Hải Ấn - 2002
Con Đường
Phát
Triển Tâm Linh
Thích Trí Hoằng
Mười Thương
Một thương đất khách dựng chùa
Hai thương gìn giữ quê xưa nếp nhà
Ba thương Phật điện nguy nga
Bốn thương đạo pháp truyền ra nước ngoài
Năm thương Phật tử khắp nơi
Sáu thương cùng khổ không phai lời thề
Bảy thương dân tộc hướng về
Tám thương nguồn cội hồn quê vun trồn
Chín thương xa cách muôn trùng
Mười thương son sắt vẫn cùng núi sông.
Trí Hoằng, 2001.
Lời Nói Đầu
Tập sách
này là kết tập những bài báo viết trên Bản Tin Hải Ấn và Phật Giáo Việt
Nam trong cùng một chủ đề. Đó là Con Đường Phát Triển Tâm Linh. Nội dung
các bài viết này chỉ có một mục đích là trình bày các phương pháp tu trì
của Đạo Phật Việt Nam.
Qua bao
thăng trầm của lịch sử, Đạo Phật Việt Nam vẫn tồn tại vững mạnh như bao
giờ. Khi ẩn khi hiện trong mọi tình huống chính trị và trong mọi bối cảnh
lịch sử, nhưng không bao giờ bị tiêu diệt. Sức mạnh đó như nguồn nước,
khi mạnh mẽ như thác đổ, khi dịu dàng như dòng sông êm đềm chảy qua các
đồng bằng, và khi âm thầm len lỏi trong lòng đất. Điều gì đã khiến cho
Đạo Phật Việt Nam tồn tại qua cuộc tồn sinh thử lửa hàng ngàn năm? Đó
chính là Tinh Thần Dung Hóa. Đạo Phật đã đến Việt Nam vào những ngày đầu
của kỷ nguyên Tây lịch, đã kết hợp với văn hóa bản địa để trở thành một
thực tại bất khả phân. Với tinh thần bao dung vô chấp Phật Giáo đã chấp
nhận mọi khác biệt tư tưởng nội tại cũng như ngoại tại để dung kết trong
đạo lý Tam Giáo Đồng Nguyên (ba giáo thuyết khởi cùng một nguồn.) Con số
ba tượng trưng cho số nhiều. Phật Giáo đã kết hợp không những với những
luồng tư tưởng chính thống như Khổng Giáo và Lão Giáo, nhưng cũng kết hợp
với tín ngưỡng bản địa để tạo nên một tín ngưỡng tổng hợp cho dân tộc. Do
đó trong một ngôi chùa chúng ta thấy có mặt tất cả những xu hướng đó. Bên
cạnh những pho tượng Phật, tượng Tổ là tượng Khổng tử, Lão tử, Thập Điện
Diêm Vương, các thần sông núi, các anh hùng liệt nữ… Và các cách hành trì
của nhiều tông phái Phật Giáo đều có mặt như Tịnh Độ Tông, Thiền Tông, Nam
Tông và Mật Tông. Thâu hóa những tinh hoa của các tông phái cũng như các
nguồn tư tưởngkhác nhau để bồi dưỡng cho sự hành trì của mình. Đây là
tính chất đặc biệt và cũng là sức mạnh của Đạo Phật Việt Nam. Tinh thần
bao dung và phóng khoáng này đã làm cho Đạo Phật Việt Nam phong phú và đa
diện có thể đáp ứng được nhu cầu tu trì trên nhiều phương diện và có thể
tồn tại trong mọi hoàn cảnh. Với hoàn cảnh lịch sử đặc thù và vị trí địa
dư đặc biệt của đất nước, Đạo Phật Việt Nam đã kết tinh từ những khó khăn
thử thách đó.
Các bài
viết trong tập sách này sẽ phân tích yếu tính của Đạo Phật Việt Nam và con
đường hành trì:
-Chương
1: Đức Phật và Con Người: phân tích về tính khai phóng trong Phật
Giáo cũng như vai trò của con người trong vấn đề sinh tử, giải thoát.
-Chương
2: Đạo Phật Trong Lòng Dân Tộc: bàn về những đặc tính căn bản của
Đạo Phật Việt Nam và những đóng góp của Đạo Phật trong văn hóa dân tộc.
-Chương
3: Phương Pháp Ăn Chay: trình bày về những lợi ích của vấn đế ăn
chay trong việc giữ gìn sức khỏe để tránh khỏi những chứng bệnh nan y ngặt
nghèo. Cũng như giữ gìn lòng từ bi đối với muôn vật.
-Chương
4: Pháp Môn Lạy Phật: phương pháp hành trì thâm diệu để luyện Thân
và Tâm, đồng thời cũng để cập đến sự quan hệ mật thiết giữa Thân và Tâm.
-Chương
5: Thiền Âm Thanh: cách hành trì thiền định bằng sự sử dụng âm
thanh. Âm thanh như một phương tiện hữu dụng trong việc chuyển hóa phiền
não.
-Chương
6: Phát Huy Phật Tính: bàn về phương pháp Niệm Phật trong Tịnh Độ
Tông như một phương cách hành trì đơn giản, trực tiếp và thường xuyên
trong việc tiếp xúc và phát huy Phật tính.
Những
chương này bàn về phương pháp tu trì của Đạo Phật Việt Nam trong vấn đề
phát triển tâm linh. Sự phát triển này đặt trên quan hệ mật thiết giữa
Thân và Tâm. Nói lên tính chất thiết thực của Đạo Phật Việt Nam. Không
phải đi đâu xa để tìm đạo. Đạo nằm ngay trong lòng cuộc sống. Niết Bàn
thực hiện ngay tại thế gian đau khổ và giải thoát cũng đạt được ngay tại
cuộc sinh tử vô thường. Và châm ngôn căn bản cho sự tu tập này chính là
“ăn chay, niệm Phật.”
Ngày nay,
qua những trầm luân của lịch sử, cộng đồng Phật Giáo Việt Nam tại hải
ngoại không những đã bảo tồn duy trì được những vốn liếng quý báu mà chư
tổ và tiền nhân đã đổ không biết bao tâm lực và sinh mạng để hình thành;
mà còn phát triển và truyền bá con đường tu trì này đến với người bản xứ.
Đạo Phật
Việt Nam đã kinh qua bao gian khổ để tồn tại. Kinh nghiệm đó cộng với
tinh thần bao dung phóng khoáng vượt qua những sai biệt chấp nê nhỏ hẹp để
đưa con người tiến đến giải thoát trong mọi tình huống. Đây có lẽ sẽ là
những đóng góp tích cực của Đạo Phật Việt Nam trong một thế giới đầy nhiễu
nhương, phức tạp, chia rẽ, và khủng hoảng. Ngày nay, sự phát triển khoa
học kỹ thuật tại xã hội Tây phương làm khoảng cách ngắn lại, sự truyền
thông thuận tiện, sự chia cách không là trở ngại và sự độc tôn giáo điều
không còn chỗ đứng. Nhưng ngược lại cũng làm con người điêu đứng với
những nỗi khổ từ thể xác đến tinh thần. Do vì sự tiêu thụ quá nhiều độc
tố trong việc ăn uống, cũng như tinh thần căng thẳng quá mức trong sự làm
việc. Đạo Phật Việt Nam đã đến đúng lúc và đáp ứng kịp thời những nhu cầu
của con người thời đại. Với pháp môn tu tập thiết thực đầy sự bao dung và
tinh thần phóng khoáng, mang lại lợi ích cả về thân xác lẫn tâm linh, Đạo
Phật Việt Nam sẽ giúp cho người Tây phương tìm thấy an hòa hạnh phúc trong
cuộc sống. Đó là phương cách tạo dựng cảnh Tịnh Độ trong lòng thế gian.
Tập sách
này ra đời như một tín tâm sâu xa đối với pháp môn tu tập truyền thống của
Đạo Phật Việt Nam cũng như bày tỏ lòng tri ân vô biên đối với liệt tổ tôn
sư của đất nước.
Hải Ấn Tự, Đông Bắc Hoa Kỳ (Connecticut)
Rằm tháng bảy năm Canh Thìn (14/8/2000).
Thích Trí Hoằng.
Chương I. Đức Phật và Con Người
Đức
Phật và Con Người
Cách đây
hơn hai nghìn năm trăm năm, vào một đêm trăng tròn tháng tư âm lịch Đức
Phật đã đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni dưới cây Vô Ưu. Lúc đó trái đất rung
chuyển, những cầu vồng hào quang bảy màu xuất hiện quanh mặt trời và quanh
khu vườn đó. Các loài chim ca hót, các thú rừng nhảy múa và các cây hoa
nở ra những đóa thơm ngát cúng dường. Những luồng gió mát thổi từ xa lại
mang theo những hương trầm ngào ngạt. Thời gian như ngừng chuyển không
gian như cô đọng. Tất cả hòa vào trong một bầu không khí hân hoan chào
đón sự xuất hiện của một vĩ nhân, một bậc thầy của nhân loại. Một người
mà sau này đã tìm ra con đường để giải thoát cho con người vĩnh viễn thoát
khỏi khổ đau và trái đất chúng ta có vinh dự chào đón sự xuất hiện của bậc
vĩ nhân đó.
Con
Người Là Tối Thượng
Sự đản
sinh của Đức Phật như một thách đố của con người đối với thần linh và sự
thành đạo của Ngài như một đánh dấu sự trưởng thành của tâm thức nhân
loại. Ngài đã siêu việt hóa khả năng vô biên của tâm linh để con người từ
nay vĩnh viễn làm chủ vận mệnh của mình. Với nỗ lực của chính mình con
người tự giải thoát mình ra khỏi mọi đau thương vật chất cũng như tinh
thần.
Không
biết bao nhiêu ngàn năm trước khi Đức Phật xuất hiện, con người vì yếu
đuối mê lầm, tưởng tượng ra một đấng sáng tạo, sau đó giao phó hoàn toàn
vận mệnh của mình cho vị thần đó để rồi bị đày đọa trong những thế lực
thần linh do chính mình tạo dựng. Con người đã cho vị thần đó tất cả mọi
quyền năng để khi thần ban phúc thì được sung sướng; khi thần giáng họa
thì phải chịu gian khổ. Từ đó cả một hệ thống giáo điều được thành lập để
nô lệ hóa con người, bắt con người phải tuân phục những chuyện phi nhân,
bắt con người phải nhắm mắt tin vào các tín điều phi lý. Ai không đồng ý
đều bị thiêu sống. Cả thân xác lẫn linh hồn con người đã bị giam cầm
trong cái địa ngục gọi là “thiên đường.” Không thể than van oán trách vào
đâu được và không cách nào thoát ra khỏi sự khống chế của những giáo quyền
đó.
Đến khi Đức
Phật xuất hiện ánh sáng của sự giác ngộ đã xua tan những bóng đen quái ác
để con người nhận thức ra rằng khổ đau hay hạnh phúc đều do chính TÂM mình
tạo ra, chứ chẳng phải do một vị thần linh nào có quyền lực quyết định vận
mạng của mình, hoặc có quyền ban phúc giáng họa cho mình cả. Họa hay phúc
đều là hậu quả của những hành vi do mình tạo tác theo một định luật nhân
quả. Đó là Nghiệp. Như cụ Nguyễn Du đã phát biểu trong Truyện Kiều:
“Đã
mang lấy Nghiệp vào thân,
Cũng
đừng trách lẫn trời gần trời xa.”
Hai câu
thơ đó đã gói ghém ý nghĩa hùng tráng quan niệm về Nghiệp của đạo Phật.
Một quan niệm chủ trương con người chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi hành
động của mình và sẵn sàng lãnh nhận mọi hậu quả đưa đến từ những hành động
đó, tốt cũng như xấu. Không than trời trách đất, không than thân trách
phận. Nhưng cũng không có nghĩa Phật tử chấp nhận khổ đau một cách thụ
động như số mệnh đã an bài. Sự chấp nhận ở đây là sự nhận lãnh trách
nhiệm về nghiệp xấu mình đã gây ra trong quá khứ chứ không trốn tránh.
Nhưng đồng thời cũng tìm cách chuyển đổi ác nghiệp thành thiện nghiệp bằng
những hành động vị tha và giữ tâm hồn từ bi thánh thiện.
Trong
quá trình chuyển nghiệp đó nỗ lực cải thiện nội tâm được thực hiện liên
tục cho đến lúc tâm hồn hoàn toàn thanh tịnh. Đó chính là lúc con người
tự tại giác ngộ vượt ra ngoài mọi chi phối của nghiệp lực, chính là lúc
thành Phật. Khả năng thành Phật là khả năng tiềm tàng trong mỗi con
người, trong mỗi sinh vật, ngay cả trong cỏ cây đất dá cũng đều có khả
năng giác ngộ đó. Đức Phật dạy: “ Tất cả chúng sanh đều có Phật tính.”
Hay “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành.” Đây chính là điểm căn
yếu của giáo lý đạo Phật: Phật tính. Phật tính là khả năng giác
ngộ tiềm tàng trong tự tâm của mỗi người. Đức Phật đã chỉ rõ cho con
người thấy ai cũng có khả tính siêu việt đó. Sự khác biệt giữa người giác
ngộ và kẻ phàm phu ở nơi công phu tu tập. Tâm của người giác ngộ như ly
nước đã lắng đọng tất cả những bùn đất phiền não và sự trong sáng của nước
hiển lộ. Còn tâm của kẻ phàm phu như ly nước bùn đất bị khuấy động trong
một hỗn hợp đục ngầu của tham vọng, hận thù và mê muội. Chính những bùn
đất phiền não này đã che khuất sự trong sáng của chân tâm. Sự giác ngộ
của Đức Phật là sự thành tựu của quá trình lắng đọng đó. Đây là sự khai
phá tiềm năng vô biên của con người và cũng là một thành tựu to lớn mà Đức
Phật đã mang đến cho con người: sự nhìn thấy bản tánh chân thật của mình
và của vũ trụ. Đạo Phật bắt đầu từ nơi con người và tìm thấy Niết Bàn
ngay trong tự tâm của mình, chứ không bắt đầu ở thần thánh và thiên đường
xa xôi.
Sau khi
giác ngộ, Đức Phật đã giảng dạy đạo lý nhân bản đó suốt hơn bốn mươi lăm
năm. Ngài không bao giờ tự xưng mình là Thượng Đế hay thần thánh gì cả,
nhưng chỉ là một con người bình thường và đã giác ngộ.
Vùng đất
dọc theo lưu vực sông Hằng đã ghi dấu bước chân của Ngài, một con người
đầu tiên của thế giới loài người đã phát huy được những khả năng tiềm tàng
vô biên của tâm thức. Đưa con người vượt thoát những chi phối của nội tâm
cũng như ngoại cảnh, thế tục cũng như thần thánh, để tự tại bình thản bước
những bước chân an lạc trên bãi cỏ xanh mướt màu ngọc thạch của đồng bằng
sông Hằng. Trong ánh sáng bình minh ửng hồng của tâm thức nhân loại, vóc
dáng của Ngài đã trải dài trên hai ngàn năm trăm năm lịch sử, đã vang vọng
vào tận cùng tiềm thức của nhân loại khổ đau để ánh sáng giác ngộ đó mãi
mãi là ngọn đuốc soi đường giúp con người vượt qua những đêm đen hãi hùng
của tham vọng, hận thù và mê muội.
Giải
Thoát Là Tối Thượng
Đức Phật
dạy: “Nước trong bốn biển chỉ có một vị là vị mặn, đạo của ta cũng chỉ
có một vị là vị giải thoát.” Câu nói đó đã bao hàm mục tiêu căn yếu
của đạo Phật và trong hơn bốn mươi năm hoằng hóa Đức Phật cũng chỉ giảng
dạy một con đường duy nhất đó là con đường thoát khổ. Bài thuyết pháp đầu
tiên về Tứ Diệu Đế tại Vườn Nai cũng là bài thuyết pháp cuối cùng. Giáo
lý đó là tư tưởng nòng cốt cho toàn bộ đạo lý giải thoát của Phật Giáo.
Đạo lý
đó được cô đọng trong bài giảng đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như:
Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế có nghĩa là bốn chân lý kỳ diệu, đó là:
-Khổ:
khổ đau là căn bản của cuộc sống.
-Tập:
nguyên nhân của khổ đau.
-Diệt:
an lạc tịch diệt là căn bản của giải thoát.
-Đạo:
con đường đưa đến giải thoát.
Khổ
ở đây không hạn hẹp trong phạm vi tình cảm, nhưng bao gồm một phạm trù
triết học rộng lớn về bản chất của sự vật, đó là vô thường, vô ngã hay
không trường cửu, không đơn thuần và băng hoại. Trong kinh điển đề cập
đến tám loại khổ (sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tăng
hội, ngũ ấm xí thạnh), tựu trung có thể quy vào ba loại khổ là vật chất,
tinh thần và tâm linh.
-Khổ về
vật chất là nỗi khổ thiếu ăn, thiếu mặc, bệnh tật, thiếu thuốc, già nua,
chết chóc.
Khổ về
tinh thần bao gồm nhiều lãnh vực từ tình cảm đến trí thức. Về tình cảm có
những nỗi khổ của những kẻ yêu nhau nhưng phải xa cách, nỗi khổ của những
kẻ phải đối mặt với người thù, nỗi khổ của những kẻ bất đắc chí.. Về trí
thức có những nỗi khổ của kẻ ngu dốt, nỗi khổ của những kẻ nô lệ vào trí
thức, nô lệ chủ nghĩa, sử dụng trí thức để làm khổ nhân loại như chế tạo
vũ khí giết người… hoặc cuồng tín vào giáo điều để đày đọa nhân loại trong
các cuộc chiến tranh chủ nghĩa.
-Về tâm
linh với nỗi khổ lớn của sự cuồng tín vào thần quyền, tự xiềng xích mình
vào địa ngục của hoang tưởng đó. Sự nô lệ vào thần linh đã làm cho con
người luôn luôn sợ hãi sự trừng phạt của trời thần quỷ vật và không bao
giờ dám tự trách nhiệm lấy hành động của mình. Sự cuồng tín tôn giáo đã
làm cho con người thù hận con người thay vì thương yêu nhau như các giáo
chủ đã dạy. Cuộc chiến tranh tôn giáo tàn khốc giữa Thiên Chúa Giáo với
Do Thái Giáo và Hồi Giáo kéo dài hơn ngàn năm. Cuộc tàn sát đẫm máu giữa
Thiên Chúa và Tin Lành kéo dài hàng trăm năm tại Âu Châu. Ngày nay tại
Bắc Ái Nhĩ Lan cuộc xung đột giữa các tôn giáo này vẫn còn tiếp diễn.
Cũng như những cuộc đánh nhau giữa Hồi Giáo và Ấn Độ Giáo vẫn còn tiếp
diễn. Tất cả đều do cuồng tín và ngu muội. Phật Giáo đã tự hào, suốt hơn
hai ngàn năm trăm năm, chưa bao giờ đổ một giọt máu vì nhân danh tín
ngưỡng Phật Giáo. Lúc Hồi Giáo tàn sát Phật Giáo tại Ấn Độ vào thế kỷ thứ
mười hai, chư tăng và Phật tử cam tâm chịu chết chứ không chống trả, một
số khác chạy thoát ra ngoài để rồi đạo Phật truyền ra khắp phương Đông.
Ngày nay Phật giáo bị bách hại tại các nước phương Đông, thế rồi Phật Giáo
lan tràn khắp phương Tây. Phật Giáo Tây Tạng cũng thế, tuy Trung Cộng tàn
phá đất nước và tiêu diệt nhân dân Tây Tạng, nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma lúc
nào cũng kêu gọi nhân dân Tây Tạng tiếp tục đấu tranh bất bạo động. Và
trong tương lai chắc chắn thế nào Trung Cộng cũng phải nhường bước trước
sức mạnh tâm linh đó.
Tập
là nguyên nhân của khổ đau. Những nguyên nhân đó là gì? Đó là tham vọng,
hận thù và mê muội. Tất cả những khổ đau của con người từ cá nhân đến tập
thể, quốc gia, xã hội đều bắt nguồn từ những nguyên nhân trên. Vì tham
vọng con người làm khổ cho nhau, quốc gia xâm chiếm lẫn nhau. Vì hận thù
con người xung đột lẫn nhau, chiến tranh tàn khốc kéo dài. Vì mê muội con
người tự đày đọa mình vào những địa ngục tối tăm của sự ngu dốt.
Diệt
là sự tịch diệt giải thoát. Khi tham vọng, hận thù và mê muội chấm
dứt thì những khổ đau không còn tồn tại, con người đạt được an vui giải
thoát. Đó là Niết Bàn. Sự giải thoát là sự thanh tịnh tâm hồn. Khi con
người không còn những tham vọng chính trị hay tôn giáo điên cuồng như ý
muốn thống trị toàn thế giới, thì con người không những đã giải thoát cho
mình mà còn mang lại hạnh phúc cho kẻ khác. Khi con người không còn hận
thù vì ganh ghét, đố kỵ không xem kẻ khác tử tưởng, chính kiến như kẻ thù
thì con người đã giải thoát cho mình và góp phần vào việc xây dựng nền hòa
bình trường cửu cho thế giới. Khi con người không còn ngu muội cuồng tín
tin theo những chủ thuyết chính trị hay thế lực tôn giáo đầy tham vọng và
hận thù để tiêu diệt sự sống con người cho những mưu đồ đen tối, là con
người đã tự giải thoát cho chính mình và đem lại hạnh phúc cho nhân loại.
Đạo
là con đường đưa đến giải thoát. Đó là Bát Chánh Đạo, con đường của
tám sự chân chánh. Đó là: sự hiểu biết chân chánh, sự suy nghĩ chân
chánh, lời nói chân chánh, hành động chân chánh, sinh sống bằng nghề chân
chánh, nỗ lực chân chánh, ghi nhớ chân chánh, thiền định chân chánh. Tựu
trung, Bát Chánh Đạo chỉ nhằm đến một mục đích duy nhất là sự giữ gìn cho
tâm được trong sáng. Khi tâm đã chân chánh, thì hành động sẽ chân chánh.
Mọi tai họa trên thế giới đều bắt đầu bằng tâm bạo động, tâm chiếm đoạt,
khi tâm con người đã trong sáng thanh tịnh thì thế giới sẽ hòa bình an
lạc.
Trên đây là
sơ lược về Tứ Diệu Đế. Đây là giáo lý căn bản của mọi tông phái Phật
Giáo. Đức Phật thường dạy vì chúng sanh có nhiều trình độ và hoàn cảnh
khác nhau, do đó Ngài đã giảng dạy bằng nhiều cách khác nhau. Từ căn bản
đó, Ngài đã thiết lập tám mươi bốn ngàn pháp môn, tức là tám mươi bốn ngàn
đường lối tu tập khác nhau nhưng đều đưa đến giải thoát. Từ đó Phật giáo
đã xuất hiện ra nhiều tông phái với những chủ trương khác nhau từ Thiền
Tông với chủ trương phế bỏ kinh điển, đến Tịnh Độ Tông với sự hành trì
bằng con đường tụng kinh bái sám. Mật Tông với phương pháp trì chú mật
truyền, Hiển Tông với sự tuyên dương giáo nghĩa… Về hình thức, các tông
phái này có vẻ như mâu thuẫn đối nghịch nhau về chủ trương cũng như phương
pháp hành trì, nhưng thật ra các tông phái này đều là các tông phái Phật
giáo, tất cả đều hướng về một mục đích duy nhất là giác ngộ giải thoát.
Còn những hình thức sai biệt kia chỉ là những phương tiện khác nhau mà
thôi. Ví như những người đi về kinh đô bằng những phương tiện di chuyển
khác nhau tùy theo khả năng và điều kiện riêng của mỗi người để tự chọn
một phương cách thích nghi, nhưng tất cả đều hướng về một mục tiêu như
nhau. Từ đó Phật giáo đã thiết lập một hệ thống kinh điển đồ sộ mà chưa
một hệ thống tôn giáo triết học nào trên thế giới có thể so sánh được.
Nhưng tất cả kinh điển đó đều chỉ diễn tả một nội dung duy nhất đó là sự
giải thoát. Tính nhất quan này đã được hòa thượng Phước Hậu (1866-1953),
chùa Báo Quốc Huế đã diễn tả trong một bài kệ:
Giáo
pháp lưu truyền tâm vạn tư,
Học
hành không thiếu cũng không dư.
Năm
nay ngẫm lại chừng quên hết,
Chỉ
nhớ trên đầu một chữ Như.
Chữ Như
ở đây có nghĩa là Chân Như, Giải Thoát. Ngoài ra cũng có nghĩa là tất cả
kinh Phật do Ngài A Nan kết tập đều bắt đầu bằng câu: Như Thị Ngã Văn (Tôi
đã nghe Chân Như Thị Hiện như sau.)
Từ Bi
và Trí Tuệ Là Tối Thượng
Sự giải
thoát chỉ đạt được trong sự giác ngộ hoàn toàn với lòng từ bi vô lượng.
Sự giác ngộ chính là sự phát triển tột đỉnh của trí huệ, là sự hiểu biết
toàn diện. Tâm trí con người bị vô minh phiền não che lấp không nhìn thấy
bản tính chân thật của sự vật, để từ đó ngộ nhận phát sinh, đó là căn
nguyên của đau khổ. Sự đau khổ đó chỉ chấm dứt khi nào tâm con người
trong sáng, ngộ nhận không còn, nhìn thấy sự thật hiển hiện. Quá trình tu
tập để phát triển trí tuệ, để làm sáng tâm trí. Tham vọng ích kỷ được
chuyển hóa thành vị tha, hận thù được chuyển hóa thành từ bi, mê muội được
chuyển hóa thành trí tuệ. Trong quá trình chuyển hóa đó, nội tâm được gạn
lọc. Những bùn cặn vô minh được tẩy trừ, để tâm trí hoàn toàn trong
sạch. Đó chính là cao điểm của trí tuệ và sự giác ngộ. Ánh sáng của sự
đạt đạo tỏa rạng khắp nơi, sự nghiệp này chỉ thành tựu trong sự vị tha vô
biên với lòng từ bi vô hạn. Nếu giác ngộ không có từ bi thì đó là sự ích
kỷ. Khi tâm hãy còn phân biệt chấp ngã, hãy còn nghĩ đến mình đến người
thì mình hãy còn lăn lộn trong luân hồi lục đạo, đó chưa phải là giác
ngộ. Sự giải thoát chỉ trọn vẹn khi có sự kết hợp hài hòa giữa trí tuệ
với từ bi.
Từ bi là
tình thương cao rộng trong ý nghĩa Từ là làm cho kẻ khác bớt đau
khổ và Bi là đem lại an vui hạnh phúc cho kẻ khác. Sau khi được
giác ngộ giải thoát, không còn bị khổ đau vì sự chi phối của những điều
kiện vật chất cũng như tinh thần. Các vị Phật, Bồ Tát đã phát lòng từ bi
vô lượng thương tưởng đến những kẻ đang trầm luân trong biển khổ để tìm
phương cách cứu độ. Với khổ đau vật chất, chúng ta chia sẻ cơm áo thuốc
men, với khổ đau tinh thần chúng ta dùng lời an ủi, dùng Phật pháp để giác
ngộ.
Trong
kinh điển Đại Thừa thường đề cập đến các vị bồ tát với lòng từ bi vô
lượng, như Bồ Tát Quan Thế Âm, trong Kinh Phổ Môn, với hạnh nguyện cứu khổ
cứu nạn cho chúng sanh. Ngài lắng nghe tiếng kêu đau thương của chúng
sanh trong cõi Ta Bà để thị hiện cứu độ. Nơi nào có tiếng kêu đau thương,
nơi đó có mặt của Ngài. Bồ Tát Quan Thế Âm đã phát nguyện: “Khi nào trong
thế gian không còn chúng sanh đau khổ thì lúc đó Ngài mới nhập Niết Bàn.”
Trong
Kinh Địa Tạng, Đức Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện xuống địa ngục để cứu độ
chúng sanh với đại nguyện: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng
sanh vị tận phương chứng Bồ Đề.” (Khi nào địa ngục chưa trống hết thì
tôi chưa thành Phật, lúc nào chúng sanh chưa khỏi luân hồi thì tôi chưa
chứng Bồ Đề.) Với đại nguyện đó Bồ Tát Địa Tạng đã xông pha vào các tầng
địa ngục để cứu vớt chúng sanh. Chỉ những chúng sanh trong các cõi đó mới
kinh nghiệm sâu xa về khổ đau. Trong triền miên đau khổ đó, sự phát tâm
mới sâu sắc và ý chí mong cầu giải thoát mới mạnh mẽ. Có lẽ trong cõi địa
ngục là nơi chúng sanh thực chứng Đệ Nhất Diệu Đế về sự khổ đau sâu sắc
hơn hết. Nhưng sự thống khổ triền miên không cho chúng sanh cơ hội tu
tập, nếu không có từ tâm bảo hộ của các vị bồ tát thì các chúng sanh đó
chỉ triền miên với đau khổ mà thôi.
Trong
Kinh Lăng Nghiêm, Ngài A Nan với đại nguyện: “Như nhất chúng sanh vị
thành Phật, chung bất ư thử thủ Nê Hoàn.” (Nếu còn một chúng sanh chưa
thành Phật, tôi nguyện chưa nhập Niết Bàn.) Chúng sanh đây không phải chỉ
là chúng sanh trong một cõi, nhưng là tất cả chúng sanh trong mười phương
thế giới, trong vũ trụ bao la. Với con số thế giới vô cùng, chúng sanh vô
tận đó để chúng ta thấy được tầm kích vĩ đại vô hạn về lòng từ bi của các
vị Bồ Tát.
Trong
Phật Giáo, từ bi (tình thương) đi đôi với trí tuệ (sự hiểu biết), đây là
căn bản của sự tu tập chuyển hóa. Hai tiêu chuẩn này như đôi chân của con
người, chúng ta sẽ bị què quặt nếu chỉ có một chân. Từ bi mà thiếu trí
tuệ chỉ là sự thương vay khóc mướn. Trí tuệ thiếu từ bi chỉ là những kiến
thức khô khan vô nhân. Do đó sự giải thoát chỉ thật sự là giải thoát khi
nào con người đã phát triển cùng cực lòng thương và sự hiểu biết của
mình. Với ánh sáng trí tuệ giải thoát, các vị Bồ Tát soi sáng nỗi khổ của
chúng sanh bằng tình thương bao la. Đối xử mọi người mọi loài bằng tâm
bình đẳng với tất cả sự thương yêu và sự hiểu biết để tìm phương cách cứu
vớt.
Tóm lại,
qua những tìm hiểu trên chúng ta thấy điểm nổi bật của đạo Phật là đặt
trọng tâm ở con người. Bắt đầu từ nỗi khổ đau của con người, để rồi tìm
phương cách giải thoát nỗi đau khổ đó trong điều kiện và khả năng của con
người. Trong sự khám phá về tiềm năng vô hạn của tâm thức con người, Đức
Phật đã cho chúng ta thấy rằng: chỉ có con người mới giải thoát mình ra
khỏi mọi nỗi thống khổ, không một thần linh nào có thể thay đổi vận mệnh
của con người, cũng như đày đọa con người. Đạo lý về Nghiệp cho chúng ta
nhìn thấy sâu sắc hạnh phúc hay khổ đau là do con người tự tạo, con người
làm chủ lấy vận mệnh của mình. Vì mê lầm chúng ta tạo ra một thần linh
rồi trở lại nô lệ vào thần quyền đó. Sự giác ngộ chính là sự nhận thức
đúng đắn sự thật đó mà thôi.
Chương II. Đạo Phật Trong
Lòng Dân Tộc
Đạo
Phật Trong Lòng Dân Tộc
Trong sự
tăm tối cùng cực của đêm là thời điểm khởi đầu cho một ngày khác. Quê
hương chúng ta đang trải qua những ngày đen tối, nhưng niềm tin chúng ta
vào sức sống mãnh liệt của dân tộc không phai mờ. Sự tin tưởng này không
phải là niềm tin hão huyền hay một an ủi trong sự tuyệt vọng. Suốt dòng
sử mệnh, văn hóa Việt đã nhiều lần minh chứng sức sống mãnh liệt đó.
Sức sống
đó chính là khả năng dung hợp cá biệt, hóa giải những đối nghịch, đãi lọc
những tinh hoa để phong phú nền văn hóa cố hữu của mình trong truyền thống
Tam Giáo Đồng Nguyên của dân tộc. Đây là nền văn hóa tiềm tàng nhưng hiếu
động, là lực đẩy dân tộc Việt vượt qua mọi gian nguy, tiến về phía trước.
Chính trong những lúc tuyệt vọng nhất là những lúc văn hóa Việt biểu lộ
sức sống mãnh liệt nhất. Sức mạnh này đã giữ cho dân tộc Việt vẹn toàn
trước những âm mưu xâm lăng ngoại lai trên các lãnh vực văn hóa cũng như
chính trị.
Về
phương diện hình thức, văn hóa Việt không có những công trình tráng lệ và
phô trương. Chúng ta không có những đền đài hùng vĩ như Đế Thiên Đế Thích
(Angkor Wat) của Cam Bô Chia, Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc, Kim Tự
Tháp của Ai Cập v.v… Chúng ta không có những triết gia vĩ đại như Khổng
Tử, Lão Tử, Socrate, Descartes… Vì thế có người cho rằng dân tộc chúng ta
không có một nền văn hóa đặc thù. Đó là cái nhìn hời hợt, phiến diện bên
ngoài, không thể nào nhìn thấy được sức sống mãnh liệt, tiềm ẩn trong lòng
dân tộc của nền văn hóa Việt.
Văn
Hóa Sự Sống
Văn hóa
đó chính là văn hóa về Sự Sống. Sở dĩ chúng ta không có những đền đài cao
chót vót vì hoàn cảnh thái bình không có mặt lâu dài trên quê hương. Do
đó bao nhiêu tâm lực chúng ta đã sự dụng để bảo tồn cuộc sống và để xây
dựng niềm tin cao ngất về sự sống đó. Cuộc tồn sinh thử lửa hàng bao ngàn
năm qua với những cuộc chiến diệt chủng tàn khốc là minh chứng hùng hồn về
sức sống mãnh liệt đó. Đất nước triền miên khói lửa nhưng giống nòi không
bị hủy diệt. Dân tộc bị lệ thuộc hàng ngàn năm nhưng văn hóa không bị
tiêu mất. Chúng ta không có những triết gia vĩ đại vì mỗi chúng ta một
triết gia về sự sống của chính mình. Trong ca dao Việt Nam không thiếu
những câu biểu hiện triết lý yêu thương nồng nàn sự sống đó:
“Còn
người còn của.”
“Người sống hơn đống vàng.”
“Dầu
xây chín bậc phù đồ
Sao
bằng làm phúc cứu cho một người.”
Văn hóa
của chúng ta là sự sống. Mầu nhiệm và sinh động. Chúng ta không thể hóa
thạch sự sống trên những pho tượng, đền đài. Chúng ta cũng không thể đóng
khung sự sống trong những chủ trương, triết thuyết hay giáo điều. Tất cả
những điều đó chỉ là sự tẩn ướp của một thây ma được mệnh danh là “văn
hóa.” Mọi nền văn hóa đóng khung trong triết thuyết, giáo điều chỉ là
những nền văn hóa khô chết và phiến diện. Khi tìm đến một nền văn hóa
toàn diện là một cuộc hành hương tìm về cội nguồn của sự sống. Rồi đắm
mình trong dòng sống đó, chứ không phải đứng trên bờ để phân tích tìm hiểu
dòng sống đó.
Yếu tính
của nền văn hóa Việt chính là sự sống. Hoàn cảnh lịch sử chiến
tranh liên tục của nước Việt đã khiến cho dân tộc ta có một tinh thần yêu
sự sống nồng nàn. Những tang thương dâu bể giúp dân tộc ta ý thức sâu xa
về sự đổi thay vô thường để thấy rằng những công trình kiến trúc cao vĩ
cũng chỉ là công dã tràng trước sự phá hủy tàn khốc của chiến tranh và
thời gian. Một khi sinh mệnh của dân tộc đã tuyệt chủng, thì những đền
đài đó chỉ là những phế tích, vang bóng một thời như những Kim Tự Tháp của
Ai Cập, vết tích của một dĩ vãng huy hoàng, hay những tháp Chàm khóc
thương cho quá khứ.
Sự đau
khổ dai dẳng trong chiến tranh đã làm cho dân tộc ta trưởng thành. Do đó
chúng ta không cần những triết gia chỉ đạo về ý nghĩa của kiếp sống. Tất
cả những nỗ lực tư tưởng chính yếu của văn hóa Việt đều dồn vào việc tu
bồi cho sự sống thanh bình, tạo dựng một cuộc sống an lạc giải thoát về
vật chất cũng như tinh thần trong lý tưởng “sanh thuận tử an” (sống
an vui và chết không nuối tiếc.) Một triết lý sống bình dị, nhưng mạnh mẽ
với sự tỉnh thức cùng độ trong từng giây phút để tận hưởng sự mầu nhiệm
của cuộc sống.
Nền văn
hóa này, cụ Nguyễn Đăng Thục gọi là Văn Hóa Chùa Một Cột, tiêu biểu
sự vượt thoát khỏi những thống khổ của cuộc sống để đạt sự an lạc tự tại,
như những đóa sen sinh trong bùn, vượt qua sình lầy để vươn mình lên tỏa
hương thơm ngát dưới ánh mặt trời.
Mặt
khác, sự trường kỳ phấn đấu đã vun bồi un đúc cho dân tộc ta một sức sống
mãnh liệt, vượt qua mọi thử thách để tồn tại. Sự thành tựu đó nhờ vào
tính phóng khoáng, tinh thần cởi mở của văn hóa dân tộc. Không bị ràng
buộc hay đóng khung trong một hệ thống ý thức hay giáo điều nào. Từ đó
chúng ta dễ dàng tiếp nhận những luồng văn hóa ngoại nhập, kể cả những ý
thức hệ đối nghịch để dung hóa, tô bồi phong phú cho nền văn hóa sinh động
của mình. Lịch sử văn hóa dân tộc đã cho chúng ta thấy rõ yếu tố đặc thù
này trong sự thành tựu của đạo học “Tam Giáo Đồng Nguyen.”
Tinh
Thần Dung Hóa
Ngay từ
đầu kỷ nguyên, Việt Nam đã là một trạm giao thông nằm trên ngã tư quốc
tế. Những thương gia Ấn Độ hoặc các nước khác muốn sang Trung Hoa đều
dừng chân tại Việt Nam trước khi tiếp tục cuộc hành trình. Ngược lại, tàu
bè từ Trung Hoa sang Ấn Độ, Ả Rập đều phải ghé lại Việt Nam. Chính vị trí
giao thông đặc biệt này đã khiến dân tộc Việt có cơ hội tiếp xúc với những
nền văn minh dị biệt, học hỏi nhiều nền văn hóa ngoại quốc rất sớm để từ
đó dân tộc có tầm nhìn bao quát, rộng rãi và phóng khoáng hơn. Thêm vào
đó bản tính bao dung, cởi mở cố hữu đã tạo nên một tinh thần đặc thù của
văn hóa Việt. Tên cũ của nước ta là Giao
Chỉ đã gói ghém những ý nghĩa của tinh thần giao lưu văn hóa đặc biệt này.
Theo
giáo sư Nguyễn Đăng Thục, tinh thần giao lưu này chúng ta có thể nhìn thấy
trong huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, giải thích về nguồn gốc “Con
Rồng Cháu Tiên” của dân tộc Việt, đã ngụ ý rất rõ ràng về sự kết giao
giữa hai nền văn hóa đại dương của Ấn Độ và văn hóa lục địa của Trung
Hoa. Lạc Long Quân dòng dõi Rồng ở biển và Âu Cơ dòng dõi Tiên ở non
cao. Núi cao biển rộng trong một tao ngộ trùng phùng sản sinh ra một tinh
hoa tổng hợp: bọc trứng trăm con. Tiêu biểu cho sức sống vô tận, trẻ
trung, mạnh mẽ như sức sống của cả trăm dân tộc dồn lại. Đó là nguồn văn
hóa sống động của dân tộc Việt.
Từ hoàn
cảnh lịch sử, từ vị trí địa dư đã hun đúc cùng với tinh khí của dân tộc đã
tạo ra một nền văn minh sáng hóa, phong phú và sinh động. Tinh thần đặc
thù của nền văn hóa này là khai phóng, mở cửa với mọi tư tưởng dị biệt,
với mọi văn minh ngoại lai, để rồi thâu hóa, bồi bổ, tô điểm cho nền văn
hóa cố hữu của mình ngày thêm phong phú. Điển hình là sự thâu hóa hai nền
văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc trong những thế kỷ đầu lập quốc, cũng như sau
này sự thâu hóa văn minh Âu Tây trong thế kỷ hai mươi.
Tam
Giáo Đồng Nguyên
Văn hóa Ấn
Độ truyền vào Việt Nam theo đường biển do các thương gia và các vị sư
người Ấn. Đạo Phật được truyền vào Việt Nam rất sớm trước khi truyền sang
miền Nam Trung Quốc. Trong một bút ký về cuộc đàm luận giữa quốc sư Đàm
Thiên và Linh Từ Thái Hậu nhà Đường đã cho thấy rằng trong khi đạo Phật
chưa truyền đến phía Nam Trung Quốc, thì tại Giao Châu (tên cũ của Việt
Nam) đã dựng được mấy chục ngôi chùa và đã dịch được nhiều bộ kinh từ
tiếng Phạn sang tiếng địa phương. Những thế kỷ sau, trong những cơn binh
biến tại Hoa Lục, rất nhiều sĩ phu Trung Quốc không chấp nhận tân triều đã
sang Giao Châu tỵ nạn. Trong số đó có Mâu Bác, một thiền sư nổi tiếng đã
viết bộ “Lý Hoặc Luận” và bắt đầu khai sáng thiền học tại Việt Nam. Vào
thế kỷ thứ tư, một thiền sư Việt Nam Khương Tăng Hội đã rời Luy Lâu (Hà
Nội) để sang Nam Kinh hoằng dương Phật Pháp. Tại đây Ngài đã dịch rất
nhiều bộ kinh từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Quốc, ngày nay vẫn còn lưu
truyền. Một trong những bộ kinh đó là Kinh An Bang Thủ Ý, cuốn kinh gối
đầu cho những người tu thiền.
Khổng
học và Lão học được truyền sang Việt Nam do các quan cai trị người Trung
Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên cũng như các trí thức tỵ nạn người Trung
Quốc. Trong tư tưởng Trung Hoa, Khổng Giáo chủ trương hữu vi nhập thế
(giúp đời bằng hành động,) Lão Giáo chủ trương vô vi xuất thế
(không xen vào việc đời.) Hai hệ thống tư tưởng này đối nghịch nhau như
nước với lửa. Chính Lão Tử đã từng kết tội Khổng Tử là kẻ đã làm loạn
trật tự của vũ trụ khi ông đặt ra pháp luật, cương thường.
Trong
khi đó Phật Giáo chủ trương vô ngã giải thoát (không chấp để giải
thoát). Với chủ trương không chấp của Phật Giáo, tổ tiên chúng ta đã vượt
qua những hạn hẹp của Khổng Lão, làm một cuộc dung hóa toàn diện, hình
thành một nền tam giáo đồng nguyên (ba tư tưởng có cùng một
nguồn). Vì Phật Giáo không chấp “hữu” lẫn “vô”, với tinh thần vô chấp đó
đã dung hóa được cả hữu vi của Khổng Giáo lẫn vô vi của Lão Giáo. Một đạo
lý sống toàn vẹn giải đáp được cả ba mặt: sinh lý, tâm lý, và tâm linh.
Trong
tinh thần Tam Giáo đó, con người đi vào đời với tinh thần phụng sự của
Khổng Giáo, nhưng không tham cầu danh lợi. Khi nhiệm vụ đã hoàn thành,
bổn phận đã làm xong, rời bỏ danh lợi không chút luyến tiếc trong tinh
thần tiêu dao của Lão Giáo, để di dưỡng tâm linh. Cho dầu nhập thế hay
xuất thế lúc nào cũng giữ tâm thanh tịnh, tu trì giới đức. Thái độ nhập
thế vô chấp này có thể tìm thấy qua hành tung của thiền sư Vạn Hạnh, người
đã tạo dựng triều đại nhà Lý. Sau khi triều đình đã được thành lập, người
ta không còn thấy bóng dáng của vị thiền sư này đâu nữa. Cũng như các vua
triều Trần đã nhường ngôi cho con để vào núi tu thiền.
Tinh
thần Tam Giáo Đồng Nguyên này là một hòa điệu nhịp nhàng của những đối
nghịch trong cuộc sống. Trong muôn mặt của thực tế, có lúc chúng ta cần
có thái độ “hữu”, có lúc “vô”, và có lúc phải bỏ cả “hữu” lẫn “vô”. Đó là
thái độ không cực đoan quá khích.
Trong
mỗi người Việt Nam đều sống với cả ba hệ thống tư tưởng trên, cư xử với
nhau trong cương thường của Khổng Giáo, tiêu dao nhàn nhã trong tư tưởng
vô vi của Lão Giáo, và tự tại giải thoát trong đạo lý giác ngộ của Phật
Giáo. Do đó trong đạo lý truyền thống Việt Nam, thật khó phân biệt ai là
người theo Khổng Giáo, Lão Giáo hay Phật Giáo. Sau này khi thực dân Pháp
đô hộ đã gọi những người Việt theo tín ngưỡng truyền thống là “Lương” để
phân biệt với “Giáo” (Thiên Chúa Giáo.)
Tinh
thần Tam Giáo Đồng Nguyên này đã giúp dân tộc phát triển về mọi mặt. Các
triều đại huy hoàng nhất tiêu biểu cho tinh thần này là các triều Lý và
Trần, trong đó Phật Giáo là một nhân tố tích cực nhất đóng góp vào giai
đoạn uy hùng cực thịnh của lịch sử dân tộc. Dưới các triều đại này chúng
ta không những mạnh về chính trị (thoát khỏi sự đô hộ của Trung Quốc), về
quân sự (phá Tống, bình Chiêm, ba lần đánh thắng quân Mông Cổ), mà còn
mạnh về học thuật (chữ Nôm được sáng chế,thiền phái Trúc Lâm được thành
lập). Đạo lý Tam Giáo Đồng Nguyên đã huân tập cho dân tộc tinh thần phóng
khoáng, cởi mở để mở cửa đón nhận tinh hoa của các nền văn minh khác nhau,
để sáng hóa và phong phú nền văn minh của chính mình.
Thân
Hóa Văn Minh Tây Phương
Đến thế
kỷ thứ mười sáu, đất nước chúng ta bắt đầu tiếp xúc với văn hóa Tây Phương
do các giáo sĩ Thiên Chúa Giáo mang đến. Sự tiếp xúc này đã đưa đất nước
vào vòng nô lệ nhục nhã gần một thế kỷ dưới sự đô hộ của người Pháp vào
giữa thế kỷ thứ mười chín. Trong văn hóa của “súng đạn,” nhân nghĩa không
giữ được thành trì, đất nước chúng ta bị bắt buộc phải canh tân. Sự hô
hào sử dụng chữ quốc ngữ thay thế chữ Nho của các nhà ái quốc đầu thế kỷ
hai mươi, mở ra một chiến lược canh tân mới: “Dùng chính vũ khí của Tây để
đánh Tây” như học giải De Francis đã kết luận trong cuốn sách viết về chữ
quốc ngữ của ông.
Chữ Quốc
ngữ lúc đầu do các giáo sĩ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý và Pháp phiên âm để
dễ dàng cho họ trong việc học nói tiếng Việt cho mục đích truyền giáo mà
không cần phải học chữ Nôm và chữ Nho. Do đó thứ chữ này suốt trong ba
trăm năm chỉ được các giáo sĩ ngoại quốc sử dụng mà thôi, ngay cả giáo dân
địa phương cũng không mấy người biết. Đến năm 1862, sau khi chiếm Nam Kỳ
người Pháp bắt đầu áp đặt việc phổ biến chữ quốc ngữ để thay thế chữ Nho.
Nhân dân trong vùng bị chiếm phản kháng mạnh mẽ. Điển hình là thái độ bất
hợp tác của các sĩ phu như Phan Đình Phùng, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Đình
Chiểu. Tuy dưới áp lực của người Pháp suốt mấy chục năm chữ quốc ngữ vẫn
không phổ biến. Cho đến năm 1907, hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh
hô hào canh tân đất nước và sử dụng chữ quốc ngữ để làm lợi khí đấu tranh
giành độc lập. Trường Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập. Với chữ quốc
ngữ dân chúng chỉ cần học vài tháng là có thể biết đọc biết viết truyền
đơn cũng như sách cải cách. Từ đó chữ quốc ngữ mới phổ cập rộng rãi trong
dân chúng. Chỉ trong vòng hơn mười năm chữ quốc ngữ đã đủ trưởng thành để
thay thế chữ Nho, chữ Nôm và khoa thi Hán học cuối cùng được kết thúc vào
năm 1919. Trong mục đích đó chữ quốc ngữ đã được tổ tiên chúng ta chấp
nhận, bổ sung, cải thiện để thành chữ viết chính thức hiện nay. Tổ tiên
chúng ta với chủ trương “mở mang dân trí, đấu tranh giành độc lập” do đó
không ngần ngại trong việc tiếp nhận văn hóa mới trong các lãnh vực khoa
học, văn hóa, nghệ thuật.
Qua
những phân tích trên chúng ta thấy rằng dân tộc chúng ta với tinh thần
phóng khoáng và uyển chuyển, sẵn sàng tiếp nhận tất cả những nền văn hóa
dị biệt của người để làm phương tiện bồi dưỡng và cải thiện nền văn hóa
của mình. Nhưng điều này không có nghĩa là một sự chấp nhận nô lệ văn
hóa, chịu để cho một văn hóa nào thống trị. Lấy tinh thần dung hóa của
Tam Giáo Đồng Nguyên làm nền tảng cho mọi sự kết hợp. Có như thế, chúng
ta mới duy trì được bản chất của văn hóa Việt, nếu không chính là sự đánh
mất mình để trở thành một loại cô hồn văn hóa.
Khi nhà
cầm quyền hiểu rõ những tính chất đặc thù đó của văn hóa Việt thì đất nước
hùng cường, nhân dân an lạc. Khi nhà cai trị đi vào con đường cực đoan, cố
chấp thì đất nước loạn ly, nhân dân đói khổ. Dưới các triều đại Lý, Trần,
tuy Phật Giáo là quốc giáo với các quốc sư tạo dựng nhà Lý như Vạn Hạnh,
Lý Khánh Vân, triều Trần với những vị vua đạo đức sáng ngời như Thái Tông
Hoàng Đế là tác giả cuốn Thiền Tông Chỉ Nam, Nhân Tông Hoàng Đế là tổ sư
phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, với những thiền sư tráng sĩ như thượng tướng
Trần Quốc Tảng cũng là thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ. Các vị này với tinh
thần phóng khoáng, giác ngộ của nhà Phật, đã lập được thế chân vạc vững
vàng trong chủ trương Tam Giáo Đồng Nguyên. Trong giai đoạn đó tuy thế
lực Phật Giáo lớn, nhưng không độc tôn. Nho Giáo dưới thời Lý, Trần được
trọng vọng, nhà vua đã mở các khoa thi, lập Văn Miếu thờ Khổng Tử, xây
Quốc Tử Giám dạy kinh sử.
Sang đến
nhà Lê, thế chân vạc này đã mất. Với tinh thần Nho Giáo độc tôn, các nho
sĩ bắt đầu châm biếm, chống đối Phật Giáo và Lão Giáo. Trong lịch sử chúng
ta chỉ thấy nhà Nho chống báng nhà Phật, chứ chưa bao giờ thấy nhà Phật
chống báng nhà Nho. Tinh thần cố chập độc tôn này đã đưa đất nước vào
vòng ly loạn suốt từ thế kỷ thứ mười sáu cho đến bây giờ. Bắt đầu với
cuộc chiến Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài hàng trăm năm. Sau đó là cuộc
xưng hùng tranh bá giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn. Thanh bình không bao
lâu lại rơi vào vòng nô lệ của thực dân. Sau đó là cuộc chiến tranh ý
thức hệ đã đưa dân tộc đến chỗ suy thoái cùng độ. Ngày nay tuy đất nước
hòa bình nhưng lòng người vẫn ly tán, những khác biệt của dân tộc vẫn tồn
tại, những hận thù của lịch sử vẫn còn âm ỉ.
Trong
suốt thời kỳ Nho Giáo độc tôn cũng như thời kỳ súng đạn làm chủ, Phật
Giáo đã rời bỏ triều đình để trở về tiềm ẩn trong thôn làng. Thăng trầm
với dân tộc, đồng lao cộng khổ với nhân dân trong cuộc sống. Cho dầu tình
huống đất nước thế nào, Phật Giáo vẫn là điểm tựa tinh thần vững chắc cho
nhân dân cùng khổ, là nơi nhân dân đặt để niềm tin lẽ sống trong những khi
bức bách cùng khốn, là tia hy vọng bám víu cuối cùng trong hoàn cảnh đọa
đày tuyệt vọng. Phật Giáo và Dân Tộc đã quyện vào nhau. Dân Tộc đã bảo
tồn Phật Giáo và Phật Giáo đã nuôi dưỡng niềm hy vọng cho Dân Tộc.
Kết
Luận
Ôn lại
lịch sử để nuôi dưỡng niềm tin vào sức mạnh văn hóa dân tộc. Với tinh
thần không độc tôn, không cực đoan nhưng khoan hòa độ lượng, tổ tiên chúng
ta đã thành công trong việc chuyển hóa mọi ý thức hệ đối nghịch, mọi tư
tưởng dị biệt thành những phương tiện bồi bổ cho nền văn hóa Việt ngày
càng quang rạng, làm cho nền văn hóa cố hữu của dân tộc thêm phong phú.
Chúng ta chưa bao giờ tự hủy diệt nền văn hóa của mình để làm nô lệ cho
các nền văn hóa ngoại lai. Bài học lịch sử chứng minh cho chúng ta thấy,
khi chúng ta rời xa văn hóa dân tộc để đem văn hóa ngoại tộc về thống trị
thì đất nước rơi vào thảm họa chinh chiến. Khi chúng ta từ bỏ con đường
bao dung để đi vào độc tôn thì dân tộc chịu cảnh tương tàn, nhân dân lầm
than. Cuộc chiến tranh chủ nghĩa không tưởng Tây phương vẫn còn là
vết thương đau nhức cho đến ngày hôm nay.
Qua bao
thăng trầm của lịch sử, vận mạng của Phật Giáo luôn luôn gắn liền với vận
mạng của dân tộc. Khi dân tộc quang vinh, Phật Giáo hưng thịnh. Khi dân
tộc bị nô lệ khổ nhục, Phật Giáo suy yếu. Dầu thịnh dầu suy, lúc nào Phật
Giáo cũng sát cánh cùng dân tộc, đồng lao cộng khổ để đưa dân tộc đi lên,
đưa đất nước đến chỗ phú cường. Trong thời đại hoàng kim của đất nước
dưới triều đại Lý Trần, Phật Giáo là nhân tố tích cực để kết nối Khổng Lão
trong chủ thuyết Tam Giáo Đồng Nguyên, thu thập nhân tâm về một mối.
Trong tinh thần đó những hội nghị dân chủ đầu tiên của đất nước diễn ra
trong ngày Hội Diên Hồng. Với quyết tâm của cả một dân tộc thì không một
bạo lực nào có thể thắng được. Điều đó đã chứng minh trong ba lần chiến
thắng quân Mông Cổ, một đội quân chưa bao giờ chiến bại trên toàn cầu.
Dưới thời Lê khi Nho Giáo độc tôn, Phật Giáo trở về tiềm ẩn trong thôn
làng, làm chỗ nương tựa tâm linh cho nhân dân cùng khổ để chờ ngày quang
phục. Dưới thời Pháp thuộc trong tinh thần vô chấp của Phật Giáo tổ tiên
chúng ta không ngần ngại thâu hóa văn minh của người để làm lợi khí đấu
tranh giành độc lập. Trong văn hóa dân tộc Phật Giáo là huyết mạch, là
cốt tủy, là thực thể bất khả phân. Do đó khi nói đến văn hóa Việt Nam
không thể không nói đến văn hóa Phật Giáo.
Con
đường cứu nguy cho đất nước chỉ còn một con đường duy nhất là trở về với
văn hóa dân tộc! Mọi xung đột mâu thuẫn chỉ giải quyết được khi người
Việt nhìn nhau trong tình tự dân tộc. Những khác biệt trong dân tộc,
những hận thù trong lịch sử chỉ tiêu tan khi nghiệp dĩ của dân tộc được
chuyển hóa. Điều đó chỉ thực hiện được khi người Việt nhận diện được “bản
lai diện mục” (mặt mày xưa nay) của dân tộc mình. Khi hồn nước trong mình
vững mạnh thì sống ở đâu cũng không bị mất gốc. Khi hồn nước không còn
thì dân Việt dù ở tại quê hương hay hải ngoại cũng chỉ là những cô hồn vất
vưởng.
Chúng ta
vững tin vào sinh lực của dân tộc. Những hiện tượng về nguồn của người
Việt hải ngoại, cũng như sự phục hồi các lễ hội trong nước là những dấu
hiệu biểu lộ sức sống tiềm tàng của văn hóa dân tộc. Lũy tre xanh là hàng
rào kiên cố để bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. Ngày nào tre vẫn
xanh, sinh lực dân tộc vẫn tiềm tàng.
Chương III. Phương Pháp Ăn Chay
Phương Pháp Ăn Chay
Trong
truyền thống tu tập Việt Nam, vấn đề ăn chay được đặt ngang hàng với sự
giữ giới. Đối với hàng Phật tử tại gia việc ăn chay được khuyến khích gia
tăng số ngày ăn, còn đối với người xuất gia
đó là điều kiện bắt buộc. Tại sao vấn đề ăn chay được đặt quan trọng như
vậy? Qua những phân tích sau chúng ta sẽ hiểu rõ vấn đề.
CA DAO
TỤC NGỮ
Trong từ
ngữ Phật giáo Việt Nam “ăn chay niệm Phật” đi đôi với nhau, trình
bày ngắn gọn phương pháp tu tập chú trọng trên cả hai phương diện Thân và
Tâm. Sự hành trì này đã ăn sâu vào nếp sống của dân Việt trong các câu ca
dao, tục ngữ như:
“Đói
ăn rau, đau uống thuốc”
“Còn
ao rau muống, còn đầy chum tương”
“Anh
đi anh nhớ quê nhà
Nhớ
canh rau muống, nhớ cà dầm tương.”
Có thể
nói thực phẩm chính của dân quê Việt Nam là rau đậu. Sự ăn uống đạm bạc
này đã giúp giải quyết được nạn đói kém, giữ gìn sức khỏe, cũng như nuôi
lớn dân tộc Việt trường tồn trong lịch sử. Truyện Phù Đổng Thiên Vương
ghi lúc cậu bé ăn uống xong, lớn nhanh thành người hùng tráng, cỡi ngựa
sắt ra trận:
“Bảy
nong cơm, ba nong cà,
Uống
liền vốc nước cạn đà khúc sông.”
Những
câu ca dao, tục ngữ cũng như huyền sử Việt Nam cho thấy việc ăn chay đóng
góp tích cực trong việc nuôi sống và nuôi lớn dân tộc Việt. Qua đó chúng
ta thấy sự có mặt của phương pháp tu tập đạo Phật Việt Nam.
Tại Việt
Nam, cho dầu không ăn chay, trong các bữa ăn của người Việt thực phẩm
chính vẫn là rau đậu. Cùng với sự lao động chân tay làm con người ít
bệnh.
Ngày nay,
sống tại Âu Mỹ, nhiều người đã thay đổi sự dinh dưỡng bằng cách gia tăng
khẩu phần thịt, trong khi đó thiếu hoạt động thể dục chân tay. Đây chính
là nguyên nhân gây ra những chứng bệnh hiểm nghèo như: ung thư, áp huyết
cao, cholesterol, các chứng bệnh tim. Một vị bác sĩ cho chúng tôi biết,
lúc người Việt tỵ nạn mới định cư ở Hoa Kỳ mười người chỉ có hai người bị
cholesterol. Sau mười năm, mười người hết tám người bị bệnh đó. Đến khi
ngã bệnh, bác sĩ cho biết muốn bớt bệnh chỉ còn phương cách ăn chay.
NGUY HẠI
TRONG VIỆC ĂN THỊT
Trong
thịt chứa rất nhiều các độc tố gây ra các chứng bệnh nguy hiểm.
1.
Chất béo (fat): Chất béo trong động vật là chất béo bão hòa (saturated
fat). Chất này có trong thịt và dầu dừa. Nếu chúng ta tiêu thụ quá nhiều
chất béo này, các chứng bệnh như mập phì, ung thư và các chứng về tim mạch
sẽ dễ dàng phát sinh. Các chất béo này thường đông đặc ở nhiệt độ
thường. Khi vào trong máu sẽ tạo thành cholesterol đóng ở bờ thành các
mạch máu làm cho máu đông đặc, dẫn đến hiện tượng xơ cứng động mạch, gây
ra tình trạng tắc nghẽn sự lưu thông của máu, tạo ra chứng động tim (heart
attack), và đứt mạch máu não (strokes).
2.
Chất xơ (fiber): Chất xơ không có trong thịt cá. Chất này lấy từ thực
vật và có nhiệm vụ giúp thực phẩm di chuyển dễ dàng trong hệ thống tiêu
hóa và làm giảm lượng cholesterol trong máu. Ăn nhiều thịt sẽ gây nên
bệnh táo bón, bệnh về tiêu hóa, ung thư ruột và các chứng rối loạn về
đường ruột.
3.
Chất đạm (protein): Nhiều người nghĩ rằng, ăn nhiều thịt cá để có đủ
chất đạm. Điều này sai lầm, vì những nghiên cứu y học gần đây cho thấy
nếu ăn nhiều thịt cá sẽ làm tổn thương đến gan thận và dễ gây ra chứng
bệnh xốp xương và ung thư. Các nghiên cứu này cho thấy sự gia tăng lượng
protein thịt dẫn đến sự mất chất vôi (calcium) qua đường bài tiết, cũng
như tăng trưởng bệnh sạn thận. Các quốc gia có tỷ lệ gãy xương cao là Hoa
Kỳ, Na Uy, Đan Mạch.
4.
Các độc tố do sự chăn nuôi:
Ngày nay
vấn đề chăn nuôi đã được công nghiệp hóa. Người ta đã dùng rất nhiều hóa
chất để làm cho súc vật lớn nhanh. Với chất hormone, người ta có thể làm
cho con vật lớn nhanh gấp đôi, gấp ba. Ví dụ: Thời gian cần để cho heo lớn
là hai năm. Với chất hormone, người ta chỉ cần tám tháng là heo đã lớn
bằng con hai năm. Quả thật heo lớn như thổi. Con người tiêu thụ thịt các
con vật đó, rồi cũng lớn như thổi. Các chứng bệnh độc hại cũng từ đó phát
sinh ra.
Gà cũng
thế. Từ lúc chui ra khỏi trứng cho đến ngày vào lò sát sinh, các con gà
này được nuôi trong những chuồng hộp chật hẹp, chỉ đủ chỗ để nằm. Do đó
các con gà này không đi đứng được, chúng bị bại liệt và suốt đời không hề
thấy ánh mặt trời. Chúng ta ăn những con vật bệnh hoạn như thế, thì làm
sao chúng ta có thể khỏe mạnh được.
Bò cũng
thế. Bò là động vật ăn cỏ. Thế nhưng với kỹ thuật chăn nuôi hiện đại,
người ta đã dùng hormone cùng với các ruột lòng phế thải để làm thức ăn
cho bò. Việc chăn nuôi này làm đảo lộn hệ thống tiêu hóa của con vật và
là nguyên nhân gây ra chứng bệnh “bò điên (mad cow disease).” Bệnh này đã
làm mấy chục người bị chết và cả thế giới không ai dám nhập cảng thịt bò
của Anh quốc.
Đối với
nhiều loại súc vật khác cũng thế. Người chăn nuôi chỉ biết làm sao cho
lãi nhanh, lãi nhiều. Còn chuyện độc hại hay không là việc của người tiêu
thụ.
5.
Các độc tố sinh ra lúc con vật bị giết: Các con vật cũng có linh tính
như con người. Chúng ta vẫn thưòng nghe những chuyện kể về các con vật
trước khi bị đưa vào lò sát sinh. Nhiều con trì lại không chịu đi, nhiều
con nưóc mắt ràn rụa. Trong các phim về động vật, cũng có những phim nói
về tình cảm của súc vật. Phim quay cảnh tượng những con voi cứ quây quần
quyến luyến bên xác của voi con suốt mấy ngày. Hoặc cảnh con vượn ôm xác
con kêu la thảm thiết cho đến lúc thây rã nát ra. Hoặc những con chó đã
nhịn ăn khi người chủ qua đời, sau đó nó cũng chết theo. Như thế, ai bảo
súc vật không có tình cảm? Con vật cũng có những tình cảm vui buồn, sợ
hãi. Sự oán hận, sợ hãi trước khi bị giết đã tạo ra những độc tố trong cơ
thể con vật. Chúng ta ăn những độc tố đó vào làm thế nào nội tâm chúng ta
thanh thản được?
Tục ngữ
Việt Nam có câu: “Tham thực cực thân.” Chưa bao giờ chúng ta thấm thía bài
học đó như bây giờ. Ngày nay chúng ta khổ không phải vì thiếu ăn, nhưng
khổ vì sự bội thực.
LỢI ÍCH
CỦA ĂN CHAY
Ăn chay
mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích thiết thực trên cả hai phương diện thể
xác và tinh thần. Trên phương diện thiên nhiên, cơ thể con người được cấu
tạo không phải để ăn thịt, mà để ăn chay. Các loài động vật như cọp, sư
tử có thể tiêu hóa thịt dễ dàng. Còn cơ thể con người không thể nào tiêu
hóa được, nếu chúng ta chỉ ăn toàn thịt mà không có ăn kèm với các loại
rau đậu ngũ cốc khác như gạo, rau cải… Bác sĩ Day so sánh các loài động
vật ăn thịt và ăn rau cỏ cho thấy ruột của loài người dài đến 1m25, rang
nhở không nanh. Điều này cho thấy con người không phải là loài động vật
ăn thịt. Vấn đề ăn thịt có lẽ chỉ bắt đầu từ khi con người tìm ra lửa để
nấu nướng.
1.
Giữ Thân Khỏe Mạnh: Việc ăn chay giúp chúng ta không những phòng ngừa
được các chứng bệnh nan y, mà còn chữa trị được các chứng đó nữa.
-Chất
béo: Chất béo lấy từ thực vật là chất béo không đông đặc. Chất này không
tạo ra cholesterol xấu làm nghẽn sự lưu thông của máu. Trái lại, nó còn
giúp làm giảm lượng cholesterol xấu. Sự ăn chay có thể bảo đảm cho chúng
ta khỏi những tai biến do cholesterol xấu tạo ra. Các chứng động tim
(heart attack), đứt mạch máu não (strokes).
-Chất
xơ: Chất xơ chỉ có trong thực vật. Chất này giúp sự tiêu hóa dễ dàng, làm
giảm cholesterol trong máu. Ăn chay không bị táo bón, không bị các chứng
bệnh về tiêu hóa cũng như ung thư ruột.
-Chất
đạm: các nghiên cứu y học cho thấy trong đậu nành có số lượng chất đạm
bằng với số lượng chất đạm có trong thịt. Và chất đạm thực vật này không
gây ra những chứng bệnh xốp xương hay sạn thận.
Sự ăn
chay giúp cơ thể giảm thiểu các chứng bệnh về tim, chứng đứt mạch máu não,
các chứng bệnh về đường ruột, bệnh xốp xương, các chứng ung thư bao tử,
ung thư ngực, ung thư xương (colon cancer), ung thư nhiếp hộ tuyến
(prostate cancer) và các chứng bệnh truyền nhiễm.
Các
thực phẩm có dược tính cao
-Đậu
nành: có lượng protein nhiều bằng thịt. Tàu hủ hay các sản phẩm bằng đậu
nành có khả năng thay thế thịt. Trong đậu nành có chất
isoflavone-genistein có khả năng ngăn ngừa sự phát triển của ung thư.
-Trà:
trong trà có chất polyphenols làm chận đứng sự phát triển tế bào ung thư
và làm giảm cholesterol cũng như áp huyết cao.
-Tỏi: có
rất nhiều dược tính mạnh. Có khả năng chận đứng sự tăng trưởng tế bào ung
thư, làm giảm cholesterol và áp huyết cao, cũng như hồi sinh các tế bào đã
chết. Ngày nay các hiệu thuốc tây chế thuốc tỏi cho những người không ăn
được tỏi tươi.
-Brocoli
(cải hoa): có chất sulforaphane. Chất này có khả năng giúp cơ thể tạo ra
kháng thể chống lại ung thư.
-Gừng:
giúp điều hòa bộ máy tiêu hóa và giúp khí huyết lưu thông.
-Rong
biển: có những dược tính có khả năng ngăn ngừa ung thư.
-Cà
chua: có chất lycopene có khả năng chống lại các chứng bệnh ung thư.
Các
nghiên cứu y học gần đây cho thấy dân Nhật có tỷ lệ ung thư thấp nhất,
nguyên do là vì người Nhật ăn nhiều rau cải, rong biển, tàu hủ và uống
nhiều trà. Vấn đề tỏi, có người hỏi: ăn chay có nên sử dụng tỏi hay
không? Tỏi là một thực vật có nhiều dược tính nóng không thích hợp cho
vùng nhiệt đới. Chúng ta ở xứ lạnh thì tỏi lại rất tốt. Hơn nữa sử dụng
tỏi để trị bệnh thì không có vấn đề gì. Chỉ khi nào trì chú thì không nên
dùng tỏi, vì tỏi có mùi không tinh khiết.
2.
Giữ Tâm Thanh Thản
Trong
Phật Giáo việc ăn chay là một pháp môn tu tập. Đối với Phật tử tại gia
không bắt buộc phải ăn chay trường, tuy nhiên đối với các vị xuất gia, ăn
chay là điều kiện tiên quyết khi vào chùa. Điều này được xem như một giới
điều. Thành ngữ “trường trai giữ giới” nói lên điều đó. Việc ăn chay
không những giữ thân khỏe mạnh, mà còn giữ tâm thanh tịnh. Vấn đề giữ gìn
sức khỏe chúng ta đã thảo luận ở trên, bây giờ chúng ta thảo luận về vấn
đề giữ tâm thanh thản. Ăn chay có những tác dụng sau:
-Tăng
trưởng lòng từ bi: Một trong các giới điều quan trọng là giới không sát
sanh. Việc ăn chay là sự tỏ lòng thương đối với súc vật. Chúng ta không
nỡ sống trên mạng sống của chúng sanh khác. Có người bảo rằng: Trời sinh
muôn vật cho người hưởng thụ. Nếu thế thì cọp cũng nghĩ rằng: Trời sinh
loài người để làm thức ăn cho cọp!
Có người
nghĩ rằng mình không tự tay sát sinh thì kể như không phạm tội. Tuy nhiên
nếu mình không ăn thì con vật không bị giết. Ngày nay xã hội văn minh,
chúng ta không tự tay giết, nhưng đã có các siêu thị, McDonald giết súc
vật thế chúng ta. Kinh Hồng Danh: “Không tự mình giết, không bảo người
giết, không tán đồng việc giết chóc.” Nhìn kỹ vào trong một miếng thịt
chúng ta sẽ thấy máu me tràn đầy. Nhìn kỹ vào một bữa ăn chúng ta thấy
đầy dẫy sự đau khổ!
Trong
quan niệm bình đẳng của Phật Giáo, sự sống nào cũng là sự sống, cũng có
giá trị ngang nhau. Cho dầu đó là sự sống của một con vật hay một con
người. Khi dòng máu cùng đỏ thì mọi sự sống đều linh thiêng, đều phải
được bảo vệ vì “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.” Với quan niệm luân
hồi, các thú vật đó có khi là người thân của chúng ta.
-Làm
giảm nạn đói: Tình trạng thiếu ăn trên thế giới không phải vì thiếu thực
phẩm nhưng vì sự ăn thịt của loài người. Thống kê cho thấy muốn sản xuất
một ký lô thịt bò người ta cần đến mười lăm ký ngũ cốc. Kỹ nghệ thịt bò
của Hoa Kỳ tiêu thụ số lượng ngũ cốc nhiều hơn tổng số lượng ngũ cốc tiêu
thụ của hai nước Ấn Độ và Trung Hoa. Mỗi năm trên thế giới có mười một
triệu trẻ em bị chết vì thiếu dinh dưỡng. Các nhà dinh dưỡng học ước
lượng rằng nếu mỗi năm Hoa Kỳ chỉ cần giảm một phần trăm số lượng tiêu
thụ, thì số ngũ cốc đó đủ để cứu sống hằng triệu người bị đói trên thế
giới.
-Giữ môi
trường trong sạch: Kỹ nghệ chăn nuôi đã phá hủy rừng để lấy đất nuôi súc
vật. Các nước Trung Mỹ phá hủy cả trăm triệu mẫu rừng để lấy đất nuôi
bò. Chất phế thải do các kỹ nghệ này thải ra nhiều không tưởng tượng
được. Người ta ước tính cứ mỗi quarter pound (phần tư cân) thịt bò người
ta phá hủy 55 square feet (bộ vuông) rừng nhiệt đới Trung Mỹ và thải ra
500 pounds (cân) khí carbondioxide vào khí quyển. Để trồng một pound
(cân) lúa mì người ta cần 25 gallons nước, trong khi sản xuất một pound
(cân) thịt phải cần tới 2500 gallons nước. Ngoài nước uống và không khí bị
ô nhiễm, quả địa cầu cũng bị nóng dần vì hàng triệu tấn khí bị ô nhiễm,
quả địa cầu cũng bị nóng dần vì hàng triệu tấn khí methane thải ra từ các
trại chăn nuôi. Nếu chúng ta không thay đổi cách ăn uống thì đến một ngày
nào đó chúng ta sẽ hủy hoại chính mình và trái đất sẽ trở thành một hành
tinh chết.
Con
Đường Trước Mặt
Qua
những phân tích trên, chúng ta thấy ngày nay vấn đề ăn chay là một nhu cầu
bức thiết để tự cứu mình, cứu các thế hệ con cháu cũng như cứu lấy hành
tinh của chúng ta đang ở. Việc ăn chay không những giúp chúng ta giữ thân
khỏe mạnh, mà còn giữ tâm thanh thản và giữ
môi trường trong sạch. Thực tập ăn chay chúng ta có thể đi từng bước.
Bắt đầu bằng mỗi tuần một ngày, bất kỳ ngày nào, sau đó gia tăng dần.
Điều quan trọng là phải ý thức rằng việc ăn chay là để giữ gìn sức khỏe cá
nhân, gia đình và đoàn thể trong một xã hội đầy ô nhiễm từ vật chất đến
tinh thần.
Như trên
chúng ta nhận thấy cơ thể con người không được cấu tạo để ăn thịt. Do đó
việc ăn chay là bẩm tính tự nhiên. Nếu chúng ta sống ngược với thiên
nhiên thì hậu quả chỉ chuốc lấy đau khổ. Những bệnh tật mà con người chịu
đựng hôm nay chính là hậu quả của việc đi ngược lại với lẽ sống tự
nhiên. Bệnh “Bò Điên” ở trên là một bằng chứng hùng hồn. Và ở con người
những bệnh khùng điên này cũng đang gây đau khổ từ thể xác đến tinh thần
trong các chứng bệnh nan y như ung thư, động tim, đứt mạch máu não,
cholesterol, cũng như những chứng căng thẳng thần kinh (stress). Tất cả
chỉ vì miếng ăn: “Tham thực cực thân.” Đạo Đức Kinh dạy” “Nhân pháp Đạo,
Đạo pháp Tự Nhiên” (nghĩa là: Con người sống theo lẽ Đạo và Đạo sống theo
Tự Nhiên). Việc ăn chay cần kết hợp với việc lạy Phật để dễ dàng phát huy
khả năng an lạc giải thoát tiềm tàng trong mỗi người. Phương pháp tu này
đáp ứng được nhiều phương diện từ thể xác đến tâm linh, mang lại cho chúng
ta an lạc, giải thoát ngay trong đời sống hiện tại. Truyền thống tu tập
Việt Nam cung cấp cho chúng ta những phương tiện cần thiết để duy trì thân
tâm an lạc để sống khỏe, sống vui và sống lâu trong phương pháp “Ăn
Chay, Lạy Phật.”
Tài
Liệu Tham Khảo:
Tâm
Diệu, Quan Điểm Về Ăn Chay Của Đạo Phật, Hoa Sen (California),
1998.
“Fơd in
a Pill” in Health, Mach 1998, pp. 87-92
“Soy
Monograph” by C.Grauds, Pharmacy Times, 1999.
“Phương
Pháp Dinh Dưỡng..” Lá Thư Kim Sơn, số 2, 1998, tr.12.
Chương IV. Pháp Môn Lạy Phật
Pháp
Môn Lạy Phật
Trong
truyền thống tu tập Việt Nam, pháp môn Lạy Phật là một pháp môn rất phổ
biến được thực tập trong hàng xuất gia cũng như tại gia. Các chùa cứ vào
những ngày mười bốn và ba mươi âm lịch đều có các buổi lạy Hồng Danh Sám
Hối. Bây giờ tại hải ngoại chúng ta cũng vẫn tiếp tục tu tập theo truyền
thống đó. Như thế đủ chứng minh tính mầu nhiệm của pháp môn này. Tuy
nhiên, lâu nay chúng ta thực tập thấy có an lạc và lợi ích thiết thực cho
thân và tâm, nhưng không hiểu rõ nguyên nhân tại sao? Lý do nào khiến pháp
môn này mang đến những lợi lạc mầu nhiệm đó.
Sau thời
gian dài sống tại Bắc Âu cũng như Đông Bắc Hoa Kỳ là những vùng rất lạnh
của thế giới, chúng tôi nghiệm ra tại đây có rất nhiều người mắc phải
những chứng bệnh thuộc về phong thấp như đau nhức khớp xương. Nhất là
những người lớn tuổi đến từ các nước thuộc khu vực nhiệt đới. Bác sĩ
khuyên mọi người nên tập thể dục. Ai cũng thấy lời khuyên đó đúng. Vì
sang đây chúng ta ít khi có cơ hội để vận động thân thể cho khí huyết lưu
thông. Chúng ta ngồi quá nhiều, vừa bước ra khỏi nhà đã leo lên xe, đến
sở làm phải ngồi suốt buổi. Ngày này sang ngày nọ cứ như thế. Thêm vào
đó, qua sự ăn uống cơ thể chúng ta tiêu thụ quá nhiều độc tố. Từ đó đủ
các chứng bệnh về tim cũng như ung thư phát sinh. Tuy thế việc tập thể dục
vẫn là vấn đề nan giải. Với những người trẻ tuổi ít gặp khó khăn. Còn
đối với những người lớn tuổi, đây quả thật là một khó khăn lớn. Vì văn
hóa khác biệt, các cụ ta thấy ngại ngùng trong việc đi bơi đi lội, đi đến
nhà tập thể dục để luyện tập thân thể. Đó là chưa kể vấn đề di chuyển
cũng như ngôn ngữ, vì phần lớn các cụ không biết lái xe và tiếng tăm không
thông. Còn việc đi bộ cũng không dễ dàng thực hiện được, vì vào mùa ấm
còn đi lại chút đỉnh, chứ những ngày lạnh chẳng dám hé cửa, đừng nói
chuyện ra ngoài đường. Nếu đi không khéo, trợt tuyết ngã thì khổ thân.
Nói tóm lại là đành chịu chết. Các vị than phiền và không biết phải giải
quyết vấn đề như thế nào. Chúng tôi chỉ khuyên các cụ hãy cố gắng thực
tập pháp môn lạy Phật mỗi ngày, sáng cũng như tối.
Các cụ
theo đó thực tập vài tuần lễ sau đã có người đến chùa cám ơn, nhờ thực tập
pháp môn lạy Phật đã khỏi bệnh. Có vị cho chúng tôi hay sau mấy tuần lạy
Phật, bây giờ đã hết luôn chứng đau lưng. Chứng bệnh mà vị đó đã bị từ
nhiều năm nay, uống thuốc gì cũng không khỏi. Các vị khác cho hay bây giờ
ngủ ngon giấc không mộng mị, các chứng tê nhức cũng đã hết. Còn những
người trung niên cũng cho biết họ đã bán các dụng cụ tập thể dục, vì cứ
mỗi sáng sau khi lạy hai mươi phút mồ hôi toát ra như tắm, như thế thì hơn
thể dục nhiều.
Trong
Các Truyền Thống Phật Giáo
Pháp môn
lạy Phật không phải chỉ có các Phật tử thuộc truyền thống Tịnh Độ thực
hành, nhưng phương pháp này cũng được các truyền thống khác tu tập.
Với Phật
Giáo Tây Tạng vấn đề lạy Phật là một phương pháp tu căn bản. Trong truyền
thống này, khi bắt đầu những kỳ nhập thất dài hạn, thông thường kéo dài ba
năm ba tháng ba ngày, các vị lạt-ma lạy một trăm ngàn lạy. Mỗi ngày từ
sáng đến tối chỉ thực hành lạy Phật. Trung bình mỗi ngày lạy được một
ngàn lạy, và cứ lạy liên tục như thế trong ba tháng mười ngày thì đủ một
trăm ngàn.
Có người
thắc mắc không hiểu lạy như thế có lợi ích gì? Vấn đề này chúng ta sẽ tìm
hiểu cặn kẽ trong phần sau. Đại khái chúng ta có thể hiểu đây là giai
đoạn chuẩn bị cho thời gian “hạ thủ công phu” để nỗ lực tinh tấn
trên con đường khai triển tuệ giác. Sự chuẩn bị này được chú trọng trên
cả hai phương diện thân và tâm.
Sau giai
đoạn lễ lạy đó, tâm hồn hành giả thơi thới, thân thể tráng kiện. Khi đó
vị hành giả cảm thấy như mình được tái sinh từ thể xác đến tinh thần. Cần
hội đủ những điều kiện cần thiết đó thì công cuộc khổ tu của những tháng
năm đến mới thành tựu viên mãn. Chúng ta cũng nên biết rằng, Tây Tạng là
một nước ở trên núi Hy Mã Lạp Sơn, một dãy núi cao nhất thế giới, tuyết
phủ quanh năm. Trong điều kiện khí hậu
khắc nghiệt như thế, nếu không có một thân thể cường tráng một ý chí mãnh
liệt thì khó có thể tiếp tục công việc tiến tu.
Do đó sự
hành trì lễ lạy là một phương pháp tốt để đạt những mục tiêu ban đầu.
Ngoài ra các Phật tử Tây Tạng cũng thực hành phương pháp “nhất bộ nhất
bái” (nghĩa là đi một bước lạy một lạy) trong các cuộc hành hương chiêm
bái các thánh tích như: Cung Potala nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma ngự, các tu
viện nổi tiếng nơi có bảo tháp có các vị tổ sư…
Quang
cảnh rất cảm động chung quanh Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Phật Thành Đạo, là
hàng trăm vị Lạt Ma cùng các Phật tử Âu Mỹ thực hành pháp môn lễ lạy. Họ
cứ lạy từ sáng đến chiều và từ ngày này sang ngày nọ. Cách lạy của người
Tây Tạng cũng khác hơn chúng ta là họ lạy nằm dài hết cả người xuống đất.
Tấm án dùng để lạy trở nên bóng loáng và chỗ hai bàn tay chống xuống để
đẩy dài người ra bọ lõm sâu xuống. Điều đó chứng tỏ họ đã lạy không biết
bao nhiêu ngàn vạn lạy rồi.
Qua
những khảo sát đó, chúng ta hiểu được: Tại sao dân Tây Tạng có thể sống
khỏe mạnh trên đỉnh núi tuyết, nơi lạnh lẽo và thiếu dưỡng khí? Làm thế
nào để có được tín tâm vững chãi nơi Tam Bảo? Làm sao để thành đạt kết quả
tu tập? Những thành tựu đó có thể nói phần lớn nhờ bởi công phu lễ bái.
Chính việc Lạy Phật đã giúp cho dân Tây Tạng sống khỏe mạnh từ thể chất
đến tinh thần, có tín tâm kiên cố nơi Tam Bảo, và thành tựu sự nghiệp tu
chứng. Ngày nay dân tộc nhỏ bé yếu kém đó đã mang Phật pháp truyền bá
khắp nơi.
Tại
Trung Quốc, các Tông phái Phật Giáo từ Tịnh Độ, Thiền, Thiên Thai, đến
Luật Tông, Mật Tông v.v… đều chú trọng vào việc lạy Phật như một hành trì
căn bản. Tịnh Độ Tông có những cuốn kinh dành riêng cho việc lễ lạy như:
-Kinh
Hồng Danh: 108 lạy, kinh sám hối căn bản.
-Kinh
Ngũ Bách Danh: 500 lạy, gồm tên của 500 vị Phật hay Bồ Tát.
-Kinh
Thiên Phật: 1.000 lạy, danh hiệu của một ngàn vị Phật.
-Kinh
Ngũ Thiên Phật: 5.000 lạy, danh hiệu của năm ngàn vị Phật.
-Kinh
Vạn Phật: 10.000 lạy, danh hiệu của mười ngàn vị Phật.
-Thủy
Sám: sách sám hối, vừa tụng vừa lạy, do ngài Ngộ Đạt soạn.
-Lương
Hoàng Sám: bộ sách sám hối, do hòa thượng Chí Công đời vua Lương Võ Đế
soạn để sám hối cho hoàng hậu Hy Thị.
Qua các
kinh đó chúng ta thấy Phật Giáo Trung Quốc đã hành trì pháp môn lạy Phật
nghiêm túc như thế nào.
Ngày xưa
các chùa đều được xây dựng nơi núi cao rừng sâu, tránh cảnh thị thành náo
nhiệt để các hành giả chuyên chú quán chuyến nội tâm. Các ngôi chùa như
Thiếu Lâm Tự được xây dựng trên núi Thiếu Thất, Tổ Đình Thiên Thai Tông
xây trên núi Thiên Thai, Tổ Đình Trúc Lâm xây trên núi Yên Tử. Để có đủ
sức khỏe chống lại sơn lam chướng khí thú dữ, các thiền sinh phải luyện
tập võ thuật và khí công kèm với sự tu tập phát huy tuệ giác. Tổ Sư Bồ Đề
Đạt Ma là người đã khai sáng Thiền Tông tại Trung Quốc, cũng là tổ sư sáng
lập võ thuật tại đây. Các tổ sư đã ý thức rõ ràng sự quan hệ giữa thân và
tâm. Sự thành tựu tuệ giác phải song hành với sự tráng kiện của thân
thể. Khí công và nội lực là những yếu tố quan trọng trong việc phát triển
tâm linh. Không thể nào có được ý chí dũng mãnh trong một thân thể bệnh
hoạn. Từ đó các tổ đã kết hợp hai truyền thống tu luyện của Ấn Độ và
Trung Quốc, truyền thống yoga cũng như các phương pháp luyện công luyện
khí của võ thuật được kết hợp nhuần nhuyễn để chế tác pháp môn Lạy Phật.
Như thế chúng ta thấy Lạy Phật là kết quả tiêu biểu cho những kinh nghiệm
tu tập thoát thai từ sự dung hợp sâu sắc tinh hoa của các nền đạo học đông
phương. Một vị thánh tăng trong thời đại chúng ta là ngài Hư Vân
(1840-1959), ngài đã hành trì “tam bộ nhất bái” (ba bước một lạy) từ Phổ
Đà Sơn về Ngũ Đài Sơn, quãng đường dài bằng đoạn đường từ New York về
Seattle. Trong cuốn Tự Truyện ngài đã kể lại những kinh nghiệm tu chứng
của ngài trong thời gian lễ bái đó. Ngài có được những khả năng phi
thường như nhìn xuyên qua vách, nghe được tiếng từ xa, biết việc vị lai
v.v… Lúc bị chính quyền cộng sản tra khảo dã man, người cai ngục tưởng
ngài chết rồi. Nhưng sáng hôm sau thấy ngài ngồi dậy khỏe mạnh như trước
đó chẳng có chuyện gì xảy ra. Ngài thọ 120 tuổi.
Ngày nay
tại Tổ Đình Vân Môn ở Quảng Đông Trung Quốc, mỗi sáng chư tăng sau thời
công phu bắt đầu lạy ba trăm lạy.
Phật
Giáo Việt Nam cũng như Nhật Bản và Đại Hàn chịu ảnh hưởng sâu đậm Phật
Giáo Trung Quốc. Do đó trong phương pháp hành trì rất chú trọng về lễ
lạy. Phật tử Việt Nam đến ngày nay vẫn duy trì mạnh mẽ phương pháp tu tập
đó. Vào những ngày mười bốn và ba mươi âm lịch, chúng ta có những thời
Hồng Danh Sám Hối. Chúng ta cũng lạy Ngũ Bách Danh, Thiên Phật, Vạn Phật…
Ngoài ra, có người cũng phát nguyện lạy từng chữ trong các bộ kinh lớn như
Pháp Hoa, Bát Nhã, Niết Bàn, Hoa Nghiêm…
Trước
năm 1975, lúc tôi còn ở Chùa Già Lam, Gia Định, mỗi sáng sau thời công
phu, được nghe hòa thượng Trí Thủ xướng hồng danh chư Phật chư Tổ để mọi
người lễ lạy. Giọng Ôn sang sảng vang dội khắp chùa. Thỉnh thoảng Ôn
nhập thất. Trong suốt thời gian đó Ôn trì niệm và lễ bái hồng danh Đức
Phật A Di Đà. Những năm cuối đời Ôn vẫn kiên trì tu tập pháp môn đó. Qua
cuộn băng cassette thu tại Chùa Già Lam vào khoảng năm 1982, chúng tôi vẫn
còn nghe giọng xướng trầm hùng của Ôn và Đại Chúng. Tại Hoa Kỳ, chúng tôi
được biết Tu Viện Kim Sơn tại Bắc Ca-li thực hành chuyên cần công phu bái
sám. Đại Chúng lạy mỗi ngày hai thời và mỗi thời khoảng hai trăm lạy.
Pháp môn này vẫn là pháp môn tu tập chính yếu cho hầu hết các chùa Việt
Nam tại hải ngoại.
Tác phẩm
nổi tiếng về sự hành trì pháp môn lạy Phật này là cuốn Khóa Hư Lục của vua
Trần Thái Tôn soạn. Nhà vua soạn bộ sách sám hối này cũng trong tâm trạng
thành khẩn như ngài Ngộ Đạt sám hối nghiệp chướng nhiều đời, như vua Lương
Võ Đế sám hối quả báo của hoàng hậu.
Như
chúng ta biết vua Trần Thái Tông là vị vua đầu tiên của triều Trần. Dưới
áp lực của thái sư Trần Thủ Độ, cũng là chú của vua, bắt vua phải làm
những việc loạn luân, thất nhân tâm như ruồng bỏ vợ, lấy chị dâu đang mang
thai, cùng chứng kiến những cảnh tàn sát tôn thất nhà Lý. Không chịu nổi
những cảnh tàn ác đó, nhà vua bỏ kinh thành vào núi để xin xuất gia.
Phù Vân
quốc sư đã khuyên nhà vua hãy trở về gánh lấy trọng trách để tìm cách
chuyển đổi chính sách bạo tàn thành chính sách khoan hòa nhân đạo, cũng
như theo đuổi con đường tu tại gia. Nhà vua đã trở về. Sách Khóa Hư Lục
đã được soạn ra trong hoàn cảnh đó. Trong đó nhà vua đã soạn những bài
văn thống thiết để ngày đêm sáu thời lễ bái sám hối cho nghiệp chướng tiêu
trừ, cho quốc thái dân an. Với ảnh hưởng đạo đức của vua Thái Tông, triều
Trần đã trở thành một triều đại quân chủ Phật Giáo hùng mạnh trong lịch sử
với những chiến thắng Mông Cổ oanh liệt. Mông Cổ là đoàn quân bách chiến
bách thắng, xây dựng một đế quốc trải dài từ Âu sang Á, chưa bao giờ bị
thua trận.
Sự
Lợi Ích
Phương
pháp Lạy Phật là kết tinh của những kinh ngiệm tu tập sâu sắc từ những
truyền thống đạo học đông phương. Do đó những lợi ích mang lại từ sự hành
trì pháp môn này vô cùng lớn lao. Sự lợi ích đó đạt được cả trên hai
phương diện thân xác cũng như tinh thần.
Về
Thân: phương pháp Lạy Phật mang lại những hiệu quả sau:
1.
Trước hết, động tác lạy Phật là một phương pháp thể dục tốt. Với
những cử động nhẹ nhàng, nhưng tất cả các bắp thịt trên toàn thân đều được
vận động tối đa. Khác với lúc tập thể dục, vì thông thường khi thể dục
chúng ta không vận động tất cả các bắp thịt đồng đều cùng một lúc. Ví dụ:
khi đi bộ, chúng ta vận động nhiều bắp thịt ở chân. Chỉ có bơi lội chúng
ta mới cử động toàn thân. Trong lúc lạy Phật, tất cả các bắp thịt trên cơ
thể đều hoạt động làm khí huyết toàn thân lưu chuyển giúp chúng ta chữa
trị các chứng thấp khớp, cũng như phòng ngừa các chứng bệnh hiểm nghèo
khác..
2.
Các huyệt đạo quan trọng trên cơ thể được tác động. Từ huyệt bách hội
trên đỉnh đầu xuống đến huyệt đan điền, các huyệt dọc theo xương sống và
các huyệt ở tay chân. Chúng ta cảm thấy có một luồng khí nóng chạy đều
khắp cơ thể và mồ hôi theo các lỗ chân lông tuôn ra. Theo y học đông
phương, một khi các huyệt đạo trên cơ thể được tác động, khí huyết sẽ lưu
chuyển và bệnh tật sẽ tiêu trừ.
3.
Sau khi lạy Phật xong, hãy ngồi xuống chừng mười lăm phút, chúng ta sẽ
có cảm giác an lạc thư thái ngay vì các huyệt đạo được tác động. Sự an
lạc này rất sâu sắc, một kinh nghiệm rất đặc biệt mà chúng ta chỉ đạt được
trong lúc thiền định. Sự an lạc này mang lại cho chúng ta niềm hoan lạc
suốt ngày. Từ đó những phiền não, những ưu tư, những đau buồn… cũng nhanh
chóng tan biến.
4.
Các trọng huyệt này tương ứng với các luân xa trong truyền thống yoga
Ấn Độ. Các luân xa này nằm dọc theo xương sống từ đỉnh đầu xuống đến bàn
tọa gồm bảy luân xa. Một khi được tác động, các luân xa này giúp chúng ta
khai triển được những năng lực mầu nhiệm tiềm tàng trong mỗi người, tạo
điều kiện thuận tiện cho việc phát triển tâm linh.
Về
Tâm: phương pháp Lạy Phật là phương pháp điều tâm để thanh tịnh ba
nghiệp: thân, khẩu và ý (tư tưởng, ngôn ngữ và hành động). Phương pháp
này giúp ta:
1.
Tiêu trừ nghiệp chướng: Trong sự sám hối, thành tâm đảnh lễ mười
phương chư Phật bằng cả thân tâm của mình. Quán chiếu sâu xa nguồn gốc tội
lỗi, cùng bản tánh của tội lỗi. Quán tưởng hào quang chư Phật mười phương
hiển hiện trước mắt, cũng như Phật tánh trong tự tâm tỏa rạng. Nhờ Phật
lực hộ trì cùng nỗ lực tu tâm để thanh tịnh ba nghiệp. Với sự sám hối đó
các ác nghiệp và chướng duyên đều được chuyển hóa.
2.
Thiện căn tăng trưởng: trong khi lễ lạy, hồi hướng cho kẻ thân người
thù đều được lợi lạc, đều được thành tựu sự nghiệp giác ngộ giải thoát.
Như thế Bồ Đề Tâm (thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh) được nuôi
dưỡng, lòng từ bi được phát triển. Sự lễ bái hàng ngày đem lại cho chúng
ta nguồn an lạc vô biên. Sự an lạc này giúp cho phiền não tiêu tan, sự
trầm tĩnh trở lại trong tâm hồn và lòng thương cũng phát sinh đối với
người ghét.
3.
Đức khiêm cung phát sinh: trong khi hạ mình xuống sát đất để lạy Phật,
để thấy những thành đạt của mình chỉ là những giọt nước trong đại dương
bao la. Bác Vũ Xuân Hoài phát biểu trong buổi thảo luận Phật pháp, để
chuyển hóa tâm kiêu mạn của mình, mỗi ngày bác lạy Phật để hồi hướng công
đức về thiên, về địa, về sư trưởng, về ông bà cha mẹ… để cảm nhận trùng
trùng ân nghĩa. Để thấy sự thành tựu của mình hôm nay là công ơn của
nhiều người. Để từ đó tâm khiêm nhường phát sinh. Trong Kinh Đức Phật
thường dạy, tâm khiêm nhường là cửa ngõ của trí tuệ và là con đường đưa
đến giải thoát.
Sự
Hành Trì
Trong
truyền thống Việt Nam, chúng ta có lạy Hồng Danh, Ngũ Bách Danh, Thiên
Phật, Vạn Phật… Tùy theo hoàn cảnh và khả năng để áp dụng lễ lạy cho thích
hợp. Điều quan trọng là sự hành trì đều đặn. Nếu chưa quen chúng ta có
thể bắt đầu bằng ba mươi lạy, rồi sau đó tăng dần cho đến một trăm lẻ tám
lạy (để trừ một trăm lẻ tám phiền n