Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật giáo & Xã Hội


...... ... .

 


Nhân Duyên Vào Đạo Phật

Chùa Pháp Bảo - Sydney 2000

Thích Phổ Huân

---o0o---

 
Mục lục

Lời giới thiệu

Lời nói đầu

1. Nhìn qua đạo Phật
2. Nhân duyên vào đạo Phật
3. Tu theo Phật pháp 
4. Hiểu một ít Phật pháp
5. Nguyện ghi nhớ bốn điều diệu đế 
6. Thay đổi được an lạc 
7. Một ít vui 
8. Ở đây nào phải ngẫu nhiên 
9. Những vấn đề 
10. Hành dộng theo Phật pháp 
11. Giữ tâm mà đi 
12. Thành kính tri ân
13. Sống lạc quan 
14. Nhìn lại để thấy may mắn
15. Xả bỏ 
16. Chết yên vui! 
17. Thương yêu
18. Tu Phật không phải dễ 
19. Tu Phật không hẳn là khó 
20. Đọc tụng kinh Phật 
21. Niệm Phật 
22. Thiền 
23. Chỉ có Phật thừa 
24. Niềm tin 
25. Quay về với tự tánh 
26. Bám víu 
27. Phiền não, tham, sân, si 
28. Cao siêu của sự cung kính lễ lạy 
29. Lập nguyện đi vào giải thoát 
30. Cầu cho người mình được hạnh phúc 
31. Trạng thái an nhiên và con đường đạt đến 
32. Thận trọng và chuẩn bị cho vô thường 
33. Tại sao phải tu Phật? 
34. Ta chẳng thấy ta! 
35. Hướng về chư Phật 

 

Lời giới thiệu

Đạo Phật chú trọng ở điểm: thấy - nghe - suy nghĩ và hành trì. Thấy có chính xác mới hiểu đúng không lệch lạc, thiên kiến. Nghe có đúng thật mới không truyền đạt sai sự thật. Suy nghĩ có chín chắn có cân nhắc kỹ càng, phát ngôn mới đúng. Hành trì chỉ là việc cộng lại những gì đã nghe, thấy, hiểu và suy niệm một cách cẩn thận.

Ba vị đại Bồ Tát thường được xưng tán lễ lạy là Văn Thù, Quán Thế Âm và Phổ Hiền qua quá trình quán chiếu: nhãn căn thanh tịnh, nhỉ căn viên thông và ý căn thuần thục vô ngại. Bồ Tát Văn Thù với đôi mắt thương nhìn cuộc đời. Ngài biết dừng lại để quán chiếu sâu vào lòng sự vật và vào lòng người. Đức Bồ Tát nhìn với tất cả sự chú tâm và thành khẩn; không thành kiến, không cố chấp; và vì vậy Ngài đã thấy và hiểu được tận gốc rễ của mọi khổ đau, rõ được tự tánh vô thường và vô ngã của vạn vật. Vì thế, chúng ta xưng tụng Ngài là bậc đại trí. Ngài dùng thanh gươm trí tuệ đoạn dứt phiền não, giải thoát mọi khổ đau cho chúng sanh. Bồ Tát Quán Thế Âm đạt được nhỉ căn viên thông. Ngài biết lắng nghe những tiếng kêu cầu thống thiết của chúng sanh để lân mẫn cứu giúp cho cuộc đời bớt khổ. Đức Bồ Tát chính là bà mẹ hiền lắng nghe và tin hiểu bằng trái tim cảm thông trong sự thương yêu tha thứ; không thành kiến, không phân biệt; không phán xét để làm vơi nỗi khổ đau của mọi người và của mọi loài. Ngài chỉ chăm chú lắng nghe thôi cũng đủ hiểu được những điều chúng sanh muốn nói để lòng thương yêu ban rãi đến khắp mọi cõi lòng. Bồ Tát Phổ Hiền với ý căn thuần thục vô ngại qua hạnh nguyện cao cả của Ngài để tâm thức đi vào cuộc sống, ban cho người niềm vui và giúp cho người bớt khổ. Dáng vẽ ung dung tự tại của Bồ Tát xông xáo vào đời mang lại niềm vui và hạnh phúc cho nhiều người. Đó là tất cả những gì hành giả cố gắng lần dò dõi bước theo để đem nguồn an lạc tuyệt vời đến cho mình và cho cả muôn loại .

Học và hành trì hạnh xuất thế cần phải trải qua quá trình tinh luyện đãi lọc thân tâm mà sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chưa thu nhiếp, điều phục là trên đường tu còn gặp phải thiên nan vạn nan và đích dừng chân hãy còn xa vời vợi. Dù vậy, những gương tu chứng của các bậc Bồ Tát, Tổ sư, hành nhân liễu đạo vẫn là thước đo chuẩn xác cho hành giả đang tập tểnh dò tìm. Đại Đức Thích Phổ Huân là đệ tử của Pháp Bảo, đã cố gắng trình bày những kinh nghiệm hành đạo, sống đạo, hiểu đạo qua tác phẩm: "Nhân duyên vào Đạo Phật" mà quý vị đang có trên tay. Đây là một sự cố gắng đáng khích lệ, vì soạn giả phải đóng khung trong căn nhà nhỏ tại thành phố chật hẹp Luân Đôn để hoàn thành chỉ trong thời gian vài tháng, tác phẩm dày trên 200 trang thế này!

Qua tác phẩm, những chủ đề quen thuộc được diễn tả bằng cái nhìn có chánh niệm của người xuất gia trong môi trường hải ngoại giữa thời đại văn minh khoa học tân tiến ngày nay, đủ nói lên chí nguyện và sự gia tâm tu trì của tác giả.

Với tư cách là thầy giáo thọ và cũng là người lãnh đạo, tôi xin hân hạnh viết mấy lời giới thiệu ngắn gọn này như là món tặng phẩm thanh quí gởi đến quý độc giả bốn phương. Và bây giờ nào mời quý vị hãy thử giở từng trang để đọc kỹ. Phần nhận xét tác phẩm hẳn xin nhường lại cho quý vị.

Sydney quý đông năm Canh Thìn

Ngày 18 tháng 8 năm 2000

T.T. Thích Bảo Lạc

 
 

Lời nói đầu

Làm quen đạo Phật là một duyên lành, hiểu đạo Phật là duyên lành lớn, và thực hành được đạo Phật ngay đời sống này là tận hưởng duyên lành đó. Chúng tôi may mắn làm quen duyên lành này, nhưng chỉ hiểu cạn cợt, do đó thực hành đang là từng bước. Nhưng đạo Phật lại quá nhiệm mầu huyền diệu, không như các môn học thế gian mà người tìm học chỉ thường được đền bù kết quả ở một đời này. Đạo Phật chẳng những đem lại kết quả đời này, lại còn đưa người đến những cõi miền xa nữa, nơi ấy là những biển trời tâm thức, không còn đối đãi bằng những dục tình phàm tục thế nhân. Và thế tất nhiên không còn hệ lụy của ý thức khổ vui. 

Chính sự huyền diệu này, mà chúng tôi đã cảm nhận không phải lo lắng cố tạo cho mình sự thông hiểu như là môn học thế gian, bởi vì dù có hiểu thế nào cũng chỉ là nếm từng vị ngọt tươi mát của pháp vị, mà pháp vị đó nhiều như nước biển. Cho nên cố gắng cũng không sao nếm hết, tuy nhiên vị ngọt kia cũng chỉ là một vị mà thôi.

Trình bày đôi điều thô thiển trong quyển sách này, chúng tôi chỉ muốn chia xẻ một niềm vui, một niềm vui mà chúng tôi cảm được. Quan trọng hơn là những lời tự răn nhắc cho chính chúng tôi, để thầm nhớ duyên lành mà mình hiện đang tập tành từng bước. Và nếu trong một sát na duyên khởi nào, người đọc bất chợt thấy được tiếng vang đồng điệu ở một vài câu, ở trong đôi chữ thì đó cũng chỉ là những nhân duyên mà người đọc và người viết đã bỏ rơi đâu đó nay chợt tìm thấy lại. 

Chúng tôi rõ biết khả năng và căn cơ của mình nên không dám móng tâm khuyên bày, lý giải cho ai đó, vì biển pháp mênh mông mà con thuyền quá nhỏ lại đơn độc một mình dám đâu không mong người chỉ dạy.

* * *

Khởi viết vào cuối năm 1999, và hoàn tất tại Luân Đôn vào giữa năm 2000. Tưởng không quên nhắc đến nhân duyên trợ giúp cho việc hoàn thành tác phẩm này; chúng tôi xin tri ân đến Anh Nguyễn Tiến Dõng đã hỷ tặng máy computer kèm theo phần nhu liệu tiếng Việt để chúng tôi có thể trực tiếp đánh thẳng vào máy. Anh chị Minh Đàn (Nguyễn Ngọc Điệp) hỷ tặng phần hình Monitor và máy in (hiệu BJC-2000). Đặc biệt gia đình Điệp Hương, đã tạo duyên cho chúng tôi có được tịnh thất yên tịnh để hoàn thành tác phẩm. Và cùng quý vị đạo hữu góp phần tịnh tài ấn tống. 

Chúng tôi cũng xin tri ân quý vị Tác giả, dịch giả mà chúng tôi mạn phép trích dẫn trong sách này. 

Cuối cùng không quên ân nghĩa dưỡng dạy của Thầy Bổn sư, là thượng Bảo hạ Lạc đã tạo nên những phương tiện nhân duyên tích tụ thành những ý tưởng như ngày hôm nay. 

Vì là kẻ đang tập tành từng bước nên ý tưởng chắc phải sơ sót, vậy kính mong chư vị Thiền đức, tri thức học giả niệm tình chỉ dạy.

Nguyện đem công đức nếu có được này, xin cầu nguyện cho tất cả quý vị nói trên, thân tâm luôn sống trong ánh từ quang của chư Phật, và nhất nguyện cho thế giới hòa bình, hết thảy chúng sanh kẻ mất được siêu người sống an lạc cuối cùng sẽ hòa vào biển giác.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Luân Đôn, Vùng Woolwich - Greenwich 21 /7 /2000

Thích Phổ Huân 

 

 

 

1. Nhìn qua đạo giải thoát

Thiên kỷ mới, đón mừng một kỷ nguyên khoa học tuyệt vời do con người xây dựng. Kỹ thuật vi tính, điện năng tin học đạt đến mức gần toàn hão - giúp con người ngồi lại gần nhau mà hai bên cách xa hàng ngàn dặm (miles), giúp con người tiết kiệm biết bao công sức, và công cụ để giải quyết gần theo ý muốn. Nền văn minh đầu thế kỷ 21 thật đáng hãnh diện cho nhân loại đang cư trú ở hành tinh xanh (trái đất), và có lẽ trong quỹ đạo thái dương hệ (solar system) này hành tinh xanh của chúng ta đang đợi sự thử thách lớn để tìm một nền văn minh khác!

Kỷ nguyên văn minh tinh xảo gần như chu toàn, thì tư tưởng và quan niệm sống con người cũng phải phù hợp theo. Nếu sản phẩm nào không hài hòa tương ứng với nền văn minh khoa học, tức thì sẽ bị đào thải. Do đó kỷ nguyên mới đánh đổ tất cả những gì là mờ ám mê muội, mê tín trá hình mang tính chất phản khoa học, phản thực tế.

Vậy thì vấn đề siêu khoa học, tâm linh con người phải chỉnh đốn lại, phải nhìn lại bằng cặp mắt khoa học hơn mà không dị đoan mê tín. Từ đây các tổ chức tâm linh, tín ngưỡng thuộc về huyền ảo mê tín, tự động sẽ đẩy mình rời xa cuộc sống hiện tại, mà kết quả là không còn gì để nói ở kỷ nguyên này. Điều đó thấy rõ ở các nước văn minh giàu có. Hiện tượng ở giới trẻ, họ không còn như ngày xưa nữa. Họ bây giờ không thể tin càn, tin mù quáng, tin không căn cứ bình phẩm, nhận định, suy tưởng, lý giải, thiết định v.v...

Viễn ảnh sự thật đã và đang xảy ra hiện nay như thế, vậy với đạo Phật thì sao? Câu trả lời chỉ là nhắc lại, vì từ lúc giáo chủ của đạo Phật, đức Thích Ca Mâu Ni, được xem như một con người, có kiểm chứng bởi lịch sử qua kinh điển và chứng tích cổ vật còn lại, đã tuyên bố ngay khi đem giáo lý phổ cập vào quần chúng. Ngài dạy rằng, con người hãy nên tin những gì, sau khi đã tư duy rõ biết điều đó, điều mà có thể thực hành mang lại lợi ích cho người và mình...Do như vậy mà đừng vội tin bất cứ ai, dù đó là những người nỗi tiếng, những người tu sĩ được ca tụng chứng đạo, hay những kinh sách được truyền tụng từ xưa... cho đến Thầy của các người...Thậm chí đến lời Ngài đang nói, cũng phải được cân nhắc, xét nghiệm tư duy trước khi thực hành.

Đó là con đường thực hành theo đạo giác ngộ. Gọi rằng đạo giác ngộ giải thoát ở đây thật đúng, như vậy không có thành kiến phân biệt đến các đạo khác. Cũng như khoa học là định luật tự nhiên mà ai cũng có thể xử dụng trong đời sống. Và vậy đạo giác ngộ đâu khác gì các môn khoa học thế gian. Cho nên hiện nay, đạo giác ngộ đang đi vào một số quốc gia có tiếng văn minh khoa học chẳng thấy trở ngại gì. Chẳng hạn Mỹ quốc là quốc gia có tiếng văn minh khoa học, nay lại thật chiếu cố đến đạo giải thoát. Tuy nhiên xem ra cũng là bình thường, vì đạo giải thoát là đạo khoa học tự nhiên, nên không có gì để ngạc nhiên cả. Thế thì khoa học càng tiến bộ đến mức nào đi nữa thì đạo giải thoát vẫn là đạo của khoa học, và dù năm mươi năm nữa con người có di dân lên được hỏa tinh (Mars) để sống, thì đạo giải thoát vẫn là đạo của khoa học. Hay nói một cách khẳng định không sợ lầm, là dù một trăm năm, ngàn năm tới, bấy giờ con người có thể bỏ vào túi áo cái máy điện tử nhỏ bằng hộp quẹt đốt lửa, rồi có thể bay đi đây đó, thì đạo giải thoát vẫn là chân lý không gì đánh đổ, và con người trong thời đại này trước sau cũng phải quay về tìm hiểu tu học hơn.

Cho rằng sao lại chủ quan đưa đạo Phật lên cao như thế! Vì đạo giải thoát soi thấu bản chất con người, và lột tả hết cả những bí ẩn về con người; do thế con người có thế nào đi nữa, có là cha đẻ ra khoa học đến đâu thì vẫn là con người trong cái bản chất mà đạo Phật đã vạch trần ra sự thật của nó. Cho nên thời gian, không gian không thành vấn đề với đạo giải thoát, và vậy đạo giải thoát xuất hiện ở đâu con người sớm muộn sẽ đạt đến chân hạnh phúc ở đó. Nhưng nếu có vấn đề trái ngược thế nào thì đó là luật nhân quả, và rồi cuối cùng sẽ đạt được chân hạnh phúc. Vấn đề trái ngược là hiểu đạo giải thoát mà không thực hành nên kết quả không đạt được như ý.

Nhìn nhận mà thấy ở các nước văn minh cường thịnh vật chất, con người vẫn sống bất an về tinh thần, và bệnh thần kinh căng thẳng vẫn đang cần nhiều bác sĩ tâm lý. Nhưng kết quả do không trị liệu tận gốc, nên từ trong gia đình cá nhân ra ngoài xã hội, đau khổ vẫn lan tràn. Cảnh vợ chồng ly dị, bất hòa, con cái tự do hành động, ảnh hưởng hầu như đến tất cả gia đình ở những xứ văn minh giàu có. Và người ta vì vô phương cứu chữa nên cố tìm quên vào thú vui vật chất, nhưng càng cố quên lại càng căng thẳng hơn, vì có thú vui nào mà không có giờ chung kết! Do đó tìm hiểu lại, thấy rằng đạo giải thoát giúp con người giải quyết được vấn đề bất an này, và giải quyết vấn đề theo Phật học tâm lý, để thích ứng với nền luân lý đạo đức mà khoa tâm lý học bên ngoài không thể cứu chữa được. Đó là những vấn đề thực tế chớ không phải bi quan. Bi quan là bất lực ngồi đó mà nhìn con bệnh chết, hay nhìn sự thật đau buồn vì là tất cả hoài công cứu chữa, để rồi ôm vào đầu toàn là hình ảnh mịt mờ đen tối.

Thế thì cần nên tìm hiểu đạo giải thoát để khỏi ngộ nhận, và trong đời sống làm người cần nên tìm học pháp giải thoát để đời sống thực tại hôm nay sáng sủa hơn, tươi mát hơn và có ý nghĩa hơn. Cho nên trong kinh có nói được làm người là khó, nhưng được biết Phật pháp (pháp giải thoát) còn khó hơn gấp trăm ngàn lần. Tại sao vậy? -Vì nếu hiểu được pháp giải thoát tất nhiên không còn luân hồi đau khổ nữa.

Đưa ra vài dữ kiện về đạo giải thoát, để thấy rằng mình thật may mắn chọn đúng đường đi, trong một thân xác vật chất tồn tại ngắn ngủi, và một tư duy (tư tưởng) hạn hẹp này. Thiết nghĩ chúng ta vô cùng may mắn tập tành từng bước, bước vào siêu xa lộ giải thoát hoàn chỉnh nhứt của một kiếp người, đó là tin hành theo pháp giải thoát.

Nếu hiểu nghĩa tu, theo đạo giải thoát hợp với khoa học tự nhiên, thiết nghĩ như sau:

Tu Phật có thể tu tại nhà, có thể tại công xưởng làm việc hay tại siêu thị chợ búa. Tu Phật không ép buộc phải đọc kinh, lễ lạy, không phải thắp nhang khấn vái, không phải mặc cho được áo vàng...Tất cả những hình ảnh này chỉ là phương tiện, hay phương cách giúp người đi đến chỗ toàn thiện, chớ không phải là cứu cánh ngay hình ảnh đó. Vì hình ảnh chỉ là bên ngoài, mà tu Phật lại từ bên trong. Khi bên trong đã thấm hiểu thì bấy giờ bên ngoài (tụng kinh, lễ Phật...) mới hoàn toàn là một hình ảnh đẹp - nó sẽ hiện ra ánh sáng chiêu cảm với ánh sáng Phật (giác ngộ) làm người chung quanh hấp thụ được, khiến họ thích đến gần ta hơn. Ngược lại chỉ là hình ảnh giấu đi phiền não, và càng tu làm người chung quanh càng nghi ngờ ra. Điều này nói chung cả tu sĩ và cư sĩ.

Một điều căn bản nhất, phải xem Phật là bậc giác ngộ, bậc Thầy dạy ta học đạo giải thoát, chớ Phật không phải ông trời, hay thần linh có uy quyền sai khiến hay giúp đỡ đưa ta về thế giới an lành. Phật chỉ giúp đỡ được khi ta giúp ta trước nhất, bằng không Phật chẳng giúp được gì. Nên hiểu rằng Phật là danh từ chung, nghĩa là ai cũng có thể thành Phật, chớ không phải Phật chỉ ở trong Chùa, Tịnh Xá hay chỉ có ở xứ Ấn Độ. Thời nay chúng ta đang sống thời kỳ của Phật Thích Ca, nên hình ảnh Ngài là Phật duy nhất ở cõi Ta Bà này, nhưng ở những mười phương thế giới xa xăm kia lại có vô số Phật. Riêng chúng ta nếu tu cũng sẽ thành Phật, sẽ vào một thế giới nào đó để độ chúng sanh, vì Phật có nghĩa là giác ngộ, tỉnh thức không còn tham, sân, si, ra khỏi ba cõi, Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới [1]. Hiểu được như vậy sẽ không còn mê tín và hợp cách với khoa học. Tuy nhiên vì ta đã say ngủ trong vô lượng kiếp, nên cần phải có giáo pháp của bậc giác ngộ (Phật) đánh thức ta dậy nên gọi là TU đó thôi! Cho nên nói cao hơn, theo chư vị Bồ Tát lớn, khi đã lãnh hội lời Phật dạy thì không còn tu gì nữa, vì tự nhiên mỗi hành động ý nghĩ tự nó đã tu rồi, còn gì nói đến chuyện TU! Các bậc tổ xưa thường hành theo lối này. Chẳng hạn nghe chuyện Tế Điên Hòa Thượng tưởng là huyền thoại, nhưng thật ra có vô số Bồ Tát lớn đang hành hoạt gần giống như vậy. Và thực tế nhất là Lục Tổ Huệ Năng qua việc tu hành của Ngài thật bình thường chẳng có gì lạ.

Tuy nói vậy nhưng cũng không phải đơn giản, do vì phải tu từ bên trong mà ra, nên phải nhìn thẳng vào mình rồi hài hòa đến mọi người, lấy cái đau của người mà học, nhìn phúc lạc của người mà tư duy. Nhưng mấy ai đã nhìn thẳng được mình, nghĩa là chinh phục chính mình! Việc này không phải là dễ, nên Phật đã dạy người thắng được mình mới là chiến thắng tối cao nhất.

Kết lại thì đạo giải thoát thật là một đường hướng an lành vui đẹp có thể hài hòa mọi hoàn cảnh và mang lại cho nhân loại sự thương yêu chân thật nhất. Xin trích lời của nhà Phật học người Mỹ, Tiến sĩ Peter D. Santina, đã

‘‘Nhiều người có địa vị đáng kể trong xã hội Tây Phương là Phật tử hoặc có người không phải là Phật tử, nhưng rất có cảm tình với Phật Giáo. Thí dụ cụ thể là nhà bác học Albert Einstein đã nhận xét trong bài tự thuật rằng ⮧ là người không tôn giáo, nhưng nếu ông là một người có tôn giáo thì ông phải là một Phật tử ’’ [2]

Nguyên văn, ‘‘There are many persons of considerable standing in western societies who are either Buddhists or who are sympathetic towards Buddhism. This is most clearly exemplified by the remark made by Albert Einstein in his autobiography, the remark That he was not a religious man, but if he were one, he would be Buddhist.’’

2. Nhân duyên vào đạo Phật 

Mỗi người mỗi nhân duyên làm quen Phật pháp, từ việc làm quen trở thành gắn bó và từ gắn bó tới thể nhập lần về giác ngộ giải thoát. Qua nhiều nhân duyên đến với Phật pháp khiến chúng ta phải suy tư, trân quý, gìn giữ mãi buổi đầu phát tâm vào đạo.

Có nhiều duyên ngộ dẫn ta đến cửa đạo, ở đây xin được gợi lên một vài hình ảnh nhân duyên quen thuộc dắt ta làm quen với đạo giải thoát, để từ đó vui mừng thấy rằng đó là một thiện duyên.

Nhân duyên qua âm thanh

Như một nghệ thuật âm nhạc, đạo Phật có những pháp cụ: chuông, mõ, khánh, tang...những thứ này tạo nên âm thanh nhạc điệu, giữ được cách hòa tụng đều đặn nhịp nhàng, phụ họa cho lời kinh trầm bỗng, khiến người tụng, người nghe đi sâu vào thế giới âm điệu cao siêu, sâu thẩm giải thoát. Âm điệu chuông mõ hòa theo âm điệu lời kinh, có tác động sâu kín vào tâm hồn người nghe. Tác động này làm bừng dậy tâm thức, vơi nhẹ đi phiền não trong tâm. Qua đó khiến một số người cảm nhận niềm rung cảm, lắng đọng mà cho rằng chưa bao giờ tìm được một sự rung cảm lạ lùng như thế. Một sự rung cảm gần như xúc động, cơ hồ kéo lôi ta về một thế giới thanh tịnh sâu kín của âm thanh siêu thoát. Cho dù ta không hiểu trọn âm nghĩa của kinh, nhưng âm thanh đã chuyên chở hết những rung động và vượt lên trở ngại ngôn ngữ. Điều này đã làm chúng ta an tịnh, không cần thắc mắc nghi vấn cũng không cần tìm cầu giải thích; duy chỉ có nghe và thanh tịnh nghe, để được an lạc, để được trút bỏ tất cả âm thanh thô kệch lộc cốc, phiền hà trong đời sống. Nghe như vậy ta đã cảm được cái nghe huyền diệu, vượt lên...Cái nghe như Ngài Đơn Hà Thiền sư giải thích: ‘Chấm dứt được vọng động phân biệt của nội tâm, tánh nghe (chơn tâm) mới hiễn bày, trạng thái tâm lý này gọi là ‘Nhập lưu văn tánh’ (Tánh nghe đã nhập vào thực tánh). Bấy giờ công năng tri giác của tâm đối ngoại thì không còn ràng buộc bởi thanh trần (ngũ trần), đối nội thì không trú trước vào không tuệ. Đó là điểm đạt đạo của sơ tâm, và là cứu cánh của viên ngộ. [3]

Việc nghe Pháp do các vị giảng sư, giúp người nghe tìm vào đạo dễ hơn, vì lời pháp rõ ràng cụ thể, giảng dạy ngay vào chân lý đánh thức tánh giác đang say ngủ và hiển bày pháp lý vi diệu bằng cách nhắc lại lời dạy của kinh điển. Người nghe pháp vào đạo không hoàn toàn là do nghe từ vị tu sĩ, mà có khi từ một người bạn, hay một người không quen biết, thậm chí từ một đứa nhỏ tình cờ lập lại, nhái lại một vài tiếng trong kinh, hoặc một bài hát một vở kịch diễn về Phật pháp v.v...

Những nhân duyên kỳ lạ ngẫu nhiên ấy chỉ là một cớ duyên, đã hội đủ tàng chứa trong tâm thức được thời duyên xuất phát để lãnh hội. Do đó có người khi chưa trọn duyên trọn quả, tâm thức không thể đón nhận được những thanh âm Phật pháp, và vậy âm thanh kinh kệ, thuyết giảng chẳng gợi một cảm xúc gì. Tuy nhiên âm thanh kia vẫn không mất đi đối với người không duyên đón nhận; nó sẽ là một thứ duyên xa, tàng trữ vào tâm thức (thức thứ tám) một chỗ sâu sắc, vi tế chứa đựng làm mầm mống chủng tử cho kiếp vị lai xa xôi; và chắc chắn sẽ nẩy mầm khi đủ duyên hội tụ. Vậy thì chung quy cả hai âm thanh lời kinh tiếng mõ, những pháp ngữ đều khởi lên nhân duyên vào đạo trong sứ mạng tác động và khơi dậy tánh giác.

Qua hình sắc:

Hình ảnh gợi nên cảm xúc cho ta rất nhiều, có thể nói hình ảnh tác động rất mạnh vào tâm thức. Hình ảnh dẫn duyên vào đạo, đại lược là phong cảnh thanh nhàn yên tịnh, tượng hình Phật Thánh, và cảnh sống sinh hoạt của các vị tu sĩ nơi chốn già lam.

Với người đang bị vây bủa bởi lo toan, khích động tinh thần trong môi trường vật chất hỗn độn, họ sẽ dễ dàng tìm được cảm giác dễ chịu trong cảnh thanh tịnh. Nhưng không chỉ những người này mới cần đến cảnh yên bình như vậy, mà chính người đã sống nơi thôn quê vốn đã yên tịnh, vẫn thấy được cảm giác yên tịnh lạ lùng trong cảnh yên tịnh của đạo. Phong cảnh chùa có một sự yên lạ như thế, một sự yên lạ thoảng niềm vui, một sự yên lạ như vỗ về an ủi, thì thầm trong tâm, một sự yên lạ giữ được dung hòa giửa tâm và cảnh... Sự yên lạ này hẳn khác biệt sự yên lạ cô liêu, u tịch bên ngoài của thế gian, chỉ tìm thấy được bằng nhỉ căn, nhãn căn (tai, mắt) là giác quan thô kệch. Và thường thì cảnh yên lạ đó phải tọa lạc không gần quá thị tứ, mới tạo được cái yên tịnh thường tình để biến thành cái yên tịnh đạo.

Có người sau khi viếng chùa họ bỗng phát tâm. Sự phát tâm của họ càng bộc phát mạnh hơn, khi đối trước Phật đài. Hình tượng Phật với nụ cười từ bi, trí tuệ với tư thế hoa sen (kiết già) thiền tọa tự tại xuất trần. Chỉ cần nhìn thấy vậy thôi, đã đủ nhân duyên vào đạo. Lại có người tìm vào đạo khi chiêm ngưỡng phong cách các vị tu sĩ qua chiếc y vàng, nhất là chiếc y của phái nguyên thủy; hình ảnh này gần gũi với ảnh tượng đức Phật khi Ngài còn tại thế.

Khơi dậy lòng ước vọng, ngưỡng mộ hơn nữa, khi đối trước cảnh tụ hội của chư tăng trong mùa an cư kiết hạ, cảnh tượng này chẳng những rực rỡ màu y vàng giải thoát, lại làm sống dậy trong mắt người xem, một thế giới của những con người sống đời thanh tịnh.

Duyên vào đạo bằng hình ảnh có thể còn nhiều, tùy vào sự cảm nhận của mỗi người, nhưng tất cả hình ảnh như vậy đều có một tác động đưa họ về nguồn tâm Phật tánh.

Qua biến cố

Vào đạo bằng con đường thuận duyên, thiện lành là điều dễ thấy, ngược lại do từ nghịch duyên trong cuộc sống khiến người ta quay về tìm đạo cũng không phải chuyện lạ. Thời Phật tại thế, có câu chuyện thương tâm của vị tín nữ con Trưởng giả dòng Phạm Chí, đã trải qua cực cùng đau khổ; cảnh chết chồng, chết con xảy ra ngay trong một ngày đêm, rồi tiếp theo là hung tin, nhà bị cháy, cha mẹ cô và người trong nhà tất cả đều chết...Cô như điên dại, nhưng không bao lâu chưa được nguôi ngoai lại sa vào sự thương yêu chết chóc với những đời chồng khác. Đau đớn ghê rợn hơn, cô bị người chồng điên loạn buộc phải ăn thịt con mình...Trong khổ đau như vậy, cô bỗng nhớ về đấng Giác Ngộ rồi lần tìm đến... Không bao lâu cô trở thành vị Tỳ kheo ni đầy đủ phẩm hạnh và chứng Thánh quả Vô sanh (A La Hán). [4] Ngày nay trường hợp đau buồn, phát tâm vào đạo cũng khá nhiều. Tuy nhiên những đau thương biến cố cùng cách ấy khi đã nguội dần, sau thời gian về với đạo người ta lại hay quên đi, và những gì tàn tích xưa lại được khơi dậy, rồi từ đó nhen nhúm bộc phát hồi nào không hay biết, để rồi đánh mất đi nhân duyên ban đầu. Nguyên nhân này cũng có thể là bước vào đạo qua con đường mong được xoa dịu cứu vớt khó cảm được cái cảm vị của mùi hương giải thoát, để từ đó khó giữ được bước đi lâu dài hơn. Tuy vậy cũng có người từ sự đau thương đưa họ vào đạo một cách nhiệt thành, tinh tấn đến cuối cuộc đời.

Xét cho cùng, trong đời người ai cũng ít nhiều trải qua những biến cố khổ đau. Từ biến cố như thế làm nên những suy tư cho cuộc sống, và do đây tìm hiểu vấn đề nhân sinh đạo lý; mà Phật pháp là con đường diệt khổ cho nên thấy rằng, qua biến cố khổ đau người ta có cơ hội nhận ra con đường giải thoát hơn.

Qua những tìm tòi nghiên cứu

Nhân duyên vào đạo qua con đường sách vở, chữ nghĩa, số người này có thể khá nhiều so với thời gian cách đây khoảng hơn 1000 năm, hay gọi là thời tượng pháp. Lý do xã hội bây giờ là xã hội văn minh cơ khí, điện tử. Người ta làm việc gì cũng cần có kiểm chứng, thực nghiệm. Vấn đề nào thiếu luận cứ, biện chứng khoa học xem như mê tín, vô bổ. Do vậy tìm về đạo người ta thật cẩn trọng, mà cẩn trọng bằng cách nào nếu không phải là bằng sự uy tín qua sách vở, nghiên cứu có tính cách triết học, khoa học do những tác giả bác học, học giả, sử gia viết ra.

Trong các đại đệ tử của Phật, Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên trước kia là hai nhà du sĩ trí thức, khao khát tìm cầu chân lý. Khi chưa gặp Phật các Ngài đã tự tìm đạo qua kiến thức hiểu biết của chính mình, do sức hiểu biết cao rộng như thế khiến không một danh sư nào trong thời đó lôi cuốn hai Ngài được. Cuối cùng, nhân duyên gặp vị tu sĩ trong dáng điệu xuất trần, đệ tử của đấng Thiên nhân sư (Đức Phật), rồi chỉ thưa thỉnh vài câu đã đưa hai vị trí thức tìm đến đạo giải thoát. Khi đã nhận hiểu chân lý giải thoát, các Ngài mới thấy sự hiểu biết của hai Ngài chỉ là những hạt bụi lăn tăn trong vũ trụ, khi so với vô số mây bụi là những giáo pháp mà đức Thế Tôn giảng dạy. Từ đó hai Ngài bừng sáng niềm tin, bắt đầu dấn thân vào đạo, rồi không bao lâu đắc quả Thánh.

Ngày nay việc nghiên tầm giáo điển trước khi vào đạo cũng là một phương tiện phổ thông. Do vậy một số người đến với đạo bằng con đường này đã giúp họ có lòng tin sâu sắc, vì đơn giản rằng Phật pháp đã vượt cao hơn những gì họ tưởng. Nếu nói về khoa học thì giáo lý đạo Phật được diễn bày thật khoa học qua cái nhìn về vũ trụ, nhân sinh. Điều này được thấy, qua nhận định của nhà học giả Âu Châu, Henri Percheron mà Giáo sư Nghiêm Xuân Hồng đã viết trong sách "Lăng Kính Đại Thừa": Giáo lý Phật hiện nay đương lan tràn sang cõi trời Tây, và lạ thay, kẻ đồng minh lớn nhất của giáo lý đó lại chính là khoa học ..."

Nếu nói về triết học, thì nền triết học Phật pháp chẳng những rõ ràng khúc chiết mang lại cái nhìn thiết thực trong đời sống, trả lời nhiều nghi vấn về nhân sinh, vũ trụ và nhất là giúp người giải thoát khỏi khổ đau, chứ không là nền triết học chỉ làm thỏa mãn đầu óc phiêu lưu văn chương chữ nghĩa, khó phổ cập vào mọi tầng lớp quần chúng. Trong quyển Sử Cương Triết Học Ấn Độ đã tóm tắc nêu rõ mục đích triết học Phật giáo như sau:

-Triết học Phật Giáo trong thực tế cải tạo đời sống hiện hữu.

-Triết học Phật Giáo phải đi đôi với thực hành không phải lý thuyết suông.

-Nhờ sự uyển chuyển và khai phóng của Triết học Phật giáo mà thích hợp căn cơ của chúng sanh.

-Mục đích của Phật giáo là để đi đến chỗ cứu cánh giải thoát hoàn toàn, không phải món đồ thẩm mỹ ngoạn mục. [5]

Đó là phương diện đến với đạo giác ngộ bằng đường hướng trí thức, tuy nhiên dù sao số người vì hiếu kỳ, tìm hiểu, so sánh tôn giáo đã mặc nhiên tạo duyên đi vào con đường giải thoát.

3. Tu theo Phật pháp

Khi nói tu theo Phật, có nghĩa còn có nhiều đường hướng khác để tu. Nhưng đã là tu thì đường hướng nào cũng là tu thiện tu lành, hay ít ra tu sao cho hơn cái hiện tại mình đang là đang có... Ở đây chúng ta là người chọn con đường tu Phật, tất nhiên chúng ta nên suy niệm một vài điều cho vấn đề tu học của mình. Chúng ta không nên tự khiêm (hạ mình) cho rằng việc tu Phật chỉ dành cho các vị tu sĩ, còn mình hạng cư sĩ ràng buộc với thế gian làm sao vói tay tới!

Trong pháp giải thoát có nhiều quả chứng tùy do trình độ tu tập của mọi người. Chẳng hạn tứ Thánh quả: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán [6]. Bốn quả vị này chưa phải là giải thoát rốt ráo, nhưng là bốn bước thành tựu đi đến quả Phật. Trong bốn quả này trừ quả A La Hán bậc vô học, ba quả kia còn là hữu hậu tức còn đang tinh tấn phấn đấu đi lên. Và đặc biệt ba bậc này, người Phật tử tại gia có thể đạt được mà không cần phải xuất gia. Việc này thời Phật còn tại thế xảy ra không khó, nhưng thời nay cách Phật hơn hai ngàn năm trăm năm hẳn là rất hiếm; nhưng không phải vì hiếm mà không có, chỉ vì ta không nhận ra các vị đó. Các vị có thể mang nhiều hình tướng lăn xả vào đời, với đủ địa vị, có khi là người chủ của ta, có khi làm người giúp việc và có khi là người mà thế gian không bao giờ ngờ được. Nhưng một điều, các vị thường luôn có một hành vi vị tha, một tinh thần nhân ái, và tư chất cao thượng sáng ngời dù ở bất cứ địa vị, tình huống nào. Các vị có thể mang giáo pháp giải thoát vượt qua mọi hình thức thế gian.

Về giới tu sĩ chứng quả (chứng luôn quả thứ tư) thì chắc chắn phải có, nhưng cũng lại khó tìm khó thấy, khó tìm khó thấy vì các vị không bao giờ nói ra là mình thế này thế kia. Kinh Phật có dạy, Bồ Tát thật sự chỉ khi nào giờ phút ra đi của các Ngài, hay khi các Ngài vắng bóng thì người ta mới nhận ra các Ngài là Bồ Tát.

Trường hợp đức Đạt Lai Lạt Ma vị lãnh đạo tinh thần Tây Tạng, được mọi người công nhận là hình ảnh một sứ giả hòa bình thánh thiện. Người dân Tây Tạng cho Ngài là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm v.v...Điều mà mọi người ca ngợi tư chất thánh thiện của Ngài, đó là việc không thể phủ nhận; nhưng việc Ngài là vị tu sĩ chứng quả thế nào thì chúng ta không thể biết, vì chúng ta chưa phải là Thánh nên không có thiên nhãn để nhận ra. Chúng ta chỉ nhờ căn cứ qua lời Phật và chư Thánh Tổ giảng dạy để phần nào suy đoán mà thôi.

Theo kinh dạy thì bốn Thánh quả vậy, chỉ là hàng Thanh Văn, Duyên Giác Tiểu thừa chưa phải là Đại Thừa Bồ Tát, nên dù là quả vô học như A La Hán cũng cần tiếp tục tu nữa để được giải thoát. Nhưng trong kinh Pháp Hoa Phật lưu ý ở Phẩm Phương Tiện thì chẳng có Thanh Văn, Duyên Giác cả đến Bồ Tát, mà chỉ có Phật thừa. Phật dạy từng bước chứng quả, chỉ là phương tiện đi tới cứu cánh là nhất thừa Phật quả. Điều này đã đánh thức các vị mới đắc quả Thánh, để không khởi lòng chấp ngã chấp pháp. Từ đây các vị Thánh mới dễ dàng bước lên quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác; do đó chúng ta không lạ gì khi biết các vị Thánh còn gia công tu trì hơn cả người mới phát tâm cầu đạo. Và khi hiểu như thế, ta lại càng không dám phân biệt, pháp này là Tiểu thừa, pháp kia là Đại thừa, bởi vì tất cả chỉ là giai đoạn tiến đến quả giải thoát; hơn nữa một người không có tâm từ bi trí tuệ, không hướng đến giải thoát, không cầu đạo Vô Thượng để thành Phật thì không thể đạt được quả Thánh dù là đắc quả Dự Lưu (Tu Đà Hoàn). Cho nên chớ đem tâm trí phàm nhân mà bình phẩm địa vị tu chứng của người khác, để không khéo kẹt vào quả báo khẩu nghiệp. Và nếu có thể bằng cái nhìn sâu rộng bình đẳng, chúng ta cũng dè dặt kính trọng cả người cư sĩ nào thật tu thật học như các vị tu sĩ vậy. Vì biết rằng vị cư sĩ ấy đang đi trên con đường thành Phật, nên sự kính phục của ta chắc chắn mang lại công đức cho ta. Điều này Tôn Giả Sàntideva đại sư Ấn Độ đã dạy: ‘‘Đối với các bậc hiền giả khéo dùng phương tiện hướng dẫn làm lợi ích cho chúng sanh, Bồ Tát luôn đảnh lễ kính trọng. Đối với mọi người Bồ Tát luôn nhún nhường như một người đệ tử vậy.’’ [7]

Suy niệm như thế, ta thấy quả tu giải thoát có thể đến với bất cứ ai; và việc chuẩn bị bước đường tu học của mình cũng đã bắt đầu tiến tới.

Bây giờ chúng ta đã rõ, mục đích của việc tu theo Phật là muốn giải thoát, là muốn thành Phật; và tùy theo căn cơ trình độ hoàn cảnh của mỗi người mà việc tu có dễ có khó, nhưng chung quy cũng phải tu cho được thành Phật. Bởi không ai tu Phật lại muốn làm trời hay tu Phật để được thỏa mãn hỷ hê phước báo thế gian. Nếu vậy uổng cho ta đã gặp một khu mỏ kim cương mà đi lựa toàn sỏi đá.

Vậy ta phải bắt đầu tu từ đây, phải bắt đầu bỏ hết đi những đá sỏi, mà chỉ lấy cho được những hạt ngọc kim cương.

 

Từ lúc làm quen qua những nhân duyên vào đạo, chúng ta đã bước được vào điện Phật, đã thưa chào các vị đồng tu bằng cử chỉ chúc lành giải thoát (A Di Đà Phật), đã lạy Phật dâng hương, đã phát tâm hướng thiện tìm về lối sống tỉnh thức, đã nhìn người với cái nhìn bình đẳng v.v...Tuần tự tạo duyên như vậy, đã đưa ta đến phần nào con đường tu niệm, và con đường tu niệm bây giờ là phải làm sao thấy được con đường giải thoát. Nghĩa là phải thấy chính ta thế nào, để vững bước trên đoạn đường đi. Ta phải thấy được phiền não trong ta nhiều ít! Phải thấy mức độ tham, sân bộc phát yếu mạnh ra sao, và trong một ngày ta được bao lâu sự yên tịnh.

Thật sự mà nói, bao nhiêu tiếng đồng hồ trong ngày, ta đều để vọng tâm làm chủ, ít khi nào sống được cho ta. Sống cho ta, không có nghĩa từ bỏ hết công việc, từ bỏ giao thiệp với mọi người...mà có nghĩa sống trong ý thức việc làm của ta. Khi sống ý thức thì tâm ta tỉnh táo, khi

tâm tỉnh táo sáng suốt, vọng tâm không có mặt, như vậy thật sự ta đã bắt đầu bước vào giai đoạn tu Phật. Nhưng ý thức bằng cách nào? Ý thức bằng cách sống theo đúng những gì mình tu Phật.

Người mới bước đầu vào đạo giải thoát được quy y Tam Bảo (Phật Pháp Tăng), rồi phát nguyện thọ trì ngũ giới [8] chính thức làm con Phật (Phật tử). Con Phật thì có nhiều hạng tu, hạng giữ giới nhiều ít tùy vào căn cơ mỗi người, như cư sĩ ngoài đời có thể thọ ngũ giới, thập thiện hay Bồ Tát giới [9]. Hàng tu sĩ thì bước đầu là mười giới, sau hai trăm năm năm mươi giới (250) dành cho nam tu sĩ, và ba trăm bốn mươi tám (348) giới cho nữ tu sĩ [10].

---------Đó là những phương tiện, như con thuyền lớn nhỏ đưa người qua sông mê lên bờ giải thoát. Và nếu người tài

giỏi biết lèo lái con thuyền, thì dù là thuyền nhỏ cũng lướt khỏi sóng to đến bờ giải thoát, ngược lại vô tài bất lực (không giữ giới tu), thuyền có to lớn cũng vẫn mất hướng, trôi dạt vô phương làm mồi cho sóng dữ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh).

thức việc làm của mình là giữ giới tu học, giữ giới tức là giữ con người mình, vì tu thiện làm ác cũng từ ngay con người mà ra.

Trong con người chứa đựng ba nghiệp, ba nghiệp này quyết định cho hành trình vào đạo, nhập đạo và chứng đạo. Đó là Thân, Khẩu, Ý. Tu thân, khẩu, ý là thân không làm ác như sát sanh, trộm cắp tà dâm; nếu là tu sĩ thì không dâm dục - Khẩu phải nói lời chân thật hiền hòa (chánh ngữ), và Ý là phần quan trọng hơn, có thể kiềm thúc được thân, khẩu do vậy tu sao cho Ý được thanh tịnh không tham không sân không si. Vậy khi ba nghiệp được thanh tịnh, mặc nhiên chúng ta giữ giới được thanh tịnh. Việc giữ thanh tịnh ba nghiệp, lại không có nghĩa cản trở sinh hoạt đời sống của ta, và như không hiểu ta sẽ tích cực quá việc giữ giới, mà chẳng làm được chuyện gì công đức. Ta nên tích cực làm thiện hơn để chu toàn công đức giữ giới; chẳng hạn phải bố thí, phóng sanh, thương người, thương vật để công đức trì giới, được tăng trưởng. Người sơ cơ học đạo giải thoát ở bước đầu, phải tu bồi công đức phước báo, nhất là người cư sĩ, bởi vì sự tạo thiện nghiệp, ác nghiệp dễ phát sinh song song với nhau. Người cư sĩ tại gia phải đương đầu vào cuộc sống, phải va chạm luôn với đời, nên ba nghiệp khó lắng động, vì khó lắng động nên khó thanh tịnh. Do đó đôi khi cùng một lúc tạo thiện tạo ác mà không hay biết. Chúng ta có thể lấy thí dụ, một người vừa sung công tiền của cho một cơ quan từ thiện, hành động đang được tán dương, nhưng bỗng nghe người khác chê trách là vẫn còn thua kém người kia, số tiền hiến tặng đó đâu có gì là chánh đáng v.v...Từ lời gièm pha như thế, người không hiểu đạo giải thoát sẽ có tâm phản lại, thế là tiêu mất công đức và trong lúc giận tức vô tình sanh ra ác nghiệp. Do đây lại thấy, từ một người thật tâm tạo nghiệp tốt trở thành phản lại nghiệp tốt của mình. Tuy nhiên dù trường hợp tạo nghiệp ở đời phức tạp vậy, hàng con Phật tại gia vẫn nên luôn luôn tìm cơ hội để tạo thiện nghiệp phước báo; bởi khi làm một hành động thiện là bồi dưỡng ý nghiệp được trong sáng. Ý nghiệp trong sáng là nhân lành đưa đến ý thanh tịnh. Trong ý thanh tịnh như vậy mới điều khiển được hai nghiệp thân và khẩu, và thế việc giữ giới có thể lần lần dễ dàng hơn. Điều này nói chung cả hai giới xuất gia và tại gia.

Người tu sĩ xuất gia cũng chẳng khác là bao, quý Ngài giữ giới cũng bằng cách gia công tinh tấn tu dưỡng huệ đức, thanh tịnh ba nghiệp qua công phu thiền niệm, quán tưởng, đọc tụng thường xuyên kinh điển. Và khi quý Ngài công phu đã thuần thục thì giới tướng, giới thể [11] của

các Ngài sáng ra, mà người đối diện có thể cảm nhận được. Lúc đó với các Ngài, không còn thấy gò bó gì ở giới nữa. Cho nên chúng ta thường nghe qua chuyện tích chứng đạo của các Ngài có vẽ lạ thường lắm. Như thế cách sống của người tu Phật phải lấy giới làm nền tảng. Lấy giới làm thân mạng sống còn, hễ sợ thân bệnh mạng vong, thì cũng nên sợ phá giới như phá thân mạng vậy. Và gìn giữ thân mạng ra sao, lại y như gìn giữ giới hạnh như thế.

Tìm hiểu lại cuộc đời đức Phật, Dù Ngài trên lý tánh đã là đấng tối thượng, nhưng dưới nhiều cặp mắt phàm nhân, một số người vẫn nhìn Ngài như một con người bình thường giản dị, tuy nhiên hình tướng giản dị bình thường của Ngài đã thể hiện một sự uy nghi điềm tĩnh, cụ thể qua sự sinh hoạt, đi đứng nằm ngồi an nhiên tự tại vượt lên sự siêu hình huyền ảo. Và chính từ đây phàm nhân quy ngưỡng Ngài, ngay ở cách sống ý thức chánh niệm đó, hơn là thấy Ngài hiện tướng thần thông của vị đại Thánh. Hình tướng trang nghiêm đó là do Ngài nhiếp thủ trong sự trì giới. Ngài hay thường kể lại tiền thân của Ngài, do luôn luôn giữ giới và tu giới, cho nên bao phước báo công đức trong vô số kiếp đã thành tựu và hiện ra tươi đẹp như ngày nay. Do vậy, giờ phút cuối cùng tại Sa La Song Thọ đức Phật đã từ bi cân nhắc: ‘‘Này, các người hãy tự thắp đuốc lên mà đi! Các người hãy lấy pháp của ta làm đuốc! Hãy theo pháp của ta mà tự giải thoát. Đừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khác,

đừng tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác ngoài các người ...’’

‘‘Này, các người đừng nghe dục vọng mà quên lời ta dặn. Mọi vật ở đời không có gì là quý giá. Thân thể rồi sẽ tan rã. Chỉ có đạo ta là quý báu. Chỉ có chân lý đạo ta là bất di bất dịch. Hãy tinh tấn lên để giải thoát, hởi các người thân yêu của ta.’’  [12]

Chúng ta thừa biết, theo Phật pháp thì thế gian ta đang ở là cõi dục, nghĩa là tham muốn và từ chỗ tham muốn không ngừng nên thành cõi khổ, vì đơn giản là sự tham muốn không thể toại nguyện hết được. Do vậy dù sống không gian thời gian nào ở cõi Ta Bà này, không thể tránh được khổ. Cũng may cho ta là thế gian vô thường các pháp vô ngã, nên theo đó mà ta chẳng sống hoài chịu khổ; và trong cuộc đời con người không phải toàn khổ mà vừa khổ vừa vui. Chính chỗ khổ vui đối đãi này, suy ra cõi người phúc lạc hơn cõi trời; bởi do có khổ mà đưa ta đến chỗ thấy đạo dễ hơn.

Giáo lý giải thoát dạy ta làm sao cho mình được thanh tịnh thân tâm, và phương pháp làm được như thế là giữ giới và tu thiền. Tu thiền có nghĩa giữ sao cho tâm được an tịnh, sáng suốt, để ý thức được sự sự vật vật như sự thật của nó, chớ không phải khẳng định chấp chặt buộc phải ngồi xuống bán già, kiết già mới là Thiền định, mà không hiểu rằng tư thế Thiền tọa chỉ là phương tiện để là kết quả đứng dậy đi vào đời sống.

Về phần giữ giới sẽ sanh ra thanh tịnh thân tâm do vậy mặc nhiên cũng đã tu thiền.

Bây giờ ta đã hiểu trọng tâm của việc tu thành Phật, và vậy có thể từ đây an tâm cho cuộc khởi hành qua sông giải thoát.

4. Hiểu một ít Phật pháp

Có duyên vào được ngôi nhà Phật pháp rồi, tiếp theo cần nên tìm hiểu một ít về giáo lý Phật, dù là một ít cũng quan trọng, vì đây là nền tảng cho bước đi dài đến giải thoát. Nhưng thế nào là một ít để tạm gọi là nền tảng! Trong khi có người đã từng nghiên cứu, đào sâu Phật pháp vẫn còn thấy mình chưa nắm được gì là căn gốc, vậy chỉ có hiểu một ít mà cho là nền tảng! Thật ra điều này quả đúng, đáng quan tâm, và hàng sơ cơ học Phật chúng ta thường hay lo ngại. Tuy nhiên căn cứ theo lời Phật dạy và xét theo lịch sử truyền thừa của đạo Phật nổi bật những điểm mà chúng ta nên an tâm: Trước nhất ai cũng rõ biết đạo Phật là đạo sống, là con đường, là lộ trình dẫn đến chứng nghiệm...Đã hiểu là con đường, là lộ trình thì hiểu ngay đến sự di hành, tiến bước. Khi hiểu là đạo sống thì phải hiểu là hiển bày, linh hoạt. Từ ngay điểm chính yếu này, chúng ta nhận ra thực tế rõ ràng, bằng hành động cho việc vào đạo, mà không phải chỉ dọn mình bằng kiến thức giáo lý để vào đạo. Nhưng cho dù có quên mình đi sâu vào kiến thức Phật học suốt đời cũng chẳng thẩm thấu gì với biển Phật, vì đã nhiều như nước biển thì làm sao uống hết được. Đã không uống được hết, thì lộ trình tiến tới chứng ngộ vẫn còn xa. Nhưng một điều, dù biển Phật mênh mông duy chỉ có một vị. Đó là vị mặn. Vậy người ta có thể đứng bên bờ biển Thái Bình Dương cũng cảm được vị mặn Đại Tây Dương. Tương tự, không có sự khác biệt, giữa niềm an lạc chứng đạo của người thực hành Phật pháp từ giáo lý căn bản, với người thực hành theo giáo lý Kim Cang, Bát Nhã đại thừa v.v...

Hòa vào biển Phật là hòa vào Phật tánh, hòa vào Phật tánh thì đâu còn cái ngã của anh, của tôi. Nhắc lại truyền thuyết thời Phật có Ngài Chu Lợi Bàn Đà Dà là đệ tử của Phật, xuất gia lâu năm mà chẳng học hiểu Phật pháp, cũng bởi tâm trí không sáng. Chỉ có một bài kệ nhỏ mà học cả năm cũng không xong. Chướng nạn này ai nghĩ rằng Ngài sẽ chứng nỗi thánh quả ! Vậy mà Ngài đã chứng đạo đắc quả, tự tại an lạc không khác chi các đại đệ tử lớn của Phật. Nhân duyên này là do Phật khơi dậy tánh giác của Ngài, để Ngài có cơ hội tự mình tìm lại dấu vết xưa mà gội rửa dấu vết tối tăm đời nay. Phật dạy Ngài chỉ thầm đọc và quán xét câu kệ quét nhà, để chuyển tiếp vào việc quét bụi, như quét những trần lao, cấu nghiệp của chính mình. Thế là Ngài liễu đạo, chứng quả.

Thời kỳ Phật pháp truyền sang Trung Hoa, cách đây hơn ngàn năm có Bồ Tát Huệ Năng (638-713) cũng đã liễu đạo với nhân duyên lạ lùng, do nghe một người tụng kinh Kim Cang, trong khi thân phận Ngài lúc đó chỉ là một cư sĩ, xuất thân từ hạng người nghèo lại chẳng quen biết gì chữ nghĩa. (không biết chữ)

Thế thì biết rằng, yếu nghĩa Phật pháp tuy sâu rộng vô cùng nhưng vẫn đơn sơ, giản dị thường tình lan tủa ở mọi hoàn cảnh, tình huống. Chúng ta có thể cho rằng những trường hợp vậy, là do những tích duyên từ quá khứ kiếp nên mới có được. Tuy nhiên ta không thể phủ nhận, Phật lý mà các vị cảm được giác ngộ vẫn là việc xảy ra rất thường tình trong đời sống chúng ta. Cũng như dù các Ngài thị hiện để giác ngộ, ta vẫn thấy Phật pháp luôn luôn gần gũi sờ sờ ra đó, và chính như thế là niềm tin lớn giúp ta an tâm với những gì ta hiểu về Phật pháp. Điều này còn giúp ta tránh đi mặc cảm cho rằng, mình sẽ vô phương hiểu được đạo, rồi đâm ra băn khoăn, lo lắng. Rồi khi phát được duyên am hiểu, lại cố sức bồi đắp kiến thức Phật học cho nhiều, mà quên hẳn Phật đạo là ngay ở việc thực hành xảy ra trong đời sống.

 

Sau đây với kiến thức sơ cơ của người mới làm quen vào đạo giải thoát, chúng ta thử tìm về giáo lý Duyên sinh để làm nền tảng. Chọn giáo lý này, vì đây là một giáo lý quan trọng và căn bản nhất. Tuy nhiên cũng không phải dễ dàng lãnh hội nghĩa lý thâm sâu của lý Duyên sinh. Ngoại trừ các bậc giác ngộ, chứng đắc pháp giải thoát, phàm nhân không thể một đời thông hiểu. Kinh kể rằng, có lần Phật đã lưu ý Ngài A Nan đừng nên xem thường giáo lý duyên sinh. Bậc đa văn kiến thức như Ngài A Nan mà Phật còn cân nhắc. Nghĩ lại chúng ta những người chập chững vào đạo, lại sống xa thời Phật cả ngàn năm; chỉ biết giáo lý duyên khởi (là cách gọi khác của Duyên sinh) một cách gián tiếp, mà không do từ kim ngôn của Phật nói ra; vô phần hơn nữa cũng không được diện kiến chư vị tu chứng nhắc nhở soi sáng cho, thì chúng ta phải tự soi xét cho mình thế nào! Chúng ta chỉ còn cách trân quý và thực hành theo mà thôi.

Tuy nhiên, ở đây chúng ta là những người thật sự sơ cơ vào đạo, nên chỉ nhận hiểu theo kiến thức căn bản nhất mà Phật dạy về lý duyên khởi để thực hành theo. Việc tiến xa, hay đi xâu vào giáo lý, đã có nhiều thức giả tu sĩ, học giả tri thức nghiên cứu, lý giải chúng ta phải nên tri ân các vị đó. Hoặc như nếu có thời gian, khả năng hiểu biết cũng nên nghiên cứu tìm hiểu để có thể tác động thêm năng lực cho mình, hay chỉ bày cho người khác biết.

Tìm hiểu lý Duyên sinh, ta có thể hiểu đơn giản: Lý Duyên sinh là một định lý cho thấy sự liên hệ, tương quan của mọi sự mọi vật, hay nói cách khác là sự sinh diệt, tựu hợp, tan rã của các pháp.

Nhìn vào đời sống cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia và toàn thế giới- vượt xa hơn nữa là hành tinh (trái đất) chúng ta đang ở, thái dương hệ nơi hành tinh nương tựa và những giải ngân hà, thiên hà, tinh vân...và nếu ta có đủ nhãn lực vượt qua viễn vọng kính nhân tạo để nhìn...Tất cả, tất cả những gì có hình tướng đó, tên đó đều là tương quan, tương sinh với nhau. Không một vật gì độc lập cả, cho dù nhỏ như hạt nguyên tử lăn tăn nhảy múa dưới kính hiển vi mà mắt thường không thấy được. Việc liên hệ chằng chịt này Phật pháp gọi là lý nhân duyên. Lý nhân duyên chi phối tất cả, từ những vật vô tri giác đến loài có tánh giác như chúng sanh. Khi đã bị chi phối vậy, nên ta thấy rõ liên hệ mật thiết nhau qua cái gọi nhân quả. Kinh xưa (kinh A Hàm) thường dạy: Cái này có thì cái kia có, cái này sanh thì cái kia sanh. Cái này không thì cái kia không, cái này diệt thì cái kia diệt...

Ta thử thí dụ một hoàn cảnh xảy ra trong lý Duyên sinh, nhân quả: -Vì xe của con Bác Tư bất thần hư, không chạy được, nên bác Tư không thể đến chùa ngày chủ nhật hôm đó. Vì không có mặt ngày chủ nhật hôm đó, nên Bác Tư đã bỏ lỡ thời pháp hiếm có, do một vị cao tăng thuyết giảng... Câu chuyện tạm chấm dứt ở đây.

Ta thấy rằng, kết quả Bác Tư không được nghe pháp, là vì Bác vắng mặt, Bác vắng mặt là vì con Bác không đưa được Bác đến chùa. Con bác không đưa bác được vì xe con bác hư, xe con bác hư vì...Xin khoan nói tiếp; bây giờ thử đặt ngược lại kết quả. Nếu xe con Bác Tư không hư, Bác đã có mặt ở chùa hôm đó, nếu có mặt ở chùa, chắc chắn bác Tư đã nghe thuyết pháp. Vậy đây ta đã thấy một vòng nhỏ của lý Duyên sinh, nhân quả. Nhưng nếu ta tiếp tục tìm hiểu trước và sau sự kiện xảy ra theo thí dụ, thì rõ thấy diễn tiến vẫn tiếp tục xảy ra của vòng duyên sinh đến bất tận. Chẳng hạn ta có thể nói, xe của anh Thiện (con bác Tư) chạy không được vì bánh xe bị bể, bánh xe bể vì tối hôm trước anh chạy cán lên một vật cứng bén mà anh không để ý trên con đường dẫn vào nhà người bạn (bạn cùng sở làm, hôm đó nhờ anh chở về). Người bạn xin chở nhờ, vì xe anh bạn hư (lại xe hư). Bánh xe không bể liền, nên sáng ngày hôm sau anh mới phát giác, rồi cũng nhận ra bánh xe sơ cua (spare) bị xẹp luôn!...

Đó là một vài hình ảnh nhân quả trong lý duyên sinh, nếu tiếp tục theo câu chuyện mà đi mãi, chắc rồi đề cập tới chuyện kinh tế, chính trị.v.v...chỉ vì ảnh hưởng tới một bánh xe bể! Thử lướt qua để tưởng tượng thế nào! Bác Tư vì hôm đó không nghe được thời pháp hiếm có, nên Bác cảm thấy tiếc nuối, phiền muộn, khiến bác khó chịu trong người, biếng ăn, mất ngũ mấy hôm. Bác lâm vào cảnh như vậy ảnh hướng đến tinh thần sa sút...

Như thế ta thấy sự vận hành của bất cứ hình tượng, cảnh vật chúng sanh nào cũng là sự trói chặt vào nhiều yếu tố tạo nên. Và khi những yếu tố tan rã thì ảnh tượng, hình thể, chúng sanh không còn nữa. Tuy nhiên nói là không còn, thật ra chúng chỉ trở về dạng phân tán chờ duyên hội tụ, nhưng vì vi tế nên ta không thể cảm nhận và nhìn thấy được. Hiểu vậy chúng ta mới thấy không một vật nào tự nó sinh ra, và từ lý này lại thấy không một vật gì mất đi cả. Chẳng hạn nước đổ đi hay bốc hơi đi, tưởng là mất, thật ra nước vẫn còn đó, và sẽ trở lại bằng tên gọi là mưa; hay đi vào lòng đất hòa chung cùng nguồn nước cạn sâu kín rồi hiện hữu ở đâu đó, chỗ này chỗ kia.

Chúng ta hãy thử giả tưởng sau một thời gian thăm thẳm nào đó, quả địa cầu sẽ bị vỡ tung, rồi từng mảnh tiếp tục vỡ tung, vỡ tung ra cho đến khi nát nghiến thành bụi, rồi lại tiếp tục bị nghiền nát nữa cho đến khi thành những nguyên tử bay hút vào hư không vũ trụ. Vậy thì chúng ta sẽ nghĩ thế nào về sự còn hay mất? Nếu nói vẫn còn thì làm sao có thể chỉ được chúng đang ở đâu, và hình thể ra sao? Nếu nói mất thì con mắt thịt chúng ta có khả năng nhìn thấy rõ ràng sự vật lớn nhỏ đến mức nào? Chỉ giả tưởng đến đây thôi, ta có thể đơn giản hiểu rằng sự sinh diệt hội tụ của vạn pháp trong lý nhân duyên, nhân quả về việc biến hiện lớn, nhỏ, lâu xa không thể lường được. Cho nên ta hay nghe kinh sách dạy rằng, vạn pháp sinh khởi vô thủy, vô chung, nghĩa là không biết bắt đầu từ khi nào và bao giờ chấm dứt.

Đó chỉ lược hiểu một cách đơn giản, mà mường tượng cái nhìn xa. Nhìn lại gần hơn là thí dụ câu chuyện của Bác tư vậy. Tương tự như thí dụ cây lúa mà ta thường nghe, mỗi khi đề cập đến lý nhân duyên. Cây lúa hình thành là nhờ hạt lúa, hạt lúa nẩy mầm nhờ nằm trong lòng đất, đất phải có nước có phân...và còn có thêm ánh sáng nữa, hạt lúa mới chuyển thành cây lúa. Nguyên lý này thật chắc chắn không thể sai được, có nghĩa không thể bỏ hạt lúa trên bàn mà chờ thành cây lúa được.

Hình ảnh cây lúa bây giờ, không nói chúng ta cũng biết là kết QUẢ của hột lúa; và gọi ngược lại, hột lúa là NHÂN của cây lúa. Còn lại bao điều kiện hỗ trợ cho hột lúa nẩy mầm tất được biết là DUYÊN. Vậy thì vạn pháp cũng từ do duyên xa duyên gần mà sinh ra. Thảo nào mà chư vị Bồ Tát, Thánh nhân hành xử việc đạo thật dễ dàng, bởi các Ngài biết rõ vạn pháp là giả là tạm, cho nên làm việc gì cũng là vô ngã; vì tìm đâu thấy ngã (cái ta, cái tôi) khi các pháp do NHÂN DUYÊN SINH.

Chúng ta những phàm nhân, đôi khi cũng thấy hiểu như vậy, nhưng vì cái thấy còn quá hạn hẹp, chỉ thấy những cái đơn giản, mà khó thấy cái phức tạp tinh tế, điều này do mang nhiều vọng tưởng nên không thể sáng suốt, đủ nghị lực thắng được vọng tưởng thành ra chỉ chấp nhận theo tình lý cảm giác, suy tưởng của mình mà thôi. Hay nói đúng hơn tất cả đều do tập khí, chủng tử điên đão từ quá khứ kiếp mà ra.

Theo Tiến sĩ Peter D. Santina trong quyển ‘‘Fundamentals of Buddhism’’nhận định: Đức Phật thường dạy rằng Ngài giác ngộ là nhờ hai đường: Hoặc hiểu rõ Tứ Diệu Đế hay am tường Lý Nhân Duyên. Lại nữa, điều Đức Phật thường nói là muốn đạt giác ngộ, chúng ta phải hiểu rõ Tứ Diệu Đế hoặc Lý Nhân Duyên. [13]

Lý Nhân Duyên quan trọng, và cao siêu như vậy, chúng ta ngày nay mới bắt đầu nhận hiểu, dù mới hiểu một vài hạt bụi li ti gọi là nhân quả, điều này không phải là đại nhân duyên sao! Vì đây là con đường muôn thuở của giải thoát mà!

Hiểu lý nhân duyên qua hiện tượng sinh diệt của vạn pháp quả không thể đơn giản được. Chúng ta chỉ nhận rõ phần nào qua nhân quả mà thôi, và cụ thể hơn nữa là làm

sao để suy niệm áp dụng vào con đường thăng hoa đời sống của người Phật tử. Tức là vấn đề hiểu thế nào về dòng sống của chính mình. Tiến sĩ Pete D. Santina lại phát ý như sau: Đặc biệt, chúng ta chú trọng đến nguyên tắc của Lý Nhân Duyên được áp dụng vào vấn đề khổ và tái sanh. Chúng ta chú ý đến việc Lý Nhân Duyên giải thích sự có mặt của chúng ta ở nơi này. Trong ý nghĩa ấy, điều quan trọng là nhớ rằng Lý Nhân Duyên là giáo lý cần thiết và chủ yếu liên quan đến vấn đề khổ đau và làm thế nào để giải thoát khỏi khổ đau, chứ không phải là việc mô tả sự tiến hóa của Vũ Trụ.

Lý nhân duyên Phật dạy theo dòng sống của một chúng sanh (loài người) là mười hai mắc xích, gọi đúng danh từ là Thập Nhị Nhân Duyên: Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sanh, Lão Tử.

Giờ đây chúng ta thử diễn đoán hành trình dòng nghiệp của một chúng sanh, qua mười hai mắc xích là nguyên nhân thắc nối vòng sanh tử.

-Vì không sáng suốt, không nhận biết vạn pháp, từ pháp thô đến pháp tế; không nhận biết con đường trước mặt là chánh hay tà, không nhận biết nơi chốn lành hay chốn dữ; không nhận biết hành động mình làm là thiện hay ác; không nhận biết sáu cõi (Thiên, Nhơn, A Tu La, Ngạ quỷ, Súc Sanh, Địa ngục) là nẻo luân hồi và không nhận biết luôn cả chính mình, dù mình đã từng có mặt từ vô thỉ kiếp đến nay. Do không nhận biết nên lang thang mãi, sống vất vơ không định hướng. Nên khi nhiều lần lạc vào bóng tối sống đến hàng tỉ năm, rồi cơ may dứt được bay vào ánh sáng sống đến vạn triệu tuổi. Vất vưởng như thế, có lúc hình sắc được dệt nên nhỏ nhiệm, trong thanh, tự tại thênh thang theo ý muốn, lắm lúc hình thù thô kệch, nặng nề nằm lì một chỗ đến hàng vạn kiếp không di nổi. Những hành hoạt như thế kể không sao hết, nguyên nhân chính gây ra như vậy, là đối nghịch lại sự sáng suốt, mất đi chơn tánh, không nhìn nhận được nguyên lý của T- DIÊU ĐẾ là Khổ, Tập, Diệt, Đạo nên bị tham ái, dục tình (Tập) là nguyên nhân dẫn đi lang thang bất tận. Và đôi khi cũng cảm nhận được nguồn an lạc, mỗi lần chế ngự tham ái (Diệt), qua con đường Bát Chánh Đạo (Đạo) [14]. Nhưng rồi chỉ chốc nở chốc tàn, để lại quay cuồn trong đêm tối; do đó gọi là VÔ MINH. Đây là sự thật mà Phật đã nhắc qua trong kinh Tương Ưng II.

‘...Và này các Tỷ kheo, thế nào là vô minh?

-Này các Tỷ kheo không biết rõ về khổ, không biết rõ về

khổ tập, không biết rõ về khổ diệt, không biết rõ con đường đưa đến khổ diệt. Này các Tỷ kheo, đây gọi là vô minh.’ [15]

Khi đã mê lầm, không sáng suốt khiến tạo ra nghiệp nên gọi vô minh duyên HÀNH. Hành động có thô có tế, có ác có thiện dẫn đường đưa lối quyết định cho một dòng sống hiện hữu; nhưng ở đây vì Vô Minh là nhân mê hoặc, nên tác nghiệp quả báo hẳn phải mê lầm. Và khi hành nghiệp đã mãn đầy gọi là mãn nghiệp bấy giờ duyên vào TH-C, tác động nên một dòng sống theo nghiệp lực để tạo ra một sự đầu thai.

TH-C là năng lực của cái BIẾT tiềm ẩn sâu kín song song vận hành với nghiệp. Sức mạnh của nó có thế lực mạnh nhất trong dòng sống. Ở đây TH-C này hẳn còn là cái biết nhị biên, [16] chấp thủ thôi thúc dòng sống mà duyên với DANH SẮC.

Danh là tinh thần, Sắc là hình thể. Giai đoạn đến đây của dòng sống đã hiện hữu, nhưng chưa tượng hình hoàn bị; tức sáu căn chưa đủ. Dù vậy sự sống ở đây đã có nhưng chưa rõ ràng. Đến đây Danh Sắc duyên LUC NHÂP; bây giờ đã có đủ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân , ý), tuy vậy chưa ra khỏi bào thai. Lục Nhập duyên XÚC là lúc một chúng sanh đã ra đời, đã chạm phải những hình ảnh vật thể, rồi bị tác động vào sáu căn, nhưng lúc này chưa có đủ cảm giác nhạy bén, tinh tế. Đến khi cảm thọ được những thương, ghét, mừng, giận...rõ ràng, đó là lúc Xúc duyên THO.

Thọ duyên ÁI, việc nầy ai cũng thấy rõ; khi mà sự cảm nhận tình cảm tràn đầy tất nhiên sinh ra lưu luyến đắm đuối. Có thể nói mắc xích nầy thật nguy hiểm nó đủ sức ghì kéo hết mười một mắc kia. Điều minh chứng đây, đã và đang xảy ra chung quanh chúng ta, đó là những kết chặt cái gọi là gia đình thân tộc. Và những câu chuyện vui, buồn, đau khổ ở thế gian mãi mãi vẫn được khai thác từ đề tài bất tận của luyến ái mà ra. Nhưng hầu hết thì toàn là những chuyện buồn có thật do luyến ái gây ra. Việc này là vậy, nếu không trong Tứ Diệu Đế đã không có hai Đế đầu, đó là Khổ và Tập (nguyên nhân của tham dục, luyến ái).

Ái duyên THỦ, đã sa vào vòng thương yêu trìu mến rồi, ai lại không muốn ôm giữ để làm riêng của mình! Đã cố giữ làm của mình thì không muốn buông bỏ; do vậy ban cho việc gì thì còn có thể, chớ cho tình (luyến ái) thì khó mà cho. Có khi sợ mất ái tình yêu thương, người ta còn tìm cách cùng nhau đi thật xa khỏi bị người khác quấy rầy, bằng cách rủ nhau quyên sinh! Đại khái để hiểu THỦ như vậy.

Thủ duyên H"U, ở đây ta thấy sự có mặt của chúng ta hiện thời chắc chắn đã từ những mắc xích kể trên trong quá khứ, nhưng gần nhất dễ thấy sanh ra mắc xích nầy là Ái và Thủ. Vì đã luyến ái và bám chặt nên nhất định tác nghiệp mà thành ra Quả, tiếp tục con đường vô tận thành ra Hữu, tức là sự hiện hữu của chúng ta. Đến đây là Hữu duyên SINH, rồi Sinh duyên LẢO TỬ; vậy Sinh là chặng đường tiếp tục kết thắc ở một đời sau nữa, từ do Ái, Thủ, Hữu của hiện tại mà ra. Và cuối cùng là Lão Tử giai đoạn của Sinh phải đến của đời sau.

Nhìn theo nhân quả ba đời chúng ta lại thấy như sau: Vô minh, Hành là NHÂN trong quá khứ, tạo ra QUẢ hiện tại là Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ. Và Ái, Thủ, Hữu ở hiện tại là NHÂN, sinh ra Sinh, Lão Tử là QUẢ ở tương lai.

Vậy ta có thể thấy, dòng sanh tử đó đến bao giờ mới dừng nghỉ! Có lẽ thật khó mà dứt được một khi ta còn chấp nhận sự lang thang quanh quẩn nầy. Và chỉ cần mang trong tâm (thức) một ý niệm nhỏ nhít của lưu luyến trìu mến thương ái, là tự động dệt nên dòng xích sanh tử. Sự thương ái đó dù là cao thượng hay thấp hèn cũng đều là những mắc xích; giống như mắc xích bằng vàng hay bằng sắt đều là để vây trói mà thôi. Chỉ có tình thương của từ bi, trí tuệ giải thoát mới nằm ngoài sợi xích trói buộc này. Cho nên chúng ta đã dư biết việc tái sanh đi, tái sanh lại là do NGHIÊP mà ra chớ chẳng do ông thần, ông trời nào làm được chuyện này, nếu có ông thần thiệt làm như vậy, thì xin nói là ông Thần thức (danh từ này chỉ cho lúc cởi bỏ xác thân để thọ lãnh đời sau, mà thế gian quen gọi là linh hồn); và phải chăng thần thức đó là kết quả của những hành vi lúc sống đã tạo! Nghiêm chỉnh mà nói là NGHIÊP TH-C vậy. Tạm hiểu được vấn đề lớn về sinh tử từ mười hai mắc xích, chúng ta cũng được khá nhiều an ủi khi đứng trước bờ biển pháp (giáo lý giải thoát). Và nơi đây là một ít hành trang Phật pháp để tiếp tục lên đường...

5. Nguyện ghi nhớ bốn điều diệu đế

Chúng ta đã hiểu phần nào căn bản Phật pháp, chúng ta có thể bắt đầu cho cuộc lên đường đem diệu pháp đi vào đời. Diệu Pháp mà chúng ta vừa lược hiểu qua (pháp nhân duyên) có thể đủ cho ta áp dụng tu hành, nhưng tại sao chúng ta không nhắc lại một diệu pháp căn bản nữa, để ta an tâm vững chí cho cuộc đi về với chánh pháp được thành tựu.

Diệu pháp này là Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế là bài pháp vạch ra chân lý của đạo, để đưa con người quay lại bản tánh toàn thiện, để nhìn thẳng vào chính bản thân mình mà tu sửa. Nếu thế gian này có người nghiên tầm mọi triết lý đạo giáo tinh ba nhất, lại thông suốt các vấn đề như vậy, nhưng chưa biết qua Tứ Diệu Đế, thì người đó vẫn xem là chưa được hoàn chỉnh trong cuộc truy tầm sự toàn thiện của nhân sinh. Và ngược lại, dù người chưa được may mắn nghiên tầm học hỏi các vấn đề quan trọng trên thế gian, nhưng hiểu được Tứ Diệu Đế thì người đó vẫn hơn vị đại trí thức kia. Nói như thế có quá lắm không? Xin thưa rằng không, bởi vì Tứ Diệu Đế không chỉ giúp cho người thấy được một cách rốt ráo chân lý nhân sinh, mà còn giúp họ đạt tới những gì là an định nhất của tinh thần, qua đời sống hiện thực ở nhân gian. Và nếu người đó muốn đi xa hơn nữa trong việc thực hành trọn vẹn chân lý đó, nghĩa là thực hành qua đời sống một tu sĩ, thì kết quả còn an định hơn gấp trăm ngàn lần người ở thế gian. Đó là kết quả chứng được quả Thánh Vô Sanh (A La Hán).

Sau đây chúng ta thử ôn lại những gì là Tứ Diệu Đế.

Khi hành giả Tất Đạt Đa thành đạo Chánh Đẳng Chánh Giác được thế gian xưng tụng là Phật (con người tĩnh thức hoàn toàn), Ngài đã ưu tư, thương tưởng đến các vị đạo sĩ trong quá khứ một thời cùng Ngài tu khổ hạnh. Trong các vị đó có vị là Thầy và cũng có vị là bạn Ngài. Nhưng bấy giờ, lúc này Ngài không chỉ là Thầy dạy lại họ mà còn là Thầy của mấy từng trời nữa (Thiên Nhơn sư).

Thật ra pháp đầu tiên mà Ngài khai thị sau khi đắc đạo không phải là Tứ Diệu Đế, mà là Pháp lý vượt siêu thế gian dành cho các vị Bồ Tát lớn, đó là kinh Hoa Nghiêm. Pháp này Phật diễn nói cảnh nhập Pháp giới, chỉ thẳng pháp tu chứng về cảnh giới Phật. Vì chỉ thẳng như vậy nên gọi là Đốn giáo và cũng thế ngoài hàng Bồ Tát lớn ra khó ai hiểu được.

Với Tứ Diệu Đế là Sơ chuyển Pháp Luân là đối với loài người chúng ta. Và cách giáo dạy đây gọi là Tiệm giáo, tức chỉ rõ vấn đề từ thấp lên cao. Do đó Pháp Tứ Diệu Đế là căn bản nhất, vì là bài Pháp đầu tiên mà Phật đã chọn lựa khai mở cho nhân loại thấy hiểu về chân lý cuộc đời, để làm bước đi đầu tiên đến bước giải thoát, vậy đó là cội gốc nền tảng của Phật đạo. Nếu không hiểu rõ Tứ Diệu Đế hay xem thường bốn điều này thì không thể nào có được nền tảng chứng đạt Pháp giải thoát. Và dù chỉ hiểu được bốn pháp này thôi, thì quả vị Phật chắc chắn sẽ đến trong tương lai.

Phật tìm đến nhóm ông: Kiều Trần Như, Ác Bệ, Thập Lực, Ma Ha Nam và Bạt Đề; năm ông đây là những người đầu tiên được nghe diệu pháp cao quý này. Thời Pháp vừa xong, liền trong nhóm ông có người đắc Thánh quả và lần lượt trong thời gian thật ngắn, tất cả năm ông đều đắc quả A La Hán tức không còn sanh tử nữa.

Hiểu Phật nói thế nào về Tứ Diệu Đế!

Con người được sinh ra, liền tức thời thọ khổ. Tiếng khóc oa oa (khổ quá) thoát ra từ một đứa bé mới sinh, tiếng khóc ấy vang vọng mãi cho đến thành một người lớn người già. Người lớn người già nào đâu phải không khóc, họ khóc nhiều lắm chứ, nhiều còn hơn hồi nhỏ nữa! Hồi nhỏ khóc vì không được, khi được thì hết khóc; bây giờ lớn lên rồi thì cái được đó sẽ không bao giờ được nên khóc mãi đến cuối cuộc đời. Cái không được như vậy vì bắt nguồn từ cái muốn không ngừng, nên không bao giờ được. Ôi làm sao kể ra hết cái muốn! Cho nên tiếng khóc người lớn tuy không có âm thanh nhưng uất ức, u ẩn, dã dượi trong lòng.

Khóc thế nào cũng là khổ, có ai khổ mà cười không? Chỉ trừ các bậc Bồ Tát thị hiện chịu khổ, rồi cười lớn lên cho mọi người thấy; chúng sanh sao lại vô minh quá, biết khổ mà cũng lao đầu vào thật là ngộ nghĩnh, nên Bồ Tát nín cười không được!

Khổ trước hết là có thân này, hể có thân xác vật lý là có tác động với ngoại cảnh, như nóng lạnh, đau nhức v.v. và khi thân thể bị phản ứng do tiếp xúc với những gì từ ngoại cảnh thì sinh ra đau bệnh và nếu không chữa được bệnh thì hư hoại dẫn đến cái chết. Nhưng dù nếu ít bệnh, hay bệnh không trầm trọng thì cũng vất vưởng sống thọ tám chín chục tuổi, rồi đến thời kỳ hư hoại cũng phải chết. Đó là luật tự nhiên của vật lý, và theo đạo Phật có bốn thời kỳ Thành, Trụ, Hoại, Không [17] cũng là như vậy. Đó là phần đau khổ về thể chất (sanh, lão, bệnh, tử), riêng về tinh thần thì cũng khủng khiếp không kém.

Thường thì tâm lý ai cũng thích thương yêu, mà thương yêu được trọn vẹn thì vui mừng nào kể cho hết. Sự thương yêu làm cho người lạc quan sống thọ, sự thương yêu làm cho cảnh vật tươi hẳn ra. Nói tóm lại khi nuôi dưỡng được tính chất thương yêu, thì cả một cảnh sống bừng lên có sức mạnh chuyển hóa tất cả. Nhưng thật khổ cho ta, vì ta không thể đặt tình thương yêu đó đến tất cả, mà chỉ hạn hẹp cục bộ trong gia đình, và từ cái hạn hẹp đó, ta lại chọn lựa đặt ra duy nhất đến một người, người mà ta thương nhất. Khi ta thương yêu nhất người nào, tất nhiên khi mất đi ta sẽ đón nhận một thảm trạng đau buồn nhất. Cho nên chúng ta dững dưng với cái chết của người khác và đau khổ tột cùng với cái chết của người thân mình là vậy. Đó là Phật dạy cái khổ thương nhau mà phải sống xa nhau ( Ái Biệt Ly Khổ).

Từ tánh thương yêu hạn hẹp như thế, tất nhiên tương phản lại ta có vô số người không thương, và vô số người đó chắc chắn có người mà ta không thương nhất. Không thương nhất thì đồng nghĩa thù ghét; và hễ thù ghét chừng nào ta càng khó chịu khi nhớ lại họ, hay có ai nhắc đến.

Chỉ nhớ đến mà khổ như thế, thử hỏi phải đối diện với nhau! Đối diện với nhau rồi chốc lát bỏ đi thì còn đở khổ, không may sống chung luôn với người đó; thôi còn gì mà khó chịu cho bằng. Khó chịu đến mức ta đau khổ bấn loạn người lên, rồi có thể làm được cái gì để giải tỏa cái thù ghét này; ta dùng mọi thủ đoạn hãm hại người đó. Không hại được ta mang mãi sự oán hận này. Nhưng thưa bạn! đó vẫn chưa cay nghiệt, vì có những trường hợp người mà ta không thích không ưa đó lại là người thân trong gia đình ta, có khi lại là người mà ta đã tuyên thệ cùng nhau đi trọn cuộc đời! Đây mới thấy đầy đủ nghĩa Khổ vì không thích nhau lại sống gần nhau (Oán Tắng Hội Khổ).

Vậy thì toàn ảnh trong cuộc đời này là những gì trái nghịch chăng? Ta muốn sống gần người ta thương lại không được, ta không muốn sống với người không thương lại được sống chung! Ta muốn người mà ta thương, dù không thể sống gần ta nhưng còn cho ta thấy niềm hy vọng nào đó, nhưng nghiệt ngã thay người ta thương yêu lại ra đi thật sớm, trong khi kẻ ta cầu cho khuất mặt, cứ nhởn nhơn gần gũi với ta và còn sống thọ hoài ra đó.

Bất lực ta quay về cầu mong lại chính ta, để sống đời an phận quên hẳn chuyện xưa nhưng nào có được, vì đời sống phải giao du kết bạn, ta lại rơi vào sự thương mến người, và như định luật hễ có người thương thì có người ghét. Giờ ta chỉ cầu được hưởng thụ vật chất, hưởng thụ đời sống phó mặc để quên đi người thương người ghét, vậy mà cuối cùng đâu thể được. Đến cả vật chất cũng không thỏa mãn cho ta; và dù chinh phục được vật chất đi nữa, thì thân xác kia theo thời gian ngày càng lụn bại, đâu thể nào hưởng thụ được như xưa. Vậy thì cuộc đời có gì thỏa mãn ta đâu! Thế mới hiểu mong muốn mà không được thì khổ vậy (Cầu Bất Đắc Khổ).

Đó là những gì mà con người phải trải qua sự thật này nên gọi là chân lý: Đây là diệu đế thứ nhất: Khổ Đế.

Đến đây nhìn lại quá trình khổ đã trải qua; ta thấy gì về sự mong cầu, sự thương yêu và thù hận! Tất cả đều đến từ sự tham dục mà ra. Vì tham dục, luyến ái nên từ vô thỉ kiếp, ta cứ duổi đầu mà đi không hề quay lại ghê tởm đoạn đường tạo nghiệp chất chồng của mình. Ta mang thân xác thô kệch máu mủ, vì đã chấp chặt vào nó từ vô số kiếp quá khứ, nên bây giờ theo luật tự nhiên khoa học, hễ có thân vật chất cuối cùng phải hư họai; nhà Phật gọi là bốn thời kỳ Thành-Trụ-Hoại-Không, cũng như luật nhân quả tạo thân bất tịnh thì quả báo đến với sự thô kệch, qua việc bệnh đau, đờm dãi, phân tiểu v.v...

Từ sai lầm tham dục luyến ái, nên bị sắc dục vật chất lôi cuốn tự bồi dưỡng cho thân xác này. Khi mê mờ về thân xác dục ái đó, ta phát sinh ra lòng tham lam ích kỷ, dành trọn tình thương cho mình; và hễ phản lại lòng luyến ái, ta liền triệt để bảo vệ mong thỏa mãn cho được dục vọng luyến thương kia. Vậy, vì tham dục nên tự tạo thân sắc dục, vì mang thân sắc dục nên tâm tưởng phát sinh sự thương yêu, thù ghét thuận theo tính tham dục. Do thế Phật dạy nguyên nhân của khổ là tham dục, luyến ái, và đó gọi là Tập Đế.

Thật khó tưởng được có người sống trong đời đầy quyến rũ dục tình, tham ái lại không bị động tâm kẹt vào những thứ này. Người ấy có lẽ phải thẩm thấu sự ghê tởm của tham dục mới không còn bị nó chinh phục. Và người đó cũng chắc chắn hiểu được kết quả sẽ đến thế nào khi từ bỏ dục tình tham ái kia. Trạng thái mà người dứt được tham dục là một trạng thái an lạc trong thanh tịnh, điều này chỉ có thể mượn ngôn từ tương đối của thế gian mô tả. Trạng thái đó nhà Phật tạm gọi là Niết Bàn, vậy người đạt được Niết Bàn là người không còn tham dục nữa. Như thế, biết được con người chịu khổ là do nguyên nhân tham dục, và tham dục diệt rồi thì sự an tịnh của Niết Bàn xuất hiện. Tới đây mỗi người chúng ta có đủ sáng suốt nhìn ra bản thân mình đã từng tham dục luyến ái bao lâu rồi! Nên phải mang bao kiếp thân khổ; vậy mà chưa tỉnh ngộ! Nếu ta thật sự ghê tởm dục tình tham ái thì bao nhiêu điều khổ như trên, sẽ không còn xảy đến cho ta. Đây là chân lý thứ ba gọi là Diệt Đế.

Chân lý còn lại là phương cách thế nào để thực hành đạt tới con đường thoát ly tham dục. Đó là con đường Trung Đạo. Phật dạy có tám pháp như sau: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.

Hiểu và hành theo tám pháp này giúp con người đạt được đầy đủ thiện pháp, dứt trừ ác pháp. Có thể nói, thế gian này không tìm được một pháp học ‘chân thiện mỹ’ nào hoàn chỉnh như tám pháp này. Chúng ta thử lược xem một người thế nào thực hành được Bát Thánh Đạo (tên gọi của tám pháp).

Một người có cái nhìn sáng suốt, thấy được sự thật của vấn đề. Thấy vấn đề như sự thật của nó, (các pháp do nhân duyên sinh) thấy như thế sẽ không bám víu vào nó, chỉ chấp nhận nó như một đối tượng trong đời và như vậy người này vẫn sống với sự sự vật vật mà không tham đắm. Người này có chánh kiến.

Rồi người này lại luôn suy tư đến những điều lành điều thiện, điều gì chỉ mang lại niềm vui an lạc cho người, cho mình. Người này sống trong sự toan tính của xã hội mà tư tưởng không bị lôi kéo ảnh hưởng, chỉ duy nghĩ về những thiện pháp. Người này đã thực hành Chánh tư duy.

Khi hiểu biết và tư duy sáng suốt như thế, người này tức thì hành động theo thiện pháp. Lời nói và hành động bây giờ luôn luôn làm đẹp làm vui đến mọi người, tức là nói lời thành thật, nhã nhặn, xây dựng, tươi vui. Hành động cũng liền đi đôi với lời nói chân thiện, nên không hành hung bạo động đả thương đến bất cứ ai. Người này thành tựu cả hai Chánh ngữ và Chánh nghiệp.

Lời nói, hành động ở trong chánh pháp người này nhất định chọn cho chính mình cuộc sống phù hợp với những gì người này đã quán xét, tư duy. Công việc người này lựa chọn hẳn không tổn hại, thương tổn đến mọi người và trái lại chánh pháp - cả đến những cầm thú súc sanh người này cũng thể hiện được cái nhìn từ bi trí tuệ. Người này đã thực hành theo Chánh mệnh.

Tiếp theo là sự kiên trì, gia công gìn giữ các pháp lành thiện nghiệp mà người này đã lãnh hội, và luôn luôn đặt mình vào những hành động tích cực phát sinh thiện pháp. Cùng lúc đó lại hướng đến tâm niệm vượt lên, đến gần với pháp hỷ lạc. Người này bấy giờ có được cả hai: Chánh tinh tấn và Chánh niệm.

Cuối cùng người này đạt được Chánh định, nghĩa là luôn luôn sáng suốt minh mẫn trong mọi ý thức hành động của mình, và đó là kết quả huân tu ba nghiệp thanh tịnh hợp theo chánh đạo.

Hiểu qua như vậy, chúng ta thấy được con đường chân thiện rốt ráo rõ ràng, và ai cũng có thể thực hành đạt tới. Bằng cách này hay cách khác ít nhất, giáo lý Tứ Diệu Đế đánh thức ta, tỉnh giấc ngủ dài mê muội; không những ngay đời sống này, mà cả giấc ngủ say từ vô thỉ kiếp còn vương vấn làm ta mãi ngây ngất người không chịu mở mắt ra. Và thực tế đó không phải là chuyện viễn vông của lý tưởng suông, vì nó là sự thật, sự thật ta đang là đây, sự thật ta đang đi đến. Nếu sự thật của khổ không chối cãi được, thì sự thật của an lạc thanh tịnh cái gọi là Niết Bàn cũng hiện hữu ra ngay đời nay. Như thế chúng ta phải công nhận rằng, người nào thẩm thấu và thực hành được pháp Tứ Diệu Đế, người ấy đã hoàn chỉnh trong cuộc truy tầm triết lý của nhân sinh.

6. Thay đổi được an lạc

Khi chưa hiểu đạo giác ngộ chúng ta đã sống thế nào? Nay hiểu đạo rồi phải sống ra sao? Trước kia bước vào cổng Tam Quan vô Chánh Điện lễ Phật, thái độ tinh thần của ta có gì lạ không, và khi rời khỏi chùa ta có lưu luyến hay nghi vấn gì? ...Rất nhiều sự việc, giờ đây ta có thể nhớ lại để thấy sự thay đổi hiện thời.

Thường như bao nhiêu người, nếu không phải là Phật tử thuần thành, việc vào chùa chỉ là để khuây khỏa dạo chơi, tìm cảm giác an ổn hầu quân bình lại cuộc sống xô bồ rầm rộ bên ngoài. Hay khi có biến cố đại sự trong gia đình cần phải tìm đến chùa gặp quý vị tu sĩ cố vấn chỉ bày an ủi...

Ngoài ra, phần lớn đến chùa là để xem lễ hội, văn nghệ trong hai ngày lễ lớn: Phật Đản, Vu Lan. Riêng ba ngày Tết hẳn cũng thường có mặt, cốt để hái lộc đầu xuân cầu cho may mắn. Lộc xuân ở nước ngoài này thường là những câu chúc lành bỏ trong bao lì xì, hay một vài quả trái cây. Quả trái tượng trưng quả báo tốt đầu năm.

Hình thức này là cách chúc an lành cho người viếng chùa đầu năm mới.

Đó là việc viếng đất Già lam trong tâm niệm và hoàn cảnh như vậy. Nhưng đó lại là việc quan trọng nuôi dưỡng tinh thần trên xứ thuần đầy vật chất, cho dù việc được nuôi dưỡng tinh thần này chưa có giọt nước cam lồ Phật pháp nào thấm đến. Điều này thực tế chúng ta đã thấy, những ngày lễ hội rằm lớn, hương trên bàn Phật quyện tỏa nghi ngút, dưới Phật đài người người sụp lạy nguyện cầu. Nói rằng chưa được giọt nước cam lồ Phật pháp thấm vào, nghĩa là hình ảnh khấn nguyện chí thành tha thiết ấy, chỉ xảy ra trong ngày lễ hội mà thôi! Và khi xong lễ phải chờ lại một chu kỳ, mới có cơ hội! Mà cơ hội này cũng do chính ta tạo ra. Tuy nhiên hoàn cảnh đã khiến ta phải thuận theo như vậy, vì có lẽ ai chẳng muốn nhàn hạ để luôn được chiêm ngưỡng Phật đài, để tha thiết bộc bạch lời khẩn nguyện, cho tâm hồn được tự tại an nhiên, cho mọi người được vui vẻ, cho thế giới được hòa bình, cho hoa Ưu Đàm nở rộ tỏa khắp trên hành tinh xanh này!

Quả thật như thế, và nếu nguyện được như vậy thì dù có viếng chùa lễ Phật đợi đến chu kỳ, nhưng chắc chắn đã tạo được giọt nước cam lồ Phật pháp. Vì cầu nguyện với tâm vị tha vô ngã (vì người mà không thấy có mình) nên khế hợp với tâm nguyện chư Phật mười phương. Và theo nhân quả, dù không nguyện được như vậy, duyên lành Tam Bảo cũng được tích thành trong tương lai; do đã dắt được ba nghiệp thân, khẩu, ý vào được đất Già Lam, nhất là lúc ba nghiệp sụp xuống đê đầu lễ Phật, dù là lúc đó chỉ cầu cho riêng mình đi nữa. Do đó chỉ cần đối trước Phật đài chiêm ngưỡng là đã tạo duyên Phật rồi. Thử nhìn lại còn biết bao người chưa bao giờ đặt chân tới chùa, dù để dạo chơi xem hội.

Riêng tâm trạng người mới vừa nhận được viên ngọc quý, tức vừa nhận ra mình diễm phúc gặp đạo vàng, bây giờ đã có khác. Cái khác này chỉ tự mình thấy. Người ngoài chỉ là thấy qua hình ảnh múa máy mà thôi. Tuy nhiên chúng ta cũng đã thay đổi bên ngoài, bằng những động tác có ý thức mà thường nghe là sống trong chánh niệm.

Chúng ta bắt đầu gặp nhau, chào hỏi qua cung cách chấp tay xá chào, và lời đầu tiên thốt ra khỏi miệng là đọc lên danh hiệu ‘‘A Di Đà Phật’’, rồi mới tiếp hỏi sức khỏe, gia đình v.v...Thật ra đọc lên danh hiệu đức Phật A Di Đà, đã đầy đủ lời chúc tụng. Vì đức Phật A Di Đà còn có danh hiệu là Vô Lượng Thọ; mà loài người chúng ta ai mà chẳng cầu được thọ, hẳn nhiên sống thọ ở đây phải khỏe mạnh, sung sướng. Đức Phật Vô Lượng Thọ lại là giáo chủ cõi Cực Lạc, một cõi nước đầy an lạc đến cùng cực, thì tất nhiên cầu chúc qua danh hiệu Ngài phải mỹ mãn vui sướng là trước tiên. Vậy không có câu chúc nào bằng đọc lên danh hiệu Ngài. Còn nếu nói về lý giải thoát mà người học Phật đang tầm kiếm, thì danh hiệu Phật A Di Đà là câu chúc thiết thực. Chúc cho người quay về soi rọi chính mình, qua ánh sáng thanh tịnh để thanh tịnh thân tâm tiêu diệt phiền não; vì danh hiệu Ngài còn gọi là Phật Thanh Tịnh Quang. Đây lại thấy hai chữ Thanh Tịnh vô cùng quan trọng trên hành trình tu học. Bởi pháp tu nào cũng trở thành vô ích nếu hành giả không thanh tịnh được thân tâm.

Vào trong chánh điện, chiêm ngưỡng đấng Thế Tôn, lúc này tâm hồn đã khác nhiều lắm. Bấy giờ người ngoài càng khó t