Thích Phổ Huân
1. Nhìn qua đạo giải thoát
Thiên kỷ mới, đón mừng một
kỷ nguyên khoa học tuyệt vời do con người xây dựng. Kỹ thuật vi tính, điện
năng tin học đạt đến mức gần toàn hão - giúp con người ngồi lại gần nhau
mà hai bên cách xa hàng ngàn dặm (miles), giúp con người tiết kiệm biết
bao công sức, và công cụ để giải quyết gần theo ý muốn. Nền văn minh đầu
thế kỷ 21 thật đáng hãnh diện cho nhân loại đang cư trú ở hành tinh xanh
(trái đất), và có lẽ trong quỹ đạo thái dương hệ (solar system) này hành
tinh xanh của chúng ta đang đợi sự thử thách lớn để tìm một nền văn minh
khác!
Kỷ nguyên văn minh tinh
xảo gần như chu toàn, thì tư tưởng và quan niệm sống con người cũng phải
phù hợp theo. Nếu sản phẩm nào không hài hòa tương ứng với nền văn minh
khoa học, tức thì sẽ bị đào thải. Do đó kỷ nguyên mới đánh đổ tất cả những
gì là mờ ám mê muội, mê tín trá hình mang tính chất phản khoa học, phản
thực tế.
Vậy thì vấn đề siêu khoa
học, tâm linh con người phải chỉnh đốn lại, phải nhìn lại bằng cặp mắt
khoa học hơn mà không dị đoan mê tín. Từ đây các tổ chức tâm linh, tín
ngưỡng thuộc về huyền ảo mê tín, tự động sẽ đẩy mình rời xa cuộc sống hiện
tại, mà kết quả là không còn gì để nói ở kỷ nguyên này. Điều đó thấy rõ ở
các nước văn minh giàu có. Hiện tượng ở giới trẻ, họ không còn như ngày
xưa nữa. Họ bây giờ không thể tin càn, tin mù quáng, tin không căn cứ bình
phẩm, nhận định, suy tưởng, lý giải, thiết định v.v...
Viễn ảnh sự thật đã và
đang xảy ra hiện nay như thế, vậy với đạo Phật thì sao? Câu trả lời chỉ là
nhắc lại, vì từ lúc giáo chủ của đạo Phật, đức Thích Ca Mâu Ni, được xem
như một con người, có kiểm chứng bởi lịch sử qua kinh điển và chứng tích
cổ vật còn lại, đã tuyên bố ngay khi đem giáo lý phổ cập vào quần chúng.
Ngài dạy rằng, con người hãy nên tin những gì, sau khi đã tư duy rõ biết
điều đó, điều mà có thể thực hành mang lại lợi ích cho người và mình...Do
như vậy mà đừng vội tin bất cứ ai, dù đó là những người nỗi tiếng, những
người tu sĩ được ca tụng chứng đạo, hay những kinh sách được truyền tụng
từ xưa... cho đến Thầy của các người...Thậm chí đến lời Ngài đang nói,
cũng phải được cân nhắc, xét nghiệm tư duy trước khi thực hành.
Đó là con đường thực hành
theo đạo giác ngộ. Gọi rằng đạo giác ngộ giải thoát ở đây thật đúng, như
vậy không có thành kiến phân biệt đến các đạo khác. Cũng như khoa học là
định luật tự nhiên mà ai cũng có thể xử dụng trong đời sống. Và vậy đạo
giác ngộ đâu khác gì các môn khoa học thế gian. Cho nên hiện nay, đạo giác
ngộ đang đi vào một số quốc gia có tiếng văn minh khoa học chẳng thấy trở
ngại gì. Chẳng hạn Mỹ quốc là quốc gia có tiếng văn minh khoa học, nay lại
thật chiếu cố đến đạo giải thoát. Tuy nhiên xem ra cũng là bình thường, vì
đạo giải thoát là đạo khoa học tự nhiên, nên không có gì để ngạc nhiên cả.
Thế thì khoa học càng tiến bộ đến mức nào đi nữa thì đạo giải thoát vẫn là
đạo của khoa học, và dù năm mươi năm nữa con người có di dân lên được hỏa
tinh (Mars) để sống, thì đạo giải thoát vẫn là đạo của khoa học. Hay nói
một cách khẳng định không sợ lầm, là dù một trăm năm, ngàn năm tới, bấy
giờ con người có thể bỏ vào túi áo cái máy điện tử nhỏ bằng hộp quẹt đốt
lửa, rồi có thể bay đi đây đó, thì đạo giải thoát vẫn là chân lý không gì
đánh đổ, và con người trong thời đại này trước sau cũng phải quay về tìm
hiểu tu học hơn.
Cho rằng sao lại chủ quan
đưa đạo Phật lên cao như thế! Vì đạo giải thoát soi thấu bản chất con
người, và lột tả hết cả những bí ẩn về con người; do thế con người có thế
nào đi nữa, có là cha đẻ ra khoa học đến đâu thì vẫn là con người trong
cái bản chất mà đạo Phật đã vạch trần ra sự thật của nó. Cho nên thời
gian, không gian không thành vấn đề với đạo giải thoát, và vậy đạo giải
thoát xuất hiện ở đâu con người sớm muộn sẽ đạt đến chân hạnh phúc ở đó.
Nhưng nếu có vấn đề trái ngược thế nào thì đó là luật nhân quả, và rồi
cuối cùng sẽ đạt được chân hạnh phúc. Vấn đề trái ngược là hiểu đạo giải
thoát mà không thực hành nên kết quả không đạt được như ý.
Nhìn nhận mà thấy ở các
nước văn minh cường thịnh vật chất, con người vẫn sống bất an về tinh
thần, và bệnh thần kinh căng thẳng vẫn đang cần nhiều bác sĩ tâm lý. Nhưng
kết quả do không trị liệu tận gốc, nên từ trong gia đình cá nhân ra ngoài
xã hội, đau khổ vẫn lan tràn. Cảnh vợ chồng ly dị, bất hòa, con cái tự do
hành động, ảnh hưởng hầu như đến tất cả gia đình ở những xứ văn minh giàu
có. Và người ta vì vô phương cứu chữa nên cố tìm quên vào thú vui vật
chất, nhưng càng cố quên lại càng căng thẳng hơn, vì có thú vui nào mà
không có giờ chung kết! Do đó tìm hiểu lại, thấy rằng đạo giải thoát giúp
con người giải quyết được vấn đề bất an này, và giải quyết vấn đề theo
Phật học tâm lý, để thích ứng với nền luân lý đạo đức mà khoa tâm lý học
bên ngoài không thể cứu chữa được. Đó là những vấn đề thực tế chớ không
phải bi quan. Bi quan là bất lực ngồi đó mà nhìn con bệnh chết, hay nhìn
sự thật đau buồn vì là tất cả hoài công cứu chữa, để rồi ôm vào đầu toàn
là hình ảnh mịt mờ đen tối.
Thế thì cần nên tìm hiểu
đạo giải thoát để khỏi ngộ nhận, và trong đời sống làm người cần nên tìm
học pháp giải thoát để đời sống thực tại hôm nay sáng sủa hơn, tươi mát
hơn và có ý nghĩa hơn. Cho nên trong kinh có nói được làm người là khó,
nhưng được biết Phật pháp (pháp giải thoát) còn khó hơn gấp trăm ngàn lần.
Tại sao vậy? -Vì nếu hiểu được pháp giải thoát tất nhiên không còn luân
hồi đau khổ nữa.
Đưa ra vài dữ kiện về đạo
giải thoát, để thấy rằng mình thật may mắn chọn đúng đường đi, trong một
thân xác vật chất tồn tại ngắn ngủi, và một tư duy (tư tưởng) hạn hẹp này.
Thiết nghĩ chúng ta vô cùng may mắn tập tành từng bước, bước vào siêu xa
lộ giải thoát hoàn chỉnh nhứt của một kiếp người, đó là tin hành theo pháp
giải thoát.
Nếu hiểu nghĩa tu,
theo đạo giải thoát hợp với khoa học tự nhiên, thiết nghĩ như sau:
Tu Phật có thể tu tại nhà,
có thể tại công xưởng làm việc hay tại siêu thị chợ búa. Tu Phật không ép
buộc phải đọc kinh, lễ lạy, không phải thắp nhang khấn vái, không phải mặc
cho được áo vàng...Tất cả những hình ảnh này chỉ là phương tiện, hay
phương cách giúp người đi đến chỗ toàn thiện, chớ không phải là cứu cánh
ngay hình ảnh đó. Vì hình ảnh chỉ là bên ngoài, mà tu Phật lại từ bên
trong. Khi bên trong đã thấm hiểu thì bấy giờ bên ngoài (tụng kinh, lễ
Phật...) mới hoàn toàn là một hình ảnh đẹp - nó sẽ hiện ra ánh sáng chiêu
cảm với ánh sáng Phật (giác ngộ) làm người chung quanh hấp thụ được, khiến
họ thích đến gần ta hơn. Ngược lại chỉ là hình ảnh giấu đi phiền não, và
càng tu làm người chung quanh càng nghi ngờ ra. Điều này nói chung cả tu
sĩ và cư sĩ.
Một điều căn bản nhất,
phải xem Phật là bậc giác ngộ, bậc Thầy dạy ta học đạo giải thoát, chớ
Phật không phải ông trời, hay thần linh có uy quyền sai khiến hay giúp đỡ
đưa ta về thế giới an lành. Phật chỉ giúp đỡ được khi ta giúp ta trước
nhất, bằng không Phật chẳng giúp được gì. Nên hiểu rằng Phật là danh từ
chung, nghĩa là ai cũng có thể thành Phật, chớ không phải Phật chỉ ở trong
Chùa, Tịnh Xá hay chỉ có ở xứ Ấn Độ. Thời nay chúng ta đang sống thời kỳ
của Phật Thích Ca, nên hình ảnh Ngài là Phật duy nhất ở cõi Ta Bà này,
nhưng ở những mười phương thế giới xa xăm kia lại có vô số Phật. Riêng
chúng ta nếu tu cũng sẽ thành Phật, sẽ vào một thế giới nào đó để độ chúng
sanh, vì Phật có nghĩa là giác ngộ, tỉnh thức không còn tham, sân, si, ra
khỏi ba cõi, Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới
. Hiểu được như vậy sẽ không còn mê tín và
hợp cách với khoa học. Tuy nhiên vì ta đã say ngủ trong vô lượng kiếp, nên
cần phải có giáo pháp của bậc giác ngộ (Phật) đánh thức ta dậy nên gọi là
TU đó thôi! Cho nên nói cao hơn, theo chư vị Bồ Tát lớn, khi đã lãnh hội
lời Phật dạy thì không còn tu gì nữa, vì tự nhiên mỗi hành động ý nghĩ tự
nó đã tu rồi, còn gì nói đến chuyện TU! Các bậc tổ xưa thường hành theo
lối này. Chẳng hạn nghe chuyện Tế Điên Hòa Thượng tưởng là huyền thoại,
nhưng thật ra có vô số Bồ Tát lớn đang hành hoạt gần giống như vậy. Và
thực tế nhất là Lục Tổ Huệ Năng qua việc tu hành của Ngài thật bình thường
chẳng có gì lạ.
Tuy nói vậy nhưng cũng
không phải đơn giản, do vì phải tu từ bên trong mà ra, nên phải nhìn thẳng
vào mình rồi hài hòa đến mọi người, lấy cái đau của người mà học, nhìn
phúc lạc của người mà tư duy. Nhưng mấy ai đã nhìn thẳng được mình, nghĩa
là chinh phục chính mình! Việc này không phải là dễ, nên Phật đã dạy người
thắng được mình mới là chiến thắng tối cao nhất.
Kết lại thì đạo giải thoát
thật là một đường hướng an lành vui đẹp có thể hài hòa mọi hoàn cảnh và
mang lại cho nhân loại sự thương yêu chân thật nhất. Xin trích lời của nhà
Phật học người Mỹ, Tiến sĩ Peter D. Santina, đã
‘‘Nhiều người có địa vị
đáng kể trong xã hội Tây Phương là Phật tử hoặc có người không phải là
Phật tử, nhưng rất có cảm tình với Phật Giáo. Thí dụ cụ thể là nhà bác học
Albert Einstein đã nhận xét trong bài tự thuật rằng ⮧ là người không tôn
giáo, nhưng nếu ông là một người có tôn giáo thì ông phải là một Phật tử
’’
Nguyên văn, ‘‘There are
many persons of considerable standing in western societies who are either
Buddhists or who are sympathetic towards Buddhism. This is most clearly
exemplified by the remark made by Albert Einstein in his autobiography,
the remark That he was not a religious man, but if he were one, he would
be Buddhist.’’
2. Nhân duyên vào đạo Phật
Mỗi người mỗi nhân duyên
làm quen Phật pháp, từ việc làm quen trở thành gắn bó và từ gắn bó tới thể
nhập lần về giác ngộ giải thoát. Qua nhiều nhân duyên đến với Phật pháp
khiến chúng ta phải suy tư, trân quý, gìn giữ mãi buổi đầu phát tâm vào
đạo.
Có nhiều duyên ngộ dẫn ta
đến cửa đạo, ở đây xin được gợi lên một vài hình ảnh nhân duyên quen thuộc
dắt ta làm quen với đạo giải thoát, để từ đó vui mừng thấy rằng đó là một
thiện duyên.
Nhân duyên qua âm thanh
Như một nghệ thuật âm
nhạc, đạo Phật có những pháp cụ: chuông, mõ, khánh, tang...những thứ này
tạo nên âm thanh nhạc điệu, giữ được cách hòa tụng đều đặn nhịp nhàng, phụ
họa cho lời kinh trầm bỗng, khiến người tụng, người nghe đi sâu vào thế
giới âm điệu cao siêu, sâu thẩm giải thoát. Âm điệu chuông mõ hòa theo âm
điệu lời kinh, có tác động sâu kín vào tâm hồn người nghe. Tác động này
làm bừng dậy tâm thức, vơi nhẹ đi phiền não trong tâm. Qua đó khiến một số
người cảm nhận niềm rung cảm, lắng đọng mà cho rằng chưa bao giờ tìm được
một sự rung cảm lạ lùng như thế. Một sự rung cảm gần như xúc động, cơ hồ
kéo lôi ta về một thế giới thanh tịnh sâu kín của âm thanh siêu thoát. Cho
dù ta không hiểu trọn âm nghĩa của kinh, nhưng âm thanh đã chuyên chở hết
những rung động và vượt lên trở ngại ngôn ngữ. Điều này đã làm chúng ta an
tịnh, không cần thắc mắc nghi vấn cũng không cần tìm cầu giải thích; duy
chỉ có nghe và thanh tịnh nghe, để được an lạc, để được trút bỏ tất cả âm
thanh thô kệch lộc cốc, phiền hà trong đời sống. Nghe như vậy ta đã cảm
được cái nghe huyền diệu, vượt lên...Cái nghe như Ngài Đơn Hà Thiền sư
giải thích: ‘Chấm dứt được vọng động phân biệt của nội tâm, tánh nghe
(chơn tâm) mới hiễn bày, trạng thái tâm lý này gọi là ‘Nhập lưu văn tánh’
(Tánh nghe đã nhập vào thực tánh). Bấy giờ công năng tri giác của tâm đối
ngoại thì không còn ràng buộc bởi thanh trần (ngũ trần), đối nội thì không
trú trước vào không tuệ. Đó là điểm đạt đạo của sơ tâm, và là cứu cánh của
viên ngộ.
Việc nghe Pháp do các vị
giảng sư, giúp người nghe tìm vào đạo dễ hơn, vì lời pháp rõ ràng cụ thể,
giảng dạy ngay vào chân lý đánh thức tánh giác đang say ngủ và hiển bày
pháp lý vi diệu bằng cách nhắc lại lời dạy của kinh điển. Người nghe pháp
vào đạo không hoàn toàn là do nghe từ vị tu sĩ, mà có khi từ một người
bạn, hay một người không quen biết, thậm chí từ một đứa nhỏ tình cờ lập
lại, nhái lại một vài tiếng trong kinh, hoặc một bài hát một vở kịch diễn
về Phật pháp v.v...
Những nhân duyên kỳ lạ
ngẫu nhiên ấy chỉ là một cớ duyên, đã hội đủ tàng chứa trong tâm thức được
thời duyên xuất phát để lãnh hội. Do đó có người khi chưa trọn duyên trọn
quả, tâm thức không thể đón nhận được những thanh âm Phật pháp, và vậy âm
thanh kinh kệ, thuyết giảng chẳng gợi một cảm xúc gì. Tuy nhiên âm thanh
kia vẫn không mất đi đối với người không duyên đón nhận; nó sẽ là một thứ
duyên xa, tàng trữ vào tâm thức (thức thứ tám) một chỗ sâu sắc, vi tế chứa
đựng làm mầm mống chủng tử cho kiếp vị lai xa xôi; và chắc chắn sẽ nẩy mầm
khi đủ duyên hội tụ. Vậy thì chung quy cả hai âm thanh lời kinh tiếng mõ,
những pháp ngữ đều khởi lên nhân duyên vào đạo trong sứ mạng tác động và
khơi dậy tánh giác.
Qua hình sắc:
Hình ảnh gợi nên cảm xúc
cho ta rất nhiều, có thể nói hình ảnh tác động rất mạnh vào tâm thức. Hình
ảnh dẫn duyên vào đạo, đại lược là phong cảnh thanh nhàn yên tịnh, tượng
hình Phật Thánh, và cảnh sống sinh hoạt của các vị tu sĩ nơi chốn già lam.
Với người đang bị vây bủa
bởi lo toan, khích động tinh thần trong môi trường vật chất hỗn độn, họ sẽ
dễ dàng tìm được cảm giác dễ chịu trong cảnh thanh tịnh. Nhưng không chỉ
những người này mới cần đến cảnh yên bình như vậy, mà chính người đã sống
nơi thôn quê vốn đã yên tịnh, vẫn thấy được cảm giác yên tịnh lạ lùng
trong cảnh yên tịnh của đạo. Phong cảnh chùa có một sự yên lạ như thế, một
sự yên lạ thoảng niềm vui, một sự yên lạ như vỗ về an ủi, thì thầm trong
tâm, một sự yên lạ giữ được dung hòa giửa tâm và cảnh... Sự yên lạ này hẳn
khác biệt sự yên lạ cô liêu, u tịch bên ngoài của thế gian, chỉ tìm thấy
được bằng nhỉ căn, nhãn căn (tai, mắt) là giác quan thô kệch. Và thường
thì cảnh yên lạ đó phải tọa lạc không gần quá thị tứ, mới tạo được cái yên
tịnh thường tình để biến thành cái yên tịnh đạo.
Có người sau khi viếng
chùa họ bỗng phát tâm. Sự phát tâm của họ càng bộc phát mạnh hơn, khi đối
trước Phật đài. Hình tượng Phật với nụ cười từ bi, trí tuệ với tư thế hoa
sen (kiết già) thiền tọa tự tại xuất trần. Chỉ cần nhìn thấy vậy thôi, đã
đủ nhân duyên vào đạo. Lại có người tìm vào đạo khi chiêm ngưỡng phong
cách các vị tu sĩ qua chiếc y vàng, nhất là chiếc y của phái nguyên thủy;
hình ảnh này gần gũi với ảnh tượng đức Phật khi Ngài còn tại thế.
Khơi dậy lòng ước vọng,
ngưỡng mộ hơn nữa, khi đối trước cảnh tụ hội của chư tăng trong mùa an cư
kiết hạ, cảnh tượng này chẳng những rực rỡ màu y vàng giải thoát, lại làm
sống dậy trong mắt người xem, một thế giới của những con người sống đời
thanh tịnh.
Duyên vào đạo bằng hình
ảnh có thể còn nhiều, tùy vào sự cảm nhận của mỗi người, nhưng tất cả hình
ảnh như vậy đều có một tác động đưa họ về nguồn tâm Phật tánh.
Qua biến cố
Vào đạo bằng con đường
thuận duyên, thiện lành là điều dễ thấy, ngược lại do từ nghịch duyên
trong cuộc sống khiến người ta quay về tìm đạo cũng không phải chuyện lạ.
Thời Phật tại thế, có câu chuyện thương tâm của vị tín nữ con Trưởng giả
dòng Phạm Chí, đã trải qua cực cùng đau khổ; cảnh chết chồng, chết con xảy
ra ngay trong một ngày đêm, rồi tiếp theo là hung tin, nhà bị cháy, cha mẹ
cô và người trong nhà tất cả đều chết...Cô như điên dại, nhưng không bao
lâu chưa được nguôi ngoai lại sa vào sự thương yêu chết chóc với những đời
chồng khác. Đau đớn ghê rợn hơn, cô bị người chồng điên loạn buộc phải ăn
thịt con mình...Trong khổ đau như vậy, cô bỗng nhớ về đấng Giác Ngộ rồi
lần tìm đến... Không bao lâu cô trở thành vị Tỳ kheo ni đầy đủ phẩm hạnh
và chứng Thánh quả Vô sanh (A La Hán).
Ngày nay trường hợp đau buồn, phát tâm vào
đạo cũng khá nhiều. Tuy nhiên những đau thương biến cố cùng cách ấy khi đã
nguội dần, sau thời gian về với đạo người ta lại hay quên đi, và những gì
tàn tích xưa lại được khơi dậy, rồi từ đó nhen nhúm bộc phát hồi nào không
hay biết, để rồi đánh mất đi nhân duyên ban đầu. Nguyên nhân này cũng có
thể là bước vào đạo qua con đường mong được xoa dịu cứu vớt khó cảm được
cái cảm vị của mùi hương giải thoát, để từ đó khó giữ được bước đi lâu dài
hơn. Tuy vậy cũng có người từ sự đau thương đưa họ vào đạo một cách nhiệt
thành, tinh tấn đến cuối cuộc đời.
Xét cho cùng, trong đời
người ai cũng ít nhiều trải qua những biến cố khổ đau. Từ biến cố như thế
làm nên những suy tư cho cuộc sống, và do đây tìm hiểu vấn đề nhân sinh
đạo lý; mà Phật pháp là con đường diệt khổ cho nên thấy rằng, qua biến cố
khổ đau người ta có cơ hội nhận ra con đường giải thoát hơn.
Qua những tìm tòi
nghiên cứu
Nhân duyên vào đạo qua con
đường sách vở, chữ nghĩa, số người này có thể khá nhiều so với thời gian
cách đây khoảng hơn 1000 năm, hay gọi là thời tượng pháp. Lý do xã hội bây
giờ là xã hội văn minh cơ khí, điện tử. Người ta làm việc gì cũng cần có
kiểm chứng, thực nghiệm. Vấn đề nào thiếu luận cứ, biện chứng khoa học xem
như mê tín, vô bổ. Do vậy tìm về đạo người ta thật cẩn trọng, mà cẩn trọng
bằng cách nào nếu không phải là bằng sự uy tín qua sách vở, nghiên cứu có
tính cách triết học, khoa học do những tác giả bác học, học giả, sử gia
viết ra.
Trong các đại đệ tử của
Phật, Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên trước kia là hai nhà du sĩ trí
thức, khao khát tìm cầu chân lý. Khi chưa gặp Phật các Ngài đã tự tìm đạo
qua kiến thức hiểu biết của chính mình, do sức hiểu biết cao rộng như thế
khiến không một danh sư nào trong thời đó lôi cuốn hai Ngài được. Cuối
cùng, nhân duyên gặp vị tu sĩ trong dáng điệu xuất trần, đệ tử của đấng
Thiên nhân sư (Đức Phật), rồi chỉ thưa thỉnh vài câu đã đưa hai vị trí
thức tìm đến đạo giải thoát. Khi đã nhận hiểu chân lý giải thoát, các Ngài
mới thấy sự hiểu biết của hai Ngài chỉ là những hạt bụi lăn tăn trong vũ
trụ, khi so với vô số mây bụi là những giáo pháp mà đức Thế Tôn giảng dạy.
Từ đó hai Ngài bừng sáng niềm tin, bắt đầu dấn thân vào đạo, rồi không bao
lâu đắc quả Thánh.
Ngày nay việc nghiên tầm
giáo điển trước khi vào đạo cũng là một phương tiện phổ thông. Do vậy một
số người đến với đạo bằng con đường này đã giúp họ có lòng tin sâu sắc, vì
đơn giản rằng Phật pháp đã vượt cao hơn những gì họ tưởng. Nếu nói về khoa
học thì giáo lý đạo Phật được diễn bày thật khoa học qua cái nhìn về vũ
trụ, nhân sinh. Điều này được thấy, qua nhận định của nhà học giả Âu Châu,
Henri Percheron mà Giáo sư Nghiêm Xuân Hồng đã viết trong sách "Lăng Kính
Đại Thừa": Giáo lý Phật hiện nay đương lan tràn sang cõi trời Tây, và
lạ thay, kẻ đồng minh lớn nhất của giáo lý đó lại chính là khoa học
..."
Nếu nói về triết học, thì
nền triết học Phật pháp chẳng những rõ ràng khúc chiết mang lại cái nhìn
thiết thực trong đời sống, trả lời nhiều nghi vấn về nhân sinh, vũ trụ và
nhất là giúp người giải thoát khỏi khổ đau, chứ không là nền triết học chỉ
làm thỏa mãn đầu óc phiêu lưu văn chương chữ nghĩa, khó phổ cập vào mọi
tầng lớp quần chúng. Trong quyển Sử Cương Triết Học Ấn Độ đã tóm tắc nêu
rõ mục đích triết học Phật giáo như sau:
-Triết học Phật Giáo
trong thực tế cải tạo đời sống hiện hữu.
-Triết học Phật Giáo
phải đi đôi với thực hành không phải lý thuyết suông.
-Nhờ sự uyển chuyển và
khai phóng của Triết học Phật giáo mà thích hợp căn cơ của chúng sanh.
-Mục đích của Phật giáo
là để đi đến chỗ cứu cánh giải thoát hoàn toàn, không phải món đồ thẩm mỹ
ngoạn mục.
Đó là phương diện đến với
đạo giác ngộ bằng đường hướng trí thức, tuy nhiên dù sao số người vì hiếu
kỳ, tìm hiểu, so sánh tôn giáo đã mặc nhiên tạo duyên đi vào con đường
giải thoát.
3.
Tu theo Phật pháp
Khi nói tu theo Phật, có
nghĩa còn có nhiều đường hướng khác để tu. Nhưng đã là tu thì đường hướng
nào cũng là tu thiện tu lành, hay ít ra tu sao cho hơn cái hiện tại mình
đang là đang có... Ở đây chúng ta là người chọn con đường tu Phật, tất
nhiên chúng ta nên suy niệm một vài điều cho vấn đề tu học của mình. Chúng
ta không nên tự khiêm (hạ mình) cho rằng việc tu Phật chỉ dành cho các vị
tu sĩ, còn mình hạng cư sĩ ràng buộc với thế gian làm sao vói tay tới!
Trong pháp giải thoát có
nhiều quả chứng tùy do trình độ tu tập của mọi người. Chẳng hạn tứ Thánh
quả: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán
. Bốn quả vị này chưa phải là giải thoát
rốt ráo, nhưng là bốn bước thành tựu đi đến quả Phật. Trong bốn quả này
trừ quả A La Hán bậc vô học, ba quả kia còn là hữu hậu tức còn đang tinh
tấn phấn đấu đi lên. Và đặc biệt ba bậc này, người Phật tử tại gia có thể
đạt được mà không cần phải xuất gia. Việc này thời Phật còn tại thế xảy ra
không khó, nhưng thời nay cách Phật hơn hai ngàn năm trăm năm hẳn là rất
hiếm; nhưng không phải vì hiếm mà không có, chỉ vì ta không nhận ra các vị
đó. Các vị có thể mang nhiều hình tướng lăn xả vào đời, với đủ địa vị, có
khi là người chủ của ta, có khi làm người giúp việc và có khi là người mà
thế gian không bao giờ ngờ được. Nhưng một điều, các vị thường luôn có một
hành vi vị tha, một tinh thần nhân ái, và tư chất cao thượng sáng ngời dù
ở bất cứ địa vị, tình huống nào. Các vị có thể mang giáo pháp giải thoát
vượt qua mọi hình thức thế gian.
Về giới tu sĩ chứng quả
(chứng luôn quả thứ tư) thì chắc chắn phải có, nhưng cũng lại khó tìm khó
thấy, khó tìm khó thấy vì các vị không bao giờ nói ra là mình thế này thế
kia. Kinh Phật có dạy, Bồ Tát thật sự chỉ khi nào giờ phút ra đi của các
Ngài, hay khi các Ngài vắng bóng thì người ta mới nhận ra các Ngài là Bồ
Tát.
Trường hợp đức Đạt Lai Lạt
Ma vị lãnh đạo tinh thần Tây Tạng, được mọi người công nhận là hình ảnh
một sứ giả hòa bình thánh thiện. Người dân Tây Tạng cho Ngài là hóa thân
của Bồ Tát Quán Thế Âm v.v...Điều mà mọi người ca ngợi tư chất thánh thiện
của Ngài, đó là việc không thể phủ nhận; nhưng việc Ngài là vị tu sĩ chứng
quả thế nào thì chúng ta không thể biết, vì chúng ta chưa phải là Thánh
nên không có thiên nhãn để nhận ra. Chúng ta chỉ nhờ căn cứ qua lời Phật
và chư Thánh Tổ giảng dạy để phần nào suy đoán mà thôi.
Theo kinh dạy thì bốn
Thánh quả vậy, chỉ là hàng Thanh Văn, Duyên Giác Tiểu thừa chưa phải là
Đại Thừa Bồ Tát, nên dù là quả vô học như A La Hán cũng cần tiếp tục tu
nữa để được giải thoát. Nhưng trong kinh Pháp Hoa Phật lưu ý ở Phẩm Phương
Tiện thì chẳng có Thanh Văn, Duyên Giác cả đến Bồ Tát, mà chỉ có Phật
thừa. Phật dạy từng bước chứng quả, chỉ là phương tiện đi tới cứu cánh là
nhất thừa Phật quả. Điều này đã đánh thức các vị mới đắc quả Thánh, để
không khởi lòng chấp ngã chấp pháp. Từ đây các vị Thánh mới dễ dàng bước
lên quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác; do đó chúng ta không lạ gì khi biết các
vị Thánh còn gia công tu trì hơn cả người mới phát tâm cầu đạo. Và khi
hiểu như thế, ta lại càng không dám phân biệt, pháp này là Tiểu thừa, pháp
kia là Đại thừa, bởi vì tất cả chỉ là giai đoạn tiến đến quả giải thoát;
hơn nữa một người không có tâm từ bi trí tuệ, không hướng đến giải thoát,
không cầu đạo Vô Thượng để thành Phật thì không thể đạt được quả Thánh dù
là đắc quả Dự Lưu (Tu Đà Hoàn). Cho nên chớ đem tâm trí phàm nhân mà bình
phẩm địa vị tu chứng của người khác, để không khéo kẹt vào quả báo khẩu
nghiệp. Và nếu có thể bằng cái nhìn sâu rộng bình đẳng, chúng ta cũng dè
dặt kính trọng cả người cư sĩ nào thật tu thật học như các vị tu sĩ vậy.
Vì biết rằng vị cư sĩ ấy đang đi trên con đường thành Phật, nên sự kính
phục của ta chắc chắn mang lại công đức cho ta. Điều này Tôn Giả Sàntideva
đại sư Ấn Độ đã dạy: ‘‘Đối với các bậc hiền giả khéo dùng phương tiện
hướng dẫn làm lợi ích cho chúng sanh, Bồ Tát luôn đảnh lễ kính trọng. Đối
với mọi người Bồ Tát luôn nhún nhường như một người đệ tử vậy.’’
Suy niệm như thế, ta thấy
quả tu giải thoát có thể đến với bất cứ ai; và việc chuẩn bị bước đường tu
học của mình cũng đã bắt đầu tiến tới.
Bây giờ chúng ta đã rõ,
mục đích của việc tu theo Phật là muốn giải thoát, là muốn thành Phật; và
tùy theo căn cơ trình độ hoàn cảnh của mỗi người mà việc tu có dễ có khó,
nhưng chung quy cũng phải tu cho được thành Phật. Bởi không ai tu Phật lại
muốn làm trời hay tu Phật để được thỏa mãn hỷ hê phước báo thế gian. Nếu
vậy uổng cho ta đã gặp một khu mỏ kim cương mà đi lựa toàn sỏi đá.
Vậy ta phải bắt đầu tu từ
đây, phải bắt đầu bỏ hết đi những đá sỏi, mà chỉ lấy cho được những hạt
ngọc kim cương.
Từ lúc làm quen qua những
nhân duyên vào đạo, chúng ta đã bước được vào điện Phật, đã thưa chào các
vị đồng tu bằng cử chỉ chúc lành giải thoát (A Di Đà Phật), đã lạy Phật
dâng hương, đã phát tâm hướng thiện tìm về lối sống tỉnh thức, đã nhìn
người với cái nhìn bình đẳng v.v...Tuần tự tạo duyên như vậy, đã đưa ta
đến phần nào con đường tu niệm, và con đường tu niệm bây giờ là phải làm
sao thấy được con đường giải thoát. Nghĩa là phải thấy chính ta thế nào,
để vững bước trên đoạn đường đi. Ta phải thấy được phiền não trong ta
nhiều ít! Phải thấy mức độ tham, sân bộc phát yếu mạnh ra sao, và trong
một ngày ta được bao lâu sự yên tịnh.
Thật sự mà nói, bao nhiêu
tiếng đồng hồ trong ngày, ta đều để vọng tâm làm chủ, ít khi nào sống được
cho ta. Sống cho ta, không có nghĩa từ bỏ hết công việc, từ bỏ giao thiệp
với mọi người...mà có nghĩa sống trong ý thức việc làm của ta. Khi sống ý
thức thì tâm ta tỉnh táo, khi
tâm tỉnh táo sáng suốt,
vọng tâm không có mặt, như vậy thật sự ta đã bắt đầu bước vào giai đoạn tu
Phật. Nhưng ý thức bằng cách nào? Ý thức bằng cách sống theo đúng những gì
mình tu Phật.
Người mới bước đầu vào đạo
giải thoát được quy y Tam Bảo (Phật Pháp Tăng), rồi phát nguyện thọ trì
ngũ giới
chính thức làm con Phật (Phật tử). Con
Phật thì có nhiều hạng tu, hạng giữ giới nhiều ít tùy vào căn cơ mỗi
người, như cư sĩ ngoài đời có thể thọ ngũ giới, thập thiện hay Bồ Tát giới
. Hàng tu sĩ thì bước đầu là mười giới, sau
hai trăm năm năm mươi giới (250) dành cho nam tu sĩ, và ba trăm bốn mươi
tám (348) giới cho nữ tu sĩ
.
---------Đó là những
phương tiện, như con thuyền lớn nhỏ đưa người qua sông mê lên bờ giải
thoát. Và nếu người tài
giỏi biết lèo lái con
thuyền, thì dù là thuyền nhỏ cũng lướt khỏi sóng to đến bờ giải thoát,
ngược lại vô tài bất lực (không giữ giới tu), thuyền có to lớn cũng vẫn
mất hướng, trôi dạt vô phương làm mồi cho sóng dữ (địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh).
thức việc làm của mình là
giữ giới tu học, giữ giới tức là giữ con người mình, vì tu thiện làm ác
cũng từ ngay con người mà ra.
Trong con người chứa đựng
ba nghiệp, ba nghiệp này quyết định cho hành trình vào đạo, nhập đạo và
chứng đạo. Đó là Thân, Khẩu, Ý. Tu thân, khẩu, ý là thân không làm ác như
sát sanh, trộm cắp tà dâm; nếu là tu sĩ thì không dâm dục - Khẩu phải nói
lời chân thật hiền hòa (chánh ngữ), và Ý là phần quan trọng hơn, có thể
kiềm thúc được thân, khẩu do vậy tu sao cho Ý được thanh tịnh không tham
không sân không si. Vậy khi ba nghiệp được thanh tịnh, mặc nhiên chúng ta
giữ giới được thanh tịnh. Việc giữ thanh tịnh ba nghiệp, lại không có
nghĩa cản trở sinh hoạt đời sống của ta, và như không hiểu ta sẽ tích cực
quá việc giữ giới, mà chẳng làm được chuyện gì công đức. Ta nên tích cực
làm thiện hơn để chu toàn công đức giữ giới; chẳng hạn phải bố thí, phóng
sanh, thương người, thương vật để công đức trì giới, được tăng trưởng.
Người sơ cơ học đạo giải thoát ở bước đầu, phải tu bồi công đức phước báo,
nhất là người cư sĩ, bởi vì sự tạo thiện nghiệp, ác nghiệp dễ phát sinh
song song với nhau. Người cư sĩ tại gia phải đương đầu vào cuộc sống, phải
va chạm luôn với đời, nên ba nghiệp khó lắng động, vì khó lắng động nên
khó thanh tịnh. Do đó đôi khi cùng một lúc tạo thiện tạo ác mà không hay
biết. Chúng ta có thể lấy thí dụ, một người vừa sung công tiền của cho một
cơ quan từ thiện, hành động đang được tán dương, nhưng bỗng nghe người
khác chê trách là vẫn còn thua kém người kia, số tiền hiến tặng đó đâu có
gì là chánh đáng v.v...Từ lời gièm pha như thế, người không hiểu đạo giải
thoát sẽ có tâm phản lại, thế là tiêu mất công đức và trong lúc giận tức
vô tình sanh ra ác nghiệp. Do đây lại thấy, từ một người thật tâm tạo
nghiệp tốt trở thành phản lại nghiệp tốt của mình. Tuy nhiên dù trường hợp
tạo nghiệp ở đời phức tạp vậy, hàng con Phật tại gia vẫn nên luôn luôn tìm
cơ hội để tạo thiện nghiệp phước báo; bởi khi làm một hành động thiện là
bồi dưỡng ý nghiệp được trong sáng. Ý nghiệp trong sáng là nhân lành đưa
đến ý thanh tịnh. Trong ý thanh tịnh như vậy mới điều khiển được hai
nghiệp thân và khẩu, và thế việc giữ giới có thể lần lần dễ dàng hơn. Điều
này nói chung cả hai giới xuất gia và tại gia.
Người tu sĩ xuất gia cũng
chẳng khác là bao, quý Ngài giữ giới cũng bằng cách gia công tinh tấn tu
dưỡng huệ đức, thanh tịnh ba nghiệp qua công phu thiền niệm, quán tưởng,
đọc tụng thường xuyên kinh điển. Và khi quý Ngài công phu đã thuần thục
thì giới tướng, giới thể
của
các Ngài sáng ra, mà người
đối diện có thể cảm nhận được. Lúc đó với các Ngài, không còn thấy gò bó
gì ở giới nữa. Cho nên chúng ta thường nghe qua chuyện tích chứng đạo của
các Ngài có vẽ lạ thường lắm. Như thế cách sống của người tu Phật phải lấy
giới làm nền tảng. Lấy giới làm thân mạng sống còn, hễ sợ thân bệnh mạng
vong, thì cũng nên sợ phá giới như phá thân mạng vậy. Và gìn giữ thân mạng
ra sao, lại y như gìn giữ giới hạnh như thế.
Tìm hiểu lại cuộc đời đức
Phật, Dù Ngài trên lý tánh đã là đấng tối thượng, nhưng dưới nhiều cặp mắt
phàm nhân, một số người vẫn nhìn Ngài như một con người bình thường giản
dị, tuy nhiên hình tướng giản dị bình thường của Ngài đã thể hiện một sự
uy nghi điềm tĩnh, cụ thể qua sự sinh hoạt, đi đứng nằm ngồi an nhiên tự
tại vượt lên sự siêu hình huyền ảo. Và chính từ đây phàm nhân quy ngưỡng
Ngài, ngay ở cách sống ý thức chánh niệm đó, hơn là thấy Ngài hiện tướng
thần thông của vị đại Thánh. Hình tướng trang nghiêm đó là do Ngài nhiếp
thủ trong sự trì giới. Ngài hay thường kể lại tiền thân của Ngài, do luôn
luôn giữ giới và tu giới, cho nên bao phước báo công đức trong vô số kiếp
đã thành tựu và hiện ra tươi đẹp như ngày nay. Do vậy, giờ phút cuối cùng
tại Sa La Song Thọ đức Phật đã từ bi cân nhắc: ‘‘Này, các người hãy tự
thắp đuốc lên mà đi! Các người hãy lấy pháp của ta làm đuốc! Hãy theo pháp
của ta mà tự giải thoát. Đừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khác,
đừng tìm sự giải thoát
ở một nơi nào khác ngoài các người ...’’
‘‘Này, các người đừng
nghe dục vọng mà quên lời ta dặn. Mọi vật ở đời không có gì là quý giá.
Thân thể rồi sẽ tan rã. Chỉ có đạo ta là quý báu. Chỉ có chân lý đạo ta là
bất di bất dịch. Hãy tinh tấn lên để giải thoát, hởi các người thân yêu
của ta.’’
Chúng ta thừa biết, theo
Phật pháp thì thế gian ta đang ở là cõi dục, nghĩa là tham muốn và từ chỗ
tham muốn không ngừng nên thành cõi khổ, vì đơn giản là sự tham muốn không
thể toại nguyện hết được. Do vậy dù sống không gian thời gian nào ở cõi Ta
Bà này, không thể tránh được khổ. Cũng may cho ta là thế gian vô thường
các pháp vô ngã, nên theo đó mà ta chẳng sống hoài chịu khổ; và trong cuộc
đời con người không phải toàn khổ mà vừa khổ vừa vui. Chính chỗ khổ vui
đối đãi này, suy ra cõi người phúc lạc hơn cõi trời; bởi do có khổ mà đưa
ta đến chỗ thấy đạo dễ hơn.
Giáo lý giải thoát dạy ta
làm sao cho mình được thanh tịnh thân tâm, và phương pháp làm được như thế
là giữ giới và tu thiền. Tu thiền có nghĩa giữ sao cho tâm được an tịnh,
sáng suốt, để ý thức được sự sự vật vật như sự thật của nó, chớ không phải
khẳng định chấp chặt buộc phải ngồi xuống bán già, kiết già mới là Thiền
định, mà không hiểu rằng tư thế Thiền tọa chỉ là phương tiện để là kết quả
đứng dậy đi vào đời sống.
Về phần giữ giới sẽ sanh
ra thanh tịnh thân tâm do vậy mặc nhiên cũng đã tu thiền.
Bây giờ ta đã hiểu trọng
tâm của việc tu thành Phật, và vậy có thể từ đây an tâm cho cuộc khởi hành
qua sông giải thoát.
4. Hiểu
một ít Phật pháp
Có duyên vào được ngôi nhà
Phật pháp rồi, tiếp theo cần nên tìm hiểu một ít về giáo lý Phật, dù là
một ít cũng quan trọng, vì đây là nền tảng cho bước đi dài đến giải thoát.
Nhưng thế nào là một ít để tạm gọi là nền tảng! Trong khi có người đã từng
nghiên cứu, đào sâu Phật pháp vẫn còn thấy mình chưa nắm được gì là căn
gốc, vậy chỉ có hiểu một ít mà cho là nền tảng! Thật ra điều này quả đúng,
đáng quan tâm, và hàng sơ cơ học Phật chúng ta thường hay lo ngại. Tuy
nhiên căn cứ theo lời Phật dạy và xét theo lịch sử truyền thừa của đạo
Phật nổi bật những điểm mà chúng ta nên an tâm: Trước nhất ai cũng rõ biết
đạo Phật là đạo sống, là con đường, là lộ trình dẫn đến chứng nghiệm...Đã
hiểu là con đường, là lộ trình thì hiểu ngay đến sự di hành, tiến bước.
Khi hiểu là đạo sống thì phải hiểu là hiển bày, linh hoạt. Từ ngay điểm
chính yếu này, chúng ta nhận ra thực tế rõ ràng, bằng hành động cho việc
vào đạo, mà không phải chỉ dọn mình bằng kiến thức giáo lý để vào đạo.
Nhưng cho dù có quên mình đi sâu vào kiến thức Phật học suốt đời cũng
chẳng thẩm thấu gì với biển Phật, vì đã nhiều như nước biển thì làm sao
uống hết được. Đã không uống được hết, thì lộ trình tiến tới chứng ngộ vẫn
còn xa. Nhưng một điều, dù biển Phật mênh mông duy chỉ có một vị. Đó là vị
mặn. Vậy người ta có thể đứng bên bờ biển Thái Bình Dương cũng cảm được vị
mặn Đại Tây Dương. Tương tự, không có sự khác biệt, giữa niềm an lạc chứng
đạo của người thực hành Phật pháp từ giáo lý căn bản, với người thực hành
theo giáo lý Kim Cang, Bát Nhã đại thừa v.v...
Hòa vào biển Phật là hòa
vào Phật tánh, hòa vào Phật tánh thì đâu còn cái ngã của anh, của tôi.
Nhắc lại truyền thuyết thời Phật có Ngài Chu Lợi Bàn Đà Dà là đệ tử của
Phật, xuất gia lâu năm mà chẳng học hiểu Phật pháp, cũng bởi tâm trí không
sáng. Chỉ có một bài kệ nhỏ mà học cả năm cũng không xong. Chướng nạn này
ai nghĩ rằng Ngài sẽ chứng nỗi thánh quả ! Vậy mà Ngài đã chứng đạo đắc
quả, tự tại an lạc không khác chi các đại đệ tử lớn của Phật. Nhân duyên
này là do Phật khơi dậy tánh giác của Ngài, để Ngài có cơ hội tự mình tìm
lại dấu vết xưa mà gội rửa dấu vết tối tăm đời nay. Phật dạy Ngài chỉ thầm
đọc và quán xét câu kệ quét nhà, để chuyển tiếp vào việc quét bụi, như
quét những trần lao, cấu nghiệp của chính mình. Thế là Ngài liễu đạo,
chứng quả.
Thời kỳ Phật pháp truyền
sang Trung Hoa, cách đây hơn ngàn năm có Bồ Tát Huệ Năng (638-713) cũng đã
liễu đạo với nhân duyên lạ lùng, do nghe một người tụng kinh Kim Cang,
trong khi thân phận Ngài lúc đó chỉ là một cư sĩ, xuất thân từ hạng người
nghèo lại chẳng quen biết gì chữ nghĩa. (không biết chữ)
Thế thì biết rằng, yếu
nghĩa Phật pháp tuy sâu rộng vô cùng nhưng vẫn đơn sơ, giản dị thường tình
lan tủa ở mọi hoàn cảnh, tình huống. Chúng ta có thể cho rằng những trường
hợp vậy, là do những tích duyên từ quá khứ kiếp nên mới có được. Tuy nhiên
ta không thể phủ nhận, Phật lý mà các vị cảm được giác ngộ vẫn là việc xảy
ra rất thường tình trong đời sống chúng ta. Cũng như dù các Ngài thị hiện
để giác ngộ, ta vẫn thấy Phật pháp luôn luôn gần gũi sờ sờ ra đó, và chính
như thế là niềm tin lớn giúp ta an tâm với những gì ta hiểu về Phật pháp.
Điều này còn giúp ta tránh đi mặc cảm cho rằng, mình sẽ vô phương hiểu
được đạo, rồi đâm ra băn khoăn, lo lắng. Rồi khi phát được duyên am hiểu,
lại cố sức bồi đắp kiến thức Phật học cho nhiều, mà quên hẳn Phật đạo là
ngay ở việc thực hành xảy ra trong đời sống.
Sau đây với kiến thức sơ
cơ của người mới làm quen vào đạo giải thoát, chúng ta thử tìm về giáo lý
Duyên sinh để làm nền tảng. Chọn giáo lý này, vì đây là một giáo lý quan
trọng và căn bản nhất. Tuy nhiên cũng không phải dễ dàng lãnh hội nghĩa lý
thâm sâu của lý Duyên sinh. Ngoại trừ các bậc giác ngộ, chứng đắc pháp
giải thoát, phàm nhân không thể một đời thông hiểu. Kinh kể rằng, có lần
Phật đã lưu ý Ngài A Nan đừng nên xem thường giáo lý duyên sinh. Bậc đa
văn kiến thức như Ngài A Nan mà Phật còn cân nhắc. Nghĩ lại chúng ta những
người chập chững vào đạo, lại sống xa thời Phật cả ngàn năm; chỉ biết giáo
lý duyên khởi (là cách gọi khác của Duyên sinh) một cách gián tiếp, mà
không do từ kim ngôn của Phật nói ra; vô phần hơn nữa cũng không được diện
kiến chư vị tu chứng nhắc nhở soi sáng cho, thì chúng ta phải tự soi xét
cho mình thế nào! Chúng ta chỉ còn cách trân quý và thực hành theo mà
thôi.
Tuy nhiên, ở đây chúng ta
là những người thật sự sơ cơ vào đạo, nên chỉ nhận hiểu theo kiến thức căn
bản nhất mà Phật dạy về lý duyên khởi để thực hành theo. Việc tiến xa, hay
đi xâu vào giáo lý, đã có nhiều thức giả tu sĩ, học giả tri thức nghiên
cứu, lý giải chúng ta phải nên tri ân các vị đó. Hoặc như nếu có thời
gian, khả năng hiểu biết cũng nên nghiên cứu tìm hiểu để có thể tác động
thêm năng lực cho mình, hay chỉ bày cho người khác biết.
Tìm hiểu lý Duyên sinh, ta
có thể hiểu đơn giản: Lý Duyên sinh là một định lý cho thấy sự liên hệ,
tương quan của mọi sự mọi vật, hay nói cách khác là sự sinh diệt, tựu hợp,
tan rã của các pháp.
Nhìn vào đời sống cá nhân,
gia đình, xã hội, quốc gia và toàn thế giới- vượt xa hơn nữa là hành tinh
(trái đất) chúng ta đang ở, thái dương hệ nơi hành tinh nương tựa và những
giải ngân hà, thiên hà, tinh vân...và nếu ta có đủ nhãn lực vượt qua viễn
vọng kính nhân tạo để nhìn...Tất cả, tất cả những gì có hình tướng đó, tên
đó đều là tương quan, tương sinh với nhau. Không một vật gì độc lập cả,
cho dù nhỏ như hạt nguyên tử lăn tăn nhảy múa dưới kính hiển vi mà mắt
thường không thấy được. Việc liên hệ chằng chịt này Phật pháp gọi là lý
nhân duyên. Lý nhân duyên chi phối tất cả, từ những vật vô tri giác đến
loài có tánh giác như chúng sanh. Khi đã bị chi phối vậy, nên ta thấy rõ
liên hệ mật thiết nhau qua cái gọi nhân quả. Kinh xưa (kinh A Hàm) thường
dạy: Cái này có thì cái kia có, cái này sanh thì cái kia sanh. Cái này
không thì cái kia không, cái này diệt thì cái kia diệt...
Ta thử thí dụ một hoàn
cảnh xảy ra trong lý Duyên sinh, nhân quả: -Vì xe của con Bác Tư bất thần
hư, không chạy được, nên bác Tư không thể đến chùa ngày chủ nhật hôm đó.
Vì không có mặt ngày chủ nhật hôm đó, nên Bác Tư đã bỏ lỡ thời pháp hiếm
có, do một vị cao tăng thuyết giảng... Câu chuyện tạm chấm dứt ở đây.
Ta thấy rằng, kết quả Bác
Tư không được nghe pháp, là vì Bác vắng mặt, Bác vắng mặt là vì con Bác
không đưa được Bác đến chùa. Con bác không đưa bác được vì xe con bác hư,
xe con bác hư vì...Xin khoan nói tiếp; bây giờ thử đặt ngược lại kết quả.
Nếu xe con Bác Tư không hư, Bác đã có mặt ở chùa hôm đó, nếu có mặt ở
chùa, chắc chắn bác Tư đã nghe thuyết pháp. Vậy đây ta đã thấy một vòng
nhỏ của lý Duyên sinh, nhân quả. Nhưng nếu ta tiếp tục tìm hiểu trước và
sau sự kiện xảy ra theo thí dụ, thì rõ thấy diễn tiến vẫn tiếp tục xảy ra
của vòng duyên sinh đến bất tận. Chẳng hạn ta có thể nói, xe của anh Thiện
(con bác Tư) chạy không được vì bánh xe bị bể, bánh xe bể vì tối hôm trước
anh chạy cán lên một vật cứng bén mà anh không để ý trên con đường dẫn vào
nhà người bạn (bạn cùng sở làm, hôm đó nhờ anh chở về). Người bạn xin chở
nhờ, vì xe anh bạn hư (lại xe hư). Bánh xe không bể liền, nên sáng ngày
hôm sau anh mới phát giác, rồi cũng nhận ra bánh xe sơ cua (spare) bị xẹp
luôn!...
Đó là một vài hình ảnh
nhân quả trong lý duyên sinh, nếu tiếp tục theo câu chuyện mà đi mãi, chắc
rồi đề cập tới chuyện kinh tế, chính trị.v.v...chỉ vì ảnh hưởng tới một
bánh xe bể! Thử lướt qua để tưởng tượng thế nào! Bác Tư vì hôm đó không
nghe được thời pháp hiếm có, nên Bác cảm thấy tiếc nuối, phiền muộn, khiến
bác khó chịu trong người, biếng ăn, mất ngũ mấy hôm. Bác lâm vào cảnh như
vậy ảnh hướng đến tinh thần sa sút...
Như thế ta thấy sự vận
hành của bất cứ hình tượng, cảnh vật chúng sanh nào cũng là sự trói chặt
vào nhiều yếu tố tạo nên. Và khi những yếu tố tan rã thì ảnh tượng, hình
thể, chúng sanh không còn nữa. Tuy nhiên nói là không còn, thật ra chúng
chỉ trở về dạng phân tán chờ duyên hội tụ, nhưng vì vi tế nên ta không thể
cảm nhận và nhìn thấy được. Hiểu vậy chúng ta mới thấy không một vật nào
tự nó sinh ra, và từ lý này lại thấy không một vật gì mất đi cả. Chẳng hạn
nước đổ đi hay bốc hơi đi, tưởng là mất, thật ra nước vẫn còn đó, và sẽ
trở lại bằng tên gọi là mưa; hay đi vào lòng đất hòa chung cùng nguồn nước
cạn sâu kín rồi hiện hữu ở đâu đó, chỗ này chỗ kia.
Chúng ta hãy thử giả tưởng
sau một thời gian thăm thẳm nào đó, quả địa cầu sẽ bị vỡ tung, rồi từng
mảnh tiếp tục vỡ tung, vỡ tung ra cho đến khi nát nghiến thành bụi, rồi
lại tiếp tục bị nghiền nát nữa cho đến khi thành những nguyên tử bay hút
vào hư không vũ trụ. Vậy thì chúng ta sẽ nghĩ thế nào về sự còn hay mất?
Nếu nói vẫn còn thì làm sao có thể chỉ được chúng đang ở đâu, và hình thể
ra sao? Nếu nói mất thì con mắt thịt chúng ta có khả năng nhìn thấy rõ
ràng sự vật lớn nhỏ đến mức nào? Chỉ giả tưởng đến đây thôi, ta có thể đơn
giản hiểu rằng sự sinh diệt hội tụ của vạn pháp trong lý nhân duyên, nhân
quả về việc biến hiện lớn, nhỏ, lâu xa không thể lường được. Cho nên ta
hay nghe kinh sách dạy rằng, vạn pháp sinh khởi vô thủy, vô chung, nghĩa
là không biết bắt đầu từ khi nào và bao giờ chấm dứt.
Đó chỉ lược hiểu một cách
đơn giản, mà mường tượng cái nhìn xa. Nhìn lại gần hơn là thí dụ câu
chuyện của Bác tư vậy. Tương tự như thí dụ cây lúa mà ta thường nghe, mỗi
khi đề cập đến lý nhân duyên. Cây lúa hình thành là nhờ hạt lúa, hạt lúa
nẩy mầm nhờ nằm trong lòng đất, đất phải có nước có phân...và còn có thêm
ánh sáng nữa, hạt lúa mới chuyển thành cây lúa. Nguyên lý này thật chắc
chắn không thể sai được, có nghĩa không thể bỏ hạt lúa trên bàn mà chờ
thành cây lúa được.
Hình ảnh cây lúa bây giờ,
không nói chúng ta cũng biết là kết QUẢ của hột lúa; và gọi ngược lại, hột
lúa là NHÂN của cây lúa. Còn lại bao điều kiện hỗ trợ cho hột lúa nẩy mầm
tất được biết là DUYÊN. Vậy thì vạn pháp cũng từ do duyên xa duyên gần mà
sinh ra. Thảo nào mà chư vị Bồ Tát, Thánh nhân hành xử việc đạo thật dễ
dàng, bởi các Ngài biết rõ vạn pháp là giả là tạm, cho nên làm việc gì
cũng là vô ngã; vì tìm đâu thấy ngã (cái ta, cái tôi) khi các pháp do NHÂN
DUYÊN SINH.
Chúng ta những phàm nhân,
đôi khi cũng thấy hiểu như vậy, nhưng vì cái thấy còn quá hạn hẹp, chỉ
thấy những cái đơn giản, mà khó thấy cái phức tạp tinh tế, điều này do
mang nhiều vọng tưởng nên không thể sáng suốt, đủ nghị lực thắng được vọng
tưởng thành ra chỉ chấp nhận theo tình lý cảm giác, suy tưởng của mình mà
thôi. Hay nói đúng hơn tất cả đều do tập khí, chủng tử điên đão từ quá khứ
kiếp mà ra.
Theo Tiến sĩ Peter D.
Santina trong quyển ‘‘Fundamentals of Buddhism’’nhận định: Đức Phật
thường dạy rằng Ngài giác ngộ là nhờ hai đường: Hoặc hiểu rõ Tứ Diệu Đế
hay am tường Lý Nhân Duyên. Lại nữa, điều Đức Phật thường nói là muốn đạt
giác ngộ, chúng ta phải hiểu rõ Tứ Diệu Đế hoặc Lý Nhân Duyên.
Lý Nhân Duyên quan trọng,
và cao siêu như vậy, chúng ta ngày nay mới bắt đầu nhận hiểu, dù mới hiểu
một vài hạt bụi li ti gọi là nhân quả, điều này không phải là đại nhân
duyên sao! Vì đây là con đường muôn thuở của giải thoát mà!
Hiểu lý nhân duyên qua
hiện tượng sinh diệt của vạn pháp quả không thể đơn giản được. Chúng ta
chỉ nhận rõ phần nào qua nhân quả mà thôi, và cụ thể hơn nữa là làm
sao để suy niệm áp dụng
vào con đường thăng hoa đời sống của người Phật tử. Tức là vấn đề hiểu thế
nào về dòng sống của chính mình. Tiến sĩ Pete D. Santina lại phát ý như
sau: Đặc biệt, chúng ta chú trọng đến nguyên tắc của Lý Nhân Duyên được
áp dụng vào vấn đề khổ và tái sanh. Chúng ta chú ý đến việc Lý Nhân Duyên
giải thích sự có mặt của chúng ta ở nơi này. Trong ý nghĩa ấy, điều quan
trọng là nhớ rằng Lý Nhân Duyên là giáo lý cần thiết và chủ yếu liên quan
đến vấn đề khổ đau và làm thế nào để giải thoát khỏi khổ đau, chứ không
phải là việc mô tả sự tiến hóa của Vũ Trụ.
Lý nhân duyên Phật dạy
theo dòng sống của một chúng sanh (loài người) là mười hai mắc xích, gọi
đúng danh từ là Thập Nhị Nhân Duyên: Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục
nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sanh, Lão Tử.
Giờ đây chúng ta thử diễn
đoán hành trình dòng nghiệp của một chúng sanh, qua mười hai mắc xích là
nguyên nhân thắc nối vòng sanh tử.
-Vì không sáng suốt, không
nhận biết vạn pháp, từ pháp thô đến pháp tế; không nhận biết con đường
trước mặt là chánh hay tà, không nhận biết nơi chốn lành hay chốn dữ;
không nhận biết hành động mình làm là thiện hay ác; không nhận biết sáu
cõi (Thiên, Nhơn, A Tu La, Ngạ quỷ, Súc Sanh, Địa ngục) là nẻo luân hồi và
không nhận biết luôn cả chính mình, dù mình đã từng có mặt từ vô thỉ kiếp
đến nay. Do không nhận biết nên lang thang mãi, sống vất vơ không định
hướng. Nên khi nhiều lần lạc vào bóng tối sống đến hàng tỉ năm, rồi cơ may
dứt được bay vào ánh sáng sống đến vạn triệu tuổi. Vất vưởng như thế, có
lúc hình sắc được dệt nên nhỏ nhiệm, trong thanh, tự tại thênh thang theo
ý muốn, lắm lúc hình thù thô kệch, nặng nề nằm lì một chỗ đến hàng vạn
kiếp không di nổi. Những hành hoạt như thế kể không sao hết, nguyên nhân
chính gây ra như vậy, là đối nghịch lại sự sáng suốt, mất đi chơn tánh,
không nhìn nhận được nguyên lý của T- DIÊU ĐẾ là Khổ, Tập, Diệt, Đạo nên
bị tham ái, dục tình (Tập) là nguyên nhân dẫn đi lang thang bất tận. Và
đôi khi cũng cảm nhận được nguồn an lạc, mỗi lần chế ngự tham ái (Diệt),
qua con đường Bát Chánh Đạo (Đạo)
. Nhưng rồi chỉ chốc nở chốc tàn, để lại
quay cuồn trong đêm tối; do đó gọi là VÔ MINH. Đây là sự thật mà Phật đã
nhắc qua trong kinh Tương Ưng II.
‘...Và này các Tỷ kheo,
thế nào là vô minh?
-Này các Tỷ kheo không
biết rõ về khổ, không biết rõ về
khổ tập, không biết rõ
về khổ diệt, không biết rõ con đường đưa đến khổ diệt. Này các Tỷ kheo,
đây gọi là vô minh.’
Khi đã mê lầm, không sáng
suốt khiến tạo ra nghiệp nên gọi vô minh duyên HÀNH. Hành động có thô có
tế, có ác có thiện dẫn đường đưa lối quyết định cho một dòng sống hiện
hữu; nhưng ở đây vì Vô Minh là nhân mê hoặc, nên tác nghiệp quả báo hẳn
phải mê lầm. Và khi hành nghiệp đã mãn đầy gọi là mãn nghiệp bấy giờ duyên
vào TH-C, tác động nên một dòng sống theo nghiệp lực để tạo ra một sự đầu
thai.
TH-C là năng lực của cái
BIẾT tiềm ẩn sâu kín song song vận hành với nghiệp. Sức mạnh của nó có thế
lực mạnh nhất trong dòng sống. Ở đây TH-C này hẳn còn là cái biết nhị
biên,
chấp thủ thôi thúc dòng sống mà duyên với
DANH SẮC.
Danh là tinh thần, Sắc là
hình thể. Giai đoạn đến đây của dòng sống đã hiện hữu, nhưng chưa tượng
hình hoàn bị; tức sáu căn chưa đủ. Dù vậy sự sống ở đây đã có nhưng chưa
rõ ràng. Đến đây Danh Sắc duyên LUC NHÂP; bây giờ đã có đủ sáu căn (mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân , ý), tuy vậy chưa ra khỏi bào thai. Lục Nhập duyên
XÚC là lúc một chúng sanh đã ra đời, đã chạm phải những hình ảnh vật thể,
rồi bị tác động vào sáu căn, nhưng lúc này chưa có đủ cảm giác nhạy bén,
tinh tế. Đến khi cảm thọ được những thương, ghét, mừng, giận...rõ ràng, đó
là lúc Xúc duyên THO.
Thọ duyên ÁI, việc nầy ai
cũng thấy rõ; khi mà sự cảm nhận tình cảm tràn đầy tất nhiên sinh ra lưu
luyến đắm đuối. Có thể nói mắc xích nầy thật nguy hiểm nó đủ sức ghì kéo
hết mười một mắc kia. Điều minh chứng đây, đã và đang xảy ra chung quanh
chúng ta, đó là những kết chặt cái gọi là gia đình thân tộc. Và những câu
chuyện vui, buồn, đau khổ ở thế gian mãi mãi vẫn được khai thác từ đề tài
bất tận của luyến ái mà ra. Nhưng hầu hết thì toàn là những chuyện buồn có
thật do luyến ái gây ra. Việc này là vậy, nếu không trong Tứ Diệu Đế đã
không có hai Đế đầu, đó là Khổ và Tập (nguyên nhân của tham dục, luyến
ái).
Ái duyên THỦ, đã sa vào
vòng thương yêu trìu mến rồi, ai lại không muốn ôm giữ để làm riêng của
mình! Đã cố giữ làm của mình thì không muốn buông bỏ; do vậy ban cho việc
gì thì còn có thể, chớ cho tình (luyến ái) thì khó mà cho. Có khi sợ mất
ái tình yêu thương, người ta còn tìm cách cùng nhau đi thật xa khỏi bị
người khác quấy rầy, bằng cách rủ nhau quyên sinh! Đại khái để hiểu THỦ
như vậy.
Thủ duyên H"U, ở đây ta
thấy sự có mặt của chúng ta hiện thời chắc chắn đã từ những mắc xích kể
trên trong quá khứ, nhưng gần nhất dễ thấy sanh ra mắc xích nầy là Ái và
Thủ. Vì đã luyến ái và bám chặt nên nhất định tác nghiệp mà thành ra Quả,
tiếp tục con đường vô tận thành ra Hữu, tức là sự hiện hữu của chúng ta.
Đến đây là Hữu duyên SINH, rồi Sinh duyên LẢO TỬ; vậy Sinh là chặng đường
tiếp tục kết thắc ở một đời sau nữa, từ do Ái, Thủ, Hữu của hiện tại mà
ra. Và cuối cùng là Lão Tử giai đoạn của Sinh phải đến của đời sau.
Nhìn theo nhân quả ba đời
chúng ta lại thấy như sau: Vô minh, Hành là NHÂN trong quá khứ, tạo ra QUẢ
hiện tại là Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ. Và Ái, Thủ, Hữu ở hiện tại
là NHÂN, sinh ra Sinh, Lão Tử là QUẢ ở tương lai.
Vậy ta có thể thấy, dòng
sanh tử đó đến bao giờ mới dừng nghỉ! Có lẽ thật khó mà dứt được một khi
ta còn chấp nhận sự lang thang quanh quẩn nầy. Và chỉ cần mang trong tâm
(thức) một ý niệm nhỏ nhít của lưu luyến trìu mến thương ái, là tự động
dệt nên dòng xích sanh tử. Sự thương ái đó dù là cao thượng hay thấp hèn
cũng đều là những mắc xích; giống như mắc xích bằng vàng hay bằng sắt đều
là để vây trói mà thôi. Chỉ có tình thương của từ bi, trí tuệ giải thoát
mới nằm ngoài sợi xích trói buộc này. Cho nên chúng ta đã dư biết việc tái
sanh đi, tái sanh lại là do NGHIÊP mà ra chớ chẳng do ông thần, ông trời
nào làm được chuyện này, nếu có ông thần thiệt làm như vậy, thì xin nói là
ông Thần thức (danh từ này chỉ cho lúc cởi bỏ xác thân để thọ lãnh đời
sau, mà thế gian quen gọi là linh hồn); và phải chăng thần thức đó là
kết quả của những hành vi lúc sống đã tạo! Nghiêm chỉnh mà nói là NGHIÊP
TH-C vậy. Tạm hiểu được vấn đề lớn về sinh tử từ mười hai mắc xích, chúng
ta cũng được khá nhiều an ủi khi đứng trước bờ biển pháp (giáo lý giải
thoát). Và nơi đây là một ít hành trang Phật pháp để tiếp tục lên đường...
5. Nguyện ghi nhớ bốn điều
diệu đế
Chúng ta đã hiểu phần nào
căn bản Phật pháp, chúng ta có thể bắt đầu cho cuộc lên đường đem diệu
pháp đi vào đời. Diệu Pháp mà chúng ta vừa lược hiểu qua (pháp nhân duyên)
có thể đủ cho ta áp dụng tu hành, nhưng tại sao chúng ta không nhắc lại
một diệu pháp căn bản nữa, để ta an tâm vững chí cho cuộc đi về với chánh
pháp được thành tựu.
Diệu pháp này là Tứ Diệu
Đế. Tứ Diệu Đế là bài pháp vạch ra chân lý của đạo, để đưa con người quay
lại bản tánh toàn thiện, để nhìn thẳng vào chính bản thân mình mà tu sửa.
Nếu thế gian này có người nghiên tầm mọi triết lý đạo giáo tinh ba nhất,
lại thông suốt các vấn đề như vậy, nhưng chưa biết qua Tứ Diệu Đế, thì
người đó vẫn xem là chưa được hoàn chỉnh trong cuộc truy tầm sự toàn thiện
của nhân sinh. Và ngược lại, dù người chưa được may mắn nghiên tầm học hỏi
các vấn đề quan trọng trên thế gian, nhưng hiểu được Tứ Diệu Đế thì người
đó vẫn hơn vị đại trí thức kia. Nói như thế có quá lắm không? Xin thưa
rằng không, bởi vì Tứ Diệu Đế không chỉ giúp cho người thấy được một cách
rốt ráo chân lý nhân sinh, mà còn giúp họ đạt tới những gì là an định nhất
của tinh thần, qua đời sống hiện thực ở nhân gian. Và nếu người đó muốn đi
xa hơn nữa trong việc thực hành trọn vẹn chân lý đó, nghĩa là thực hành
qua đời sống một tu sĩ, thì kết quả còn an định hơn gấp trăm ngàn lần
người ở thế gian. Đó là kết quả chứng được quả Thánh Vô Sanh (A La Hán).
Sau đây chúng ta
thử ôn lại những gì là Tứ Diệu Đế.
Khi hành giả Tất Đạt Đa
thành đạo Chánh Đẳng Chánh Giác được thế gian xưng tụng là Phật (con người
tĩnh thức hoàn toàn), Ngài đã ưu tư, thương tưởng đến các vị đạo sĩ trong
quá khứ một thời cùng Ngài tu khổ hạnh. Trong các vị đó có vị là Thầy và
cũng có vị là bạn Ngài. Nhưng bấy giờ, lúc này Ngài không chỉ là Thầy dạy
lại họ mà còn là Thầy của mấy từng trời nữa (Thiên Nhơn sư).
Thật ra pháp đầu tiên mà
Ngài khai thị sau khi đắc đạo không phải là Tứ Diệu Đế, mà là Pháp lý vượt
siêu thế gian dành cho các vị Bồ Tát lớn, đó là kinh Hoa Nghiêm. Pháp này
Phật diễn nói cảnh nhập Pháp giới, chỉ thẳng pháp tu chứng về cảnh giới
Phật. Vì chỉ thẳng như vậy nên gọi là Đốn giáo và cũng thế ngoài hàng Bồ
Tát lớn ra khó ai hiểu được.
Với Tứ Diệu Đế là Sơ
chuyển Pháp Luân là đối với loài người chúng ta. Và cách giáo dạy đây gọi
là Tiệm giáo, tức chỉ rõ vấn đề từ thấp lên cao. Do đó Pháp Tứ Diệu Đế là
căn bản nhất, vì là bài Pháp đầu tiên mà Phật đã chọn lựa khai mở cho nhân
loại thấy hiểu về chân lý cuộc đời, để làm bước đi đầu tiên đến bước giải
thoát, vậy đó là cội gốc nền tảng của Phật đạo. Nếu không hiểu rõ Tứ Diệu
Đế hay xem thường bốn điều này thì không thể nào có được nền tảng chứng
đạt Pháp giải thoát. Và dù chỉ hiểu được bốn pháp này thôi, thì quả vị
Phật chắc chắn sẽ đến trong tương lai.
Phật tìm đến nhóm ông:
Kiều Trần Như, Ác Bệ, Thập Lực, Ma Ha Nam và Bạt Đề; năm ông đây là những
người đầu tiên được nghe diệu pháp cao quý này. Thời Pháp vừa xong, liền
trong nhóm ông có người đắc Thánh quả và lần lượt trong thời gian thật
ngắn, tất cả năm ông đều đắc quả A La Hán tức không còn sanh tử nữa.
Hiểu Phật nói thế
nào về Tứ Diệu Đế!
Con người được sinh ra,
liền tức thời thọ khổ. Tiếng khóc oa oa (khổ quá) thoát ra từ một đứa bé
mới sinh, tiếng khóc ấy vang vọng mãi cho đến thành một người lớn người
già. Người lớn người già nào đâu phải không khóc, họ khóc nhiều lắm chứ,
nhiều còn hơn hồi nhỏ nữa! Hồi nhỏ khóc vì không được, khi được thì hết
khóc; bây giờ lớn lên rồi thì cái được đó sẽ không bao giờ được nên khóc
mãi đến cuối cuộc đời. Cái không được như vậy vì bắt nguồn từ cái muốn
không ngừng, nên không bao giờ được. Ôi làm sao kể ra hết cái muốn! Cho
nên tiếng khóc người lớn tuy không có âm thanh nhưng uất ức, u ẩn, dã dượi
trong lòng.
Khóc thế nào cũng là khổ,
có ai khổ mà cười không? Chỉ trừ các bậc Bồ Tát thị hiện chịu khổ, rồi
cười lớn lên cho mọi người thấy; chúng sanh sao lại vô minh quá, biết khổ
mà cũng lao đầu vào thật là ngộ nghĩnh, nên Bồ Tát nín cười không được!
Khổ trước hết là có thân
này, hể có thân xác vật lý là có tác động với ngoại cảnh, như nóng lạnh,
đau nhức v.v. và khi thân thể bị phản ứng do tiếp xúc với những gì từ
ngoại cảnh thì sinh ra đau bệnh và nếu không chữa được bệnh thì hư hoại
dẫn đến cái chết. Nhưng dù nếu ít bệnh, hay bệnh không trầm trọng thì cũng
vất vưởng sống thọ tám chín chục tuổi, rồi đến thời kỳ hư hoại cũng phải
chết. Đó là luật tự nhiên của vật lý, và theo đạo Phật có bốn thời kỳ
Thành, Trụ, Hoại, Không
cũng là như vậy. Đó là phần đau khổ về
thể chất (sanh, lão, bệnh, tử), riêng về tinh thần thì cũng khủng khiếp
không kém.
Thường thì tâm lý ai cũng
thích thương yêu, mà thương yêu được trọn vẹn thì vui mừng nào kể cho hết.
Sự thương yêu làm cho người lạc quan sống thọ, sự thương yêu làm cho cảnh
vật tươi hẳn ra. Nói tóm lại khi nuôi dưỡng được tính chất thương yêu, thì
cả một cảnh sống bừng lên có sức mạnh chuyển hóa tất cả. Nhưng thật khổ
cho ta, vì ta không thể đặt tình thương yêu đó đến tất cả, mà chỉ hạn hẹp
cục bộ trong gia đình, và từ cái hạn hẹp đó, ta lại chọn lựa đặt ra duy
nhất đến một người, người mà ta thương nhất. Khi ta thương yêu nhất người
nào, tất nhiên khi mất đi ta sẽ đón nhận một thảm trạng đau buồn nhất. Cho
nên chúng ta dững dưng với cái chết của người khác và đau khổ tột cùng với
cái chết của người thân mình là vậy. Đó là Phật dạy cái khổ thương nhau mà
phải sống xa nhau ( Ái Biệt Ly Khổ).
Từ tánh thương yêu hạn hẹp
như thế, tất nhiên tương phản lại ta có vô số người không thương, và vô số
người đó chắc chắn có người mà ta không thương nhất. Không thương nhất thì
đồng nghĩa thù ghét; và hễ thù ghét chừng nào ta càng khó chịu khi nhớ lại
họ, hay có ai nhắc đến.
Chỉ nhớ đến mà khổ như
thế, thử hỏi phải đối diện với nhau! Đối diện với nhau rồi chốc lát bỏ đi
thì còn đở khổ, không may sống chung luôn với người đó; thôi còn gì mà khó
chịu cho bằng. Khó chịu đến mức ta đau khổ bấn loạn người lên, rồi có thể
làm được cái gì để giải tỏa cái thù ghét này; ta dùng mọi thủ đoạn hãm hại
người đó. Không hại được ta mang mãi sự oán hận này. Nhưng thưa bạn! đó
vẫn chưa cay nghiệt, vì có những trường hợp người mà ta không thích không
ưa đó lại là người thân trong gia đình ta, có khi lại là người mà ta đã
tuyên thệ cùng nhau đi trọn cuộc đời! Đây mới thấy đầy đủ nghĩa Khổ vì
không thích nhau lại sống gần nhau (Oán Tắng Hội Khổ).
Vậy thì toàn ảnh trong
cuộc đời này là những gì trái nghịch chăng? Ta muốn sống gần người ta
thương lại không được, ta không muốn sống với người không thương lại được
sống chung! Ta muốn người mà ta thương, dù không thể sống gần ta nhưng còn
cho ta thấy niềm hy vọng nào đó, nhưng nghiệt ngã thay người ta thương yêu
lại ra đi thật sớm, trong khi kẻ ta cầu cho khuất mặt, cứ nhởn nhơn gần
gũi với ta và còn sống thọ hoài ra đó.
Bất lực ta quay về cầu
mong lại chính ta, để sống đời an phận quên hẳn chuyện xưa nhưng nào có
được, vì đời sống phải giao du kết bạn, ta lại rơi vào sự thương mến
người, và như định luật hễ có người thương thì có người ghét. Giờ ta chỉ
cầu được hưởng thụ vật chất, hưởng thụ đời sống phó mặc để quên đi người
thương người ghét, vậy mà cuối cùng đâu thể được. Đến cả vật chất cũng
không thỏa mãn cho ta; và dù chinh phục được vật chất đi nữa, thì thân xác
kia theo thời gian ngày càng lụn bại, đâu thể nào hưởng thụ được như xưa.
Vậy thì cuộc đời có gì thỏa mãn ta đâu! Thế mới hiểu mong muốn mà không
được thì khổ vậy (Cầu Bất Đắc Khổ).
Đó là những gì mà con
người phải trải qua sự thật này nên gọi là chân lý: Đây là diệu đế thứ
nhất: Khổ Đế.
Đến đây nhìn lại quá trình
khổ đã trải qua; ta thấy gì về sự mong cầu, sự thương yêu và thù hận! Tất
cả đều đến từ sự tham dục mà ra. Vì tham dục, luyến ái nên từ vô thỉ kiếp,
ta cứ duổi đầu mà đi không hề quay lại ghê tởm đoạn đường tạo nghiệp chất
chồng của mình. Ta mang thân xác thô kệch máu mủ, vì đã chấp chặt vào nó
từ vô số kiếp quá khứ, nên bây giờ theo luật tự nhiên khoa học, hễ có thân
vật chất cuối cùng phải hư họai; nhà Phật gọi là bốn thời kỳ
Thành-Trụ-Hoại-Không, cũng như luật nhân quả tạo thân bất tịnh thì quả báo
đến với sự thô kệch, qua việc bệnh đau, đờm dãi, phân tiểu v.v...
Từ sai lầm tham dục luyến
ái, nên bị sắc dục vật chất lôi cuốn tự bồi dưỡng cho thân xác này. Khi mê
mờ về thân xác dục ái đó, ta phát sinh ra lòng tham lam ích kỷ, dành trọn
tình thương cho mình; và hễ phản lại lòng luyến ái, ta liền triệt để bảo
vệ mong thỏa mãn cho được dục vọng luyến thương kia. Vậy, vì tham dục nên
tự tạo thân sắc dục, vì mang thân sắc dục nên tâm tưởng phát sinh sự
thương yêu, thù ghét thuận theo tính tham dục. Do thế Phật dạy nguyên nhân
của khổ là tham dục, luyến ái, và đó gọi là Tập Đế.
Thật khó tưởng được có
người sống trong đời đầy quyến rũ dục tình, tham ái lại không bị động tâm
kẹt vào những thứ này. Người ấy có lẽ phải thẩm thấu sự ghê tởm của tham
dục mới không còn bị nó chinh phục. Và người đó cũng chắc chắn hiểu được
kết quả sẽ đến thế nào khi từ bỏ dục tình tham ái kia. Trạng thái mà người
dứt được tham dục là một trạng thái an lạc trong thanh tịnh, điều này chỉ
có thể mượn ngôn từ tương đối của thế gian mô tả. Trạng thái đó nhà Phật
tạm gọi là Niết Bàn, vậy người đạt được Niết Bàn là người không còn tham
dục nữa. Như thế, biết được con người chịu khổ là do nguyên nhân tham dục,
và tham dục diệt rồi thì sự an tịnh của Niết Bàn xuất hiện. Tới đây mỗi
người chúng ta có đủ sáng suốt nhìn ra bản thân mình đã từng tham dục
luyến ái bao lâu rồi! Nên phải mang bao kiếp thân khổ; vậy mà chưa tỉnh
ngộ! Nếu ta thật sự ghê tởm dục tình tham ái thì bao nhiêu điều khổ như
trên, sẽ không còn xảy đến cho ta. Đây là chân lý thứ ba gọi là Diệt Đế.
Chân lý còn lại là phương
cách thế nào để thực hành đạt tới con đường thoát ly tham dục. Đó là con
đường Trung Đạo. Phật dạy có tám pháp như sau: Chánh kiến, Chánh tư duy,
Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh
định.
Hiểu và hành theo tám pháp
này giúp con người đạt được đầy đủ thiện pháp, dứt trừ ác pháp. Có thể
nói, thế gian này không tìm được một pháp học ‘chân thiện mỹ’ nào hoàn
chỉnh như tám pháp này. Chúng ta thử lược xem một người thế nào thực hành
được Bát Thánh Đạo (tên gọi của tám pháp).
Một người có cái nhìn sáng
suốt, thấy được sự thật của vấn đề. Thấy vấn đề như sự thật của nó,
(các pháp do nhân duyên sinh) thấy như thế sẽ không bám víu vào nó,
chỉ chấp nhận nó như một đối tượng trong đời và như vậy người này vẫn sống
với sự sự vật vật mà không tham đắm. Người này có chánh kiến.
Rồi người này lại luôn suy
tư đến những điều lành điều thiện, điều gì chỉ mang lại niềm vui an lạc
cho người, cho mình. Người này sống trong sự toan tính của xã hội mà tư
tưởng không bị lôi kéo ảnh hưởng, chỉ duy nghĩ về những thiện pháp. Người
này đã thực hành Chánh tư duy.
Khi hiểu biết và tư duy
sáng suốt như thế, người này tức thì hành động theo thiện pháp. Lời nói và
hành động bây giờ luôn luôn làm đẹp làm vui đến mọi người, tức là nói lời
thành thật, nhã nhặn, xây dựng, tươi vui. Hành động cũng liền đi đôi với
lời nói chân thiện, nên không hành hung bạo động đả thương đến bất cứ ai.
Người này thành tựu cả hai Chánh ngữ và Chánh nghiệp.
Lời nói, hành động ở trong
chánh pháp người này nhất định chọn cho chính mình cuộc sống phù hợp với
những gì người này đã quán xét, tư duy. Công việc người này lựa chọn hẳn
không tổn hại, thương tổn đến mọi người và trái lại chánh pháp - cả đến
những cầm thú súc sanh người này cũng thể hiện được cái nhìn từ bi trí
tuệ. Người này đã thực hành theo Chánh mệnh.
Tiếp theo là sự kiên trì,
gia công gìn giữ các pháp lành thiện nghiệp mà người này đã lãnh hội, và
luôn luôn đặt mình vào những hành động tích cực phát sinh thiện pháp. Cùng
lúc đó lại hướng đến tâm niệm vượt lên, đến gần với pháp hỷ lạc. Người này
bấy giờ có được cả hai: Chánh tinh tấn và Chánh niệm.
Cuối cùng người này đạt
được Chánh định, nghĩa là luôn luôn sáng suốt minh mẫn trong mọi ý thức
hành động của mình, và đó là kết quả huân tu ba nghiệp thanh tịnh hợp theo
chánh đạo.
Hiểu qua như vậy, chúng ta
thấy được con đường chân thiện rốt ráo rõ ràng, và ai cũng có thể thực
hành đạt tới. Bằng cách này hay cách khác ít nhất, giáo lý Tứ Diệu Đế đánh
thức ta, tỉnh giấc ngủ dài mê muội; không những ngay đời sống này, mà cả
giấc ngủ say từ vô thỉ kiếp còn vương vấn làm ta mãi ngây ngất người không
chịu mở mắt ra. Và thực tế đó không phải là chuyện viễn vông của lý tưởng
suông, vì nó là sự thật, sự thật ta đang là đây, sự thật ta đang đi đến.
Nếu sự thật của khổ không chối cãi được, thì sự thật của an lạc thanh tịnh
cái gọi là Niết Bàn cũng hiện hữu ra ngay đời nay. Như thế chúng ta phải
công nhận rằng, người nào thẩm thấu và thực hành được pháp Tứ Diệu Đế,
người ấy đã hoàn chỉnh trong cuộc truy tầm triết lý của nhân sinh.
6. Thay
đổi được an lạc
Khi chưa hiểu đạo giác ngộ
chúng ta đã sống thế nào? Nay hiểu đạo rồi phải sống ra sao? Trước kia
bước vào cổng Tam Quan vô Chánh Điện lễ Phật, thái độ tinh thần của ta có
gì lạ không, và khi rời khỏi chùa ta có lưu luyến hay nghi vấn gì? ...Rất
nhiều sự việc, giờ đây ta có thể nhớ lại để thấy sự thay đổi hiện thời.
Thường như bao nhiêu
người, nếu không phải là Phật tử thuần thành, việc vào chùa chỉ là để
khuây khỏa dạo chơi, tìm cảm giác an ổn hầu quân bình lại cuộc sống xô bồ
rầm rộ bên ngoài. Hay khi có biến cố đại sự trong gia đình cần phải tìm
đến chùa gặp quý vị tu sĩ cố vấn chỉ bày an ủi...
Ngoài ra, phần lớn đến
chùa là để xem lễ hội, văn nghệ trong hai ngày lễ lớn: Phật Đản, Vu Lan.
Riêng ba ngày Tết hẳn cũng thường có mặt, cốt để hái lộc đầu xuân cầu cho
may mắn. Lộc xuân ở nước ngoài này thường là những câu chúc lành bỏ trong
bao lì xì, hay một vài quả trái cây. Quả trái tượng trưng quả báo tốt đầu
năm.
Hình thức này là cách chúc
an lành cho người viếng chùa đầu năm mới.
Đó là việc viếng đất Già
lam trong tâm niệm và hoàn cảnh như vậy. Nhưng đó lại là việc quan trọng
nuôi dưỡng tinh thần trên xứ thuần đầy vật chất, cho dù việc được nuôi
dưỡng tinh thần này chưa có giọt nước cam lồ Phật pháp nào thấm đến. Điều
này thực tế chúng ta đã thấy, những ngày lễ hội rằm lớn, hương trên bàn
Phật quyện tỏa nghi ngút, dưới Phật đài người người sụp lạy nguyện cầu.
Nói rằng chưa được giọt nước cam lồ Phật pháp thấm vào, nghĩa là hình ảnh
khấn nguyện chí thành tha thiết ấy, chỉ xảy ra trong ngày lễ hội mà thôi!
Và khi xong lễ phải chờ lại một chu kỳ, mới có cơ hội! Mà cơ hội này cũng
do chính ta tạo ra. Tuy nhiên hoàn cảnh đã khiến ta phải thuận theo như
vậy, vì có lẽ ai chẳng muốn nhàn hạ để luôn được chiêm ngưỡng Phật đài, để
tha thiết bộc bạch lời khẩn nguyện, cho tâm hồn được tự tại an nhiên, cho
mọi người được vui vẻ, cho thế giới được hòa bình, cho hoa Ưu Đàm nở rộ
tỏa khắp trên hành tinh xanh này!
Quả thật như thế, và nếu
nguyện được như vậy thì dù có viếng chùa lễ Phật đợi đến chu kỳ, nhưng
chắc chắn đã tạo được giọt nước cam lồ Phật pháp. Vì cầu nguyện với tâm vị
tha vô ngã (vì người mà không thấy có mình) nên khế hợp với tâm nguyện chư
Phật mười phương. Và theo nhân quả, dù không nguyện được như vậy, duyên
lành Tam Bảo cũng được tích thành trong tương lai; do đã dắt được ba
nghiệp thân, khẩu, ý vào được đất Già Lam, nhất là lúc ba nghiệp sụp xuống
đê đầu lễ Phật, dù là lúc đó chỉ cầu cho riêng mình đi nữa. Do đó chỉ cần
đối trước Phật đài chiêm ngưỡng là đã tạo duyên Phật rồi. Thử nhìn lại còn
biết bao người chưa bao giờ đặt chân tới chùa, dù để dạo chơi xem hội.
Riêng tâm trạng người mới
vừa nhận được viên ngọc quý, tức vừa nhận ra mình diễm phúc gặp đạo vàng,
bây giờ đã có khác. Cái khác này chỉ tự mình thấy. Người ngoài chỉ là thấy
qua hình ảnh múa máy mà thôi. Tuy nhiên chúng ta cũng đã thay đổi bên
ngoài, bằng những động tác có ý thức mà thường nghe là sống trong chánh
niệm.
Chúng ta bắt đầu gặp nhau,
chào hỏi qua cung cách chấp tay xá chào, và lời đầu tiên thốt ra khỏi
miệng là đọc lên danh hiệu ‘‘A Di Đà Phật’’, rồi mới tiếp hỏi sức khỏe,
gia đình v.v...Thật ra đọc lên danh hiệu đức Phật A Di Đà, đã đầy đủ lời
chúc tụng. Vì đức Phật A Di Đà còn có danh hiệu là Vô Lượng Thọ; mà loài
người chúng ta ai mà chẳng cầu được thọ, hẳn nhiên sống thọ ở đây phải
khỏe mạnh, sung sướng. Đức Phật Vô Lượng Thọ lại là giáo chủ cõi Cực Lạc,
một cõi nước đầy an lạc đến cùng cực, thì tất nhiên cầu chúc qua danh hiệu
Ngài phải mỹ mãn vui sướng là trước tiên. Vậy không có câu chúc nào bằng
đọc lên danh hiệu Ngài. Còn nếu nói về lý giải thoát mà người học Phật
đang tầm kiếm, thì danh hiệu Phật A Di Đà là câu chúc thiết thực. Chúc cho
người quay về soi rọi chính mình, qua ánh sáng thanh tịnh để thanh tịnh
thân tâm tiêu diệt phiền não; vì danh hiệu Ngài còn gọi là Phật Thanh Tịnh
Quang. Đây lại thấy hai chữ Thanh Tịnh vô cùng quan trọng trên hành trình
tu học. Bởi pháp tu nào cũng trở thành vô ích nếu hành giả không thanh
tịnh được thân tâm.
Vào trong chánh điện,
chiêm ngưỡng đấng Thế Tôn, lúc này tâm hồn đã khác nhiều lắm. Bấy giờ
người ngoài càng khó t