BỔN PHẬN LÀM
NGƯỜI HIỀN NHÂN
Thích Nhựt Long
Lời tựa
Những
nhà văn chương đạo đức, những bậc thầy đời là một kiến thức xây dựng
cho đời một lối sống ổn định hạnh phúc chung.
Bao giờ
hạnh phúc có liên quan với nhau hạnh phúc đó tồn tại. Những hạnh phúc
ích kỷ cá nhân, hưởng thụ trên mồ hôi nước mắt của người khác chỉ gây
căm hờn không tồn tại.
Bổn phận
làm người nên bậc hiền nhân: là xử thế có một luật quân bình sự tương
quan đối đãi nhau, lấy bụng ta ra bụng người mà nảy sanh ra quân bình,
cũng gọi là luật xử thế, chớ không ai đặt ra nó, lẽ phải duy nhất của
bổn phận làm người hiền nhân, chỉ có một lẽ phải là luật chớ không thể
nào hai phải được.
Không
thể nào nói cái phải của người này là cái quấy của người kia, cái phải
của thời này là cái quấy của thời khác được. Nếu có việc hai phải là
phương tiện, người ta gọi là quyền biến không phải cơ bản, hẳn đó là
phương tiện cá nhân chưa phải quần chúng mà cái quân bình cho nhau mới
là được đặt vấn đề để thực hành.
Người ta
nói phần đông là phải phần ít là quấy. Không! Không nhất định như vậy
được, mà phải quấy là do người biết nhận định phải tìm nguyên lý nó là
một không hai phải bao giờ.
Một
người cha nuôi con đúng tuổi cho ăn học là phải, nhưng một người khác
đem con cho ở đợ để lấy tiền cũng là phải. Vì người mạnh khỏe có tiền
dư khả năng cho con ăn học là phải, không cho con ăn học là quấy. Còn
người nầy nghèo túng đói đau không tiền thuốc men nên đem con đợ là
phải; nhưng cố nhịn chịu hoặc vay mượn chờ mạnh rồi trả không đợ con
là phải hơn. Như vậy người nghèo đợ con là tạm quyền thôi không sao
phải được.
Những
điều mà cái phải phương Tây không như cái phải phương Đông, trái lại
cái quấy ở phương Đông là cái phải ở phương Tây.
Người
phương Tây gặp nhau chào bằng cách bắt tay, lại còn phân biệt bắt tay
người vợ của bạn trước rồi mới bắt tay người chồng sau, như vậy là cái
phải ở phương Tây.
Còn
người phương Đông chào nhau bằng cách chắp tay xá, và xá người đàn ông
trước, như vậy là cái phải ở phương Đông.
Trên đây
là hai cái phải ? Hay là ở đâu theo đó, tuỳ xứ tuỳ người trong đó ta
phải cân nhắc và đặt câu hỏi ? Hai cách, cách nào lịch sự ? Phải hơn
kém chứ!
Luôn
luôn là một phải, tôi muốn nói quân bình là luật xử thế ở trên quả địa
cầu này vẫn là một phải không bao giờ chênh lệch.
Làm cho
xong trách nhiệm vị trí trong bổn phận làm người là bậc Hiền-Nhân đáng
kính rồi mới bước lên bậc Thánh; hay là tu-thiền vì theo Lục-Tổ dạy:
“Xúc cảnh bất động thị đại-thừa thiền“ có nghĩa là chạm cảnh tâm không
động là Đại-Thừa Thiền. Ngày nay dạy Đạo Thiền cho người Phật tử mà
không quan tâm đến bậc Hiền, người xử thế không xong, và cũng không
dạy, mà chỉ dạy Thiền không thì không bao giờ kết quả.
Xưa vua
Trần Nhân Tôn ngồi trên ngôi vị vua mà tu ngộ Thiền là vì biết làm
tròn trách nhiệm thương dân thương nước mà tu chứng.
Ngày nay
người ở vị trí nào làm tròn trách nhiệm rồi mới có thể tu Thiền. Soạn
giả tuy cố gắng cống hiến cho Đạo và Đời nhưng còn mong bậc cao minh
chỉ giáo cho.
Bần tăng
THÍCH NHỰT LONG
BỔN PHẬN LÀM NGƯỜI HIỀN NHÂN
Lấy
tinh thần lợi tha vô ngã thành thật xây dựng cho nhau dựa theo nguyên
tắc từ-bi, bình đẳng, từ xưa đến nay đã có nhiều thời làm và cũng có
lắm lúc bị bỏ lãng đi; thời nào có thực hành theo đó thì thời đó có
nhiều hạnh phúc cho nhân quần xã hội, trái lại thời nào mà bỏ đạo đức
từ bi, bình đẳng thì thời đó mất sự quân bình, nhân dân bị xáo trộn
điêu đứng khổ sở đầy khốc hại.
Từ bi là
ban vui cứu khổ, chính con người cùng con người ban vui cứu khổ cho
nhau chứ không phải thần thánh nào ban vui cứu khổ được, chỉ có Phật
dạy cho ta làm.
Như vậy
đạo từ bi xây dựng cho nhau có quy tắc gọi là luật xử thế.
Xử thế
có phương pháp gọi là luật. Hòa nhã chia sớt nhau gọi là xử, chung
nhau sống gọi là thế. Luật này bắt tay cùng nhau chia phần xây dựng
chung. Không phải tự tay ai làm ra luật này, mà chung nhau sống quân
bình gọi là luật xử thế. Bắt tay nhau chia phần mà lo cho đời thành ra
mọi người đều có bổn phận và làm nên bậc hiền nhân.
Bổn phận
hay là bổn phần, phần có phần chính, phần phụ; mỗi người khi đứng vào
vị trí nào phải làm tròn phần chánh (bổn phận), ngoài ra còn một ít
phần phụ (chi phần).
Từ xưa
đến nay, người ta chỉ xoay qua xoay lại hai đường lối là : Nhân trị
hay pháp trị, cũng gọi là nhu và cương. Lấy nhu mà trị dễ cảm hóa
thiên về tình cảm; cương trị là căng thẳng theo pháp luật hình luật
trị răn dạy thiên về lý trí.
Vẫn theo
hai lề lối trên xoay qua xoay lại, không khi nào thăng bằng được, nếu
có được thì chỉ tạm thời thôi, về khi dùng nhu thì lần đến chúng khinh
nhờn mất trật tự; trái lại dùng cương để trị lâu ngày dân chúng sanh
ra thán oán.
Hiền
nhân xử thế không phải cương không phải nhu mà dung hòa cả cương và
nhu. Từ bi và trí tuệ phối lại quân bình mới tồn tại. Dung hòa quân
bình là duy nhất nên gọi lý có một mà thôi.
Hiền
nhân xử thế là một cán cân công bằng, chia cho người từ giai đoạn thay
phiên nhau mà làm; làm cho tròn là nên tốt và hạnh phúc, không làm
tròn thì hư xấu là khổ không sao hơn được.
Ở đây
chỉ dẫn tích rồi phê bình lợi và hại, người không làm tròn hại như thế
nào? Người làm tròn lợi như thế nào? Và người xưa làm như vậy đúng
không, đúng ở chỗ nào ? Không đúng ở chỗ nào? Còn về phần chi tiết của
bổn phận chỉ nói sơ thôi, vì vậy cho nên không có chương mục, chỉ đại
khái có 20 bổn phận:
1 - Bổn phận thầy đối với trò
2 - Học trò đối với thầy
3 - Cha đối với con
4 - Con đối với cha
5 - Mẹ đối với con
6 - Con đối với mẹ
7 - Mẹ chồng nàng dâu
8 - Chồng đối với vợ
9 - Vợ đối với chồng
10 - Bổn phận người lãnh đạo
11 - Bổn phận người làm dân
12 - Anh đối với em
13 - Em đối với anh
14 - Đối với bằng hữu
15 - Với bà con chòm xóm
16 - Chủ đối với
người làm công
17 - Người làm công đối với
chủ
18 - Nam nữ đối với nhau
19 - Đối với cầm thú
20 - Những điều
phải có để làm người hiền.
1. BỔN PHẬN THẦY ĐỐI VỚI TRÒ
Sửa điều
dở cho ai chớ nghiêm khắc quá.
Dạy
điều hay cho ai chớ cao xa quá.
Làm
ông thầy dạy cho học trò là nắm bảy mươi phần trăm quyền hướng đạo cho
thế hệ, thật là quan trọng. Dạy học mà chỉ chuyên văn chương mong cho
học trò đỗ đạt để được tiếng, hay hưởng lương bổng thôi, thật là lầm
to lắm vậy.
Khi bước
vào ngưỡng cửa nhà trường thì học trò đã đặt một niềm tin và sợ thầy
rồi. Như vậy ngay ban sơ bổn phận ông thầy phải làm cho học trò giữ
mãi tư tưởng đó, thì sự làm bổn phận ông thầy không thấy khó nữa.
Điều căn
bản là ông thầy phải gương mẫu đạo đức đúng với tư cách làm người đàng
hoàng, luân thường lễ hạnh và dạy điều đó cho học trò, rồi sau dạy văn
chương “tiên học lễ hậu học văn“: Trước dạy lễ rồi sau dạy văn.
Văn
chương là con dao bén hai lưỡi
Văn
chương là mũi nhọn hai đầu
Văn
chương là cô gái đẹp
Văn
chương là một vũ tướng vô địch.
Con dao
bén trong tay người đạo đức, họ sẽ dọn gai góc phá rừng hoang trở
thành đường đi tốt, ruộng vườn thạnh mậu; trong tay kẻ ác là cướp của
giết người gây ra cảnh đau thương thảm khốc!
Mũi nhọn
hai đầu trở qua cũng hại trở lại cũng hại, người ác học giỏi cũng thế,
học giỏi chỉ trợ duyên thêm đạo ác.
Cô gái
đẹp quyến rũ người rồi tự do dẫn dắt theo ý muốn; muốn làm thiện thì
cô gái tăng thêm vẻ đẹp, làm ác thì trở thành xấu xí ghê tởm.
Vũ tướng
phục vụ chính nghĩa thì lợi nước an dân; tham lam tàn bạo thì làm cho
dân tình điêu đứng nhà tan cửa nát chết chóc chia ly, thành tan nước
mất.
Cũng thế
văn chương đem ra xây dựng đạo đức phục vụ cho xã hội dạy dỗ cho nhân
dân thì lợi nước an dân đời hưởng thái bình; dùng để phục vụ cho tham
lam xảo quyệt độc tài mưu toan danh lợi thì trở thành một lợi khí tàn
ác nhân dân điêu đứng nuốt hận ngàn đời.
Ngòi bút
là con dao bén hai lưỡi. Bổn phận ông thầy là một người đạo đức văn
chương, dạy học trò để sử dụng con dao, mũi nhọn, cô gái đẹp, vũ tướng
thì tất cả đều phục thiện làm nên hiền nhân.
THƯỜNG TUNG VÀ LÃO TỬ
Thường
Tung đau nặng nằm trên giường, Lão Tử đến thăm hỏi rằng:
- Tôi
xem tiên sinh bệnh nặng, dám hỏi tiên sinh còn câu gì để dạy thêm đệ
tử chúng con học nữa chăng?
Thường
Tung nói:
- Qua
chỗ cố hương mà xuống xe người biết điều ấy chưa?
Lão Tử
thưa:
- Qua
chỗ cố hương mà xuống xe có phải là người không quên quê cha đất tổ
không?
- Ừ!
Phải đấy! Qua chỗ cây cao mà bước rảo chân, ngươi biết điều ấy chưa?
- Qua
chỗ cây cao mà bước rảo chân là kính bực già cả phải vậy không?
- Ừ!
Phải đấy!
Thường
Tung há miệng ra rồi hỏi:
- Lưỡi
ta còn không?
Lão Tử
thưa:
- Còn.
- Răng
ta còn không?
- Rụng
hết cả.
- Thế
ngươi có hiểu điều đó không?
Lão Tử
nói:
- Ôi!
Lưỡi mà còn có phải tại mềm không? Răng mà rụng hết có phải tại cứng
không?
- Ừ!
Phải đấy! Việc đời đại để như thế cả; ta không còn gì để nói cùng các
ngươi nữa.
Luận
Dạy học
căn bản cho học trò là văn nói về lễ văn chương về hiền nhu há chẳng
phải lễ và văn gồm học cả cũng là một thuyết dạy dung hòa cho học trò
- tất cả người đều học trò - đối xử với nhau được quân bình là điều
quan hệ đầu tiên; mà cũng là lời trối trăn di chúc cho học trò sau
cùng.
Thường
Tung đến chết vẫn giữ tư cách gương mẫu và vẫn đem những điều gương
mẫu dạy cho đệ tử. Coi như điều đó là quan trọng nhất không gì hơn nên
ngài nói : Ta không còn gì để nói với các ngươi nữa.
Là không
còn gì hơn những điều đó, làm được vậy là nên hiền nhân vậy.
TỪ TUÂN
MINH DẠY MÃNH LƯỢC
Từ
Tuân Minh người ở Hoài Âm, vóc người to lớn mồ côi thưở nhỏ, tánh hiếu
học. Khi mười bảy tuổi theo học với Mao Linh Hòa rồi sang học với
Vương Thông ở Sơn Đông, rồi bỏ qua Yên, lại bỏ Yên sang Triệu học với
Trương Ngô Quý.
Ngô Quý
dạy học trò rất đông, Tuân Minh dụng tâm học vài tháng, rồi nói riêng
với bạn rằng:
- Thầy
ta danh tiếng tuy lừng lẫy, song nghĩa lý không được quán triệt, phàm
những câu thầy giảng thuyết phần nhiều không được thỏa mãn. Ta định đi
tìm thầy khác vậy.
Rồi cùng
với Mãnh Lược sang Phạm Vương học với Tôn Mãi Đức, nhưng học vừa một
năm Tuân Minh lại bỏ đi.
Mãnh
Lược nói với Tuân Minh rằng:
- Anh
tuổi còn trẻ theo thầy học hành, chẳng chịu chuyên học một thầy, cứ
nay thầy này mai thầy khác, nay tìm đến mai bỏ đi, xa xôi ngàn dặm,
học hành như vậy sợ không thành được.
Tuân
Minh nói:
- Ta nay
mới biết chỗ ở của ông thầy, đích thật là ông thầy.
Mãnh
Lược hỏi:
- Ở đâu?
Tuân
Minh chỉ vào tâm nói:
- Đây,
chính là chỗ này.
Luận
Học tất
phải nhờ thầy, tục ngữ nói:
“Không
thầy đố mầy làm nên“.
Thật vậy
học không thầy làm sao nên được, nhưng chỗ bí yếu là tại tâm; đâu nên
bắt buộc học trò cứ học theo mình, mình là người chỉ đường, còn đi
đường là của mỗi người học trò.
Tuân
Minh dạy Mãnh Lược học hỏi ông thầy tự tâm, là chổ chí thật của mỗi
người đều có, mà dạy như vậy là mong cầu học trò tiến bộ hơn mình. Làm
thầy không tự cao mà mong học trò tiến bộ hơn mình là bổn phận cao qúy
của ông thầy.
Nếu phân
tích ra điều nầy là con người có con tim và khối óc, tim thiên về tình
cảm, óc thiên về lý trí. Lý trí dụng cương, tình cảm dụng nhu. Nay
Tuân Minh chỉ học tâm là dạy phải lấy nhu mà xử thế . Đây là lối dạy
qui tâm và cũng là lối dung hòa quân bình nữa vì thầy lấy quyền dạy
cho học trò, nhưng cho học trò có chút quyền tự xét. Hay nói cách khác
hơn là thầy đem cái hay dạy học trò rồi cho học trò tự khai thác cái
hay của mình. Làm thầy không độc đoán văn chương xưa không quyết định,
bất cứ việc gì càng ngày càng tiến bộ ắt có những cái hay mới sửa đổi,
mới để nên bậc hiền nhân.
“Các
người phải tự thắp đuốc mà đi“.
“Lời ta
dạy như ngón tay chỉ trăng, các người nhơn ngón tay mà vượt tầm mắt
lên mới thấy trăng“.
Lời của
Bổn Sư Thích Ca:
Bổn phận
đạo sư phải là thầy.
Oai nghi
đức hạnh trọn nên đầy.
Nêu
chiếc thoàn từ vượt lối này.
Gươm huệ
long lanh trừ lục tặc.
Đèn từ
chói lọi phá đêm dài.
Một cành
nở nhụy rừng thơm ngát.
Thành
đạo một người độ vạn người.
2. BỔN PHẬN HỌC TRÒ ĐỐI VỚI
THẦY
Muốn
cho có một cán cân quân bình trật tự cho xã hội phải có sự tương đối,
tương xứng: Thầy đã làm tròn bổn phận đối với trò, lẽ tất nhiên trò
phải đối với thầy.
Cha mẹ
sanh ta xác thân, nuôi nấng ta hình vóc. Thầy dạy ta về mặt văn chương
đạo lý, nuôi dưỡng ta to lớn về mặt tinh thần. Ân cha mẹ nặng nề bao
nhiêu thì ơn thầy cao cả bấy nhiêu. Chỉ có nuôi lớn xác thân mà thiếu
tinh thần đạo đức thì không ra con người .
Vậy học
trò đối với thầy, phải biết công ơn dạy dỗ, làm thế nào để đền bù lại,
bằng hai cách:
Tùy khả
năng giúp đỡ về vật chất, và quyết định theo con đường đạo đức cho nên
danh hiền cũng là nên danh thầy.
Lại nữa
sự học bất cứ ai hay hơn là mình học không câu nệ tuổi tác:
“ Bất sĩ
hạ vấn “.
Huỳnh Đế
học với Quảng Thành, Thiện Tài đồng tử học năm mươi ba nơi, Tổ Huệ Khả
chặt tay cầu pháp, Khổng Tử học với Hạng Thát.
KHỔNG TỬ
HỌC HẠNG THÁT
Khổng
Tử tên là Khưu, tên chữ Trọng Ni, dạy học ở phía Tây nước Lỗ. Một hôm
ngồi xe cùng đồ chúng đi du ngoạn, giữa đường gặp một số trẻ chơi
giỡn, có một đứa không đùa giỡn.
Khổng Tử
dừng xe lại hỏi:
- Riêng
ngươi không giỡn là sao?
Tiểu Nhi
đáp:
- Chơi
giỡn không ích, áo rách khó vá, trên làm nhục cha mẹ dưới đến người
trong nhà, ắt có tranh đấu, nhọc mà không công, vốn không ích nên tôi
không giỡn.
Tiểu Nhi
đáp rồi bèn cúi đầu lượm gạch làm thành.
Khổng Tử
rất quý hỏi:
- Sao
không tránh xe?
- Từ xưa
đến nay xe tránh thành, chớ thành tránh xe bao giờ?
Khổng Tử
liền xuống xe luận nói, xuống xe rồi hỏi rằng:
- Ngươi
tuổi còn nhỏ sao lại xảo trá vậy?
Tiểu Nhi
đáp:
- Người
sanh ba tuổi phân biệt cha mẹ, thỏ sanh ba ngày chạy cùng mẫu ruộng,
cá sanh ba ngày lội cùng sông hồ, trời sanh tự nhiên có gì xảo trá?
Khổng Tử
hỏi:
- Ngươi
ở làng nào, xóm nào, họ gì, tên gì, tự là gì?
Tiểu Nhi
đáp:
- Tôi ở
làng Thường ấp Tệ, họ Hạng tên Thát, chưa có tên chữ.
Khổng Tử
nói:
- Ta
muốn cùng ngươi du ngoạn, ý ngươi thế nào?
Tiểu Nhi
đáp:
- Nhà có
cha nghiêm phải nghe theo, nhà có mẹ hiền phải lo nuôi dưỡng, nhà có
anh hiền cần phải thuận theo, nhà có em dại cần phải dạy bảo, nhà có
thầy sáng cần phải lo học, đâu có nhàn rỗi mà du ngoạn.
Khổng Tử
nói:
- Trong
xe ta có ba mươi hai con cờ, ta cùng ngươi đánh bạc, ý ngươi thế nào?
Tiểu Nhi
đáp:
- Vua mê
cờ bạc, không xem bốn biển, chư hầu mê cờ bạc hư hại chánh kỷ, nho sĩ
mê cờ bạc phế bỏ học vấn, tiểu nhơn mê cờ bạc hư việc nhà, đày tớ mê
cờ bạc ắt bị roi vọt, người nông mê cờ bạc ruộng mùa thất thời, cho
nên không cờ bạc.
Khổng Tử
nói :
- Ta
muốn cùng ngươi bình thiên hạ, ý ngươi thế nào?
Tiểu Nhi
đáp:
- Thiên
hạ không thế bình: hoặc có núi rừng, hoặc có sông hồ, hoặc có vương
hầu, hoặc có tôi tớ. Ban bằng núi rừng chim thú ở đâu? Lấp bằng sông
hồ cá trạnh về đâu? Trừ bỏ vương hầu dân nhiều thị phi; bỏ hết tôi tớ
quân tử nhờ ai? Thiên hạ minh man đâu thế bình được?
Khổng Tử
hỏi:
- Ngươi
biết trong thiên hạ, lửa gì không khói? Nước gì không cá? Núi gì không
đá? Người nào không vợ? Gái nào không chồng? Trâu gì không nghé? Ngựa
gì không con? Thế nào quân tử? Thế nào tiểu nhơn? Thế nào không đủ?
Khi nào có thừa? Thành nào không chợ? Người nào không tên chữ?
Tiểu Nhi
đáp:
- Lửa
đóm không khói, nước giếng không cá, núi đất không đá, người tiên
không vợ, ngọc nữ không chồng, trâu đất không nghé, ngựa cây không
con, hiền là quân tử, ngu là tiểu nhơn. Ngày xuân không đủ, ngày hạ có
thừa, hoành thành không chợ, tiểu nhơn không tên chữ.
Khổng Tử
hỏi:
- Ngươi
biết cha mẹ thân hay chồng vợ thân?
Tiểu Nhi
đáp :
- Cha mẹ
thân, chồng vợ không thân.
Khổng Tử
nói :
- Chồng
vợ sống đồng chăn, chết đồng huyệt sao gọi là không thân?
Tiểu Nhi
đáp:
- Người
sanh không vợ như xe không bánh, không bánh thì tạo bánh xe mới, vợ
chết bèn cưới vợ mới, con gái nhà hiền ắt có chồng qúy. Mười gian nhà
rộng gác một đòn dông, ba cửa song, sáu cửa sổ không bằng ánh sáng cửa
cái, các sao tuy sáng không bằng trăng sáng. Ân cha mẹ không quên vậy.
Khổng Tử
khen rằng:
- Hiền
thay! Hiền thay!
Tiểu Nhi
hỏi Khổng Tử rằng:
- Nãy
giờ ngài hỏi Thát, Thát mỗi mỗi đều đáp, nay Thát cầu người dạy một
lời, cho Thát biết thêm xin ngài chớ bỏ:
- Vịt,
ngỗng sao nổi? Hồng nhạn sao kêu lớn? Tùng lá sao mùa đông vẫn xanh?
Khổng Tử
đáp:
- Vịt,
ngỗng hay nổi nhờ có nhiều lông. Hồng nhạn kêu lớn nhờ có cổ dài. Tùng
lá mùa đông vẫn xanh nhờ đặc ruột.
Tiểu Nhi
nói:
- Không
phải vậy! Cá trạnh hay nổi nào có nhiều lông. Ếch, ễnh ương kêu vang
nào có cổ dài. Tre-trúc mùa đông vẫn xanh nào có đặc ruột.
Tiểu Nhi
lại hỏi:
- Trên
trời bao la có bao nhiêu sao?
Khổng Tử
nói:
- Nãy
giờ bàn việc dưới đất đâu nói việc trời?
Tiểu Nhi
hỏi:
- Dưới
đất minh mang có bao nhiêu nhà?
Khổng Tử
nói:
- Nên
luận việc trước mặt, đâu nên nói trời luận đất?
Tiểu Nhi
hỏi:
- Như
luận việc trước mặt thì có bao nhiêu lông mày ?
Khổng Tử
cười mà không đáp, day lại kêu các đệ tử nói rằng:
- Hậu
sanh khả uý! Nào dè sự cầu học đâu hơn bữa nay.
Rồi lên
xe đi.
Luận
Qua giai
thoại trên ta thấy đức Khổng Tử còn kính một em bé thông minh, huống
gì chúng ta là học trò mà không kính nể thầy.
Sự kính
nể này quan trọng lan ra cả một trường đời, nếu học trò quý sự học,
biết nể thầy thì xã hội chỗ nào cũng là chỗ ta học, thời nào ta cũng
cung kính dè dặt học hỏi, người nào ta cũng cung kính nghe học, học
thêm với nhau thì xã hội này có gì đẹp bằng, đó là then chốt thêm cho
cán cân quân bình nên bậc hiền nhân vậy.
THẦY TĂNG
TỬ HỌC VỚI ĐỨC KHỔNG TỬ
Tăng
Tử nói với đức Khổng Tử:
- Tôi
biết thầy có ba điều, tôi học mãi mà chưa làm được:
1) Thấy
người ta có một điều phải mà quên cả trăm điều quấy của người ấy là
thầy dể tánh.
2) Thấy
người ta có điều gì phải thì vui vẻ như mình có, thế là thầy không
ganh tỵ.
3) Điều
gì phải nhất quyết làm rồi mới nói thế là thầy chịu khó.
Nhà thầy
là người dễ tính, không ganh tỵ hay chịu khó, ba điều đó tôi học mãi
mà chưa có thể làm được.
Luận
Thầy
Tăng Tử vừa biết học vừa biết trọng cái đáng trọng thầy:
Biết
học là biết học về đức độ trước để sau này nên danh phận một bậc hiền
nhân quân tử, được một sự nghiệp có giá trị; không vì chuộng hư danh
chỉ khư khư học lấy mớ văn chương để mong đỗ đạt giành được địa vị
quyền thế vô đạo đức.
Biết
trọng đức của thầy hơn trọng tài ba, biết rằng tài đức phải đi dôi
nhưng nếu ông thầy chỉ khư khư có một việc tài mà không có đức thì thà
ta lánh đi xa còn hơn.
Đã học
với bực thầy có tài có đức rồi thì ta phải biết ơn thầy để bù lại thầy
đã vì ta mà dạy dỗ cho ta nên bậc hiền nhân vậy.
ĐỨC KHỔNG
TỬ HỌC VỚI LÃO ĐAM
Đức
Khổng Tử từ nước Lỗ vào kinh đô nhà Chu, hỏi lễ với Lão Đam, hỏi nhạc
với Trành Hoằng. Xem xét cả giao xã, minh đường cùng triều đình tôn
miếu.
Khi ra
về, Lão Đam theo tiễn chân và nói rằng:
- Ta
nghe người giàu sang tiễn người thì dụng của cải, người nhân hậu tiễn
người thì dùng lời nói, ta không giàu sang nhưng mang tiếng là nhân
hậu, vậy xin tiễn người bằng lời nói vậy:
- Này!
Phàm kẻ sĩ đời nay, những người thông minh sâu sắc, xét nét mà có khi
thiệt mạng đều là kẻ hay chê bai nghị luận tâm sự người ta cả; những
người biện bác rộng rãi xa xôi, mà có khi khổ thân đều là kẻ hay bói
móc phơi bày tội lỗi người ta cả.
Đức
Khổng Tử nói:
- Vâng,
xin kính theo lời dạy.
Luận
Học trò
kính thầy cốt là kính trọng lời nói phải. Khi Lão Đam nói dứt lời đức
Khổng Tử đã tỏ lòng kính trọng chân thật tự nơi cõi lòng mà thốt ra
lời nói :
“Vâng
xin kính theo lời dạy“.
Ta là
học trò nên học theo đức Khổng Tử. Vậy học trò đối với thầy phải biết
công ơn dạy dỗ làm thế nào để bù lại:
*
Phải tôn trọng thầy như cha mẹ, phải noi gương mẫu thầy (nếu là ông
thầy gương mẫu).
*
Phải thăm nom giúp đỡ thầy khi nghèo túng đau ốm.
*
Phải nghĩ đến sự nghiệp quốc dân để làm nên nghiệp cho vui lòng thầy.
Người
hiền nhân quân tử rất trọng học và kính thầy sẽ nên bậc hiền nhân vậy.
“Thầy
như lạch nước dòng sông
Nếu
không lòng lạch nước thông bao giờ
Trong
mắt người có ngươi mới tỏ
Sách
không thầy mới ngỏ làm sao?
Xưa nay
giáo pháp truyền trao
Không
thầy há dễ mặt nào nên thân “.
( Kệ
của Hòa thượng Thiên Thai )
3. BỔN PHẬN CHA ĐỐI VỚI CON
Tuy
nói là cha mẹ sanh con xác thân, thầy sanh con tinh thần, nhưng thầy
dạy trò dù sao cũng nặng về mặt văn chương hơn là luân lý tình cảm gia
đình.
Tình cảm
luân lý về gia đình là cốt cán bổn phận của người cha. Trước tiên
người cha phải nuôi con, cho con được ấm no là điều kiện tiên quyết,
dầu nghèo khổ cách nào, có thể hạn chế chớ không thể không mà được.
Tôi đã
thấy nhiều người cha làm không tròn bổn phận, làm cha chỉ cứ đòi quyền
làm cha, làm như vậy sao gọi “Phụ từ tử hiếu“ và mất thăng bằng cho
cán cân xã hội không phải ít.
Trường
hợp như anh A lớn lên được sống trong gia đình giàu sang, rồi từ nhỏ
đến lớn khi có con chỉ biết ăn không ngồi rồi, khỏi phải lo nuôi dưỡng
gì cho con hết, chẳng những vậy mà còn phung phí ăn chơi cho đến khi
con được mười hai mười ba tuổi thì sự nghiệp tiêu tan hết sạch. Anh A
đã không làm được chút nào bổn phận làm cha, bây giờ lại đòi quyền làm
cha nói với con rằng:
- Tao
sanh bây ra, nuôi bây lớn, giờ đây bây phải nuôi lại tao. Rồi đem con
cho ở đợ lấy tiền ăn nữa, không biết gì đến sự ngu dốt cực khổ của
con, mãi đến già chết con cũng còn ở đợ mà trừ không hết nợ.
Rồi thì
đứa con đó sẽ thành đứa con hoang vì đâu có được thừa hưởng gì của
cha, đâu có đến trường học hỏi. Đành là nó đứa con hoang không hơn
được.
Trong xã
hội, trẻ hoang vẫn còn, cộng thêm số trẻ sớm mất cha mẹ mà lại không
được ai chăm sóc thì rất dễ sinh trộm cắp, móc túi, giật đồ, cướp bóc,
xì ke...
Thử tìm
tâm lý thực hành tình cảm xem coi tại em đó đi hoang hay tại người cha
không làm tròn bổn phận bỏ cho nó đi hoang không phải tự tánh nó
hoang.
Thí dụ
anh B sanh con rồi không lo cho con cơm ăn áo mặc, bỏ lăn lóc vất vả
nhờ cơm dư canh thừa của cô dì chú bác chòm xóm; sống nheo nhóc ốm gầy
miễn cưỡng sống còn, về tinh thần mất hết tình cảm cha con, mẹ con
trong cảnh lạt lẽo và tập quen tánh ăn nói thô lỗ tục tằn. Tuy ốm gầy
nhưng độ mười ba mười bốn tuổi cũng có khả năng làm được ít việc. Bây
giờ anh B lấy quyền làm cha, đem con cho ở đợ chăn trâu bò cho ông
Xoài, ông Ổi lấy tiền để tiêu xài. Cực khổ quá đứa con vô phước ấy
chịu không kham, phần bị chủ đánh đập mắng chửi dồn dập:
Sáng sớm
hốt phân quét chuồng, rồi lùa trâu ra đồng, đói, lạnh, muỗi mòng bu
cắn, tay chân lở loét, đến chín mười giờ mới lùa trâu về bụng đói tay
run mắt mờ, mới ăn được bữa cơm thừa. Trong những cơn bụng đói hoành
hành cho nên thấy trái dừa, trái cam, bất cứ vật gì ăn được là nó đớp
ngay và ăn ngon lành; nhiều khi đồng bọn tụ năm tụ bảy trộm gà trộm
vịt gạo nếp nồi niêu đem ra đồng nấu ăn, cứ mỗi lần bị bắt là phải đòn
bầm mình, sưng mặt quẹo tay què chân, bị đòn bịnh đau ốm không ai biết
tới, rồi sáng sớm cũng phải lùa trâu ra đồng như thường lệ.
Khổ sở
hoành hành lâu ngày em mong mỏi mãn tháng hết năm lại về nhưng chưa
mãn năm nầy thì người cha lãnh tiền năm khác rồi chừng nào mới mãn?
Cực khổ
dằng dai em đánh bạo trốn về nhà, ông cha lại bất chấp phải quấy cứ
đánh mắng:
- Mầy đồ
bất hiếu! Sanh mầy ra nuôi đến lớn giờ nầy cho mầy ở để lấy tiền, trả
công ơn tao, rồi mầy trốn về, chủ nợ đến cào nhà cho mầy xem.
Rồi bị
cha đánh đập, ở nhà không được, đến ở không kham, lẽ tất nhiên em phải
đi hoang; rồi cùng d0ồng nghiệp tụ năm tụ bảy đánh liều, ăn cắp vặt,
móc túi để mua ăn, lắm lúc đói quá, bươi móc những đống rác lượm những
vỏ úng trái thúi ăn càn ăn bừa.
Có nhiều
lần móc túi, mánh khoé giựt tiền bị cảnh sát bắt được thì tha hồ mà ăn
đòn. Người ta nói em bé gan lì lợm. Không gan dạ ai chịu cho, không lì
lợm chết đói sao?
Bây giờ
ta hãy đặt ra một vấn đề ổn thỏa - đặt ra thôi - để xem coi em đó vốn
có tánh hoang hay tại xã hội tệ hại thúc đẩy em đi hoang?
Có người
bảo:
- Anh B,
anh nên suy nghĩ lại, con anh đi hoang là tại anh thiếu bổn phận làm
cha, lại dành quyền làm cha quá lạm, nên nó chịu không kham túng thế
phải bỏ đi hoang. Nay tôi đứng ra làm mạnh thường quân, cho anh số bạc
và còn giúp anh nhiều lần nữa, anh hãy tìm con an ủi nó đem về nuôi
nấng, xem coi nó có chịu về hay là nó thích đi hoang?
Anh B
vẫn còn chút lương tâm, thoạt nghĩ đến tình cha con, và được sự giúp
đỡ của mạnh thường quân, lãnh số tiền rồi đi tìm con.
- Ồ! Kìa
con ta! Cảm động quá khi thấy con mình lang thang rách rưới, đang bươi
xới đống rác moi lấy cùi dứa nhai lấy nhai để.
Chợt
thấy cha nó sợ quá tự nghĩ: Mình đã bỏ trốn chắc chủ nợ làm dữ, nay
cha bắt đem về thế nào cũng phải chết về đòn bọng.
Nó liền
đâm đầu chạy lẫn vào đám đông rồi chuồn mất. Bây giờ anh B mới thấm
thía lòng đau buốt mà ra nước mắt. Anh cố gắng rình mò quyết tìm cho
được con.
May
thằng nhỏ vừa trong ngõ hẻm chui ra không kịp thấy cha nó chợp cánh
tay, nó run lên và xỉu.
Ôm con
vào lòng …
Em bé
nghe giọt nước mắt ấm nhểu trên mặt nó mở mắt ra thấy cha chưa kịp nói
gì.
Anh B
liền nói:
- Con!
Con giận cha lắm phải không con? Ôi! Cha tệ bạc, con giận cha là phải.
Nó nói:
- Con sợ
cha chứ con không dám giận.
- Bây
giờ cha đã biết thương con, tìm kiếm suốt mấy hôm liền mới gặp con,
thế rồi con bỏ chạy làm cho cha quá đau khổ buồn tủi. Bây giờ cha
thương con hơn thương mình, bao nhiêu sự yêu thương cha trút hết cho
con. Đem con về cha làm tròn bổn phận cha.
Em bé
lòng nhẹ lên ôm chầm lấy cha, miệng nó nói:
- Con
đói lắm!
- Con
hãy lê lại quầy hàng cha sẽ cho con ăn.
Em bé
rất sung sướng xem như trên đời này chưa có gì bằng. Em ăn ngon lành
no nê rồi theo cha về nhà.
Vấn đề
đặt ra, nhưng kỳ thật nó sống động về tâm lý hẳn như vậy. Nếu có người
làm cha tệ bạc, bỏ con đi hoang như vậy nay làm như anh B xem coi có
xảy ra như vậy không?
Quả
quyết như vậy. Đọc chuyện xưa ta há chẳng ghét kẻ làm cha lạm quyền
quá trớn gây thiệt hại tiêu tan cả gia đình sự nghiệp mà còn ảnh hưởng
tai hại đến quốc dân xã hội.
VỆ TUYÊN
VƯƠNG
Vệ
Tuyên Vương có thói xấu đê hèn đắm mê Di Khương là dì ghẻ sanh ra công
tử Cấp Tử, giao cho công tử Chức trông nom dạy dỗ.
Khi công
tử Cấp được mười sáu tuổi, Vệ Công cho người sang hỏi con gái vua Tề
về làm vợ cho con mình. Nhưng sau Tuyên Vương nghe nói con gái Tề tên
là Tuyên Khương nhan sắc đẹp tợ tiên nga, liền đem lòng tham muốn, mới
nghĩ ra kế:
Cất tòa
lầu tuyệt đẹp nơi sông Tân Kỳ lấy tên là Tân Đài, rồi sai Cấp Tử làm
sứ qua nước Tống.
Cấp Tử
đi rồi Tuyên Vương sai công tử Tiết sang Tề rước nàng Tuyên Khương về
Tân Đài rồi Tuyên Vương ở luôn đó lấy Tuyên Khương làm vợ. Tuyên
Khương là gái lả lơi nên cũng ưng thuận để hưởng giàu sang.
Khi Cấp
Tử đi sứ về Tuyên Vương bảo Cấp đến Tân Đài ra mắt Tuyên Khương gọi
bằng kế mẫu. Mặc dầu hành động ngang trái, nhưng Cấp Tử là người thuần
hậu xem việc trăng hoa là thói thường tình lòng không màng đến, nên
nghe theo, và lòng hiếu thảo cũng không trách cha.
Sau
Tuyên Khương sanh đặng hai con trai tên là Thọ và Sóc. Vệ Tuyên Vương
trước kia mê đắm Di Khương thì tình cha con đối với công tử Cấp rất
đậm đà; nay mê nàng Tuyên Khương thì bao nhiêu tình thương trước đều
đổ dồn về Thọ và Sóc, lại còn quyết truyền ngôi cho Thọ.
Nhưng
không thế được Tuyên Vương đã làm thất đức làm sao ổn định được.
Thọ và
Sóc là hai anh em ruột mà tánh tình khác nhau. Thọ là bực hiền đức
thương công tử Cấp như anh ruột, còn Sóc thì độc ác nham hiểm đã ghét
công tử Cấp lại còn quyết giành ngôi của Thọ sau nầy. Sóc định tìm mưu
hại Cấp Tử và lần sẽ hại Thọ cho trọn bề an hưởng.
Nhân
nhằm ngày sanh nhựt của Cấp Tử, công tử Thọ làm lễ chúc mừng, trong
tiệc đó có công tử Sóc đến dự; thấy Thọ và Cấp rất thân mật, chán ghét
bỏ ra về và đặt điều nói với mẹ rằng:
- Con vì
anh em đến dự tiệc với Cấp Tử thế mà Cấp Tử oa loa rồi uống rượu say
nói bướng rằng: “Mẹ mầy là vợ của ta vì vua Tề trước kia định gả cho
ta, sau này rồi cũng về ta mày kêu ta bằng cha mới phải“.
Tuyên
Khương tin theo, chờ Tuyên Vương vào cung bèn khóc lóc thuật lại và
nói thêm:
- Cấp Tử
nói lời lỗ mãng còn cố tình làm nhục thiếp và có ý độc sau nầy. Thiếp
đã được nghe nó nói! Mẹ ta là Di Khương, vợ của ông nội ta mà cha ta
lấy làm vợ, thì Tuyên Khương này là vợ của ta sau này ta lấy lại còn
lấy cả ngôi nữa.
Tuyên
Vương nghe nói giận đỏ cả mặt kêu công tử Thọ vào hỏi.
Công tử
Thọ nói:
- Thưa
thân phụ trong bữa tiệc có con ở đến mãn, Cấp Tử vẫn vui vẻ không khi
nào nói việc đó, vả lại con biết Cấp Tử là người chí hiếu không bao
giờ lỗ mãng.
Tuyên
Vương không nói gì được nhưng lại đòi Di Khương đến, đem nhiều lời dọa
nạt mắng nhiếc thậm tệ. Di Khương đau lòng không chịu nổi liền về cung
thắt cổ mà chết.
Cấp Tử
khóc xỉu, nhưng chỉ thầm lặng.
Giết
được Di Khương rồi, công tử Sóc thêm lo sợ ngày ngày hối thúc mẹ tìm
cách giết cho được Cấp Tử.
Tuyên
Khương khóc nói với Tuyên Vương rằng:
- Thế
nào Cấp Tử cũng vì mẹ mà báo thù, nếu chúa công thương mẹ con thiếp mà
không giết Cấp Tử, đó chỉ là hại mẹ con thiếp mà thôi, không thế nào
mẹ con thiếp ở đây được, xin chúa công cho mẹ con thiếp về Tề sớm hay
hơn.
Tuyên
Vương liền hứa sẽ giết Cấp Tử nhưng phải tìm cách cho ổn thỏa tránh
tiếng.
Nhân khi
Tề Hy Công sang mượn quân, Tuyên Vương liền sai Cấp Tử cầm cờ tiết
trắng sang xứ Tề rồi cho Sóc hay sai người chận đường mà giết đi.
Công tử
Sóc rất mừng bèn họp côn đồ mà dặn rằng:
- Các
ngươi hãy đến trước phục sẳn chỗ đường giáp ranh thủy bộ, hễ thấy ai
cầm cờ tiết trắng đến đó thì cứ ùa ra giết lấy đầu bỏ vô thùng đem về
phục lịnh được trọng thưởng.
Tuyên
Khương hay được việc đó mừng rỡ lộ ra mặt, công tử Thọ thấy sanh nghi
liền dọ hỏi, Tuyên Khương ngỡ Thọ đã biết nên đem việc đó nói hết.
Công tử
Thọ thất kinh nhưng giả làm vui, biết cha mẹ và em đã quyết không sao
can được bèn đến chổ công tử Cấp nói rõ việc đó.
Nghe rồi
công tử Cấp ngồi thừ ra không nói gì hết.
Công tử
Thọ khuyên:
- Đường
đây đi qua xứ Tề phải ngang qua Sằn Giả giáp tuyến đường sông lên
đường bộ, nơi đó nguy hiểm tánh mạng. Thế tình như vậy, giờ đây anh
nên trốn sang nước khác cho thoát chết rồi sau sẽ xoay trở.
Cấp Tử
không chịu nói:
- Nếu
phụ vương có ý giết con thì ta còn sống cũng chẳng ích gì. Nếu ta sống
đến ngày nào đó ta không tranh thì cũng có người lấy danh nghĩa ta mà
tranh đánh lại cha ta, giòng họ ta phải quấy gì cũng lâm vào cảnh nồi
da xáo thịt, ta chết hay hơn vậy.
Nói xong
Cấp Tử đi lãnh cờ tiết rồi từ biệt công tử Thọ xuống thuyền mà đi.
Công tử
Thọ can không được đành đứng nhìn theo và nghĩ thầm:
- Anh ta
là người hiếu thảo, lại thêm trọng tình huynh đệ, nếu anh ta chết lòng
ta nào yên được. Anh ta chết như vậy không thức tỉnh được cha mẹ ta,
bây giờ ta phải chết thế anh ta may ra cha mẹ còn thức tỉnh mà đem lại
sự yên ổn trong gia đình, nhân dân khỏi điêu linh đồ thán, thế mới hay
hơn.
Nghĩ thế
rồi hối hả chọn một con thuyền nhỏ có thế đi nhanh, chọn hai tên tuỳ
tùng đủ sức khỏe để chèo rượt theo cho kịp thuyền Cấp Tử dự tiệc chia
tay.
Hai tên
tùy tùng đâu biết việc gì bị giục thúc ráng sức chèo mồ hôi ra ướt cả
mình.
Thuyền
vừa theo kịp công tử Thọ bảo hai thuyền cặp lại rồi mời công tử Cấp
qua thuyền mình.
Cấp Tử
hỏi:
- Em
theo anh để làm gì?
Công tử
Thọ nói:
- Ngày
chia ly mà anh vội vã ra đi em chưa được tâm tình cùng anh, nên em cố
theo và đem rượu thịt, dâng anh chén rượu tiển hành để tỏ lòng thương
mến.
Nói xong
rót đầy ly rượu tay bưng chưa kịp trao cho Cấp Tử thì nước mắt rớt vào
ly rượu.
Công tử
Thọ khóc nói:
- Em vô
lễ làm nước mắt rơi vào chén rượu.
Chưa kịp
hết lời Cấp Tử liền với bưng chén rượu có nước mắt uống liền và nói:
- Anh
mong đặng uống chén rượu có nước mắt của em để giữ nỗi thâm tình của
em sống mãi trong lòng anh.
Hai anh
em rót rượu trao qua trao lại, vừa uống vừa khóc, khóc và uống nước
mắt lẫn nhau, càng uống càng nồng nàn tình nghĩa.
Nhưng
công tử Thọ giữ thế không cho say và cố ép cho Cấp Tử uống say vùi đến
ngã ra bất tỉnh.
Công tử
Thọ ôm anh mà khóc, rồi nói với bọn thủ hạ rằng:
- Lệnh
vua sai đi rất gấp mà anh ta lỡ say, sợ trễ ta phải đi thế mới được.
Nói rồi
liền nhổ cây cờ trắng cặm qua ghe mình, rồi viết thư giao lại cho tuỳ
tùng dặn chờ Cấp Tử tỉnh rượu hãy trao lại.
Xong rồi
đốc hai tên chèo ghe mình thẳng đến Sằn Giả. Thuyền vừa đến ghé vào
giáp tuyến đường bộ, bọn côn đồ thấy cờ tiết trắng chạy ù ra. Công tử
Thọ nói:
- Ta là
Cấp Tử phụng mệnh chúa công sang sứ nước Tống sao bọn ngươi dám ngăn
cản?
Bọn côn
đồ đắc ý nói:
- Chính
chúng ta đến đây để lấy đầu Cấp Tử vậy.
Nói rồi
ùa vào chém lấy đầu công tử Thọ đoạt lấy cờ tiết cắm xuống ghe chèo
về. Bọn gia nhân của công tử Thọ kinh sợ chạy mất hết.
Tỉnh
rượu mở mắt ra, Cấp Tử không thấy em mình lại nhận được bức thơ, lòng
rất kinh sợ, mở thơ ra xem có vài dòng chữ:
- “Em
chết thay anh, anh hãy qua nước khác lánh nạn“.
Cấp Tử
khóc ồ lên, bảo tùy tùng:
- Chúng
bay hãy chèo thuyền mau kẻo bọn côn đồ giết em ta chết mất.
Chủ ra
lịnh bọn tùy tùng ráng sức chèo, dưới trời đêm trăng sáng thuyền vượt
sóng phăng phăng. Cấp Tử sốt lòng thúc liên hồi, bọn tùy tùng sợ điếng
lên chèo theo trối chết, thuyền phóng nhanh như gió. Bỗng thấy bóng
thuyền có cờ tiết, Cấp Tử hét to lên:
- Thật
may mắn cho em ta còn sống!
Nhưng kẻ
tùy tùng nhìn kỹ chiếc thuyền kia ngược chiều trở lại liền nói cho Cấp
Tử biết.
Cấp Tử
ngơ ngác khi thuyền đến gần, thấy bọn côn đồ gươm giáo cầm tay còn đẫm
máu.
Cấp Tử
hét to:
- Ôi
thôi! Còn gì em ta đã chết!
Bọn côn
đồ ngơ ngẩn, Cấp Tử nói tiếp :
- Ta đây
mới là Cấp Tử, vì ta có tội nên cha ta mới sai bọn ngươi giết ta, chớ
em ta nào có tội tình gì?
Nghe vậy
bọn côn đồ biết mình giết lầm lấy làm sợ hãi bèn bàn nhỏ với nhau:
- Tình
thế nầy thì phải giết luôn Cấp Tử lấy hai đầu bỏ chung về chuộc tội.
Nói xong
chúng áp qua thuyền chặt đầu Cấp Tử rồi chèo thuyền về, bỏ mặc bọn tùy
tùng đi đâu thì đi.
Về đến,
bọn côn đồ đem hai cái đầu và lá cờ dâng cho công tử Sóc, lòng vẫn lo
sợ vì giết lầm. Biết rõ, chẳng những công tử Sóc không quở phạt mà còn
trọng thưởng nhiều lụa là vàng bạc rất hậu, rồi vào cung cho mẹ hay tự
sự như vậy.
Tuyên
Khuyên nửa mừng nửa buồn, mừng vì giết được Cấp Tử, buồn vì nỗi con
mình bị chết.
Những
nhà chép sách có làm bài thơ:
“Hai
chiếc đầu rơi một mối tình
Hồn oan
ôm hận khóc xuân xanh
Lòng cha
ví có không thương xót
Thà
chết cho toàn nghĩa đệ huynh“.
Luận
Làm cha
đã không tròn bổn phận lại còn coi con như là một con vật hy sinh, tàn
ác như vậy là do động cơ sắc dục thúc đẩy mà ra. Vệ Tuyên Vương khi
chưa có nàng Tuyên Vương thì vẫn trọn tình thương, và vẫn lo lập gia
đình cho, nhưng khi nghe nói sắc đẹp rồi thì không còn nghĩ vì tình
cha con nữa.
Ta không
thể dư giờ để chửi bới thói xấu ấy mà ta chỉ nên thấy chổ yếu sắc đẹp
nó làm cho nhiều người mất cả lương tri, mà ta nên tự tỉnh lập chí cho
ra con người với đời. Nếu tự mình làm chủ được không bị sắc đẹp sai
khiến thì như Vệ Tuyên Vương cứ giữ lấy tự chủ mà xử sự công bình cho
vợ con, thì cũng nắm được cán cân công bình, và còn giữ được hạnh phúc
cho gia đình, quốc gia nhiều hơn người khác được.
Vệ Tuyên
Vương làm cha có hai đứa con qúi mà không biết dùng, để nghe lời con
đàn bà ác độc, giết hại hết hai đứa con hiếu thảo, còn lại một đứa con
tàn bạo sau này ngồi trên đầu thiên hạ mà tác oai tác quái.
Thật chỉ
có một việc là không làm tròn bổn phận làm cha mà gây khổ cho cả nhà
hư cả nước thật không tưởng tượng được.
LY HỒN
Đời
Đường, người Trương Dật có người con gái tên Trương Thiếu Nương, thưở
còn bé cha đã hứa gả cho Vương Trụ. Sau khi Thiếu Nương lớn lên,
Trương Dật lại cải hôn định gả cho nơi khác, Thiếu Nương buồn rầu sanh
bệnh trầm trọng. Vương Trụ buồn rầu bỏ quê về Trường An để học hành,
trên đường đi bằng thuyền Vương Trụ vẫn buồn thương nhớ người hôn thê,
một hôm thuyền ghé tạm vào bờ bổng gặp Thiếu Nương tìm đến, hai người
mừng rỡ dắt nhau về Trường An chung sống. Sau ba năm đặng hai con khi
đó hai vợ chồng dắt nhau về thăm cha mẹ và để tạ tội với Trương Dật.
Trương
Dật xem thấy thất kinh và ngạc nhiên vì Thiếu Nương bịnh nặng ba năm
vẫn còn nằm tại nhà, lẽ nào Thiếu Nương nào theo Vương Trụ sanh đặng
hai con. Chừng gọi nàng con ra hai xác lại hoàn một.(1)
Chú
thích :
(1) Rút
trong Danh nhân từ điển.
Luận
Tệ tục
làm sui gia chọn môn đăng hộ đối, làm cha mẹ giành trọn quyền, thường
nói rằng: “Áo mặc sao qua khỏi đầu“, bổn phận làm con hễ cha mẹ đặt
đâu con ngồi đó không được cãi. Thật tai hại lớn vì nơi mà con không
hợp ý đồng tâm, rồi bắt buộc cùng nhau thành vợ chồng, tránh sao sau
này khỏi xảy ra cuộc chia ly tan vỡ, hoặc ôm hận suốt đời.
Làm cha
nên dạy con, cân nhắc lợi hại cho con biết còn việc trăm năm hệ trọng
của con có ảnh hưởng cho cả gia đình đến quốc gia nữa, nên chia quyền
cho con được chọn lựa, mới đem lại hạnh phúc. Chia chúc quyền cho con
là đem lại cán cân quân bình hiển nhiên là lên bậc hiền nhân.
Tạo hạnh
phúc cho con là tạo điều kiện an vui cho quốc gia xã hội vậy, vì:
“Tiên trị kỳ gia hậu trị kỳ quốc“ thứ ổn định xã hội.
Trương
Dật đã lầm to, may mà con không chết lại được đoàn viên với vị hôn
phu, mà trở về làm cho Trương Dật sáng mắt thêm ra. Mà đây cũng là một
bàn tay cầm bút điểm nhãn cho người mù vậy.
THẠCH
THÁC GIẾT CON
Vệ
Trang Công lấy cung nữ sanh công tử Chu Hu. Chu Hu tánh hung bạo nhưng
Vệ Trang Công rất quí mến. Do đó Chu Hu mỗi ngày một lộng hành, bất
chấp pháp luật.
Quan đại
phu là Thạch Thác khuyên Vệ Trang Công nên tìm cách ngăn chặn Chu Hu
để có hại sau này. Nhưng Vệ Trang Công bỏ qua. Thạch Thác cũng có đứa
con tên là Thạch Hậu cũng a tùng theo Chu Hu hoang chơi.
Thạch
Thác đã nhiều lần đánh mắng mà không được Thạch Hậu đã không nghe mà
còn bỏ nhà vào thành ở luôn với Chu Hu. Thạch Thác đành bó tay trước
đứa con ngỗ nghịch.
Sau Vệ
Trang Công mất, Vệ Hoàn Công lên nối ngôi nhu nhược không làm gì nên
việc.
Bây giờ
Chu Hu không còn kiêng nể ai nữa, bèn bàn với Thạch Hậu mưu toan chiếm
ngôi.
Nhân lúc
Vệ Hoàn Công đi điếu tang Vua Bình Vương nhà Châu, Chu Hu hội ý kiến
với Thạch Hậu.
Thạch
Hậu nói:
- Đó là
cơ hội tốt, ngày mai công tử bày tiệc rượu tiễn hành đưa chúa công đi,
tôi sẽ phục quân sẳn ở phòng tiệc. Lúc ăn uống công tử thừa cơ rút
gươm giết chúa công đi, thì lo gì không đoạt được ngôi.
Chu Hu
nghe theo làm y như vậy đâm chết Vệ Hoàn Công. Lúc đó Thạch Hậu dẫn
quân bảo vệ Chu Hu lên ngôi.
Chu Hu
lên ngôi ba ngày, ngoài thành dân chúng không phục náo loạn. Chu Hu
liền kêu Thạch Hậu nói:
- Ta
chưa có đức thiên hạ không sợ oai quyền nay phải làm thế nào cho lòng
người nể phục?
Thạch
Hậu nói:
- Muốn
cho dân chúng phục phải bắt những người dân chúng phục ra làm việc cho
mình thì dân