Những đoản văn
viết trong 25
năm qua
Thích Như Điển
---o0o---
Phần 1
Lời nói đầu
Nếu
nói 20 năm là một thế hệ, thì những bài viết trong quyển sách thứ 36 nầy
đã hơn một thế hệ rồi. Đó là 25 năm của một chặng đường lịch sử mà chúng
tôi đã đi qua.
Chúng tôi là những
người Việt Nam sinh ra trước năm 1975 và kể từ đó đến nay đã có không biết
bao nhiêu cuộc chia ly để kẻ ở người đi, kẻ còn người mất. Nếu không có
ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì chúng tôi đã không hiện hữu ở ngoại quốc ngày
nay lâu như vậy. Nếu đa phần là sinh viên đi du học thì sau khi thành tài,
lại phải về nước để phục vụ quê hương. Nhưng ở đây thì không phải thế,
càng ngày người Việt Nam càng ra ngoại quốc nhiều hơn. Con số thống kê
chính thức của người Việt Nam năm 2002 ở ngoại quốc là 1.500.000 người. Đó
là chưa kể khoảng 500.000 người bị chết chìm nơi biển cả hay trong rừng
sâu khi đi tìm tự do. Như vậy nếu còn sống sót hết thì con số phải được
cộng chung thành 2 triệu người. Trong số ấy cũng có lắm trẻ sơ sinh được
chào đời và cũng có nhiều người bị chết đi do bệnh tật hay già yếu.
Ngày xưa ở
Việt Nam mỗi gia đình trung bình là 5 người con. Bây giờ ở ngoại quốc, mỗi
gia đình tính là 2 người con ở thế hệ thứ nhất và một người con ở thế hệ
thứ hai, thì số sinh vẫn nhiều hơn số tử. Do đó con số 2 triệu nó không
dừng tại đó.
Thế hệ
trước, khi chúng tôi bỏ nước ra đi, có không biết bao nhiêu điều nhục nhằn
chua xót. Có người giàu có cũng phải ra đi. Có người nghèo khổ cũng không
thể ở lại. Vợ xa chồng, con xa cha vì phải đi học tập cải tạo nơi rừng sâu
nước độc, rồi bị bỏ mạng nơi chốn núi đồi nào đó, chẳng còn ai đoái hoài
đến nắm xương tàn kia! Rồi ngày tháng qua đi, nhưng tiếng gầm của biển,
tiếng uy hiếp của hải tặc trên đại dương... không thể nào làm cho người
thân an giấc ngủ, mà lúc nào cũng nhớ nhớ thương thương về người thân của
mình bị hãm hiếp đọa đày. Do vậy mà những áng văn thơ, nhật ký đã được
viết ra, đăng tải trên khắp báo chí để ghi lại một nỗi nhọc nhằn, một sự
mất mát mà ông cha họ, hay chính bàn tay của họ đã bao đời gây dựng nên,
mà nay chỉ còn là 2 bàn tay trắng!
Tôi sinh
ra cũng đúng vào thời điểm loạn ly của đất nước; nhưng được cái may là vào
chùa tu rất sớm từ năm 1964 và đi ra khỏi nước từ năm 1972; tuy không bị
cái cộng nghiệp mất mát, tủi hờn như cả miền Nam Việt Nam phải hứng chịu;
nhưng tôi đã là người Việt Nam thì cũng cùng chung một số phận là rời bỏ
quê hương, chưa bao giờ có ngày trở lại; nên trong thời gian 25 năm ấy,
những sáng tác của tôi đã ghi lại những thực thể mà người tỵ nạn Việt Nam
đã trải qua. Có lúc tôi ghi lại một cuộc hành trình qua những cái đẹp của
núi sông cảnh trí của một đất nước nào đó tôi đã đi qua. Đôi khi cũng ghi
lại một vài cảm nghĩ đối với vấn đề giáo dục và thế hệ trẻ trong tương lai
của Việt Nam tại Hải Ngoại. Hay một bài tùy bút, một bài cảm tưởng v.v...
Đó là cả một tấm lòng của tôi đối với mọi người.
Trong 25
năm ấy tôi đã xuất bản tổng cộng là 34 cuốn sách và ngoài những sách tôi
viết mà quý độc giả đã đọc, cũng có rất nhiều bài được đăng trên báo Viên
Giác. Nay tôi tập họp lại những bài viết ấy để in thành quyển sách thứ 36
nầy. Sách nầy sẽ được dịch ra tiếng Đức và cũng như lâu nay Bộ Nội Vụ đặc
trách về truyền thông và văn hóa của Đức sẽ tài trợ phần vật chất để sách
nầy được xuất bản. Ơn ấy cho đến bao giờ tôi cũng không thể nào quên được.
Rồi mai
đây thế hệ thứ hai, thứ ba của người Việt Nam được sanh ra tại Hải Ngoại,
có lẽ họ sẽ không biết gì và cũng chẳng liên hệ gì với quá khứ như cha ông
họ hay những người đi trước đã kinh qua. Do vậy một chặng đường lịch sử
phải cần ghi lại cho mai hậu là vậy.
Cũng như
thế đấy, có nhiều gia đình người Đức trong đệ nhị thế chiến (1939-1945) đã
bỏ quê hương nầy, tránh nạn độc tài phát-xít để đi lánh nạn và lập nghiệp
tại Mỹ, Canada hay Úc Châu, thì nay thế hệ thứ 3, thứ 4 của con cháu họ,
chắc không hiểu và cũng chẳng quan tâm về một sự kiện như thế đã xảy ra
nơi quê hương của cha ông họ cách đây gần 100 năm về trước. Tuy nhiên lịch
sử vẫn là lịch sử. Lịch sử là những chứng cứ hùng hồn nhất của một dân
tộc, có thể cả tốt lẫn xấu, chúng ta không được phép bỏ qua hay lờ đi. Vì
nếu tốt thì ta có thể rút ra làm một bài học cho bản thân mình. Nếu xấu
thì nên tránh xa, không cần đề cập đến nữa.
Câu chuyện
của Việt Nam nó cũng là một câu chuyện thương tâm như thế. Cho nên thế
giới mới động tình mà cưu mang cho cả 2 triệu người đang sinh sống, học
hành, làm việc ở ngoại quốc ngày nay. Dĩ nhiên là họ còn có bổn phận đóng
góp công sức, trí tuệ, bạc tiền cho những nơi học đang sinh sống nữa, chứ
không chỉ thuần là ngửa tay để đi nhận những ân huệ của nhân dân và chính
quyền sở tại mãi ban cho.
Để đóng
góp phần mình một chút gì cho quê hương nước Đức nầy, nơi đã cho tôi tự do
và không khí của đất trời để sống, để thở; nên tôi đã sáng tác, hoạt động,
trải rộng lòng từ bi đến mọi loài và mọi người. Có được như vậy là cả một
ơn đức khó có gì sánh được. Nên tôi góp phần mình vào việc chung nầy bằng
những tác phẩm, tuy không giá trị lắm đối với đời; nhưng là một chứng nhân
của thời đại, khi mà con người ngày nay cần những thông tin phải được cập
nhật hóa hằng ngày.
Một con én không đem
lại một mùa Xuân. Một tác phẩm không làm hài lòng tất cả mọi người; nhưng
nếu một mùa Xuân có nhiều cánh én thì mùa Xuân ấy đẹp biết bao và trong
gia tài tri thức của con người có được sự tập hợp của trí tuệ qua sách vở,
biên khảo thì trí tuệ ấy càng phong phú hơn nhiều. Đây là niềm hy vọng và
sự cầu nguyện của tôi cho mọi người và mọi loài được thâm nhập như thế.
Viết tại thư phòng Chùa Viên Giác
vào một sáng mùa Xuân năm 2003
để kỷ niệm năm thứ 25 thành lập
Chùa Viên Giác và Báo Viên Giác.
Tác giả
Thích Như
Điển
Phật Giáo Việt Nam xưa và nay
(Trích bài nói chuyện bằng tiếng
Đức
của ĐĐ Thích Như Điển tại Lemgo
và Hannover)
Kính
thưa liệt Quý vị,
Trong những thế kỷ gần đây, quý
vị là những người Tây phương, có cơ hội tiếp xúc, tìm hiểu về người Đông
phương của việc buôn bán, ngoại giao, chính trị, văn hóa ... và đương
nhiên trong đó có phần Tôn Giáo. Chúng tôi cũng thế, là những người sanh
ra và lớn lên tại Đông phương, chịu ảnh hưởng của Đông phương rất nhiều và
cũng đã biết người Tây phương bằng sách vở qua nhiều thế kỷ trước. Ngày
xưa chúng ta ở xa nhau, đã tìm hiểu đến nhau là điều đáng quý và bây giờ
chúng ta có cơ hội gần nhau và tìm hiểu nhau hơn nữa là một điều đáng nói
biết bao.
Phật Giáo đã đã truyền Việt Nam
từ Trung Hoa và Ấn Độ bắt đầu từ thế kỷ thứ 2 sau công nguyên. Một lịch sử
kéo dài gần 18 thế kỷ, nối liền với vận mệnh của dân tộc Việt Nam như thế,
chúng tôi không thể trình bày với quý vị trong khoảng thời gian hơn nửa
tiếng đồng hồ nầy được, mà chúng tôi chỉ trình bày những phần chính về sự
phát triển cũng như suy vong của Phật Giáo trong mạch sống dân tộc Việt
Nam mà thôi. Sau đó quý vị có gì thắc mắc thì chúng tôi sẽ lần lượt trả
lời trong phần câu hỏi của quý vị.
Người Nhật Bản có câu phương
ngôn là: "Xưa là xưa, nay là nay". Nếu xét cho kỹ ý nghĩa của câu
nầy cũng chí lý thật, vì sống cho ngày hôm nay thôi, chứ chuyện xưa thì đã
quá xa xôi đối với chúng ta. Thế nhưng, muốn tham cứu về lịch sử thì không
biết xưa thì làm sao mà có nay. Do đó tôi trình bày cho quý vị cả xưa lẫn
nay của Phật Giáo Việt Nam.
Đạo Phật được phát sanh từ Ấn Độ
cách đây 2522 năm và được truyền sang các nước Á Châu khác theo từng thời
điểm của từng quốc gia một. Phật Giáo ngày nay có hai phái chính là: Đại
Thừa Phật Giáo và Tiểu Thừa Phật Giáo. Các nước theo Đại Thừa Phật Giáo
như: Tây Tạng, Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản và Việt Nam. Các nước theo
Tiểu Thừa Phật Giáo như: Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện, Cao Miên, Lào và
Nam Việt Nam. Nếu xét về căn bản giáo lý của hai bộ phái nầy có rất nhiều
điểm dị biệt, nếu có thì giờ chúng tôi sẽ trình bày riêng với quý vị trong
phần câu hỏi.
Riêng về Việt Nam, Phật Giáo
được truyền vào từ Trung Hoa nhân kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất (BC. 111-931
NC) do các nhà sư Trung Hoa chạy loạn đến Bắc Phần Việt Nam sinh sống và
truyền đạo tại đó. Ngoài ra còn một thuyết nữa cho rằng Đạo Phật Việt Nam
được truyền vào trực tiếp từ Ấn Độ do những thương nhân và tu sĩ lúc bấy
giờ. Người Ấn Độ xưa kia hay buôn bán với người Trung Hoa bằng đường thủy,
trước khi họ sang Trung Hoa, bắt buộc họ phải ghé Việt Nam vì điều kiện
gió mùa. Và đây cũng là cơ hội để họ truyền Đạo tại Việt Nam.
Kể từ khi Phật Giáo được truyền
vào Việt Nam (thế kỷ thứ 2) mãi cho đến thế kỷ thứ 10, Phật Giáo mới giữ
một vai trò quan trọng trong triều đình cũng như nhân gian lúc bấy giờ.
Phật Giáo được truyền vào Việt Nam hầu hết là Thiền tông và các Tăng đồ
phải học thông viết thạo chữ Hán mới có thể đọc được kinh điển của Phật
Giáo. Cũng vì lúc bấy giờ trong dân gian không có ai thông thạo chữ Hán
bằng các vị Thiền sư, nên mỗi lần có sứ Trung Hoa sang Việt Nam, là nhà
Vua phải nhờ các vị Thiền sư ra đối đáp.
Vào triều Tiền Lê (980-1009) đã
có một Thiền sư danh tiếng, đó là Khuông Việt Thái sư đã được vua Lê Đại
Hành mời làm Thầy cho Vua và cho nhân dân trong nước. Đến triều nhà Lý
(1010-1225) Thiền sư Vạn Hạnh cũng là một vị danh Tăng, đã đóng góp cho
lịch sử Việt Nam một gương sáng muôn đời bất diệt. Đó là khai sáng thời kỳ
tự chủ, độc lập của triều đại nhà Lý. Cũng chính triều đại nầy, Phật Giáo
được thịnh hành nhất. Từ vua đến quan, từ dân đến thợ đều một lòng quy
ngưỡng theo Phật Giáo. Đất nước được thái bình thịnh trị, bên ngoài không
có giặc ngoại xâm, bên trong kinh tế, chính trị, văn hóa tôn giáo được
phát triển cao độ nhất trong lịch sử Việt Nam tự cổ chí kim. Mặc dầu Phật
Giáo chiếm một địa vị độc tôn từ triều đình cho đến dân chúng lúc bấy giờ,
nhưng Khổng Giáo cũng như Lão Giáo được tự do phát triển và chính các vua
tôi nhà Lý đã khuyến khích triều đình cũng như nhân dân không những chỉ
tin theo Phật mà còn phải tìm hiểu và học hỏi Khổng cũng như Lão Giáo nữa.
Sang nhà Trần (1225-1400), lúc
đầu Phật Giáo phát triển một cách rất mạnh mẽ. Điển hình là vua Trần Nhân
Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông để đi tu, cũng chính vị vua nầy
là một Thiền sư khai tông phái Trúc Lâm Yên Tử. Nhưng dần dần về sau Phật
Giáo bị Nho Giáo chèn ép và không còn phát triển mạnh như lúc trước nữa.
Vào khoảng năm 1400, quân nhà Minh sang đô hộ Việt Nam lần thứ 2, biết bao
nhiêu Tăng sĩ đã bị bắt, chùa chiền bị đập phá, kinh sách bị thiêu hủy,
các cơ sở tín ngưỡng, từ thiện, văn hóa xã hội v.v... bị chôn vùi bởi
thiên tai và bởi quân cướp nước nhà Minh gây nên.
Sau khi đất nước đã được khôi
phục lại nền tự chủ bởi vị anh hùng áo vải Lam Sơn Lê Lợi, Phật Giáo Việt
Nam lại có cơ hội phát triển, mãi cho đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh và
sự hiện diện của người Pháp trên đất nước Việt Nam thì Phật Giáo lại chịu
nhiều cơn pháp nạn. Trong khi người Pháp đô hộ Việt Nam gần 100 năm sống
dưới chế độ thực dân phong kiến Phật Giáo cũng không phát triển được gì,
mặc dầu hơn 80% nhân dân Việt Nam là đồng bào Phật Tử. Người Pháp sợ các
phong trào của Phật Giáo càng ngày càng mạnh mẽ làm mất thế đứng của họ
tại Việt Nam và Đông Dương một cách mau chóng hơn, nên họ đã tìm đủ mọi
cách để ngăn chặn mọi sự phát triển của Phật Giáo lúc đương thời.
Sau năm 1954, Hiệp Định Genève
được ký kết, Miền Nam theo chính thể Tự Do, Miền Bắc theo chủ nghĩa Cộng
Sản. Phật Giáo Việt Nam vẫn còn tồn tại trong hai miền. Ở Miền Nam Phật
Giáo được phát triển một cách tự do hơn Miền Bắc, còn ở Miền Bắc sự phát
triển của Phật Giáo hay nói đúng hơn là tất cả các tôn giáo khác đều bị
kiểm soát chặt chẽ (ví dụ như ở ngoài Bắc mỗi chùa chỉ để lại một Thầy lớn
tuổi trông coi chùa, tự túc sản xuất, còn nếu ai muốn đi tu phải được sự
đồng ý của nhà cầm quyền địa phương; còn trong Nam thuở bấy giờ một chùa
có bao nhiêu Tu sĩ, hoặc đi hành đạo chỗ nầy chỗ kia không bị cấm đoán
nhiều như ngoài Bắc).
Phật Giáo Việt Nam sau những năm
tháng dài, bị thực dân Pháp đô hộ, cố gắng vươn mình lên, củng cố Tăng
đoàn và chấn hưng Phật học. Từ 1954-1963 Phật Giáo tương đối phát triển
tốt đẹp. Nhưng vào thời điểm 1963, chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm đã
đàn áp Phật Giáo một cách trắng trợn, biết bao nhiêu Tăng Ni và Phật Tử đã
hy sinh cho công cuộc đấu tranh nầy, cho đất nước Việt Nam thân yêu đau
khổ nầy. Cuối cùng Phật Giáo đã thắng bạo quyền gia đình trị Ngô Đình Diệm
và tiếng nói chân chính của Phật Giáo Việt Nam đã được nhân dân trong nước
cũng như các phong trào, các đoàn thể và các Tôn Giáo tiến bộ khác trên
thế giới đã hoàn toàn ủng hộ một cách chân thành và Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất được đản sanh. (Chữ Thống Nhất ở đây có nghĩa là
thống nhất cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa Phật Giáo cũng như các tông phái khác
đã góp phần trong công cuộc tranh đấu chung vào thời kỳ vừa qua).
Từ năm 1963 đến 1975, Phật Giáo
Việt Nam đã góp phần mình cho công cuộc đấu tranh chung của nhân dân, đòi
có tự do dân chủ, có Quốc Hội Lập Hiến, có hòa hợp hòa giải dân tộc thực
sự, kêu gọi hòa bình, ngưng chiến... để cho dân tộc Việt Nam khỏi phải
chịu cảnh đao binh khói lửa nữa. Nhưng độc hại thay chính quyền tham nhũng
Nguyễn Văn Thiệu đã không phục vụ đại đa số quần chúng nhân dân, trong đó
có Phật Giáo và các Tôn Giáo khác, mà chỉ cốt củng cố quyền hành, tham
quan, ô lại, nên vận nước đã giao trọn cho người Cộng Sản sau ngày
30.4.75.
Ở thời điểm nầy biết bao nhiêu
dân tộc trên thế giới đã ca ngợi về sự chiến thắng của dân tộc Việt Nam
đối với người Mỹ, cũng không khác nào năm 1954 mà các dân tộc trên thế
giới đã ca ngợi Việt Nam chiến thắng người Pháp. Nhưng thế giới đã lầm, vì
không sống với người Cộng Sản Việt Nam nên không biết sự lừa bịp của họ.
Họ đã lừa bịp nhân dân trong nước cũng như nhân dân thế giới về những việc
làm tội lỗi của họ. Họ bao giờ cũng huênh hoang tự đắc là chiến thắng
30.4.75 là chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam và lịch sử thế
giới. Sau khi họ chiếm trọn Miền Nam Việt Nam, họ rêu rao nào là có tự do
tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do đi lại, tự do hội họp v.v... Nhưng sau một
thời gian làm việc chung với chính quyền Đảng Cộng Sản Việt Nam, tất cả
mọi người dân cũng như các Tôn Giáo khác đã tỏ ra vô cùng chán ngán cho
lối làm việc của người Cộng Sản Miền Bắc và phương cách đối xử với dân
Nam. Giáo Hội Phật Giáo cũng như Công Giáo hay các Tôn Giáo khác có mặt
tại Việt Nam đã ý thức rằng: Đất nước Việt Nam qua bao nhiêu năm chiến
tranh đã tàn phá, bây giờ đã thanh bình, quyền độc lập dân tộc Việt Nam
tạm có, nên Phật Giáo cũng như Công Giáo đã tỏ ra nhiều thiện chí trong
công cuộc đóng góp, xây dựng chung cho xứ sở. Nhưng người Cộng Sản đâu có
muốn thế, họ luôn luôn sợ các thế đối lập trong đó có Phật Giáo và họ luôn
luôn tìm cách đàn áp cũng như họ muốn cái gì cũng chỉ có Đảng mới có quyền
còn nhân dân chỉ là những hình nộm mà thôi.
Sau 3 năm người Cộng Sản cầm
quyền tại Việt Nam kết quả là gì?
Về Tôn Giáo:
Biết bao nhiêu chùa chiền, nhà thờ, thánh thất, tu viện, tượng Phật lộ
thiên... bị đập phá một cách tàn nhẫn và dã man, biến những nơi trang
nghiêm thanh tịnh thành nơi chứa thóc, chứa than, mặc dầu không có đủ thóc
hoặc than để chứa. Biết bao nhiêu Tu sĩ trẻ đã bị trở về đời sống bình
thường, hay bị đi vùng Kinh Tế Mới. Biết bao nhiêu cơ quan văn hóa, giáo
dục, từ thiện, xã hội... đều bị quốc hữu hóa. Các cơ quan ngôn luận, xuất
bản của các Giáo Hội cũng bị tịch thâu. Song song với việc đàn áp nầy,
Chính quyền Đảng Cộng Sản Việt Nam lập ra một phái gọi là "Phật Giáo Yêu
Nước" hòng làm công cụ tay sai cho chính quyền và bên ngoài cốt để khoe
khoang với thế giới rằng Việt Nam cũng có tự do tôn giáo, nhưng đó chỉ là
trò lừa bịp bợm của chính quyền đảng CS, không thể che giấu được lương tri
tiến bộ của nhân dân trong cũng như ngoài nước được. Bên Công Giáo thì
chính quyền đảng CSVN cũng lập ra Hội "Yêu Nước Kính Chúa" để nói láo giùm
cho chính quyền. Trong khi đó những Thượng Tọa, những Linh Mục chân chính
chống lại chính sách cai trị mù quáng có tính cách ngu dân của chính quyền
đảng CSVN đều bị bắt cầm tù hoặc bị thủ tiêu mất tích... Tự do tôn giáo
của CS là thế đó! ...
Về Nhân Dân:
Nhân dân đã bất mãn cùng cực sau ba năm người CS lên cầm quyền tại Việt
Nam, có kẻ đã quyên sinh vì sống không nổi với chế độ độc tài CS, có người
liều mình vượt biển tìm tự do, hàng tháng có cả hơn 10.000 người đến được
đất liền, còn số chết chóc trên biển cả bởi thiên tai thì chưa kể tới...
Số phận của họ rất hẩm hiu, chỉ mong đánh đổi được hai chữ Tự Do, còn tất
cả quê cha đất tổ, bạn bè thân thuộc đều bỏ lại sau lưng.
Về Kinh Tế:
Kế hoạch kinh tế 5 năm của chính
quyền đảng CS đã hoàn toàn thất bại, nạn đói kém càng ngày càng trầm
trọng, nạn thiếu hụt thực phẩm mỗi lúc một lên cao từ xưa đến nay chưa
từng thấy. Miền Nam Việt Nam là một vựa lúa của nhân dân, nhưng bây giờ
những lãnh tụ đầu não của chính quyền đảng CSVN phải đi ăn xin thế giới.
Điều nầy do ai gây nên? Thiên tai hạn hán cũng có, nhưng phần lớn là vì
chính sách chỉ đạo sai lầm của chính quyền đảng CSVN đối với vấn đề nông
nghiệp.
Về Giáo Dục:
Giáo dục của chính quyền đảng CSVN là giáo dục một chiều, họ bắt buộc dân
chúng phải học chủ thuyết Mác-Lénin. Ngoài ra dân chúng không được tham
cứu những sách vở khác. Họ đầu độc con em bằng những chủ thuyết ngoại lai,
mà trước đây Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã từng chống đối.
Ngày xưa Giáo Hội chống đối sự tham nhũng của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu
cũng như sự can thiệp quân sự, kinh tế, lẫn chính trị vào nội bộ Việt Nam,
không có nghĩa là đồng lõa với người Cộng Sản Việt Nam đi làm tay sai cho
Nga hoặc làm bù nhìn cho các chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, hay bất cứ một thế
lực ngoại nhập nào, mà thế lực đó không đi đúng với nguyện vọng của nhân
dân Việt Nam. Dầu là ở bất cứ trên bình diện nào.
Trên đây là tiêu biểu những điều
đã xảy ra tại Việt Nam đối với Phật Giáo - từ quá khứ cho đến hiện tại. Để
kết thúc buổi nói chuyện hôm nay, tôi xin nhấn mạnh điểm nầy với quý vị: "Khi
dân tộc Việt Nam thịnh thì Đạo Phật Việt Nam hưng; khi dân tộc Việt Nam
suy vong thì Đạo Phật Việt Nam cũng chịu chung số phận như thế".
Và tôi hy vọng rằng trong buổi
thảo luận hôm nay chúng ta sẽ đi sâu vào từng chi tiết một và sẽ giải
quyết được nhiều điều thỏa đáng hơn.
( Đặc San Viên Giác Số 1
(Ngày 1.1.1979)
Nguyên nhân Đản Sanh
của Thái Tử Tất Đạt Đa
Ai
trong chúng ta cũng đều biết rằng: Thái Tử Tất Đạt Đa (Siddhattha) con Vua
Tịnh Phạn (Suddhodana) và Hoàng Hậu Maya (Mahà Màyà) ở xứ Ca Tỳ La Vệ
(Kapilavatthu) bên ranh giới nước Ấn Độ thuộc nước Népal ngày nay.
Thái Tử sinh ngày trăng tròn
tháng tư (Vesak) tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) dưới gốc cây Vô Ưu. Khi Thái
Tử sinh ra có nhạc trời chúc tụng, hoa báu rưới khắp mọi nơi nhằm cúng
dường một Đấng Đại Từ, Đại Bi, Đại Trí, Đại Giác vừa xuất hiện ở cõi đời
nầy trong dòng họ Thích Ca (Sakya) để mang lại lợi lạc cho quần sanh.
Năm nay chúng ta kỷ niệm lễ
Đản Sanh của Ngài năm thứ 2523 năm nhưng thật ra đó là chúng ta kể niên
đại nhập Niết Bàn (nirvana) của Ngài. Đúng ra ta phải cộng với 80 năm của
cuộc đời Ngài chúng ta mới có Ngày Đản Sanh của Ngài được. Vậy nói cách
khác năm nay chúng ta đang cử hành lễ Đản Sanh của Thái Tử Tất Đạt Đa
thành năm 2603 năm mới đúng. Sở dĩ Phật Giáo chọn năm Nhập Diệt của Ngài
để cử hành lễ Đản Sanh là vì năm tháng ấy đánh dấu một sự thị hiện của
Ngài tuy đã đi vào trong cảnh yên vui tịch mịch nhưng lời dạy của Ngài vẫn
còn vang dội khắp mười phương pháp giới. Điều đó hẳn đúng vì chúng ta là
những người Phật Tử thực hành theo giáo pháp của Ngài đã chỉ dạy trong
suốt 49 năm hành đạo độ sanh. Ngài đã thuyết rất nhiều kinh điển nhưng
cuối cùng Ngài nói với các đệ tử của Ngài rằng: "Suốt 49 năm hoằng pháp ta
chưa nói một câu nào cả". Vì chúng sanh ở trong cõi đời này đều chấp vào
sự Có và sự Không - đôi lúc còn nhầm lẫn chấp cả sự Không là Có mà sự Có
chấp Không. Còn giáo lý của Phật Giáo là một chân giá trị tuyệt đối, một
bản thể nhất như - không hai mà cũng chẳng ba, không đến cũng không đi,
không tăng cũng không giảm, không có cũng không không. Nếu ai còn chấp vào
sự không và sự có tức là còn vọng tưởng. Còn vọng tưởng tức là còn mê muội
- mà còn mê muội là chúng sanh chứ không phải Phật Thánh. Bởi vậy Đức Phật
có dạy rằng: "Chánh pháp còn phải bỏ thay, huống là phi pháp". Khi đã
chứng đắc đạo quả vô thường giải thoát rồi thì chuyện có chuyện không cũng
không còn bận tâm nữa, huống gì với sự chấp có chấp không. Cũng vì lý do
ấy mà đệ tử của Phật sau nầy kỷ niệm năm Phật nhập Niết Bàn cũng là năm
Đản Sanh của Ngài đều không khác vậy.
Như vậy Đức Phật ra đời để
làm gì?
Câu hỏi tuy giản dị nhưng hàm
chứa nhiều ý nghĩa. Trước tiên ta phải hiểu danh từ Phật là gì đã, sau đó
ta sẽ đi sâu vào nguyên nhân Đản Sanh của Ngài.
PHật là một danh từ chung
dùng để chỉ cho những bậc đã giác ngộ bản tâm và vạn hữu. Tiếng Phạn gọi
là BOUDDHA, tiếng Trung Hoa dịch là "giác giả", dịch sang tiếng Việt Nam
là "kẻ hay người giác ngộ", người giác ngộ là người hiểu biết một cách
sáng suốt gọi là Phật. Phật không phải là một vị Thần hay một vị Chúa tể
của muôn loài có quyền ban ân giáng họa, tạo phước đức cho chúng sanh mà
Phật chỉ là một con người bình thường như bao nhiêu con người bình thường
khác - đi từ địa vị phàm phu đến quả vị tuyệt đối kia sau nhiều năm, nhiều
kiếp tu hành để được giác ngộ.
Trong kinh Pháp Hoa (Sutra)
có dạy rằng: "Tất cả các Đức Phật ở trong ba đời: quá khứ, hiện tại và vị
lai - thị hiện ở trong đời nầy không ngoài mục đích là mở bày cho tất cả
mọi người thấy rõ và đi vào sự thấu hiểu tột cùng của bậc đã giác ngộ" -
(Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến). Như thế chúng ta đã thấy
rằng các Đức Phật ra đời trong đời nầy là vì chúng ta chứ không vì ai khác
nữa. Chúng ta là những con bệnh đang quằn quại trong cuộc đời khổ trược.
Phật như một vị thầy thuốc giỏi muốn đem chân lý, sự sáng suốt chỉ dẫn cho
con người ra khỏi chỗ bùn nhơ nước đọng ấy. Phật ra đời vì lòng thương
chúng sanh như lòng mẹ thương con, như tình thương muốn dập tắt lửa hận
thù.
Trong kinh Tăng Nhứt A Hàm ca
ngợi Thái Tử Tất Đạt Đa lúc Đản Sanh như sau: "Một chúng sanh duy nhất,
một con người phi thường, xuất hiện trong thế gian nầy, vì lợi ích cho
phần đông, vì hạnh phúc của phần đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì
lợi ích và hạnh phúc của chư Thiên và nhân loại". Đó cũng là ý nghĩa và
nguyên nhân Đản Sanh của Thái Tử Tất Đạt Đa vậy.
Cũng vì chính lòng thương
chúng sanh ấy mà Ngài đã thị hiện ở cõi Ta Bà (Samsara) nầy, cũng chính vì
lòng thương ấy mà Ngài quyết đoạn tuyệt cuộc đời vương giả, vợ đẹp con
ngoan, lầu vàng điện ngọc để đi vào chốn núi rừng cốt tìm cho được một
chân lý thoát khỏi sinh tử để cứu độ cho sinh linh. Cũng chính vì không
muốn thấy giữa con người đi bóc lột con người, giữa kẻ mạnh đi hà hiếp
người yếu, giữa kẻ có quyền thế đi mua chuộc lợi danh, giữa những kẻ có
oai quyền đi chinh Đông phạt Bắc. Tất cả chỉ vì lòng ham muốn nhỏ mọn của
con người mà ra cả. Vì con người chỉ muốn mình là chúa tể của muôn loài,
mình là trung tâm của vũ trụ. Đối với Đạo Phật hay Đức Phật, con người chỉ
là một hạt cát trong bãi sa mạc mà thôi. Chúng ta sở dĩ có thân nầy vì do
những nguyên nhân đã hợp mà thành, rồi theo ngày đêm năm tháng, những yếu
tố được cấu thành thân thể của con người cũng mai một đi để trở về trạng
thái cũ của nó. Con người bị lạc vào trong đường dữ nhưng không biết lối
ra, bị ở trong nhà lửa nhưng không biết nóng. Lửa si mê, lửa thù hận đang
đốt cháy ngập trời, thiêu rụi cả ba cõi nhưng con người vẫn còn say mê
chưa tỉnh ngộ...
Cũng chính vì thế mà Đức Phật
ra đời, mong muốn đưa con người từ bờ mê sang bến ngộ nhưng có ngộ được
hay không con người phải ý thức ở chính mình và tự mình đi thẳng vào chỗ
ngộ ấy mới mong ngộ được. Còn nếu con người còn ỷ lại nơi chính mình, còn
nương vào những cái giả tạm để làm cứu cánh thì mãi cho đến bao giờ con
người vẫn còn sự khổ cứ triền miên theo bám víu chúng ta. Đức Phật đã bao
năm tháng mòn mỏi đợi chờ; nhưng đàn con dại chúng ta đang còn mãi lặn hụp
trong biển đời ngao ngán. Bồ Tát đã hiểu rõ tâm trạng của chúng sanh nên
có nhiều lần Ngài đã thệ nguyện rằng: "Bao giờ tất cả con người và mọi
loài thành Phật thì Ngài mới thành Phật". Như thế chúng ta đã thấy rằng
các Đức Phật đã vì chúng ta, vì mọi loài mà mong dẫn dắt con người ra khỏi
chỗ mê mờ trở về sự hiểu biết sáng suốt, nhận chân được giá trị của cuộc
đời, của con người đâu là chánh, đâu là tà ...
Tóm lại chúng sanh còn đau
khổ là Phật còn thị hiện. Phật ở trong ta, trong người, ở trên, ở dưới, ở
khắp cõi hư không và mười phương pháp giới. Khi nào tất cả chân tánh của
mọi loài hoàn toàn hiển lộ thì Phật không còn ra đời nữa, vì hạnh nguyện
của các Ngài đã hoàn toàn viên mãn.
Hôm nay chúng ta kỷ niệm Đản
Sanh và nhắc lại ý nghĩa Đản Sanh của Ngài không ngoài mục đích là tự nhắc
nhở chúng ta hãy luôn luôn đi theo chánh đạo và chối bỏ những hận thù tội
lỗi... Ngày nào mà ánh sáng chân lý đều đến với tất cả muôn loài thì Đức
Phật mới hoan hỷ trụ được nơi yên tịnh trong cõi Niết Bàn vậy.
( Đặc San Viên Giác Số 2
(ngày 5.5.1979)
Cách báo hiếu trong Đạo Phật
Xưa
nay trong xã hội loài người đã xuất hiện biết bao nhiêu Tôn Giáo khác nhau
như Bà La Môn, Phật Giáo, Hồi Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo, Thiên Chúa Giáo
v.v... Mục đích của tất cả các Tôn Giáo trên là cốt dìu dắt con người đi
từ chỗ sai lầm đến chỗ hiểu biết, từ bỏ sự mê mờ và quay đầu về bờ giác
ngộ. Tránh tất cả các việc dữ, làm các việc lành, lợi mình và lợi người
vậy...
Mục đích tuy giống nhau,
nhưng phương tiện để đi đến mục đích đó mỗi Tôn Giáo lại chủ trương khác
nhau. Ví dụ như Khổng Giáo chủ trương rằng: một người được sanh ra có bổn
phận phải nối dõi tông đường, sinh con đẻ cái để nối truyền cái gia nghiệp
của Tổ Tiên, nhưng Phật Giáo thì không quan niệm như vậy, vì còn sinh tử
trong cõi luân hồi nầy là còn luân hồi nghiệp báo. Vậy muốn thoát khỏi
cảnh sanh tử luân hồi trong cõi đời nầy, điều cốt yếu là đừng nên tạo
nghiệp tiếp tục nữa, đó là con đường đi đến chân lý giải thoát tuyệt đối
vậy.
Trong các kinh điển nói về
đạo hiếu của con cái đối với cha mẹ hiện tiền cũng như cha mẹ trong những
đời quá vãng rất nhiều và Đức Phật cũng đã nói thật rõ ràng về sự mang
nặng đẻ đau của mẫu thân cũng như công ơn sanh thành dưỡng dục của song
thân từ khi con mới biết sún cơm, bú mớm. Công ơn sanh thành dưỡng dục của
cha mẹ như non cao bể rộng. Ngài có lần dạy cho bốn chúng đệ tử biết rằng:
nếu khi cha mẹ già yếu không có cơm ăn, người con tự lấy dao rạch thịt da
của chính mình để cung phụng nuôi dưỡng cha mẹ. Ấy cũng chưa đền được một
trong muôn ngàn ơn sâu nghĩa trọng. Có người cõng cha mẹ trên hai vai đi
suốt quanh hòn núi Tu Di trong nhiều kiếp cũng chưa đền được chữ hiếu của
mẹ cha. Bởi vậy cho nên Đức Phật thường hay dạy rằng: "Phụ mẫu tại tiền
như Phật tại thế", nghĩa là: "cha mẹ trong đời nầy cũng giống như Phật
đang ở gần chúng ta. Biết kính thờ và hiếu thuận với cha mẹ tức là biết
kính thờ Phật vậy".
Mẩu chuyện Ngài Đại Hiếu Mục
Kiền Liên cứu mẹ đã cho ta một gương sáng nên soi theo đối với những người
theo Phật Giáo. Mẩu chuyện được kể như sau:
"Sau khi Ngài Mục Kiền Liên
đã đắc quả thần thông, liền vận dụng thần thông ấy đi tìm mẹ. Vì mẹ Ngài
đã mất lâu nay nhưng Ngài chưa có cơ hội để quán xét. Cuối cùng Ngài gặp
mẹ Ngài - Bà Mục Thanh Đề đang bị sanh vào kiếp ngạ quỷ (quỷ đói), trên
đầu bà đội một chậu máu, dưới bà bị ngồi trên một bàn chông. Thân thể vô
cùng đau đớn, cơm không có ăn, áo không có mặc, lạnh buốt tận xương tủy.
Ngài Mục Kiền Liên thấy động lòng, nên liền mang cơm đến dâng cho mẹ để
mong mẹ Ngài dùng cho đỡ đói, nhưng nào ngờ đâu cơm kia chưa đưa vào miệng
thì đã hóa thành than lửa rồi mẹ Ngài không thể nào dùng được. Ngài Mục
Kiền Liên càng đau khổ thêm, khóc lóc thảm thiết. Cuối cùng Ngài chẳng có
cách nào hơn là về bạch lên với Phật và mong Ngài giúp đỡ.
Đức Phật chỉ cho Ngài Mục
Kiền Liên thấy rằng: xưa nay bà Mục Thanh Đề lúc còn sống thì bán Phật,
khinh Tăng, không còn tin kính phép luân hồi nhân quả, ưa nhạo báng Phật
Pháp và tạo nhiều ác nghiệp do lòng tham lam của chính bà tự tạo lấy, nên
sau khi thác bà phải chịu khổ sở trong chốn u đồ. Dầu Ngài Mục Kiền Liên
có thần thông đệ nhất trong tất cả môn đồ của Đức Phật, dầu thần thông của
Ngài Mục Kiền Liên đã được các hàng trời, Đế Thích, bốn vị Thiên Vương rất
thán phục, nhưng nếu chỉ một mình thần lực của Ngài Mục Kiền Liên cũng
không thể nào cứu mẹ ra khỏi chốn u minh kia được. Lúc bấy giờ Đức Phật
mới dạy Ngài Mục Kiền Liên rằng: "Nếu ngươi muốn cứu đặng mạng của bà Mục
Thanh Đề thì phải thành tâm và phải nhờ vào thần lực của chư Tăng chú
nguyện trong ngày tự tứ, thì mới mong thoát khỏi. Vì ngày ấy là ngày hoan
hỷ của chư Tăng, ngày mãn hạ và cũng là ngày đầy đủ các bậc cao Tăng hiền
đức từ trong chốn núi rừng cho đến nơi thị tứ cũng đều vui vẻ tụ lại một
nơi để cầu nguyện cho bảy đời cha mẹ được siêu thăng và cho phụ mẫu hiện
tiền được nhiều hồng phước. Những người con hiếu thuận chính ngày ấy nên
sắm các thức ăn, vật dụng, giường nằm, nệm lót, y phục dâng cúng chư Tăng
và sau khi chư Tăng đã thọ thực nhờ đạo cao đức trọng sau 3 tháng an cư
kiết hạ của các bậc cao Tăng hiền đức chú nguyện cho người còn được an lạc
kẻ mất được siêu thăng, chứ một mình ông thì không thể làm được".
Ngài Mục Kiền Liên đã vâng
lời Phật dạy và thực hành theo đúng như sự chỉ giáo của Đức Thế Tôn, nên
cũng chính trong ngày tự tứ của chúng Tăng ấy bà Thanh Đề đã được hóa sanh
về cõi Thiên cung. Sau đó Ngài Mục Kiền Liên thấy việc làm ấy có hiệu quả
nên bạch với Phật và xin Ngài nên đặt để hiệu kinh để sau nầy các chúng đệ
tử tại gia cũng như xuất gia nếu muốn báo hiếu cho cha mẹ thì nên làm theo
như Ngài Mục Kiền Liên để cha mẹ quá vãng được hưởng nhiều lợi phước. Đức
Phật nhận lời và đặt tên kinh là "Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân Kinh" và mãi cho đến
bây giờ cứ mỗi năm đến Rằm Tháng Bảy là ngày mà tất cả mọi người con Phật
dầu bất cứ ở nơi đâu, dầu đang làm ăn sinh sống ở đâu cũng đều tụ hội về
lo báo ân phụ mẫu nhân ngày tự tứ của chư Tăng.
Chữ hiếu trong đạo Phật là vậy.
Không những lo cho cha mẹ mình, mà cũng còn có thể hộ niệm và cầu nguyện
cho cha mẹ của người khác cũng được hóa sanh về những cảnh giới an nhàn,
tự tại hơn.
Nhưng đất nước Việt Nam chúng ta
đã trải qua biết bao cơn binh đao khói lửa, ngày thanh bình vẫn không đến,
mặc dầu danh từ thống nhất, độc lập, tự do, dân chủ đã có, nhưng những
người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam họ đã mang chủ nghĩa vô thần, vô gia
đình, vô quốc gia vào ngự trị trên quê hương ta - một quê hương đã bao đời
chịu ảnh hưởng của Phật Giáo và Nho Giáo, đặt nặng vấn đề chữ hiếu, nhưng
ngày nay người Cộng Sản đã mang chủ nghĩa Mác-Lénin vào để thay thế cho
phong tục, tập quán của người Việt Nam và mang hình ảnh Hồ Chí Minh để
thay đổi vị trí của những bậc Giáo Chủ của những Tôn Giáo lớn. Họ không có
gia đình, ông bà, cha mẹ thì còn đâu để báo hiếu. Họ là những người chỉ có
xác mà không có hồn. Họ là những người bị nô lệ bởi chủ nghĩa duy vật cực
đoan và thiển cận. Nhưng có lẽ một ngày nào đó khi mà nghiệp duyên đã mãn
thì dầu cho bất cứ một chế độ nào, một chủ nghĩa nào mà không thực hành
đúng nguyện vọng của nhân dân thì ắt có ngày sẽ sụp đổ.
Chúng ta là những người Phật Tử,
coi trọng công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ và suốt đời một dạ báo
hiếu cho song thân, hầu đền đáp những ơn thâm nghĩa trọng kia. Bởi thế
người xưa thường nói: "Thiên kinh vạn quyển, hiếu vi đệ nhất". Nghĩa là
dầu cho một ngàn quyển kinh, mười ngàn quyển sách chỉ có chữ hiếu là đứng
đầu.
Mùa Vu Lan năm nay cũng sắp về
nơi hải ngoại cũng như trong quốc nội. Chúng ta hãy chắp tay thắp nén
hương lòng gởi về cố quốc, nhằm cầu nguyện cho những người con đang chịu
nhục nhằn trong ngục tù cộng sản sớm được trao trả tự do và phục hồi nhân
phẩm của họ. Cầu nguyện cho những người đang trốn chế độ cộng sản ra đi
tìm tự do không may chết chìm trên biển cả được cao đăng Phật Quốc. Và cầu
nguyện cho chính chúng ta có đủ can đảm để đấu tranh với người cộng sản
cho đến giai đoạn thắng lợi cuối cùng cho công việc phục hưng Quốc Gia,
Dân Tộc và Đạo Pháp.
( Đặc San Viên Giác Số 3 )
Thiền học
Đại Lão Hòa Thượng Thiền Sư
YOSIOKA TOICHI soạn - nguyên tác "ZEN"
Thích Như Điển dịch từ Nhật ngữ
ra Việt ngữ.
Con
người sống trong xã hội hiện tại hay mong muốn cái gì cũng giống như sự
giáo dục của sự hợp lý chủ nghĩa, nghĩa là dầu cho nỗ lực ít nhưng phải có
kết quả. Do đó ta có thể nghe hỏi rằng: Việc tọa thiền có công dụng như
thế nào?
Sau thời kỳ hậu chiến (1945) các
tôn giáo mới lại xuất hiện nhiều. Đứng về phương diện tôn giáo thì có
nhiều kết quả lợi ích, ví dụ như lễ bái để được lành bệnh... có thể nói
rằng đó là thuộc về quan niệm tôn giáo nguyên thủy.
Thế nhưng sự ngồi thiền ở đây
tôi (tác giả) không cho là một loại thuốc hay.
DOGEN (Đạo Nguyên) Thiền Sư đã
từ Trung Quốc về (Nhật) đến Kyoto mở chùa Hưng Thánh Tự. Tại Trung Quốc
Ngài đã học về Phật Giáo hiện thời. Nhưng nếu có hỏi Ngài đã tu được gì
thì Ngài trả lời rằng: "Được thấy mắt ngang, mũi thẳng và trở về quê bằng
hai tay không". Dưới triều nhà Tống năm thứ 5, Ngài phát hiện ra chuyện
mắt nằm ngang, mũi ngay thì đâu có khác gì chuyện ngày nay như người ta
biết. Vậy thì Ngài chẳng tu học được cái gì, về nước bằng hai tay không
sao?
Thiền không thể nói như một món
hàng bán ngoài quán được. Nếu cứ hỏi chuyện lợi ích của Thiền hoặc giả vẽ
ra mục đích chẳng hạn thì người đó không thể nào tiếp xúc được với bản
chất của Thiền mà cứ đứng quanh quẩn ngoài ngõ Thiền.
Ngài Đạo Nguyên đã cho biết
rằng: "Hãy bỏ danh lợi và lấy đạo tâm". Nếu muốn thành con người tiếng tăm
hoặc đi tìm sự lợi ích cho chính mình thì Thiền là một giới luật nghiêm
khắc không được vào cửa ngõ của Thiền vậy.
Nói vậy nhưng ngồi Thiền không
phải là không có hiệu quả. Thế nhưng không phải vì cái hiệu quả ấy mới
ngồi Thiền. Trong lúc ngồi Thiền cái tự tánh hiển hiện ra, nó khác với cái
hiệu quả trên. Ngồi một chút là thành Phật một chút. Ngồi một thước là
được dạy cho một thước thành Phật. Điều nầy được hiểu là: Nếu có ngồi thì
Phật tánh mới hiển lộ.
Người tu Thiền chơn chính được
gọi là ngồi Thiền "vô sở đắc" lại nữa đó cũng gọi là "Bổn chứng diệu tu"
của sự tọa Thiền.
Ngoài ra, đó không phải là sự
định ước mục đích cho sự tu Thiền mà trong đó phải biết được cái "bản lai
diện hữu" là được đi vào Thiền vậy.
Ngồi Thiền thì phải ngồi cho
đúng cách. Điều chỉnh hơi thở cho đều đặn. Thực hành đúng như vậy thì từ
chỗ hoạt động không bình thường của mũi, ruột, khí quản... ở vị trí không
an định trở thành điều hòa. Ở trong một thời gian nhất định, sau khi đã
thực hành đúng nguyên tắc thì tất cả các cơ năng vận động hợp lý. Người ta
thường nói con người không ăn 2 tháng không sao, nhưng nếu không thở chừng
5 phút thì sẽ bị chết. Khi nội tạng được nằm trong một vị trí điều chỉnh
đứng đắn thì máu lưu thông đều đặn và các tế bào của cơ thể sinh hoạt bình
thường. Điều đó có thể duy trì sức khỏe của con người có hiệu quả.
Nếu thân thể được tráng kiện,
tinh thần an định thì tự nhiên sự phiền não tiêu tan. Ngoại cảnh không thể
phá rối được và các lực bên trong tăng trưởng thuận chiều. Tham, sân bị
mất. Từng ngày, từng khắc có thể sống một cách bình thường.
Thế nhưng, tọa Thiền không phải
là một phương pháp làm cho thân thể khỏe mạnh mà cũng chẳng phải tọa Thiền
để được sống lâu. Ngài Đạo Nguyên 54 tuổi đã quy tịch. Ngài Tổ của Thiền
Lâm Tế (Bạch Ẩn 1685-1768) sống tới 83 tuổi.
Nhưng kẻ tọa Thiền cũng không
thể nghĩ rằng việc sống lâu là sai sự thật. Sống lâu trăm tuổi thành hận
với đời. Nếu trong một ngày không làm được việc gì thì sống trăm tuổi cũng
chẳng lợi gì. Trăm tuổi đối với sự sống của tha nhân là trở thành tự do
vậy. Đó không phải là vấn đề tính toán của toán học mà là vấn đề sống cho
có phương pháp trong một ngày, một khắc.
Tôi (tác giả) đã gần 30 lần thăm
viếng Việt Nam trong lúc chiến tranh. Phật Giáo Việt Nam và Phật Giáo Nhật
Bản đã nỗ lực trong việc giao thiệp với nhau. Có một lúc nọ trước mặt tôi
cả một việc nguy hiểm đã xảy đến, nhưng trong thân tâm tôi chưa bao giờ
nghĩ chuyện nguy hiểm là gì.
Ngẫu nhiên vào năm Showa thứ 48
(1973) ngày mà Hiệp Định Ba Lê được ký kết 27.1.1973 về sự hòa bình của
Việt Nam, tôi đã dùng máy bay Cathay Pacific bay đến Việt Nam và ở tại nhà
của một vị Tỉnh Trưởng tại thành phố miền Trung Việt Nam, Phú Bông.
Khoảng 10 giờ trưa mọi người có
liên quan trong tỉnh đường đều sẵn sàng ứng tiếp. Trong lúc mọi người gặp
gỡ nhau thì đột nhiên ở phía sau dinh tỉnh trưởng khoảng 30 mét các tiếng
đại bác nổ rầm trời. Tiếng súng nổ làm cho ghế cũng bay tung lên được.
Sau khi hỏi kỹ thì được biết
rằng cách đó 5 cây số có một toán đặc công Việt Cộng xuất hiện khoảng 400
người và vì lý do đó nên lính mới nổ súng. Ở xa xa mỗi lúc lại nghe tiếng
pháo nổ, mọi người gương mặt đều dợt dạt, trải dài một thời gian kinh dị.
Thế nhưng đối với tôi lúc đó chả có gì xảy ra cả.
Tỉnh Trưởng nói: "Hòa Thượng
người Nhật coi bộ không sợ hả?". Thế nhưng trong tôi không phải là không
sợ nguy hiểm đó, mà tôi là người trở lại sự hô hấp bình thường trước mọi
người, nên xem tôi có vẻ bình tĩnh như vậy.
Ngồi thiền là một phương pháp an lạc
"Tọa Thiền không phải là tập
Thiền, tuy cái này trở thành một pháp môn an lạc". Điều này ở trong "Phổ
khuyến tọa thiền nghi" đã thuyết như vậy. Ngồi Thiền không phải là sự vui
thích mà cũng chẳng phải là vị trí thức. Ngồi Thiền được gọi là làm cho
rời xa việc khổ não và trụ vào trong một thế giới an lạc, gọi là Thiền.
Sau đây tôi xin nhắc đến cảm
tưởng của những người nhân viên tuổi 20, ngồi Thiền tại đạo tràng của tôi.
"Ngủ dậy lúc 5 giờ. Giờ này
là giờ bao giờ cũng buồn ngủ. Sau đó rửa mặt đi lên Thiền đường. Đây là
ngồi Thiền thứ 2 nên hôm nay ngồi Thiền với phương pháp vô ngôn (không lời
nói) như hôm qua đã được học hỏi. Lưng ngồi thật ngay ngắn. Buổi sáng ở
Thiền đường người ta có thể hít thở không khí tốt thật là sung sướng. Xa
xa nghe tiếng chim kêu vọng lại...". (Lời của một thiếu nữ).
"Chính việc làm của mình
không phải do người khác chỉ bảo mà chính mình phải cảm nhận cái không khí
thoải mái tự nhiên ấy để thăng tiến". (Lời của một thanh niên).
"Tôi đã nói công việc ngồi
Thiền cho cha mẹ của tôi nghe. Sau khi đi ngồi Thiền về, không biết có
phải là tôi đã bị ám ảnh bởi những lời thuyết pháp không nữa nhưng tự
nhiên thấy khó có thể giải thích rằng mọi công chuyện tôi đều làm xong một
cách có thứ tự vui vẻ. Điều lợi ích này tôi mong muốn luôn được giữ mãi".
(Lời của một thanh niên).
Điều này cho thấy rằng mỗi
người ngồi Thiền có mỗi kết quả khác nhau. Ngồi Thiền không phải chỉ một
phương diện mà Thiền sẽ thuận ứng tùy theo thể chất và nhiều phương diện
của từng cá nhân một. Thế nhưng nói chung lại thì quả sự thể nghiệm của
việc ngồi Thiền có thể nói rằng: "trở về với giác ngộ bản thân" vậy. Điều
này có thể gọi là kết quả của một pháp môn an lạc.
Ngài Đạo Nguyên đã nói:
"Người học Phật đạo là kẻ học tu chính mình. Học tu chính mình là điều hòa
ở chính mình. Điều hòa ở chính mình là chứng đắc vạn pháp. Chứng đắc vạn
pháp là chính tự thân tâm của ta và thân tâm của kẻ khác được giải thoát
vậy". (Chánh pháp nhãn tạng, hiện thành công án).
Ngài Đạo Nguyên đã nói việc
học Phật đạo là tọa Thiền. Nếu mà tọa Thiền thì chính mình và tha nhân,
nhân loại được lìa khỏi sự chấp trước mà đạt được sự giác ngộ chân thật.
Điều đó được gọi là một chân lý Đại tự nhiên vậy.
Dạo này khi đêm đến khí trời
nóng nực nhiều người ngủ không được. Lúc muốn ngủ mà không có thể ngủ được
chả phải là điều hạnh phúc. Nếu càng tinh tấn ngồi Thiền thì chuyện khó
ngủ kia trở thành một pháp môn an lạc vậy.
Tại sao mà lại khó ngủ? Tại
vì trong quá khứ đã có bao nhiêu chuyện dồn dập, cứ nghĩ đến chuyện này
chuyện kia, thất bại, thành công... rồi sinh ra mất ngủ.
Một điều nữa là, như trước đã
trình bày, từ cái lòng mong muốn không được đáp ứng cũng sinh ra khó ngủ.
Khi mà còn lo nghĩ nhiều như vậy thì trung khu não bộ phải làm việc nhiều
và sinh ra khó ngủ. "Đại Huê thơ" còn gọi là "Thiên tịch" đã thuật lại
những chuyện như dưới đây.
Đại Huê (1089-1163) Thiền
Tăng đời nhà Tống đã viết rằng: "Việc trong quá khứ không thể nghĩ lường
được hoặc là xấu, hoặc là tốt" và nữa "cái việc của tương lai cũng không
thể đo lường được". Không phải vì cái việc xấu trong quá khứ mà phải viết
lại, cũng chả phải cái việc thiện mà không làm bổn phận, ngoài ra cũng
đừng nên phân biệt tương lai là phải làm như thế này hoặc thế nọ.
Nếu mà như vậy thì phải theo
thế nào mới tốt được? Đại Huê suy nghĩ như sau: "Dầu cho bất cứ trường hợp
nào, công việc tốt hay xấu nếu mà quên nhất tâm niệm thì thời gian đi qua,
nhân duyên lạc mất, như vậy cái lý của sự tự nhiên không thuần ứng được.
Đây là cảnh địa của "Thiền
Định Tam Muội" vậy. Lúc muốn ngủ thì ngủ, muốn thức thì thức.
Takemura Yoshimigi Vệ Môn là
người nổi danh về giàu có mà cũng là một hành giả của đạo Thiền. Ông ta
trong lúc làm việc tại ngân hàng Yasuda đã xảy ra 226 vụ kiện. Giữa đường
gặp lúc đa nan thấy chuyện trước mắt không thành, nhiều chuyện không tốt
đã xảy ra liên tiếp nên ông muốn kiếm món ăn lót dạ, đã cầm quyển sách
Thiền đi vào trong núi.
Ba dặm đầu tiên, trong đầu óc
ông ta đã hiện ra nhiều thứ nhưng đến năm dặm rồi dần dần không còn sức
lực nữa để suy nghĩ, thân tâm cũng mệt lả đi, lúc đi được 6, 7 dặm thì
những bước chân đi không còn ý thức nữa. Quay trở lại nhà, đi tắm một chút
rồi đi ngủ, sáng hôm sau thức dậy trở nên dễ chịu lạ thường. Để kết luận
cho việc này người ta thuật lại là một phương pháp đúng nhất.
Lịch sử thiền
Thiền là một phương pháp tu
hành được phát xuất từ Ấn Độ. Nếu nhìn văn hóa Tây phương thì không có một
thí dụ nào để nói cả.
Thiền tiếng Pali gọi là Dhyana.
Cũng vì chữ mẫu nên cuối cùng được tỉnh lược thành Jhan, nên chữ Hán viết
là Thiền nhưng đọc là Ch'an. Lúc Đức Thích Ca thuyết pháp bằng tiếng bình
dân của người Ấn Độ đúng lúc bấy giờ, ấy là tiếng Pali. Thế nhưng vào thời
cổ đại của xứ Ấn Độ, vì sự phân chia của tôn giáo nên tiếng Sankrit (Phạn
ngữ) được dùng đến nhiều nên Đức Thích Ca cũng đã thuyết bằng tiếng
Sanskrit.
Thiền được gọi là Dhyana. Đây là
hợp chung nội dung tư tưởng của tôn giáo vậy. Tiếng Trung Hoa dịch là "Tự
tánh tu" hoặc là "Tĩnh Lự".
Chữ Thiền được có từ lâu đời
trong văn hóa của Ấn Độ và đó thuộc về kỷ lục của văn hiến. Thế nhưng việc
ngồi Thiền thực tiễn về tôn giáo, đó là Đức Thích Tôn vậy. Trong những
chùa thuộc về Thiền Tông thường thờ 7 Đức Phật trong thời quá khứ trước
Đức Thích Ca và mỗi buổi sáng thường đọc kinh, phụng trì báo ân. Điều này
không phải là ý kiến của Thế Tôn. Mà sau khi Thế Tôn tịch diệt chuyện này
mới xảy ra và văn hóa cổ đại của Ấn Độ bị ảnh hưởng việc trên như là một
chuyện cổ tích.
Sau khi Thế Tôn tịch diệt, Phật
Giáo Ấn Độ đã bao phen hưng thịnh, suy vong. Trong những người tu Thiền,
có kẻ lìa đời sống bình thường đi vào trong núi lập chùa để tu, xa rời đời
sống hiện thật tạo thành những nhóm đệ tử Thiền. Đây được gọi là phái
Thiền tiêu cực và để phản đối khuynh hướng này: Thiền là vì tha nhân chứ
không vì tư kỷ nên phái tích cực đại chúng hóa được đản sanh. Nhóm sau này
về đời hậu lai cũng còn gọi là Đại Thừa Phật Giáo vậy.
Cũng từ sự lưu chuyển này mà Bồ
Đề Đạt Ma (? - 528) đã mang Thiền truyền sang Trung Quốc. Trước Bồ Đề Đạt
Ma là thời kỳ Hậu Hán (25-220) ở tại Trung Hoa Thiền cũng đã được truyền
sang, nhưng làm hiển lộ chân lý Thiền, thực tu, thực chứng về Thiền thì
phải kể bắt đầu từ Bồ Đề Đạt Ma. Kết quả là Thiền được phát sinh từ Ấn Độ
được truyền bá rộng rãi sang Trung Hoa và Thiền được truyền sang Nhật Bản
là Thiền của Trung Quốc chứ không còn phong vị Thiền của Ấn Độ nữa.
Thiền của Trung Quốc từ Bồ Đề
Đạt Ma đến ngũ tổ Hoằng Nhẫn (601-674) thì Thiền được phân chia giáo đoàn.
Những người tin theo tăng nhanh, trước đây những người tu hành trong núi
non bây giờ cũng xuất hiện nơi thị tứ và đã trực tiếp giáo hóa nhân dân
như một việc làm tích cực.
Đạt Ma đến Trung Hoa chừng
khoảng 200 năm sau thì Huệ Năng (638-713) và Thần Tú (606-706) xuất hiện.
Huệ Năng chủ trương đốn tu và ở phía Nam Trung Quốc. Thần Tú thì chủ
trương tiệm ngộ và ở Bắc phương Trung Quốc. Từ đó lãnh vực truyền đạo rộng
rãi. Thiền đầu tiên chia ra làm hai Tông Nam Bắc, giáo lý cũng phân hóa và
người bình dân càng ngày càng theo và tin theo Thiền nhiều hơn.
Thuyết Bắc Tông của Thần Tú
chừng mấy đời sau thì bị mất và Thiền của Huệ Năng càng ngày càng tăng
trưởng nhưng nếu nói theo hệ thống thì Mã Tổ của Hồng Châu Tông, Thần Hội
của Hà Trạch Tông. Dược Sơn và Thạch Đầu của Dược Sơn Tông là những sự bắt
đầu. Cũng đã có chia ra làm nhiều phái nhỏ nhưng đối với địa phương rộng
lớn như Trung Hoa thì không có gì đáng nói.
Trong lúc này vào thời mạt kỳ
của nhà Đường thì Hoài Nhượng (677-744) là thuộc về Thiền Lâm Tế. Quy
Ngưỡng của 2 Tông từ Thanh Nguyên (? - 740) Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn
ba Tông được đản sanh. Ngoài Lâm Tế Tông ra, Hoàng Long, Dương Kỳ hai phái
được chia ra. Sau nhà Tống thì xưng Thiền theo hệ thống "ngũ gia thất
tông" (năm nhà bảy nhánh). Thiền được truyền sang Nhật Bản là thuộc vào
trong lịch sử đó.
Sự thăng tiến của Thiền Nhật Bản
Thiền Nhật Bản được truyền từ
Trung Quốc qua truyện Tây Du Ký với danh tiếng của Đường Tam Tạng đã dạy
cho Đạo Chiếu (629-700). Đạo Chiếu đã dựng chùa Nguyên Hưng và đã dựng nên
Thiền đường tại đó.
Đạo Tuyến (702-760) là Tăng đời
nhà Đường đã đến Nhật Bản năm Thiên Bình thứ 8 (736) Thiền Sư là người
được truyền thừa Thiền phương Bắc của Thần Tú.
Vào sơ kỳ thời Heian, Tối Đăng
sáng lập Thiên Thai Tông (767-822). Thiền Ngưu Đầu cũng được truyền sang
từ Trung Hoa. Thiền được gọi là hiển giáo vì cả sự luận lý đều sáng tỏ để
đối chiếu với thần chú là giáo lý của Mật Giáo, nhưng Thiên Thai Tông của
Trung Quốc cũng ngồi Thiền. Trong lúc ngồi Thiền cũng đã quán pháp thật
tướng.
Sau Tối Đăng là Viên Nhơn
(794-864) và Viên Trân (814-891)... cũng sang học Thiền tại Trung Quốc đã
mang Thiền tích và Thiền pháp về truyền cho Nhật Bản. Hiện tại Thiên Thai
Tông cũng còn ngồi Thiền gọi là Mật Thiền. Nhưng cái này Thiền Tông Trung
Quốc còn gọi là thời kỳ lạm thương vì Thiền ở triều Đường bị gián đoạn và
Thiền được thạnh hành nhất là Thiền dưới đời Tống và Thiền này được truyền
sang Nhật Bản.
Lâm Tế TÔng
Thiền Tông của Nhật Bản có Lâm
Tế Tông đồng một hệ phái với Hoàng Bích Tông. Ẩn Nguyên (1562-1673) là Tổ
khai sáng. Nói cho rõ ràng thì tại Trung Quốc không có gọi Hoàng Bích Tông
là một Tông phái mà Ẩn Nguyên là xuất thân từ Lâm Tế Tông, đã đến Nhật và
mang Thiền vào truyền tại đây.
Ẩn Nguyên đã chạy loạn vào cuối
đời nhà Minh năm Thừa Ứng thứ 3 (1654) cùng với môn đệ khoảng 20 người đã
đến Nagasaki và yết kiến tướng quân Gia Võng. Sau đó họ ở lại Nhật và lập
chùa Vạn Phước Tự. Sự trang trí trong chánh điện, ngôn từ... tất cả đều
ảnh hưởng nhà Minh bên Trung Quốc. Trong thời kỳ bế quan tỏa cảng Nhật Bản
đã sanh ra một giáo phái mới về Thiền.
Những Tu sĩ của Lâm Tế, Tào Động
đã giao thiệp với nhau và tạo nên một môn "Trà Đạo". Sau này văn hóa của
Thiền được đề cập đến luôn.
Tào Động Tông
Vị khai sáng Tào Động Tông là
Ngài Đạo Nguyên (1200-1252), đầu tiên lên núi Bỉ Duệ Sơn tu theo Thiên
Thai Tông. Sau đó thì học Thiền của Minh Toàn, đệ tử của Ngài Dinh Tủy, ở
chùa Lâm Tế Kiến Nhận Tự. Trịnh Ưng năm thứ 2 (1223) cùng với Minh Toàn đã
đến Trung Hoa vào triều nhà Tống. Đến núi Thiên Động Sơn làm học trò của
Như Tịnh, đến năm An Trinh thứ 3 (1228) thì trở về Nhật và sáng lập ra Tào
Động Tông của Nhật Bản.
Ngài Đạo Nguyên đã đưa cao chí
nguyện về Thiền của Ngài Như Tịnh, đã liên kết với các Tông phái khác. Đạo
Nguyên đã liên kết với các nhà quyền thế của quốc gia lúc bấy giờ trong tư
tưởng cực đoan và đã tuyển chọn đất bỏ hoang của dân lập nên chùa Vĩnh
Bình (Eiheiji). Ngài đã cùng những bậc chân tu, hành đạo ở đó. Đứng về
phương diện văn học Ngài Đạo Nguyên rất có tài, đã viết ý chính của Tông
mình vào quyển thứ 95 "Chánh Pháp Nhẫn Tạng". Hoài Hải (720-814) của đời
nhà Đường đã dùng Bách Trượng Thanh Quy và Ngài Đạo Nguyên cũng đã đưa
theo thanh quy này chế ra "Vĩnh Bình Thanh Quy". Vì sự học đạo của kẻ khác
nên Ngài cũng đã soạn ra "Học Đạo Dụng Tâm Tập" và quyển sách này cũng đã
xác định được phương pháp căn bản của giáo đoàn Tào Động.
Ngài Đạo Nguyên mới 54 tuổi đã
viên tịch. Sau đó giáo đoàn một thời đã hỗn loạn. Đời thứ tư là Bảo Sơn
(1268-1325) mới thực hành nguyên lý chỉ đạo của Đạo Nguyên và truyền bá
rộng rãi. Đã dưỡng dục bao nhiêu bậc anh tài và đã xác lập được giáo đoàn
của Tông Tào Động. Sự phát triển giáo đoàn của Bảo Sơn làm cứ điểm ở Tông
Trì Tự tại Năng Đặng. Nhưng vào khoảng cuối thời Minh Trị bị chiến loạn
nên mới dời về Yokohama và đó là trụ sở chính cho đến bây giờ.
Trong các đệ tử của Bảo Sơn có
Nga Sơn, Minh Phùng là những bậc anh tài xuất chúng. Đã có ảnh hưởng rất
lớn trong việc truyền đạo cho toàn nước Nhật.
Tào Động Tông đã phát triển một
cách tột bực vào thời kỳ Giang Hộ (Eido) là do công lao của Nguyệt Chu
(1617-1696). Tào Động Thiền Tăng Ẩn Nguyên dưới triều nhà Minh đã mang một
không khí Thiền mới vào Nhật và chính đây là sự không thay đổi của giáo
đoàn Tào Động Tông.
PHỔ HÓA TÔNG
Trong các Tông Thiền tại Nhật
Bản, ngoài ra còn có Tập Đoàn Hư Vô Tăng của Tông Phổ Hóa nữa. Phổ Hóa (?
- 860) là Tổ của Thiền này, được khai Tông dưới đời nhà Đường. Không dùng
kinh điển, mặc áo trắng, cầm và kiếm ngắn. Họ thổi sáo, tiếng sáo vang dội
khắp nước. Khi thổi như vậy họ điều chỉnh hơi thở. Khi vào cảnh Thiền thì
có Tông Chỉ của Thiền, nên năm Minh Trị thứ 4 (1871) vì đồ chúng tệ hại,
nên Tông này đã bị phế chỉ.
Lâm tế tông và tào động tông
Lâm Tế và Tào Động là 2 Tông
Thiền được truyền sang từ Trung Quốc. Cả hai phái Thiền đều có những sự
khác nhau.
Lâm Tế Thiền còn gọi là Khán
Thoại Thiền. Khi được giao cho một công án thì giải đáp và ngộ đạo từng
nấc thang một (từng bước một) nên còn gọi là "Thiền bậc thang" hay là
"Giai đoạn Thiền".
Tào Động Thiền còn gọi là Mặc
Chiếu Thiền. Đặc biệt không có trao công án, ngồi Thiền và ngộ được Thiền
nên gọi là "Thiền ngồi ngủ" hoặc là có nhiều người xấu miệng cũng gọi là
"Đãi Ngộ Thiền".
Cả hai loại Thiền trên, trong
lúc ngồi Thiền đều được người Sư Trưởng chỉ đạo và giảng nghĩa Thiền cho
đại chúng nghe. Khi vị Sư Trưởng vào phòng thì từng người một được đi vào
phòng và được hỏi đạo từng người.
Các Tông phái của Phật Giáo có
nhiều loại kinh điển khác nhau, gọi là "Giáo tướng phán thích". Từ phái
này có nhiều sự phê phán bình luận phái kia, nhưng 2 phái của Thiền trên
đây ngay cả sự tranh luận giáo lý của giáo học hầu như không có. Thiền
Tông không căn cứ vào kinh điển nhiều nên chuyện luận tranh về giáo lý
không có.
Ngược lại Lâm Tế, Tào Động,
Hoàng Bích khi va chạm với Phổ Hóa Tông thì có nhiều khuynh hướng dị biệt
khác nhau. Các Tông phái càng ngày càng không liên kết chặt chẽ với nhau
mà kể từ khi hậu kỳ của Minh Trị, vì sự xác nhận cơ cấu của từng Tông vụ
một nên đã xảy ra chuyện trên cho đến bây giờ.
Nói một cách tổng quát Lâm Tế
Tông là được truyền vào ở giai tầng cao trong xã hội và việc tu hành
nghiêm ngặt. Còn Tào Động Tông là được truyền cho nhân dân nên việc tu
hành có vẻ dễ chịu.
Nhưng trên thực tế nếu bước vào
đạo tràng của từng Tông một thì cũng không đúng hẳn như điều trên đã
thường hay nghe thấy. Ở Tào Động Thiền, Ngài Đạo Nguyên đã cho thấy rằng:
"Tham Thiền là làm cho thân tâm nhẹ nhàng, phải điều chỉnh hơi thở cũng
như cách ngồi". Gần nhất của việc tọa Thiền là đã được thuyết trong "Chánh
Pháp Nhãn Tạng". Trong "Kim Khoa Ngọc Diệu" của Lâm Tế Tông có chỉ dẫn của
"Bích Nham Lục" và gần nhất là giải thuyết các công án. Điều đương nhiên
là không có sự chối bỏ các công án này. Mà ngược lại Thiền Lâm Tế vào thời
đại Chiêu Hòa của Cự Tượng Kato Canh Sơn đã viết: "Việc xử dụng công án
hay nghĩ đi sẽ nghĩ như thế nào? Công án là làm cho đầu óc phải suy nghĩ".
Những cấp bậc dưới của Thiền Lâm Tế thì phục tùng công án, nhưng những bậc
chỉ đạo thì có người phủ nhận công án.
Lâm Tế Thiền và Tào Động Thiền
sai khác như thế nào? Giữa Khán Thoại Thiền và Mạc Chiếu. Thiền dầu luận
thuyết cho đến đi chăng nữa cũng không hiểu được Thiền, mà trở lại chấp
trước giữa các Tông phái với nhau, bằng chi hơn là hãy thực hành Thiền là
điều quan trọng hơn cả.
THIỀN Và Văn hóa (1)
Gần đây người ta
thường nghe tiếng ngoại quốc gọi DISCOUR JAPAN - Nhật Bản có lẽ phải tự
thấy lại ở chính mình một lần nữa mới phải. Nếu tìm sâu ngọn nguồn văn hóa
của Nhật Bản thì phải cảm nhận rằng có ảnh hưởng của Thiền ở trong đó.
Những người ở gần Kyoto hoặc Kamakura đều được tiếp xúc với Thiền nhiều
nên họ có đầy nhân tính về Thiền. Nếu không nói đến Thiền thì không thể
nói đến sự giáo dục của Nhật Bản được. Nếu nói cho đúng thì quê hương cũ
của tinh thần người Nhật là Đông Dương. Dầu cho có tiếp xúc, học hỏi, ảnh
hưởng văn hóa Tây phương bao nhiêu đi chăng nữa Thiền vẫn được ngấm sâu
vào tận đáy lòng của nhiều người Nhật. Thiền được truyền sang từ Trung
Quốc, nhưng Thiền được hợp với văn hóa đại lục và được truyền sang Nhật
Bản là một văn hóa nguyên lưu. Cách ngồi trầm lặng của người Nhật, cách
chào hỏi cho đến phương cách ăn, uống đều đã được thành lễ nghi là do sự
ảnh hưởng của Thiền được truyền vào Nhật vậy.
Những lễ nghi trong
hiện tại còn sót lại là những lễ nghi đời Kamakura, mà những lễ nghi đó đã
được thời Edo (Giang Hộ) chế định. Đối với việc này Ashiriki ở Tín Châu là
học trò của Thanh Quật (Thiền Tăng người Phúc Châu năm 1326 đã đến Nhật)
đã mời Thầy mình đến Tín Châu mở chùa Khai Thiện Tự và đã thọ lãnh sự chỉ
giáo của Thầy mình về các lễ nghi. Cho đến lúc đó Nhật Bản chưa có tiêu
chuẩn cho việc lễ pháp nào cả. Căn cứ theo uy nghi tác pháp Thiền của Bách
Trượng Thanh Quy mà giai cấp vũ sĩ người Nhật Bản Tiểu Trúc Nguyên Lưu đã
đặt ra thành lập trong thời kỳ Giang Hộ. Mặc dầu sau này có chia ra những
chi nhánh nhỏ nhưng vẫn được xác nhận đặc biệt của lễ nghi tác pháp này.
Ảnh hưởng của Thiền
được bắt đầu từ đời Giang Hộ trong việc tĩnh tọa hay lúc ngủ dậy, rửa mặt,
đi ngủ, ăn cơm, lễ bái v.v... Hơn thế nữa sự sinh hoạt của người Nhật Bản
được gắn liền với Thiền và cũng được thay đổi một ít.
Thiền được gọi là bất
lập văn tự (không dùng đến chữ) hoặc giáo ngoại biệt truyền (không truyền
từ bên ngoài). Trong cảnh sinh hoạt của "Thiền miệng" văn chương khó có
thể biểu hiệu mà những động tác bằng hơi thở, bằng mũi hoặc sự điều hòa
của lưỡi được biểu hiệu nhiều hơn.
Huệ Chiếu ngữ lục
trong "Lâm Tế Lục" có viết như sau:
Tăng hỏi: Đại ý của
Phật Pháp là gì?
Sư đáp: Hãy đưa lưng
đây cho ta đánh.
Đệ tử hỏi đại ý của
Phật Pháp mà Huệ Chiếu đòi lấy gậy để đánh đệ tử, như vậy Thiền không trả
lời những câu hỏi trực tiếp mà những câu hỏi ấy chạy trốn thực tại. Đó
chẳng phải là điều đùa giỡn mà là sự thanh khiết của Thiền vậy.
Trên phương diện lịch
sử văn học thế giới, lối thơ ngắn (Haiku) làm bằng những bài ca của Nhật
Bản có ảnh hưởng của Thiền rất nhiều.
Những Thiền Tăng
Trung Quốc hay làm thơ chữ Hán bằng kiến thức của mình những Thiền Sư Nhật
Bản cũng học những thi kệ này. Những vị Tăng của Thiền Tông lúc chết
thường hay để một lá cờ trước mặt có viết những thi kệ. Đó là những tập
tục còn sót lại cho đến ngày hôm nay.
Tứ ngôn và thất ngôn
tuyệt cú của chữ Hán thật ngắn và được đổi lại bằng những bài đoản ca.
Trước đó Nhật Bản thường có những bài ca trường thơ và định đầu ca, nhưng
những hình thức này đã bị mất từ lúc nào không ai biết được mà chỉ thấy
Haiku là một thể thơ ngắn xuất hiện sau đó trong văn học Nhật Bản mà thôi.
Thiền là biểu hiện cho sự thanh cao và Đoản ca hay Haiku được chồng chất
từng chữ từng chữ lên nhau giống như công phu của những kẻ tu Thiền vậy,
càng ngày càng phải điêu luyện là điều tất yếu quan trọng.
Các Thiền Tăng Đại
Điên và Phật Đảnh chùa Viên Giác đã có nhiều cuộc giao thiệp và có những
câu thơ tuyệt hảo còn sót lại đến ngày hôm nay như sau:
"Ao xưa ếch nhảy
tiếng nước reo"
và Phật Đảnh đã hỏi
lại là:
"Phật Pháp lúc
chưa có thì như thế nào?"
Thiền Tăng Tào Động
Tông cũng vừa là thi nhân như Lương Khoan sau 22 tuổi xuất gia học đạo,
chuyên cần tu thiền và tiếp tục du hành "Vân Thủy Hành Cước", mãi cho đến
ngày nay cũng còn lưu lại nhiều thơ kệ, đoản ca và nhiều danh tác khác.
Con nhỏ dại cầm tay
nhau trên vạn lý,
Chơi ngày Xuân dầu
trời xấu cũng đi.
Đó là những câu thơ
biểu hiện thi cảnh và lòng từ ái của thi nhân. Và đó cũng là tâm hồn của
một Thiền Sư vậy.
Thiền và văn hóa (2)
Chữ "Thiền Tông Tự
Viện" (Zenshũ Jiin) thường dùng nó trùng với âm chữ Tuyền "Zen" là nước
suối. Có nhiều người đã lầm và đã gọi là Tuyền Tông Tự. Từ thí dụ nhỏ này
ta có thể thấy nước là một vấn đề quan trọng có liên hệ mật thiết với chùa
chiền. Có suối nước chảy thì có ao hồ, có nước thì có cây cối mọc. Khi có
cây cối thì vườn tược được thành hình. Đó là những điều kiện tất yếu. Do
đó cho nên trong các chùa Thiền luôn luôn có những vườn cây cảnh. Đó không
phải là tượng trưng cho sự yên lặng nhàn rỗi mà vì từ Thiền nên vườn tược
mới biểu hiệu cho sự tu ấy vậy.
Ngũ Sơn và Thập Sát
của Lâm Tế Tông là những tên để gọi 10 cảnh trong chùa như núi, sông, đá
v.v... Đây là những cảnh Thiền có liên hệ với thiên nhiên.
Chùa chiền của Lâm Tế
Tông có vẻ trang nhã và đẹp trong khi đó chùa của Tào Động Tông thì không
thể so sánh bằng. Điều đó cũng dễ hiểu là Lâm Tế Tông một thời đã nhờ các
tay quyền lực của triều đình Kamakura và Bakkufu, nên việc trang trí trở
nên tráng lệ, còn Tào Động Tông thì ngược lại.
Nữ hoàng Elisabeth đã
thăm viếng chùa Long An Tự ở Kyoto, lúc đến thưởng ngoạn vườn đá của chùa
đã thán phục và khen tặng. Trong lúc Tây phương làm vườn thường hay tính
theo số học, đó là nguyên tắc chánh. Cứ cách 15 hòn đá thì một cây được
trồng, thử hỏi một cái vườn chật bày trí như thế nào mới đẹp mắt?
Những đá nhỏ chắn
giữa đá lớn là cách bày trí của người Đông Phương, theo sự điệu hòa cảm
của họ, ngoài ra không có cách gì hơn nữa nên Nữ Vương đã giật mình là
phải.
Ở trong tập "Tác đình
ký" có ghi như sau: "Đá được sắp theo đá gốc và những cục đá tiếp theo cứ
dựng liên tục mà thành".
Cục đá là vật không
tâm nhưng người tạo dựng nên nó là tượng trưng cho sự tồn tại của tánh
Phật. Do đó cho nên người làm vườn cũng phải có Thiền tâm thì tạo vườn mới
có màu sắc của Thiền.
Trong thư viện hay
trước bàn Phật, sự bày trí họa là một nghệ thuật có từ thời Heian (Bình
An) và đây được xác nhận là ảnh hưởng của Thiền.
Cách cắm hoa và dâng
hoa được biểu hiệu qua sự truyền miệng từ người này qua người khác, nhưng
đó là thiên nhiên tự tánh của Thiền và đó là sự khởi xuất tư tưởng của
Thiền trong hành động vậy.
Đặc biệt trà đạo của
Nhật Bản cũng được phát triển và đó cũng là một chuyển hướng của Thiền.
Ở tại Trung Quốc ngày
xưa tục uống rượu đã trở thành tệ hại nên các Thiền Tăng mới bày ra cách
uống trà và trà là công đức của mọi người. Trà được du nhập vào Nhật thời
Thiền Dinh Tây truyền sang. Thuở bấy giờ cũng có sách viết chỉ dạy cách
uống trà như "Khiết trà dưỡng sinh lý".