.
- Như
một Đạo Sư Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 Tây Tạng đã và đang vận động toàn dân
Tây Tạng trong và nước và các dân tộc yêu chuộng tự do dân chủ trên thế
giới trong công cuộc tranh đấu với chính quyền Trung Quốc đang xâm lăng
Tây Tạng để đòi cho dân tộc và Đạo Pháp Tây Tạng đuợc tự trị, xây dựng
quốc gia và hành đạo theo truyền thống văn hóa Tây Tạng.
- Như
các vị Thiền Sư Vạn Hạnh, Trúc Mộc…các vua Trần Nhân Tông, Thái Tông…các
quan thần: Tuệ Trung Thượng Sĩ …dưới các triều đại Lý Trần Việt Nam đã
đưa đất nước và dân tộc đến ngôi vị tột đỉnh phồn vinh trong nhiều lĩnh
vực: văn hóa luôn phát triển nhiều sắc thái mới, nền giáo dục đầy tràn
đạo lý nhân bản, kinh tế dư thừa vật chất, xã hội luôn an ninh trật tự
nên dân tộc được an cư lạc nghiệp, quân sự luôn được chiến thắng ngoại
xâm phương bắc nên tổ quốc được an ninh bờ cõi. Về Đạo Pháp thì nhiều
Tăng Sĩ tài giỏi và dạt dào, Phật tử tại gia được tu tập Thiền Quán,
Tịnh Độ, Mật Tông, Tam Tạng giáo điển được giảng luận rộng rãi vào quần
chúng, chùa chiền được xây dựng khắp nơi, v.v…
Trong
thời đại ngày nay, có rất nhiều vị Tăng Sĩ và Phật tử có phẩm chất văn
hóa giáo dục Thiền Định, cho nên đã và đang hành Bồ Tát Đạo nhiều việc
Hộ Dân, Hộ Quốc và Hộ Đạo. Điển hình rõ nét một vài vị sau đây: Hòa
Thượng Thích Trí Quang, Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, cố Hòa Thượng
Thích Đức Nhuận, Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh, và các Thượng Tọa Tuệ Sỹ,
Thích Trí Siêu, Lê Mạnh Thát. Những công hạnh Bồ Tát của quý ngài được
toàn dân có đạo lý nhân bản dân tộc tính, và Phật tử, cũng như nhiều cơ
quan truyền thống quốc tế có tầm vóc trung thực đã thấy rõ qua quá trình
hành động Bồ Tát Đạo của quý ngài đối với dân tộc Việt, nên đã thường
trực loan tin cho thế giới biết.
Nhất
hạng là Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh được thế giới biết đến nhiều nhất về
công hạnh cứu khổ nạn cho người dân Việt trong thời chiến tranh qua hình
ảnh các sinh viên trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội hành Bồ Tát Đạo trên
quê hương trước 1975, và cứu đói, cứu lạnh cho các em mẫu giáo nghèo khổ
tại các vùng kinh tế mới xa xôi nơi núi rừng hẻo lánh, những làng quê,
xã, quận mà cha mẹ các em lâm vào cảnh túng thiếu cũng như Bộ Giáo Dục
Cộng Sản Việt Nam không quan tâm đến việc giáo dục công dân nên không
xây cất trường học cho thanh thiếu nhi tại địa phương sau 30.4.1975 cho
đến nay suốt gần 30 năm chương trình cứu đói, cứu dốt vẫn tiếp tục tăng
lên số lượng đối tượng được cứu và ngân quỹ lên đến 50 ngàn mỹ kim mỗi
tháng để giúp gần 1,100 lớp mẫu giáo tại các nơi như đã kể ở trên. (Lá
thư Làng Mai số 25, ra ngày 12.2.2002 trang 56).
Tóm
lại, tâm có phẩm chất Văn Hóa Giáo Dục Thiền Định của người Phật tử xuất
gia, tại gia đích thực được hiển lộ rõ nét ra bên ngoài bản thân ở ngôn
ngữ và hành động thiện nghiệp đối với Đời, với Đạo Pháp.
VỚI ĐỜI
Tâm có Văn Hóa Giáo Dục Thiền Định:
1. – Luôn luôn biết
ơn tổ quốc, các vị anh hùng tiền nhân đã có công lập quốc, giữ nước.
Biết ơn những chiến sĩ trong quá khứ xa xưa qua các triều đại Đinh, Lê,
Lý, Trần, Quang Trung Nguyễn Huệ …Và